TRIỂN KHAI CƠ CHẾ MỘT CỬA QUỐC GIA VÀ CƠ CHẾ MỘT CỬA ASEAN TẠI VIỆT NAM

TRIỂN KHAI CƠ CHẾ MỘT CỬA QUỐC GIA VÀ CƠ CHẾ MỘT CỬA ASEAN TẠI VIỆT NAM

Thạc sĩ Hoàng Huy Hoàng

Cục Công nghệ Thông tin – Tổng Cục Hải quan

Mục lục

 9.1. Tổng quan về Cơ chế một cửa

Biên giới quốc gia vừa là thứ gì đó rất rõ ràng và bất khả xâm lấn về chủ quyền lãnh thổ nhưng ở mặt nào đó cũng rất “mờ” nhất là trong giai đoạn tự do thương mại ngày càng mở rộng như hiện nay, khi mà Việt Nam đang hội nhập ngày càng sâu rộng với thế giới thể hiện qua hàng loạt các hiệp định thương mại đã và đang được ký kết như Hiệp định TPP, Hiệp định thương mại tự do FTA với EU, sự hình thành Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC)…

Trong bối cảnh đó, Hải quan, với vai trò quan trọng của mình, được ví như người gác ở cửa ngõ quốc gia, bên cạnh nhiệm vụ chủ yếu là tập trung vào vấn đề đảm bảo thu nộp ngân sách thì cũng cần phải cải cách hiện đại hóa mạnh mẽ hơn nữa để góp phần tạo thuận lợi tối đa cho thương mại và hoạt động giao lưu hàng hóa qua biên giới, đồng thời vẫn phải kiểm soát chặt chẽ các hoạt động trên và đảm bảo an ninh quốc gia.

Nhưng ở biên giới không chỉ có Hải quan mà còn có sự tham gia và chia sẻ trách nhiệm quản lý của nhiều Bộ, ngành về chính sách mặt hàng và kiểm tra chuyên ngành liên quan tới phương tiện xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh và hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh. Việc quản lý chính sách mặt hàng và kiểm tra chuyên ngành được hầu hết các quốc gia sử dụng như một công cụ không thế thiếu nhằm tạo ra những “rào cản” hợp pháp để thực hiện những mục tiêu quản lý của mình, cụ thể gồm những nội dung chính như sau:

– Để bảo vệ an ninh quốc gia: Ngăn chặn khủng bố, tội phạm xuyên biên giới, các nguy cơ tiềm tàng… đe dọa tới an ninh quốc gia;

– Để phòng chống buôn lậu và gian lận thương mại: Kịp thời phát hiện và triệt phá các hành vi buôn bán ma túy, hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng, vi phạm bản quyền sở hữu trí tuệ…;

– Để bảo vệ sức khỏe con người: Đảm bảo vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh;

– Để tạo ra những rào cản phi thuế quan: Trong xu thế tự do hóa thương mại như đã đề cập ở trên (TPP, FTA…), khi mà hàng rào thuế quan không thể áp dụng một cách tùy ý như trước nữa, đây sẽ là công cụ hiệu quả được các quốc gia áp dụng để bảo hộ nền sản xuất trong nước và ngăn chặn những luồng thương mại không hợp pháp từ bên ngoài xâm nhập vào thị trường nội địa.

Mặc dù vậy, hiện nay việc quản lý chính sách mặt hàng và kiểm tra chuyên ngành ở nước ta còn rườm rà và phức tạp, chưa bắt kịp với thời đại cũng như xu thế trên thế giới. Điều này làm giảm hiệu quả công tác quản lý và một mặt nào đó gây cản trở cho hoạt động thương mại phát triển, làm giảm sức cạnh tranh của nền kinh tế và gây tâm lý trở ngại đối với các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam.

Để xử lý những tồn tại nêu trên và đặc biệt để hiện thực hóa những mục tiêu và yêu cầu ngày càng cấp thiết theo chỉ đạo tại các Nghị quyết số 19/2015/NQ-CP ngày 12/3/2105 của Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia hai năm 2015-2016 và Nghị quyết số 36a/NQ-CP ngày 14 tháng 10 năm 2015 của Chính phủ về Chính phủ điện tử, đòi hỏi phải có những thay đổi mang tính đột phá từ khâu hoạch định chính sách, cải cách thể chế, cải cách toàn diện thủ tục hành chính cho đến triển khai mạnh mẽ ứng dụng công nghệ thông tin một cách động bộ để mang lại hiệu quả cao nhất hướng tới mục tiêu đưa Việt Nam ngang bằng với các nước ASEAN-4 ở một số chỉ tiêu quan trọng về thời gian thông quan và giải phóng hàng, năng lực cạnh tranh,….

Việc triển khai Cơ chế một cửa quốc gia là một trong những giải pháp quan trọng góp phần đạt được những mục tiêu quan trọng của Chính phủ như đã đề cập ở trên.

Mở rộng khái niệm Cơ chế một cửa quốc gia (với sự tham gia của các bên liên quan trong phạm vi của một quốc gia) là sự kết nối giữa các Cơ chế một cửa quốc gia với nhau (song phương) hoặc Cơ chế một cửa khu vực (đa phương) ví dụ như Cơ chế một cửa ASEAN, EU…

9.2. Quá trình hình thành Cơ chế một cửa

9.2.1. Trên thế giới

Bước sang thế kỷ 21, thế giới đã chứng kiến sự thay đổi cơ bản và nhanh chóng về mọi mặt liên quan tới kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội, cụ thể:

– Sự bùng nổ của công nghệ thông tin và thương mại điện tử, cùng với sự hình thành và phát triển ngày càng mạnh mẽ của chuỗi cung ứng toàn cầu (golobal supply chain). Hoạt động thương mại không chỉ giới hạn ở một quốc gia hay một vùng lãnh thổ nhất định mà đã mở rộng tạo nên một thị trường rộng lớn và phức tạp trên toàn thế giới, với nhiều mắt xích có mối quan hệ chặt chẽ với nhau từ khâu sản xuất tới khâu vận chuyển và tiêu thụ.

Hình 9.1. Chuỗi cung ứng toàn cầu (Global Suply Chain)

– Bên cạnh kinh tế, những vấn đề về chính trị, xã hội và đặc biệt là an ninh đã nảy sinh như vụ khủng bố 11/9 vào nước Mỹ mà tiếp sau đó là rất nhiều sự kiện khác đã khiến nhiều quốc gia trên thế giới phải xem xét lại vấn đề quản lý. Theo đó, bên cạnh xu hướng tự do hóa thương mại, tạo thuận lợi cho các hoạt động kinh tế, giao lưu thương mại phát triển, cần đảm bảo chặt chẽ vấn đề an ninh quốc gia, an toàn xã hội và sức khỏe cộng đồng.

Ở góc độ tạo thuận lợi thương mại, ý tưởng về đơn giản hóa thủ tục, hài hòa hóa các chứng từ, chuẩn hóa các chỉ tiêu thông tin và kết nối tất cả các bên liên quan tạo nên một môi trường chung, tích hợp, chia sẻ và trao đổi thông tin nhằm mang lại lợi ích tối đa, đó là Cơ chế một cửa, đã được hình thành và phát triển. Đi tiên phong là tổ chức và quốc gia phát triển như Liên Hợp quốc và các nước G7 thông qua các khuyến nghị, Mô hình dữ liệu WCO 3.0,…

Dưới đây là khái niệm về Cơ chế một cửa của Liên Hợp quốc (theo Khuyến nghị số 33 của UN/CEFACT về Cơ chế một cửa):

“Cơ chế một cửa là tiện ích cho phép các bên liên quan tới thương mại và vận chuyển nộp thông tin và các chứng từ đã được chuẩn hóa tới một điểm tiếp nhận để hoàn thành tất các các yêu cầu thủ tục liên quan tới nhập khẩu, xuất khẩu và quá cảnh. Nếu thông tin dưới dạng điện tử thì các thành phần dữ liệu riêng biệt chỉ phải xuất trình một lần.”

Hình 9.2. Mô hình tổng quan về Cơ chế một cửa theo định nghĩa của UN

9.2.2. Trong khuôn khổ ASEAN

Trong khuôn khổ hợp tác ASEAN, tại Tuyên bố Bali 2 được Hội nghị thượng đỉnh ASEAN thông qua ngày 07/10/2003 tại Bali, Indonesia, các Nhà lãnh đạo ASEAN đã quyết định thành lập Cộng đồng ASEAN dựa trên 3 trụ cột cơ bản là: Cộng đồng kinh tế, Cộng đồng chính trị và an ninh, Cộng đồng văn hoá và xã hội. Trong ba trụ nói trên, Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) được xác định là nội dung tiên phong, cần sớm được hình thành vào cuối năm 2015.

Một trong những mục tiêu cụ thể để tiến tới Cộng đồng kinh tế là biến ASEAN trở thành một cơ sở sản xuất và một thị trường chung, từ đó các nước thành viên đã ký Hiệp định khung về hội nhập các lĩnh vực ưu tiên, trong đó thể hiện cam kết của các nước đối với việc xây dựng Cơ chế một cửa, bao gồm việc xử lý các chứng từ thương mại ở cấp độ quốc gia và khu vực. Theo định hướng này, Hiệp định về xây dựng và thực hiện Cơ chế một cửa ASEAN đã được các Bộ trưởng Kinh tế ASEAN ký ngày 9/12/2005 tại Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 11 được tổ chức tại Malaysia và Nghị định thư về xây dựng và thực hiện Cơ chế một cửa ASEAN đã được các Bộ trưởng Tài chính ASEAN ký vào ngày 20/12/2006 tại Siêm Riệp, Campuchia. Năm 2015, Nghị định thư về Khung pháp lý thực hiện Cơ chế một cửa ASEAN được các nước thành viên ký kết, làm cơ sở pháp lý cho việc triển khai của các nước thành viên trong thời gian tới.

Dưới đây là định nghĩa về Cơ chế một cửa ASEAN:

Cơ chế một cửa ASEAN là môi trường mà ở đó Cơ chế một cửa quốc gia của 10 nước thành viên ASEAN kết nối với nhau để trao đổi và chia sẻ thông tin và các chứng từ để thực hiện và hoàn thành các yêu cầu thủ tục nhập khẩu, xuất khẩu và quá cảnh.

Hình 9.3. Mô hình kết nối Cơ chế một cửa ASEAN

9.2.3. Tại Việt Nam

Bên cạnh cam kết hội nhập khu vực, xuất phát từ nhu cầu nội tại về phát triển kinh tế, tạo thuận lợi cho môi trường đầu tư và kinh doanh, đảm bảo vị thế của Việt Nam trong hội nhập kinh tế quốc tế và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, Chính phủ Việt Nam đã xác định cần nhanh chóng cải cách các thủ tục hành chính trong tất cả các lĩnh vực coi đây là một trong nhiệm vụ hàng đầu của Chính phủ trong giai đoạn hội nhập. Trong đó, việc thực hiện thành công Cơ chế một cửa quốc gia như là một công cụ chính của các cơ quan chính phủ trong tạo thuận lợi cho thương mại và vận tải quốc tế cũng như sớm kết nối Cơ chế một cửa ASEAN đã được các cấp Lãnh đạo Chính phủ quan tâm theo dõi sát sao và có những chỉ đạo hết sức quyết liệt.

Việc ký kết và tham gia Hiệp định về xây dựng và thực hiện Cơ chế một cửa ASEAN năm 2005, Nghị định thư về xây dựng và thực Cơ chế một cửa ASEAN năm 2006 cùng các nước thành viên ASEAN đã đặt nền móng cho việc giới thiệu Cơ chế một cửa vào Việt Nam. Đầu tiên là hình thành nên bộ máy tổ chức, điều hành với việc thành lập Ban Chỉ đạo quốc gia về Cơ chế một cửa ASEAN năm 2008  (theo Quyết định số1263/QĐ-TTg ngày 16/9/2008) và được kiện toàn thành Ban Chỉ đạo quốc gia về Cơ chế một cửa ASEAN và Cơ chế một cửa quốc gia năm 2011 (theo Quyết định số 2920/QĐ-TTg ngày 29/11/2011). Cùng với đó là việc ban hành Kế hoạch tổng thể (Master Plan) về triển khai Cơ chế một cửa quốc gia giai đoạn 2008-2012 (theo Quyết định số 2599/QĐ-BCĐASW ngày 21/10/2009). Tiếp theo là việc ban hành Quyết định số 48/2011/QĐ-TTg ngày 31/8/2011 của Thủ tướng Chính phủ về thí điểm thực hiện Cơ chế hải quan một cửa quốc gia giai đoạn 2011-2015. Dưới Quyết định này, ba Bộ Tài chính, Công thương và Giao thông vận tải đã ban hành Thông tư liên tịch số 84/2013/TTLT-BTC-BCT-BGTVT ngày 25/6/2013 hướng dẫn thực hiện Quyết định số 48/2011/QĐ-TTg.

Mặc dù vậy, cần phải có một quá trình để các Bộ, ngành triển khai việc ứng dụng CNTT trong thực hiện các thủ tục hành chính tạo tiền đề cho thực hiện thông qua Cơ chế một cửa quốc gia cũng như từng bước hoàn thiện cơ sở pháp lý phù hợp với môi trường điện tử. Đến năm 2014, Luật Hải quan mới được ban hành đã lần đầu tiên nội luật hóa một cách chính thức về Cơ chế một cửa quốc gia và các nội dung liên quan. Tiếp đó, Nghị định 08/2015/NĐ-CP ngày 21/1/2015 quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Hải quan về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát, kiểm soát hải quan đã đưa vào những quy định cụ thể về thực hiện Cơ chế một cửa quốc gia.

9.3. Cơ chế một cửa, các thủ tục hành chính một cửa và hệ thống thông tin thực hiện Cơ chế một cửa

9.3.1. Cơ chế một cửa quốc gia

9.3.1.1. Định nghĩa về Cơ chế một cửa quốc gia

Theo khoản 3 Điều 4 Luật Hải quan năm 2014 thì “Cơ chế một cửa quốc gia là việc cho phép người khai hải quan gửi thông tin, chứng từ điện tử để thực hiện thủ tục hải quan và thủ tục của cơ quan quản lý nhà nước liên quan đến hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu thông qua một hệ thống thông tin tích hợp. Cơ quan quản lý nhà nước quyết định cho phép hàng hóa được xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh; cơ quan hải quan quyết định thông quan, giải phóng hàng hóa trên hệ thống thông tin tích hợp.”

Hình 9.4. Cơ chế một cửa quốc gia tại Việt Nam

9.3.1.2. Thực hiện Cơ chế một cửa quốc gia

Điều 7 Nghị định 08/2015/NĐ-CP ngày 21/1/2015 quy định về thực hiện Cơ chế một cửa quốc gia như sau:

1. Người khai hải quan khai thông tin, nộp chứng từ điện tử để thực hiện thủ tục hải quan và thủ tục hành chính của cơ quan nhà nước liên quan đến hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu thông qua một hệ thống thông tin tích hợp (dưới đây gọi là Cổng thông tin một cửa quốc gia). Thời điểm khai thông tin, nộp chứng từ điện tử thực hiện theo quy định của các Luật quản lý chuyên ngành và các văn bản hướng dẫn thực hiện các Luật quản lý chuyên ngành.

2. Các cơ quan nhà nước tiếp nhận và xử lý thông tin của người khai hải quan; phản hồi kết quả xử lý cho người khai hải quan; trao đổi thông tin khai thủ tục hành chính và kết quả xử lý thông tin khai thủ tục hành chính giữa các cơ quan nhà nước với nhau thông qua Cổng thông tin một cửa quốc gia.

3. Người khai hải quan tiếp nhận kết quả xử lý từ các cơ quan nhà nước thông qua Cổng thông tin một cửa quốc gia.

4. Cơ quan hải quan căn cứ kết quả xử lý của các cơ quan nhà nước để ra quyết định cuối cùng về thông quan hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh và phản hồi kết quả cho người khai hải quan thông qua Cổng thông tin một cửa quốc gia.”

9.2.1.3. Trách nhiệm của các Bộ, ngành trong thực hiện Cơ chế một cửa quốc gia

Điều 8 Nghị định 08/2015/NĐ-CP quy định:

“1. Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan:

a) Xây dựng, phát triển Cổng thông tin một cửa quốc gia;

b) Ban hành quy chế quản lý, vận hành Cổng thông tin một cửa quốc gia;

c) Thống nhất các yêu cầu kỹ thuật kết nối cổng thông tin một cửa quốc gia và các hệ thống xử lý chuyên ngành trên cơ sở các tiêu chuẩn kỹ thuật quốc gia;

d) Xây dựng các danh mục dữ liệu dùng chung giữa các Bộ, ngành trên Cổng thông tin một cửa quốc gia;

đ) Sửa đổi, bổ sung các quy định liên quan tới các thủ tục hành chính để thực hiện bằng phương thức điện tử theo Cơ chế một cửa quốc gia;

e) Xây dựng và thực hiện cơ chế tài chính đảm bảo cho việc quản lý, vận hành, duy trì và phát triển Cổng thông tin một cửa quốc gia, cơ chế một cửa ASEAN, cơ chế trao đổi thông tin về hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh, phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh trên cơ sở các điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

2. Các Bộ, ngành chịu trách nhiệm ban hành thủ tục hành chính để thực hiện Cơ chế một cửa quốc gia; xây dựng bộ dữ liệu hành chính và thương mại quốc gia áp dụng cho các chứng từ điện tử trao đổi, thực hiện theo Cơ chế một cửa quốc gia.

3. Tổng cục Hải quan:

a) Chịu trách nhiệm quản lý, vận hành Cổng thông tin một cửa quốc gia;

b) Tham gia đàm phán và thực hiện các điều ước quốc tế liên quan đến việc trao đổi thông tin giữa Cổng thông tin một cửa quốc gia với các quốc gia khác trên cơ sở các điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.”

9.3.2. Mô hình hệ thống

Cơ chế một cửa quốc gia là môi trường tích hợp mà ở đó Cổng thông tin một cửa quốc gia đóng vai trò như một hệ thống giao diện và xử lý, kết nối với cộng đồng doanh nghiệp, các hệ thống thông tin nghiệp vụ của các Bộ, ngành (hệ thống thông tin chuyên ngành) và hệ thống của các tổ chức liên quan khác (các ngân hàng, tổ chức tín dụng,…). Điều này cho phép doanh nghiệp chỉ phải khai báo hồ sơ làm thủ tục tới một điểm duy nhất. Thông tin khai báo của doanh nghiệp được lưu trữ trên Công thông tin một cửa quốc gia và chuyển tiếp tới hệ thống thông tin chuyên ngành liên quan. Các cơ quan quản lý nhà nước xử lý thông tin trên hệ thống thông tin chuyên ngành hoặc trực tiếp trên Cổng thông tin một cửa quốc gia và phản hồi kết quả xử lý cho doanh nghiệp thông qua Công thông tin một cửa quốc gia.

Cổng thông tin một cửa quốc gia gồm hai phân hệ xử lý chính:

– Phân hệ tiếp nhận, trao đổi và phản hồi thông tin;

– Phân hệ xử lý thông tin nghiệp vụ (phục vụ cho công chức các Bộ, ngành truy cập vào để xử lý hồ sơ trong trường hợp Bộ, ngành đó chưa phát triển được hệ thống thông tin chuyên ngành riêng).

Hình 9.5. Mô hình tổng quan kết nối hệ thống thực hiện Cơ chế một cửa quốc gia

Tham gia Cơ chế một cửa quốc gia không chỉ có cơ quan hải quan, cộng đồng doanh nghiệp xuất nhập khẩu, logistics, hãng vận chuyển mà đặc biệt là các Bộ, ngành liên quan tới các thủ tục hành chính trong lĩnh vực cấp phép, cấp giấy chứng nhận,… và những tổ chức liên quan khác (ví dụ: các ngân hàng thương mại trong lĩnh vực thanh toán điện tử).

Đứng ở góc độ Hải quan, Kế hoạch phát triển hải quan giai đoạn 2011-2015 và chiến lược phát triển đến năm 2020 của Ngành Hải quan đã xác định 5 trụ cột trong thực hiện Cơ chế một cửa quốc gia gồm:

(i) Thông quan điện tử (e-Declaration);

(ii) Thanh toán điện tử (e-Payment);

(iii) Thủ tục điện tử đối với phương tiện (e-Manifest);

(iv) Giấy phép điện tử (e-Permit);

(v) Chứng nhận xuất xử điện tử (e-C/O);

Với việc triển khai thành công Hệ thống thông quan tự động VNACCS/VCIS và các hệ thống quan trọng như e-Manifest, e-Payment đã tạo tiền đề để Tổng cục Hải quan phối hợp với các Bộ, ngành thúc đẩy thực hiện Cơ chế một cửa quốc gia trong các lĩnh vực cấp phép (e-Permit), cấp giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa (e-C/O) và thủ tục đối với phương tiện (e-Manifest). Tuy nhiên, thực tế hầu hết các Bộ, ngành mới ở giai đoạn đầu ứng dụng CNTT, các thủ tục hành chính chủ yếu dựa trên hồ sơ giấy nên việc xác định mô hình triển khai phù hợp là một trong những yếu tố quyết định tới thành công của Cơ chế một cửa quốc gia.

9.3.3. Các thủ tục hành chính một cửa

Các thủ tục hành chính được thực hiện thông qua Cơ chế một cửa quốc gia (thủ tục hành chính một cửa) có thể được phân loại thành hai nhóm như sau:

(i) Nhóm các thủ tục hành chính liên quan tới hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh;

(ii) Nhóm các thủ tục hành chính liên quan tới phương tiện xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh.

Tham gia quản lý việc thực hiện các thủ tục hành chính một cửa có hàng chục các Bộ, ngành khác nhau như: Bộ Tài chính, Bộ Công thương, Bộ Giao thông vận tải, Bộ Y tế, Bộ Nôn nghiệp và Phát triển nông thông, Bộ Tài nguyên và Mội trường, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch, Bộ Quốc phòng, Bộ Công An, Bộ Xây dựng, Ngân hàng nhà nước, Phòng thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI).

9.3.3.1. Thủ tục hành chính một cửa đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh

Việc quản lý về chính sách mặt hàng và kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh với sự tham gia của hàng chục các Bộ ngành khác nhau (Bộ Tài chính, Bộ Công thương, Bộ Giao thông vận tải, Bộ Y tế, Bộ Nôn nghiệp và Phát triển nông thông, Bộ Tài nguyên và Mội trường, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch, Bộ Quốc phòng, Bộ Công An, Bộ Xây dựng, Ngân hàng nhà nước, Phòng thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI)) liên quan tới vấn đề cấp giấy phép, giấy kiểm tra chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm, chứng nhận xuất xứ hàng hóa, đăng kiểm, chứng nhận hợp quy… Ví dụ: Khi nhập khẩu mặt hàng sữa và thực phẩm chức năng, cơ quan hải quan sẽ chỉ được phép thông quan cho lô hàng khi doanh nghiệp đã xuất trình đầy đủ các giấy chứng nhận do Bộ Y tế cấp. Hay khi nhập khẩu thép thì doanh nghiệp phải xuất trình được giấy phép của Bộ Công thương và các chứng nhận liên quan. Rồi tới các mặt hàng như thuốc lá, rượu bia, tới phân bón, thủy hải sản, các chất hóa học, vật liệu nổ, trang thiết bị y tế, sản phẩm động vật thực vật, v.v và v.v dù ít hay nhiều cũng liên quan tới một thủ tục hành chính nào đó của các Bộ, ngành. Và cơ quan hải quan sẽ dựa trên kết quả đó để thông quan cho hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu. Ở chiều hướng ngược lại, sẽ có những trường hợp các cơ quan quản lý của các Bộ, ngành sẽ dựa trên kết quả thông quan của Hải quan để thực hiện thủ tục cho doanh nghiệp (ví dụ như: Bộ Công thương chỉ cấp giấy chứng nhận xuất xứ khi đã nhận được kết quả thông quan lô hàng xuất khẩu của Hải quan…).

Như vậy, các thủ tục cấp phép đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh rất đa dạng và liên quan tới nhiều Bộ, ngành. Mỗi một thủ tục cấp phép có những điểm chung và những đặc thù riêng. Dưới đây là các trường hợp cụ thể được tổng hợp lại theo quy trình xử lý và phối hợp giữa các bên liên quan:

a) Thủ tục cấp giấy phép hàng hóa nhập khẩu:

Thông thường trước đây đối với các loại hàng hóa xuất nhập khẩu có điều kiện phải xin giấy phép, doanh nghiệp (người làm thủ tục) phải đăng ký hồ sơ xin cấp phép (hồ sơ giấy) với cơ quan cấp phép của các Bộ, ngành. Hồ sơ cấp phép sau khi được đăng ký và kiểm tra hợp lệ sẽ được xử lý và cấp giấy phép nhập khẩu/xuất khẩu. Sau đó, doanh nghiệp sẽ thực hiện việc khai báo với cơ quan hải quan để làm thủ tục nhập khẩu/xuất khẩu lô hàng. Trong quá trình làm thủ tục, doanh nghiệp phải xuất trình giấy phép đã được cấp (bản giấy) với cơ quan hải quan để kiểm tra, thông quan cho lô hàng.

Khi thực hiện qua Cơ chế một cửa quốc gia, toàn bộ thủ tục cấp phép sẽ được tiến hành thông quan hệ thống (Cổng thông tin một quốc gia) và Giấy phép điện tử sẽ được tự động gửi đến hệ thống của Cơ quan hải quan để được xử lý mà doanh nghiệp không phải xuất trình bản giấy như trước đây nữa. Điều này đã giúp đơn giản thủ tục, giảm thiểu hồ sơ giấy tờ phải nộp/xuất trình và rút ngắn thời gian làm thủ tục cấp phép và thông quan cho lô hàng. Sơ đồ đăng ký, cấp phép và thực hiện thủ tục hải quan được mô tả như hình dưới đây:

Hình 9.6. Quy trình xử lý hồ sơ xin cấp giấy phép xuất khẩu/nhập khẩu

Mô tả quy trình xử lý:

– Doanh nghiệp khi thực hiện thủ tục xin cấp phép sẽ đăng ký hồ sơ và nhận thông tin phản hồi của cơ quan cấp phép qua Cổng thông tin một cửa quốc gia. Hệ thống cho phép doanh nghiệp khai mới hồ sơ, sửa đổi bổ sung và hủy hồ sơ theo quy định.

– Khi thực hiện thủ tục hải quan, doanh nghiệp không phải xuất trình giấy phép giấy. Cơ quan hải quan sẽ xử lý hồ sơ dựa trên thông tin giấy phép điện tử được cấp thông qua Cổng thông tin một cửa quốc gia để thông quan cho lô hàng nhập khẩu/xuất khẩu.

– Một số trường hợp cấp phép có sự tham gia của nhiều Bộ, ngành liên quan như thủ tục cấp phép nhập khẩu các chất làm suy giảm tầng Ozone HCFC có sự tham gia xử lý của Bộ Tài nguyên và Môi trường (cấp giấy xác nhận nhập khẩu HCFC), Bộ Công thương (cấp giấy phép đối với từng lần nhập khẩu căn cứ trên giấy xác nhận của Bộ Tài nguyên và Môi trường) và Tổng cục Hải quan (làm thủ tục thông quan cho lô hàng nhập khẩu dựa trên các giấy phép điện tử do các Bộ nêu trên cấp).

b) Thủ tục cấp giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa:

Hàng hóa xuất khẩu sau khi hoàn thành thủ tục thông quan với cơ quan hải quan sẽ được xuất sang nước nhập khẩu. Khi làm thủ tục thông quan tại nước nhập khẩu, để được hưởng ưu đãi thuế quan thì doanh nghiệp phải xuất trình được chứng nhận xuất xứ hàng hóa (C/O) hợp lệ do cơ quan chủ quản của nước xuất khẩu cấp. Một trong những chứng từ được yêu cầu trong hồ sơ xin cấp C/O của doanh nghiệp là tờ khai hải quan đã được thông quan. Trước đây, việc xuất trình 100% dựa trên tờ khai giấy. Tuy nhiên khi thực hiện thủ tục cấp C/O thông qua Cơ chế một cửa quốc gia, quá trình đăng ký, cấp giấy chứng nhận được thực hiện như sơ đồ dưới đây:

Hình 9.7. Quy trình xử lý hồ sơ thông quan và xin cấp C/O

Mô tả quy trình xử lý:

– Ngược lại với thủ tục cấp phép ở trên, việc cấp giấy chứng nhận xuất xứ sẽ C/O đối với hàng xuất khẩu sẽ được thực hiện sau khi cơ quan hải quan hoàn thành thủ tục xuất khẩu cho lô hàng.

– Dựa trên hồ sơ khai báo của doanh nghiệp kèm theo tờ khai điện tử đã được cơ quan hải quan thông quan (được gửi qua Cổng thông tin một cửa quốc gia tới hệ thống thông tin chuyên ngành của Bộ Công thương), cơ quan cấp phép (Bộ Công thương) sẽ tiếp nhận và xử lý hồ sơ, cấp giấy chứng nhận xuất xứ đối với hàng hóa xuất khẩu cho doanh nghiệp.

– Đối với ATIGA C/O form D, khi triển khai cơ chế một cửa ASEAN, thông tin C/O điện tử sẽ được gửi từ Cơ chế một cửa quốc gia Việt Nam sang Cơ chế một cửa quốc gia của nước nhập khẩu. Sau đó, cơ quan hải quan tại nước nhập khẩu sẽ kiểm tra tính hợp lệ của C/O, quyết định mức ưu đãi và phản hồi trạng thái kết quả xử lý cho doanh nghiệp thông quan Cơ chế một cửa quốc gia và nước xuất khẩu (Việt Nam) thông qua Cơ chế một cửa ASEAN. Ngược lại đối với hàng hóa nhập khẩu, khi ATIGA C/O form D được cấp bởi một nước xuất khẩu trong ASEAN (ví dụ Indonesia), thông tin C/O điện tử sẽ được gửi từ Cơ chế một cửa quốc gia của Indonesia tới Cơ chế một cửa quốc gia của Việt Nam thông qua Cơ chế một cửa ASEAN. Căn cứ thông tin nhận được, Hải quan Việt Nam sẽ quyết định mức ưu đãi đối với lô hàng nhập khẩu và phải hồi kết quả cho doanh nghiệp thông qua Cơ chế một cửa quốc gia và nước xuất khẩu (Indonesia) thông quan Cơ chế một cửa ASEAN. Dưới đây là sơ đồ mô tả quy trình xử lý:

Hình 9.8. Quy trình trao đổi thông tin ATIGA C/O form D qua Cơ chế một cửa ASEAN

c) Thủ tục cấp giấy chứng nhận:

Quy trình cấp giấy chứng nhận (ví dụ: chứng nhận kiểm tra chất lượng, kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm…) gồm các bước sau:

– Thủ tục cấp phép:

+ Doanh nghiệp khai báo hồ sơ cho cơ quan quản lý thông qua Cổng thông tin một cửa quốc gia;

+ Cơ quan quản lý tiếp nhận hồ sơ và xác nhận đơn đăng ký;

+ Cơ quan quản lý thực hiện các bước xử lý theo quy định và trả Kết quả kiểm tra đạt hay không đạt chất lượng thông qua Cổng thông tin một cửa quốc gia.

– Thủ tục hải quan:

+ Khi thực hiện thủ tục hải quan đối với lô hàng phải kiểm tra chất lượng, kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm… sẽ thực hiện theo quy trình Giải phóng hàng hoặc đưa hàng về bảo quản.

+ Sau khi có kết quả kiểm tra, doanh nghiệp sẽ thông báo thông tin tham chiếu của Giấy xác nhận điện tử cho cơ quan hải quan.

+ Công chức hải quan tra cứu thông tin Giấy xác nhận điện trên hệ thống để kiểm tra và thông quan lô hàng của doanh nghiệp.

d) Thủ tục đăng kiểm:

Trong lĩnh vực đăng kiểm đối với cơ quan đăng kiểm thuộc Bộ Giao thông vận tải tương tự như thủ tục cấp giấy chứng nhận kiểm tra chất lượng. Theo đó việc trao đổi và chia sẻ thông tin các chứng từ được thực hiện giữa cơ quan hải quan và cơ quan đăng kiểm thông qua Cổng thông tin một cửa quốc gia.

Cơ quan đăng kiểm sẽ tiếp nhận hồ sơ doanh nghiệp gửi đến qua Cổng thông tin một cửa quốc gia và thông tin tờ khai hải quan liên quan tới lô hàng đăng kiểm (đồng bộ từ hệ thống e-Customs qua NSW). Sau đó sẽ xử lý hồ sơ và ra quyết định cuối cùng để cấp chứng chỉ. Hệ thống cho phép tiếp nhận hồ sơ cho nhiều mặt hàng và cấp chứng chỉ cho từng mặt hàng một.

Cơ quan Hải quan sẽ tiếp nhận, tra cứu thông tin liên quan đến đăng kiểm trên hệ thống e-Customs (được đồng bộ từ NSW) để xử lý nghiệp vụ và ra quyết định thông quan đối với lô hàng.

Việc triển khai cũng hướng đến kết nối với các ngân hàng thương mai để thực hiện thanh toán trực tuyến (dịch vụ công cấp độ 4), tạo thuận lợi cho doanh nghiệp làm thủ tục.

Bên cạnh đó, để tạo thuận lợi hơn nữa cho các doanh nghiệp, các cơ quan thuế nội địa và công an cũng có thể kết nối, chia sẻ thông tin kết quả xử lý tại các khâu làm thủ tục hải quan và đăng kiểm để thực hiện thủ tục thanh toán lệ phí trước bạ và đăng ký cho phương tiện.

Hình 9.9. Quy trình xử lý của các cơ quan đối với thủ tục nhập khẩu và đăng kiểm

 

 

9.3.3.2. Thủ tục hành chính một cửa đối với phương tiện xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh

Nhóm thủ tục hành chính liên quan tới phương tiện xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh có thể được phân loại theo phương thức vận chuyển như: đường biển (bao gồm cả đường thủy), đường không, đường bộ và đường sắt với sự tham gia của nhiều cơ quan quản lý nhà nước khác nhau. Cụ thể đối với đường biển, khi một con tàu biển nhập cảnh vào Việt Nam sẽ chịu sự quản lý của Hải quan (về hàng hóa), Biên phòng cửa khẩu – Bộ Quốc phòng (về con người), Kiểm dịch y tế – Bộ y tế (về sức khỏe), Kiểm dịch thực vật và cơ quan thú y – Bộ Nông nghiệp &PTNT (về vệ sinh an toàn thực phẩm), Cảng vụ – Bộ Giao thông vận tải (về phương tiện). Tương tự như vậy, một tàu bay nhập cảnh cũng chịu sự quản lý của từng ấy cơ quan, chỉ khác là cơ quan an ninh (Bộ Công an) sẽ thay Biên phòng cửa khẩu (Bộ Quốc phòng) quản lý về con người.

a) Mô hình triển khai cơ chế một cửa đối với đường biển:

Bắt đầu từ 12/11/2014, Tổng cục Hải quan và Bộ Giao thông vận tải đã kết nối chính thức với Cơ chế một cửa quốc gia để thực hiện thủ tục đối với tàu biển nhập cảnh, xuất cảnh và quá cảnh tại Cảng Hải Phòng với sự tham gia của 6 cơ quan quản lý nhà nước thuộc 5 Bộ ngành gồm:

– Cơ quan Hải quan thuộc Bộ Tài chính (Tổng cục Hải quan);

– Cảng vụ hàng hải thuộc Bộ Giao thông vận tải;

– Biên phòng cửa khẩu thuộc Bộ Quốc phòng;

– Kiểm dịch Y tế thuộc Bộ Y tế;

– Kiểm dịch động vật và Kiểm dịch thực vật thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

Trước đây, khi thực hiện các thủ tục này, doanh nghiệp phải nộp 6 bộ hồ sơ (giấy) cho 6 cơ quan nhà nước, trong đó cùng một chứng từ phải nộp cho nhiều cơ quan khác nhau ví dụ: Bản khai chung (cho cả 6 cơ quan), danh sách hành khách (cho Hải quan, Biên phòng), danh sách thuyền viên, Bản khai hàng hóa nguy hiểm (cho Hải quan, Biên phòng, Cảng vụ),… Với việc triển khai thông qua Cơ chế một cửa quốc gia, doanh nghiệp chỉ phải gửi một bộ hồ sơ duy nhất tới Cổng thông tin một cửa quốc gia để làm thủ tục với cả 6 cơ quan. Kết quả xử lý của từng cơ quan sẽ được gửi về doanh nghiệp và chia sẻ với các bên liên quan thông qua Cổng thông tin một cửa quốc gia. Cảng vụ sẽ là cơ quan quyết định cho phép tàu biển nhập cảnh, xuất khẩu, quá cảnh dựa trên kết quả xử lý của các cơ quan còn lại.

Mô hình tiếp nhận, trao đổi và xử lý thông tin hồ sơ tàu biển nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh được mô tả như sơ đồ dưới đây:

Hình 9.10. Quy trình xử lý hồ sơ tàu biển nhập khẩu, xuất khẩu, quá cảnh vào, rời cảng biển

b) Kết nối các Bộ, ngành:

Với việc kết nối giữa Bộ Giao thông vận tải và Bộ Tài chính (Tổng cục Hải quan), các doanh nghiệp thực hiện khai báo và làm thủ tục cho phương tiện thông qua Cổng thông tin một cửa quốc gia đã giúp giảm thiểu hồ sơ, chứng từ phải nộp, xuất trình so với trước kia. Công chức Hải quan và cảng vụ xử lý trên các hệ thống chuyên ngành, công chức các cơ quan quản lý nhà nước còn lại xử lý trực tiếp trên Cổng thông tin một cửa quốc gia.

Hiện nay, Bộ Quốc phòng đang tích cực hoàn thành các công tác chuẩn bị để sớm kết nối hệ thống Biên phòng điện tử với Cơ chế một cửa quốc gia trong thời gian tới. Khi đó, thay vì vẫn phải duy trì khai báo trên cả Cổng thông tin một cửa quốc gia và hệ thống Biên phòng điện tử như trước đây, doanh nghiệp chỉ cần khai báo trên một hệ thống duy nhất là Cổng thông tin một cửa quốc gia. Điều này sẽ mang lại hiệu quả tốt nhất cho cả cộng đồng doanh nghiệp và các cơ quan quản lý.

9.3.4. Hoàn thiện cơ sở pháp lý

Trong quá trình thực hiện các thủ tục hành chính một cửa, các Bộ, ngành rà soát để tiếp tục có những sửa đổi, bộ sung để hoàn thiện cơ sở pháp lý phù hợp với việc thực hiện trên môi trường điện tử, cụ thể như sau:

9.3.4.1. Thủ tục hành chính đối với phương tiện xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh

Trong quá trình triển khai Cơ chế một cửa quốc gia tại cảng biển đã nảy sinh nhiều vướng mắt về vấn đề thủ tục (có nhiều quy định khác nhau cùng quy định về thủ tục đối với tàu thuyền vào, rời cảng biển gây khó khăn cho người làm thủ tục như: Nghị định 21/2012/NĐ-CP, Nghị định 50/2008/NĐ-CP, Nghị định 103/2010/NĐ-CP, Nghị định 08/2015/NĐ-CP…). Hầu hết các quy định được ban hành trước đây dựa trên nền tảng thủ tục truyền thống (dựa vào hồ sơ, chứng từ giấy) không còn phù hợp khi thực hiện trên môi trường điện tử. Đồng thời, thực tế triển khai cũng phát sinh nhiều tồn tại, bất cập đặc biệt là công tác phối hợp trong thực hiện thủ tục và xử lý vướng mắc có nhiều hạn chế.

Điều này yêu cầu cần phải ban hành một Quyết định của Thủ tướng Chính phủ quy định đầy đủ và cụ thể các thủ tục đối với tàu thuyền vào, rời cảng biển (bổ sung thêm cảng thủy nội địa, cảng dầu khí ngoài khơi) và quy định một cách rõ ràng cơ chế phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước tại cảng biển trong việc thực hiện thủ tục trên Cơ chế một cửa quốc gia.

Bên cạnh đó, Quyết định cũng lần đầu tiên đưa vào những quy định về việc sử dụng tối đa hồ sơ, chứng từ điện tử nhằm tạo thuận lợi cho người làm thủ tục, cụ thể:

– Công nhận các loại giấy phép (Lệnh điều động, Giấy phép rời cảng, Giấy phép quá cảnh) điện tử làm tiền để cho việc sử dụng giấy phép điện tử để làm thủ tục tại cảng tiếp theo (bao gồm cả cảng ở nước ngoài);

– Quy định đối với những chứng từ có thời hạn hiệu lực trong 1 khoảng thời gian thì doanh nghiệp chỉ phải khai một lần trong thời hạn hiệu lực của chứng từ và khi chứng từ không có sự thay đổi;

– Đặc biệt, với việc quy định đối với những chứng từ (giấy đăng ký và giấy chứng nhận tàu biển, thuyền viên) đã được cấp bởi các cơ quan quản lý nhà nước, được chia sẻ và lưu trữ trong cơ sở dữ liệu thì doanh nghiệp không phải khai lại thông tin. Cảng vụ sẽ thực hiện kiểm tra trên dữ liệu điện tử.

9.3.4.2. Các thủ tục hành chính đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh

Để nâng cao hiệu quả thực hiện cơ chế một cửa quốc gia với các Bộ, Tổng cục Hải quan được giao chủ trì làm việc với các Tổ soạn thảo để dự thảo trình các cấp có thẩm quyền ban hành các Thông tư liên tịch (TTLT) giữa Bộ Tài chính với các Bộ triển khai. Các TTLT gồm:

– TTLT giữa các Bộ: Tài chính, Giao thông vận tải, Công thương (TTLT số 84/2013/TTLT-BTC-BCT-BGTVT ngày 25/6/2013);

– TTLT giữa các Bộ: Tài chính, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Y tế, Tài nguyên và Môi trường (TTLT số 178/2015/TTLT-BTC-BNNPTNT-BTNMT-BYT ngày 12/11/2015);

– TTLT giữa Bộ Tài chính và Bộ Thông tin và Truyền thông (đang được hoàn thiện thủ tục ban hành năm 2016);

– TTLT giữa Bộ Tài chính và Bộ Khoa học và Công nghệ (đang được hoàn thiện thủ tục ban hành năm 2016);

– TTLT giữa Bộ Tài chính và Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (đang được hoàn thiện thủ tục ban hành năm 2016);

– TTLT giữa Bộ Tài chính và Bộ Công thương (đang được hoàn thiện thủ tục ban hành năm 2016).

9.4. Kết quả triển khai Cơ chế một cửa quốc gia và Cơ chế một cửa ASEAN

Thực hiện kế hoạch triển khai Cơ chế một cửa quốc gia và Cơ chế một cửa ASEAN, Tổng cục Hải quan, với vai trò là cơ quan đầu mối, đã phối hợp với các Bộ Ngành từng bước triển khai kết nối với Cơ chế một cửa quốc gia. Tính đến tháng 3/2016 đã có 9 Bộ kết nối và 30 thủ tục hành chính được thực hiện qua Cơ chế một cửa quốc gia. Việc triển khai đã mang lại những thuận lợi cho doanh nghiệp, giảm thời gian và chi phí làm thủ tục, từng bước góp phần vào công cuộc cải cách thủ tục hành chính của các Bộ ngành, hiện thực hóa những mục tiêu trong Nghị quyết 19/2014/NQ-CP và 19/2015/NQ-CP của Chính phủ về thực hiện các giải pháp trong tâm nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Dưới đây là một số nội dung về hệ thống CNTT và những thủ tục hành chính thực hiện trên Cổng thông tin một cửa quốc gia.

9.4.1. Kết quả triển khai Cơ chế một cửa quốc gia

9.4.1.1. Về cơ chế điều hành và xây dựng cơ sở pháp lý

Cơ chế điều hành để thực hiện Cơ chế một cửa quốc gia và Cơ chế một cửa ASEAN đã được thành lập từ cấp Chính phủ thông qua việc thành lập Ban chỉ đạo quốc gia về Cơ chế một cửa ASEAN và Cơ chế một cửa quốc gia (gọi tắt là Ban chỉ đạo quốc gia), các Bộ, ngành tùy nhiệm vụ cụ thể cũng đã chỉ định đơn vị đầu mối và thành lập các bộ máy triển khai. Theo quy chế của Ban chỉ đạo quốc gia, nhiệm vụ tham mưu giúp việc Ban chỉ đạo quốc gia cũng như điều phối các hoạt động của các Bộ, ngành được giao cho Cơ quan thường trực là Tổng cục Hải quan.

Về cơ sở pháp lý, bên cạnh các điều ước quốc tế có liên quan, trên phương diện quốc gia, Ban chỉ đạo quốc gia đã tham mưu cho Chính phủ ban hành hàng loạt các quy định mang tính chất pháp lý, văn bản mang tính định hướng, chỉ đạo, điều hành làm nền tảng pháp lý trong tổ chức thực hiện. Những văn bản quan trọng bao gồm:

– “Kế hoạch tổng thể triển khai cơ chế một cửa quốc gia và tham gia cơ chế một cửa ASEAN giai đoạn 2008-2012” ban hành kèm theo Quyết định số 2599/QĐ-BCĐASW ngày 21/10/2009;

– Quyết định số 48/2011/QĐ-TTg ngày 31/8/2011, của Thủ tướng Chính phủ về việc thực hiện thí điểm Cơ chế một cửa quốc gia;

– Nghị quyết số 19/2014/NQ-CP ngày 18/3/2014 của Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia;

– Nghị quyết số 19/2015/NQ-CP ngày 12/3/2015 của Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia hai năm 2015-2016;

– Luật Hải quan số 54/2015/QH13 và Nghị định số 08/2015/NĐ-CP ngày 21/01/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Hải quan về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát, kiểm soát hải quan.

– Các thông tư liên tịch hướng dẫn thực hiện Cơ chế một cửa quốc gia giữa Bộ Tài chính và các Bộ: Công Thương, Giao thông vận tải, Khoa học và Công nghệ, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Tài nguyên và Môi trường, Thông tin và Truyền thông, Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Y tế.

– Bên cạnh đó, Ban chỉ đạo quốc gia còn ban hành các kế hoạch và văn bản chỉ đạo, điều hành công tác tổ chức thực hiện thông qua các kết luận và ý kiến của Trưởng Ban chỉ đạo tại các phiên họp chính thức của Ban chỉ đạo quốc gia hoặc trên cơ sở đề xuất của Cơ quan thường trực và các Bộ, ngành.

9.4.1.2. Các giai đoạn triển khai thực hiện Cơ chế một cửa quốc gia

Việc triển khai Cơ chế một cửa quốc gia được chia thành nhiều giai đoạn từ giai đoạn chuẩn bị cho tới các giai đoạn chính thức kết nối các Bộ, ngành. Trong khi công tác chuẩn bị chủ yếu tập trung vào các hoạt động đánh giá hiện trạng, xây dựng cơ sở pháp lý, đầu tư hệ thống công nghệ thông tin, cải cách quy trình thủ tục, tuyên truyền nâng cao nhận thức… thì việc chính thức kết nối các Bộ, ngành bắt đầu được đẩy mạnh kể từ đầu năm 2014. Cụ thể:

a) Giai đoạn kết nối các Bộ Tài chính, Bộ Công Thương và Bộ Giao thông vận tải:

Ngày 01/4/2014, sau khi hoàn tất thí điểm thực hiện thủ tục hải quan điện tử, Bộ Tài chính (Tổng cục Hải quan) chính thức triển khai trên toàn quốc hệ thống thông quan tự động VNACCS/VCIS kèm theo Cổng thanh toán điện tử đối với thuế áp dụng cho hàng hóa xuất khẩu,nhập khẩu, lệ phí làm thủ tục hải quan. Kể từ thời điểm nói trên, thủ tục hải quan được cung cấp dưới hình thức dịch vụ công trực tuyến cấp độ 4.

Ngày 12/11/2014, Bộ GTVT đã phối hợp với Bộ Tài chính (Tổng cục Hải quan) chính thức thực hiện 03 thủ tục hành chính một cửa quản lý tàu biển xuất cảnh/nhập cảnh/quá cảnh tại cảng biển quốc tế thuộc cảng Hải Phòng.

Ngày 25/12/2014, Bộ Công Thương đã phối hợp với Bộ Tài chính (Tổng cục Hải quan) chính thức thực hiện 03 thủ tục hành chính một cửa quốc gia bao gồm: (i) Thủ tục cấp chứng nhận xuất xứ ưu đãi đối với hàng hóa xuất khẩu/nhập khẩu có xuất xứ ASEAN (C/O Form D) theo Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN; (ii) Thủ tục cấp giấy phép nhập khẩu mô-tô phân khối lớn; và (iii) Thủ tục cấp giấy phép nhập khẩu đối với các chất làm suy giảm tầng ô-dôn.

Ngày 06/5/2015, Cơ chế một cửa quốc gia được triển khai mở rộng tại 05 cảng biển quốc tế thuộc Hải Phòng, Quảng Ninh, Đà Nẵng, TP. Hồ Chí Minh, Bà Rịa Vũng Tàu. Đến hết năm 2015 tiếp tục mở rộng ra các cảng biển tại Quảng Ngãi, Bình Định, Khánh Hòa và đến tháng 3/2016 triển khai tại Đồng Nai, hướng tới mở rộng triển khai thủ tục đối với tàu biển xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh tại tất cả các cảng biển (bao gồm cảng thủy nội địa, cảng dầu khí ngoài khơi) cho toàn bộ các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực vận tải, logistics và thay thế các thủ tục thủ công bằng thủ tục thực hiện trên phương thức điện tử, hồ sơ điện tử. Riêng đối với các thủ tục cho tàu biển Việt Nam hoạt động tuyến nội địa theo Thông tư số 54/2015/TT-BGTVT của Bộ Giao thông vận tải đã triển khai tại tất cả 25 cảng vụ hàng hải trên cả nước.

Ngày 25/5/2015, Bộ Tài chính tiếp tục phối hợp với Bộ Giao thông vận tải mở rộng thực hiện Cơ chế một cửa quốc gia cho các thủ tục hành chính thuộc lĩnh vực đăng kiểm do Bộ Giao thông vận tải.

b) Giai đoạn kết nối các Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Y tế:

Từ ngày 04/6/2015 cho tới hết năm 2015, Cơ chế một cửa quốc gia tiếp tục mở rộng kết nối với các Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Tài nguyên và Môi trường, Y tế với các nội dung bao gồm:

– Mở rộng cho một số thủ tục hành chính liên quan đến hàng hóa xuất khẩu/nhập khẩu trong lĩnh vực quản lý của các cơ quan thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn bao gồm: Tổng cục Thủy sản, Cục Chăn nuôi, Cục Bảo vệ thực vật, Cục Thú y, Cục Trồng trọt, Tổng cục Lâm nghiệp, Cục Quản lý Chất lượng Nông lâm sản và Thủy sản.

– Mở rộng cho một số thủ tục hành chính liên quan đến hàng hóa xuất khẩu/nhập khẩu trong lĩnh vực quản lý của các cơ quan thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường bao gồm: Cục Khí tượng thủy văn và Biến đổi khí hậu, Tổng cục Môi trường, Tổng cục địa chất và Khoáng sản Việt Nam.

– Mở rộng cho một số thủ tục hành chính liên quan đến hàng hóa xuất khẩu/nhập khẩu trong lĩnh vực quản lý của các cơ quan thuộc Bộ Y tế bao gồm: Cục Vệ sinh an toàn thực phẩm, Cục Quản lý dược, Vụ Trang thiết bị và Công trình y tế.

c) Giai đoạn kết nối các Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch:

Theo yêu cầu của Ban chỉ đạo quốc gia, các Bộ: Khoa học và Công nghệ, Thông tin và Truyền thông, Văn hóa, Thể thao và Du lịch bắt đầu kết nối Cơ chế một cửa quốc gia vào tháng 10/2015. Để thực hiện yêu cầu này Bộ Tài chính (Tổng cục Hải quan) tích cực phối hợp với 03 Bộ nêu trên tiến hành các hoạt động rà soát thủ tục, thiết kế hệ thống công nghệ thông tin, đào tạo cho doanh nghiệp và công chức thừa hành và đến ngày 08/9/2015, 03 Bộ nói trên tham gia kết nối kỹ thuật với Cơ chế một cửa quốc gia trong các lĩnh vực bao gồm:

– Kiểm tra chất lượng đối với các hàng hóa nhập khẩu thuộc danh mục kiểm tra chất lượng của Bộ Khoa học và Công nghệ.

– Cấp phép nhập khẩu thiết bị phát, thu phát sóng vô tuyến điện của Bộ Thông tin và Truyền thông.

– Đồ chơi trẻ em nhập khẩu thuộc lĩnh vực quản lý của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.

9.4.2. Kết quả tham gia Cơ chế một cửa ASEAN của Việt Nam

Với vai trò là một thành viên tích cực của ASEAN, Việt Nam đã chủ động tham gia các nhóm làm việc của ASEAN trong khuôn khổ triển khai Cơ chế một cửa ASEAN ngay từ thời điểm xây dựng dự thảo Hiệp định, Nghị định thư và đưa nội dung của các điều ước này vào thực hiện khi được Chính phủ các nước thành viên phê chuẩn. Tại các phiên họp trong khuôn khổ Cơ chế một cửa ASEAN, các nước thành viên đã làm rõ các vấn đề về mặt pháp lý, xây dựng các yêu cầu, tiêu chuẩn kỹ thuật, thống nhất mô hình kết nối Cơ chế một cửa ASEAN, đề ra các kế hoạch hành động, mục tiêu trong ngắn hạn, trung hạn và dài hạn với đích đến cuối cùng là chính thức kết nối Cơ chế một cửa ASEAN vào cuối năm 2015, theo đúng tiến độ cam kết thành lập Cộng đồng kinh tế ASEAN. Những kết quả chính mà ASEAN đã đạt được bao gồm:

– Về mặt pháp lý: hầu hết các nước thành viên, trong đó có Việt Nam đã hoàn thành rà soát và phân tích khoảng cách pháp lý giữa pháp luật trong nước với các yêu cầu để thực hiện Cơ chế một cửa ASEAN để đề ra phương án cụ thể cho việc thực hiện Cơ chế một cửa ASEAN trong phạm vi quốc gia. Các nước thành viên cũng đã hoàn thành xây dựng và ký kết Nghị định thư về khung pháp lý thực hiện Cơ chế một cửa ASEAN, nền tảng pháp lý hoàn chỉnh để Cơ chế một cửa ASEAN chính thức vận hành trong năm 2015. Nhiều nước, trong đó có Việt Nam đã đưa nội dung thực hiện Cơ chế một cửa quốc gia và Cơ chế một cửa ASEAN vào quy định pháp luật quốc gia, hoàn tất công tác nội luật hóa việc triển khai Cơ chế một cửa ASEAN, sẵn sàng cho kết nối ASEAN.

– Về mặt kỹ thuật: Cho tới thời điểm hiện tại, có 07 nước thành viên bao gồm Brunei, Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore, Thái Lan và Việt Nam công bố đã triển khai Cơ chế một cửa quốc gia theo đúng cam kết. Bắt đầu từ 17/8/2015 tới giữa tháng 9/2015, trong khuôn khổ Dự án thí điểm Cơ chế một cửa ASEAN, Việt Nam đã lần lượt thực hiện thành công kết nối kỹ thuật và trao đổi ATIGA C/O form D giữa Cơ chế một cửa quốc gia Việt Nam với Cơ chế một cửa quốc gia của các nước thành viên bao gồm Indonesia, Malaysia, Thái Lan và Singapore. Từ tháng 9/2015 đến tháng 2/2016, 05 nước thành viên bao gồm Indonesia, Malaysia, Singapore, Thái Lan và Việt Nam đã thực hiện kiểm tra kết nối, trao đổi thử nghiệm các ATIGA C/O form D thành công.

– 05 nước nói trên đang chuẩn bị để sẵn sàng triển khai chính thức Cơ chế một cửa ASEAN sau khi Nghị định thư về Khung pháp lý thực hiện Cơ chế một cửa ASEAN được tất cả các nước thành viên phê chuẩn.

9.4.3. Đánh giá chung về kết quả thực hiện

9.4.3.1. Về mặt nhận thức

Tăng cường nhận thức về nội hàm và sự cần thiết phải thực hiện Cơ chế một cửa quốc gia. Qua đó, các Bộ, ngành đã xác định việc triển khai Cơ chế một cửa quốc gia không chỉ xuất phát từ nhu cầu hội nhập và thực hiện cam kết quốc tế mà còn từ nhu cầu nội tại phải cải cách hành chính của các cơ quan nhà nước. Từ đó, các Bộ, ngành đã có những bước đi chủ động hơn trong công tác phối hợp liên ngành cũng như tổ chức thực hiện.

9.4.3.2. Về xây dựng cơ sở pháp lý và quy trình thủ tục

Hoàn tất rà soát, đánh giá và hệ thống hóa lại các quy trình thủ tục hành chính có liên quan đến nội hàm triển khai Cơ chế một cửa quốc gia từ đó chuyển hóa vào Luật Hải quan 2014 và Nghị định 08/2015/NĐ-CP tạo cơ sở pháp lý vững chắc hơn cho công tác tổ chức thực hiện. Xác định được các thủ tục sẽ đưa vào thực hiện đảm bảo tính khả thi cũng như đảm bảo đủ lưu lượng hàng hóa để qua đó, có thể đánh giá tác động, phục vụ cho quá trình tổng kết, đánh giá và nhân rộng.

9.3.3.3. Về xây dựng hệ thống công nghệ thông tin

Trên cơ sở các quy trình thủ tục lựa chọn thí điểm, hoàn tất thiết kế kỹ thuật để triển khai hệ thống công nghệ thông tin của các Bộ, ngành để kết nối với Cổng thông tin một cửa quốc gia. Bên cạnh đó, Bộ Tài chính (Tổng cục Hải quan), Bộ Giao thông vận tải đã hoàn thành hệ thống công nghệ thông tin và chính thức kết nối từ tháng 11/2014; Bộ Công thương kết nối từ tháng 12/2014. Các Bộ, ngành còn lại đã hoàn thành hệ thống và kết nối kể từ tháng 6/2015.

9.4.3.4. Về tạo thuận lợi cho doanh nghiệp

Khi được triển khai đầy đủ, thực tiễn tại nhiều quốc gia đã chứng minh Cơ chế một cửa quốc gia sẽ đem lại những hiệu quả thiết thực cho doanh nghiệp trên phương diện tạo thuận lợi thương mại. Ngay tại thời điểm hiện tại, có thể nhận thấy Cơ chế một cửa quốc gia đã phát huy tác dụng ở một vài điểm sau:

Về lợi ích cụ thể: Theo công bố của Cục Đăng kiểm Việt Nam, khi áp dụng thực hiện Cơ chế một cửa quốc gia, doanh nghiệp sẽ rút ngắn được khoảng 4/5 thời gian làm thủ tục. Đối với thủ tục hành chính của các Bộ, ngành, khi triển khai thực hiện theo Cơ chế một cửa quốc gia, mặc dù chưa có số liệu đo cụ thể song mục tiêu đề ra là sẽ rút ngắn được khoảng từ 15% – 30% thời gian thực hiện thủ tục hành chính hoặc nhiều hơn. Bên cạnh đó, khi triển khai đầy đủ dịch vụ công trực tuyến cấp độ 4 trên Cơ chế một cửa quốc gia, ước tính hầu hết bộ hồ sơ do doanh nghiệp phải nộp/xuất trình sẽ được đơn giản hóa và điện tử tử hóa; qua đó giảm thời gian và chi phí cho chuẩn bị chứng từ, hồ sơ thực hiện thủ tục hành chính.

Về lợi ích lâu dài: Thứ nhất, đối với doanh nghiệp, đây là vừa là bước tập dượt vừa là cơ hội để chuyển đổi phương thức hoạt động sang môi trường điện tử, đào tạo nguồn lực để có thể sẵn sàng cho quá trình hội nhập hướng ra các thị trường mà ở đó, môi trường kinh doanh và hành chính chủ yếu là môi trường phi giấy tờ. Sau nữa, các cơ quan nhà nước sẽ có được cơ sở dữ liệu về chứng từ hành chính điện tử để sẵn sàng trao đổi với các cơ quan hành chính nhà nước thuộc các thị trường xuất khẩu của Việt Nam, qua đó mở ra cơ hội đơn giản hóa các hồ sơ, chứng từ áp dụng cho các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam, tạo lợi thế cạnh tranh cho hàng xuất khẩu.

9.4.3.5. Đảm bảo hiệu quả, hiệu lực cho công tác quản lý nhà nước

Trước hết, việc thực hiện Cơ chế một cửa quốc gia là bước tập dượt cho các cơ quan nhà nước để làm quen và dần chuyển đổi sang phương thức thực hiện thủ tục hành chính mới trên môi trường phi giấy tờ; phương thức được cộng đồng quốc tế khuyến nghị và đã được chứng minh là minh bạch, hiệu quả và thuận lợi cho cả khu vực công và khu vực tư nhân. Thứ hai, quá trình triển khai đã bộc lộ hàng loạt những tồn tại, chồng chéo và bất cập mà việc thực hiện thủ tục thủ công mang lại từ khâu thiết kế quy định pháp lý tới công tác phối hợp liên ngành. Qua đó, các cơ quan nhà nước chủ động hơn trong việc xây dựng văn bản pháp lý, quy trình thủ tục theo hướng đơn giản, cải cách, hiện đại. Bên cạnh đó, các giao dịch hành chính được ghi nhận trên hệ thống là cơ sở để tiến hành đo lường hiệu quả hoạt động của cơ quan nhà nước, hỗ trợ cho việc cải cách quy trình thủ tục để phục vụ doanh nghiệp và người dân được tốt hơn.

9.5. Kế hoạch và lộ trình triển khai Cơ chế một cửa quốc gia và Cơ chế một cửa ASEAN giai đoạn 2016-2020

9.5.1. Mục tiêu trong giai đoạn tới

Việc triển khai Cơ chế một cửa quốc gia và ASEAN trong thời gian tới sẽ chia thành hai giai đoạn với định hướng tập trung giải quyết những nội dung cụ thể như sau:

9.5.1.1. Giai đoạn 2016-2018

– Củng cố các thủ tục hành chính đã triển khai và lan tỏa trên phạm vi toàn quốc cho tất cả các đối tượng có liên quan.

– Thực hiện dịch vụ công trực tuyến cấp độ 4 đối với các thủ tục hành chính một cửa quốc gia đã kết nối chính thức.

– Triển khai mở rộng các thủ tục hành chính mới hướng tới triển khai tất cả các thủ tục hành chính đối với một số Bộ, ngành thông qua Cơ chế một cửa quốc gia.

– Tập trung kết nối Cơ chế một cửa ASEAN và trao đổi thông tin về Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa ASEAN (C/O mẫu D) và thông tin tờ khai hải quan ASEAN (ACDD) đối với 4 nước đã sẵn sàng (Indonesia, Malaysia, Singapore, Thái Lan).

9.5.1.2. Giai đoạn 2 (2019 – 2020)

– Mở rộng Cơ chế một cửa quốc gia cho tất cả các Bộ, ngành về phạm vi, đối tượng.

– Toàn bộ các thủ tục hành chính trên Cơ chế một cửa quốc gia được triển khai dưới hình thức dịch vụ công trực tuyến cấp độ 4.

– Kết nối đầy đủ Cơ chế một cửa ASEAN và sẵn sàng kết nối trao đổi thông tin với các đối tác thương mại ngoài ASEAN để tạo thuận lợi cho hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam và tăng cường kiểm soát đối với hàng nhập khẩu.

9.5.2. Những giải pháp chủ yếu để triển khai thành công Cơ chế một cửa quốc gia và kết nối Cơ chế một cửa ASEAN trong giai đoạn tới

9.5.2.1. Hoàn thiện hành lang pháp lý

Hiện tại, việc triển khai thực hiện Cơ chế một cửa quốc gia và ASEAN đã được nội luật hóa tại Luật Hải quan số 54/2015/QH13 (Khoản 5, Điều 4) và tại Nghị định số 08/2015/NĐ-CP ngày 21/01/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Hải quan về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát, kiểm soát hải quan. Bên cạnh đó, các Bộ, ngành đã xây dựng các thông tư liên tịch để hướng dẫn thực hiện Cơ chế một cửa quốc gia. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai giai đoạn vừa qua cho thấy một số vấn đề pháp lý cần phải tiếp tục được hoàn thiện với những nội dung chính bao gồm:

– Tạo hành lang pháp lý đầy đủ hơn cho việc sử dụng chứng từ điện tử, hồ sơ điện tử trong thủ tục hành chính.

– Xác định cụ thể cơ chế phối hợp liên ngành để giải quyết các thủ tục hành chính có từ 2 cơ quan nhà nước trở lên cùng tham gia giải quyết. Ở đây, cần đặc biệt chú trọng tới việc thiết kế lại quy trình thủ tục để đảm bảo hồ sơ, chứng từ và thông tin được luân chuyển thông suốt từ khâu nộp/gửi hồ sơ cho tới từng khâu trong quy trình xử lý và ra quyết định của các cơ quan nhà nước; xác định rõ trách nhiệm của từng khâu và điểm ra quyết định cuối cùng.

– Đơn giản hóa các hồ sơ, chứng từ cần phải nộp/xuất trình theo hướng tận dụng tối đa các cơ sở dữ liệu sẵn có của cơ quan nhà nước liên quan đến các giấy tờ hành chính nhà nước mà doanh nghiệp phải nộp/xuất trình để chứng minh nhân thân của doanh nghiệp; triệt để tránh việc yêu cầu nộp/xuất trình nhiều lần, cho nhiều cơ quan đối với cùng một loại giấy tờ.

– Sửa đổi hệ thống các biểu mẫu về hồ sơ, chứng từ theo hướng ứng dụng chứng từ điện tử. Đưa ra được một bộ dữ liệu quốc gia về biểu mẫu và chứng từ điện tử trong lĩnh vực hành chính và thương mại để áp dụng chung cho tất cả các thủ tục hành chính thực hiện trên Cơ chế một cửa quốc gia; làm cơ sở đóng góp cho xây dựng các chứng từ điện tử trên Cơ chế một cửa ASEAN cũng như để đàm phán với các đối tác thương mại ngoài ASEAN có nhu cầu trao đổi dữ liệu điện tử với Việt Nam.

– Đơn giản hóa thủ tục hành chính trên cơ sở quản lý tuân thủ, đưa ra quy trình ưu tiên hoặc quy trình đơn giản dành cho những doanh nghiệp có nhân thân tốt, tuân thủ pháp luật.

– Tạo hành lang pháp lý cho việc sử dụng các dịch vụ do bên thứ ba cung cấp để đưa ra các tiện ích cho cả doanh nghiệp lẫn các cơ quan nhà nước trong thực hiện thủ tục hành chính trên Cơ chế một cửa quốc gia và Cơ chế một cửa ASEAN.

– Tạo hành lang pháp lý cho phép trao đổi thông tin, chứng từ điện tử với các nước trong khu vực và với các thị trường xuất khẩu ngoài ASEAN. Trong đó, cần đặc biệt chú trọng đến đàm phán và đưa vào các điều ước song phương, đa phương, các FTA cho phép công nhận và trao đổi giấy phép điện tử  (đặc biệt trong lĩnh vực kiểm tra chất lượng hàng hóa) được lưu trữ tại Cổng thông tin một cửa quốc gia. Từ đó, tạo thuận lợi cho việc xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam cũng như kiểm soát chất lượng đối với hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam.

9.5.2.2. Xây dựng hệ thống công nghệ thông tin

Bên cạnh hành lang pháp lý đầy đủ, các Bộ, ngành phải khẩn trương hoàn thiện hệ thống công nghệ thông tin để kết nối toàn diện trên Cơ chế một cửa quốc gia nhằm mục tiêu thực hiện thủ tục hành chính hoàn toàn bằng phương thức điện tử, cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ 4 cho tất cả các thủ tục hành chính thực hiện trên Cổng thông tin một cửa quốc gia. Từ đó, Cổng thông tin một cửa quốc gia sẽ sẵn sàng về mặt dữ liệu và kỹ thuật để thực hiện trao đổi thông tin không những trong khuôn khổ thực hiện Cơ chế một cửa ASEAN mà còn đảm bảo sẵn sàng trao đổi dữ liệu và chứng từ điện tử với các đối tác thương mại khác ngoài ASEAN.

9.5.2.3. Kiện toàn bộ máy điều hành và xây dựng cơ chế điều hành thông qua kế hoạch mang tính dài hạn

Với nhiệm vụ là công cụ chính để thực hiện thủ tục hành chính kèm theo sứ mệnh là đảm bảo thuận lợi cho hoạt động thương mại, vận tải quốc tế; tăng cường hiệu quả, hiệu lực trong quản lý nhà nước, Cơ chế một cửa quốc gia và Cơ chế một cửa ASEAN không dừng lại ở việc ban hành một hành lang pháp lý và xây dựng các hệ thống công nghệ thông tin. Cần xác định rằng, việc duy trì, vận hành và phát triển Cơ chế một cửa quốc gia cũng như Cơ chế một cửa ASEAN sẽ dần chuyển thành hoạt động mang tính thường xuyên, liên ngành, phải có cơ chế để điều hành, duy trì và phát triển trong ngắn hạn và cho mục tiêu dài hạn. Vấn đề này cũng đã được Thủ tướng Chính phủ kết luận tại thông báo số 137/TB-VPCP ngày 16/4/2015 về cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực hải quan trong đó giao Bộ Tài chính bổ sung thêm nhiệm vụ đối với Ban chỉ đạo quốc gia thực hiện nhiệm vụ “cải cách toàn diện thủ tục hành chính góp phần cải thiện môi trường đầu tư, nâng cao khả năng cạnh tranh quốc gia trong lĩnh vực giao lưu hàng hóa qua biên giới” (Tiết a), Điểm 6, công văn số 137/TB-VPCP ngày 16/4/2015).

Như vậy, bộ máy điều hành, điều phối thực hiện cần phải được kiện toàn lại cho tương xứng với quy mô, phạm vi của nhiệm vụ theo yêu cầu ngày càng cao của Chính phủ. Công tác điều hành cũng phải được thực hiện dưới hình thức các bản kế hoạch mang tính tổng thể theo giai đoạn 05 năm bao hàm đầy đủ các nội dung từ mục tiêu dài hạn, cơ chế điều hành, cơ chế tài chính và huy động nguồn lực, … tới kế hoạch phát triển ứng dụng công nghệ thông tin.

9.5.2.4. Triển khai các hoạt động hỗ trợ, đào tạo, tuyên truyền nâng cao nhận thức cho các cơ quan nhà nước, tổ chức và người dân

Để đảm bảo vận hành hiệu quả Cơ chế một cửa quốc gia, Cơ chế một cửa ASEAN, trước hết, các cơ quan nhà nước, cộng đồng doanh nghiệp, tổ chức và người dân cần có nhận thức chung về nội hàm, mục tiêu, lợi ích mà Cơ chế một cửa quốc gia và ASEAN sẽ mang lại cũng như những thách thức sẽ gặp phải trong quá trình thực hiện. Như vậy, cần triển khai các hoạt động đào tạo, tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho toàn thể cộng đồng. Việc triển khai Cơ chế một cửa quốc gia và Cơ chế một cửa ASEAN trong giai đoạn vừa qua cho thấy không chỉ cộng đồng doanh nghiệp mà ngay cả các cơ quan nhà nước cũng khá lúng túng và bỡ ngỡ khi chính thức thực hiện. Vì vậy, trong giai đoạn tới, cần phải tổ chức nhiều hơn nữa các hoạt động nói trên với các phương thức đa dạng hơn để tiếp cận với cộng đồng một cách kịp thời và đầy đủ. Bên cạnh các hoạt động tuyên truyền, đào tạo, không thể thiếu được việc cung cấp dịch vụ hỗ trợ từ các cơ quan nhà nước. Cụ thể, cần thiết lập các bộ phận hỗ trợ và giải đáp vướng mắc trực tuyến tại các cơ quan nhà nước để tiếp nhận vướng mắc và giúp đỡ doanh nghiệp, tổ chức và người dân một cách kịp thời khi có vướng mắc phát sinh. Trong tương lai, cũng cần phải lôi kéo thêm các nhà cung cấp dịch vụ, bên thứ ba cùng chia sẻ với cơ quan nhà nước trong hỗ trợ cộng đồng.

Lưu ý: Chi tiết về Dự thảo lần 1 quyết định ban hành Kế hoạch tổng thể triển khai Cơ chế một cửa quốc gia và Cơ chế một cửa ASEAN tại Phụ lục 9.1.

Trong xu thế hội nhập hiện nay, việc thực hiện Cơ chế một cửa quốc gia và tham gia Cơ chế một cửa ASEAN như một tất yếu để góp phần đơn giản hóa thủ tục hành chính, giảm thiểu hồ sơ, giấy tờ tiến tới một môi trường phi giấy tờ, rút ngắn thời gian làm thủ tục, tạo thuận lợi cho thương mại phát triển và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Mở rộng hơn của Cơ chế một cửa quốc gia và Cơ chế một cửa ASEAN sẽ là sự kết nối với các quốc gia và vùng lãnh thổ khác như với các quốc gia Đông Á, EU, Hoa Kỳ,… trong tiến trình Việt Nam gia nhập và thực hiện các cam kết quốc tế như các Hiệp định thương mại tự do song phương và đa phương, Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương TPP,…

Ở phạm vi rộng hơn, Chính phủ Việt Nam đang triển khai các giải pháp một cách đồng bộ nhằm thúc đẩy việc ứng dụng công nghệ thông tin tới tất cả các Bộ, ngành, các cơ quan quản lý nhà nước không chỉ ở Trung ương mà ở cả các tỉnh, thành phố. Một trong số đó là việc triển khai Nghị quyết 36a/NQ-CP về Chính phủ điện tử sẽ tiến tới thực hiện Cơ chế một cửa đối với tất cả các thủ tục hành chính liên quan để cung cấp cho người dân và doanh nghiệp các dịch vụ công trực tuyến cấp độ 4 một cách hiệu quả và thuận lợi.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Hiệp định về xây dựng và thực hiện Cơ chế một cửa ASEAN được Chính phủ Việt Nam phê duyệt tại văn bản số 1621/TTg-QHQT ngày 30 tháng 10 năm 2007.

2. Nghị định thư về xây dựng và thực hiện Cơ chế một cửa ASEAN được Chính phủ Việt Nam phê duyệt tại văn bản số 1621/TTg-QHQT ngày 30 tháng 10 năm 2007.

3. Nghị định thư về khung pháp lý để thực hiện Cơ chế một cửa ASEAN được Chính phủ Việt Nam ký ngày 04 tháng 9 năm 2015.

4. Các khuyến nghị của của Trung tâm Tạo thuận lợi và Thương mại điện tử của Liên Hợp quốc UN/CEFACT liên quan tới Cơ chế một cửa gồm:

– Khuyến nghị số 33 năm 2005 khuyến nghị và hướng dẫn về xây dựng cơ chế một cửa nhằm thúc đẩy việc trao đổi thông tin giữa cộng đồng thương mại và chính phủ; Khuyến nghị số 34 năm 2011 về đơn giản hóa và chuẩn hóa dữ liệu trong thương mại quốc tế; Khuyến nghị số 35 năm 2011 về xây dựng cơ sở pháp lý cho thương mại quốc tế trong cơ chế một cửa.

5. Mô hình dữ liệu của Tổ chức Hải quan thế giới WCO phiên bản 3.0 (WCO Data Model 3.0).

6. Các tài liệu hướng dẫn nghiệp vụ và kỹ thuật của ASEAN về Cơ chế một cửa ASEAN.

7. Luật Hải quan số 54/2014/QH13 ngày 30 tháng 6 năm 2014.

8. Luật Công nghệ thông tin số 67/2006/QH11 ngày 29 tháng 6 năm 2006.

9. Luật Giao dịch điện tử số 51/2005/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2005.

10. Nghị định số 08/2015/NĐ-CP ngày 21 tháng 01 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Hải quan về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát, kiểm soát hải quan.

11. Nghị quyết số 19/NQ-CP ngày 18 tháng 3 năm 2014 của Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

12. Nghị quyết số 19/NQ-CP ngày 12 tháng 3 năm 2015 của Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia hai năm 2015-2016.

13. Nghị quyết số 36a/NQ-CP ngày 14 tháng 10 năm 2015 của Chính phủ về Chính phủ điện tử.

14. Dự thảo Kế hoạch thực hiện Cơ chế một cửa quốc gia và Cơ chế một cửa ASEAN giai đoạn 2016-2020.

 


 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *