QUY TRÌNH XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ TÀI SẢN ĐỂ GIAO VỐN CHO ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP TỰ CHỦ TÀI CHÍNH

QUY TRÌNH XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ TÀI SẢN ĐỂ GIAO VỐN CHO ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP TỰ CHỦ TÀI CHÍNH

 TS. Chu Thị Thuỷ Chung

Chánh Văn phòng, Cục Quản lý công sản Bộ Tài chính

 Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước năm 2008 và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật (Nghị định số 52/2009/NĐ-CP ngày 03/6/2009của Chính phủ, Thông tư số 245/2009/TT-BTC ngày 31/12/2009 và Thông tư số 12/2012/TT-BTC ngày 06/02/2012 của Bộ Tài chính) đã có những thay đổi quan trọng về chế độ quản lý tài sản tại các đơn vị sự nghiệp công lập. Những văn bản quy phạm pháp luật này đã thể chế hóa chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước về cơ chế xác định giá trị tài sản nhà nước để giao vốn cho đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ tài chính và cho phép các đơn vị này được sử dụng tài sản nhà nước vào mục đích sản xuất, kinh doanh dịch vụ, cho thuê, liên doanh liên kết; đảm bảo công khai, minh bạch trong quản lý, sử dụng tài sản nhà nước, khai thác có hiệu quả nguồn lực sẵn có từ tài sản nhà nước gắn với việc huy động các nguồn lực xã hội để đầu tư phát triển dịch vụ sự nghiệp công. Quá trình triển khai thực hiện đã đạt được những kết quả nhất định, nhiều đơn vị khi được giao vốn đã phát huy tốt tiềm năng, thế mạnh để vừa thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị được giao, vừa nâng cao chất lượng dịch vụ, tăng thu nhập cho người lao động và nộp ngân sách nhà nước. Tuy nhiên, về tổng thể, việc giao vốn cho đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ tài chính còn chưa đáp ứng yêu cầu. Theo báo cáo chưa đầy đủ của các Bộ, ngành, địa phương, đến nay mới có 73 đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ tài chính được giao vốn theo cơ chế giao vốn cho doanh nghiệp với tổng số tiền khoảng 8.584.346 triệu đồng.Thực trạng nêu trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân quy trình xác định giá trị tài sản để giao vốn quy định tại các văn bản pháp luật chưa rõ trách nhiệm và các bước công việc mà cơ quan quản lý nhà nước và các đơn vị sự nghiệp cần phải thực hiện. Vì vậy, trong nội dung chuyên đề này chúng tôi hệ thống hóa và biên tập thành quy trình, nội dung công việc và các bước công việc cần phải thực hiện xác định tài sản để giao vốn cho đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ tài chính. Ngoài ra, cơ chế xác định giá trị tài sản nhà nước để giao vốn cho đơn vị sự nghiệp hiện hành còn một số bất cập, chưa đồng bộ giữa các văn bản, trong phạm vi bài này chúng tôi sẽ phân tích thêm nguyên nhân và định hướng cách giải quyết những bất cập đó. Nội dung chuyên đề gồm 3 phần: (i) Đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ tài chính; (ii) Quy trình xác định giá trị tài sản nhà nước để giao cho đơn vị quản lý theo cơ chế giao vốn cho doanh nghiệp; (iii) Quản lý tài sản nhà nước tại đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ tài chính – một số bất cấp và định hướng hoàn thiện.

15.1. Đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ tài chính

Theo pháp luật về Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước thì các đơn vị sự nghiệp công lập đủ điều kiện theo quy định của Chính phủ để xác định giá trị tài sản nhà nước để giao cho đơn vị quản lý theo cơ chế giao vốn cho doanh nghiệp gọi tắt là đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ tài chínhvà đơn vị sự nghiệp công lập chưa đủ điều kiện được Nhà nước xác định giá trị tài sản nhà nước để giao cho đơn vị quản lý theo cơ chế giao vốn cho doanh nghiệp gọi tắt là đơn vị sự nghiệp công lập chưa tự chủ tài chính. Như vậy, căn cứ để xác định và phân loại đơn vị sự nghiệp theo quy định này là các tiêu chí do Chính phủ quy định.

15.1.1. Tiêu chí xác định đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ tài chính

Ngày 14/02/2015, Chính phủ ban hành Nghị định số 16/2015/NĐ-CP quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập (thay thế Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ); theo đó, đơn vị sự nghiệp gồm 04 loại: (i) Đơn vị sự nghiệp công tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư; (ii) Đơn vị sự nghiệp công tự bảo đảm chi thường xuyên; (iii) Đơn vị sự nghiệp công tự đảm bảo một phần chi thường xuyên; (iv) Đơn vị sự nghiệp công do ngân sách nhà nước đảm bảo chi thường xuyên. Tiêu chí để phân loại dựa trên các điều kiện: (i) khả năng đảm bảo kinh phí từ nguồn thu hoạt động dịch vụ sự nghiệp công theo lộ trình giá dịch vụ sự nghiệp công; nguồn phí và nguồn thu khác nếu có; (ii) được Nhà nước đặt hàng cung cấp dịch vụ sự nghiệp công theo giá tính đủ chi phí hay được Nhà nước giao dự toán theo nhiệm vụ được cấp có thẩm quyền quyết định.

Như vậy, cách phân loại đơn vị sự nghiệp tại Nghị định số 16/2015/NĐ-CP có sự thay đổi so với Nghị định số 43/2006/NĐ-CP trước đây. Trong khi đó, tiêu chí xác định đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ tài chính và chưa tự chủ tài chính theo Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước (được cụ thể hóa tại Điều 2, Điều 3 Thông tư số 12/2012/TT-BTC ngày 06/02/2012 của Bộ Tài chính) dựa trên quy định tại Nghị định số 43/2006/NĐ-CP đã quy định tiêu chí Đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ tài chính, gồm: (i) Đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên từ nguồn thu sự nghiệp (kể cả nguồn thu từ ngân sách nhà nước đối với sản phẩm dịch vụ, hàng hoá do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước đặt hàng); (ii) Đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm trên 10% kinh phí hoạt động thường xuyên và có đủ các điều kiện sau:

– Có đề án sử dụng tài sản phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao, được Bộ, cơ quan trung ương (đối với đơn vị sự nghiệp công lập thuộc trung ương quản lý) hoặc Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh (đối với đơn vị sự nghiệp công lập thuộc địa phương quản lý) phê duyệt;

– Cam kết thực hiện đúng quy định về quản lý, sử dụng tài sản đối với đơn vị tự chủ tài chính quy định của Nghị định số 52/2009/NĐ-CP ngày 03 tháng 6 năm 2009 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước và hướng dẫn của Bộ Tài chính;

– Trường hợp được Nhà nước cho phép hoặc yêu cầu tính đủ chi phí, bao gồm cả khấu hao tài sản cố định vào giá thành sản phẩm dịch vụ, hàng hoá (kể cả các sản phẩm dịch vụ, hàng hoá do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước đặt hàng) thì đơn vị có khả năng tự bù đắp đủ các chi phí;

-Nhà nước không tăng thêm kinh phí, trừ các trường hợp nhà nước giao thêm nhiệm vụ hoặc bổ sung một phần cho tiền lương tăng thêm theo chế độ của Nhà nước.

Đồng thời, quy định các Đơn vị sự nghiệp công lập thuộc các trường hợp sau không được Nhà nước xác định giá trị tài sản để giao cho đơn vị quản lý theo cơ chế giao vốn cho doanh nghiệp: (i) Đơn vị sự nghiệp công lập hoạt động tại địa bàn vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn; (ii) Đơn vị sự nghiệp công lập cung cấp dịch vụ công thiết yếu như: giáo dục mầm non, tiểu học, trung học cơ sở; bệnh viện tâm thần, bệnh viện điều dưỡng và phục hồi chức năng, bệnh viện lao, bệnh viện phong; (iii) Đơn vị sự nghiệp công lập thuộc cấp huyện (quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh) quản lý.

15.1.2. Công nhận đơn vị sự nghiệp công tự chủ tài chính

Theo quy định hiện hành đơn vị sự nghiệp công lập có đủ điều kiện theo tiêu chí nêu trên lập hồ sơ gửi cơ quan nhà nước có thẩm quyền để được xem xét, quyết định giao tài sản cho đơn vị quản lý theo cơ chế giao vốn cho doanh nghiệp. Hồ sơ đề nghị gồm: Văn bản đề nghị được giao tài sản nhà nước cho đơn vị quản lý theo cơ chế giao vốn cho doanh nghiệp;Đề án sử dụng tài sản phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao và các tài liệu liên quan chứng minh đủ các điều kiện được nhà nước xác định giá trị tài sản để giao cho đơn vị quản lý theo cơ chế giao vốn cho doanh nghiệp; Các giấy tờ có liên quan khác (nếu có). Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan trung ương quyết định hoặc phân cấp quyết định công nhận đơn vị sự nghiệp công lập đủ điều kiện được Nhà nước xác định giá trị tài sản để giao cho đơn vị quản lý theo cơ chế giao vốn cho doanh nghiệp đối với đơn vị sự nghiệp công lập thuộc trung ương quản lý. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định công nhận đơn vị sự nghiệp công lập đủ điều kiện được Nhà nước xác định giá trị tài sản để giao cho đơn vị quản lý theo cơ chế giao vốn cho doanh nghiệp đối với đơn vị sự nghiệp công lập thuộc địa phương quản lý.

Để đơn giản quy trình thủ tục và đẩy nhanh việc xác định giá trị tài sản để giao vốn cho đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ tài chính theo hướng xác định tiêu chí đồng bộ với Nghị định số 16/2015/NĐ-CP như Bộ Tài chính đã trình Chính phủ sửa đổi Nghị định số 52/2009/NĐ-CP thì việc công nhận đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ tài chính các Bộ, cơ quan trung ương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có thể chủ động thực hiện mà không cần chờ đề xuất từ các đơn vị sự nghiệp. Căn cứ tiêu chí do Chính phủ quy định, các Bộ, cơ quan trung ương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức rà soát lại toàn bộ các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc phạm vi quản lý, để tự phân loại đơn vị sự nghiệp công lập thành 2 nhóm: đơn vị sự nghiệp tự chủ tài chính và đơn vị sự nghiệp chưa tự chủ tài chính; trừ trường hợp đơn vị sự nghiệp công do Nhà nước bảo đảm chi thường xuyên nhưng tài sản nhà nước được giao có khả năng sử dụng vào mục đích cho thuê, liên doanh, liên kết; đáp ứng các yêu cầu quy định tại Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước thì cần căn cứ thêm hồ sơ đề xuất từ đơn vị sự nghiệp.

Trên cơ sở kết quả rà soát, phân loại, Bộ, cơ quan trung ương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có văn bản công nhận đơn vị sự nghiệp tự chủ tài chính. Trên cơ sở đó, các đơn vị sự nghiệp quản lý, sử dụng tài sản nhà nước theo quy định của pháp luật:

– Đơn vị sự nghiệp công lập chưa tự chủ tài chính, việc quản lý, sử dụng tài sản nhà nước thực hiện theo quy định về quản lý tài sản nhà nước tại cơ quan nhà nước (không được sử dụng tài sản nhà nước vào mục đích sản xuất, kinh doanh dịch vụ, cho thuê, liên doanh liên kết). Riêng tiền thu được từ bán tài sản nhà nước (trừ quyền sử dụng đất) và thanh lý tài sản, đơn vị sự nghiệp công lập chưa tự chủ tài chính được sử dụng để bổ sung Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp.

– Đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ tài chính, việc quản lý, sử dụng tài sản nhà nước thực hiện đổi công tác quản lý, trao quyền tự chủ cho các đơn vị sự nghiệp công lập để phát triển các hoạt động sự nghiệp, thực hiện xã hội hoá, giảm sức ép chi từ ngân sách nhà nước. Theo đó, các đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ tài chính được sử dụng tài sản nhà nước vào mục đích sản xuất, kinh doanh dịch vụ, cho thuê, liên doanh liên kết theo quy định.

15.2. Quy trình xác định giá trị tài sản nhà nước để giao cho đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ tài chính

Đơn vị sự nghiệp được Bộ, cơ quan trung ương và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh công nhận là đơn vị sự nghiệp tự chủ tài chính thì thực tiến hành xác định giá trị tài sản nhà nước để giao cho đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ tài chính. Cơ chế xác định định giá trị tài sản thực hiện như sau:

Bước 1: Kiểm kê, phân loại tài sản nhà nước trước khi thực hiện xác định giá trị tài sản nhà nước để giao cho đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ tài chính

Sau khi Bộ, cơ quan trung ương, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh công nhận đơn vị sự nghiệp công lập đủ điều kiện được xác định giá trị tài sản nhà nước để giao cho đơn vị quản lý, đơn vị có trách nhiệm kiểm kê, phân loại tài sản tại đơn vị thành các nhóm chủ yếu như sau:

Nhóm một là tài sản nhà nước được xác định giá trị để giao cho đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ tài chính, gồm: Tài sản được Nhà nước giao; Tài sản nhà nước được đầu tư xây dựng, mua sắm bằng tiền do ngân sách nhà nước cấp; Tài sản nhà nước được đầu tư xây dựng, mua sắm bằng tiền có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước và từ Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp của đơn vị; Phần giá trị tài sản được hình thành từ nguồn ngân sách nhà nước hoặc có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước đối với tài sản được đầu tư xây dựng, mua sắm từ nhiều nguồn khác nhau.

Nhóm hailà các tài sản không thực hiện xác định giá trị để giao cho đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ tài chính quản lý gồm:

– Tài sản đơn vị thuê, mượn, nhận góp vốn liên doanh, liên kết và các tài sản khác không phải của đơn vị;

– Tài sản không cần dùng, ứ đọng, chờ thanh lý, đơn vị có trách nhiệm xử lý theo chế độ hiện hành. Trường hợp đến thời điểm xác định giá trị mà đơn vị chưa kịp xử lý thì đơn vị có trách nhiệm tiếp tục bảo quản và báo cáo cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định xử lý và giao trách nhiệm tổ chức xử lý;

– Phần diện tích nhà, đất của đơn vị đã bố trí làm nhà ở cho cán bộ, công chức, viên chức đủ điều kiện chuyển giao cho cơ quan nhà, đất của địa phương để quản lý theo quy định hiện hành của pháp luật. Trường hợp nhà, đất không đủ điều kiện chuyển giao cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thì đơn vị có trách nhiệm thực hiện sắp xếp lại theo quy định hiện hành. Nếu sau khi thực hiện sắp xếp lại, đơn vị được tiếp tục sử dụng thì thực hiện xác định giá trị để giao cho đơn vị;

– Phần diện tích đất Nhà nước cho đơn vị sự nghiệp công lập thuêtrả tiền thuê đất hàng năm;

– Tài sản của các dự án do đơn vị sự nghiệp công lập làm chủ dự án nhưng chưa có quyết định xử lý của cấp có thẩm quyền.

Nhóm ba là tài sản nhà nước chưa xác định giá trị để giao cho đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ tài chính, gồm:

Đối với tài sản nhà nước đang đầu tư xây dựng, mua sắm, tiếp nhận dở dang, đơn vị có trách nhiệm quản lý và tiếp tục thực hiện đầu tư xây dựng, mua sắm, tiếp nhận;

Đối với tài sản nhà nước là trụ sở làm việc, tài sản khác gắn liền với đất (bao gồm cả quyền sử dụng đất) chưa được cơ quan thẩm quyền phê duyệt phương án sắp xếp lại nhà, đất ; nhà đất đã bố trí làm nhà ở cho cán bộ công nhân viên nhưngkhông đủ điều kiện chuyển giao cho cơ quan nhà, đất của địa phương: Đơn vị có trách nhiệm lập phương án sắp xếp lại, xử lý nhà, đất thuộc sở hữu nhà nước và trình cấp có thẩm quyền phê duyệt theo quy định tại Quyết định số 09/2007/QĐ-TTg ngày 19/01/2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc sắp xếp lại, xử lý nhà, đất thuộc sở hữu nhà nước, Quyết định số 140/2008/QĐ-TTg ngày 21/10/2008 của Thủ tướng Chính phủ sửa đổi, bổ sung Quyết định số 09/2007/QĐ-TTg và các văn bản hướng dẫn của Bộ Tài chính.

Sau khi hoàn thành việc đầu tư xây dựng, mua sắm, tiếp nhận, sắp xếp lại, xử lý nhà, đất thuộc sở hữu nhà nước, nếu được cấp có thẩm quyền quyết định giao cho đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ tài chính thì thực hiện xác định giá trị tài sản nhà nước để giao cho đơn vị và điều chỉnh giá trị tài sản nhà nước tại đơn vị.

Bước 2: Xử lý tài sản nhà nước không cần dùng, ứ đọng, chờ thanh lý không xác định giá trị để giao cho đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ tài chính

Đối với tài sản nhà nước thuộc nhóm hai là tài sản nhà nước không cần dùng, ứ đọng, chờ thanh lý thì không xác định giá trị để giao cho đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ tài chính, đơn vị tiếp tục quản lý để xử lý. Việc xử lý các tài sản này theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước. Trường hợp đến thời điểm xác định giá trị tài sản nhà nước mà đơn vị chưa xử lý xong đối với các tài sản này thì đơn vị có trách nhiệm:

– Tiếp tục quản lý, bảo quản tài sản;

– Báo cáo cấp có thẩm quyền quy định quyết định thu hồi, điều chuyển, bán, thanh lý theo quy định và giao nhiệm vụ tổ chức xử lý tài sản cho cơ quan, tổ chức, đơn vị có liên quan;

– Căn cứ quyết định xử lý của cấp có thẩm quyền, đơn vị bàn giao tài sản cho cơ quan, tổ chức, đơn vị được giao tổ chức xử lý, trừ trường hợp nhiệm vụ tổ chức xử lý tài sản được giao cho đơn vị đang quản lý, bảo quản tài sản;

– Cơ quan, tổ chức, đơn vị được giao nhiệm vụ xử lý tài sản có trách nhiệm xử lý tài sản theo quy định của pháp luật.

Bước 3: Xác định giá trị tài sản nhà nước để giao cho đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ tài chính

Toàn bộ tài sản nhà nước giữ lại cho đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ tài chính tiếp tục sử dụng được xác định giá trị để giao cho đơn vị quản lý. Giá trị tài sản nhà nước giao cho đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ tài chính được xác định bằng đồng Việt Nam. Trường hợp tài sản được hạch toán bằng ngoại tệ thì quy đổi thành đồng Việt Nam theo tỷ giá giao dịch trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng do Ngân hàng Nhà nước công bố tại thời điểm xác định giá trị tài sản.

Đối với tài sản là quyền sử dụng đất:Giá trị quyền sử dụng đất được xác định theo giá đất do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quy định tại thời điểm xác định giá trị tài sản. Trường hợp giá đất do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quy định tại thời điểm xác định giá trị tài sản chưa sát với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường trong điều kiện bình thường thì đơn vị phải thuê tổ chức có đủ điều kiện thẩm định giá xác định giá đất, gửi Hội đồng thẩm định giá xem xét, trình Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quyết định để làm cơ sở xác định giá trị quyền sử dụng đất giao cho đơn vị. Thành phần của Hội đồng thẩm định giá gồm:

– Lãnh đạo Sở Tài chính – Chủ tịch Hội đồng;

– Đại diện Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Xây dựng, Sở Quy hoạch – Kiến trúc (nếu có);

– Đại diện cơ quan, tổ chức, đơn vị có tài sản;

– Đại diện cơ quan khác có liên quan.

Trường hợp không thuê được tổ chức có đủ điều kiện thẩm định giá thì Hội đồng xác định giá theo thành phần nêu trên xác định giá đất và trình Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quyết định để làm cơ sở xác định giá trị quyền sử dụng đất giao cho đơn vị.

Đối với các tài sản còn lại không phải quyền sử dụng đất: Thủ trưởng đơn vị quyết định một trong hai hình thức sau để xác định giá trị còn lại của tài sản:

Hình thức thứ nhất: Thuê tổ chức có đủ điều kiện thẩm định giá xác định để làm cơ sở xác định giá trị còn lại của tài sản. ;

Hình thức thứ 2: Thành lập Hội đồng xác định giá với các thành phần sau để xác định giá trị còn lại của tài sản :

– Lãnh đạo cơ quan, tổ chức, đơn vị – Chủ tịch Hội đồng;

– Đại diện cơ quan quản lý cấp trên;

– Đại diện bộ phận được giao trực tiếp sử dụng tài sản;

– Đại diện bộ phận tài chính – kế toán của cơ quan, tổ chức, đơn vị;

– Đại diện cơ quan chuyên môn kỹ thuật (nếu cần);

– Các thành viên khác có liên quan.

Đối với tài sản nhà nước mà đơn vị chưa hạch toán, chưa tính hao mòn cho thời gian sử dụng hoặc tài sản đã tính hao mòn đủ nhưng vẫn còn sử dụng được : Thủ trưởng đơn vị thành lập Hội đồng với thành phần tương tự Hội đồng xác định giá trị tài sản không phải quyền sử dụng đất để xác định giá trị còn lại của tài sản.

Bước 4: Quyết định giao tài sản nhà nước cho đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ tài chính

Căn cứ kết quả xác định giá trị tài sản nhà nước, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan trung ương quyết định hoặc phân cấp thẩm quyền quyết định giao tài sản nhà nước cho đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ tài chính thuộc phạm vi quản lý; Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định giao tài sản nhà nước cho đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ tài chính thuộc phạm vi quản lý. Nội dung chủ yếu của quyết định giao tài sản nhà nước cho đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ tài chính gồm:

– Tên đơn vị được giao tài sản nhà nước;

– Danh mục tài sản nhà nước giao cho đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ tài chính theo Mẫu số 01-DM/ĐVSN, Mẫu số 02-DM/ĐVSN, Mẫu số 03-DM/ĐVSN ban hành kèm theo Thông tư số 09/2012/TT-BTC ngày 19/1/2012.

– Tổng giá trị tài sản nhà nước giao cho đơn vị.

Bước 5: Tổ chức giao tài sản nhà nước cho đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ tài chính

Trong thời hạn 60 ngày, kể từ ngày cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định giao tài sản nhà nước cho đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ tài chính, các Bộ, cơ quan Trung ương chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính tổ chức giao tài sản nhà nước cho đơn vị sự nghiệp công lập thuộc trung ương quản lý; Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức giao tài sản nhà nước cho đơn vị sự nghiệp công lập thuộc địa phương quản lý.

Chủ tịch Hội đồng quản lý (đối với các đơn vị có thành lập Hội đồng quản lý), Thủ trưởng đơn vị (đối với các đơn vị không thành lập Hội đồng quản lý) là người nhận tài sản và chịu trách nhiệm trước Nhà nước trong việc bảo toàn, phát triển vốn, tài sản nhà nước được giao và các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.

Việc giao, nhận tài sản nhà nước cho đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ tài chính phải lập biên bản theo Mẫu số 04-BB/ĐVSN ban hành kèm theo Thông tư số 245/2009/TT-BTC với nội dung chủ yếu cần thể hiện tại biên bản gồm: Bên giao tài sản; Bên nhận tài sản; Danh mục tài sản giao, nhận (chủng loại, số lượng, giá trị); rách nhiệm của bên giao, bên nhận tài sản; Danh mục các hồ sơ tài liệu có liên quan.

Trong thời gian đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ tài chính chưa được cơ quan nhà nước có thẩm quyển quyết định giao tài sản nhà nước, đơn vị tiếp tục thực hiện quản lý, sử dụng tài sản nhà nước theo các quy định của pháp luật áp dụng đối với đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm toàn bộ hoặc một phần kinh phí hoạt động thường xuyên trước thời điểm Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước có hiệu lực thi hành.

15.3. Thực trạng và định hướng hoàn thiện cơ chế xác định giá trị tài sản để giao vốn cho đơn vị sự nghiệp công lập theo cơ chế giao vốn cho doanh nghiệp

15.3.1. Thực trạng tài sản nhà nước tại đơn vị sự nghiệp công lập

Theo Cơ sở dữ liệu quốc gia về tài sản nhà nước (TSNN) hiện đang quản lý 4 loại TSNN có giá trị lớn gồm: đất, nhà, ô tô, tài sản khác có giá trị từ 500 triệu đồng trở lên/01 đơn vị tài sản, tính đến ngày 31/12/2014, tổng nguyên giáTSNN của cả nước là: 999.692,08 tỷ đồng (chưa bao gồm tài sản tại các đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân, doanh nghiệp nhà nước). Trong đó, 59.251 đơn vị sự nghiệp công lập hiện đang quản lý 304.810 tài sản (chiếm 63,82% tổng số lượng TSNN), với tổng nguyên giá là 690.590,36tỷ đồng (chiếm 69,08% tổng giá trị TSNN). Cơ cấu TSNN tại đơn vị sự nghiệp công lập (theo loại tài sản), như sau:

– Tài sản là đất: 75.010 khuôn viên với tổng giá trị là 482.158,71 tỷ đồng (chiếm 69,82%).

– Tài sản là nhà: 196.855 cái với tổng nguyên giá là 165.610,73 tỷ đồng (chiếm 23,98%).

– Tài sản là xe ô tô: 15.651 xe với tổng nguyên giá là 7.752,34 tỷ đồng (chiếm 1,12%).

– Tài sản khác: 17.294 tài sản với tổng nguyên giá là 35.077,57 tỷ đồng (chiếm5,08%).

15.3.2. Đánh giá về cơ chế quản lý, sử dụng TSNN hiện hành

Những văn bản quy phạm pháp luật nêu trên đã thể chế hóa chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước về cơ chế giao vốn cho đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ tài chính và cho phép các đơn vị này được sử dụng TSNN vào mục đích kinh doanh; đảm bảo công khai, minh bạch trong quản lý, sử dụng TSNN, khai thác có hiệu quả nguồn lực sẵn có từ TSNN gắn với việc huy động các nguồn lực xã hội để phát triển dịch vụ sự nghiệp công.

Quá trình triển khai thực hiện đã đạt được những kết quả nhất định, nhiều đơn vị khi được giao vốn đã phát huy tốt tiềm năng, thế mạnh để vừa thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị được giao, vừa nâng cao chất lượng dịch vụ, tăng thu nhập cho người lao động, tăng khả năng tự chủ về mặt tài chính và đóng góp một phần vào ngân sách nhà nước.

Bên cạnh những kết quả bước đầu nêu trên, cơ chế hiện hành và công tác tổ chức thực hiện còn bộc lộ những hạn chế, tồn tại cần khắc phục:

Thứ nhất,một số quy định hiện hành cần phải thay đổi để phù hợp với tình hình mới, đẩy nhanh quá trình thực hiện.

– Một số tiêu chí xác định đơn vị sự nghiệp công lập đủ điều kiện để được Nhà nước xác định giá trị tài sản giao cho đơn vị quản lý theo cơ chế giao vốn cho doanh nghiệp còn chưa hợp lý, dễ tạo tâm lý e ngại cho các đơn vị như: Phải có đề án sử dụng tài sản, phải cam kết Nhà nước không bổ sung kinh phí từ ngân sách nhà nước (trừ trường hợp tăng thêm nhiệm vụ, tăng thêm biên chế)…

– Việc xác định giá trị tài sản để giao vốn, đặc biệt là giá trị quyền sử dụng đất còn phức tạp do phải xác định giá đất cụ thể theo giá trị trường. Việc xác định giá trị theo giá thị trường là cần thiết khi sử dụng tài sản vào mục đích kinh doanh và trong trường hợp giá dịch vụ sự nghiệp công lập được phép tính đủ chi phí và toàn bộ tài sản được trích khấu hao để tạo nguồn tái tạo tài sản mới. Tuy nhiên, trong điều kiện thực tiễn thời gian vừa qua và sắp tới thì việc tính đủ chi phí phải có lộ trình thích hợp (Chính phủ đã quy định lộ trình này tại Nghị định số 16/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015). Vì vậy, ngay khi giao vốn đã phải xác định theo giá thị trường bằng các phương pháp so sánh, chiết trừ, thu nhập, thặng dư không còn cần thiết, tốn kém chi phí, thời gian.

– Thời hạn thực hiện các bước trong quá trình xác định giá trị tài sản và giao tài sản cần được thay đổi để rút ngắn quy trình thực hiện; đồng thời quy định rõ hơn trách nhiệm trong tổ chức thực hiện.

Thứ hai,một số chính sách có liên quan mới được ban hành đòi hỏi cơ chế quản lý, sử dụng TSNN tại đơn vị sự nghiệp công lập phải được điều chỉnh để tạo sự đồng bộ, phát triển dịch vụ sự nghiệp công và nâng cao tính tự chủ cho đơn vị sự nghiệp công lập.

Luật Đất đai năm 2013 điều chỉnh lại chế độ sử dụng đất của đơn vị sự nghiệp công lập. Theo đó, các đơn vị sự nghiệp công lập chưa tự chủ tài chính vẫn tiếp tục áp dụng chế độ giao đất không thu tiền sử dụng đất đối với đất xây dựng công trình sự nghiệp như trước đây. Tuy nhiên, đối với đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ tài chính phải chuyển sang chế độ thuê đất, được hưởng các quyền của tổ chức được Nhà nước cho thuê đất; được miễn, giảm tiền thuê đất đối với đất xây dựng công trình sự nghiệp. Do vậy, phải điều chỉnh lại phạm vi tài sản được xác định giá trị để giao vốn cho đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ tài chính cho phù hợp.

Ngày 14/02/2015, Chính phủ ban hành Nghị định số 16/2015/NĐ-CP quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập (thay thế Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006); theo đó, đơn vị sự nghiệp được phân loại theo 04 nhóm: (i) Đơn vị sự nghiệp công tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư; (ii) Đơn vị sự nghiệp công tự bảo đảm chi thường xuyên; (iii) Đơn vị sự nghiệp công tự đảm bảo một phần chi thường xuyên; (iv) Đơn vị sự nghiệp công do ngân sách nhà nước đảm bảo chi thường xuyên. Tiêu chí để phân loại dựa trên các điều kiện: (i) khả năng đảm bảo kinh phí từ nguồn thu hoạt động dịch vụ sự nghiệp công theo lộ trình giá dịch vụ sự nghiệp công; nguồn phí và nguồn thu khác nếu có; (ii) được Nhà nước đặt hàng cung cấp dịch vụ sự nghiệp công theo giá tính đủ chi phí hay được Nhà nước giao dự toán theo nhiệm vụ. Cách phân loại đơn vị sự nghiệp tại Nghị định số 16/2015/NĐ-CP có sự thay đổi so với Nghị định số 43/2006/NĐ-CP trước đây. Trong khi đó, tiêu chí xác định đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ tài chính và chưa tự chủ tài chính theo Luật Quản lý, sử dụng TSNN (được cụ thể hóa tại Điều 2, Điều 3 Thông tư số 12/2012/TT-BTC ngày 06/02/2012 của Bộ Tài chính) đang dựa trên tiêu chí quy định tại Nghị định số 43/2006/NĐ-CP. Cùng với việc điều chỉnh việc phân loại đơn vị sự nghiệp công, Nghị định số 16/2015/NĐ-CP cũng trao quyền tự chủ mạnh cho các đơn vị, đặc biệt là các đơn vị thuộc nhóm (i), nhóm (ii). Điều này đòi hỏi phải tạo lập cơ chế khuyến khích các đơn vị tăng cường khai thác tiềm năng, thế mạnh của mình (trong đó có TSNN được giao quản lý, sử dụng) để tăng nguồn thu sự nghiệp cũng chính là tăng khả năng tự chủ về tài chính.

Thứ ba, việc xác định giá trị tài sản để giao cho đơn vị sự nghiệp quản lý theo cơ chế giao vốn cho doanh nghiệp là một chủ trương mới; một số đơn vị sự nghiệp công lập còn có tâm lý ngại thay đổi, trông chờ vào sự bao cấp của Nhà nước; một số đơn vị chưa thấy được tác dụng quan trọng của việc sử dụng hiệu quả TSNN giao cho đơn vị nên chưa tích cực triển khai. Trong khi đó, công tác chỉ đạo, hướng dẫn của một số Bộ, cơ quan trung ương và các địa phương chưa quyết liệt, đồng bộ.

Những tồn tại, hạn chế nêu trên đã làm cho kết quả thực hiện việc xác định giá trị tài sản để giao cho đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ tài chính chưa cao. Theo báo cáo chưa đầy đủ của các Bộ, ngành, địa phương, đến nay mới có 579 đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ tài chính được giao vốn theo cơ chế giao vốn cho doanh nghiệp với tổng giá trị tài sản khoảng 19.344.274,36 triệu đồng.

15.4. Định hướng sửa đổi, bổ sung cơ chế hiện hành và tổ chức thực hiện

15.4.1. Về điều kiện đơn vị sự nghiệp công lập được Nhà nước xác định giá trị TSNN để giao cho đơn vị quản lý

+ Mở rộng đối tượng đơn vị sự nghiệp công lập được Nhà nước xác định giá trị TSNN để giao cho đơn vị quản lý theo hướng các đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư, đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm chi thường xuyên, đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm một phần chi thường xuyên đều đủ điều kiện được Nhà nước xác định giá trị tài sản để giao cho đơn vị quản lý. Riêng đối với đơn vị sự nghiệp công lập do Nhà nước bảo đảm chi thường xuyên thì chỉ thực hiện xác định giá trị tài sản để giao cho đơn vị quản lý trong trường hợp tài sản nhà nước được giao có khả năng sử dụng vào mục đích cho thuê, liên doanh, liên kết, đáp ứng các yêu cầu quy định tại Điều 32 Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước và phải được cơ quan quản lý cấp trên chấp thuận trình Bộ, cơ quan trung ương, UBND cấp tỉnh quyết định.

+ Loại bỏ một số điều kiện để tạo điều kiện đẩy nhanh quá trình xác định giá trị tài sản để giao cho đơn vị quản lý gồm:

– Bỏ điều kiện đơn vị phải có đề án sử dụng TSNN được cấp có thẩm quyền phê duyệt do việc giao vốn là việc lâu dài, còn việc sử dụng tài sản cụ thể vào mục đích gì lại được xác định tại một thời điểm cụ thể, khi đó mới cần lập đề án để trình cấp có thẩm quyền phê duyệt.

– Bỏ điều kiện “Nhà nước không tăng thêm kinh phí, trừ các trường hợp nhà nước giao thêm nhiệm vụ hoặc bổ sung một số phần cho tiền lương tăng thêm theo chế độ của Nhà nước” do việc bố trí kinh phí ngân sách nhà nước thực hiện theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước, điều kiện này tạo tâm lý e ngại cho các đơn vị khi thực hiện giao vốn.

15.4.2. Về trình tự, thủ tục xác định giá trị tài sản và giao cho đơn vị sự nghiệp công lập quản lý:

Cần rà soát tổng thể trình tự, thủ tục xác định giá trị tài sản và giao cho đơn vị sự nghiệp công lập quản lý để cắt bỏ những nội dung không cần thiết, quy định cụ thể nội dung, cách thức thực hiện và thời hạn thực hiện từng khâu công việc để đẩy nhanh tiến độ giao tài sản cho đơn vị. Cụ thể như sau:

– Không phải xác định giá trị tài sản để giao vốn cho đơn vị đối với phần diện tích đất Nhà nước cho đơn vị sự nghiệp công lập thuê đất trả tiền thuê đất hàng năm để phù hợp với quy định của Luật Đất đai năm 2013, đồng nghĩa với việc cắt giảm thủ tục, chi phí xác định giá trị quyền sử dụng đất của gần 1.000 đơn vị sự nghiệp công lập thuộc đối tượng phải chuyển sang thuê đất.

– Sử dụng Bảng giá đất và hệ số điều chỉnh giá đất của địa phương để xác định giá trị quyền sử dụng đất giao cho đơn vị (thay cho việc đơn vị phải thuê tư vấn thẩm định giá xác định, gửi Sở Tài chính thẩm định, báo cáo Chủ tịch UBND cấp tỉnh phê duyệt); xác định giá trị tài sản khác đã được theo dõi trên sổ kế toán theo hướng sử dụng giá trị còn lại trên sổ kế toán để xác định giá trị nhằm cải cách hành chính và tạo thuận lợi cho quá trình thực hiện.

(Việc xác định giá trị tài sản nêu trên chỉ là căn cứ để giao vốn cho đơn vị. Khi sử dụng tài sản vào mục đích sản xuất, kinh doanh dịch vụ, cho thuê, liên doanh liên kết thì phải xác định lại theo giá thị trường tại thời điểm thực hiện)

– Quy định cụ thể thời hạn xác định giá trị tài sản, thời hạn báo cáo cơ quan có thẩm quyền quyết định giao tài sản và thời hạn quyết định giao tài sản cho đơn vị để xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan có liên quan và đẩy nhanh tiến độ giao tài sản cho đơn vị. Rút ngắn thời hạn bàn giao tài sản cho đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ tài chính từ 60 ngày xuống còn 15 ngày để đẩy nhanh tiến độ giao tài sản cho đơn vị.

Với những quy định nêu trên, có thể rút ngắn được ít nhất 1/2 thời gian từ khi bắt đầu kiểm kê, xác định giá trị tài sản đến khi hoàn tất việc giao tài sản cho đơn vị sự nghiệp công lập.

15.4.3. Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến các quy định về quản lý, sử dụng TSNN tại đơn vị sự nghiệp công lập sau khi được Chính phủ và Bộ Tài chính ban hành nhằm giúp cho các cơ quan, đơn vị nhận thức đầy đủ lợi ích từ việc xác định giá trị TSNN để giao cho đơn vị quản lý, cũng như trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị và người đứng đầu trong công tác chỉ đạo, tổ chức thực hiện.

Các Bộ, cơ quan trung ương, UBND cấp tỉnh phải tổ chức rà soát lại toàn bộ các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc phạm vi quản lý để xác định đơn vị sự nghiệp công lập đủ điều kiện được Nhà nước xác định giá trị TSNN để giao cho đơn vị quản lý làm căn cứ pháp lý triển khai các công việc tiếp theo. Công việc này dự kiến phải hoàn thành trong thời hạn 3 tháng, kể từ ngày Chính phủ ban hành Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định số 52/2009/NĐ-CP.

Bộ Tài chính cũng sẽ rà soát hệ thống chế tài xử lý các trường hợp vi phạm trong quản lý, sử dụng TSNN tại đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ tài chính; đặc biệt là các trường hợp không thực hiện việc xác định giá trị tài sản để giao cho đơn vị quản lý nhưng vẫn sử dụng TSNN vào mục đích kinh doanh, sử dụng nguồn thu từ TSNN không đúng quy định. Các thông tin liên quan đến việc xác định giá trị tài sản để giao cho đơn vị quản lý, cũng như việc sử dụng TSNN vào mục đích kinh doanh cũng sẽ được cập nhật vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về TSNN để theo dõi, quản lý và công khai theo quy định của pháp luật.

 TÀI LIỆU THAM KHẢO:

  1. Luật số 09/2008/QH12 về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước được Quốc hội khoá XII kỳ họp thứ ba đã thông qua ngày 3/6/2008 và được Chủ tịch nước ký Lệnh công bố số 04/2008/L-CTN ngày 12/6/2008.
  2. Nghị định số 52/2009/NĐ-CP ngày 03/6/2009 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước;
  3. Nghị định số 52/2009/NĐ-CP ngày 03/6/2009 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước;
  4. Thông tư số 245/2009/TT-BTC ngày 31/12/2009 của Bộ Tài chính Quy định thực hiện một số nội dung của Nghị định số 52/2009/NĐ-CP ngày 03/6/2009 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước;
  5. Thông tư số 09/2012/TT-BTC ngày 19/01/2012 của Bộ Tài chính về việc sửa đổi, bổ sung Thông tư số 245/2009/TT-BTC ngày 31/12/2009 của Bộ Tài chính quy định thực hiện một số nội dung của Nghị định số 52/2009/NĐ-CP ngày 03/6/2009 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước.
  6. Thông tư số 12/2012/TT-BTC ngày 06/02/2012 của Bộ Tài chính hướng dẫn tiêu chí xác định đơn vị sự nghiệp công lập đủ điều kiện được Nhà nước xác định giá trị tài sản để giao cho đơn vị quản lý theo cơ chế giao vốn cho doanh nghiệp.


 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *