HOẠT ĐỘNG TẠM QUẢN HÀNG HÓA THEO TINH THẦN CÔNG ƯỚC ATA VÀ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG CỦA HẢI QUAN VN

HOẠT ĐỘNG TẠM QUẢN HÀNG HÓA THEO TINH THẦN CÔNG ƯỚC ATA VÀ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG CỦA HẢI QUAN VN

Chuyên đề 10: HOẠT ĐỘNG TẠM QUẢN HÀNG HÓA THEO TINH THẦN CÔNG ƯỚC ATA VÀ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG CỦA HẢI QUAN VN

 CN. Nguyễn Phương Liên,

Phó Trưởng phòng NCKH – Viện Nghiên cứu Hải quan

 Trong xu thế hội nhập kinh tế và văn hóa hiện nay, một trong những thủ tục hải quan được các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân quan tâm nhiều khi thực hiện công tác xúc tiến thương mại và tổ chức sự kiện ở các quốc gia họ dự kiến đầu tư, giao dịch thương mại và giao lưu văn hóa là thủ tục tạm nhập tái xuất của Hải quan đối với các hàng mẫu, hàng trưng bày tại hội chợ, triển lãm và thiết bị nghề nghiệp. Hiện nay, Hải quan các nước tiên tiến đã áp dụng thủ tục tạm quản cho các nhóm hàng nói trên thông qua việc chủ hàng sử dụng Sổ Tạm quản (Sổ ATA) đi kèm một chế độ bảo đảm cho những mặt hàng này. Đây là một thủ tục hải quan thông thoáng, tạo thuận lợi tối đa cho chủ hàng mà vẫn đảm bảo tốt công tác kiểm soát hải quan. Tuy nhiên, tạm quản lại là một nội dung nghiệp vụ còn khá mới và chưa được triển khai áp dụng trong hoạt độngthực tiễn của Hải quan Việt Nam. Vì vậy, việc thực hiện Chuyên đề “Công ước quốc tế về tạm quản hàng hóa (Công ước ATA) và khả năng tham gia của Việt Nam” sẽ góp phần cung cấp những kiến thức tương đối toàn diện về vấn đề tạm quản theo Sổ ATA và tạo cơ sở lý luận cho cán bộ công chức hải quan nắm bắt thực hiện khi Việt Nam gia nhập Công ước ATA.

10.1. Nghiên cứu các vấn đề liên quan đến Sổ ATA và cơ chế bảo lãnh đối với hàng hóa tạm quản theo Công ước ATA.

Mục lục

10.1.1. Công ước ATA và các vấn đề liên quan đến Sổ ATA

10.1.1.1. Công ước ATA

Công ước quốc tế về tạm quản hàng hóa (Công ước ATA) là Công ước được Hội đồng hợp tác Hải quan, nay gọi là Tổ chức Hải quan thế giới xây dựng và thông qua năm 1961, có hiệu lực năm 1963 với con số thành viên tham gia hiện nay là 63 nước. Công ước quy định cơ chế vận hành hệ thống Sổ ATA, là công cụ đắc lực và phổ biến để xúc tiến thương mại giữa các quốc gia trong giao thương quốc tế.

Công ước đã đưa ra việc áp dụng mô hình bộ chứng từ hải quan quốc tế (Sổ ATA) được công nhận thay thế hồ sơ hải quan quốc gia, áp dụng đối hàng hóa di chuyển theo chế độ tạm quản, tức là hàng hóa được phép tạm nhập hoặc tạm xuất miễn thuế vào/ ra khỏi một quốc gia trong một khoảng thời gian nhất định với điều kiện chủ hàng phải đảm bảo tái xuất hoặc tái nhập nguyên trạng sau một khoảng thời gian nhất định. Trong thời gian tạm quản, hàng hóa chỉ được sử dụng theo đúng mục đích đăng ký và có chế độ bảo lãnh đi kèm.

Công ước ATA gồm 28 điều bao gồm các nguyên tắc cơ bản của Công ước, các điều khoản thiết yếu để Công ước được áp dụng nhất quán; các điều khoản về phạm vi, cấu trúc, cơ chế quản lý, gia nhập và sửa đổi Công ước, …

Cấu trúc Công ước gồm:

– Lời tựa

– Chương I: Định nghĩa và sự chấp thuận

– Chương II: Phạm vi

– Chương III: Cấp phát và sử dụng Sổ ATA

– Chương IV: Đảm bảo

– Chương V: Hợp thức hóa Số ATA

– Chương VI: Những điều khoản khác

– Chương VII: Những quy định cuối cùng

10.1.1.2. Sổ ATA và cách sử dụng Sổ ATA

Nghiên cứu Công ước ATA, có thể thấy gần như toàn bộ nội dung Công ước là đề cập đến Sổ ATA. Nói cách khác, nghiên cứu, tiếp cận Công ước ATA đồng nghĩa với việc nghiên cứu, tiếp cận Sổ ATA và các vấn đề liên quan đến cơ chế bảo lãnh theo Sổ. Tuy nhiên, theo quy định của Công ước, chỉ có 03 nhóm hàng được phép tạm nhập tái xuất theo Sổ, đó là hàng tham dự hội chợ, triển lãm; hàng mẫu thương mại và thiết bị nghề nghiệp chuyên dụng.

Có thể nói, Sổ ATA là công cụ marketing giúp xúc tiến thương mạihàng hoá rất đắc lực cũng như giúp một số đối tượng cụ thể thực hiện nhiệm vụ chuyên môn tại nước ngoài như các kỹ thuật viên, nhà sản xuất phim, bác sĩ phẫu thuật, kiến trúc sư, nghệ sĩ, kỹ sư, cán bộ giáo dục, người hoạt động trong lĩnh vực giải trí…

Các thuật ngữ được sử dụng trong Sổ ATA và Công ước tạm quản được hiểu như sau:

“Tạm quản” là chế độ hải quan mà theo đó một số hàng hoá (bao gồm cả các phương tiện vận tải) được nhập vào lãnh thổ hải quan mà không phải đóng thuế nhập khẩu và các loại thuế khác và không bị áp dụng các hạn chế hay cấm nhập khẩu đối với các loại hàng mang tính chất kinh tế kể cả các phương tiện vận tải được nhập với mục đích rõ ràng và sẽ tái xuất trong thời hạn xác định mà không bị làm thay đổi, cải biến trừ trường hợp giảm giá trị thông thường do quá trình sử dụng;

“Thuế nhập khẩu và các loại thuế khác” là thuế hải quan và tất cả các loại thuế khác, lệ phí liên quan tới nhập khẩu hàng hoá (bao gồm cả các phương tiện vận tải), ngoại trừ các phí có trị giá xấp xỉ giá một số dịch vụ cụ thể do Cơ quan Hải quan cung cấp;

“Bảo đảm” là cam kết thực hiện một nghĩa vụ nào đó với cơ quan hải quan. Bảo đảm được mô tả “ tổng thể” nghĩa là thực hiện những nghĩa vụ phát sinh từ nhiều hoạt động;

“Chứng từ tạm quản” là chứng từ hải quan quốc tế để khai báo hải quan tạo điều kiện cho việc nhận diện hàng hoá (bao gồm cả các phương tiện vận tải) và là bảo đảm có giá trị quốc tế đối với các nghĩa vụ về thuế nhập khẩu và các loại thuế khác.

Về mặt thuật ngữ, Sổ ATA (ATA Carnet) là sự kết hợp viết tắt của chữ cái tiếng Anh và tiếng Pháp “chấp nhận Tạm thời” (Admission Temporaire/ Temporary Admission). Sổ có thể coi như một cuốn hộ chiếu của hàng hóa khi di chuyển qua nhiều nước, tạm nhập tái xuất qua nhiều nước mà không cần thực hiện các thủ tục hành chính, nhiều giấy tờ và mất thời giờ.

Về mặt nghiệp vụ hải quan, Sổ ATA là một chứng từ hải quan quốc tế tạm thời được cơ quan Hải quan nước thành viên Công ước ATA chấp nhận thay cho chứng từ hải quan quốc gia khi có hàng hóa tạm nhập. Hoạt động tạm nhập tái xuất được bảo đảm thông qua việc thiết lập một chuỗi bảo lãnh quốc tế do các tổ chức bảo lãnh và cấp phát Sổ ATA được các cơ quan hải quan chỉ định vận hành. Đứng trên các tổ chức này là Hội đồng quốc tế các Phòng Thương mại có vai trò như tổ chức quản lý và điều hòa hoạt động của chuỗi bảo lãnh nhằm đảm bảo thanh toán các khoản thuế hải quan/ thuế khác trong trường hợp hàng hoá vi phạm các điều kiện về tạm quản mà cơ quan Hải quan quốc gia đã quy định.

 Sổ ATA được thống nhất cho tất cả các nước tham gia Công ước cả về hình thức, nội dung và ngôn ngữ sử dụng. Mẫu Sổ cho việc tạm nhập tái xuất 01 nước và quá cảnh 01 nước là một hệ thống chứng từ gồm các liên sau:

Trang bìa đầu màu xanh lá cây

Trang bìa bao gồm các thông tin như tên và địa chỉ người chủ sở hữu Sổ, tên người đại diện mang Sổ, tên hiệp hội/ tổ chức cấp phát Sổ, mã số Sổ, hạn sử dụng, mục đích sử dụng, những quốc gia mà hàng hoá sẽ được tạm nhập/ quá cảnh, ngày cấp, con dấu, chữ ký của tổ chức được phép cấp Sổ, chữ ký của người có thẩm quyền sử dụng Sổ. Mã số Sổ cũng được in trên mỗi cuống chứng từ. Trang bìa trước quy định những loại hàng hoá và những quốc gia cho phép lưu hành Sổ ATA.

03 tờ chứng từ màu vàng dành cho hoạt động tạm xuất, tái nhập, trong đó 01 tờ xác nhận 02 nội dung tạm xuất – tái nhập được lưu trong Sổ, 01 tờ dành cho xác nhận tạm xuất được tách ra khỏi Sổ để Hải quan lưu giữ và 01 tờ dành cho xác nhận tái nhập được tách khỏi Sổ để Hải quan lưu giữ. Các tờ khác màu sau cũng được sắp xếp với mục đích tương tự.

03 tờ chứng từ màu xanh lơ dùng cho hoạt động quá cảnh

03 tờ chứng từ màu trắng dùng cho hoạt động tạm nhập, tái xuất

Điểm chung của các phiếu chứng từ màu vàng, xanh lơ và trắng là mô tả chi tiết các hàng hóa thuộc diện điều chỉnh của Sổ, thời hạn lưu giữ hàng hóa và dự kiến hình thức xử lý trường hợp hàng hóa không tái xuất

Trang bìa cuối màu xanh lá cây:

Trang bìa màu xanh này là trang cuối của Sổ ATA. Người giữ Sổ phải đọc những ghi chú về sử dụng Sổ ATA in trên trang bìa. Sổ sẽ không có giá trị nếu thiếu tờ bìa cuối.

Điểm lưu ý là (a) các cuống chứng từ trong Sổ và phiếu chứng từ phải được điền đầy đủ, chính xác, đúng quy định, được kiểm tra, xác nhận, ghi ngày tháng năm, ký tên, đóng dấu của cơ quan Hải quan. Người đại diện không được điền vào Sổ trong bất kỳ hoàn cảnh nào. Những cuống chứng từ phải được người giữ Sổ lưu giữ giữa các trang bìa màu xanh lá cây; (b) Các phiếu chứng từ được tách ra và do cơ quan Hải quan lưu giữ. Sổ ATA phải được nộp lại đầy đủ cho Tổ chức cấp phát ngay sau khi hoàn tất việc sử dụng; (c) Không được sử dụng Sổ ATA cho riêng hoạt động quá cảnh vì hệ thống Sổ ATA được thiết lập phục vụ cho việc tạm nhập.

Sổ ATA có thể có nhiều cuống, nhiều liên, nhiều phiếu hơn số liên của Sổ mẫu là tùy thuộc vào số lượng quốc gia hàng hóa sẽ tạm nhập hay quá cảnh.

Về việc sử dụng Sổ ATA, Sổ được sử dụng như một chứng từ hải quan quốc gia, thay thế tờ khai hải quan và các chứng từ đi kèm trong bộ hồ sơ hải quan. Theo đường đi của hàng hóa, đầu tiên, hàng hóa tạm xuất khỏi quốc gia ban đầu, Hải quan nước tạm xuất sẽ kiểm tra, đối chiếu hàng hóa và những khai báo trong Sổ ATA, trong đó đặc biệt lưu ý danh mục hàng hóa, chủng loại, số lượng, trị giá và xuất xứ hàng hóa. Hải quan cũng kiểm tra tình trạng nguyên vẹn của hàng hóa, sau đó sẽ xác nhận vào Sổ ATA trên liên dành cho hải quan nước tạm xuất và giữ lại liên có ghi chú do Hải quan lưu giữ. Tiếp đó Hải quan nước tạm xuất trả Sổ để người giữ Sổ cũng hàng hóa bắt đầu hành trình quá cảnh rồi tạm nhập hoặc tạm nhập trực tiếp vào nước khác. Tại nước hàng quá cảnh hoặc tạm nhập, Hải quan các nước này cũng thực hiện các thao tác kiểm tra, xác nhận như Hải quan nước tạm xuất đã thực hiện. Số lần quá cảnh và tạm nhập vào một hay nhiều quốc gia thuộc chuỗi bảo lãnh ATA sẽ do người giữ Sổ quyết định khi xin cấp Sổ ban đầu. Sau thời gian lưu trú theo quy định, hàng hóa sẽ được tái xuất. Hải quan nước hàng tạm nhập trước đó sẽ kiểm tra hàng hóa và xác nhận vào Sổ để hàng tái xuất. Điều quan trọng là Hải quan nước hàng tạm nhập tái xuất sẽ kiểm tra tính nguyên trạng của hàng hóa. Nếu phát hiện hàng hóa vi phạm chế độ tạm quản, Hải quan sẽ áp dụng các biện pháp xử lý liên quan đến thu thuế và có thể áp dụng các khoản phạt. Kết thúc hành trình di chuyển, hàng hóa sẽ tái nhập nước ban đầu tạm xuất. Cơ quan Hải quan nước hàng tạm xuất tái nhập hoàn tất thủ tục xác nhận Sổ để hàng hóa tái nhập, chốt Sổ.

10.1.1.3. Lợi ích của việc sử dụng Sổ ATA

Tham gia Công ước ATA, các bên có liên quan như Hải quan, tổ chức bảo lãnh và cấp phát Sổ ATA và cộng đồng doanh nghiệp đều được hưởng lợi từ hệ thống Sổ ATA. Hệ thống Sổ ATA là hệ thống các Sổ ATA được cấp phát và sử dụng tại các nước thành viên Công ước ATA cùng các nguyên tắc, quy định quản lý và vận hành Sổ.

*Với Hải quan, lợi ích tham gia là:

i) Giảm bớt được yêu cầu giấy tờ:Sổ ATA được xem là một bộ chứng từ đầy đủ cho hàng hóa làm thủ tục tạm xuất tái nhập, quá cảnh hay tạm nhập tái xuất. Vì vậy, Hải quan sẽ không yêu cầu tờ khai hải quan hoặc các chứng từ khác tại điểm nhập và điểm xuất. Việc này giúp giảm tải giấy tờ cho cả nhân viên hải quan và người sử dụng Sổ.

ii) Giảm bớt khối lượng công việc: Cán bộ hải quan không còn phải giải quyết những trường hợp phát sinh liên quan đến thủ tục bảo lãnh cho hàng hóa tại thời điểm người giữ Sổ thực hiện thủ tục tạm nhập hoặc quá cảnh hàng hóa.

iii) Nâng cao năng suất: Với việc giảm thiểu được các yêu cầu giấy tờ trong khi nâng cao được độ đảm bảo cho các lô hàngtạm quản, việc sử dụng Sổ ATA giúp cải thiện năng suất công việc một cách rõ rệt.

iv) Giảm thời gian và tiền bạc: Nhờ việc giảm bớt các giấy tờ, chứng từ khi làm thủ tục hải quan cho hàng tạm quản, thời gian và chi phí hành chính để theo dõi việc tạm nhập/ tạm xuất cũng giảm theo.

v) Nâng cao hiệu quả quản lý thuế đối với những lô hàng tạm quản. Hệ thống Sổ ATA đảm bảo thanh toán các khoản thuế hải quan và kể cả các khoản phạt khi người giữ Sổ không thực hiện tái nhập/ tái xuất theo đúng quy định của Sổ và của luật pháp nước sở tại.

*Với người sử dụng Sổ ATA, người sử dụng Sổ ATA sẽ được hưởng những quyền lợi như:

i) Hưởng lợi từ việc cắt giảm giấy tờ và sự đơn giản hóa thủ tục hành chính: Với Sổ ATA, người sử dụng Sổ không phải hoàn thành các tờ khai và các loại chứng từ hải quan tại điểm nhập và điểm xuất. Thay vào đó, người sử dụng Sổ chỉ cần xuất trình Sổ và hàng hóa để cơ quan Hải quan kiểm tra, đối chiếu và thông quan.

ii) Tiết kiệm thời gian và tiền bạc: nhờ việc đơn giản hóa thủ tục hải quan bằng Sổ ATA, người sử dụng Sổ có thể tiết kiệm thời gian và tiền bạc khi làm thủ tục cho các lô hàng tạm quản.

iii) Giảm rủi ro cho người giữ Sổ khi phải giới thiệu sản phẩm với khách hàng tiềm năng tại nhiều quốc gia khác nhau mà không cần phải mang theo nhiều ngoại hối để đặt cọc.

iv) Thụ hưởng sự tiện lợi nhờ hệ thống Sổ ATA tạo thuận lợi cho các thương nhân khi sử dụng một quyển sổ nhưng có thể đi lại nhiều nước thành viên trong Hệ thống Sổ ATA.

*Với Tổ chức bảo lãnh và cấp phát Sổ ATA, hệ thống Sổ ATA giúp Tổ chức bảo lãnh và phát hành Sổ ATA:

i) Mở rộng phạm vi hoạt động dịch vụ đến những cộng đồng doanh nghiệp

ii) Hiện thực hóa lợi ích của các Hội viên thông qua ICC/WCF

iii) Thông qua hệ thống Sổ ATA, Tổ chức bảo lãnh và cấp phát Sổ ATA thể hiện tốt hơn vị thế khi giúp các doanh nghiệp đối phó với môi trường kinh doanh đầy biến động và giúp tăng cường khả năng cạnh tranh quốc tế của doanh nghiệp.

10.1.1.4. Tổ chức bảo lãnh và cấp phát Sổ ATA

Trước hết, cơ quan cấp phát Sổ ATA phải là một tổ chức được Chính phủ chỉ định. Để có đủ điều kiện tham gia hệ thống Sổ ATA, tổ chức này thường là Phòng Thương mại quốc gia, có tham gia ICC/WCF.

Theo quy định tại các Điều 1 và6 của Công ước ATA thì cần phân biệt giữ Tổ chức “ Cấp phát” (được Hải quan chấp thuận để cấp phát Sổ ATA) và Tổ chức “ Bảo lãnh” (được Hải quan chấp thuận để đảm bảo thanh toán các khoản thuế hải quan/ các loại thuế khác…).

Trên thực tế, để đảm bảo việc kiểm soát tốt hơn, Hải quan thường chỉ định một Tổ chức quốc gia đóng vai trò vừa cấp phát vừa bảo lãnh. Nguyên tắc cơ bản của việc chỉ định là sẽ chỉ có một Tổ chức bảo lãnh quốc gia bởi vì chỉ có một thành viên quốc gia tham gia vào Chuỗi bảo lãnh do WCF quản lý.

Cũng tương tự quy định về tổ chức cấp phát, tổ chức bảo lãnh quốc gia phải được cơ quan Hải quan chỉ định; phải hoàn thành tất cả các thủ tục liên quan đếnviệc trở thành thành viên của Chuỗi bảo lãnh quốc tế, kể cả việc ký Nghị định thư Phòng Thương mại quốc tế và tuyên bố tham gia hệ thống Sổ ATA: Khẳng định việc chấp nhận các nghĩa vụ về hành chính / tài chính; nộp một khoản bảo lãnh với WCF: gia nhập Chuỗi bảo lãnh quốc tế do ICC-WCF/WATAC quản lý; được Hội đồng điều hành của ICC/WCF chỉ định sau khi có thư giới thiệu của Hội đồng Sổ ATA Thế giới (WATAC).

Dưới sự đồng ý của Hải quan, cơ quan bảo lãnh và cấp phát Sổ ATA quốc gia có thể uỷ quyền và bảo đảm cho những tổ chức quốc gia khác cấp phát Sổ.

* Một số điều kiện cần phải được tính đến, bao gồm:

i) Trang bìa trước màu xanh lá cây sẽ ghi tên của Tổ chức cấp phát dưới sự bảo đảm của Tổ chức bảo lãnh quốc gia (có ghi tên tổ chức này)

ii) Một số hướng dẫn cho các vấn đề như các quy định về chức năng hoạt động của Hệ thống tạm quản; thủ tục cấp phát; hệ thống đánh số Sổ; tập hợp các số liệu thống kê về Sổ được cấp phát; các tranh chấp đã được đệ trình lên WCF giải quyết; phí cấp Sổ; các thủ tục hợp thức hoá Sổ; thời gian giữ các chứng từ Sổ tạm quản; các điều kiện sử dụng Sổ; nghĩa vụ người cầm Sổ…

* Tuy nhiên, tổ chức bảo lãnh và cấp phát Sổ ATA quốc gia chỉ thực sự thực hiện chức năng khi tham giam vào hệ thống Sổ ATA với một số điều kiện bắt buộc như:

i) Quốc gia phải là thành viên của Công ước ATA và Công ước này có hiệu lực sau 03 tháng kể từ quốc gia ký kết, gửi văn kiện phê chuẩn hoặc tuyên bố gia nhập Công ước (Điều 21 – Công ước ATA)

ii) Chính phủ nước tham gia Công ước đã chỉ định tổ chức bảo lãnh và cấp phát sổ ATA quốc gia. Tổ chức này cũng đồng thời là thành viên của ICC.

iii) Chính phủ cần thông báo phạm vi áp dụng chế độ tạm quản tới Tổng thư ký WCF theo mẫu của ICC.

Ngày có hiệu lực thực hiện Thông báo chỉ được xác định khi WCF tiếp nhận Thông báo và thống nhất ngày có hiệu lực thực hiện.

WCF cần ít nhất 6 tuần để thông báo việc thực hiện Hệ thống Sổ ATA cho WCO và các Tổ chức bảo lãnh và cấp phát khác trong Hệ thống.

Tổ chức bảo lãnh và cấp phát Sổ sẽ in mẫu Sổ theo mẫu đã được quy định tại Phần II Công ước ATA hoặc Phụ lục A Công ước Istanbul.

Ngoài ra, cơ quan cấp phát Sổ ATA còn có những quyền sau:

– Quyền kiểm tra hàng hoá, xác minh trị giá/ xuất xứ hàng hoá…

– Quyền từ chối cấp Sổ ATA mà không cần đưa ra bất cứ lý do nào.

– Quyền yêu cầu các chứng từ có liên quan để xác minh việc khai báo.

– Quyền đánh dấu nhận diện lên tất cả các hàng hoá.

10.1.1.5. Trách nhiệm người giữ Sổ ATA

Tất cả những người dùng Sổ ATA phải ký thực hiện các kết như sau:

– Tuân thủ các điều kiện sử dụng Sổ ATA

– Tái xuất/ tái nhập hàng hóa trong thời hạn cơ quan Hải quan quy định

– Chuyển trả Sổ ATA cho Tổ chức bảo lãnh và cấp phát Sổ ngay sau khi sử dụng

– Đảm bảo tất cả các cuống chứng từ của Sổ được điền đúng, hợp lý, có xác nhận, ký, đề ngày tháng và đóng dấu

– Cung cấp cho Tổ chức bảo lãnh và cấp phát Sổ ATA một khoản bảo đảm phù hợp và an toàn

– Thông báo cho Tổ chức bảo lãnh và cấp phát Sổ ATA về bất cứ khó khăn nào phát sinh.

– Chuyển trả Tổ chức bảo lãnh và cấp phát Sổ ATA tất cả các khoản tiền đã thanh toán cho tất cả các chi phí phát sinh do không tuân thủ các điều kiện về tạm xuất – tạm nhập.

– Tuân thủ các quy định pháp luật của nước xuất phát và các nước tạm nhập/ quá cảnh.

– Chịu trách nhiệm hoàn toàn trong việc giải quyết các vụ tranh chấp, khiếu kiện liên quan đến chế độ tạm quản.

Trong khi trách nhiệm của Tổ chức bảo lãnh và cấp phát sổ ATA được giới hạn không quá tổng số thuế nhập khẩu và các thuếkhác là 10% thì trách nhiệm của người giữ Sổ ATA là không giới hạn.

Theo đó, đối với trường hợp người giữ Sổ lạm dụng, gian lận, khai báo sai Sổ ATA thì Hải quan có quyền truy thu thuế xuất – nhập khẩu, các loại thuế khác và áp dụng các khoản phạt; thậm chí, có thể đề nghị truy tố trước pháp luật vì những vi phạm các quy định về tạm quản.

10.1.1.6. Những hàng hóa thuộc diện điều chỉnh của Sổ ATA

Theo Điều 3 – Công ước ATA, có 03 nhóm hàng thuộc diện điều chỉnh của Sổ ATA. Đó là:

i) Thiết bị chuyên ngành;

ii) Hàng hóa trưng bày/ sử dụng tại triển lãm, hội chợ, hội nghị hoặc các sự kiện tương tự; và

iii) Các hàng mẫu thương mại phục vụ mục đích xúc tiến thương mại.

Thiết bị chuyên ngành

Thuật ngữ “thiết bị nghề nghiệp” được hiểu là:

Trang thiết bị cho báo chí phát thanh hoặc truyền hình, cần thiết cho đại diện của các tổ chức báo chí hoặc truyền thanh hoặc truyền hình thăm quan lãnh thổ nước khác với mục đích làm báo cáo hoặc nhằm thu, phát tư liệu cho các chương trình nhất định.

Trang thiết bị cho báo chí như:

Máy tính cá nhân;

Máy fax;

Máy đánh chữ;

Các loại camera (phim và điện tử);

Thiết bị ghi, thu phát tiếng và hình (máy ghi băng và hình, micro, loa, mic, bộ trộn);

Các băng ghi âm hoặc hình (còn để trống hay đã ghi rồi);

Dụng cụ và các thiết bị đo, kiểm tra (hệ thống kiểm tra máy băng ghi hình và tiếng, hòm dụng cụ, xà cột, máy phát tín hiệu video, dao động kể cả máy đo nhiều chức năng);

Thiết bị đèn chiếu sáng (đèn chiếu, máy đổi điện, giá 3 chân);

– Các phụ kiện hoạt động (cassette, la bàn, thấu kính, giá 3 chân, ắc quy, máy đo ánh sáng, cu roa truyền lực, bộ sạc điện, màn hình)

Trang thiết bị truyền thanh như:

Thiết bị viễn thông như máy thu phát hoặc máy phát thanh, đầu cuối nối với hệ thống hoặc nối với đầu cáp, các vệ tinh liên lạc;

Trang thiết bị sản xuất âm tần (thiết bị thu âm, ghi âm và sao lại âm);

Các thiết bị, dụng cụ để đo và kiểm tra kỹ thuật (máy đo dao động, hệ thống kiểm tra máy ghi âm, ghi hình, máy đo đa năng, hòm dụng cụ và xà cột, máy đo véc tơ, máy phát tín hiệu video);

– Các phụ kiện hoạt động như (đồng hồ, đồng hồ bấm giờ, la bàn, tai nghe, bộ trộn, băng ghi tiếng, máy phát điện, biến áp, ắc quy và bộ sạc điện, lò sưởi, máy điều hoà và máy thông gió…)

– Máy ghi âm (còn để trắng hay đã ghi).

Trang thiết bị truyền hình như:

Máy quay camera;

Máy truyền hình ảnh;

Thiết bị và dụng cụ kiểm tra và đo;

Thiết bị phát và phát lại;

Thiết bị truyền thông;

Thiết bị ghi âm thanh hoặc hình ảnh hoặc sao lại (máy ghi âm, ghi hình, phát hình, micro, bộ trộn , loa,…);

Thiết bị chiếu sáng (đèn chiếu, máy đổi điện, giá 3 chân,…);

Thiết bị dựng hình;

Các phụ kiện hoạt động khác (đồng hồ, đồng hồ bấm giờ, la bàn, tai nghe, bộ trộn, bộ phát điện, ắc quy và bộ sạc, lò sưởi, máy điều hoà và máy thông gió, biến áp, máy đo ánh sáng);

Băng ghi hình ghi tiếng (còn để trắng hay đã ghi hình), đoạn đề giới thiệu, tín hiệu gọi trạm, chèn nhạc, …);

Cảnh quay ban sơ (chưa dựng);

Các dụng cụ âm nhạc, y phục, phong cảnh, và các tài sản khác thuộc sân khấu, cảnh trí, bục đứng, vật liệu trang điểm, máy nhuộm tóc.

Phương tiện vận tải được thiết kế hoặc chuyên dùng cho các mục đích nêu trên, chẳng hạn:

Xe truyền hình;

Xe chở phụ tùng tivi;

Xe ghi tín hiệu video;

Xe ghi và phát tiếng;

Xe chuyển động chậm;

Xe ánh sáng.

Trang thiết bị quay phim cần thiết cho một người thăm quan lãnh thổ nước khác nhằm tạo ra một hay nhiều phim nhất định.

Bất kỳ trang thiết bị cần thiết khác cho việc thực hành nghề nghiệp, trong thương mại hoặc chuyên môn của người thăm quan lãnh thổ nước khác để thực hiện một công việc nhất định. Điều này không bao gồm các trang thiết bị sử dụng trong sản xuất công nghiệp hoặc đóng gói hàng hoá (trừ công cụ bằng tay) cho việc khai thác các nguồn tự nhiên, cho xây dựng sửa chữa hoặc bảo quản các công trình xây dựng hoặc để vận chuyển đất và các công trình tương tự.

Trang thiết bị dùng cho xây lắp, kiểm tra, thử, hiệu chỉnh, bảo quản hoặc sửa chữa máy, phương tiện vận tải … như:

Các dụng cụ

Thiết bị đo, kiểm tra hoặc thử nghiệm (áp suất, nhiệt độ, độ xa, độ cao, tốc độ, bề mặt,…) kể cả dụng cụ điện(vôn kế, nhiệt kế, cáp đo, máy so sánh, biến thế, máy ghi,…) và khuôn dẫn;

Trang thiết bị dùng để chụp ảnh máy móc, nhà xưởng trong và sau khi lắp;

Thiết bị để kiểm tra kỹ thuật tàu.

Thiết bị cần thiết cho các doanh nhân, nhà chuyên môn hoạt động thương mại có hiệu quả, chuyên gia sản xuất, kế toán và các thành viên chuyên môn tương tự như:

Máy tính cá nhân;

Máy đánh chữ;

Thiết bị truyền thanh và hình, ghi và sao chép;

Dụng cụ và thiết bị tính toán.

Thiết bị cần cho các chuyên gia tiến hành điều tra khảo sát địa đồ hoặc công việc thăm dò địa vật lý như:

Dụng cụ và thiết bị đo;

Thiết bị khoan;

Thiết bị truyền và thông tin;

Trang thiết bị cần thiết cho các chuyên gia chống ô nhiễm;

Dụng cụ, thiết bị cần thiết cho bác sĩ, phẫu thuật, phẫu thuật thú y, đỡ đẻ và các thành viên chuyên môn tương tự;

Thiết bị cần thiết cho các nhà khảo cổ, cổ sinh vật học, địa lý, động vật học và các nhà khoa học khác;

Thiết bị dùng cho các nghệ sĩ biểu diễn chung hoặc riêng (dụng cụ âm nhạc, trang phục, cảnh trang trí);

Trang thiết bị cần thiết cho giảng viên để minh hoạ bài giảng;

Trang thiết bị cần thiết cho các chuyến đi chụp hình (camera đủ loại, cát xét, máy đo ánh sáng, thấu kính, giá 3 chân, ắc quy, dây chuyền, monitor, dụng cụ chiếu sáng, các dụng cụ mốt và phụ tùng cho ma nơ canh);

Các xe chuyên chở được thiết kế hoặc được lắp ráp đặc biệt như với mục đích rõ ở trên, như xe kiểm tra lưu động, xe sửa chữa, xe phòng thí nghiệm.

Để đạt được các tiện lợi áp dụng trong phụ lục này, các trang thiết bị nghề nghiệp sẽ:

Được sở hữu bởi người lập nghiệp hoặc cư trú bên ngoài lãnh thổ tạm quản;

Được nhập khẩu bởi người lập nghiệp hoặc cư trú bên ngoài lãnh thổ tạm quản;

– Được sử dụng duy nhất bởi người thăm lãnh thổ tạm quản hoặc dưới sự giám sát của chính người đó. Tuy nhiên, đieuf này sẽ không áp dụng trong trường hợp trang thiết bị nhập khẩu để sản xuất một phim, chương trình truyền hình hoặc một tác phẩm nghe nhìn, dưới một hợp đồng cùng sản xuất với người lập nghiệp tại lãnh thổ tạm quản là một thành viên và việc này được chấp thuận bởi nhà chức trách có thẩm quyền của lãnh thổ đó theo hiệp định liên chính phủ liên quan đến sản xuất chung.

Trang thiết bị điện ảnh và trang thiết bị dùng cho báo chí hoặc phát thanh, truyền hình sẽ không là đối tượng của hợp đồng cho thuê hoặc sự dàn xếp tương tự trong đó người lập nghiệp trong lãnh thổ tạm quản là một bên, miễn là: Điều kiện này sẽ không áp dụng trong trường hợp thực hiện các chương trình phát thanh hay truyền hình liên kết.

Hàng hóa trưng bày/ sử dụng tại triển lãm, hội chợ, hội nghị hoặc các sự kiện tương tự

Thuật ngữ “sự kiện” có nghĩa là:

Triển lãm, hội chợ, hoặc các cuộc trưng bày tương tự về thưong mại, công nghiệp, nông nghiệp hoặc thủ công;

Triển lãm hoặc hội nghị mà được tổ chức chủ yếu cho mục đích từ thiện;

Triển lãm hoặc hội nghị được tổ chức chủ yếu để đẩy mạnh các hoạt động về học tập, mỹ thuật, thủ công, thể thao, khoa học, giáo dục hoặc văn hoá, nâng cao sự hiểu biết về tôn giáo hoặc tín ngưỡng, đẩy mạnh du lịch hoặc hữu nghị giữa các dân tộc;

– Hội nghị bao gồm đại diện của một tổ chức quốc tế hoặc nhóm tổ chức quốc tế; hoặc

– Các cuộc họp chính thức hoặc các buổi tưởng niệm ngoại trừ các buổi triển lãm được tổ chức cho mục đích cá nhân trong các cửa hàng hoặc trung tâm thương mại để bán hàng nước ngoài.

Hàng hoá sau đây sẽ được cấp tạm quản, gồm:

– Hàng hoá dự định để trưng bày tại một sự kiện;

– Hàng hoá dự định sử dụng liên quan đến trưng bày các sản phẩm nước ngoài tại sự kiện, bao gồm:

+ Hàng hoá cần thiết cho mục đích giới thiệu máy móc nước ngoài hoặc thiết bị trưng bày;

+ Vật liệu xây dựng và trang trí kể cả thiết bị điện, cho gian hàng tạm thời của người triển lãm nuớc ngoài;

+ Vật liệu quảng cáo và trưng bày ở nơi công cộng để giới thiệu hàng nước ngoài , ví dụ như thiết bị ghi âm và hình ảnh, phim và đèn chiếu cũng như các thiết bị sử dụng đi kèm;

– Trang thiết bị bao gồm cả thiết bị phiên dịch, thiết bị ghi âm thanh và hình ảnh và phim mang tính giáo dục, khoa học hoặc văn hoá định sử dụng tại hội nghị, hội thảo hoặc đại hội quốc tế.

Các hàng mẫu thương mại phục vụ mục đích xúc tiến thương mại

– “Hàng hoá nhập khẩu liên quan đến hoạt động thương mại” là các container, giá kê, gói, mẫu, phim quảng cáo và hàng nhập khẩu khác liên quan đến hoạt động thương mại nhưng chính việc nhập khẩu này tự nó không cấu thành hoạt động thương mại

– “Gói” là tất cả các vật phẩm và vật liệu đã được sử dụng hoặc sẽ sử dụng được nhập khẩu, để đóng gói, để bảo vệ, đã xếp hoặc tách rời hàng hoá ngoại trừ chất liệu đóng gói như : rơm, giấy, sợi thuỷ tinh, phoi bào,…được nhập khẩu với số lượng lớn. Các công ten nơ và giá kê, đã xác định dưới đây cũng bị loại trừ:

+ “ Công ten nơ” là một loại thiết bị vận tải (khung thùng, téc di động hoặc cấu trúc tương tự):Là một buồng khép kín toàn bộ để chứa hàng; Mang tính vĩnh cửu, đủ khoẻ để có thể sử dụng nhiều lần; Đặc biệt thiết kế tạo thuận tiện đối với vận chuyển hàng hoá, bởi một hoặc nhiều phương thức vận tải, không phải chất lại ngay; Thiết kế dễ vận hành, đặc biệt khi được chuyển giao từ một kiểu vận tải này sang một kiểu vận tải khác; Thiết kế để dễ làm đầy và dễ bốc sạch; Có khối lượng bên trong là 1 mét khối hoặc lớn hơn, thuật ngữ “ công ten nơ” bao gồm cả các phụ tùng và thiết bị phù hợp của công ten nơ, miễn là các phụ tùng và các thiết bị như vậy được mang kèm công ten nơ.

+ “Giá kê” là dụng cụ đặt trên nền sàn có thể tập hợp được trên nó một số lượng hàng hoá để hình thành một đơn vị bốc xếp cho mục đích vận chuyển hoặc thao tác hoặc dồn lại với sự trợ giúp dụng cụ cơ giới. Công cụ này được cấu tạo 2 tấm cách biệt bởi các thanh giằng, hoặc một tấm có chân đỡ, độ cao tổng thể được hạn chế tới mức nhỏ nhất cho phép phù hợp với xe nâng hạ có chĩa hoặc xe chở giá kê nó cũng có hoặc không có cấu trúc che ở trên

“Các mẫu” là đồ đạc đại diện cho một loại hàng hoá cá biệt đã được sản xuất hoặc là mẫu hàng hoá mà việc sản xuất đã được trù liệu, song không bao gồm cùng một loại hàng được cùng một người đưa vào, hoặc gửi tới một địa chỉ duy nhất, với một số lượng mà nếu gộp lại, chúng không còn là mẫu thương mại sử dụng thông thường;

“Phim quảng cáo” là các băng hình có hoặc không có đường tiếng, bao gồm chủ yếu là các hình ảnh cho thấy tính chất hoặc cơ chế hoạt động các sản phẩm hoặc thiết bị đưa ra bán hoặc thuê bởi một người lập nghiệp hoặc cư trú ngoài lãnh thổ tạm quản, miễn là phim thuộc kiểu phù hợp với việc trưng bày cho khách hàng đi mua chứ không cho trưng bày chung cho Công chúng xem ; và được nhập khẩu trong một gói chứa không quá một bản cho mỗi phim và không phải là một bộ phận của lô hàng phim lớn hơn.

“Vận tải nội địa” là việc vận chuyển hàng hoá trong lãnh thổ hải quan của một bên cam kết để dỡ hàng tại một nơi trong lãnh thổ hải quan của cùng bên cam kết.

Hàng hoá nhập khẩu sau đây có liên quan đến hoạt động thương mại được phép là hàng tạm quản:

– Gói bọc được nhập khẩu đóng đầy hàng để tái xuất khẩu rỗng hoặc đầy, hoặc nhập khẩu rỗng để tái xuất khẩu đóng đầy hàng;

– Các công ten nơ đầy hoặc không đầy hàng và phụ kiện hay thiết bị cho công ten nơ tạm quản, các công ten nơ này hoặc được nhập khẩu với một công ten nơ mà công ten nơ đó sẽ được tái xuất riêng rẽ hoặc với một công ten nơ khác, hoặc được nhập khẩu riêng rẽ để tái xuất với một công ten nơ khác và những bộ phận tháo rời được dự định cho việc sửa chữa công ten nơ cho phép tạm quản;

– Các giá kê;

– Các hàng mẫu;

– Các phim quảng cáo;

– Bất kỳ hàng hoá nhập khẩu nào khác cho bất kỳ mục đích nào liên quan đến hoạt động thương mại nhưng chính việc nhập khẩu khôngphải là một hoạt động thương mại, gồm:

+ Hàng hoá nhập khẩu để kiểm tra, thử nghiệm, thí nghiệm, hoặc phô diễn.

+ Hàng hoá sử dụng để kiểm tra, thử nghiệm, thí nghiệm, hoặc phô diễn

+ Phim điện ảnh đã in tráng rửa, các phim dương bản và các băng đã ghi hình để xem trước khi sử dụng trong thương mại

+ Các phim, băng có từ tính, phim có từ hoá và các băng có tiếng, có hình ảnh khác nhằm cho việc ghi tiếng, lồng tiếng hoặc để sao chép

+ Băng dữ liệu, gửi miễn phí cho việc sử dụng trong xử lý dữ liệu tự động.

+ Các đồ vật (kể cả phương tiện vận tải) do tính chất không phù hợp với một mục đích nào khác ngoài việc quảng cáo cho một mục đích nhất định.

Đi sâu phân tích, ta có thể thấy hệ thống Sổ ATA là một công cụ tiếp thị giúp người giữ Sổ thu hút được các đơn đặt hàng và chỉ áp dụng cho những hàng hoá không phục vụ mục đích buôn bán, tiêu dùng, cho tặng hay bất cứ hình thức giao dịch thương mại nào như cho thuê, sửa chữa, bảo dưỡng, vận chuyển nội địa, gia công/ đóng gói hay xây dựng.

Sổ ATA không dùng đối với các mặt hàng đá và đá quý, đồ hoá trang sân khấu, rượu mạnh, thuốc lá, chất đốt…

Về nguyên tắc, tất cả hàng hoá xuất khẩu và nhập khẩu phải:

Được tái xuất / tái nhập toàn bộ nguyên trạng như khi chúng được xuất khẩu/ nhập khẩu với thời hạn do Hải quan quy định,

– Được nhận diện dễ dàng. Hải quan có thể dùng hình thức riêng để đánh dấu như niêm phong hay đóng dấu hàng hoá tại điểm xuất/ nhập.

– Có số lượng hợp lý. Hải quan có quyền hạn chế giá trị, số lượng của lô hàng xuất khẩu/ nhập khẩu để tổng trị giá/ số lượng hàng hoá phù hợp với mục đích tạm xuất/ tạm nhập ghi rõ trong trang bìa đầu màu xanh lá cây của Số ATA – ví dụ: bản chất của sự việc, số lượng du khách, và số lượng tham gia của những người tổ chức triển lãm…

– Khai báo đúng trị giá hàng hoá, và

– Được kiểm tra thực tế.

Theo quy định Công ước ATA, khi Sổ ATA đã được cấp thì không được ghi thêm các hàng hoá vào danh sách hàng hoá đã được liệt kê vào mặt sau bìa trước của Sổ hoặc vào các liên tiếp theo bảng tổng hợp.

Người giữ Sổ ATA phải tuân thủ luật pháp và các quy định quốc gia của nước xuất/ nhập/ quá cảnh.

Hàng hoá bị mất/ bị lấy cắp/ bị phá huỷ sẽ phải chịu thuế hải quan và các loại thuế khác.

10.1.1.7. Thời hạn hiệu lực của Sổ ATA và thời gian giữ Sổ ATA

Về thời hạn hiệu lực của Sổ ATA, Điều 4, khoản 1 – Công ước ATA quy định các tổ chức cấp phát sẽ không cấp sổ ATA có giá trị quá 01 năm kể từ ngày cấp.Như vậy, Sổ ATA có hiệu lực 01 năm kể từ ngày cấp. Trên bìa của Sổ ghi những nước chấp nhận và tên của những tổ chức đảm bảo tương ứng. Theo đó, thời gian ấn định cho tái xuất hàng hoá nhập khẩu theo Sổ ATA trong bất cứ trường hợp nào cũng không được vượt quá thời gian giá trị của Sổ.

Theo thông lệ quốc tế, đối với hàng thiết bị chuyên dùng và hàng hội chợ triển lãm thời hạn tạm nhập là:

– Không quá 12 tháng đối với hàng mẫu thương mại.

– Không quá 06 tháng đối với thiết bị chuyên dùng và hàng hội chợ triển lãm.

Tuy nhiên, tùy thuộc vào luật pháp quốc gia với điều kiện không quá ngưỡng hiệu lực 01 năm mà Hải quan các nước có những quy định khác nhau về thời hạn tạm nhập tái xuất. Ví dụ:

– Từ 01 đến 03 tháng đối với hàng mẫu thương mại.

– Vài tuần hay 1 tháng đối với hàng triển lãm và thiết bị chuyên dùng

– Vài giờ hay 01 ngày đối với hàng quá cảnh.

Về thời gian giữ Sổ ATA, liên quan đến cơ chế bảo lãnh theo quy định tại Điều 6 – Công ước ATA thì thời gian tối đa để cơ quan Hải quan có thể đưa ra yêu cầu thanh toán thuế đối với Tổ chức bảo lãnh là 01 năm sau khi hết hạn Sổ ATA. Về nguyên tắc, các tổ chức bảo lãnh và cấp phát Sổ ATA có quyền tự định đoạt đối với những quyển sổ đã thanh khoản và khi không có yêu cầu nào được đưa ra sau thời hạn 24 tháng kể từ ngày cấp phát Sổ. Thanh khoản Sổ ATA ở đây được hiểu là giải phóng Sổ ATA để chủ hàng thực hiện các giao dịch tiếp sau.

Như vậy, đối với những Sổ ATA không phát sinh nghi vấn hay khiếu nại nào thì thời hạn giữ Sổ ATA là 24 tháng kể từ ngày cấp Sổ.

Đối với những Sổ ATA có phát sinh yêu cầu/ tranh chấp thì người giữ Sổ ATA phải giữ Sổ cho đến khi các yêu cầu/ tranh chấp được giải quyết. Tổ chức bảo lãnh và cấp phát Sổ ATAphải tham vấn cơ quan Hải quan quốc gia trong vấn đề này.

Về nguyên tắc, Sổ ATA không thể gia hạn hay làm mới .

Để đảm bảo rằng khoản bảo lãnh thuế nhập khẩu và các khoản thuế khác vẫn còn giá trị, tổ chức bảo lãnh và cấp phát Sổ ATA không cấp Sổ có thời hạn quá 01 năm. Thời hạn cuối cùng cho việc tái xuất sẽ không vượt quá thời hạn hiệu lực của Sổ.

Trường hợp Sổ ATA bị mất, hoặc bị lấy cắp, hoặc bị tiêu huỷ thì người giữ Sổ có thể được cấp Sổ thay thế khi đáp ứng các điều kiện: có Báo cáo xác nhận của công an; yêu cầu cấp Sổ thay thế được thực hiện trước khi hết hạn tạm nhập (Ít nhất 2 tuần) với đầy đủ các chi tiết như địa điểm lưu hàng hoá,công ty có hàng hoá (các thông tin liên hệ); Sổ ATA chưa hết hạn.

Sổ thay thế phải có cùng số Sổ, thời hạn hiệu lực, danh mục hàng hóa chung như đã ghi trong Sổ gốc, đại diện được uỷ quyền sử dụng Sổ cũng chính là những người có tên trong Sổ gốc.

Trường hợp Sổ ATA hết hạn nhưng hàng hoá lại được yêu cầu lưu giữ tại nước Sở tại thì để tạo điều kiện cho người giữ Sổ tái xuất hàng hoá, Sổ mới có thể được sử dụng với điều kiện: cơ quan Hải quan có liên quan chấp nhận (cả cơ quan hải quan quốc gia và cơ quan hải quan nước ngoài); không có nghi vấn hay khiếu nại nào từ cơ quan hải quan; Tổ chức bảo lãnh và cấp phát Sổ ATA sẵn sàng phát hành một Sổ mới; người giữ Sổ có thể phải cung cấp một khoản bảo đảm mới.

Trường hợp hàng hoá bị bắt giữ, Sổ ATA còn hiệu lực thì thời hạn tái xuất hàng hoá phải được gia hạn trong thời gian giữ hàng. Tổ chức bảo lãnh và cấp phát Sổ ATA phải được Hải quan thông báo về trường hợp bắt giữ và các biện pháp Hải quan sẽ áp dụng.

Sổ ATA có thể hủy nếu Sổ vẫn chưa được sử dụng; tất cả các chứng từ màu vàng, màu trắng, màu xanh đều chưa được sử dụng; số hiệu dành cho Sổ vẫn chưa được sử dụng.

Sổ ATA có thể được tái sử dụng trong thời hạn hiệu lực đối với:

– Sổ tạm quản cho hàng mẫu thương mại

– Sổ tạm quản cho thiết bị nghề nghiệp

Các điều kiện sẽ phải đáp ứng:

i) Sổ không bị hạn chế phạm vi sử dụng

ii) Không vi phạm các điều khoản và điều kiện sử dụng Sổ ATA

iii) Không có nghi vấn hay khiếu nại của Hải quan về Sổ ATA

iv) Khoản bảo đảm vẫn còn giá trị/ chưa hết hạn/ đủ để điều chỉnh tiếp các lần tạm nhập khác

vi) Khoản bảo đảm nộp cho Tổ chức bảo lãnh và cấp phát Sổ ATA vẫn chưa thanh khoản

vii) Sổ sẽ được sử dụng bởi cùng một người được uỷ quyền như khai báo trong Sổ và trong Đơn xin cấp Sổ

viii) Thời hạn hiệu lực của Sổ chưa hết/ vẫn có thể có hiệu lực với những lần tạm nhập khác

ix) Tất cả hàng hoá đều cùng là hàng hoá được khai báo ban đầu, chính xác về mặt trọng lượng, bản chất, trị giá

Các nước hàng hóa dự kiến tạm nhập đã được thể hiện trong Sổ ATA.

10.1.1.8. Phí cấp Sổ ATA

Phí cấp Sổ ATA ở mỗi nước sẽ do Tổ chức bảo lãnh và cấp phát Sổ ATA nước đó tự quy định nhưng mức phí phải bao gồm lệ phí hành chính hàng năm là 04 euro/ 1 quyển Sổ trả cho WCF và mức phí đó được Hải quan thông qua.

Mức phí cấp Sổ được dựa trên trị giá hàng hoá, số lượng mặt hàng, số nước hàng đến và có thể bao gồm cả chi phí bảo hiểm. Phí cấp Sổ được thu bao gồm cả phí hợp thức hoá Sổ.

Ví dụ: Mức phí ở Singapore

Một Sổ :                                  145,50 S$                    Các thành viên của WCF

                                                257,50S$                     Không phải thành viên WCF

Nước đầu tiên:                        Miễn phí                     

Các nước tiếp theo                  15,45S$                       Các thành viên

                                                30,90 S$                      Không phải thành viên WCF

10.1.1.9. Thủ tục cấp Sổ ATA

Thủ tục cấp Sổ ATA đơn giản và gồm các bước sau:

(i) Hoàn thành mẫu đơn, bản cam kết và trả một khoản phí cấp phát Sổ

Thực tế đây là một tờ khai mà trong đó người khai phải:

Chấp nhận trách nhiệm tái xuất/ tái nhập toàn bộ hàng hoá và thanh toán các khoản thuế/ phạt/ thuế khác/ phí và tất cả các chi phí phát sinh trong trường hợp họ vi phạm các điều kiện sử dụng Sổ ATA.

– Cam kết tất cả thông tin cung cấp đều trung thực/ chính xác.

(ii) Đặt một khoản bảo đảm / bảo lãnh đủ để thanh toán các thuế hải quan/ thuế khác/ phí.v.v…nếu người giữ Sổ không thực hiện được việc tái xuất và tái nhập hàng hoá.

(iii) Cung cấp thông tin hoàn thành mẫu Số cũng như với tất cả các chứng từ hải quan, mẫu Sổ phải được hoàn thành trung thực và chính xác.

(iv) Nộp các chứng từ, tài liệu bổ sung cần thiết.

(v) Có thư uỷ quyền nếu Sổ ghi tên người đại diện cho người giữ Sổ.

(vi) Có thư uỷ quyền cho việc nhận Sổ (nếu Sổđược trao cho đại diện được uỷ quyền).

10.1.1.10. Hợp thức hóa Sổ ATA

Theo quy định của Điều 7 và Điều 8 – Công ước ATA thì khi cơ quan Hải quan phát hiện có những vi phạm chế độ tạm quản và đưa ra yêu cầu thanh toán thuế và các khoản khác đối với Tổ chức bảo lãnh và cấp phát Sổ ATA cho lô hàng tạm nhập thì tổ chức bảo lãnh có thời hạn 06 tháng để đưa ra các bằng chứng tái xuất. Nếu không cung cấp được bằng chứng tái xuất thì Tổ chức bảo lãnh và cấp phát Sổ ATA phải đặt cọc một khoản tiền hoặc tạm thời trả số tiền Hải quan yêu cầu. Tổ chức bảo lãnh và cấp phát Sổ ATA có tiếp 03 tháng để tìm kiếm và trình ra chứng cứ tái xuất. Nếu hết hạn 03 tháng này mà không có chứng cứ nào được đưa ra thì khoản tiền đặt cọc hoặc khoản trả tạm thời sẽ không được hoàn trả. Đối với những nước luật pháp không cho phép đặt cọc thì Tổ chức bảo lãnh và cấp phát Sổ ATA sẽ phải thanh toán thuế và các khoản khác sau thời hạn 06 tháng đầu và trong 03 tháng tiếp theo nếu xuất trình được chứng cứ tái xuất thì khoản tiền đã nộp sẽ được hoàn trả, nếu không, khoản tiền đã thanh toán sẽ không được hoàn trả sau 03 tháng nói trên.

Bằng chứng của việc tái xuất hàng hóa theo Sổ ATA sẽ được thể hiện qua xác nhận đã hoàn thành việc tái xuất trên Sổ ATA do cơ quan Hải quan của nước hàng tạm nhập thực hiện.

Nếu việc tái xuất hàng không được xác nhận bởi cơ quan Hải quan nước tạm nhập thì Hải quan nước đó vẫn có thể chấp nhận chứng cứ tái xuất từ các thông tin xác nhận tái nhập hàng hóa của Hải quan nước ký kết khác trên các cuống chứng từ còn lưu trong Sổ ATA. Chứng cứ tái xuất có thể được chấp nhận và được Hải quan nước tạm nhập hợp thức hóa kể cả khi chứng cứ đó là những tài liệu chứng mình hàng hóa đã nằm ngoài lãnh thổ nước tạm nhập.

Trong trường hợp Hải quan nước tạm nhập miễn yêu cầu tái xuất một hàng hóa nào đó thì Tổ chức bảo lãnh và cấp phát Sổ ATA được miễn trừ trách nhiệm thanh toán thuế và các khoản tiền khác cho hàng hóa không tái xuất đó.

Trong trường hợp Hải quan hợp thức hóa Sổ ATA, tức là xác nhận và chấp nhận những chứng cứ tái xuất thì Hải quan có quyền tính phí hợp thức hóa Sổ ATA.

Hải quan ở những nước sau đây có thể áp dụng phí hợp thức hoá hoặc các khoản phạt khi điều kiện sử dụng Sổ ATA bị vi phạm: Áo, Trung Quốc, Pháp, Malaysia, Hà Lan, Singapore, Tây Ban Nha, Thuỵ Sỹ và Mỹ.

10.1.2. Cơ chế bảo lãnh theo Sổ ATA

10.1.2.1. Chuỗi bảo lãnh quốc tế

Chuỗi bảo lãnh quốc tế được thiết lập để:

Đảm bảo sự tuân thủ đầy đủ các điều kiện tạm nhập/tạm xuất theo Sổ ATA.

– Đảm bảo việc thanh toán đầy đủ các khoản thuế hải quan/ thuế khác khi các điều kiện sử dụng Sổ bị vi phạm.

Chuỗi bảo lãnh quốc tế cho Hệ thống Sổ ATA do WCF quản lý với thành viên là các Tổ chức bảo lãnh và cấp phát Sổ ATA quốc gia và cũng là thành viên của WCF.Chuỗi bảo lãnh quốc tế được đảm bảo thông qua:

– Một bộ các quy tắc hợp đồng do WCF đưa ra.

– Người giữ Sổ ATA nộp cho Tổ chức bảo lãnh và cấp phát Sổ ATA một khoản đảm bảo phù hợp/ an toàn và cam kết trả cho Tổ chức bảo lãnh và cấp phát Sổ ATA tất cả các khoản tiền phải trả và tất cả các khoản chi phí phát sinh khi các điều kiện về tạm nhập/ tạm xuất bị vi phạm.

– Tổ chức bảo lãnh và cấp phát Sổ ATA nộp cho WCF một khoản đảm bảo chứng minh khả năng tài chính để tuân thủ đầy đủ các nghĩa vụ của một cơ quan bảo lãnh đối với các khoản thuế hải quan/ thuế khác cho những hàng hoá tạm nhập theo Sổ ATA mà Tổ chức này đã cấp phát.

Không chỉ đóng vai trò là cơ quan quản lý chuỗi bảo lãnh quốc tế, WCF còn đóng vai trò là trọng tài giải quyết các mẫu thuẫn hoặc xung đột phát sinh giữa các Tổ chức bảo lãnh và cấp phát Số ATA quốc gia. Để thực hiện được nhiệm vụ này, WCF yêu cầu các thành viên của chuỗi bảo lãnh tuân thủ các quy định về đặt cọc khoản bảo đảm quốc gia và các khoản phí cấp Sổ ATA với WCF.Khoản bảo đảm quốc gia sẽ chỉ được kích hoạt khi phát sinh những tranh chấp, xung đột giữa các thành viên chuỗi bảo lãnh quốc tế mà tự các bên không giải quyết được.

Mẫu bảo đảm do Tổ chức bảo lãnh và cấp phát Số ATA phát hành phải theo tờ mẫu của WCF quy định trong IBCC Dco 550-1/INT.530. Khoản bảo đảm phải: an toàn và có khả năng thanh toán khi được yêu cầu; giấy bảo đảm phải được viết bằng một trong hai ngôn ngữ làm việc của WCF: tiếng Anh hoặc tiếng Pháp; khoản bảo đảm phải đặt cọc tại trụ sở chính của WCF ở Paris; khoản đặt cọc có giá trị một năm và được gia hạn hàng năm, trong đó cần chỉ rõ bảo lãnh bảo hiểm hay bảo lãnh ngân hàng, đối tượng thụ hưởng là tất cả các thành viên của chuỗi bảo lãnh quốc tế. Giá trị khoản đặt cọc quốc gia đó được xác định thấp nhất là 100.000 USD và cao nhất là 400.000 USD. Việc xác định mức đặt cọc trong ngưỡng 100.000 USD- 400.000 USD phụ thuộc vào trị giá hàng hóa tạm quản theo Sổ ATA (thường được tính bằng 0,1% tổng trị giá hàng hóa đó).

Việc các Tổ chức bảo lãnh và cấp phát Sổ ATA cung cấp cho WCF khoản bảo đảm là sự thể hiện mức độ cao nhất về bảo lãnh tài chính để trả các khoản thuế và các khoản khác nếu có vi phạm trong sử dụng Sổ ATA.

Ngoài khoản bảo đảm quốc gia nói trên, Tổ chức bảo lãnh và cấp phát sổ ATA còn có thể hỗ trợ chuỗi bảo lãnh bằng một khoản bảo hiểm trách nhiệm nghiệp vụ đối với việc rủi ro trong cấp Sổ ATA.

10.1.2.2. Giá trị khoản bảo lãnh cho hàng hóa theo Sổ ATA

Để bảo lãnh cho hàng hóa tạm quản theo quy định của Công ước ATA thông qua Tổ chức bảo lãnh và cấp phát Sổ ATA, người giữ Sổ ATA cần tuân thủ các yêu cầu như cungcấp một khoản bảo đảm an toàn, có giá trị, có thể chuyển đổi sang đồng nội tệ/ ngoại tệ và quan trọng là khoản bảo đảm phải bao trùm thời hạn hiệu lực của Sổ ATA và thời hạn mà Tổ chức bảo lãnh và cấp phát Sổ cũng như người giữ Sổ có trách nhiệm với cơ quan Hải quan.

Người giữ Sổ cũng cần phải ký vào bản cam kết hoàn trả cho Tổ chức bảo lãnh và cấp phát Sổ ATA tất cả các khoản tiền đã thanh toán và những chi phí phát sinh nếu các điều kiện của tạm quản bị vi phạm.

Theo tinh thần của Điều 6 – Công ước ATA, khoản bảo lãnh mà Tổ chức bảo lãnh và cấp phát Sổ ATA thay mặt cho người giữ Sổ đảm bảo với cơ quan Hải quan trong trường hợp hàng hóa theo Sổ ATA không tạm nhập tái xuất theo quy định sẽ được tính bằng mức thuế nhập khẩu/ thuế khác hiện hành cao nhất được áp dụng cho nước hàng tạm nhập cộng với 10% và phí hợp thức hoá và phí chuyển tiền tại Ngân hàng.

Khoản bảo lãnh phải được nộp và chấp nhận trước khi Sổ ATA được cấp dựa trên quy trình kiểm tra và cấp phát chặt chẽ.

10.1.2.3. Hiệu lực khoản bảo lãnh

Tất cả các điều khoản về bảo lãnh phải có hiệu lực trong suốt quá trình bảo lãnh.

Thời hạn bảo lãnh trong 33 tháng là cần thiết vì đó là thời hạn mà Tổ chức bảo lãnh và cấp phát Sổ ATA phải thay mặt người giữ Sổ chịu trách nhiệm trước cơ quan Hải quan đối với hàng hóa tạm quản theo Sổ.

Thời hạn 33 tháng bao gồm:

– 12 tháng hiệu lực của Sổ

– 12 tháng tiếp theo dành cho khiếu nại liên quan đến Sổ ATA

– 06 tháng để Tổ chức bảo lãnh và cấp phát Sổ ATA chứng minh việc tái xuất

– 03 tháng để Tổ chức bảo lãnh và cấp phát Sổ ATA giải quyết khiếu nại.

Hiệu lực khoản bảo lãnh sẽ chấm dứt khi Hải quan không đưa ra yêu cầu nào đối với Tổ chức bảo lãnh và cấp phát Sổ ATA trong vòng một năm sau khi Sổ ATA hết hạn.

10.1.2.4. Chế độ bảo lãnh

Theo quy định của WCF, để thực hiện chế độ bảo lãnh với tư cách là một thành viên chuỗi bảo lãnh quốc tế, Tổ chức bảo lãnh và cấp phát Sổ ATA phải đáp ứng các yêu cầu như:

i) Gửi đến Ban thư ký WCF bản sao Công văn của cơ quan Hải quan chấp thuận Tổ chức này là Tổ chức bảo lãnh và cấp phát Sổ ATA và nếu cần thiết, kèm một bản dịch sang một trong hai thứ tiếng do WCF sử dụng (tiếng Anh hoặc tiếng Pháp)

ii) Ký hai văn bản do WCF soạn thảo nhằm xác nhận với Ban thư ký WCF sự chấp nhận những trách nhiệm liên quan đến hoạt động của hệ thống Sổ ATA. Sau khi ký, hai văn bản này cần được gửi lại cho WCF. Hai văn bản bao gồm : (a) Một bản sao Nghị định thư liên Phòng Thương mại được WCF thông qua liên quan đến việc tổ chức một hệ thống bảo lãnh quốc tế cho Sổ ATA và đặt ra trách nhiệm cho toàn bộ các Tổ chức bảo lãnh và cấp phát Sổ ATA trong chuỗi bảo lãnh ; (b) Một bản sao tuyên bố của WCF về hệ thống sổ ATA.

iii) Gửi đến trụ sở quốc tế chính của WCF một bản dịch được chứng thực công văn của các cơ quan trao quyền cho Tổ chức bảo lãnh và cấp phát Sổ ATA được nhận và thanh toán tất cả các khoản tiền liên quan đến hoạt động của hệ thống Sổ ATA.

iv) Cung cấp cho WCF bản Thông báo chính thức của cơ quan Hải quan quốc gia về phạm vi áp dụngchế độ tạm quản ATA.

v) Cung cấp cho WCF một khoản đảm bảo/ khoản đặt cọc quốc gia như đã trình bày ở phần 1.1.2 nêu trên với sự đảm bảo an toàn tài chính cao nhất. Khoản đảm bảo có thời hạn 01 năm và được phép gia hạn hàng năm. Hình thức đảm bảo: Có thể là bảo hiểm hoặc bảo lãnh ngân hàng

vi) Tổ chức bảo lãnh và cấp phát Sổ ATA phải in Sổ ATA theo mẫu tiêu chuẩn do Ban thư ký WCF đưa ra.

vii) Khi cần thiết (ở những nước có quy định về ngoại hối) phải cung cấp cho WCF văn bản của cơ quan quản lý ngoại hội quốc gia cho phép hoạt động chuyển đổi ngoại hối phục vụ hoạt động bảo lãnh cho chế độ tạm quản.

viii) Cung cấp cho WCF những thông tin liên quan tổ chức để qua đó, thông báo đến các tổ chức bảo lãnh và cấp phát Sổ ATA trong hệ thống biết: địa chỉ thư tín của Tổ chức, số điện thoại ; số telex ; số Fax ; địa chỉ email ; địa chỉ cable ; địa chỉ Ngân hàng/ Số A/C ; tên cán bộ cấp số ATA

Thông báo cần thực hiện 06 tuần trước ngày Sổ ATA được cấp.

Trách nhiệm của Tổ chức bảo lãnh được quy định tại Điều 6 – Công ước ATA không chỉ bao gồm việc thanh toán các khoản thuế hải quan/ thuế khác như đã định nghĩa tại Điều 1, khoản a của Công ước, mà còn bao gồm cả các khoản tiền khác trong trường hợp không có sự tuân thủ các điều kiện về tạm quản. Tổng số tiền bảo lãnh mà Tổ chức bảo lãnh và cấp phát Sổ ATA có thể bị yêu cầu phải trả theo quy định của Công ước không vượt quá tổng số thuế nhập khẩu và thuế khác là 10%. Theo tính toán của WCF thì đây là mức bảo lãnh an toàn đối với cơ quan Hải quan. Như vậy, bất cứ khoản tiền nào vượt quá số tiền bảo lãnh nói trên sẽ được thu từ người giữ Sổ.

Thuế nhập khẩu và thuế khác: “là thuế nhập khẩu và tất cả các khoản thuế khác có liên quan bao gồm cả thuế nội địa như thuế giá trị gia tăng, thuế doanh thu và thuế gián thu. Thuế nhập khẩu sẽ được thu trên cơ sở luật pháp quốc gia với mức thuế được xác định trong các quy định có liên quan và Hải quan không có thẩm quyền thay đổi mức thuế suất được áp dụng.

Thuế ở đây không bao gồm các khoản phí và lệ phí để thông quan những hàng hoá theo Sổ ATA ngoài giờ làm việc của đơn vị hải quan .

Liên quan đến các khoản tiền khác, theo Uỷ ban kỹ thuật thường trực của WCO “các khoản tiền khác” bao gồm cả tiền phạt và lãi suất đối với việc nộp chậm thuế nhập khẩu. Nghĩa vụ trả lãi suất đối với khoản thuế nhập khẩu không được thanh toán đúng hạn sẽ do luật pháp quốc gia quy định. Tổ chức bảo lãnh và cấp phát Sổ ATA có nghĩa vụ thanh toán khoản lãi suất này theo mục : “bất cứ khoản tiền nào khác”. Trường hợp khoản tiền vượt quá giới hạn 10% thuế nhập khẩu và các thuế khác thì Hải quan sẽ thu trực tiếp từ người giữ Sổ.

Đối với các khoản phạt thì có thể được áp dụng như đã quy định trong luật pháp quốc gia. Tuy nhiên, Hải quan thường sẽ quyết định mức độ phạt khi cân nhắc mức độ nghiêm trọng của vụ việc – lỗi tắc trách hay do sơ ý.

Theo tinh thần Điều 15 – Công ước ATA, trong trường hợp phát hiện có sự gian lận, lạm dụng Sổ ATA, thậm chí ngoài 01 năm sau thời hạn hiệu lực của Sổ thì cơ quan Hải quan vẫn có thể tiến hành các thủ tục kiện người giữ Sổ để truy thu các khoản thuế hải quan, thuế khác và các khoản có thể phải trả cũng như các khoản phạt do vi phạm điều kiện tạm quản. Điều này tạo nên sự khác biệt giữa trách nhiệm của Tổ chức bảo lãnh và cấp phát Sổ ATA và người giữ Sổ. Trách nhiệm Tổ chức bảo lãnh và cấp phát Sổ ATA chỉ giới hạn trong thời gian 33 tháng như đã trình bày tại phần 1.2.3 nêu trên và trị giá khoản bảo lãnh cũng chỉ tối đa vượt quá tổng số thuế nhập khẩu và các thuế khác là 10%. Trong khi đó, trách nhiệm của người giữ Sổ vượt ra ngoài khoảng thời gian 33 tháng và vượt ngoài trị giá khoản bảo lãnh nói trên. Hải quan sẽ thu trực tiếp từ người giữ Sổ phần vượt đó.

Tất cả các thư từ giao dịch liên quan đến việc hợp thức hoá Sổ ATA sẽ được các Tổ chức bảo lãnh và cấp phát Sổ ATA có liên quan trao đổi trực tiếp với nhau.

Để vận hành được cơ chế bảo lãnh, phía Hải quan cũng cần lưu ý một số điểm như thời hạn cho phép tái xuất/ tái nhập không được vượt quá thời hạn hiệu lực của Sổ ATA. Khi phát hiện có những vi phạm chế độ tạm quản trong thời hạn 01 năm sau ngày Sổ ATA hết hạn, Hải quan cần đưa ra yêu cầu thanh toán tiền thuế và các khoản khác cho Tổ chức bảo lãnh và cấp phát Sổ ATA quốc gia. Mặc dù không phải là người bảo lãnh trực tiếp cho lô hàng vi phạm thuộc diện điều chỉnh Sổ ATA nhưng do là một mắt xích trong chuỗi bảo lãnh quốc tế và có mối quan hệ hữu cơ với các Tổ chức bảo lãnh và cấp phát Số ATA nước ngoài nên tổ chức bảo lãnh và cấp phát Sổ ATA quốc gia có thể liên hệ với Tổ chức đối tác nước ngoài là người trực tiếp bảo lãnh cho lô hàng đang thuộc diện xử lý và thay mặt Tổ chức này thanh toán các khoản thuế và khoản khác cho cơ quan Hải quan quốc gia. Sau đó, Tổ chức đối tác nước ngoài sẽ thanh toán lại cho Tổ chức bảo lãnh và cấp phát Sổ ATA quốc gia. Trong trường hợp hai bên có phát sinh mâu thuẫn hoặc xung đột thì WCF sẽ là trọng tài phân xử, giải quyết. Nếu không điều hòa được mâu thuẫn, WCF sẽ là người kích hoạt khoản tiền bảo đảm hay khoản đặt cọc quốc gia mà trước đó Tổ chức bảo lãnh và cấp phát Sổ ATA cho lô hàng tạm nhập đã nộp để giải quyết.

Kể từ khi nhận được yêu cầu thanh toán thuế và các khoản khác từ cơ quan Hải quan đối với một trường hợp vi phạm điều kiện tạm quản thì Tổ chức bảo lãnh và cấp phát Sổ ATA quốc gia có 06 tháng để cung cấp chứng cứ tái xuất. Nếu sau 06 tháng,chứng cứ tái xuất không được cung cấp, Tổ chức bảo lãnh và cấp phát Sổ ATA phải đóng một khoản đặt cọc tạm thời. Nếu chứng cứ tái xuất vẫn không được cung cấp trong 03 tháng tiếp sau đó thì khoản đặt cọc sẽ trở thành khoản tiền thuế và các khoản khác mà Tổ chức bảo lãnh và cấp phát Sổ ATA phải thanh toán cho cơ quan Hải quan.

Về thời hạn hoàn trả tiền giữa các Tổ chức bảo lãnh và cấp phát Sổ ATA, theo Nghị định thư giữa ICC/WCF, Tổ chức bảo lãnh và cấp phát Sổ ATA bên nợ sẽ hoàn trả tiền cho Tổ chức bảo lãnh và cấp phát Sổ ATA bên thanh toán hộ trong vòng 02 tháng sau khi nhận được chứng từ thanh toán từ bên thanh toán hộ. Nếu bên nợ không nhận được chứng cứ thanh toán hộ thì có thể từ chối thanh toán cho Tổ chức bảo lãnh và cấp phát Sổ ATA là bên thanh toán hộ.

Nếu quá thời hạn 02 tháng, Tổ chức bảo lãnh và cấp phát Sổ ATA bên thanh toán hộ sẽ gửi cho bên nợ bản nhắc yêu cầu thanh toán cùng một bản sao gửi cho WCF là cơ quan sẽ theo dõi và đôn đốc bên nợ trả tiền cho bên thanh toán hộ trong khoảng thời gian tối đa 01 tháng.

Nếu trong thời hạn 1 tháng tiếp đó, việc thanh toán vẫn không được thực hiện thì WCF sẽ gia hạn tối đa 2 tháng nữa để bên nợ hoàn tất các thủ tục thanh toán, nếu bên nợ vẫn không thực hiện theo yêu cầu của WCF thì WCF sẽ yêu cầu hoàn trả tiền từ khoản bảo đảm/ khoản đặt cọc quốc gia mà bên nợ đã ký gửi WCF.

Cũng theo tinh thần của Nghị định thư WCF, các khoản tiền bên nợ chuyển trả cho bên thanh toán hộ sẽ bằng đồng tiền của bên thanh toán hộ.

Trong trường hợp hàng hóa tạm quản bị phá hủy, bị mất hay bị hư hỏng thì tùy thuộc vào quan điểm xử lý và phòng ngừa sự lạm dụng Sổ ATA, cơ quan Hải quan sẽ quyết định việc có hay không yêu cầu Tổ chức bảo lãnh và cấp phát Sổ ATA thanh toán tiền thuế và các khoản khác cho lô hàng vi phạm.

Việc tái xuất tất cả các linh kiện của thiết bị đã bị hư hỏng nặng sẽ không được đặt ra với điều kiện hàng hoá đã chịu thuế nhập khẩu, hoặc bị tiêu huỷ dưới sự giám sát của cơ quan có thẩm quyền với chi phí tiêu hủy do người giữ Sổ chịu.

Trường hợp hàng hóa bị mất cắp trong sự giám sát của cơ quan Hải quan thì Hải quan sẽ không đưa ra yêu cầu thanh toán thuế.

Trường hợp Sổ ATA bị mất cắp hoặc bị phá hủy thì khi Tổ chức bảo lãnh và cấp phát Sổ ATA và người giữ Sổ ATA yêu cầu, cơ quan Hải quan nước tạm nhập sẽ chấp nhận chứng từ thay thế Sổ ATA đó với thời hạn hiệu lực như Sổ gốc ban đầu.

Trường hợp hàng hoá không thể tái xuất do bị mất cắp, bị hư hỏng hay bị phá huỷ trong một tai nạn, hoặc khi Sổ ATA bị mất cắp, người giữ Sổ nên sớm đến cơ quan Hải quan nơi gần nhất để trình báo nhằm tránh những điều bất tiện xảy ra sau đó. Tổ chức bảo lãnh và cấp phát Sổ ATA cũng cần được thông báo sớm về việc này.

10.2. Nghiên cứu các quy định pháp luật của Việt Nam về tạm quản các nhóm hàng được nêu trong công ước ATA – Khả năng tham gia công ước của Việt Nam

10.2.1. Các quy định pháp luật của Việt Nam về tạm quản cho các nhóm hàng được nêu trong Công ước ATA

10.2.1.1. Quy định về các nhóm hàng tạm quản theo Công ước ATA

Theo Nghị định số 187/2013/NĐ-CP đề ngày 20/11/2013 quy định chi tiết thi hành Luật Thương mại về hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế và các hoạt động đại lý mua, bán, gia công và quá cảnh hàng hóa với nước ngoài thì việc tạm nhập tái xuất hàng hoá phải tuân thủ Phụ lục 01 của Nghị định về Danh mục hàng hóa cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu; phụ lục 02 về danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu theo giấy phép của Bộ Công thương và phụ lục 03 về danh mục hàng hóa thuộc diện quản lý chuyên ngành và nguyên tắc quản lý.

10.2.1.2. Hồ sơ hải quan đối với hàng tạm quản thuộc diện điều chỉnh của Sổ ATA

Theo quy định tại các điều 53, 54 của Nghị định 08/2015/NĐ-CP ngày 21/01/2015 :

* Đối với nhóm hàng hàng hóa tạm nhập – tái xuất, tạm xuất – tái nhập tham dự hội chợ, triển lãm, giới thiệu sản phẩm:

(i) Hồ sơ hải quan đối với hàng hóa tạm nhập – tái xuất bao gồm :

a) Tờ khai hải quan theo mẫu do Bộ Tài chính ban hành;

b) Chứng từ vận tải trong trường hợp hàng hóa vận chuyển bằng đường biển, đường hàng không, đường sắt: 01 bản chụp;

c) Văn bản có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền về tổ chức hội chợ, triển lãm (trừ tạm nhập – tái xuất để giới thiệu sản phẩm): 01 bản chụp;

d) Giấy phép nhập khẩu, văn bản thông báo kết quả kiểm tra chuyên ngành theo quy định của pháp luật có liên quan: 01 bản chính.

(ii) Hồ sơ hải quan đối với hàng hóa tạm xuất – tái nhập bao gồm :

a) Tờ khai hải quan theo mẫu do Bộ Tài chính ban hành;

b) Văn bản có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền về tổ chức hội chợ, triển lãm (trừ tạm xuất – tái nhập để giới thiệu sản phẩm): 01 bản chụp;

c) Giấy phép xuất khẩu, văn bản thông báo kết quả kiểm tra chuyên ngành theo quy định của pháp luật có liên quan: 01 bản chính.

(iii) Địa điểm làm thủ tục hải quan: thực hiện tại Chi cục Hải quan nơi có hội chợ, triển lãm, giới thiệu sản phẩm hoặc Chi cục Hải quan cửa khẩu.

* Đối với nhóm hàng thiết bị nghề nghiệp tạm nhập tái xuất, cụ thể hàng phục vụ công việc trong thời hạn nhất định bao gồm: Hội nghị, hội thảo, nghiên cứu khoa học, giáo dục, thi đấu thể thao, biểu diễn văn hóa, biểu diễn nghệ thuật, khám chữa bệnh, nghiên cứu và phát triển sản phẩm 

i) Hồ sơ hải quan đối với hàng hóa tạm nhập – tái xuất:

a) Tờ khai hải quan theo mẫu do Bộ Tài chính ban hành;

b) Chứng từ vận tải trong trường hợp hàng hóa vận chuyển bằng đường biển, đường hàng không, đường sắt (trừ trường hợp hàng hóa do người nhập cảnh mang theo đường hành lý): 01 bản chụp;

c) Văn bản về việc tham gia các công việc, hoạt động nghề nghiệp: 01 bản chụp;

d) Giấy phép nhập khẩu, văn bản thông báo kết quả kiểm tra chuyên ngành theo quy định của pháp luật có liên quan: 01 bản chính.

ii) Hồ sơ hải quan đối với hàng hóa tạm xuất – tái nhập:

a) Tờ khai hải quan theo mẫu do Bộ Tài chính ban hành;

b) Văn bản về việc tham gia các công việc, hoạt động nghề nghiệp: 01 bản chụp;

c) Giấy phép xuất khẩu, văn bản thông báo kết quả kiểm tra chuyên ngành theo quy định của pháp luật có liên quan: 01 bản chính.

iii) Địa điểm làm thủ tục hải quan: Thực hiện tại Chi cục Hải quan cửa khẩu.

10.2.1.3. Thủ tục hải quan đối với hàng tạm quản

Khai hải quan

– 03 nhóm hàng thuộc diện điều chỉnh của Công ước ATA sẽ được khai trên tờ khai giấy và đi kèm là bộ chứng từ hải quan.

– Người khai hải quan phải khai đầy đủ, chính xác, trung thực, rõ ràng các tiêu chí trên tờ khai hải quan và chịu trách nhiệm trước pháp luật về các nội dung đã khai.

– Người khai hải quan khai đầy đủ các tiêu chí trên tờ khai hải quan, ký tên, đóng dấu (trừ trường hợp người khai hải quan là cá nhân) trên tờ khai để nộp cho cơ quan hải quan.

Đăng ký tờ khai

– Việc đăng ký tờ khai hải quan được thực hiện ngay sau khi người khai hải quan khai, nộp đủ hồ sơ hải quan theo quy định và được cơ quan hải quan kiểm tra các điều kiện đăng ký tờ khai hải quan, bao gồm:

a) Kiểm tra tính đầy đủ, hợp lệ của các thông tin khai hải quan và các chứng từ thuộc hồ sơ hải quan;

b) Kiểm tra việc tuân thủ chế độ, chính sách quản lý và chính sách thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu;

c) Kiểm tra việc áp dụng biện pháp cưỡng chế tạm dừng thủ tục hải quan.

– Chi cục trưởng Chi cục Hải quan nơi tiếp nhận, xử lý hồ sơ căn cứ vào hồ sơ hải quan và thực tế hàng hóa để quyết định việc làm thủ tục hải quan.

– Trường hợp đủ điều kiện đăng ký tờ khai hải quan, cơ quan hải quan cấp số đăng ký tờ khai hải quan, quyết định việc kiểm tra hải quan theo quy định.

– Trường hợp không đủ điều kiện đăng ký tờ khai hải quan, cơ quan hải quan thông báo ngay lý do bằng văn bản cho người khai hải quan.

– Hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu trong thời hạn hiệu lực của tờ khai hải quan quy định tại Khoản 2 Điều 25 Luật Hải quan được áp dụng các chính sách quản lý hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; chính sách thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu có hiệu lực tại thời điểm đăng ký tờ khai.

Kiểm tra hồ sơ hải quan

– Việc kiểm tra hồ sơ hải quan thực hiện theo quy định tại Điều 32 Luật Hải quan. Cụ thể, khi kiểm tra hồ sơ hải quan, cơ quan hải quan kiểm tra tính chính xác, đầy đủ, sự phù hợp của nội dung khai hải quan với chứng từ thuộc hồ sơ hải quan, kiểm tra việc tuân thủ chính sách quản lý hàng hóa, chính sách thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu và các quy định pháp luật khác có liên quan. Kiểm tra hồ sơ hải quan cho các hàng hóa tạm nhập tái xuất được thực hiện trực tiếp bởi công chức hải quan.

– Việc kiểm tra hồ sơ phải được hoàn thành chậm nhất 02 giờ làm việc kể từ thời điểm cơ quan hải quan tiếp nhận đầy đủ hồ sơ hải quan.

– Trong quá trình kiểm tra chi tiết hồ sơ bởi công chức hải quan, nếu phát hiện sự không chính xác, không đầy đủ, không phù hợp giữa nội dung khai hải quan với chứng từ có liên quan thuộc hồ sơ hải quan; có dấu hiệu không tuân thủ chính sách quản lý hàng hóa, chính sách thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu và quy định khác của pháp luật có liên quan thì Chi cục trưởng Chi cục Hải quan nơi tiếp nhận, đăng ký tờ khai hải quan xem xét, quyết định việc kiểm tra thực tế hàng hóa.

– Trường hợp việc kiểm tra hồ sơ hải quan được thực hiện bởi công chức hải quan, Chi cục trưởng Chi cục Hải quan xem xét đề nghị của người khai hải quan, quyết định gia hạn thời gian nộp bản chính, một số chứng từ kèm theo tờ khai hải quan trong thời hạn không quá 30 ngày, kể từ ngày đăng ký tờ khai hải quan.

– Nội dung kiểm tra gồm: Kiểm tra tên hàng, mã số, số lượng, trọng lượng, khối lượng, chủng loại, chất lượng, xuất xứ, trị giá hải quan của hàng hóa. Kiểm tra đối chiếu sự phù hợp giữa thực tế hàng hóa với hồ sơ hải quan.

 Kiểm tra thực tế hàng hóa

– Đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu phải kiểm tra thực tế, Chi cục trưởng Chi cục Hải quan nơi tiếp nhận, xử lý hồ sơ hải quan quyết định hình thức, mức độ kiểm tra thực tế hàng hóa.

– Thời hạn hoàn thành việc kiểm tra thực tế hàng hóa chậm nhất 08 giờ làm việc kể từ thời điểm người khai hải quan xuất trình đầy đủ hàng hóa cho cơ quan hải quan. Trường hợp hàng hóa thuộc đối tượng kiểm tra chuyên ngành về chất lượng, y tế, văn hóa, kiểm dịch động vật, thực vật, an toàn thực phẩm theo quy định của pháp luật có liên quan thì thời hạn hoàn thành kiểm tra thực tế hàng hóa được tính từ thời điểm nhận được kết quả kiểm tra chuyên ngành theo quy định.

– Trường hợp phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật hải quan, Chi cục trưởng Chi cục Hải quan nơi tiếp nhận, xử lý hồ sơ hải quan, Chi cục trưởng Chi cục Hải quan nơi lưu giữ hàng hóa hoặc thủ trưởng cơ quan Hải quan quản lý địa điểm kiểm tra hàng hóa tập trung quyết định thay đổi mức độ, hình thức kiểm tra thực tế hàng hóa và chịu trách nhiệm về quyết định của mình.

– Công chức hải quan thực hiện kiểm trathực tế hàng hóa theo quyết định của Chi cục trưởng Chi cục Hải quan và căn cứ thông tin liên quan đến hàng hóa tại thời điểm kiểm tra; chịu trách nhiệm về kết quả kiểm tra đối với phần hàng hóa được kiểm tra.

– Các hình thức kiểm tra thực tế hàng hóa bao gồm công chức hải quan kiểm tra trực tiếp; kiểm tra bằng các phương tiện kỹ thuật, các biện pháp nghiệp vụ khác; kiểm tra thông qua kết quả phân tích, giám định hàng hóa.

– Trong quá trình kiểm tra thực tế hàng hóa nếu cần thiết phải thay đổi hình thức kiểm tra hàng hóa thì Chi cục trưởng Chi cục Hải quan nơi kiểm tra thực tế hàng hóa quyết định. Kết quả kiểm tra thực tế bằng máy soi, thiết bị soi chiếu kết hợp với cân điện tử và các thiết bị kỹ thuật khác là cơ sở để cơ quan hải quan ra quyết định việc thông quan hàng hóa.

– Nội dung kiểm tra gồm: Kiểm tra tên hàng, mã số, số lượng, trọng lượng, khối lượng, chủng loại, chất lượng, xuất xứ, trị giá hải quan của hàng hóa. Kiểm tra đối chiếu sự phù hợp giữa thực tế hàng hóa với hồ sơ hải quan.

– Trường hợp bằng các máy móc, thiết bị kỹ thuật hiện có tại Chi cục Hải quan, địa điểm kiểm tra hải quan, công chức hải quan kiểm tra thực tế hàng hóa không đủ cơ sở để xác định tính chính xác đối với nội dung khai của người khai hải quan về tên hàng, mã số, chủng loại, chất lượng, khối lượng, trọng lượng thì yêu cầu các tổ chức chuyên môn nghiệp vụ của cơ quan hải quan thực hiện việc phân tích phân loại hoặc giám định để xác định các nội dung trên.

– Trường hợp cơ quan hải quan không đủ điều kiện để xác định tính chính xác đối với nội dung khai của người khai hải quan thì cơ quan hải quan trưng cầu giám định của tổ chức giám định theo quy định của pháp luật và căn cứ kết quả giám định để quyết định việc thông quan hàng hóa.

Xử lý kết quả kiểm tra 

– Trường hợp người khai hải quan nhất trí với kết luận kiểm tra của cơ quan hải quan về tên hàng, mã số, xuất xứ, trọng lượng, chủng loại, chất lượng, trị giá hải quan của hàng hóa thì thực hiện việc khai bổ sung các nội dung theo yêu cầu của cơ quan hải quan và xử lý theo quy định pháp luật về thuế, pháp luật về xử lý vi phạm hành chính hoặc quy định của pháp luật liên quan.

– Trường hợp không nhất trí với kết luận kiểm tra của cơ quan hải quan về tên hàng, mã số, xuất xứ, trọng lượng, chủng loại, chất lượng, trị giá hải quan thì người khai hải quan thực hiện khiếu nại hoặc được lựa chọn cơ quan, tổ chức giám định để thực hiện việc giám định hàng hóa theo quy định của pháp luật. Trường hợp người khai hải quan lựa chọn cơ quan, tổ chức giám định, cơ quan hải quan căn cứ kết luận của cơ quan, tổ chức giám định để quyết định việc thông quan.

– Trường hợp cơ quan hải quan không nhất trí với kết quả giám định do người khai hải quan cung cấp, cơ quan hải quan lựa chọn cơ quan, tổ chức giám định và căn cứ vào kết quả giám định này để quyết định việc thông quan. Nếu người khai hải quan không đồng ý với kết luận kiểm tra của cơ quan hải quan thì thực hiện khiếu nại hoặc khởi kiện theo quy định của pháp luật.

10.2.1.4. Thời hạn tái xuất, tái nhập

(a) Hàng hóa tạm nhập khẩu để tham gia hội chợ, triển lãm thương mại tại Việt Nam phải được tái xuất khẩu trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày kết thúc hội chợ, triển lãm thương mại, giới thiệu sản phẩm đã đăng ký với cơ quan hải quan;

(b) Thời hạn tạm xuất khẩu hàng hóa để tham gia hội chợ, triển lãm thương mại, giới thiệu sản phẩm ở nước ngoài là một năm, kể từ ngày hàng hóa được tạm xuất khẩu; nếu quá thời hạn nêu trên mà chưa được tái nhập khẩu thì hàng hóa đó phải chịu thuế và các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật Việt Nam.

(c) Thời hạn tạm nhập – tái xuất, tạm xuất – tái nhập hàng hóa là các thiết bị nghề nghiệp, phục vụ công việc trong một thời gian nhất định phải đăng ký với cơ quan hải quan.

(d) Việc bán, tặng hàng hóa tại hội chợ, triển lãm, giới thiệu sản phẩm thực hiện theo quy định tại Điều 136, Điều 137 Luật Thương mại. Cụ thể :

– Hàng hoá, dịch vụ trưng bày, giới thiệu tại hội chợ, triển lãm thương mại tại Việt Nam được phép bán, tặng, cung ứng tại hội chợ, triển lãm thương mại; đối với hàng hóa nhập khẩu phải đăng ký với hải quan.

– Hàng hóa thuộc diện nhập khẩu phải có giấy phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền chỉ được bán, tặng sau khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp thuận bằng văn bản.

– Việc bán, tặng hàng hoá tại hội chợ, triển lãm thương mại phải tuân thủ các quy định về quản lý chuyên ngành nhập khẩu đối với hàng hóa đó.

– Hàng hóa được bán, tặng, dịch vụ được cung ứng tại hội chợ, triển lãm thương mại tại Việt Nam phải chịu thuế và các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật.

– Hàng hóa, dịch vụ của Việt Nam tham gia hội chợ, triển lãm thương mại ở nước ngoài được phép bán, tặng, cung ứng tại hội chợ, triển lãm.

– Việc bán, tặng hàng hóa thuộc diện cấm xuất khẩu nhưng đã được tạm xuất khẩu để tham gia hội chợ, triển lãm thương mại ở nước ngoài chỉ được thực hiện sau khi có sự chấp thuận của Thủ tướng Chính phủ.

– Hàng hóa thuộc diện xuất khẩu phải có giấy phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền chỉ được bán, tặng sau khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp thuận bằng văn bản.

– Hàng hóa, dịch vụ của Việt Nam tham gia hội chợ, triển lãm thương mại ở nước ngoài được bán, tặng, cung ứng ở nước ngoài phải chịu thuế và các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật.

10.2.1.5. Quy định về thuế đối với hàng tạm quản thuộc diện điều chỉnh của Sổ ATA

Theo Điều 103 – Thông tư 38/2015/TT-BTC quy định về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và quản lý thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, hàng hoá tạm nhập, tái xuất hoặc tạm xuất, tái nhập để tham dự hội chợ, triển lãm, giới thiệu sản phẩm; máy móc, thiết bị, dụng cụ nghề nghiệp tạm nhập, tái xuất hoặc tạm xuất, tái nhập để phục vụ công việc như: hội nghị, hội thảo, nghiên cứu khoa học, thi đấu thể thao, biểu diễn văn hóa, biểu diễn nghệ thuật, khám chữa bệnh thuộc đối tượng được miễn thuế nhập khẩu khi tạm nhập khẩu và thuế xuất khẩu khi tái xuất khẩu đối với hàng tạm nhập, tái xuất hoặc miễn thuế xuất khẩu khi tạm xuất khẩu và thuế nhập khẩu khi tái nhập khẩu đối với hàng tạm xuất tái nhập:

Hàng hóa thuộc đối tượng miễn thuế nêu trên nếu quá thời hạn tạm nhập – tái xuất hoặc tạm xuất – tái nhập thì phải nộp thuế.

Thủ tục, trình tự xét miễn thuế nói chung, trong đó có các nhóm hàng tạm nhập thuộc diện miễn thuế.

*Nộp và tiếp nhận hồ sơ xét miễn thuế:

a/Người nộp thuế tự xác định số tiền thuế được xét miễn đối với các trường hợp thuộc đối tượng xét miễn thuế; nộp hồ sơ cho cơ quan hải quan nơi có thẩm quyền xét miễn thuế. Trường hợp thẩm quyền xét miễn thuế là Bộ Tài chính, người nộp thuế xác định số tiền thuế được xét miễn và nộp hồ sơ đề nghị xét miễn thuế cho Tổng cục Hải quan;

Đối với hàng hóa nhập khẩu thuộc đối tượng xét miễn thuế, thời hạn nộp hồ sơ xét miễn thuế chậm nhất là 15 ngày làm việc kể từ ngày thông quan hoặc giải phóng hàng.

b/ Trường hợp hồ sơ xét miễn thuế được nộp trực tiếp tại cơ quan hải quan, công chức hải quan tiếp nhận và đóng dấu tiếp nhận hồ sơ, ghi thời gian nhận hồ sơ, ghi nhận số lượng tài liệu trong hồ sơ.

c/ Trường hợp hồ sơ xét miễn thuế được nộp bằng đường bưu chính, công chức hải quan đóng dấu ghi ngày nhận hồ sơ và ghi vào sổ văn thư của cơ quan hải quan.

d/ Trường hợp hồ sơ xét miễn thuế được nộp bằng giao dịch điện tử thì việc tiếp nhận, kiểm tra, chấp nhận hồ sơ xét miễn thuế do cơ quan hải quan thực hiện thông qua hệ thống xử lý dữ liệu điện tử.

Cơ quan hải quan có trách nhiệm kiểm tra hồ sơ xét miễn thuế do người nộp thuế khai và xử lý như sau:

a/ Trường hợp hồ sơ chưa đầy đủ thì thông báo cho người nộp thuế trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ để hoàn chỉnh hồ sơ;

b/ Ban hành quyết định miễn thuế theo quy định hoặc thông báo cho người nộp thuế biết lý do không thuộc đối tượng xét miễn thuế, số tiền thuế phải nộp trong thời hạn 15 ngày làm việc, kể từ ngày tiếp nhận đầy đủ hồ sơ và xử phạt theo quy định hiện hành (nếu có); trường hợp cần kiểm tra thực tế để có đủ căn cứ giải quyết hồ sơ thì thời hạn này có thể kéo dài tối đa là 50 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ.

Trên cơ sở quyết định miễn thuế, cơ quan hải quan nơi đăng ký tờ khai hải quan thanh khoản số tiền thuế được miễn, đóng dấu trên tờ khai hải quan gốc lưu tại đơn vị và tờ khai hải quan gốc do người nộp thuế lưu.

Đối với người nộp thuế là doanh nghiệp ưu tiên thuộc đối tượng xét miễn thuế theo Điều ước quốc tế, cơ quan hải quan thực hiện tạm thời miễn thuế theo kê khai của doanh nghiệp, không hạch toán vào hệ thống KT559 và thực hiện mở số theo dõi việc tạm thời miễn thuế.

Định kỳ 06 tháng/lần, doanh nghiệp thực hiện quyết toán với cơ quan hải quan về hàng hóa nhập khẩu miễn thuế. Doanh nghiệp lập bảng thống kê số tờ khai nhập khẩu (không phải nộp tờ khai hải quan), số tiền thuế được miễn … trong 06 tháng và các giấy tờ chứng minh thuộc đối tượng xét miễn thuế theo Điều ước quốc tế cho cơ quan hải quan nơi nhập khẩu hàng hóa.

Trên cơ sở kết quả quyết toán, cơ quan hải quan ban hành quyết định miễn thuế chính thức cho người nộp thuế theo quy định.

*Hàng hoá của các tổ chức, cá nhân từ nước ngoài được phép tạm nhập khẩu vào Việt Nam để dự hội chợ, triển lãm hoặc được nhập vào Việt Nam để làm hàng mẫu, quảng cáo nhưng sau đó không tái xuất mà làm quà biếu, quà tặng, quà lưu niệm cho các tổ chức, cá nhân Việt Nam: được xét miễn thuế đối với hàng hoá dùng làm tặng phẩm, quà lưu niệm cho khách đến thăm hội chợ, triển lãm có trị giá dưới 50 (năm mươi) nghìn đồng/một vật phẩm và tổng trị giá lô hàng nhập khẩu dùng để biếu, tặng không quá 10 (mười) triệu đồng.

*Hàng mẫu của các tổ chức, cá nhân từ nước ngoài gửi cho các tổ chức, cá nhân Việt Nam được thực hiện theo định mức xét miễn thuế là không vượt quá 30 (ba mươi) triệu đồng đối với tổ chức; và định mức miễn thuế không vượt quá 01triệu đồng đối với cá nhân hoặc trị giá hàng hoá vượt quá 01 triệu đồng nhưng tổng số thuế phải nộp dưới 50 nghìn đồng.

*Trong trường hợp chủ hàng vi phạm các chế độ tạm quản và hàng hóa buộc phải nộp thuế, theo quy định của Luật quản lý thuế số 78/2006/QH áp dụng đối với hàng hóa tạm quản thì thời hạn nộp thuế sẽ do cơ quan quản lý thuế tính thuế hoặc ấn định thuế, thời hạn nộp thuế là thời hạn ghi trên thông báo của cơ quan quản lý thuế.

*Đồng tiền nộp thuế là Đồng Việt Nam, trừ trường hợp nộp thuế bằng ngoại tệ theo quy định của Chính phủ.

*Bên nộp thuế thực hiện nộp tiền thuế vào ngân sách nhà nước:

i) TạiKho bạc Nhà nước;

ii) Tại cơ quan quản lý thuế nơi tiếp nhận hồ sơ khai thuế;

iii) Thông qua tổ chức được cơ quan quản lý thuế uỷ nhiệm thu thuế;

iv) Thông qua ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng khác và tổ chức dịch vụ theo quy định của pháp luật.

Kho bạc Nhà nước có trách nhiệm bố trí địa điểm, phương tiện, công chức thu tiền thuế bảo đảm thuận lợi cho người nộp thuế nộp tiền thuế kịp thời vào ngân sách nhà nước.

Cơ quan, tổ chức khi nhận tiền thuế hoặc khấu trừ tiền thuế phải cấp cho bên nộp thuế chứng từ thu tiền thuế.

Trong thời hạn tám giờ làm việc, kể từ khi thu tiền thuế của người nộp thuế, cơ quan, tổ chức nhận tiền thuế phải chuyển tiền vào ngân sách nhà nước.

Trường hợp người nộp thuế vừa có số tiền thuế nợ, thuế truy thu, tiền thuế phát sinh, tiền phạt thì việc thanh toán được thực hiện theo trình tự sau đây:

i) Tiền thuế nợ;

ii) Tiền thuế truy thu;

iii) Tiền thuế phát sinh;

iv) Tiền phạt.

Ngày đã nộp thuế được xác định là ngày :

– Kho bạc Nhà nước, ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng khác hoặc tổ chức dịch vụ xác nhận trên chứng từ nộp thuế của người nộp thuế trong trường hợp nộp thuế bằng chuyển khoản;

– Kho bạc Nhà nước, cơ quan quản lý thuế hoặc tổ chức được cơ quan quản lý thuế uỷ nhiệm thu thuế cấp chứng từ thu tiền thuế đối với trường hợp nộp tiền thuế trực tiếp bằng tiền mặt.

*Trong thời gian giải quyết khiếu nại, khởi kiện của người nộp thuế về số tiền thuế do cơ quan quản lý thuế tính hoặc ấn định, người nộp thuế vẫn phải nộp đủ số tiền thuế đó, trừ trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định tạm đình chỉ thực hiện quyết định tính thuế, quyết định ấn định thuế của cơ quan quản lý thuế.

*Trường hợp số tiền thuế đã nộp lớn hơn số tiền thuế được xác định theoquyết định giải quyết khiếu nại của cơ quan có thẩm quyền hoặc bản án, quyết định của Toà án thì người nộp thuế được hoàn trả số tiền thuế nộp thừa và được trả tiền lãi tính trên số tiền thuế nộp thừa.

*Việc gia hạn nộp thuế được xem xét trên cơ sở đề nghị của người nộp thuế theo một trong các trường hợp sau đây:

a/ Bị thiệt hại vật chất, gây ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất, kinh doanh do gặp thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn bất ngờ;

b/ Không có khả năng nộp thuế đúng hạn do gặp khó khăn đặc biệt khác theo quy định của Chính phủ.

*Người nộp thuế thuộc diện được gia hạn nộp thuế một phần hoặc toàn bộ tiền thuế phải nộp.

*Thời gian gia hạn nộp thuế không quá hai năm, kể từ ngày hết thời hạn nộp thuế.

*Chính phủ quy định chi tiết thời gian gia hạn nộp thuế đối với từng trường hợp cụ thể.

*Người nộp thuế không bị phạt chậm nộp tính trên số tiền thuế nợ trong thời gian gia hạn nộp thuế.

*Thủ trưởng cơ quan quản lý thuế quản lý trực tiếp căn cứ hồ sơ gia hạn nộp thuế để quyết định số tiền thuế được gia hạn nộp, thời gian gia hạn nộp thuế.

*Người nộp thuế thuộc diện được gia hạn nộp thuế phải lập và gửi hồ sơ gia hạn nộp thuế cho cơ quan quản lý thuế quản lý trực tiếp.

*Hồ sơ gia hạn nộp thuế bao gồm:

i) Văn bản đề nghị gia hạn nộp thuế, trong đó nêu rõ lý do, số tiền thuế, thời hạn nộp;

ii) Tài liệu chứng minh lý do gia hạn nộp thuế;

iii) Báo cáo số tiền thuế phải nộp phát sinh và số tiền thuế nợ.

10.2.2. Khả năng gia nhập Công ước ATA của Việt Nam

10.2.2.1. Đánh giá khả năng tham gia Công ước ATA của Việt Nam

a/Về bối cảnh quốc tế và nghĩa vụ thực hiện các cam kết quốc tế của Việt Nam khi xem xét gia nhập Công ước ATA, có thể nhận thấy đây là điểm thuận lợi cho Hải quan Việt Nam khi tham gia hệ thống Sổ tạm quản ATA.

Trong những năm qua, nhằm hỗ trợ việc thực hiện nhiệm vụ thuận lợi hóa thương mại đồng thời đảm bảo công tác quản lý của Hải quan các nước thành viên, WCO đã có nhiều biện pháp khuyến khích các nước thành viên áp dụng chế độ tạm quản thông qua việc tổ chức nhiều hội thảo, hội nghị giới thiệu, trình bày về những lợi ích và nguyên lý hoạt động của hệ thống Sổ ATA. Hải quan Việt Nam cũng đã tham gia một số hội thảo, hội nghị và tiếp cận dần nội dung nghiệp vụ này.

Trong khuôn khổ hợp tác của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Hiệp định tạo thuận lợi cho thương mại (Hiệp định TF) được thông qua tại Bali, Indonesia vào tháng 12/2013 đã quy định việc các nước thành viên, trong đó có Việt Nam tạo điều kiện thực hiện nghiệp vụ tạm quản hàng hóa.

Trong chuỗi các hoạt động của diễn đàn hợp tác Châu Á – Thái Bình Dương (APEC), Tiểu ban thủ tục hải quan (SCCP) đã đề ra Chương trình hành động tập thể (CAP), trong đó có nêu mục tiêu tham gia Công ước ATA nhằm thực hiện hiệu quả chức năng kiểm tra giám sát hải quan, bảo vệ an ninh quốc gia đồng thời tạo thuận lợi cho doanh nghiệp.

Trong khuôn khổ hợp tác ASEAN, Ủy ban các vấn đề hải quan (ECCM) cũng đã xây dựng chương trình hành động chung, trong đó khuyến khích các cơ quan hải quan các nước thành viên đẩy nhanh tiến độ áp dụng các quy định của Công ước ATA vào hoạt động nghiệp vụ hải quan trên cơ sở có sự trợ giúp kỹ thuật và tài chính của các nước đã từng có kinh nghiệm trong lĩnh vực này.

ICC/ WCF cũng khuyến khích và hỗ trợ kỹ thuật để các nước thực hiện chế độ tạm quản ATA. Việt Nam có thể tranh thủ sự hỗ trợ kỹ thuật này sau khi gia nhập Công ước ATA.

Như vậy, việc tham gia Công ước ATA là cần thiết và phù hợp với xu thế phát triển của thương mại thế giới đồng thời góp phần hiện thực hóa các cam kết quốc tế của Việt Nam trong các tổ chức quốc tế và các diễn đàn hợp tác đa phương.

b/ Về chủ trương chính sách của Chính phủ, của Bộ Tài chính và Ngành Hải quan, trong bối cảnh Việt Nam đang hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng thì nhu cầu tạm nhập tái xuất hoặc tạm xuất tái nhập hàng hóa ngày càng lớn bao gồm cả nhu cầu giới thiệu hàng hóa, hàng mẫu tại các hội chợ, triển lãm hay trong khuôn khổ các hoạt động xúc tiến thương mại tại một hay nhiều nước. Đối với xã hội và nền kinh tế nói chung, việc gia nhập Công ước ATA cũng là một hành động thiết thực phục vụ việc triển khai chủ trương cải cách thủ tục hành chính của Chính phủ theo tinh thần của Đề án 30.

Dưới góc độ của Bộ Tài chính, của Ngành Hải quan, cải cách hiện đại hóa hải quan được coi là nhiệm vụ cấp bách, tạo đà trong phát triển kinh tế giai đoạn hiện nay. Để hiện thực hóa công cuộc cải cách này, Tổng cục Hải quan đã triển khai hệ thống thông quan tự động VNACCS/VCIS, áp dụng cơ chế Một cửa quốc gia, hướng tới triển khai cơ chế Một cửa ASEAN, thông qua Luật Hải quan 2014,…Bên cạnh những công việc đó, việc tham gia thực hiện các chuẩn mực quốc tế về tạm quản hàng hóa bằng cách gia nhập Công ước ATA cũng là một việc làm phù hợp với tiến trình hiện đại hóa hải quan và các nội dung thuận lợi hóa thương mại mà Việt Nam nói chung, ngành Hải quan nói riêng đã cam kết với quốc tế. Liên quan đến vấn đề này, cuối năm 2014, Chính phủ đã chỉ đạo Bộ Tài chính phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan nghiên cứu khả năng tham gia Công ước Istanbul cũng về nghiệp vụ tạm quản. Tuy nhiên, qua nghiên cứu có thể thấy Công ước Istanbul là một công ước tạm quản rất lớn, điều chỉnh 11 nhóm hàng và bao gồm cả phương tiện vận tải xuất nhập cảnh với 02 quyển Sổ tạm quản là Sổ ATA (dành cho hàng hóa) và Sổ CPD (dành cho phương tiện vận tải). Trong điều kiện Ngành Hải quan đang nỗ lực hiện đại hóa với nhiều nội dung nhiệm vụ cấp bách cần giải quyết như xây dựng cơ sở pháp lý, chuyển đổi phương thức quản lý hải quan, ứng dụng công nghệ thông tin, bố trí nguồn lực…thì việc tham gia Công ước Istanbul với phạm vi điều chỉnh và đòi hỏi nhiều thay đổi lớn có thể chưa thực sự khả thi bằng việc tham gia Công ước ATA với phạm vi điều chỉnh 03 nhóm hàng. Tham gia Công ước ATA có thể coi là bước đệm an toàn để Việt Nam tính đến khả năng tham gia Công ước Istanbul sau này.

c/ Về cơ sở pháp lý, trước hết phải khẳng định việc gia nhập Công ước ATA tuân thủ quy định của Luật Ký kết, gia nhập và thực hiện Điều ước quốc tế năm 2005. Cụ thể :

– Tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng, cùng có lợi và những nguyên tắc cơ bản khác của pháp luật quốc tế ;

– Phù hợp với các quy định của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ;

– Phù hợp với lợi ích quốc gia, đường lối đối ngoại của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ;

Hơn nữa, những quy định pháp luật hải quan trong nước cơ bản tạo thuận lợi cho việc gia nhập Công ước ATA.

Luật Hải quan năm 2014 quy định việc áp dụng điều ước quốc tế, tập quán và thông lệ quốc tế liên quan đến hải quan, cụ thể:

– Trong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác với quy định của Luật Hải quan thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó.

– Đối với những trường hợp mà Luật Hải quan 2014 và các văn bản pháp luật khác của Việt Nam, điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên chưa có quy định thì có thể áp dụng tập quán và thông lệ quốc tế liên quan đến hải quan, nếu việc áp dụng tập quán và thông lệ quốc tế đó không trái với những nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam.

Tuy nhiên, một số nội dung cụ thể về tạm quản theo Công ước ATA cần được nội luật hóa trong hệ thống văn bản pháp luật hải quan để tạo cơ sở pháp lý vững chắc và đầy đủ cho việc thực thi Công ước ATA nếu Việt Nam quyết định gia nhập. Cụ thể :

– Về hồ sơ hải quan, hiện theo quy định trong Nghị định 08/2015/NĐ-CP, hồ sơ hải quan yêu cầu cho 03 nhóm hàng tạm quản thuộc diện điều chỉnh của Sổ ATA bao gồm nhiều loại giấy tờ như tờ khai hải quan, giấy phép xuất/ nhập khẩu của cơ quan quản lý chuyên ngành, giấy xác nhận của đơn vị tổ chức sự kiện, hội chợ, triển lãm, chứng từ vận tải… trong khi đó nếu Việt Nam gia nhập Công ước ATA thì Sổ ATA sẽ được coi là chứng từ hải quan duy nhất thay thế các giấy tờ nói trên. Như vậy, việc miễn trừ các loại giấy tờ, đặc biệt là các giấy phép xuất nhập khẩu của cơ quan quản lý chuyên ngành thực sự là một vấn đề, cần có sự thống nhất của các Bộ, ngành và phải được thể hiện trong một văn bản pháp lý chuyên biệt điều chỉnh chế độ tạm quản ATA.

– Thủ tục hải quan hiện nay theo quy định của Nghị định 08/2015/NĐ-CP thì cũng yêu cầu hàng hóa tạm nhập trải qua nhiều bước từ đăng ký, tiếp nhận tờ khai, xử lý tờ khai, kiểm tra hồ sơ giấy, kiểm tra thực tế hàng hóa và xử lý hàng hóa khi có vấn đề. Trong khi đó, nếu sử dụng Sổ ATA thì hàng hóa đến cửa khẩu, người giữ Sổ xuất trình Sổ và hàng hóa trước cơ quan Hải quan để kiểm tra đối chiếu nội dung khai báo trong Sổ với hàng hóa. Nếu các thông tin kê khai trong Sổ ATA khớp với nội dung hàng hóa thì cán bộ hải quan tiến hành xác nhận vào Sổ và kết thúc thủ tục hải quan cho hàng tạm nhập.Như vậy, việc chấp nhận thủ tục hải quan được đơn giản hóa theo Sổ ATA so với thủ tục hiện hành cũng cần phải được tính toán và đưa vào văn bản pháp luật.

– Thời hạn tạm quản các nhóm hàng theo Sổ ATA theo quy định pháp luật của Việt Nam là phù hợp và nằm trong giới hạn 01 năm giá trị hiệu lực của Sổ ATA theo quy định của Công ước ATA.

– Vấn đề hợp thức hóa Sổ ATA và xử lý các trường hợp như hàng hóa hoặc Sổ ATA bị mất cắp, bị hư hỏng do tai nạn hoặc thiên tai hoặc do gặp các trường hợp bất khả kháng cũng sẽ chỉ được giải quyết trong văn bản pháp luật hải quan sau khi Việt Nam tham gia Công ước.

– Liên quan đến vấn đề thuế, các quy định về miễn thuế, thời hạn nộp thuế, đồng tiền nộp thuế, trình tự nộp thuế, các trường hợp gia hạn nộp thuế hoặc thời gian gia hạn trong Luật quản lý thuế và Thông tư 38/2015/TT-BTC cơ bản phù hợp với tinh thần của Công ước ATA, đặc biệt phù hợp với cơ chế bảo lãnh theo Sổ ATA. Tuy nhiên, quy định cụ thể về các khoản thu khác cho 03 nhóm hàng thuộc diện điều chỉnh của Sổ ATA trong trường hợp chế độ tạm quản bị vi phạm hiện chưa có trong văn bản pháp luật của Việt Nam .

Tóm lại, liên quan đến việc rà soát, đối chiểu các quy định pháp luật của Việt Nam với nội dung Công ước ATA, có thể thấy, về cơ bản các quy định pháp luật trong nước phù hợp và tạo thuận lợi cho việc thực hiện. Tuy nhiên, thách thức của việc không thực hiện đầy đủ các cam kết quốc tế về tạm quản trong trường hợp Việt Nam tham gia nhưng chưa nội luật hóa được các quy định Công ước là không nhỏ và cần được giải quyết.

d/ Về nguồn lực thực hiện nội dung tạm quản ATA, có thể thấy sự chuẩn bị cơ sở vật chất cho việc thực hiện sẽ không lớn do hệ thống ATA không đòi hỏi đầu tư nhiều về máy móc, thiết bị hay phần mềm quản lý. Việc thông quan cho lô hàng tạm nhập chủ yếu thực hiện trên Sổ ATA. Máy móc, thiết bị phục vụ cho công tác thông quan hàng tạm quản phần lớn là thiết bị hỗ trợ kiểm tra thực tế hàng hóa. Thông thường, các lô hàng tạm nhập đều có số lượng hạn chế, không nhiều chủng loại nên việc kiểm tra thực tế hàng hóa sẽ không gây khó khăn cho cơ quan hải quan. Tuy nhiên, khó khăn lớn nhất ở đây là vấn đề con người. Do tạm quản theo Sổ ATA là một nội dung nghiệp vụ mới đối với Hải quan Việt Nam nên việc các cán bộ hải quan tiếp cận, nắm vững và thực hiện thủ tục hải quan cho các lô hàng tạm quản thực sự là một thách thức. Thách thức ở việc hiểu rõ các tiêu chí thông tin của Sổ ATA, cách xác nhận Sổ, hợp thức hóa Sổ bằng tiếng Anh và cách xử lý các vụ vi phạm chế độ tạm quản. Khó khăn về việc hấp thụ và chuyển hóa kiến thức tạm quản ATA vào thực tiễn không chỉ là vấn đề đối với riêng cán bộ hải quan mà còn là vấn đề đối với cán bộ Tổ chức bảo lãnh và cấp phát Sổ ATA (Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam – VCCI) và các cá nhân, doanh nghiệp Việt Nam. Để vận hành được cơ chế bảo lãnh ATA, cần thiết phải có những cán bộ hải quan am hiểu nghiệp vụ tạm quản, nắm rõ các thủ tục hành chính do ICC/WCF quy định để kết nối và làm việc với VCCI, các tổ chức bảo lãnh và cấp phát Sổ ATA nước ngoài, Hải quan các nước đối tác, các cá nhân và doanh nghiệp có liên quan. Bên cạnh đó, việc tuyên truyền lợi ích và hướng dẫn cách thức vận hành cơ chế bảo lãnh ATA cho cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam hiểu và tham gia tích cực cũng là một nhiệm vụ quan trọng đối với ngành Hải quan. Do vậy, công tác đào tạo, xây dựng năng lực cho cán bộ hải quan Việt Nam và bố trí nhân sự chuyên quản lĩnh vực nghiệp vụ tạm quản tại cấp Tổng cục xuống cấp chi cục là một yêu cầu đối với ngành Hải quan khi Việt Nam gia nhập Công ước ATA. Trong điều kiện nhân lực của Ngành hiện nay với phần lớn là các cán bộ trẻ có kiến thức, trình độ và đặc biệt có khả năng ngoại ngữ tốt thì việc tiếp nhận những kiến thức nghiệp vụ mới như ATA có thể đáp ứng được. Tuy nhiên, vẫn rất cần có những nhà quản lý kinh nghiệm và nhiệt huyết để xây dựng kế hoạch, chuẩn bị cơ sở, điều kiện và tổ chức triển khai nội dung nghiệp vụ này trong Ngành.

e/ Về quan hệ phối hợp giữa Hải quan và các cơ quan có liên quan, mối quan hệ công tác hiệu quả những năm qua cũng là điểm thuận lợi để ngành Hải quan thực hiện chế độ tạm quản. Qua nghiên cứu cơ chế bảo lãnh trong chế độ tạm quản, ta có thể thấy các đơn vị tham gia vào chuỗi bảo lãnh này, ngoài Hải quan, VCCI và doanh nghiệp là những chủ thể chính, còn bao gồm Ngân hàng nhà nước và các bộ, ngành hữu quan. Lâu nay, các đơn vị này đã có truyền thống hợp tác và phối hợp hiệu quả trong nhiều nội dung, thể hiện qua việc thành lập các Nhóm liên Bộ, liên ngành nghiên cứu và đề xuất gia nhập các điều ước quốc tế và thỏa thuận quốc tế liên quan đến lĩnh vực hải quan như Nhóm liên Bộ về đề xuất tham gia Công ước Kyoto sửa đổi, Nhóm liên Bộ về thực hiện cơ chế Một cửa, Nhóm liên Bộ về đề xuất tham gia Hiệp định TF… Do vậy, việc hình thành các Tổ/ Nhóm liên Bộ cùng phối hợp đề xuất gia nhập và triển khai thực hiện Công ước ATA là một nhiệm vụ cần thiết và khả thi đối với ngành Hải quan.

Đánh giá khả năng tham gia Công ước ATA của Việt Nam trên các giác độ bối cảnh quốc tế, bối cảnh trong nước, khuôn khổ pháp luật và nguồn lực hải quan, có thể nhận định việc gia nhập Công ước ATA là cần thiết và có tính khả thi.

10.2.2.2. Đề xuất những nội dung liên quan đến việc tham gia Công ước ATA của Việt Nam

Để có thể hiện thực hóa khả năng gia nhập Công ước ATA, Việt Nam nói chung, Tổng cục Hải quan nói riêng cần chuẩn bị các nội dung sau :

a/ Về cơ sở pháp lý

Nhìn chung, các quy định pháp lý hiện nay của Việt Nam hiện nay là phù hợp và tạo khuôn khổ pháp lý thuận lợi cho việc tham gia Công ước. Tuy nhiên, để thực hiện đầy đủ các quy định của Công ước sau khi Việt Nam gia nhập, Tổng cục Hải quan – Bộ Tài chính cần nghiên cứu đề xuất xây dựng một nghị định chuyên biệt về thực thi Công ước ATA, trong đó cần giải quyết các vấn đề như: công nhận Sổ ATA thay thế hồ sơ hải quan quốc gia cho hàng hóa tạm quản; miễn trừ yêu cầu các loại giấy tờ, đặc biệt là giấy phép xuất nhập khẩu song vẫn đảm bảo các chính sách mặt hàng của Chính phủ, có thể thông qua việc công bố công khai danh mục hàng cấm hoặc hạn chế xuất – nhập khẩu để các Tổ chức bảo lãnh và cấp phát Sổ ATA trong chuỗi bảo lãnh ATA biết, loại trừ hoặc hạn chế ngay từ khâu xem xét và cấp Sổ cho các mặt hàng thuộc danh mục hàng cấm và hạn chế xuất nhập khẩu của Việt Nam. Việc đơn giản hóa thủ tục và quy trình hải quan đối với hàng tạm quản, các quy định về hợp thức hóa Sổ ATA; xử lý hàng hóa và Sổ ATA trong các trường hợp bị mất cắp, bị hư hỏng do tai nạn, thiên tai hoặc do gặp các trường hợp bất khả kháng và các quy định cụ thể về thuế và các khoản thu khác áp dụng trong trường hợp hàng hóa không tuân thủ các điều kiện về tạm quản cũng cần được quy định trong Nghị định này.

b/ Về nguồn lực

Trước hết, liên quan đến thủ tục đề xuất tham gia Công ước ATA, cần thành lập một Nhóm liên Bộ làm việc về vấn đề này. Nhóm liên Bộ sẽ do Tổng cục Hải quan – Bộ Tài chính là đơn vị chủ trì với sự tham gia của các đơn vị nhưVụ Pháp chế, Vụ Hợp tác quốc tế, Vụ Chính sách thuế (Bộ Tài chính), VCCI, Bộ Công thương, Bộ Ngoại giao, Bộ Tư Pháp và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Nhóm sẽ làm việc theo Quy chế ban hành cùng Quyết định thành lập Nhóm. Nhiệm vụ của Nhóm là rà soát và đánh giá sự tương thích của hệ thống pháp luật Việt Nam cùng những yếu tố có liên quan với các quy định của Công ước ATA. Trên cơ sở đó, Nhóm sẽ soạn thảo Tờ trình Chính phủ về việc tham gia Công ước ATA. Hồ sơ trình cần được lấy ý kiến các Bộ, ngành hữu quan và cộng đồng doanh nghiệp trước khi trình Bộ Tài chính trình Chính phủ.

Sau khi Việt Nam tham gia Công ước ATA, công tác phân bổ nguồn lực và xây dựng năng lực cho cán bộ thực thi nghiệp vụ tạm quản cần đuợc tính đến. Cụ thể :

– Cần bố trí cán bộ chuyên theo dõi và xử lý vấn đề tạm quản từ cấp Tổng cục xuống cấp chi cục.

– Nhiệm vụ đào tạo, tập huấn cho cán bộ hải quan, cán bộ VCCI và doanh nghiệp vềkỹ thuật tạm quản phải được quan tâm sâu sát.

Các chi phí cho hoạt động của Nhóm liên Bộ về nghiên cứu, đề xuất tham gia Công ước ATA, chi phí đào tạo, tập huấn chuyên sâu nghiệp vụ tạm quản và các nội dung có liên quan cần được đảm bảo.

c/ Về công tác tuyên truyền

Tổng cục Hải quan cần phối hợp với VCCI xây dựng chương trình tuyên truyền, nâng cao nhận thức của Hải quan, Doanh nghiệp và các bên có liên quan về lợi ích và các nguyên tắc hoạt động của hệ thống Sổ ATA.

d/ Về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tạm quản

Hải quan Việt Nam cần tăng cường quan hệ hợp tác quốc tế trong lĩnh vực nghiệp vụ tạm quản nhằm thu hút và tranh thủ nguồn hỗ trợ kỹ thuật từ nước ngoài, nhất là sự hỗ trợ của các chuyên gia ICC/WCF, Hải quan các nước thành viên Công ước ATA và các tổ chức quốc tế khác. Nội dung hợp tác có thể là xây dựng những chương trình hỗ trợ kỹ thuật, hội nghị, hội thảo, các khóa đào tạo, tập huấn tổ chức tại Việt Nam dưới sự hướng dẫn của chuyên gia nước ngoài hoặc các chuyến khảo sát thực tế của cán bộ Việt Nam tại các nước.

 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

I. TÀI LIỆU TRONG NƯỚC

  1. Bộ Tài chính (2015), Thông tư số 38/2015/TT-BTC ngày 25/3/2015, quy định về thủ tục hải quan; kiểm tra, giám sát hải quan; thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và quản lý thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.
  2. Quốc hội (2005), Luật ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế số41/2005/QH11 ngày 24/6/2005.
  3. Quốc hội (2006), Luật Quản lý Thuế số 78/2006/QH11 ngày 29/11/2006.
  4. Quốc hội (2012), Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật quản lý thuế số 21/2012/QH13 ngày 20/11/2012.
  5. Quốc hội (2014), Luật Hải quan số 54/2014/QH13 ngày 23/6/2014.
  6. Thủ tướng Chính phủ (2015), Nghị định số 08/2015/NĐ-CP ngày 21/1/2015 quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Hải quan về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát, kiểm soát hải quan.

II. TÀI LIỆU NƯỚC NGOÀI

  1. 1.      ATA Convention.
  2. 2.      ATA Carnet Directory.
  3. 3.      ATA Manual.
  4. 4.      E-canada ATA Memorandum.
  5. 5.      Istanbul Convention.
  6. 6.      Temporary adminission detailed guidance from www.gov.uk
  7. 7.      Temporary importation regulation of Canada.
  8. 8.      Revised Kyoto Convention – Specific Annex G.

 

 


 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *