HÌNH THÀNH CỘNG ĐỒNG KINH TẾ ASEAN VÀ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI VIỆT NAM

HÌNH THÀNH CỘNG ĐỒNG KINH TẾ ASEAN VÀ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI VIỆT NAM

Phòng Khu vực

Vụ Hợp tác quốc tế – Bộ Tài chính

 5.1. Sự hình thành Cộng đồng kinh tế ASEAN

5.1.1. Quá trình hình thành

Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) là một tổ chức liên kết của khu vực Đông Nam Á, được thành lập vào ngày 8 tháng 8 năm 1967 tại Băng Cốc, Thái Lan theo Tuyên bố ASEAN (còn gọi là Tuyên bố Băng cốc) với 5 thành viên sáng lập là Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore và Thái Lan trên cơ sở mong muốn hình thành một tổ chức khu vực vì mục tiêu hòa bình, hợp tác và phát triển. Hiện nay, ASEAN đã trở thành một tổ chức hợp tác khu vực liên Chính phủ bao gồm 10 quốc gia Đông Nam Á là thành viên chính thức, trong đó ngoài 5 thành viên sáng lập có thêm 5 nước gia nhập là Brunei (năm 1984), Việt Nam (năm 1995), Lào (năm 1997), Myanmar (năm 1997) và Campuchia (năm 1999).

Với tầm nhìn xây dựng một cộng đồng ASEAN thân thiện, thúc đẩy hòa bình, ổn định, thịnh vượng và cùng hợp tác phát triển năng động, năm 2003, các nhà Lãnh đạo ASEAN đã nhất trí đề ra mục tiêu hình thành Cộng đồng ASEAN vào năm 2020. Tuy nhiên để thích ứng nhanh với tình hình quốc tế và khu vực cũng như trên cơ sở những thành tựu của ASEAN, tại Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 12 tháng 1/2007, Lãnh đạo các nước ASEAN đã quyết định đẩy nhanh thời điểm hình thành Cộng đồng ASEAN vào năm 2015. Cộng đồng ASEAN bao gồm ba trụ cột là Cộng đồng chính trị – an ninh ASEAN, Cộng đồng kinh tế ASEAN và Cộng đồng văn hóa – xã hội ASEAN. Đến nay ASEAN đã chính thức trở thành Cộng đồng và bắt đầu triển khai Tầm nhìn Cộng đồng ASEAN 2025.

Cộng đồng kinh tế ASEAN hướng tới đạt được bốn mục tiêu chính là:

+ Một thị trường đơn nhất và cơ sở  sản xuất chung, được xây dựng thông qua: Tự do lưu chuyển hàng hoá; Tự do lưu chuyển dịch vụ; Tự do lưu chuyển đầu tư; Tự do lưu chuyển vốn và Tự do lưu chuyển lao động có tay nghề;

+ Một khu vực kinh tế cạnh tranh, được xây dựng thông qua các khuôn khổ chính sách về cạnh tranh, bảo hộ người tiêu dùng, quyền sở hữu trí tuệ, phát triển cơ sở hạ tầng, thuế quan và thương mại điện tử;

+ Phát triển kinh tế cân bằng, được thực hiện thông qua các kế hoạch phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) và thực hiện sáng kiến hội nhập nhằm thu hẹp khoảng cách phát triển trong ASEAN;

+ Hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu, được thực hiện thông qua việc tham vấn chặt chẽ trong đàm phán đối tác và trong tiến trình tham gia vào mạng lưới cung cấp toàn cầu (WTO).

Cộng đồng kinh tế ASEAN đã chính thức được Lãnh đạo các nước ASEAN phê duyệt thành lập vào 31/12/2015 trong khuôn khổ Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 27 diễn ra tại Kuala Lumpur, Malaysia. Hiện nay, ASEAN là nền kinh tế lớn thứ 7 trên thế giới với tổng GDP là 2.600 tỉ USD và là một thị trường lớn với hơn 625 triệu dân. Về bản chất, Cộng đồng kinh tế ASEAN là một tiến trình hội nhập kinh tế khu vực, là sự mở rộng về phạm vi và nâng cao về mức độ tự do hóa, trong đó về cơ bản không còn thuế quan đối với hàng hóa và có sự lưu chuyển thông thoáng hơn về dịch vụ, đầu tư, vốn và lao động có tay nghề cũng như có sự hợp tác khá chặt chẽ về các lĩnh vực kinh tế ngành. Kết quả hợp tác và liên kết kinh tế ASEAN đã giúp mở rộng thị trường, tạo môi trường thuận lợi cho đầu tư – kinh doanh nội khối và tạo sự hấp dẫn thu hút đầu tư – kinh doanh từ bên ngoài vào ASEAN.

5.1.2. Kết quả Việt Nam tham gia Cộng đồng kinh tế ASEAN trong lĩnh vực tài chính

a) Đánh giá chung:

Ngày 28/7/1995, Việt Nam chính thức gia nhập ASEAN sau ba năm hoạt động với tư cách là quan sát viên. Hiện nay Việt Nam đã tham gia sâu rộng vào tất cả các lĩnh vực hợp tác trong 3 trụ cột và có những đóng góp quan trọng cho sự trưởng thành và lớn mạnh của ASEAN.

Riêng đối với trụ cột Cộng đồng kinh tế ASEAN, Việt Nam luôn chủ động, tích cực và có trách nhiệm tham gia hội nhập và hợp tác tài chính ASEAN, bắt đầu từ quá trình hội nhập nội khối theo chiều sâu thông qua việc thực hiện Hiệp định ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT) nhằm thiết lập Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) vào năm 1993, Hiệp định Khung về dịch vụ ASEAN (AFAS) năm 1995 và đến năm 2010 là Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN (ATIGA) và Hiệp định đầu tư toàn diện ASEAN năm 2012. Cùng với hội nhập nội khối ASEAN, Việt Nam đã cùng với chín nước thành viên ASEAN khác đã ký kết các Hiệp định thương mại tự do với sáu đối tác trong khu vực gồm Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Úc, New Zealand và Ấn Độ (FTA ASEAN+1). Quá trình hội nhập ASEAN đã thể hiện chiến lược chủ động hội nhập của Việt Nam, trong đó hội nhập kinh tế quốc tế làm trọng tâm, hỗ trợ chuyển dịch cơ cấu kinh tế, góp phần phát triển kinh tế đất nước, đóng góp vào quá trình thu hút mạnh mẽ đầu tư nước ngoài, góp phần mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của Việt Nam sang các thị trường lớn và đa dạng hóa nguồn cung nguyên liệu đầu vào cho sản xuất và kinh doanh, tăng sức cạnh tranh của Việt Nam so với các nước trong khu vực.

Song song với việc tham gia các hiệp định thương mại tự do nội khối và ngoại khối để thúc đẩy tự do hoá đầu tư và thương mại trong khu vực, Việt Nam tiếp tục là một thành viên tham gia tích cực, chủ động và có trách nhiệm, dần dần vượt lên trên Nhóm các nước đi sau (Brunei, Campuchia, Lào, Myanmar và Việt Nam) và tiến gần hơn đến Nhóm ASEAN-5 (Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore và Thái Lan) trong việc tham gia các sáng kiến hợp tác tài chính khu vực, góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, đồng thời từng bước biến những sáng kiến hợp tác khu vực thành lợi ích cụ thể cho quốc gia. Một số sáng kiến hợp tác tài chính ASEAN đã đạt được những thành tựu đáng ghi nhận thông qua việc khai thác tối đa và có chọn lọc những kết quả hợp tác tài chính khu vực ASEAN trong việc tăng cường thu hút, vận động và sử dụng hiệu quả những nguồn lực hỗ trợ từ bên ngoài để phục vụ cho quá trình cải cách tái cơ cấu nền kinh tế, hoàn thiện thể chế và chính sách tài chính, cải cách thủ tục hành chính, cải thiện môi trường đầu tư và góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

b) Kết quả tham gia cụ thể của Việt Nam:

* Chủ động tham gia và nghiêm túc thực thi các cam kết về thuế quan trong hội nhập nội khối:

Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN (ATIGA) đặt dấu mốc cho tiến trình hội nhập sâu của Việt Nam vào ASEAN với mức độ cắt giảm thuế quan sâu và rộng nhất so với các hiệp định thương mại tự do khác (0% đối với gần 98% số dòng thuế) và cũng là hiệp định có lộ trình cắt giảm được hoàn tất sớm nhất so với các hiệp định khác (năm 2018 là năm cuối lộ trình). Sau khi Hiệp định ATIGA chính thức có hiệu lực vào ngày 17/5/2010, Bộ Tài chính đã ban hành các Thông tư hướng dẫn thực thi thuế nhập khẩu áp dụng đối với hàng hóa nhập khẩu theo lộ trình đã cam kết trong ATIGA như Thông tư 161/2011/TT-BTC của Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt thực hiện Hiệp định ATIGA giai đoạn 2012-2014 (cắt giảm 6.897 dòng thuế, chiếm 72% tổng Biểu thuế xuất nhập khẩu, tập trung vào các ngành máy móc thiết bị điện, hóa chất, hàng thủy sản, quần áo, dệt may da giầy, sắt thép, gỗ, thiết bị quang học, sản phẩm công nghệ kỹ thuật cao)

Tiếp theo đó là Thông tư số 165/2014/TT-BTC ngày 14/11/2014 của Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt để thực hiện Hiệp định Thương mại ATIGA giai đoạn 2015-2018 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2015 (cắt giảm thêm 1.706 dòng thuế xuống mức thuế suất 0% tập trung vào các ngành máy móc phụ tùng, vải may mặc, hóa chất, sản phẩm bằng kim loại cơ bản, rau quả, giấy, mỡ dầu động/thực vật).

* Thực hiện các cam kết về thuế nhập khẩu theo hướng phát triển ngành sản xuất trong nước có bảo hộ chọn lọc:

Bên cạnh việc thực thi nghiêm chỉnh các cam kết trong ASEAN, Bộ Tài chính đã có các chính sách về thuế nhập khẩu theo hướng bảo hộ những ngành cần phát triển trong nước, góp phần quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Theo đó, trong khuôn khổ ATIGA, các nhóm hàng ta cần bảo hộ cao đối với sản xuất trong nước như ô tô, xe máy, phụ tùng linh kiện ô tô xe máy, dầu thực vật, hoa quả nhiệt đới, đồ điện dân dụng như tủ lạnh, máy điều hòa, sữa và các sản phẩm sữa, Bộ Tài chính đã có chính sách bảo hộ nhất định thông qua chính sách kéo dài lộ trình cắt giảm thuế hoặc thời điểm kết thúc lộ trình muộn nhất, theo đó nhóm mặt hàng trên sẽ về thuế suất 0% vào 1/1/2018 và riêng đối với xăng dầu là 2024. Chính sách này đã giúp những ngành sản xuất trong nước có thời gian thích nghi với lộ trình cắt giảm dần đều và có những điều chỉnh phù hợp.

* Tham gia Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN góp phần mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của Việt Nam sang các thị trường lớn trong khu vực, cải thiện quan hệ thương mại Việt Nam – ASEAN:

Kể từ khi Việt Nam chính thức gia nhập ASEAN năm 1995 cho đến nay, ASEAN luôn được xác định là một trọng tâm đối ngoại của Việt Nam và là một trong các đối tác thương mại quan trọng hàng đầu, tạo động lực giúp nền kinh tế Việt Nam duy trì tốc độ tăng trưởng và xuất khẩu. Với lợi thế là một khu vực phát triển năng động, gần gũi về vị trí địa lý, quan hệ thương mại giữa Việt Nam và ASEAN có mức tăng trưởng cao trong những năm qua. So với năm 2003, thương mại hai chiều ASEAN và Việt Nam (chỉ khoảng 8,8 tỷ USD) đã tăng hơn 4,7 lần, đạt 42 tỷ USD vào năm 2015. Tính trung bình trong cả giai đoạn 2003 – 2015, ASEAN chiếm khoảng 18% tổng kim ngạch thương mại của Việt Nam, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu trung bình của Việt Nam sang ASEAN khoảng 23% và nhập khẩu là 19%. Tính riêng trong năm 2015, ASEAN tiếp tục là thị trường xuất khẩu thứ ba của Việt Nam (sau Hoa Kỳ và EU), chiếm 11 % tổng kim ngạch xuất khẩu, với mức tăng trưởng 3,1%. Đồng thời là thị trường nhập khẩu thứ hai của Việt Nam (sau Trung Quốc), chiếm 11% tổng kim ngạch nhập khẩu.

Cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam sang ASEAN đang chuyển biến theo chiều hướng tích cực, được nâng cao cả về chất lượng và giá trị. Từ những mặt hàng nông sản sơ chế và nguyên nhiên liệu như gạo, cà phê, cao su, dầu thô có hàm lượng chế tác thấp, nước ta đã xuất khẩu nhiều mặt hàng tiêu dùng, hàng công nghiệp như linh kiện máy tính, dệt may, nông sản chế biến, mỹ phẩm với giá trị cao và ổn định. Việt Nam và các nước ASEAN khác cùng gia nhập các câu lạc bộ các nước xuất khẩu lớn nhất trên thế giới về gạo, cao su, cà phê, hạt điều, hàng dệt may.

* Chính sách cắt giảm thuế nhập khẩu của Việt Nam trong ASEAN góp phần đa dạng hóa nguồn cung nguyên liệu đầu vào cho sản xuất và kinh doanh:

ASEAN cũng là thị trường nhập khẩu quan trọng của Việt Nam với kim ngạch tăng đều từ  21,64 tỷ USD (năm 2013) lên 23,1 tỷ USD (năm 2014), đạt mức 23,8 tỷ USD (năm 2015). Tỷ trọng của khu vực này trong tổng nhập khẩu của Việt Nam từ các nước trên thế giới có xu hướng giảm dần đều từ 18,24% (năm 2012), xuống 16,37% (năm 2013), 15,6% (năm 2014) và 14% (năm 2015).

Việt Nam chủ yếu nhập khẩu từ ASEAN các mặt hàng sau: xăng dầu các loại; gỗ và sản phẩm gỗ; máy móc thiết bị dụng cụ và phụ tùng; các sản phẩm khác từ dầu mỏ…  

* Quá trình hội nhập ASEAN đã đóng góp vào quá trình thu hút mạnh mẽ đầu tư nước ngoài vào Việt Nam:

Việc gia nhập vào ASEAN năm 1995 đã góp phần tăng số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài từ thế giới nói chung và từ các nước trong khu vực nói riêng vào Việt Nam. Theo thống kê của Ngân hàng Thế giới (World Bank) số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam năm 1996 đạt 2,395 tỷ USD (tăng 23,2% so với năm 1994). Thống kê của Hội nghị liên hợp quốc về thương mại và phát triển (UNCTAD)[1] đã cho thấy mức độ đóng góp ngày càng cao của vốn FDI vào nền kinh tế Việt Nam với tỷ trọng của số vốn FDI thực hiện tích lũy trên GDP của Việt Nam năm 2014 đạt 48,9% so với thời điểm gia nhập Cộng đồng kinh tế ASEAN năm 1995 là 27,6%.

Theo Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), trong năm 2015 đã có 8 nước ASEAN có đầu tư FDI tại Việt Nam là Singapore, Malaysia, Thái Lan, Brunei, Indonesia, Philippines, Lào và Campuchia (Biểu đồ 5.1). Tổng số dự án FDI của 8 nước trên là 2.813 dự án với tổng vốn đầu tư đạt 59,05 tỷ USD, chiếm 14% tổng số dự án và 15% tổng vốn đầu tư của cả nước. Trong 8 nước ASEAN trên thì Singapore đứng đầu về đầu tư vào Việt Nam với 1.544 dự án và 35,1 tỷ USD, chiếm 54,9% tổng số dự án và 60% tổng vốn đầu tư của ASEAN tại Việt Nam. Singapore còn đứng thứ 3/101 nước có đầu tư FDI tại Việt Nam. Vốn đầu tư nước ngoài của Singapore không ngừng tăng lên trong những năm gần đây. Các dự án đầu tư của Singapore hoạt động có hiệu quả cao, đóng góp đáng kể cho giải quyết việc làm, xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế của Việt Nam, điển hình là Công ty liên doanh khu công nghiệp Việt Nam-Singapore (VSIP). Malaysia đứng thứ hai với 523 dự án và 13,4 tỷ USD tổng vốn đầu tư, chiếm 19% tổng số dự án và 23% tổng vốn đầu tư. Thái Lan đứng thứ ba với 419 dự án và 7,7 tỷ USD tổng vốn đầu tư, chiếm 15% tổng số dự án và 13,1% tổng vốn đầu tư. Hiện nay, các nhà đầu tư ASEAN đã đầu tư vào 18/18 ngành trong hệ thống phân ngành kinh tế quốc dân. Trong đó, vốn đầu tư tập trung nhiều nhất vào ngành công nghiệp chế biến chế tạo, ngành kinh doanh bất động sản và ngành xây dựng. Đến nay, các nhà đầu tư khối ASEAN đã có mặt tại 55/63 địa phương của cả nước, nhưng chủ yếu tập trung tại các địa phương có điều kiện cơ sở hạ tầng thuận lợi và khu vực phát triển kinh tế năng động nhất của cả nước như thành phố Hồ Chí Minh, Bà Rịa-Vũng Tàu, Ninh Thuận, Bình Dương, Hà Nội, Hải Dương.

Biểu đồ 5.1. Tỷ trọng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của các nước ASEAN tại Việt Nam

 

 

Nguồn: Tác giả tính toán trên số liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư

* Quá trình hội nhập về dịch vụ tài chính trong ASEAN góp phần vào quá sự phát triển của thị trường bảo hiểm và thị trường chứng khoán Việt Nam:

Trong khuôn khổ ASEAN, Việt Nam cùng với các nước ASEAN đã ký kết Gói cam kết thứ 6 (năm 2015) về dịch vụ tài chính. Cam kết của Việt Nam trong Gói cam kết 6 tương đương với cam kết của Việt Nam trong WTO. Cụ thể cam kết mở cửa thị trường của Việt Nam như sau:

+ Đối với lĩnh vực bảo hiểm, Việt Nam cho phép nhà đầu tư nước ngoài cung cấp dịch vụ bảo hiểm qua biên giới với đối tượng sử dụng là công ty có vốn đầu tư nước ngoài, người nước ngoài làm việc tại Việt Nam, các lĩnh vực mở cửa bao gồm bảo hiểm vận tải quốc tế, tái bảo hiểm, môi giới bảo hiểm, môi giới tái bảo hiểm và các dịch vụ phụ trợ. Việt Nam cũng cho phép nhà đầu tư nước ngoài được thành lập công ty bảo hiểm có 100% vốn nước ngoài. Tuy nhiên, Việt Nam không cho phép thành lập chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài tại Việt Nam trừ chi nhánh bảo hiểm phi nhân thọ. 

Trong lĩnh vực bảo hiểm, tham gia Diễn đàn các nhà quản lý Bảo hiểm ASEAN (AIRM) đã giúp Việt Nam tăng cường công tác trao đổi thông tin chính sách với các nước ASEAN về tình hình phát triển của thị trường bảo hiểm ASEAN, chính sách quản lý của các thị trường bảo hiểm khu vực, tiến độ triển khai các giải pháp tài chính và bảo hiểm rủi ro thiên tai. Năm 2013, Việt Nam đã tổ chức thành công Hội nghị các nhà quản lý bảo hiểm ASEAN tại Đà Nẵng với vai trò là Chủ tịch. Hội nghị đã mang lại kết quả tích cực trong việc đề xuất các giải pháp phát triển thị trường bảo hiểm trong khối ASEAN góp phần hướng tới việc hình thành Cộng đồng Kinh tế ASEAN vào năm 2015.

Đối với thị trường bảo hiểm, thị trường bảo hiểm đang ngày càng thể hiện được vai trò, vị trí trong nền kinh tế – xã hội. Sau 20 năm gia nhập ASEAN, 9 năm gia nhập WTO cho đến hết năm 2015, thị trường bảo hiểm của Việt Nam đã không ngừng phát triển mạnh mẽ cả về quy mô lẫn chất lượng dịch vụ. Quy mô thị trường tăng từ 37 doanh nghiệp (năm 2006) lên tới 61 doanh nghiệp, hoạt động trong các lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm phi nhân thọ, tái bảo hiểm và môi giới bảo hiểm với 752 chi nhánh, 852 văn phòng đại diện và trên 350.000 nhân viên đại lý trong năm 2015. Có 26 doanh nghiệp bảo hiểm (01 doanh nghiệp Singapore) có vốn FDI và nhiều nhà đầu tư chiến lược nước ngoài đầu tư vào doanh nghiệp bảo hiểm trong nước, góp phần nâng cao năng lực tài chính, năng lực quản trị điều hành, đa dạng hóa và nâng cao chất lượng sản phẩm bảo hiểm. Trong năm 2015 tổng doanh thu toàn thị trường ước đạt 81.374 tỷ đồng, chiếm khoảng 2% GDP, tăng 21,9% so với năm 2014 và đạt mức tăng trưởng cao nhất trong 20 năm qua.

Các dịch vụ bảo hiểm được đa dạng hóa, đến nay đã bao quát hầu hết các loại hình tài sản của mọi thành phần kinh tế, mọi ngành kinh tế; đa dạng loại hình bảo hiểm từ bảo hiểm tài sản thiệt hại, bảo hiểm hàng hóa vận chuyển, bảo hiểm hàng không, bảo hiểm hàng hải cho đến bảo hiểm bảo lãnh, bảo hiểm tín dụng và rủi ro tài chính, gián đoạn kinh doanh, bảo hiểm nông nghiệp, bảo hiểm thủy sản…

+ Đối với lĩnh vực chứng khoán, Việt Nam cho phép nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài cung cấp dịch vụ qua biên giới đối với các dịch vụ chuyển thông tin, dịch vụ tư vấn và dịch vụ phụ trợ. Nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài được phép thành lập hiện diện thương mại dưới hình thức văn phòng đại diện và liên doanh. Giới hạn vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài vào các công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ không quá 49%, tuy nhiên được phép thành lập công ty 100% vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng đã tăng cường kết nối và hợp tác quốc tế, đặc biệt là thúc đẩy di chuyển luồng vốn đầu tư của khu vực ASEAN và Việt Nam trên thị trường vốn. Hiện nay, Việt Nam đã cho phép thành lập chi nhánh của các công ty chứng khoán nước ngoài cung cấp một số dịch vụ nhất định gồm các phân ngành dịch vụ quản lý tài sản, các dịch vụ thanh toán và thanh toán bù trừ, cung cấp và chuyển thông tin tài chính, tư vấn, trung gian và các dịch vụ phụ trợ. Việt Nam không cam kết đối với phương thức di chuyển thể nhân.

Việc mở cửa thị trường trong lĩnh vực dịch vụ tài chính đã góp phần gia tăng luồng vốn đầu tư gián tiếp vào Việt Nam. Trong giai đoạn 2000-2005 thị trường mới được hình thành với quy mô còn hạn chế, mức vốn hóa thị trường chỉ đạt khoảng 1% GDP với 02 công ty niêm yết. Từ năm 2006, quy mô thị trường đã có bước phát triển vượt bậc với mức vốn hóa lên 23% GDP vào năm 2006 với  193 công ty, 2 chứng chỉ quỹ niêm yết với tổng khối lượng niêm yết là 2.556 triệu chứng khoán. Trên thị trường trái phiếu, có 459 trái phiếu niêm yết với khối lượng đạt 756 triệu trái phiếu.

Trong giai đoạn từ năm 2007 đến nay, thị trường chứng khoán đã thu hút được sự quan tâm lớn của nhà đầu tư trong và ngoài nước mặc dù cũng chịu ảnh hưởng nặng nề của cuộc khủng hoảng tài chính thế giới 2008-2009. Quy mô thị trường giảm 50% trong năm 2008 xuống chỉ còn bằng 20% GDP. Thị trường chứng khoán đã dần ổn định trở lại và tăng trưởng bền vững hơn. Hết năm 2015, vốn hóa thị trường đạt 1.298,53 nghìn tỷ đồng, tương đương 31,3% GDP, gấp 2,27 lần so với mức của năm 2007; mức vốn hóa bình quân năm giai đoạn 2007-2015 là 995 nghìn tỷ đồng, gấp 4,19 lần so với mức bình quân năm giai đoạn 2001-2006. Các dịch vụ chứng khoán được cung cấp bởi các tổ chức kinh doanh chứng khoán ngày càng đa dạng, gồm các dịch vụ như tư vấn đầu tư, môi giới, bảo lãnh phát hành (đối với công ty chứng khoán); hoặc dịch vụ tư vấn đầu tư, quản lý danh mục đầu tư, quản lý quỹ đầu tư (đối với công ty quản lý quỹ). Nhờ đó, tự do hóa các dịch vụ chứng khoán được thúc đẩy, hoạt động đầu tư trên thị trường chứng khoán lành mạnh hơn, nâng cao chất lượng dịch vụ trên thị trường, nghiệp vụ của các tổ chức kinh doanh dịch vụ tiếp cận dần với các chuẩn mực quốc tế. Hiện nay, cả nước có 81 công ty chứng khoán, 45 công ty quản lý quỹ với trình độ công nghệ, quản trị ngày càng được nâng cao tiệm cận các tiêu chuẩn quốc tế. Qua đó, các tổ chức kinh doanh chứng khoán đã thực sự trở thành trung gian tài chính giữa nhà đầu tư với thị trường, đóng góp tích cực cho công tác tư vấn cổ phần hóa, tư vấn phát hành và sáp nhập, tái cấu trúc doanh nghiệp.

Đồng thời, Việt Nam đang chuẩn bị hình thành thị trường chứng khoán phái sinh (dự kiến vận hành năm 2016); hình thành cơ chế tài chính cho quỹ đầu tư bất động sản, đề án phát triển hệ thống các quỹ hưu trí tự nguyện, quỹ hưu trí; phát triển thị trường trái phiếu chuyên biệt… góp phần thu hút các nhà đầu tư chuyên nghiệp, đặc biệt các nhà đầu tư nước ngoài tham gia vào thị trường. Từ tháng 6/2015, Chính phủ đã cho phép tăng tỷ lệ sở hữu cho nhà đầu tư nước ngoài tham gia thị trường chứng khoán Việt Nam, điều này thể hiện nỗ lực của Việt Nam trong việc tiếp tục mở cửa hơn nữa thị trường chứng khoán phù hợp với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.

* Quá trình hội nhập về dịch vụ kế toán kiểm toán trong ASEAN đã góp phần đổi mới chế độ tài chính, kế toán, kiểm toán theo chuẩn mực quốc tế:

Theo cam kết trong ASEAN, Việt Nam không duy trì bất cứ hạn chế nào đối với loại hình cung cấp dịch vụ qua biên giới của các công ty kế toán, kiểm toán ở nước ngoài cho các doanh nghiệp Việt Nam, cho phép cá nhân, tổ chức của Việt Nam có thể sử dụng dịch vụ kế toán kiểm toán tại nước ngoài; các công ty kế toán, kiểm toán nước ngoài được phép thành lập tất cả các hình thức hiện diện thương mại tại Việt Nam, bao gồm 100% vốn nước ngoài, liên doanh, hợp doanh, công ty trách nhiệm hữu hạn và kể cả việc thành lập chi nhánh và được đối xử bình đẳng như các doanh nghiệp kế toán, kiểm toán của Việt Nam.

Việt Nam đã ban hành các văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động kế toán, kiểm toán theo hướng phù hợp với tiêu chuẩn, chuẩn mực quốc tế và tuân thủ các cam kết hội nhập quốc tế. Cụ thể là Nghị định 30/2009/NĐ-CP ngày 30/2/2009 đã ban hành một số quy định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 105/2004/NĐ-CP ngày 30/3/2004 của Chính phủ liên quan đến hình thức pháp lý doanh nghiệp, yêu cầu về thành lập doanh nghiệp, trong đó có các quy định đối với các doanh nghiệp kế toán, kiểm toán nước ngoài. Luật Kiểm toán độc lập đã được ban hành năm 2011 tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho hình thức cung cấp dịch vụ kế toán, kiểm toán qua biên giới, các hình thức pháp lý về thành lập doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam theo nguyên tắc không phân biệt đối xử giữa doanh nghiệp kiểm toán trong nước và nước ngoài. Trong giai đoạn từ năm 2001-2005, Bộ Tài chính đã ban hành 26 chuẩn mực kế toán Việt Nam dựa trên cơ sở hệ thống chuẩn mực kiểm toán quốc tế.

Trong giai đoạn từ 2010 – 2015, Bộ Tài chính tiến hành cập nhật lại 26 chuẩn mực kế toán Việt Nam đã ban hành theo hướng tiệm cận với thông lệ quốc tế, phù hợp với chuẩn mực kế toán quốc tế. Song song với việc cập nhật những chuẩn mực đã ban hành, Bộ Tài chính tiếp tục nghiên cứu, xây dựng và ban hành những chuẩn mực mà Việt Nam còn thiếu so với hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế đặc biệt là các chuẩn mực liên quan đến thị trường vốn bao gồm: Các chuẩn mực kế toán về công cụ tài chính (IFRS 07, IAS 32, IAS 39) đã được triển khai nghiên cứu giai đoạn 1 nhằm mục đích trước mắt là tiếp thu các nguyên tắc và phương pháp để soạn thảo, ban hành Thông tư hướng dẫn áp dụng chuẩn mực kế toán quốc tế về trình bày và thuyết minh công cụ tài chính (Thông tư 210/2009/TT-BTC), đồng thời triển khai soạn thảo Thông tư hướng dẫn kế toán công cụ tài chính phái sinh.

Bên cạnh đó, Thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau về dịch vụ kế toán, kiểm toán trong ASEAN (MRA) đã được các nước thành viên ASEAN ký kết ngày 25/8/2014 nhằm tạo thuận lợi cho việc di chuyển giữa các nước thành viên ASEAN của các chuyên gia cung cấp các dịch vụ kế toán, kiểm toán, theo đó kế toán viên đăng ký và được chứng nhận ở một nước ASEAN về việc đáp ứng một số  tiêu chí chuyên môn sẽ được công nhận là kế toán viên của khu vực ASEAN. Tuy nhiên, người có chứng chỉ kế toán viên chuyên nghiệp tiêu chuẩn ASEAN chỉ được làm việc trong các doanh nghiệp kế toán, kiểm toán, không được hành nghề độc lập với tư cách cá nhân. Nếu muốn trở thành kiểm toán viên hành nghề và ký báo cáo kiểm toán, một cá nhân cần đáp ứng đủ các quy định trong nước hiện hành (gồm quy định về chứng chỉ kiểm toán viên, cập nhật kiến thức, đăng ký với cơ quan có thẩm quyền…). 

Về phía Việt Nam, lợi ích mang lại ở việc kiểm toán viên của Việt Nam sẽ được các nước trong khu vực thừa nhận về tiêu chuẩn, trình độ chuyên môn và khi có đủ điều kiện theo quy định của Thỏa thuận thì sẽ được đăng ký có tên trong danh bạ kế toán viên chuyên nghiệp tiêu chuẩn ASEAN, được sang làm việc tại các doanh nghiệp kế toán kiểm toán của các nước trong khu vực nếu đủ điều kiện.

* Tham gia và triển khai có hiệu quả các các cam kết hội nhập hải quan khu vực và các cam kết hợp tác kinh tế, tạo thuận lợi thương mại trong các hiệp định thương mại tự do nội khối và ngoại khối, góp phần tăng năng lực cạnh tranh của Việt Nam so với các nước trong khu vực:

Việt Nam đã tham gia ký kết các Hiệp định hải quan ASEAN nhằm tạo hành lang và cơ sở pháp lý toàn diện cho các hoạt động hợp tác và hội nhập hải quan ASEAN; ký kết và triển khai Hiệp định và Nghị định thư xây dựng và thực hiện cơ chế một cửa ASEAN; Nghị định thư thực hiện Danh mục Biểu thuế Hài hòa ASEAN để xây dựng một danh mục hàng hóa chung giữa các nước ASEAN và phù hợp với việc chuyển đổi của Hệ thống hài hòa hóa của Tổ chức hải quan thế giới; Nghị định thư xây dựng Hệ thống Quá cảnh Hải quan ASEAN để xây dựng một cơ chế quá cảnh hải quan giữa các nước ASEAN với thuận lợi hơn về mặt quy trình nghiệp vụ và cách thức thực hiện (thông qua hệ thống điện tử), tiết kiệm hơn về thời gian và chi phí cho các giao dịch thương mại quá cảnh; triển khai Kế hoạch Chiến lược Phát triển Hải quan ASEAN trong các giai đoạn 1995-2000, 2000-2005, 2005-2010 và 2010-2015; ký kết và triển khai các chương trình hợp tác kinh tế và thuận lợi hóa thương mại trong các hiệp định thương mại tự do nội khối và ngoại khối.

Một điểm nổi bật trong lĩnh vực hải quan là việc ký kết và triển khai thành công Hiệp định và Nghị định thư xây dựng và thực hiện Cơ chế một cửa ASEAN. Việc triển khai cơ chế một cửa quốc gia hướng tới Cơ chế một cửa ASEAN không chỉ xuất phát từ nhu cầu hội nhập và thực hiện cam kết quốc tế nhằm tạo thuận lợi thương mại, phục vụ cho tiến trình hình thành Cộng đồng kinh tế ASEAN mà còn xuất phát từ nhu cầu nội tại của Chính phủ Việt Nam nhằm thực hiện cải cách hành chính trong các cơ quan quản lý nhà nước. Ngay sau thời điểm các văn kiện về việc xây dựng và thực hiện Cơ chế một cửa ASEAN có hiệu lực vào năm 2008, Việt Nam đã nỗ lực chuẩn bị mọi điều kiện cần thiết về mặt cơ sở pháp lý và quy trình thủ tục trong nước, về mặt cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin cũng như nâng cao nhận thức của các chủ thể có liên quan để thực hiện Cơ chế một cửa của Việt Nam. Đến tháng 9/2015, Việt Nam đã công bố chính thức thực hiện Cơ chế một cửa quốc gia và là một trong 5 nước ASEAN gồm Indonesia, Malaysia, Singapore, Thái Lan và Việt Nam đã thực kết nối kỹ thuật với Cơ chế một cửa ASEAN vào ngày 8/9/2015. Việc thực hiện Cơ chế một cửa quốc gia và Cơ chế một cửa ASEAN mở ra cơ hội đơn giản và hài hòa hóa thủ tục hải quan và quản lý biên giới, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp trong việc thực hiện hoạt động xuất nhập khẩu, đơn giản hóa các yêu cầu về hồ sơ chứng từ qua đó rút ngắn thời gian và giảm chi phí giao dịch, góp phần nâng cao lợi thế cạnh tranh cho hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam. Bên cạnh đó, thông qua quá trình hội nhập ASEAN, hải quan Việt Nam tiếp cận với những tiêu chuẩn, thông lệ quốc tế hiện đại, góp phần vào quá trình hoàn thiện khuôn khổ pháp luật của Việt Nam.

* Chủ động tham gia các lĩnh vực hợp tác về thuế giữa các nước ASEAN và ký kết các Hiệp định thuế song phương với các nước nhằm tạo môi trường đầu tư ổn định và minh bạch:

Việt Nam đã ký kết Hiệp định thuế với 8/9 nước ASEAN, trừ Campuchia đang trong quá trình đàm phán. Việc Việt Nam ký kết Hiệp định thuế đối với hầu hết các nước ASEAN như vậy đã tạo ra một môi trường pháp lý về thuế ổn định, minh bạch và tránh đánh thuế hai lần (nhất là đảm bảo các ưu đãi thuế đầu tư đến được với nhà đầu tư), góp phần đưa Việt Nam trở thành một điểm đến hấp dẫn cho các nhà đầu tư của các nước trong khu vực, trong đó có Singapore, Malaysia và Thái Lan đang là 3/10 nước đầu tư lớn nhất ở Việt Nam. Thành tựu này của ngành thuế cũng giúp nâng cao vị thế của ngành thuế Việt Nam trong cộng đồng thuế ASEAN và mở rộng hơn các quan hệ của ngành Thuế Việt Nam trong cộng đồng Thuế ASEAN, đóng góp vào quá trình hội nhập kinh tế ASEAN của Việt Nam.

* Tích cực tham gia các sáng kiến trong khuôn khổ phát triển thị trường vốn nhằm chuẩn bị các điều kiện cần thiết để hội nhập thị trường tài chính:

Việt Nam tham gia các sáng kiến để tăng cường các dòng vốn tự do hơn, kết nối hơn nữa các thị trường vốn ASEAN và tăng cường đầu tư trong khu vực ASEAN. Các sáng kiến đang được triển khai nhằm tăng cường kết nối giữa các thị trường gồm có: Cơ chế giải quyết Tranh chấp và Cưỡng chế thực thi, Khung đánh giá cho bản cáo bạch chung ASEAN, Khung khổ pháp lý cho phép Chào bán qua Biên giới đối với các Quỹ đầu tư tập thể (CIS), Khung rà soát thuận lợi cho việc niêm yết tại nước khác (secondary listing), Chuẩn mực công bố thông tin ASEAN, Thẻ điểm Quản trị Công ty, Công nhận chéo lẫn nhau về Chứng chỉ chuyên môn và kinh nghiệm của người hành nghề, Kết nối Giao dịch (ASEAN Trading Link). Qua các sáng kiến này, các tổ chức phát hành, các nhà đầu tư và các nhà trung gian môi giới chứng khoán khu vực ASEAN có thể tiến hành đầu tư xuyên biên giới một cách tiện lợi hơn, với chi phí giảm thiểu thông qua các sáng kiến kết nối các thị trường. Trong giai đoạn trước mắt, Việt Nam tham gia ở góc độ hài hòa hóa các quy tắc và quy định, trước khi chuyển sang các mục tiêu chiến lược hơn để đạt được hội nhập sâu hơn của các thị trường vốn sau 2015.

Trong số các sáng kiến này, Việt Nam đã liên tục tham gia hoạt động đánh giá Thẻ điểm Quản trị Công ty ASEAN các năm từ 2012 đến nay cùng với 5 nước ASEAN khác là Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore và Thái Lan. Việt Nam đã cùng các nước ASEAN thành lập cơ chế liên kết thông tin giữa các Sở giao dịch chứng khoán như website chung, qua đó cung cấp thông tin về các mã cổ phiếu ASEAN, thông tin về bộ chỉ số FTSE ASEAN và hợp tác trong lĩnh vực marketing – truyền thông về chứng khoán.  Thông qua các cơ chế này, theo thống kê gần dây, người truy cập trang web đã thường quan tâm đến thị trường chứng khoán Việt Nam. Việc các cổ phiếu của HNX và HOSE cùng hiển thị trong rổ cổ phiếu ASEAN FTSE là một thành công về hình ảnh của hai Sở giao dịch chứng khoán Việt Nam, đồng thời mở rộng cơ hội cho các nhà đầu tư quốc tế tiếp cận thị trường chứng khoán Việt Nam. 

* Khai thác có hiệu quả nguồn lực khu vực góp phần phát triển cơ sở hạ tầng tại Việt Nam:

Sáng kiến về tài trợ cơ sở hạ tầng trong ASEAN thông qua Quỹ Cơ sở hạ tầng ASEAN (AIF) được thành lập năm 2010 nhằm huy động nguồn lực khu vực để đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng trong khu vực. Việt Nam đã chủ động tham gia Qũy AIF và khai thác có hiệu quả những nguồn lực hỗ trợ từ AIF để phục vụ phát triển cơ sở hạ tầng của Việt Nam. Việt Nam đã ký kết vay vốn từ Quỹ Cơ sở hạ tầng ASEAN (AIF) cho dự án Phát triển lưới truyền tải của Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, với tổng số vốn vay Quỹ AIF là 100 triệu USD thực hiện trong giai đoạn 2014-2016.

* Việt Nam đã cùng các thành viên khác trong khu vực xây dựng các kiến trúc tài chính khu vực thông qua kênh Hội nghị Bộ trưởng Tài chính ASEAN và Bộ trưởng Tài chính ASEAN+3.

Kênh Hội nghị Bộ trưởng Tài chính ASEAN và Hội nghị Bộ trưởng ASEAN+3 được hình thành từ rất sớm theo sự hình thành của hợp tác ASEAN (1995) và ASEAN+3 (1997). Đây cũng là hai kênh hợp tác cao nhất trong lĩnh vực tài chính của khu vực. Với vai trò là một thành viên tích cực và có trách nhiệm, Việt Nam đã tham gia vào cả hai kênh hợp tác trên và góp phần đưa ra những sáng kiến, đề xuất nhằm xây dựng cơ sở kiến trúc hội nhập tài chính khu vực. Trong đó, nổi bật là cơ chế giám sát kinh tế khu vực; phát triển thị trường trái phiếu ASEAN+3; củng cố mạng lưới an toàn tài chính khu vực, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô.

Cơ chế giám sát kinh tế trong ASEAN và ASEAN+3 được các Bộ trưởng Tài chính khu vực đề xuất lần lượt vào các năm 1997 và 2000. Thông qua cơ chế giám sát kinh tế khu vực, Việt Nam và các nước thành viên khác đã có trao đổi để gia tăng hiểu biết về tình hình tài chính, kinh tế của khu vực và giữa các thành viên, từ đó đưa ra các chính sách phù hợp. Trong giai đoạn gần đây, khi tình hình kinh tế khu vực và quốc tế có những biến động mạnh và gây tác động tiêu cực tới môi trường kinh tế trong nước, việc nhìn nhận, đánh giá và phối hợp chính sách kinh tế giữa khu vực đã giúp Việt Nam có những ứng đối chính sách chính xác và kịp thời, góp phần giảm thiểu biến động và ổn định tình hình kinh tế vĩ mô trong nước.

5.2. Thách thức đối với Việt Nam

Tham gia vào Cộng đồng kinh tế ASEAN sẽ là cơ hội quý báu để Việt Nam tiếp tục đạt được những mục tiêu tăng cường hợp tác và hội nhập kinh tế tài chính khu vực, từ đó nhanh chóng bắt kịp với xu thế và trình độ phát triển kinh tế khu vực và thế giới. Bên cạnh những thuận lợi lớn, Việt Nam đang đứng trước những thách thức cơ bản về cải thiện chất lượng cơ sở hạ tầng, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, cân bằng lợi ích – chi phí quốc gia cùng với những thách thức riêng trong lĩnh vực tài chính như: trình độ phát triển thị trường tài chính, hoàn thiện khung pháp lý trong nước, tăng cường phối hợp và chủ động chuyển hóa cam kết trong khu vực để phục vụ lợi ích quốc gia. 

5.2.1. Thách thức chung

Thứ nhất, hạ tầng cơ sở của Việt Nam so với một số nước trong ASEAN còn khá lạc hậu. Theo Báo cáo năng lực cạnh tranh toàn cầu 2015 của Diễn đàn Kinh tế Thế giới[2], chỉ số năng lực cạnh tranh của Việt Nam xếp thứ 56/140 nền kinh tế trong đó thứ hạng các nhóm chỉ số cụ thể là: thể chế (85), cơ sở hạ tầng (76), môi trường kinh tế vĩ mô (69), y tế và giáo dục tiểu học (61), giáo dục và đào tạo trung học (95), hiệu quả thị trường hàng hóa (83), hiệu quả thị trường lao động (52), phát triển thị trường tài chính (84), trình độ công nghệ (92), quy mô thị trường (33), mức độ phát triển doanh nghiệp (100), cải cách (73). Riêng Chỉ số cấu phần về chất lượng cơ sở hạ tầng của Việt Nam xếp thứ 76/140 nền kinh tế (tương ứng với 3,8/7 điểm) và hạ tầng cơ sở của Việt Nam so với một số nước trong ASEAN còn khá lạc hậu (Biểu đồ 2). Từ năm 2006 đến nay, hạ tầng cơ sở của ta không có nhiều cải thiện, xếp thứ 5 trong ASEAN, đứng sau Singapore, Malaysia, Thái Lan, Indonesia. Yếu kém về kết cấu hạ tầng là một trong những cản trở đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế, làm chi phí đầu vào của doanh nghiệp tăng và cản trở môi trường kinh doanh. Yếu kém về kết cấu hạ tầng là một trong những cản trở đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế, làm chi phí đầu vào của doanh nghiệp tăng và cản trở môi trường kinh doanh.

Biểu đồ 5.2. Chỉ số năng lực cạnh tranh của Việt Nam và trung bình chỉ số năng lực cạnh tranh của Singapore, Malaysia, Thái Lan, Indonesia

 

Nguồn: Tác giả tính toán dựa trên Báo cáo năng lực cạnh tranh toàn cầu của Diễn đàn Kinh tế thế giới

Thứ hai, thách thức về cạnh tranh từ góc độ doanh nghiệp. Do năng lực của các doanh nghiệp nội địa còn hạn chế về quy mô, năng lực điều hành, khả năng cạnh tranh, các doanh nghiệp Việt Nam sẽ phải đối mặt với sức ép cạnh tranh từ các doanh nghiệp khác trong khu vực xét cả về phương diện tại thị trường trong nước cũng như thị trường nước ngoài khi ta xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ, đặc biệt là trong bối cảnh các nước ASEAN có đặc điểm sản xuất khá tương đồng và có những thế mạnh chung trong nhiều lĩnh vực.

Về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam, so với thời điểm trước khi gia nhập ASEAN, một số ngành (dệt may, da giầy…) đã từng bước tham gia vào chuỗi giá trị cung ứng toàn cầu nhưng số lượng các doanh nghiệp chưa nhiều và đóng góp giá trị gia tăng thấp. Theo Báo cáo Triển vọng phát triển châu Á năm 2015 của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) công bố ngày 24/3/2015, có 36% doanh nghiệp Việt Nam tham gia vào chuỗi sản xuất định hướng xuất khẩu, tỷ lệ này là khá thấp so với con số gần 60% ở Malaysia và Thái Lan; có 21% doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu.

Đối với dịch vụ tài chính, với mức cam kết mở cửa thị trường sâu rộng đối với lĩnh vực bảo hiểm và chứng khoán như hiện tại, Việt Nam hiện đã thực hiện đúng cam kết theo lộ trình hình thành Cộng đồng ASEAN. Tuy nhiên, với định hướng hội nhập tài chính sau 2015, Việt Nam cần cân nhắc tới một số lĩnh vực mà hiện nay Việt Nam chưa mở cửa thị trường như vấn đề bảo hiểm sức khỏe, mở cửa chi nhánh bảo hiểm nhân thọ nước ngoài, cung cấp dịch vụ chứng khoán qua biên giới… đây đều là cần lĩnh vực mà ta đang bảo lưu việc mở cửa thị trưởng để bảo vệ thị trường trong nước. Dự kiến đến năm 2025, thực hiện mục tiêu chung là mở cửa hoàn toàn trong ASEAN, các nội dung này sẽ phải mở cửa và đây sẽ là thách thức đáng kể của Việt Nam trong giai đoạn tới.

Đối với xuất khẩu dịch vụ ra nước ngoài, theo lộ trình mở cửa, các nước ASEAN khác cũng phải có nghĩa vụ gỡ bỏ dần các rào cản tiếp cận thị trường trong lĩnh vực chứng khoán và bảo hiểm, do vậy, các doanh nghiệp Việt Nam sẽ có cơ hội thâm nhập thị trường các nước trong khu vực ASEAN để cung cấp dịch vụ tài chính. Tuy nhiên, thách thức nằm ở chỗ doanh nghiệp của ta năng lực còn hạn chế và sẽ gặp phải những rào cản kỹ thuật tại thị trường nước ngoài như yêu cầu về hình thức pháp lý, yêu cầu mức vốn tối thiểu, các quy định về cấp phép, trình độ chuyên môn, năng lực tài chính…

Trong thu hút vốn đầu tư gián tiếp, mặc dù trong những năm gần đây, tình hình quản trị công ty của các doanh nghiệp niêm yết của Việt Nam có những cải thiện đáng kể, song vẫn còn nhiều hạn chế. Theo Báo cáo Thẻ điểm quản trị công ty ASEAN năm 2013 – 2014 (bao gồm Philippines, Indonesia, Singapore, Thái Lan, Malaysia và Việt Nam), Việt Nam xếp hạng thấp nhất trong hầu hết các nhóm tiêu chí đánh giá (quyền của cổ đông, trách nhiệm của hội đồng quản trị, vai trò của cổ đông, đối xử công bằng giữa các cổ đông). Điều này gây khó khăn cho các doanh nghiệp Việt Nam trong việc cạnh tranh thu hút vốn đầu tư khi Cộng đồng Kinh tế chung ASEAN được thành lập.

Thứ ba, Việt Nam còn gặp thách thức trong việc giải quyết tốt và hài hòa mối quan hệ giữa hội nhập sâu và toàn diện với giữ vững độc lập chủ quyền, định hướng xã hội chủ nghĩa; cân bằng giữa lợi ích quốc gia và trách nhiệm thành viên ASEAN; giữa lợi ích trong ASEAN và nghĩa vụ đóng góp của Việt Nam trong ASEAN; giữa mục tiêu kinh tế và mục tiêu Chính trị – An ninh.

Bản chất của ASEAN là một tổ chức hợp tác khu vực liên Chính phủ, bình đẳng chủ quyền và ra quyết định trên cơ sở đồng thuận; là sự hợp tác của các nước vừa và nhỏ, với sự đa dạng về đặc điểm kinh tế – chính trị – xã hội và cùng mở rộng hợp tác trên cơ sở nâng dần mẫu số chung về lợi ích. Do sự khác biệt về lợi ích và ưu tiên giữa các quốc gia, việc đạt được đồng thuận và hiệu quả hợp tác ASEAN luôn là một quá trình tham vấn phức tạp và kéo dài, kể cả trong quá trình thỏa thuận, đàm phán để liên kết sâu rộng và mở cửa thị trường. Việc duy trì đoàn kết, thống nhất và vai trò chủ đạo của ASEAN ở khu vực nhiều khi gặp khó khăn do nhiều nước ASEAN theo đuổi những tính toán phức tạp trong quan hệ với các nước lớn bên ngoài ASEAN.

5.2.2. Thách thức trong lĩnh vực tài chính

Thứ nhất, thị trường tài chính Việt Nam phát triển còn chưa vững chắc, trình độ phát triển của thị trường còn thấp so với một số nước ASEAN: Quy mô thị trường cổ phiếu còn nhỏ so với các nước khác. Giá trị vốn hóa của thị trường theo giá hiện hành của các công ty niêm yết của nước ta năm 2015 là 1.359.566 tỷ đồng (tương đương 34,5% GDP), trong khi con số này ở Malaysia là 383 tỷ USD, Thái Lan là 349 tỷ USD (năm 2015)[3]. Thị trường trái phiếu còn hạn chế về loại hình trái phiếu, quy mô và thành viên tham gia, thể hiện ở tỷ lệ huy động tài chính qua kênh các tổ chức tài chính có tỷ lệ áp đảo so với kênh trái phiếu, trong khi các nước trong khu vực có tỷ lệ này thấp hơn nhiều. Thị trường chứng khoán Việt Nam quy mô còn nhỏ, chưa thực sự trở thành kênh huy động vốn cho nền kinh tế. Bên cạnh đó, vấn đề giám sát hoạt động của khu vực tài chính còn nhiều bất cập, hệ thống hạ tầng thông tin và chế độ kế toán, hạch toán vẫn còn khá lạc hậu so với các nước trong khu vực, dẫn tới những cản trở nhất định trong việc tăng cường giám sát thị trường theo hướng hiện đại, hiệu quả. Năng lực hoạt động và khả năng cạnh tranh của các tổ chức kinh doanh chứng khoán còn hạn chế và chưa có một hệ thống nhà đầu tư tổ chức đủ tiềm lực để định hướng và tạo tiền đề phát triển bền vững cho thị trường chứng khoán.

Quy mô thị trường bảo hiểm còn nhỏ so với các nước khác, số lượng sản phẩm bảo hiểm tuy nhiều song chưa đa dạng, kênh phân phối bảo hiểm chưa chuyên nghiệp… Tỷ lệ doanh thu phí bảo hiểm trên GDP của Việt Nam năm 2015 mới chỉ đạt mức 2%, thấp hơn so với mức trung bình của khối ASEAN (3,35%), châu Á (5.37%) và thế giới (6,3%). Đồng thời, kể từ khi gia nhập ASEAN và sau đó là gia nhập WTO, mức độ cạnh tranh của thị trường bảo hiểm diễn ra trên quy mô rộng và mức độ gay gắt hơn, đặc biệt là sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp bảo hiểm đang hoạt động tại Việt Nam với các doanh nghiệp bảo hiểm tại nước ngoài vốn có kinh nghiệm lâu năm trong lĩnh vực bảo hiểm, có tiềm lực tài chính mạnh cũng như khả năng quản trị rủi ro tốt hơn. Hơn nữa, sự phát triển của thị trường tài chính Việt Nam cũng làm gia tăng cạnh tranh giữa các doanh nghiệp bảo hiểm với các dịch vụ tài chính khác như thu hút tiền gửi tiết kiệm, chứng khoán, kinh doanh bất động sản…

Thứ hai, việc triển khai và thực thi những cam kết trong ASEAN đặt ra những khó khăn nhất định để tiếp tục hoàn thiện thể chế, khung khổ pháp lý thông qua nội luật hóa các cam kết, điều chỉnh chính sách pháp luật.

Trong lĩnh vực kế toán kiểm toán, Thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau về kế toán kiểm toán tuy đã được ký kết nhưng vẫn đặt ra những thách thức nhất định để kế toán viên chuyên nghiệp tiêu chuẩn ASEAN thực sự được tự do hành nghề tại các nước ASEAN. Thỏa thuận chỉ quy định về cấp chứng nhận kế toán viên chuyên nghiệp theo chuẩn ASEAN (ACPA) trên cơ sở công nhận lẫn nhau về mặt chuyên môn và điều kiện để một kế toán viên chuyên nghiệp được công nhận là Kế toán viên chuyên nghiệp tiêu chuẩn ASEAN nhưng vẫn bị ràng buộc bởi các luật pháp và quy định trong nước của nước sở tại. Do vậy, xét về thực chất, lợi ích khai thác từ Thỏa thuận là không nhiều vì để làm việc được tại nước sở tại, Kế toán viên chuyên nghiệp tiêu chuẩn ASEAN sẽ gặp phải các rào cản tại nước sở tại. Trong quá trình nội luật hóa cam kết, Việt Nam cần hoàn thiện khung Quy chế đánh giá, là tài liệu quy định về các thủ tục, trình tự, quy chuẩn, điều kiện để được công nhận là kế toán viên chuyên nghiệp theo chuẩn ASEAN (ACPA) và để được hành nghề sau khi đã được công nhận là ACPA.

Trong lĩnh vực bảo hiểm, Việt Nam đang hướng tới tuân thủ đầy đủ các nguyên tắc quản lý, giám sát theo khuyến nghị của Hiệp hội các nhà quản lý Bảo hiểm quốc tế và tăng cường năng lực giám sát thị trường cũng như xây dựng các nguyên tắc cơ bản và khuyến khích doanh nghiệp bảo hiểm triển khai các chuẩn mực về quản trị doanh nghiệp. 

Trong lĩnh vực chứng khoán, các quy định về chào bán, phát hành, phân phối chứng khoán; công bố thông tin, các chuẩn mực kế toán, kiểm toán…còn nhiều hạn chế do vướng các luật pháp về kinh tế, pháp luật về dân sự, chưa đáp ứng các chuẩn mực chung trong khu vực. Hiện tại, đối với các sáng kiến kết nối thị trường vốn, Việt Nam mới chỉ tham gia ở mức độ học tập, chia sẻ quan điểm. Việc tham gia vào thị trường vốn ASEAN đặt ra yêu cầu nâng cấp cơ sở hạ tầng, hệ thống công nghệ thông tin của thị trường để phù hợp với tiêu chuẩn chung của khu vực trong khi các điều kiện cơ sở hạ tầng kết nối của Việt Nam còn chưa đủ điều kiện để đáp ứng nhu cầu kết nối với khu vực.

Thứ ba, việc triển khai một số cam kết gặp khó khăn như cơ chế một cửa vì là nội dung mới, chưa có tiền lệ và yêu cầu sự phối hợp và tham gia của nhiều cơ quan trong bối cảnh hạ tầng công nghệ thông tin không đồng bộ và khuôn khổ pháp lý cần phải hoàn thiện nhiều. Cơ chế điều phối, giám sát việc thực hiện các hoạt động hợp tác chưa thực sự chặt chẽ dẫn đến mức độ tham gia vẫn còn hạn chế so với mục tiêu mong muốn, một số đơn vị còn thiếu nguồn lực cán bộ tham gia công tác hợp tác và hội nhập. Việc thực hiện giảm thuế theo các cam kết quốc tế, đặc biệt trong những năm tới khi thuế nhập khẩu cơ bản về 0% theo các cam kết của các hiệp định thương mại tự do (FTA) sẽ có tác động đáng kể đến thu ngân sách nhà nước, tác động đến việc điều chỉnh chính sách trong nước, đặc biệt là chính sách tài chính.

1. ADB (2015), ASEAN Corporate Governance Scorecard.

2. ADB (2015), Asia Development Outlook 2015: Financing Asia’s Future Growth.

3. Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Tình hình đầu tư nước ngoài 12 tháng năm 2015. Truy cập từ http://fia.mpi.gov.vn/tinbai/4220/Tinh-hinh-dau-tu-nuoc-ngoai-12-thang-nam-2015

4. Bộ Ngoại giao, Giới thiệu về ASEAN. Truy cập từ http://asean.mofa.gov.vn/ 

5. Diễn đàn Kinh tế thế giới, Báo cáo năng lực cạnh tranh toàn cầu 2015 – 2016. Truy cập từ http://reports.weforum.org/global-competitiveness-report-2015-2016/economies/#economy=VNM

6. Ngân hàng thế giới, Giá trị vốn hóa của các công ty niêm yết. Truy cập từ http://data.worldbank.org/indicator/CM.MKT.LCAP.CD

7. UNCTAD (2015), World Investment Report 2015.

 


 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *