GIÁM SÁT VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ VỐN NHÀ NƯỚC VÀO SẢN XUẤT KINH DOANH TẠI DOANH NGHIỆP

GIÁM SÁT VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ VỐN NHÀ NƯỚC VÀO SẢN XUẤT KINH DOANH TẠI DOANH NGHIỆP

Thạc sĩ Nguyễn Thị Ngọc Khánh

Cục Tài chính Doanh nghiệp – Bộ Tài chính

14.1. Lý thuyết về giám sát tài chính doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp có vốn nhà nước

Giám sát là hoạt động theo dõi thường xuyên, liên tục của chủ thể giám sát đối với khách thể giám sát về các nội dung giám sát. Giám sát tài chính đối với doanh nghiệp có thể được hiểu là việc theo dõi, thanh tra, kiểm tra, đánh giá các vấn đề liên quan đến tài chính, chấp hành chính sách pháp luật về tài chính của doanh nghiệp.

Để cấu thành nên một hệ thống giám sát cần có ít nhất 4 yếu tố cơ bản gồm: (i) Chủ thể giám sát, (ii) Đối tượng bị giám sát, (iii) Nội dung giám sát, (iv) Phương thức giám sát.

Chủ thể giám sát: Tùy theo đặc điểm sở hữu vốn của doanh nghiệp mà chủ thể quản lý/giám sát của doanh nghiệp cũng khác nhau. Trường hợp có sự tách rời giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng vốn thì mô hình tổ chức bộ máy giám sát không giống với trường hợp có sự gắn liền giữa chủ sở hữu vốn và người trực tiếp quản lý, sử dụng vốn, điều này sẽ dẫn đến sự khác biệt về chủ thể quản lý và giám sát doanh nghiệp. Tuy nhiên, tựu chung lại, đối với DNNN và vốn Nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp, sẽ có 3 nhóm chủ thể giám sát chính bao gồm: (i) Cơ quan quản lý nhà nước về tài chính, (ii) Chủ sở hữu, và (iii) bản thân doanh nghiệp.

Nội dung giám sát: Nội dung giám sát là khác nhau giữa các chủ thể khác nhau. Theo thông lệ quốc tế, mỗi chủ thể sẽ có những mối quan tâm khác nhau đến tình hình tài chính của doanh nghiệp như được thể hiện tại Bảng 14.1.

Cụ thể hơn, Nhà nước dưới góc độ là nhà đầu tư vốn (chủ sở hữu vốn) tại doanh nghiệp thường tập trung giám sát những nội dung sau:

–  Cơ cấu vốn đầu tư của doanh nghiệp và các hoạt động, các ngành nghề, linh vực kinh doanh;

– Tình hình huy động, sử dụng các nguồn vốn đầu tư dài hạn của doanh nghiệp;

– Tình hình bảo toàn và phát triển vốn đã đầu tư vào doanh nghiệp;

– Hiệu quả hoạt động về kinh tế, tài chính và xã hội của DNNN và DN có vốn nhà nước;

– Tình trạng sức khỏe tài chính của doanh nghiệp (mức độ lành mạnh và an toàn về tài chính của doanh nghiệp và các biện pháp quản trị rủi ro tài chính của doanh nghiệp.

Bảng 14.1. Mối quan hệ giữa chủ thể giám sát – nội dung giám sát

Chủ thể giám sát

Cơ quan quản lý nhà nước

Nhà đầu tư (chủ sở hữu)

Hội đồng quản trị/Ban giám đốc

Đội ngũ quản lý doanh nghiệp

Các vấn đề quan tâm chính

Quản trị doanh nghiệp

Công khai và minh bạch

Tính liêm chính và đạo đức nghề nghiệp

Các quyền và đối xử công bằng giữa các cổ đông

Hiệu suất và lợi nhuận

Tính bền vững của doanh nghiệp

Quản trị doanh nghiệp

Thu hồi trên suất đầu tư

Tạo ra giá trị cho các chủ sở hữu

Quản trị doanh nghiệp

Quản trị rủi ro

Tạo ra giá trị cho các chủ sở hữu

Nâng cao hiệu quả hoạt động

 Mặt khác, dưới góc độ là cơ quan quản lý Nhà nước, nội dung giám sát của Nhà nước thông thường bao gồm:

– Tình hình thực hiện nghĩa vụ với nhà nước của doanh nghiệp;

– Tình hình tuân thủ các chế độ chính sách liên quan đến quản lý tài chính doanh nghiệp, chế độ đối với người lao động và ban Lãnh đạo doanh nghiệp.

Về phương thức giám sát thường được chia theo không gian (giám sát trực tiếp, giám sát gián tiếp, giám sát từ bên trong, giám sát từ bên ngoài) và  theo thời gian (giám sát trước, trong, sau).

14.2. Kinh nghiệm và thông lệ quốc tế về giám sát tài chính đối với DNNN và doanh nghiệp có vốn Nhà nước

14.2.1 Kinh nghiệm quốc tế

Chủ thể giám sát

Phần lớn các nước OECD, cơ quan được giao trách nhiệm giám sát tài chính DNNN là Bộ Kinh tế/ Bộ Tài chính, hoặc có thể là một cơ quan thuộc Bộ Tài chính. Tuy nhiên, cũng có một số quốc gia áp dụng mô hình song song, phối hợp giữa Bộ Tài chính và các Bộ quản lý ngành. VD cụ thể về sự phân chia quyền và trách nhiệm giữa giám sát giữa Bộ Tài chính và Bộ quản lý ngành tại New Zealand như sau:

– Bộ Tài chính tập trung vào đánh giá hiệu quả kinh tế và tác động tài khoá trong hoạt động của doanh nghiệp nhà nước. Do đó Bộ Tài chính chịu trách nhiệm tổng hợp báo cáo về tình hình tài chính các DNNN, các vấn đề kinh tế, thoái vốn, phân chia lợi nhuận và là Bộ duy nhất có quyền phê duyệt việc bán tài sản.

  – Bộ quản lý ngành chịu trách nhiệm chính trong hoạt động giám sát tình hình hoạt động của doanh nghiệp và là cơ quan duy nhất có quyền quyết định thành phần hội đồng quản trị.

Ở Pháp, Cơ quan quản lý phần vốn đầu tư của Nhà nước (APE) là cơ quan thuộc Bộ Tài chính Pháp thực hiện chức năng quản lý cổ phần nhà nước tại doanh nghiệp. Tham gia giám sát việc đầu tư vốn tại doanh nghiệp và tình hình tài chính của các DN có phần vốn góp của Nhà nước là Thanh tra tài chính và Kiểm toán Nhà nước, nhưng trách nhiệm giám sát chính vẫn thuộc về APE.

Tại Trung Quốc, Chủ thể giám sát tài chính các DNNN và phần vốn Trung Quốc đầu tư tại các doanh nghiệp là Ủy ban quản lý và giám sát tài sản nhà nước (SASAC – được thành lập năm 2003). SASAC là một cơ quan đặc biệt hoạt động theo mô hình cấp Bộ, trực thuộc Quốc vụ viện (Chính phủ). Tương tự, các tỉnh thành cũng lần lượt thành lập các Ủy ban giám sát DNNN và vốn NN đầu tư tại doanh nghiệp tại địa phương[1].

Tại Hàn Quốc, cơ quan đóng vai trò chủ yếu trong giám sát tài chính các DNNN của Hàn Quốc là Ủy ban quản lý DNNN. Ủy ban này do Bộ Tài chính và Chiến lược Hàn Quốc làm chủ tịch và các Bộ chuyên ngành là thành viên, trong đó Bộ Tài chính và Chiến lược chịu trách nhiệm quản lý, đánh giá tổng thể, các Bộ chuyên ngành giám sát thực hiện dự án trên góc độ chuyên môn.

Các chỉ tiêu giám sát

Kinh nghiệm các nước OECD cho thấy các chỉ tiêu thường được dùng để theo dõi, đánh giá năng lực tài chính của doanh nghiệp gồm:

Doanh thu,

Lợi nhuận, EBITDA,

Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE)

Cổ tức nhà nước được nhận từ doanh nghiệp,

Nợ/EBITDA,

Nợ/Vốn chủ sở hữu.

Ngoài ra, một số quốc gia còn sử dụng thêm các chỉ tiêu như:

Hệ số khả năng thanh toán nhanh

Hệ số khả năng thanh toán nợ đến hạn

Hệ số dòng tiền

Tỷ suất lợi nhuận trên tài sản (ROA)

Đáng chú ý, một số quốc gia đã phát triển hệ thống tiêu chí để đánh giá và giám sát mức độ rủi ro của doanh nghiệp, trong đó mức lãi suất cơ bản được dùng làm cơ sở để phân tích rủi ro của doanh nghiệp. Một số quốc gia cũng giám sát rủi ro phát sinh từ khu vực DNNN đối với ngân sách nhà nước (thông qua việc giám sát khả năng thanh toán các khoản nợ được Chính phủ bảo lãnh).

Tại Trung Quốc, SASAC cử ra Hội đồng giám sát để xây dựng hệ thống chỉ tiêu giám sát cho từng tập đoàn, doanh nghiệp lớn. Cùng với việc tăng cường giám sát DNNN và vốn Nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp, Trung Quốc xác định mỗi ngành, lĩnh vực sẽ được giám  sát riêng để phù hợp với đặc thù nghành. Trong số các chỉ tiêu quản lý định lượng doanh nghiệp, SASAC phê duyệt và giám sát 2 chỉ tiêu cơ bản là: (i) Tỷ trọng hợp lý của quy mô tài sản ngành nghề phụ trong tổng tài sản của doanh nghiệp và tỷ trọng của đầu tư ngành nghề phụ trong tổng đầu tư hàng năm; (ii) Chỉ tiêu khống chế mức tài sản nợ. Các chỉ tiêu định lượng còn lại chỉ có tính chất tham khảo đối với SASAC.

Về đánh giá hiệu quả hoạt động doanh nghiệp

Tại hầu hết các nước OECD, các doanh nghiệp nhà nước được đánh giá hiệu quả hoạt động căn cứ mức độ đạt được mục tiêu của doanh nghiệp. Để làm được điều này, doanh nghiệp phải lập và nộp Báo cáo phục vụ cho công tác đánh giá. Báo cáo này có nhiều hình thức khác nhau như Báo cáo mục tiêu (SCI), Hợp đồng quản trị, Kế hoạch công ty, …

Về quy trình, trước hết các doanh nghiệp nhà nước phải nộp kế hoạch kinh doanh hàng năm và được sự chấp thuận của các Bộ có liên quan hoặc của Bộ Tài chính. Sau đó, các doanh nghiệp nhà nước phải nộp cho cơ quan chủ sở hữu và/hoặc Bộ Tài chính/Ngân khố các báo cáo quý, 6 tháng hoặc hàng năm, với số lượng và chất lượng thông tin đảm bảo để thực hiện giám sát về tình hình thực hiện mục tiêu đề ra.

Báo cáo mục tiêu được sử dụng tại các nước có quy trình cụ thể về thực hiện  “Hợp đồng quản trị” được xây dựng như  Ốt-xtơ-rây-lia, Bỉ, Pháp, Hy Lạp và Niu Dilân.  Mục tiêu chính của hệ thống Hợp đồng quản trị là nhằm chính thức hóa hơn nữa việc xây dựng và giám sát việc thực hiện các mục tiêu (bao gồm cả mục tiêu chính sách) cho các doanh nghiệp nhà nước, trong khi thừa nhận sự tách biệt giữa quyền lợi cổ đông và quyền của hội đồng quản trị nhằm quản lý  doanh nghiệp. Hợp đồng quản trị, với công ty như một thực thể, thường mang đến sự độc lập cao hơn trong quản lý doanh nghiệp nhà nước. Các hợp đồng này làm rõ mối quan hệ trung hạn giữa các Bộ khác nhau hoặc các cơ quan liên quan và các doanh nghiệp nhà nước, và giúp thiết lập sự hiểu biết chung về môi trường bên ngoài, định hướng chiến lược của một doanh nghiệp nhà nước và mục tiêu phải đạt được.

• Tại Ô-xtơ-rây-lia, như một phần của hệ thống hợp đồng quản trị, các doanh nghiệp do nhà nước nhà nước nắm giữ 100% vốn phải xây dựng một Bản báo cáo mục tiêu của doanh nghiệp (SCI) phù hợp với chính sách của Chính phủ, được thể hiện trong Thoả thuận quản trị năm1997 cho các doanh nghiệp của chính phủ liên bang. SCI là một tài liệu về kế hoạch và trách nhiệm, quy định cụ thể mục tiêu hoạt động tài chính và phi tài chính cho ba năm. Mục đích là để tăng cường trách nhiệm lập kế hoạch và làm rõ nhiệm vụ và mục tiêu, tức là “cung cấp thông tin rõ ràng hơn cho Quốc hội, các Bộ trưởng với tư cách là cổ đông và hội đồng quản trị (DNNN) và bản thân quá trình quản lý, tạo khuôn khổ cho doanh nghiệp nhà nước hoạt động “.

• Tại Pháp, dựa trên pháp luật năm 1982, hợp đồng thực hiện làm rõ các cam kết liên quan của nhà nước và doanh nghiệp nhà nước (lợi nhuận, chính sách xã hội, năng suất, chất lượng và công nợ). Hợp đồng này cũng xác định các công cụ phổ biến để đo lường hiệu suất liên quan đến lợi nhuận tài chính và các mục tiêu về năng suất và cuối cùng là xác định chính sách khuyến khích đối với ban điều hành và nhân viên (xem Hộp 20).

• Tại Hy Lạp, hợp đồng quản trị bao gồm các điều kiện và quy tắc liên quan đến việc đạt được các mục tiêu đề ra trong kế hoạch kinh doanh, các điều kiện cho việc điều chỉnh; các chỉ số cần thiết để giám sát hoạt động kinh tế chính, đặc biệt là chi phí sản xuất, năng suất, chất lượng dịch vụ và chi phí nhân viên hàng năm.

• Tại New Zealand, kỳ lập kế hoạch kinh doanh là một năm, nhưng Hội đồng quản trị doanh nghiệp nhà nước và ban điều hành được yêu cầu xây dựng chiến lược và kế hoạch hoạt động tài chính cho ba năm. Điều này được thực hiện thông qua quá trình đàm phán về Báo cáo mục tiêu của doanh nghiệp (SCI) (Hộp 21). Hội đồng quản trị doanh nghiệp nhà nước xác định mục tiêu có sự tham vấn ý kiến của Bộ trưởng các Bộ có liên quan. Các báo cáo mục tiêu đề ra phạm vi hoạt động của doanh nghiệp nhà nước và là tài liệu tham khảo đối với hội đồng quản trị. Báo cáo mục tiêu bao gồm các ước tính chi phí vốn tổng hợp, cũng như các chỉ số hoạt động tài chính và phi tài chính.

Hàn Quốc là quốc gia có hệ thống đánh giá hiệu quả hoạt động của DNNN rất chặt chẽ: Ủy ban quản lý DNNN sẽ tiến hành đánh giá và xếp loại DNNN trên các nội dung sau:

+ Quy trình quản lý: đánh giá về hệ thống lãnh đạo; quản lý trách nhiệm giải trình; mức độ hài lòng của khách hàng; trách nhiệm xã hội.

+ Hiệu quả hoạt động: tình hình tài sản; năng suất lao động, hệ thống quản lý tài chính; kết quả sản xuất kinh doanh, hệ thống đánh giá hiệu quả hoạt động của nhân viên gắn với tiền lương; các vấn đề  quản lý lao động khác.

+ Các ngành nghề kinh doanh chính: đánh giá hiệu quả các ngành nghề kinh doanh chính của doanh nghiệp.

Việc đánh giá được thực hiện trên cơ sở các chỉ tiêu định lượng và chỉ tiêu định tính, chỉ tiêu tài chính và chỉ tiêu phi tài chính, cụ thể như sau:

Các chỉ tiêu tài chính bao gồm các chỉ số tài chính cơ bản như: Số lượng lao động, doanh thu, lợi nhuận, tỷ suất lợi nhuận, tiền lương…

Các chỉ tiêu phi tài chính: chỉ số phi tài chính được lập riêng cho từng doanh nghiệp nhằm đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp đó. Ví dụ: đối với doanh nghiệp đường sắt thì chỉ số là: “Tỷ lệ tàu về ga đúng giờ”; “Số phút tàu về ga chậm giờ”. Đối với TCT cảng hàng không Seoul thì chỉ số là: “Thời gian để hành khách hoàn thành thủ tục từ khi hạ cánh đến khi ra khỏi sân bay”, “Số lượng container được vận chuyển qua cảng hàng không”. Ngoài ra, chỉ số phi tài chính còn bao gồm các chỉ số như “Mức độ hài lòng của khách hàng”, các ảnh hưởng của doanh nghiệp đến xã hội…

Về cơ cấu chỉ tiêu đánh giá: các chỉ tiêu tài chính chiếm 53% (hoặc 60%) tổng số các chỉ tiêu đánh giá và 47%  (hoặc 40%) còn lại đối với các chỉ tiêu phi tài chính.

Chỉ số

Phương pháp đánh giá

Tổng điểm

Định tính

Định lượng

Lãnh đạo và trách nhiệm giải trình

Lãnh đạo

5

20

Trách nhiệm giải trình

3

Quản lý nguồn vốn

5

Cam kết xã hội

2

5

Hiệu quả quản lý

Hiệu quả hoạt động đa dạng

 

15

 

30

45

Hệ thống quản lý

Hiệu quả hoạt động

8

35

Tổ chức và phát triển nhân sự

4

Hệ thống trả lương

4

4

Tài chính/ngân sách

4

8

Quan hệ lao động

3

 Các DNNN sẽ được Nhóm chuyên gia độc lập nêu trên xếp loại từ S (xếp loại đặc biệt), A nếu kết quả năm sau cao hơn năm trước và ngược lại sẽ xếp loại từ B; C; D; E.  Kết qủa đánh giá, xếp loại sẽ được trình lên Ủy ban quản lý DNNN phê duyệt là làm kết quả xếp loại doanh nghiệp. Trên cơ sở xếp loại, Chính phủ sẽ xem xét, quyết định việc giải thể đối với DNNN xếp loại E, cảnh báo nếu xếp loại D, thưởng ít hơn 1 tháng lương thực hiện cho nhân viên nếu xếp loại C, thưởng từ 1 đến 1,5 tháng lương cho nhân viên nếu xếp loại B, thưởng từ 1,5 đến 2 tháng lương nếu xếp loại A và từ 2 đến 2,5 tháng lương nếu xếp loại đặc biệt (S).

Về minh bạch và công khai thông tin

Tại các nước OECD, việc minh bạch và công khai thông tin tài chính về các DNNN thường được thực hiện dưới 2 hình thức:

– Công khai các thông tin, báo cáo, báo cáo tài chính trên phương tiện thông tin đại chúng (đây là hình thức phổ biến nhất),

– Các cá nhân chịu trách nhiệm quản lý vốn NN hoặc quản lý DNNN phải tham gia giải trình trước Quốc hội (không phổ biến, chỉ một số quốc gia có quy định này).

Các loại báo cáo chính của DNNN các nước OECD phải công khai thường bao gồm:

+ Kế hoạch: trong đó liệt kê các mục tiêu kế hoạch được đặt ra đối với từng doanh nghiệp trong năm.

+ Báo cáo tình hình thực hiện kế hoạch (bao gồm các Báo cáo tài chính, Báo cáo của Tổng giám đốc hoặc Báo cáo quản trị doanh nghiệp).

Nhìn chung, các doanh nghiệp nhà nước phải báo cáo theo cùng một cách như công ty đại chúng. Ví dụ tại Vương quốc Anh, DNNN được thành lập theo Luật Công ty phải báo cáo giống như tất cả các công ty niêm yết theo quy định tại Luật Công ty và phù hợp với chuẩn mực kế toán. Đối với Tổng công ty theo luật định được yêu cầu báo cáo gần như đối với công ty TNHH đại chúng và được kiểm toán theo chuẩn mực cao nhất của APB (Uỷ ban thực hiện kiểm toán). 

Khi tiến hành niêm yết, các DNNN chịu sự điều chỉnh bởi quy định của thị trường chứng khoán, các cơ quan thị trường liên quan giám sát mức độ tuân thủ của các doanh nghiệp này. Trong nhiều nước OECD, DNNN không niêm yết cũng phải báo cáo theo các chuẩn mực tương tự như các công ty niêm yết. Lý do: có lập luận rằng chủ sở hữu cuối cùng của họ là công chúng, vì vậy các công ty này được coi là “đại chúng hơn” so với các công ty đại chúng thông thường.

Trong tất cả các nước OECD, các DNNN phải nộp Báo cáo thường niên. Báo cáo thường niên là tài liệu chính tóm tắt các kết quả chính và kết quả tài chính của doanh nghiệp nhà nước trong năm. Các yêu cầu về nội dung và chất lượng của các báo cáo thường niên thường được quy định trong Luật Công ty và pháp luật và các quy định khác có liên quan.

Ở đa số các nước OECD, công chúng đều có thể tiếp cận báo cáo thường niên của doanh nghiệp nhà nước.  Báo cáo thường niên hoặc giữa kỳ cũng có thể được đăng tải trên trang web của DNNN hoặc trên các trang web của cơ quan chủ sở hữu. Tại Thụy Điển gần 80% các báo cáo thường niên và hơn 50% các báo cáo quý được đăng tải trên các trang điện tử của doanh nghiệp nhà nước. Ở Hy lạp, 100% báo cáo tài chính đã được kiểm toán của DN được đăng tải trên internet. Ở Newzealand, thông tin về 7 DNNN lớn nhất được công khai.

Ở Thuỵ Điển, từ năm 2007 đã thực hiện chế độ báo cáo đối với các DNNN minh bạch tương tự các DN niêm yết, theo đó cần công bố cả các báo cáo nội bộ, báo cáo phát triển  bền vững và báo cáo quản trị DN đối với các DNNN.

Từ năm 2005-2011, có 6 quốc gia đã thay đổi quy định về công bố, công khai thông tin về DNNN theo hướng mở rộng phạm vi thông tin cần công khai, minh bạch. Tuy nhiên, mức độ công khai thông tin rất khác nhau: Thổ Nhĩ kỳ chỉ công khai báo cáo tài chính, Thuỵ điển công khai cả báo cáo về sự phát triển bền vững, NewZealand công khai thông tin về các DNNN lớn.

Mức độ công bố của thông tin liên quan đến DNNN cũng khác nhau giữa các nước OECD, không phải mọi báo cáo đều được công bố. Một số báo cáo được giữ kín giữa các DNNN có liên quan và cơ quan chủ sở hữu, các đơn vị tư vấn hoặc chính phủ. Ở các nước khác, tài liệu được thảo luận tại Quốc hội hoặc được đăng công báo.

Việc nộp báo cáo được ghi chép và lưu tự động trong hệ thống thông tin điện tử của cơ quan quản lý doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp nộp báo cáo chậm sẽ bị nhắc nhở hoặc hệ thống sẽ đưa ra một thông báo phạt. Chế tài nặng nhất là doanh nghiệp sẽ bị rút giấy phép hoạt động.

Công bố Báo cáo tổng hợp về các DNNN

Một số nước có quy định về công bố Báo cáo tổng hợp về các DNNN (như trường hợp của Pháp). Tuy nhiên, rất nhiều nước mà khu vực nhà nước chiếm một vai trò quan trọng trong nền kinh tế cũng không có báo cáo tổng hợp về tình hình hoạt động tổng thể của các DNNN (VD: Ý, Hàn Quốc, Cộng hòa Séc và Á). Các báo cáo tổng hợp được công bố tới công chúng qua việc xuất bản các báo cáo thường niên hoặc thông qua các báo cáo được đưa lên internet.

Tại nhiều nước, ngoài việc công khai báo cáo bằng lời, trên trang web của cơ quan quản lý nhà nước còn công bố các biểu đồ phân tích, đánh giá về hiệu quả hoạt động của các DNNN một cách tổng thể hoặc theo từng ngành. Dưới đây là một số ví dụ về giao diện công bố thông tin về DNNN của một số quốc gia:

 

Báo cáo công khai của Nam phi về từng DNNN

 

 

 

 

Báo cáo của Ukraina

– Báo cáo riêng về DNNN trong ngành điện

– Báo cáo tổng thể

Báo cáo của Thụy Điển

Báo cáo của Malaysia

 

– Kinh nghiệm công khai thông tin tài chính DNNN của Hàn Quốc:

Bộ Tài chính và Chiến lược Hàn Quốc duy trì riêng một trang web để công khai thông tin về các DNNN của nước này (www.alio.go.kr)[2]. Đăng công khai trên trang web này là thông tin về 38 DN và tổ chức công của Hàn Quốc. Thông tin công khai bao gồm 20 chỉ số về thông tin chung, thông tin tài chính, thu nhập của cán bộ lãnh đạo và người lao động, tuyển dụng, đấu thầu. Trong đó, thông tin tài chính và thu nhập được công khai theo định kỳ 6 tháng, các thông tin khác công khai theo quý.

Doanh nghiệp phải công khai trên trang web này tóm tắt Bảng cân đối kế toán, tóm tắt Báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh, doanh thu, chi phí, vốn chủ sở hữu, nợ ngắn và dài hạn, các khoản đầu tư, ngành nghề kinh doanh chính, tình hình thực hiện nghĩa vụ với ngân sách nhà nước, các ngành nghề kinh doanh chính.v.v. Đặc biệt, trên trang web Bộ Tài chính và Chiến lược Hàn Quốc cũng công khai Ý kiến của cơ quan kiểm toán, Đánh giá của Bộ Tài chính và Chiến lược về kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, Kết quả khảo sát mức độ hài lòng của người dân đối với các DNNN

Để đảm bảo thực thi có hiệu quả chế độ công khai thông tin nêu trên, Bộ Tài chính và Chiến lược  Hàn Quốc áp dụng chế tài như sau:

+ Đối với doanh nghiệp nộp thông tin chậm: trừ 1-5 điểm/mỗi loại thông tin theo các mốc chậm từ 1-6 tháng.

+ Đối với doanh nghiệp nộp thông tin sai: trừ 5 điểm

Nếu DN bị trừ 10 điểm thì sẽ bị gửi thông báo cảnh cáo. Nếu bị trừ từ 20 điểm trở lên thì bị xếp loại là “doanh nghiệp không trung thực” và sẽ có biện pháp áp dụng với  người lãnh đạo DN.

14.2.2. Bài học đối với Việt Nam

Qua kinh nghiệm của các nước trong khu vực và các nước tiên tiến trên thế giới, có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong việc hoàn thiện công tác giám sát của nhà nước đối với DNNN và vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp như sau:

(i) Một là về mô hình tổ chức bộ máy giám sát:

Cơ quan giám sát tài chính DNNN có thể đặt tại Quốc hội hoặc Chính phủ. Tuy nhiên, phần lớn các nước lựa chọn mô hình cơ quan giám sát thuộc hệ thống của Chính phủ, có thể dưới hình thức là một Bộ hoặc một đơn vị trực thuộc Bộ Tài chính hoặc Bộ Kinh tế. Trong các mô hình này, đều cần có sự phân công, phối hợp giữa Bộ chủ trì (Bộ Tài chính hoặc Bộ Kinh tế) với Bộ quản lý ngành để đảm bảo tính toàn diện trong công tác giám sát.

Trường hợp cơ quan giám sát là đơn vị thuộc hệ thống cơ quan của Chính phủ, cần tách bạch vai trò giữa cơ quan giám sát và cơ quan thực hiện chức năng chủ sở hữu để đảm bảo sự độc lập, khách quan của công tác giám sát tài chính, đánh giá hiệu quả doanh nghiệp. Doanh nghiệp càng được giao quyền tự chủ để hoạt động theo cơ chế thị trường thì chức năng giám sát của cơ quan giám sát càng phải tăng cường và tách bạch.

(ii) Hai là về công khai thông tin:

 Cần tăng cường giám sát của xã hội thông qua công khai, minh bạch thông tin về DNNN và vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp. Vì vậy, cần bắt buộc áp dụng hình thức công khai trên trang web của doanh nghiệp, vì đây là phương tiện mà công chúng, người lao động, nhà đầu tư, chủ nợ v.v… có thể tiếp cận được thông tin của doanh nghiệp, đồng thời là phương tiện công khai thông tin mà cơ quan giám sát có thể kiểm tra, đánh giá được mức độ tuân thủ quy định về công khai thông tin của các doanh nghiệp.

Đối tượng công khai thông tin không chỉ là các doanh nghiệp mà còn là các tổ chức, cơ quan được giao nhiệm vụ đầu tư hoặc quản lý vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp (như kinh nghiệm của các nước OECD đều yêu cầu cơ quan quản lý nhà nước công bố các báo cáo về tình hình tài chính, kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của DNNN). Đồng thời, cần có cơ chế giám sát thực hiện công khai thông tin của các cơ quan này, gắn với chế tài cụ thể và đủ mạnh (tham khảo kinh nghiệm của OECD về việc áp dụng mức phạt đối với các doanh nghiệp công khai thông tin chậm hoặc kinh nghiệm của Hàn Quốc về việc hạ  bậc kết quả xếp loại doanh nghiệp, trường hợp vi phạm thường xuyên hoặc mức độ nặng thì gắn với kỷ luật người quản lý doanh nghiệp).

Tuy nhiên, nội dung công khai cần phù hợp với đặc thù của DNNN (có một số doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực cần bảo mật) và năng lực triển khai thực tế của doanh nghiệp và các cơ quan quản lý. Ở nhiều nước DNNN được yêu cầu công khai như công ty đại chúng, cơ quan quản lý nhà nước phải công khai thông tin rất chi tiết về DNNN nhưng cũng có nhiều nước tiên tiến chỉ yêu cầu cơ quan tài chính công khai một số nội dung tài chính cơ bản của các DNNN.

(iii) Ba là về nội dung, chỉ tiêu giám sát: Nên chuyển trọng tâm từ “giám sát bảo toàn và phát triển vốn” sang cân bằng hơn giữa hai mục tiêu: (1) giám sát hiệu quả đầu tư vốn và (2) Giám sát rủi ro và cảnh bảo. Để làm được việc này, cần xây dựng được bộ chỉ số để giám sát, đánh giá rủi ro tài chính của doanh nghiệp. Theo kinh nghiệm quốc tế, nhóm hoạt động thường làm phát sinh rủi ro tài chính cho doanh nghiệp là hoạt động đầu tư và hoạt động vay nợ của doanh nghiệp, vì vậy hệ thống tiêu chí giám sát rủi ro nên bao gồm các chỉ tiêu để giám sát 2 hoạt động này.

(iv) Bốn là về đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp:

Cần đảm bảo sự độc lập tương đối của cơ quan thực hiện việc đánh giá và xếp loại doanh nghiệp. Ngoài việc độc lập về chức năng nhiệm vụ của cơ quan đánh giá với cơ quan thực hiện chức năng đại diện chủ sở hữu, Việt Nam cần nghiên cứu xây dựng lộ trình để cơ quan đánh giá hiệu quả hoạt động của DNNN có thể sử dụng các chuyên gia độc lập, bao gồm cả chuyên gia về tài chính – kế toán và chuyên gia am hiểu ngành nghề của doanh nghiệp  (có thể nghiên cứu kinh nghiệm của Hàn Quốc trong việc thuê chuyên gia xây dựng chỉ tiêu đánh giá và thực hiện đánh giá).

Một số ngành đặc thù như giao thông, xây dựng, nông nghiệp, điện lực…, cần được đánh giá hiệu quả và xếp loại theo các chỉ tiêu đặc thù (KPI).  Kinh nghiệm cho thấy Bộ quản lý ngành thường có cơ sở dữ liệu toàn diện hơn để xây dựng các KPI đặc thù. Vì vậy, cần nghiên cứu quy định bắt buộc các Bộ quản lý ngành chủ trì phối hợp cùng cơ quan giám sát xây dựng KPI để phục vụ việc giám sát, đánh giá hiệu quả của nhà nước đối với doanh nghiệp.

Đối với các doanh nghiệp công ích, do không đặt mục tiêu sinh lời nên cần sử dụng các chỉ tiêu đánh giá phi tài chính cụ thể để đánh giá chất lượng, thời gian và hiệu suất cung ứng hàng hoá/dịch vụ công, trong đó đặc biệt chú trọng tới chỉ số về ‘‘mức độ hài lòng của khách hàng/người dân’’. Do mỗi ngành công ích có một đặc thù riêng nên các chỉ tiêu này cũng cần được xây dựng riêng cho từng ngành, gắn với các định mức kinh tế, kỹ thuật của ngành.

Để đảm bảo tính khách quan và toàn diện trong đánh giá, việc đánh giá theo các chỉ tiêu đặc thù của ngành là rất quan trọng. Tuy nhiên, kinh nghiệm quốc tế cho thấy việc xây dựng chỉ tiêu của ngành (trong năm báo cáo sẽ dùng chỉ tiêu gì để đánh giá, mức độ tăng trưởng bao nhiêu %) thường đòi hỏi phải thuê các chuyên gia độc lập để nghiên cứu và xây dựng hằng năm. Vì vậy, đối với Việt Nam, trong điều kiện ngân sách của cơ quan chủ sở hữu còn hạn chế, trước mắt nên tập trung vào một số ngành đặc thù như: giao thông vận tải, nông nghiệp, điện lực …

Để mang ý nghĩa trong việc tạo sức ép để cải thiện hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, kết quả đánh giá hiệu quả doanh nghiệp cần được gắn với chế độ đãi ngộ của doanh nghiệp và quyết định của chủ sở hữu đối với doanh nghiệp. VD: đối với những doanh nghiệp được đánh giá xếp loại quá yếu kém thì có chế tài buộc phải phá sản, giải thể hoặc tái cơ cấu bắt buộc (như kinh nghiệm của Hàn Quốc).

(v) Về hệ thống thông tin quản lý: Cần nghiên cứu, xây dựng hệ thống quản lý, giám sát vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp, trong đó cho phép các doanh nghiệp gửi báo cáo trực tiếp đến hệ thống. Hệ thống này ngoài chức năng tổng hợp số liệu về khu vực DNNN còn cần có hệ thống chỉ tiêu để giám sát, đánh giá được tình hình tài chính của từng doanh nghiệp, đưa ra các thông báo tự động về tên doanh nghiệp nộp báo cáo chậm, thời gian nộp chậm so với quy định. Đồng thời, hệ thống cần thiết lập các mức trung bình theo ngành để cơ quan quản lý nhà nước có thể so sánh, đánh giá được tình hình của một doanh nghiệp so với các doanh nghiệp tương tự.

14.3. Quy định hiện hành của Việt Nam về giám sát tài chính và đánh giá hiệu quả hoạt động DNNN và doanh nghiệp có vốn nhà nước

Trong những năm qua, hệ thống khuôn khổ pháp lý về giám sát tài chính đối với DNNN và doanh nghiệp có vốn nhà nước đã không ngừng được bổ sung và hoàn thiện. Đến nay, danh mục các văn bản đang và sắp có hiệu lực liên quan đến giám sát tài chính và đánh giá hiệu quả đối với DNNN và doanh nghiệp có vốn nhà nước bao gồm:

Bảng 14.2. Danh mục văn bản liên quan về giám sát tài chính đối với DNNN và DN có vốn Nhà nước

TT

Tên văn bản

1

Hiệp định đối tác Thương mại xuyên Thái Bình Dương

2

Luật Doanh nghiệp năm 2014

3

Luật Đầu tư năm 2014

4

Luật quản lý và sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sxkd tại doanh nghiệp (“Luật 69”)

5

Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015

6

Luật chứng khoản năm 2006 và năm 2010

7

Nghị định số 61/2013/NĐ-CP về sát tài chính, đánh giá hiệu quả và công khai thông tin tài chính DN do nhà nước làm chủ sở hữu và doanh nghiệp có vốn nhà nước (“Nghị định 61”)

8

Nghị định số 69/2014/NĐ-CP về Tập đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước (“Nghị định 69”)

9

 Nghị định số 87/2015/NĐ-CP về giám sát đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp, giám sát tài chính, đánh giá hiệu quả và công khai thông tin tài chính DNNN và doanh nghiệp có vốn nhà nước (“Nghị định 87”)

10

Nghị định số 49/2014/NĐ-CP về giám sát việc chấp hành pháp luật và tuân thủ các quyết định của CSH (“Nghị định 49”)

11

Nghị định số 115/2014/NĐ-CP về giám sát kiểm tra việc thực hiện chiến lược, KH, nhiệm vụ được giao của DNNN (Nghị định 115)

12

Nghị định số 93/2015/NĐ-CP về tổ chức và quản lý doanh nghiệp an ninh, quốc phòng (Nghị định 93)

13

Nghị định 99/2012 về thực hiện phân công, phân cấp thực hiện các quyền, trách nhiệm và nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà nước và vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp (“Nghị định 99”)

 14.3.1. Hiệp định TPP

Điều ước quốc tế có ảnh hưởng lớn nhất tới việc quản lý, giám sát DNNN Việt Nam trong thời gian sắp tới là Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP). Năm 2015, các nước thành viên đã hoàn tất việc đàm phán Hiệp định được coi là Hiệp định mậu dịch tự do “thế hệ mới” này. Ngoài việc điều chỉnh các quy định về thương mại, đầu tư, thuế quan .v.v.. như các FTA khác, TPP là Hiệp định đầu tiên đưa ra những điều khoản rất khắt khe đối với DNNN.

Theo Hiệp định này, DNNN được định nghĩa là những doanh nghiệp thoả mãn một trong ba điều kiện sau:

(a) Trực tiếp sở hữu hơn 50 phần trăm vốn cổ phần;

(b) Kiểm soát trên 50 phần trăm quyền biểu quyết thông qua lợi ích chủ sở hữu; hoặc

(c) Giữ quyền chỉ định đa số thành viên ban quản trị hoặc bất kỳ bộ máy quản lý tương đương khác.

Liên quan đến nghĩa vụ minh bạch thông tin, Hiệp định TPP quy định Việt Nam:

+ Trong thời hạn sáu tháng sau ngày Hiệp định có hiệu lực[3], phải cung cấp cho các Bên khác hoặc công bố trên website danh sách các doanh nghiệp nhà nước có doanh thu hàng năm trên 200 triệu SDR (tương đương 6.000 tỷ đồng) trong ba năm liền kề và phải cập nhật danh sách hàng năm sau đó.

+ Trong thời hạn năm (05) năm kể từ ngày Hiệp định có hiệu lực, phải cung cấp cho các nước hoặc công bố công khai trên website danh sách các doanh nghiệp nhà nước và phải cập nhật hàng năm; phải khẩn trương thông báo cho các bên còn lại hoặc công bố công khai trên website việc chỉ định một DN độc quyền hoặc mở rộng phạm vi của DN độc quyền hiện hữu và các điều khoản của việc chỉ định; Trên cơ sở yêu cầu bằng văn bản của một Bên, phải khẩn trương cung cấp các thông tin dưới đây liên quan đến một DNNN:

(a) Tỉ lệ phần trăm cổ phần mà Bên đó, doanh nghiệp nhà nước hoặc đơn vị độc quyền của Bên đó sở hữu;

(b) Bảng mô tả về bất kỳ cổ phần đặc biệt hoặc quyền bỏ phiếu đặc biệt nào, hoặc quyền lợi mà Bên đó, các doanh nghiệp nhà nước hoặc đơn vị độc quyền của Bên đó, nắm giữ, trong phạm vi các quyền đó khác với quyền gắn với các cổ phần phổ thông của tổ chức đó;

(c) Các chức danh nhà nước của bất kỳ cán bộ nhà nước nào phục vụ với tư cách là cán bộ hoặc thành viên của ban giám đốc của tổ chức;

(d) Doanh thu hàng năm của tổ chức và tổng tài sản trong ba năm gần nhất;

(e) Bất kỳ sự miễn giảm và miễn trừ nào mà tổ chức được hưởng theo pháp luật của Bên đó; và

(f) Bất kỳ thông tin bổ sung nào liên quan đến tổ chức được công bố công khai, bao gồm báo cáo tài chính hàng năm và báo cáo kiểm toán của bên thứ ba và được cung cấp bằng văn bản đề nghị.

Như vậy, với định nghĩa DNNN rất rộng so với khái niệm hiện hành của Việt Nam, kèm theo là các nghĩa vụ minh bạch thông tin khá rộng, bao gồm cả tình hình tài chính, các khoản hỗ trợ đối với DNNN…

14.3.2. Hệ thống chính sách trong nước

Năm 2015 là năm có sự thay đổi lớn về khuôn khổ pháp lý liên quan đến giám sát tài chính đối với DNNN và doanh nghiệp có vốn nhà nước. Do Luật Doanh nghiệp năm 2014 và Luật quản lý và sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất kinh doanh tại doanh nghiệp có hiệu lực thi hành trong năm 2015, Luật tổ chức Chính phủ được ban hành trong năm 2015 và có hiệu lực thi hành năm 2016 nên nhiều văn bản hướng dẫn dưới luật đã được ban hành hoặc được thay thế, sửa đổi. Trong năm 2015 cũng có nhiều văn bản mới đang trong quá trình được rà soát, điều chỉnh. Vì vậy, giai đoạn này có sự đan xen giữa các văn bản mới và văn bản cũ, thời điểm có hiệu lực của các văn bản cũng khác nhau.

Trong bối cảnh khuôn khổ pháp lý về giám sát tài chính của Nhà nước đối với DNNN và doanh nghiệp có vốn nhà nước như trên, chuyên đề này tóm tắt khuôn khổ pháp lý theo các trọng tâm sau:

– Về mô hình tổ chức và phân công, phân cấp thực hiện giám sát;

– Về nội dung giám sát tài chính doanh nghiệp;

– Về đánh giá hiệu quả hoạt động và xếp loại doanh nghiệp;

– Về công khai, minh bạch thông tin tài chính.

14.3.2.1. Về mô hình, phân công phân cấp thực hiện công tác giám sát tài chính đối với DNNN và doanh nghiệp có vốn nhà nước

Với khuôn khổ pháp lý hiện hành, bộ máy giám sát tài chính của nhà nước đối với các DNNN và vốn nhà nước tại doanh nghiệp đang được tổ chức theo mô hình phân tán, có sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước liên quan. Cụ thể:

Phân công chung về quản lý DNNN và phần vốn của nhà nước tại doanh nghiệp được quy định tại các Luật gồm Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015, Luật Doanh nghiệp năm 2014, Luật Đầu tư năm 2014, Luật chứng khoán 2010 và Luật quản lý và sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất kinh doanh tại doanh nghiệp.

Tuy nhiên, quy định cụ thể về trách nhiệm giám sát tài chính DNNN và phần vốn nhà nước đầu tư tại doanh  nghiệp hiện chỉ được quy định tại Luật số 69 các Nghị định gồm Nghị định số 99/2012/NĐ-CP, Nghị định số 49/2014/NĐ-CP và Nghị định số 61/2013/NĐ-CP (đã được thay thế bằng Nghị định số 87/2015/NĐ-CP có hiệu lực để giám sát tài chính DN từ năm tài chính 2016) và Nghị định 69/2014/NĐ-CP.

a. Luật Doanh nghiệp năm 2014, Luật Đầu tư 2014 và Luật Chứng khoán năm 2010:

Ba luật này không đưa ra quy định riêng về trách nhiệm giám sát tài chính của Nhà nước đối với DNNN, tuy nhiên lại đưa ra khuôn khổ trách nhiệm chung của Chính phủ và các cơ quan chính phủ về việc giám sát đầu tư và giám sát tài chính đối với các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế (về tính tuân thủ quy định của nhà nước về tài chính, về trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ đối với ngân sách nhà nước, về bảo vệ cổ đông thiểu số, về công khai minh bạch thông tin .v.v…).

Như vậy, việc giám sát của Nhà nước với vai trò là cơ quan quản lý nhà nước sẽ áp dụng chung, thống nhất đối với các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế.

b. Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015:

Theo Điều 8 Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015, Chính phủ thực hiện chức năng chủ sở hữu phần vốn của Nhà nước tại doanh nghiệp có vốn nhà nước theo quy định của pháp luật. Về  bộ, cơ quang ngang bộ, Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015 cơ bản vẫn kế thừa quy định của Luật tổ chức Chính phủ năm 2001, theo đó, Bộ, cơ quan ngang Bộ là cơ quan của Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về một hoặc một số ngành, lĩnh vực và các dịch vụ công thuộc ngành, lĩnh vực. Tuy nhiên, khác với Luật tổ chức Chính phủ năm 2001, Luật mới đã bỏ quy định về chức năng thực hiện đại diện chủ sở hữu phần vốn của Nhà nước tại doanh nghiệp có vốn nhà nước của bộ, cơ quan ngang Bộ (Điều 39).

Như vậy, khác với quy định của Luật tổ chức Chính phủ năm 2001, Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015 đã đặt ra yêu cầu cần tập trung hoá chức năng chủ sở hữu phần vốn của Nhà nước tại doanh nghiệp có vốn nhà nước.

c. Luật quản lý và sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất kinh doanh tại doanh nghiệp (Luật số 69)

Luật 69 đã có một chương riêng quy định về giám sát tài chính và đánh giá hiệu quả DNNN (Chương VII), trong đó quy định cụ thể vai trò của Quốc Hội, Chính phủ và cơ quan đại diện chủ sở hữu trong việc giám sát tài chính DNNN. Cụ thể:

– Quốc hội: Giám sát hoạt động đầu tư, quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về hoạt động giám sát của Quốc hội, xem xét báo cáo của Chính phủ tại kỳ họp Quốc hội cuối năm, có quyền yêu cầu Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các thành viên khác của Chính phủ giải trình, trả lời chất vấn những vấn đề về đầu tư, quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp.

– Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ: Tổ chức kiểm tra, thanh tra việc xây dựng, ban hành, tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật về đầu tư, quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp; Việc thực hiện quyền, trách nhiệm của cơ quan đại diện chủ sở hữu; Kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh, bảo toàn, phát triển vốn nhà nước tại doanh nghiệp.

– Bộ Tài chính: Kiến nghị, đề xuất giải pháp với cơ quan đại diện chủ sở hữu về hoạt động đầu tư, quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp;  Hằng năm tổng hợp, kiến nghị, đề xuất giải pháp về hoạt động đầu tư, quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp trong phạm vi toàn quốc và báo cáo Chính phủ.

– Các Bộ, cơ quan ngang Bộ thực hiện kiểm tra, thanh tra hoạt động đầu tư, quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn.

Nhận xét:  Luật 69 đưa ra các quy định chung nhất về nội dung giám sát của các chủ thể bao gồm Quốc hội, Chính phủ, Bộ Tài chính và các cơ quan ngang Bộ. Tuy nhiên, Luật 60 không quy định về mô hình thực hiện chức năng chủ sở hữu vốn tại doanh nghiệp (cơ quan giám sát tập trung hay phân tán, trực thuộc Quốc hội hay Chính phủ) mà chấp nhận mô hình được quy định ở các văn bản quy phạm pháp luật khác.

d. Nghị định số 99, Nghị định 61, Nghị định 69, Nghị định 49, Nghị định 115 và Nghị định 87:

Có thể thấy rằng, đến thời điểm tháng 12/2015, quy định về phân công phân cấp tại Nghị định số 99/2012/NĐ-CP là quy định khung, trên cơ sở đó các Nghị định hướng dẫn cụ thể quyền và trách nhiệm giám sát tài chính của các Nghị định khác (Nghị định số 61, 49, 69, 87, 115) đều quy định để phù hợp với phân công phân cấp tại Nghị định số 99/2012/NĐ-CP. Theo quy định của Nghị định 99, mô hình tổ chức thực hiện chức năng chủ sở hữu vốn nhà nước là mô hình “phân tán”, theo đó quyền, trách nhiệm và nghĩa vụ của Chủ sở hữu nhà nước được phân công cho Thủ tướng Chính phủ, Bộ/cơ quan ngang Bộ và UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoặc Chủ tịch công ty hoặc người đại diện. Việc phân cấp thực hiện quyền của chủ sở hữu nhà nước tại Nghị định số 99/2012/NĐ-CP được tóm tắt trong Hình 14.1.

Qua rà soát các Nghị định số 61, 49, 69, 87, 115 cho thấy các Nghị định này đều quy định trách nhiệm cao nhất trong việc giám sát tài chính DNNN thuộc về cơ quan đại diện chủ sở hữu. Bộ Tài chính và các Bộ ngành liên quan khác (gồm Bộ KH&ĐT, Bộ Nội Vụ, Bộ LĐ-TB-XH, Thanh tra chính phủ, Thanh tra Sở/Ngành) chịu trách nhiệm phối hợp với cơ quan đại diện chủ sở hữu trong việc giám sát tài chính DNNN và phần vốn góp của nhà nước tại doanh nghiệp. Cơ chế phối hợp giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền của chủ sở hữu nhà nước được thể hiện trong Bảng 14.3.

Bảng 14.3. Cơ chế phối hợp trong thực hiện quyền của chủ sử hữu nhà nước

HOẠT ĐỘNG

Người được phân cấp

Thủ tướng Chính phủ

Bộ quản lý ngành, UBND cấp tỉnh

Bộ Tài chính

Bộ KH&ĐT

Bộ Nội vụ

Bộ LĐ-TB-XH

HĐTV, Chủ tịch HĐQT/ Người đại diện

1

Chiến lược, Kế hoạch sản xuất kinh doanh “KHSXKD”) và kế hoạch đầu tư phát triển (“ĐTPH”) 5 năm của DN (KHDH”); danh mục dự án đầu tư nhóm A, nhóm B

Phê duyệt (TĐKT)/ Chấp thuận

Đề nghị (TĐKT)/Phê duyệt

Tổng hợp,
 giám sát

Thẩm định, tổng hợp, giám sát

Quyết định

2

KHSXKD và kế hoạch đầu tư phát triển hằng năm(“KHSXKD hàng năm”)

Phê duyệt

Tổng hợp,
giám sát

Tổng hợp,
 giám sát

Quyết định

3

Đầu tư vốn điều lệ, điều chỉnh, chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ vốn điều lệ ; góp vốn , tăng/ giảm vốn

Quyết định (TĐKT)

Phê duyệt

Thẩm định

Thẩm định

Quyết định

4

Báo cáo tài chính, phân phối lợi nhuận, trích lập và sử dụng các quỹ

 

Chấp thuận

Thẩm định

Phê duyệt

4

Báo cáo tài chính, phân phối lợi nhuận, trích lập và sử dụng các quỹ

 

Chấp thuận

Thẩm định

Phê duyệt

5

Đầu tư, mua, bán tài sản và hợp đồng vay, cho vay

 

Phê duyệt

Thẩm định,
chấp thuận

Quyết định

6

Giám sát, kiểm tra, thanh tra , đánh giá hiệu quả hoạt động;

 

Thực hiện

Tổng hợp,
phối hợp,
báo cáo

Tổng hợp,
phối hợp,
báo cáo

Phối hợp

Phối hợp

Thực hiện

7

Khen thưởng, kỷ luật, tiêu chí đánh giá, lương của Chủ tịch và thành viên Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty, Kiểm soát viên, Tổng giám đốc (Giám đốc), Kiểm soát viên;

 

Quyết định

Thẩm định

Có ý kiến

 

 

14.3.2.2. Về nội dung giám sát tài chính

Nội dung giám sát tài chính đối với DNNN và doanh nghiệp có vốn nhà nước hiện nay chủ yếu được quy định tại Nghị định số 61/2013/NĐ-CP và Nghị định 87/2015/NĐ-CP thay thế Nghị định số 61/2013/NĐ-CP. Ngoài ra, Nghị định số 49/2014/NĐ-CP và Nghị định số 115/20143/NĐ-CP cũng có quy định một số nội dung giám sát liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến tài chính doanh nghiệp.

Đối với Nghị định số 61/2013/NĐ-CP và Nghị định 87/2015/NĐ-CP, nội dung giám sát được quy định khác nhau theo 3 loại doanh nghiệp:

– DNNN do nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ (DNNN);

– DN do nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ;

– DN do nhà nước nắm giữ dưới 50% vốn điều lệ;

a. Đối với DNNN, nội dung giám sát tài chính của nhà nước bao gồm:

– Giám sát việc bảo toàn và phát triển vốn.

– Giám sát việc quản lý, sử dụng vốn và tài sản nhà nước tại doanh nghiệp theo các nội dung sau:

+ Hoạt động đầu tư vốn đối với các dự án đầu tư, gồm: nguồn vốn huy động, tiến độ thực hiện dự án đầu tư, tiến độ giải ngân vốn đầu tư;

+ Hoạt động đầu tư vốn ra ngoài doanh nghiệp, trong đó bao gồm nội dung giám sát tài chính công ty con, công ty liên kết và giám sát hoạt động đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp;

+ Tình hình huy động vốn và sử dụng vốn huy động, phát hành trái phiếu;

+ Tình hình quản lý tài sản, quản lý nợ tại doanh nghiệp, khả năng thanh toán nợ của doanh nghiệp, hệ số nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu;

+ Tình hình lưu chuyển tiền tệ của doanh nghiệp.

– Giám sát kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

+ Việc thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh, thực hiện nhiệm vụ cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích do Nhà nước đặt hàng, giao kế hoạch;

+ Kết quả hoạt động kinh doanh: doanh thu, lợi nhuận, tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE), tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA);

+ Việc thực hiện nghĩa vụ với ngân sách nhà nước;

+ Phân phối lợi nhuận, trích lập và sử dụng các quỹ.

– Giám sát chấp hành pháp luật về đầu tư, quản lý và sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp; ban hành và thực hiện quy chế quản lý tài chính của doanh nghiệp.

– Giám sát việc cơ cấu lại vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp, cơ cấu lại vốn của doanh nghiệp đầu tư tại công ty con, công ty liên kết.

– Giám sát thực hiện chế độ tiền lương, thù lao, tiền thưởng, phụ cấp trách nhiệm và quyền lợi khác đối với người lao động, người quản lý doanh nghiệp, Kiểm soát viên, người đại diện phần vốn của doanh nghiệp theo quy định của Bộ luật Lao động”.

b. Đối với doanh nghiệp do nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ:

– Giám sát việc bảo toàn và phát triển vốn nhà nước tại doanh nghiệp.

– Giám sát việc quản lý và sử dụng vốn và tài sản nhà nước tại doanh nghiệp theo các nội dung sau:

+ Hoạt động đầu tư vốn, tài sản tại doanh nghiệp và hoạt động đầu tư vốn ra ngoài doanh nghiệp (nguồn vốn huy động gắn với dự án đầu tư, tiến độ thực hiện dự án đầu tư, tiến độ giải ngân vốn đầu tư);

+ Tình hình huy động vốn và sử dụng vốn huy động; phát hành trái phiếu;

+ Tình hình quản lý tài sản, quản lý nợ tại doanh nghiệp, khả năng thanh toán nợ của doanh nghiệp, hệ số nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu;

+ Tình hình lưu chuyển tiền tệ của doanh nghiệp.

– Giám sát hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp:

+ Kết quả hoạt động kinh doanh: doanh thu, lợi nhuận, tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE), tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA);

+ Việc thực hiện nghĩa vụ với ngân sách nhà nước;

– Giám sát việc thực hiện kế hoạch thoái vốn nhà nước, thu hồi vốn nhà nước, thu lợi nhuận, cổ tức được chia từ doanh nghiệp.

c. Đối với doanh nghiệp do nhà nước nắm giữ không quá 50% vốn điều lệ:

– Giám sát việc bảo toàn và phát triển vốn nhà nước tại doanh nghiệp.

– Giám sát tình hình huy động vốn và sử dụng vốn huy động.

– Giám sát hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp: Kết quả hoạt động kinh doanh: doanh thu, lợi nhuận, tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE), tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA).

– Giám sát việc thực hiện kế hoạch thoái vốn nhà nước, thu hồi vốn nhà nước, thu lợi nhuận, cổ tức được chia từ doanh nghiệp.

Các nội dung giám sát tài chính quy định tại Nghị định 61 và Nghị định 87 đều đã được hướng dẫn cụ thể tại các Thông tư (Thông tư số 158/2013/TT-BTC TT số 200/2015/TT-BTC).

Đối với Nghị định số 49, nội dung giám sát về “Quản lý và sử dụng vốn, tài sản nhà nước; chế độ tài chính và giám sát tài chính đối với các doanh nghiệp” là một nội dung được quy định tại Nghị định này, tuy nhiên có dẫn chiếu đến quy định tại Nghị định số 61/2013/NĐ-CP. Ngoài ra, Nghị định số 49/2014/NĐ-CP còn quy định nội dung giám sát về “Sắp xếp, đổi mới, kiện toàn tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp; xây dựng và thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch về đầu tư phát triển, kế hoạch sản xuất kinh doanh đối với doanh nghiệp”. Như vậy, có sự trùng lắp giữa hai nội dung này với nội dung quy định tại Nghị định số 87 và Nghị định 115.

Đối với Nghị định số 115, đối tượng giám sát chỉ bao gồm DNNN, nội dung giám sát mang tính vĩ mô hơn, theo đó Bộ KH&ĐT là cơ quan quản lý nhà nước có trách nhiệm giám sát, tổng hợp báo cáo Chính phủ tình hình thực hiện chiến lược (5 năm, 10 năm) kế hoạch hằng năm, mục tiêu, nhiệm vụ và ngành, nghề kinh doanh được giao của doanh nghiệp về các mặt: tiến độ, tình hình thực hiện,  những hạn chế, sai phạm, nguyên nhân của việc không thực hiện hoặc thực hiện không tốt chiến lược. Ngoài ra, đối với doanh nghiệp sản xuất, Bộ KH&ĐT cũng giám sát nội dung về doanh thu; lợi nhuận; nộp ngân sách; sản lượng sản phẩm chủ yếu…

Theo quy định của Nghị định 69, nội dung về giám sát tài chính đối với các tập đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước bao gồm: “c) Giám sát về tài chính: Việc bảo toàn và phát triển vốn chủ sở hữu tại công ty mẹ; tình hình và kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh; tình hình huy động và sử dụng vốn huy động; tình hình phát hành trái phiếu, cổ phiếu (nếu có); tỷ suất lợi nhuận trên vốn nhà nước; tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu; tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản; lợi nhuận hay cổ tức được chia cho Nhà nước; tình hình đầu tư tại doanh nghiệp và đầu tư ra ngoài doanh nghiệp; tình hình công nợ và khả năng thanh toán nợ; hiệu quả đầu tư và kinh doanh; chi phí tiền lương; vốn điều lệ, điều chỉnh vốn điều lệ, thay đổi cơ cấu vốn điều lệ; các dự án đầu tư vượt mức phân cấp cho Hội đồng thành viên hoặc Hội đồng quản trị công ty mẹ và các chỉ tiêu tài chính cần thiết khác”.

Nhận xét: Với hệ thống các Nghị định hiện hành, nội dung giám sát tài chính đối với DNNN và doanh nghiệp có vốn nhà nước đã được quy định rất toàn diện, bao gồm cả nội dung giám sát từ góc độ cơ quan quản lý nhà nước (VD: tình hình tuân thủ quy định của pháp luật, tình hình thực hiện nghĩa vụ tài chính với NSNN, tình hình thu nhập của người lao động) và nội dung giám sát từ góc độ cơ quan chủ sở hữu (lợi nhuận và kết quả sản xuất kinh doanh, thu hồi vốn, quản trị doanh nghiệp…)

14.3.2.3. Về tiêu chí và phương thức đánh giá kết quả hoạt động của DNNN

Hiện nay, nội dung giám sát tài chính đối với DNNN chỉ được quy định tại Nghị định số 61 và Nghị định 87 thay thế Nghị định số 61. Theo quy định của 2 Nghị định này, DNNN sẽ được phân loại A,B,C căn cứ trên 5 tiêu chí:

– Tiêu chí 1. Doanh thu.

– Tiêu chí 2. Lợi nhuận sau thuế và tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu.

– Tiêu chí 3. Nợ phải trả quá hạn, khả năng thanh toán nợ đến hạn.

– Tiêu chí 4. Chấp hành pháp luật về đầu tư, quản lý và sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp, pháp luật về thuế và các khoản thu nộp ngân sách khác, quy định về chế độ báo cáo tài chính và báo cáo để thực hiện giám sát tài chính.

– Tiêu chí 5. Tình hình thực hiện sản phẩm, dịch vụ công ích.

Các tiêu chí 1, 2, 4 và tiêu chí 5 quy định tại khoản 1 Điều này khi tính toán được xem xét, loại trừ các yếu tố tác động:

– Do nguyên nhân khách quan như: thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh, chiến tranh và các nguyên nhân bất khả kháng khác;

– Do đầu tư mở rộng phát triển sản xuất theo quy hoạch, kế hoạch được cấp có thẩm quyền phê duyệt làm ảnh hưởng đến lợi nhuận trong hai năm đầu kể từ năm đưa công trình đầu tư vào sử dụng;

– Do nhà nước điều chỉnh giá (đối với sản phẩm do nhà nước định giá) làm ảnh hưởng đến doanh thu của doanh nghiệp hoặc phải thực hiện các mục tiêu kinh tế – xã hội theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

Đối với doanh nghiệp được thành lập và thực tế hoạt động thường xuyên ổn định và chủ yếu là cung cấp sản phẩm, dịch vụ công ích thì căn cứ kết quả xếp loại cho từng tiêu chí 1, 3, 4 và tiêu chí 5 nêu trên để xếp loại cho từng doanh nghiệp.

Căn cứ các tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động doanh nghiệp nêu trên, cơ quan đại diện chủ sở hữu giao các chỉ tiêu đánh giá, xếp loại phù hợp với đặc thù hoạt động sản xuất, kinh doanh của từng doanh nghiệp. Các chỉ tiêu này phải giao cho doanh nghiệp bằng văn bản trước ngày 30 tháng 4 của năm kế hoạch và không được điều chỉnh trong suốt kỳ thực hiện (trừ các trường hợp bất khả kháng lớn).

Việc đánh giá hiệu quả và xếp loại doanh nghiệp thực hiện trên cơ sở so sánh giữa kế hoạch, mục tiêu, nhiệm vụ được cơ quan đại diện chủ sở hữu giao với kết quả thực hiện.

Kết quả xếp loại doanh nghiệp sẽ được dùng làm cơ sở để xét quyết định mức khen thưởng, phúc lợi cho người quản lý doanh nghiệp và người lao động tại doanh nghiệp đó.

14.3.2.4. Về công khai thông tin tài chính

a. Đối với DNNN:

Đối với DNNN, các yêu cầu về công khai thông tin của DNNN được quy định khung tại Luật Doanh nghiệp năm 2014 và Luật Quản lý và sử dụng vốn Nhà nước đầu tư vào sản xuất kinh doanh tại doanh nghiệp. Những quy định này đã được cụ thể hoá tại các Nghị định ban hành gần đây của Chính phủ và Thông tư của Bộ Tài chính. Hiện nay, việc công bố/công khai thông tin tài chính của DNNN được quy định bởi 4 văn bản quy phạm pháp luật sau:

– Nghị định số 61/2013/NĐ-CP (được thay thế bởi Nghị định số 87/2015/NĐ-CP),

– Quyết định số 36/2014/QĐ-TTg (thay thế bằng Nghị định số 81/2015/NĐ-CP) được áp dụng đối với DNNN nói chung;

– Nghị định số 93/2015/NĐ-CP được áp dụng đối với DN an ninh, quốc phòng;

– Thông tư số 52/2012/TT-BTC (đã được thay thế bằng Thông tư số 115/2015/TT-BTC) áp dụng đối với doanh nghiệp đã niêm yết trên thị trường chứng khoán.

*  Quy định tại Nghị định số 87/2015/NĐ-CP:

– Đối tượng phải thực hiện công khai thông tin tài chính của DNNN bao gồm: DNNN, cơ quan đại diện chủ sở hữu và Bộ Tài chính.

– Nội dung công khai được quy định tuỳ thuộc từng đối tượng, trong đó:

+ Doanh nghiệp phải công khai Báo cáo tài chính 6 tháng và hằng năm.

+ Cơ quan đại điện chủ sở hữu công bố Kế hoạch giám sát các doanh nghiệp do mình thành lập hoặc được giao quản lý; Quyết định giao chỉ tiêu đánh giá hằng năm; Báo cáo tình hình đầu tư, quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp và Báo cáo tài chính sáu (06) tháng và Báo cáo tài chính năm của doanh nghiệp trong vòng năm (05) ngày làm việc kể từ ngày nhận được các Báo cáo tài chính của doanh nghiệp.

+ Bộ Tài chính công khai: Kế hoạch giám sát đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp; Báo cáo Chính phủ về hoạt động đầu tư, quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp chậm nhất; Báo cáo đánh giá kết quả hoạt động và xếp loại doanh nghiệp; Báo cáo giám sát tình hình thực hiện công khai thông tin tài chính của doanh nghiệp và các cơ quan đại diện chủ sở hữu. Riêng kết quả giám sát đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp năm trước thì chỉ công bố khi có chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ.

Như vậy, nội dung công khai thông tin tài chính của DNNN chỉ bao gồm Báo cáo tài chính 6 tháng và hằng năm, tuy nhiên cơ quan đại diện chủ sở hữu và Bộ Tài chính phải công khai các Báo cáo thuộc trách nhiệm tổng hợp của mình, đồng thời thực hiện công khai các thông tin liên quan khác làm cơ sở giúp công chúng/xã hội có thể cùng tham gia giám sát (VD: Đầu năm phải công khai Kế hoạch giám sát hằng năm, Quyết định giao chỉ tiêu đánh giá làm cơ sở để đánh giá và xếp loại doanh nghiệp vào cuối năm, cuối năm phải công khai Báo cáo giám sát tình hình thực hiện công khai thông tin tài chính đối với các doanh nghiệp và các cơ quan đại diện chủ sở hữu …).

Phương tiện công khai thông tin: Việc công khai thông tin tài chính phải thực hiện trên trang thông tin điện tử của đối tượng công khai thông tin (doanh nghiệp, cơ quan đai diện chủ sở hữu và của Bộ Tài chính). Ngoài ra, có thể lựa chọn thêm các hình thức công khai thông tin khác như Báo cáo bằng văn bản, trên các ấn phẩm khác của doanh nghiệp và công khai tại Hội nghị cán bộ, công nhân, viên chức. Như vậy, Nghị định 87 đã đưa ra một quy định mang tính đột phá so với các quy định trước đây về công khai thông tin tài chính DNNN. Tại Nghị định 61 và các văn bản trước Nghị định 61, hình thức công khai thông tin được quy định riêng cho từng đối tượng tiếp nhận thông tin, trong đó có hình thức công khai bằng việc gửi báo cáo cho đối tượng nhận thông tin. Theo hình thức này, các thông tin này chỉ được tiếp nhận bởi đối tượng được gửi báo cáo, điều này làm cho việc công chúng tiếp cận thông tin về tình hình tài chính của DNNN cũng như việc giám sát mức độ tuân thủ quy định về công khai thông tin hết sức khó khăn. Nay theo quy định của Nghị định 87, công chúng, chủ nợ, người lao động, cơ quan quản lý nhà nước đều có thể tiếp cận các thông tin trên trang web của doanh nghiệp, cơ quan quản lý nhà nước cũng có cơ sở khách quan để giám sát, đánh giá tính tuân thủ của doanh nghiệp. Theo phương thức này, khái niệm về “công khai thông tin” của DNNN đã tiệm cận với quy định về phương tiện công khai thông tin của công ty đại chúng và tương đồng với thông lệ thế giới (công khai thông tin nghĩa là công chúng phải tiếp cận được thông tin đó).

Về giám sát việc thực hiện công khai thông tin của doanh nghiệp do cơ quan đại diện chủ sở hữu đảm nhiệm, Bộ Tài chính tổng hợp.

* Quy định tại Nghị định số 91/2015/NĐ-CP:

Nghị định 91 quy định nội dung thông tin mà DNNN phải công bố định kỳ bao gồm:

“a) Chiến lược phát triển của doanh nghiệp;

b) Kế hoạch sản xuất kinh doanh và đầu tư phát triển năm (05) năm của doanh nghiệp;

c) Kế hoạch sản xuất kinh doanh và đầu tư phát triển hàng năm của doanh nghiệp;

d) Báo cáo đánh giá về kết quả thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh hàng năm và ba (03) năm gần nhất tính đến năm báo cáo;

đ) Báo cáo kết quả thực hiện các nhiệm vụ công ích và trách nhiệm xã hội khác (nếu có);

e) Báo cáo tình hình thực hiện sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp hàng năm;

g) Báo cáo thực trạng quản trị và cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp;

h) Báo cáo tài chính sáu (06) tháng và báo cáo tài chính năm của doanh nghiệp;

i) Báo cáo chế độ tiền lương, tiền thưởng của doanh nghiệp”.

Quy trình công được thực hiện từ doanh nghiệp, trên cơ sở thông tin do doanh nghiệp cung cấp, cơ quan đại diện chủ sở hữu và Bộ Kế hoạch và Đầu tư thực hiện công khai các thông tin này trên trang web của mình.

Hình thức công khai thông tin cũng được quy định bằng nhiều hình thức, tuy nhiên có một hình thức bắt buộc là công khai trên trang web của đối tượng công khai thông tin.

* Quy định tại Nghị định số 93/2015/NĐ-CP:

Hàng năm, doanh nghiệp quốc phòng, an ninh phải công bố trên cổng hoặc trang thông tin điện tử của công ty, cơ quan đại diện chủ sở hữu và Bộ Kế hoạch và Đầu tư những thông tin sau:

“a) Tên gọi, địa chỉ trụ sở chính, người đại diện theo pháp luật;

b) Lịch sử hoạt động của doanh nghiệp, các mục tiêu phát triển dài hạn, kết quả thực hiện mục tiêu trong năm và mục tiêu phấn đấu năm sau;

c) Báo cáo các chỉ tiêu kinh tế chủ yếu (doanh thu, lợi nhuận, nộp ngân sách nhà nước, vốn chủ sở hữu, vốn điều lệ) năm trước liền kề;

d) Kế hoạch, kết quả sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp (nếu có); danh sách các công ty do doanh nghiệp nắm giữ trên 50% vốn điều lệ;

đ) Thu nhập bình quân người lao động”.

Ngoài các thông tin bắt buộc nêu trên, căn cứ quy định về các thông tin phải công bố định kỳ của doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp quốc phòng, an ninh phải gửi các nội dung không thể công khai do bí mật quốc phòng, an ninh cho cơ quan đại diện chủ sở hữu. Trước ngày 31 tháng 8 hằng năm, cơ quan đại diện chủ sở hữu có trách nhiệm tổng hợp và gửi các thông tin này cho Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính để theo dõi, có ý kiến hoặc báo cáo Thủ tướng Chính phủ trong tường hợp cần thiết.

Như vậy, ngoài hình thức công khai ra công chúng trên trang web, các doanh nghiệp an ninh, quốc phòng sẽ thực hiện báo cáo các nội dung không thể công khai do bí mật quốc phòng cho cơ quan chủ sở hữu để tổng hợp và gửi các Bộ ngành liên quan.

Nhận xét:  nội dung thông tin phải công khai của các DNNN  theo quy định của Nghị định 81 và Nghị định 87 là rất rộng, cơ bản giống với quy định đối với các công ty đại chúng. Ngoài các thông tin riêng lẻ do từng doanh nghiệp công bố, quy định hiện hành đã yêu cầu cơ quan đại diện chủ sở hữu và cơ quan quản lý nhà nước công bố cả các Báo cáo tổng hợp liên quan đến hoạt động của DNNN./.

Về chủ thể, mục tiêu và nội dung giám sát tài chính đối với DNNN và DNNN (PGS. TS Bùi Văn Vần).

OECD (2010), Accountability and transparency.

Cẩm nang hướng dẫn giám sát tài chính (2015) – Cục Tài chính doanh nghiệp – Bộ Tài chính.

Báo cáo kinh nghiệm quốc tế về giám sát tài chính đối với DNNN và phần vốn Nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp (Cục TCDN- 2015).

Báo cáo kinh nghiệm của Trung Quốc về quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp (2016) – Viện Chiến lược và chính sách tài chính – Bộ Tài chính.

Hiệp định đối tác Thương mại xuyên Thái Bình Dương (TPP).

Các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành có liên quan:

TT

Tên văn bản

1

Luật Doanh nghiệp năm 2014

2

Luật Đầu tư năm 2014

3

Luật quản lý và sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sxkd tại doanh nghiệp

4

Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015

5

Luật chứng khoản năm 2006 và năm 2010

6

Nghị định số 61/2013/NĐ-CP về sát tài chính, đánh giá hiệu quả và công khai thông tin tài chính doanh nghiệp do nhà nước làm chủ sở hữu và doanh nghiệp có vốn nhà nước

7

Nghị định số 69/2014/NĐ-CP về Tập đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước

8

 Nghị định số 87/2015/NĐ-CP về giám sát đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp, giám sát tài chính, đánh giá hiệu quả và công khai thông tin tài chính DNNN và doanh nghiệp có vốn nhà nước

9

Nghị định số 49/2014/NĐ-CP về giám sát việc chấp hành pháp luật và tuân thủ các quyết định của CSH

10

Nghị định số 115/2014/NĐ-CP về giám sát kiểm tra việc thực hiện chiến lược, KH, nhiệm vụ được giao của DNNN

11

Nghị định số 93/2015/NĐ-CP về tổ chức và quản lý doanh nghiệp an ninh, quốc phòng

12

Nghị định 99/2012 về thực hiện phân công, phân cấp thực hiện các quyền, trách nhiệm và nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà nước và vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp

 


[1] Bên cạnh đó, Chính phủ Trung Quốc cũng đã thành lập một số công ty để thực hiện hoạt động đầu tư và kinh doanh vốn và tài sản của Nhà nước với mục tiêu lợi nhuận như: Tổng công ty Đầu tư Trung Quốc (CIC); Quỹ An sinh Xã hội quốc gia (NSSF); Công ty đầu tư SAFE (SAFE).

[2] “Alio” là chữ viết tắt của cụm từ có ý nghĩa là “Tôi sẽ nói cho bạn biết/I will let you know” – hàm ý sự công khai, minh bạch thông tin

[3] Phụ thuộc vào thời điểm Hiệp định được các nước thành viên phê duyệt


 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *