GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU THUẾ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG

MỤC LỤC

Chuyên đề 13: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU THUẾ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG

ThS. Phạm Nữ Mai Anh, Khoa Thuế – Hải quan, Học viện Tài chính

 13.1. Nội dung cơ bản của Pháp luật thuế bảo vệ môi trường

Nền KTXH ngày càng phát triển luôn kéo theo những vấn đề liên quan đến môi trường. Do đó, bảo vệ môi trường luôn được xác định là chủ trương, chính sách lớn, nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của Đảng và Nhà nước trong quá trình CNH-HĐH đất nước.

Thực hiện Hiến pháp năm 1992, Luật Bảo vệ môi trường và Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 15/11/2004 của Bộ Chính trị về việc bảo vệ môi trường trong thời kỳ CNH-HĐH đất nước, ngày 15/11/2010 Quốc hội đã thông qua Luật thuế bảo vệ môi trường số 57/2010/QH12, ngày 14/7/2011 Uỷ ban thường vụ quốc hội ban hành Nghị quyết số 1269/2011/UBTVQH12 về biểu thuế bảo vệ môi trường; Để hướng dẫn thi hành Luật thuế bảo vệ môi trường, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 67/2011/NĐ-CP ngày 8/8/2011 và Nghị định số 69/2012/NĐ-CP ngày 14/9/2012, đã được Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành tại Thông tư số 152/2011/TT-BTC ngày 11/11/2011, Thông tư số 159/2012/TT-BTC ngày 28/9/2012 và Thông tư số 60/2015/TT-BTC ngày 27/04/2015.

Trên cơ sở các văn bản trên, nội dung cơ bản của Pháp luật thuế Bảo vệ môi trường được đề cập đến trên những vấn đề chủ yếu sau:

13.1.1. Người nộp thuế

Người nộp thuế bảo vệ môi trường là tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sản xuất, nhập khẩu hàng hóa thuộc đối tượng chịu thuế. Người nộp thuế bảo vệ môi trường trong một số trường hợp cụ thể được quy định như sau:

– Trường hợp ủy thác nhập khẩu hàng hóa thì người nhận ủy thác nhập khẩu là người nộp thuế;

– Tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sản xuất, nhận gia công đồng thời nhận ủy thác bán hàng hóa vào thị trường Việt Nam là người nộp thuế bảo vệ môi trường. Trường hợp tổ chức, hộ gia đình, cá nhân nhận gia công nhưng không nhận ủy thác bán hàng thì tổ chức, hộ gia đình, cá nhân giao gia công là người nộp thuế bảo vệ môi trường khi xuất, bán hàng hóa tại Việt Nam.

– Trường hợp tổ chức, hộ gia đình, cá nhân làm đầu mối thu mua than khai thác nhỏ, lẻ mà không xuất trình được chứng từ chứng minh hàng hóa đã được nộp thuế bảo vệ môi trường thì tổ chức, hộ gia đình, cá nhân làm đầu mối thu mua là người nộp thuế.

13.1.2. Đối tượng chịu thuế

Đối tượng chịu Thuế bảo vệ môi trường được quy định bao gồm 8 nhóm sau:

– Xăng, dầu, mỡ nhờn, bao gồm: Xăng, trừ etanol; Nhiên liệu bay; Dầu diezel; Dầu hỏa; Dầu mazut; Dầu nhờn; Mỡ nhờn.

Xăng, dầu, mỡ nhờn là các loại xăng, dầu, mỡ nhờn có gốc hóa thạch xuất bán tại Việt Nam, không bao gồm chế phẩm sinh học (như etanol, dầu thực phẩm, mỡ động vật…).

Đối với nhiên liệu hỗn hợp chứa nhiên liệu sinh học và xăng dầu gốc hóa thạch thì chỉ tính thu thuế bảo vệ môi trường đối với phần xăng dầu gốc hóa thạch.

– Than đá bao gồm: Than nâu; Than an-tra-xít (antraxit); Than mỡ; Than đá khác.

– Dung dịch hydro-chloro-fluoro-carbon (HCFC): Đây là nhóm chất gây suy giảm tầng ô zôn dùng làm môi chất lạnh sử dụng trong thiết bị làm lạnh và trong công nghiệp bán dẫn, được sản xuất trong nước, nhập khẩu riêng hoặc chứa trong các thiết bị điện lạnh nhập khẩu.

Túi ni lông thuộc diện chịu thuế (túi nhựa): Đây là loại túi, bao bì nhựa mỏng có hình dạng túi (có miệng túi, có đáy túi, có thành túi và có thể đựng sản phẩm trong đó) được làm từ màng nhựa đơn HDPE (high density polyethylene resin), LDPE (Low density polyethylen) hoặc LLDPE (Linear low density polyethylen resin), trừ bao bì đóng gói sẵn hàng hóa và túi ni lông đáp ứng tiêu chí thân thiện với môi trường kể từ ngày được cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận túi ni lông thân thiện với môi trường theo quy định của Bộ Tài nguyên và Môi trường.

Bao bì đóng gói sẵn hàng hóa (kể cả có hình dạng túi và không có hình dạng túi) được quy định bao gồm: Bao bì đóng gói sẵn hàng hóa nhập khẩu; Bao bì mà tổ chức, hộ gia đình, cá nhân tự sản xuất hoặc nhập khẩu để đóng gói sản phẩm do tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đó sản xuất, gia công ra hoặc mua sản phẩm về đóng gói hoặc làm dịch vụ đóng gói.

– Thuốc diệt cỏ thuộc loại hạn chế sử dụng.

– Thuốc trừ mối thuộc loại hạn chế sử dụng.

– Thuốc bảo quản lâm sản thuộc loại hạn chế sử dụng.

– Thuốc khử trùng kho thuộc loại hạn chế sử dụng.

13.1.3. Đối tượng không chịu thuế

Bao gồm các hàng hóa không thuộc danh mục đối tượng chịu thuế nêu trên. Đối với các hàng hóa thuộc danh mục đối tượng chịu thuế thì không chịu thuế bảo vệ môi trường trong các trường hợp sau:

– Hàng hóa được vận chuyển từ nước xuất khẩu đến nước nhập khẩu qua cửa khẩu Việt Nam (quá cảnh hoặc chuyển khẩu qua cửa khẩu biên giới, gồm cả trường hợp đã đưa vào kho ngoại quan) nhưng không làm thủ tục nhập khẩu vào Việt Nam và không làm thủ tục xuất khẩu ra khỏi Việt Nam.

– Hàng hóa quá cảnh qua cửa khẩu, biên giới Việt Nam trên cơ sở Hiệp định ký kết giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ nước ngoài hoặc giữa cơ quan, người đại diện được Chính phủ Việt Nam và Chính phủ nước ngoài ủy quyền theo quy định của pháp luật.

– Hàng hóa tạm nhập khẩu, tái xuất khẩu trong thời hạn theo quy định của pháp luật.

– Hàng hóa xuất khẩu ra nước ngoài (bao gồm cả hàng hóa xuất khẩu được gia công từ nguyên liệu, vật tư nhập khẩu) do cơ sở sản xuất (bao gồm cả gia công) trực tiếp xuất khẩu hoặc ủy thác cho cơ sở kinh doanh xuất khẩu để xuất khẩu thì cơ quan hải quan không thu thuế bảo vệ môi trường đối với hàng hóa xuất khẩu và nguyên liệu, vật tư nhập khẩu để gia công sau đó xuất khẩu ra nước ngoài khi nhập khẩu.

13.1.4. Phương pháp tính thuế

Thuế bảo vệ môi trường phải nộp được tính theo công thức sau:

Thuế bảo vệ môi trường phải nộp = Số lượng đơn vị hàng hóa tính thuế x Mức thuế tuyệt đối trên một đơn vị hàng hóa

13.1.5. Căn cứ tính thuế

Dựa trên công thức trên thì số thuế môi trường phải nộp được xác định dựa trên hai căn cứ là số lượng hàng hóa tính thuế và mức thuế tuyệt đối. Cụ thể:

Số lượng hàng hóa tính thuế

– Đối với hàng hóa sản xuất trong nước, số lượng hàng hóa tính thuế là số lượng hàng hóa sản xuất bán ra, trao đổi, tiêu dùng nội bộ, tặng cho, khuyến mại, quảng cáo.

– Đối với hàng hóa nhập khẩu, số lượng hàng hóa tính thuế là số lượng hàng hóa nhập khẩu.

– Đối với hàng hóa là nhiên liệu hỗn hợp chứa xăng, dầu, mỡ nhờn gốc hóa thạch và nhiên liệu sinh học thì số lượng hàng hóa tính thuế trong kỳ là số lượng xăng, dầu, mỡ nhờn gốc hóa thạch có trong số lượng nhiên liệu hỗn hợp nhập khẩu hoặc sản xuất bán ra, trao đổi, tặng cho, đưa vào tiêu dùng nội bộ được quy đổi ra đơn vị đo lường quy định tính thuế của hàng hóa tương ứng. Cách xác định như sau:

Số lượng xăng, dầu, mỡ nhờn gốc hóa thạch tính thuế = Số lượng nhiên liệu hỗn hợp nhập khẩu, sản xuất bán ra, tiêu dùng, trao đổi, tặng cho x Tỷ lệ phần trăm (%) xăng, dầu, mỡ nhờn gốc hóa thạch có trong nhiên liệu hỗn hợp

 Đối với túi ni lông đa lớp được sản xuất hoặc gia công từ màng nhựa đơn HDPE, LDPE, LLDPE và các loại màng nhựa khác (PP, PA,…) hoặc các chất khác như nhôm, giấy… thì thuế bảo vệ môi trường được xác định theo tỷ lệ % trọng lượng màng nhựa đơn HDPE, LDPE, LLDPE có trong túi ni lông đa lớp.

Mức thuế tuyệt đối

Mức thuế tuyệt đối làm căn cứ tính thuế bảo vệ môi trường đối với từng hàng hóa là mức thuế được quy định tại Biểu mức thuế bảo vệ môi trường ban hành kèm theo Nghị quyết số 1269/2011/UBTVQH12 ngày 14 tháng 7 năm 2011 và Nghị quyết số 888a/2015/UBTVQH13 ngày 10 tháng 3 năm 2015 của Ủy ban thường vụ Quốc hội sửa đổi, bổ sung Nghị quyết số 1269/2011/UBTVQH12 về biểu thuế bảo vệ môi trường.

Theo đó mức thuế đối với xăng, dầu, mỡ nhờn có mức thấp nhất là 300 đồng/ lít dầu hỏa, mức cao nhất áp dụng cho xăng (trừ etanol) và nhiên liệu bay là 3.000 đồng/lít; Đối với than đá có mức thấp nhất là 10.000 đồng/tấn, mức cao nhất là 20.000 đồng/tấn đối với than antraxit. Dung dịch HCFC có mức thuế là 4.000 đồng/kg, thuốc diệt cỏ loại hạn chế sử dụng 500 đồng/kg; các loại thuốc trừ mối, thuốc bảo quản lâm sản, thuốc khử trùng kho loại hạn chế sử dụng đều có chung mức thuế là 1.000 đồng/kg. Mức thuế bảo vệ môi trường cao nhất được áp dụng cho mặt hàng túi ni lông thuộc diện chịu thuế là 40.000 đồng/kg.

13.1.6. Hoàn thuế

Việc hoàn thuế bảo vệ môi trường chỉ thực hiện đối với hàng hóa thực tế xuất khẩu. Người nộp thuế bảo vệ môi trường được hoàn thuế bảo vệ môi trường đã nộp trong một số trường hợp sau:

– Hàng hóa nhập khẩu còn lưu kho, lưu bãi tại cửa khẩu và đang chịu sự giám sát của cơ quan Hải quan được tái xuất khẩu ra nước ngoài.

– Hàng hóa nhập khẩu để giao, bán cho nước ngoài thông qua đại lý tại Việt Nam; xăng, dầu bán cho phương tiện vận tải của hãng nước ngoài trên tuyến đường qua cảng Việt Nam hoặc phương tiện vận tải của Việt Nam trên tuyến đường vận tải quốc tế theo quy định của pháp luật.

– Hàng hóa tạm nhập khẩu để tái xuất khẩu theo phương thức kinh doanh hàng tạm nhập, tái xuất được hoàn lại số thuế bảo vệ môi trường đã nộp tương ứng với số hàng tái xuất khẩu.

– Hàng nhập khẩu do người nhập khẩu tái xuất khẩu (kể cả trường hợp trả lại hàng) ra nước ngoài được hoàn lại số thuế bảo vệ môi trường đã nộp đối với số hàng tái xuất ra nước ngoài.

– Hàng tạm nhập khẩu để tham gia hội chợ, triển lãm, giới thiệu sản phẩm được hoàn lại số thuế bảo vệ môi trường đã nộp tương ứng với số hàng hóa khi tái xuất khẩu ra nước ngoài.

13.1.7. Thời điểm tính thuế

– Đối với hàng hóa sản xuất bán ra, trao đổi, tặng cho, khuyến mại, quảng cáo, thời điểm tính thuế là thời điểm chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng hàng hóa.

– Đối với hàng hóa sản xuất đưa vào tiêu dùng nội bộ, thời điểm tính thuế là thời điểm đưa hàng hóa vào sử dụng.

– Đối với hàng hóa nhập khẩu, thời điểm tính thuế là thời điểm đăng ký tờ khai hải quan, trừ xăng dầu nhập khẩu để bán.

– Đối với xăng, dầu sản xuất hoặc nhập khẩu để bán, thời điểm tính thuế là thời điểm doanh nghiệp đầu mối kinh doanh xăng, dầu bán ra.

13.2. Tình hình thực hiện công tác thu thuế bảo vệ môi trường những năm gần đây

13.2.1. Kết quả thu thuế bảo vệ môi trường những năm gần đây

Số thu về thuế bảo vệ môi trường đạt được thời gian qua chiếm tỷ trọng không lớn trong tổng số thu từ nội địa với tỷ lệ trung bình hàng năm chiếm khoảng từ 1,215% đến 2,64% và tập trung chủ yếu vào một số nhóm hàng sản xuất trong nước (số thu thuế bảo vệ môi trường đối với nhóm hàng sản xuất trong nước chiếm trên 95% tổng số thu về thuế bảo vệ môi trường) bao gồm: xăng, dầu diezen, than đá, dầu mazut, dầu nhờn, mỡ nhờn. Cụ thể số thu thuế bảo vệ môi trường được thể hiện rõ ở bảng sau:

Bảng 13.1. Tổng hợp số thu thuê bảo vệ môi trường

Đơn vị tính: tỷ đồng

TT Chỉ tiêu 2012 2013 2014 2015 11 tháng năm 2016*
I  Tổng thu nội địa 600.413 677.943 686.098 808.071 763.330
II Tổng số thu thuế BVMT 11.458 11.224 8.342 14.860 20.164
1 Nhóm hàng hóa sản xuất trong nước 11.160 11.036 8.059 14.260 19.513
2 Nhóm hàng hóa nhập khẩu 298 118 283 599 652
III Tỷ trọng số thu thuế BVMT/tổng thu nội địa (%) 1,9083 1,655 1,215 1,8389 2,641

Nguồn: Tổng cục Thuế

Nhìn bảng số liệu trên có thể thấy từ khi Luật thuế bảo vệ môi trường bắt đầu có hiệu lực vào năm 2012 đến 2014 số thu thuế bảo vệ môi trường chỉ đạt mức vừa phải và không có sự tăng đột biến, thậm chí số thuế thu được còn có sự giảm sút vào năm 2014. Bước sang năm 2015, khi sự phát triển nền kinh tế dần bước ra khỏi cuộc khủng hoảng thì số thu thuế bảo vệ môi trường đã dần có sự gia tăng mạnh từ 14.860 tỷ đồng năm 2015 tăng lên đạt đến con số 20.164 tỷ đồng- số liệu thống kê tính đến tháng 11/2015. Với nguồn thu như trên vừa tạo thêm nguồn để giải quyết vấn đề môi trường, vừa đảm bảo tính cạnh tranh của nền kinh tế đối với các sản phẩm nội địa của Việt Nam.

13.2.2. Những kết quả đạt được trong công tác thu thuế bảo vệ môi trường

Đạt được kết quả nêu trên là sự cố gắng, nỗ lực của toàn ngành thuế trong quá trình triển khai thực hiện và quản lý thu thuế bảo vệ môi trường, cụ thể: Tổng cục Thuế đã triển khai tập tuấn chính sách và phương pháp kê khai thuế bảo vệ môi trường tại 3 miền (Bắc, Trung, Nam); kịp thời trình Bộ ban hành công văn số 1199/BTC-TCT ngày 30/01/2012 gửi Cục Thuế và Cục Hải quan các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương để giải quyết một số vấn đề phát sinh trong quá trình triển khai thực hiện Luật Thuế bảo vệ môi trường; phối hợp với Vụ Chính sách thuế- Bộ Tài chính để trình Bộ, trình Chính phủ, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành các Nghị định, Thông tư hướng dẫn về thuế BVMT và các Nghị quyết quy định về biểu mức thuế BVMT; đồng thời đẩy mạnh công tác tuyên truyền về chính sách thuế BVMT bằng các hình thức như: mở chuyên mục về Luật thuế BVMT trên website ngành thuế, tổ chức họp báo tuyên truyền, phổ biến nội dung của Luật thuế. Tại cơ quan thuế các cấp đã tích cực triển khai thực hiện Luật thuế BVMT bằng các hình thức như: Tập huấn về chính sách thuế BVMT cho các cán bộ thuế và đơn vị có liên quan; phát hành tờ rơi, pano, áp phích tuyên truyền; tổ chức tuần lễ lắng nghe ý kiến của người nộp thuế…. Bên cạnh đó, ngành Thuế cũng đã tăng cường đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra thuế bảo vệ môi trường nhằm xử lý và răn đe kịp thời những gian lận trong việc kê khai, xác định và thực hiện nghĩa vụ thuế BVMT.

Bên cạnh các nỗ lực đạt được trong công tác quản lý thì các quy định về mặt chính sách được triển khai áp dụng như thế nào cũng là một vấn đề đáng quan tâm. Trải qua hơn 5 năm thực hiện Luật thuế Bảo vệ môi trường và các văn bản hướng dẫn thi hành cho thấy chính sách thuế bảo vệ môi trường đã phát huy được nhiều ưu điểm, cụ thể:

– Đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế bền vững, khuyến khích phát triển kinh tế đi liền giảm ô nhiễm môi trường, thúc đẩy doanh nghiệp nghiên cứu ứng dụng công nghệ sạch vào sản xuất, nghiên cứu sử dụng nguyên liệu thay thế nguyên liệu hóa thạch để sản xuất các sản phẩm thân thiện với môi trường, thay thế các sản phẩm gây ô nhiễm môi trường, phù hợp với tình hình kinh tế hiện nay và những năm tới.

– Nâng cao ý thức bảo vệ môi trường của toàn xã hội, từ đó góp phần thay đổi nhận thức, hành vi của tổ chức, cá nhân trong sản xuất và tiêu dùng nhằm giảm phát thải ô nhiễm tại nguồn.

– Tăng cường quản lý nhà nước, thể chế hoá chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về tiếp tục cải cách, xây dựng hệ thống thuế đồng bộ, phù hợp với các qui định của Hiến pháp, tính thống nhất và đồng bộ với các văn bản pháp luật có liên quan khác; thực hiện cam kết của Chính phủ với cộng đồng quốc tế.

– Các quy định trong Luật không quá phức tạp, phải rõ ràng, dễ hiểu, dễ thực hiện, dễ quản lý.

– Động viên hợp lý đóng góp của xã hội, tạo thêm nguồn thu để giải quyết vấn đề môi trường, đồng thời phải đảm bảo tính cạnh tranh của nền kinh tế, của các sản phẩm chủ yếu của Việt Nam.

Như vậy, có thể thấy những kết quả đạt được trong công tác thu thuế bảo vệ môi trường rất đáng được ghi nhận vừa đảm bảo đem lại số thu nhất định cho ngân sách nhà nước vừa có tác động giảm thiểu đến các hành vi gây ảnh hưởng đến môi trường, góp phần xây dựng một môi trường xanh cùng với sự phát triển của nền KTXH.

13.2.3. Những hạn chế trong công tác thu thuế bảo vệ môi trường

Bên cạnh những kết quả đã đạt được, thì vẫn còn những tồn tại nhất định ảnh hưởng đến công tác thu thuế bảo vệ môi trường. Cụ thể:

Xét về phương diện công tác quản lý thuế của cơ quan thuế thì mặc dù ngành Thuế đã rất quan tâm đến công tác tuyên truyền hỗ trợ nhằm làm cho người dân có thể hiểu và thực hiện được tốt các quy định về chính sách thuế, tuy nhiên các hình thức tuyên truyền vẫn chưa thực sự phong phú và đa dạng về hình thức thực hiện, chưa có sự đánh giá ưu và nhược điểm của từng hình thức đối với từng địa phương để có sự lựa chọn hình thức cho phù hợp với trình độ và sự phát triển dân trí ở các địa phương khác nhau. Bên cạnh đó, công tác thanh tra, kiểm tra thuế vẫn chưa tiến hành kiểm tra toàn bộ được các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân có hoạt động sản xuất, nhập khẩu các sản phẩm thuộc đối tượng chịu thuế BVMT; gây thất thoát một số thu nhất định cho NSNN. Như vậy có thể thấy công tác tuyên truyền và hỗ trợ và công tác thanh, kiểm tra là hai chức năng quan trọng trong mô hình quản lý thuế đề cao việc người nộp thuế tự tính, tự kê khai, tự nộp thuế nhưng hai công tác này vẫn chưa được phát huy hiệu quả một cách tích cực trong công tác quản lý thu thuế của cơ quan thuế.

Xét về phương diện chính sách thuế BVMT, quá trình thực hiện đã phát sinh một số vướng mắc, hạn chế đỏi hỏi cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần sớm có sửa đổi, bổ sung để phù hợp với tình hình thực tế. Cụ thể:

Thứ nhất: Về đối tượng chịu thuế

– Trường hợp doanh nghiệp tái chế nhựa mua phế liệu, phế phẩm màng nhựa, túi nhựa (đã chịu thuế BVMT) về tái sinh thành hạt nhựa tái sinh, sau đó bán cho các doanh nghiệp nhựa để sản xuất ra các túi bao bì nhựa tái sinh và bán ra thị trường, đồng thời phải chịu thuế BVMT một lần nữa. Nếu áp dụng như vậy sẽ dẫn đến sản phẩm túi bao bì nhựa tái sinh đắt hơn túi bao bì nhựa nguyên sinh, như vậy không hợp lý.

– Các đơn vị sản xuất túi xốp dạng tái chế lại, nguyên liệu sản xuất là nhựa phế liệu như túi xốp, túi nhựa các loại, vỏ chai nhựa cocacola, pepsi… để tái chế lại thì có thuộc đối tượng chịu thuế bảo vệ môi trường hay không thì Luật thuế Bảo vệ môi trường chưa có quy định cụ thể. Nhưng rõ ràng xét về mặt tính chất hóa học thì các sản phẩm này vẫn được làm từ nhựa gây ảnh hưởng rất lớn đến môi trường khi sử dụng.

– Hiện nay, có nhiều sản phẩm, hàng hoá mà việc sử dụng có khả năng gây ô nhiễm môi trường nhưng lại chưa được đưa vào diện điều chỉnh của Luật thuế BVMT, ví dụ như các chất tẩy rửa trong công nghiệp, thuốc lá, chất thải phóng xạ, phốt pho, axit, nhiều hóa chất khác trong nhiều ngành công nghiệp… Như các chất thải hóa chất của Công ty TNHH gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh được thải ra biển gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng nước biển của một số tỉnh miền Trung vào năm 2016. Hoặc đối với mặt hàng phốt pho và axit ở Lào Cai, phốt pho và axit là sản phẩm độc hại khi sử dụng, dễ cháy nổ; theo báo cáo Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Lào Cai về thực trạng môi trường tại Khu công nghiệp Tằng Loỏng, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai đã cho thấy:

+ Nhóm sản xuất hóa chất có tổng lượng khí thải 198.700 Nm3/h. Bên cạnh đó theo số liệu quan trắc tổng lượng khí thải của các Nhà máy thực tế lớn hơn gần 2 lần so với lý thuyết DTM được phê duyệt. Ngoài ra, sự cố về vấn đề kỹ thuật của các nhà máy trong quá trình sản xuất đã gây tác động tới môi trường không khí khu vực dân cư xung quanh khu công nghiệp và phạm vi ảnh hưởng ngày càng rộng.

+ Nhóm sản xuất hóa chất có khối lượng chất thải rắn công nghiệp (gồm các nhà máy sản xuất phốt pho và axit): 138.860 tấn/năm. Đối với các nhà máy sản xuất phốt pho phát sinh lượng bùn phốt pho, thực tế hiện nay lượng bùn thải này chưa được xử lý triệt để, trước đây đã có một số đơn vị bơm bùn lên các bãi thải để lưu chứa mà không có giải pháp xử lý nước thải gây ô nhiễm môi trường nước,…

Thứ hai: Về đối tượng không chịu thuế

Thông tư số 159/2012/TT-BTC ngày 28/9/2012 của Bộ Tài chính quy định bao bì đóng gói sẵn hàng hoá (kể cả hàng xuất khẩu và tiêu thụ trong nước) không thuộc đối tượng chịu thuế bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, nếu thực hiện quy định này sẽ rất khó khăn vì người nộp thuế là người sản xuất túi nilông khi xuất bán ra phải kê khai, nộp thuế BVMT nên không thể biết người mua sử dụng túi nilông này vào việc gì; Cơ quan thuế không thể theo dõi, quản lý được việc sử dụng của người mua thực tế là phục vụ vào mục đích gì? Nếu để đơn vị tự khai, tự nộp thì thực tế là sẽ vẫn không thu được thuế mà quy định này sẽ gây kẽ hở để người bán và người mua trốn thuế.

Thứ ba: Về Biểu khung thuế và mức thuế

– Luật thuế BVMT hiện hành xác định mức thuế tuyệt đối theo Biểu khung thuế để đơn giản, minh bạch trong thực hiện và ổn định số thu cho ngân sách. Căn cứ vào Biểu khung thuế này, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết quy định mức thuế cụ thể áp dụng cho từng loại sản phẩm. Đối với xăng, dầu hiện nay mức thuế BVMT đã gần bằng mức trần trong khung thuế. Do đó, nếu cần thiết phải điều chỉnh mức thuế BVMT đối với xăng, dầu để thực hiện chính sách điều tiết của nhà nước trong phát triển KTXH thì khó trong trường hợp muốn điều chỉnh tăng mức thu.

Thứ tư: Thời điểm tính thuế

Luật thuế BVMT hiện hành quy định đối với xăng, dầu nhập khẩu để bán có thời điểm tính thuế là thời điểm đầu mối kinh doanh xăng, dầu bán ra. Hiện nay theo quy định tại Luật Ngân sách nhà nước số 83/2015/QH13 thì thuế bảo vệ môi trường thu từ hàng hóa nhập khẩu là khoản thu ngân sách trung ương hưởng 100%, thuế bảo vệ môi trường (trừ thuế BVMT đối với thu từ hàng hóa nhập khẩu) là khoản thu phân chia theo tỷ lệ % giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương. Do đó, để thống nhất với quy định tại Luật Ngân sách nhà nước hiện hành thì cần thiết phải sửa đổi quy định về thời điểm tính thuế  BVMT đối với xăng dầu nhập khẩu để bán.

Thứ năm: Về vấn đề hoàn thuế

Tại thông tư số 30/2013/TT-BTC ngày 18/3/2013 của Bộ Tài chính có quy định:  (1) Người nhập khẩu bao bì để đóng gói sản phẩm do người nhập khẩu đó sản xuất, gia công ra hoặc mua sản phẩm về đóng gói hoặc làm dịch vụ đóng gói hoặc (2) Người sản xuất hoặc người nhập khẩu bao bì bán trực tiếp cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân khác (gọi tắt là người mua bao bì) để đóng gói sản phẩm do người mua bao bì sản xuất, gia công ra hoặc mua sản phẩm về đóng gói hoặc làm dịch vụ đóng gói được hoàn lại tiền thuế bảo vệ môi trường đã nộp và tiền phạt chậm nộp nếu có từ ngày 01/ 01/2012 đến hết ngày 14/11/2012 đối với túi ni lông làm bao bì đóng gói sẵn hàng hóa. Tuy nhiên, do thuế bảo vệ môi trường là thuế gián thu, thuế bảo vệ môi trường được cấu thành trong giá mà người tiêu dùng cuối cùng phải trả; được thu vào sản phẩm, hàng hóa khi sử dụng gây tác động xấu đến môi trường nên thực chất người nộp thuế cuối cùng là người tiêu dùng. Việc hoàn thuế cho người sản xuất hoặc nhập khẩu không mang lại lợi ích cho người tiêu dùng vì thực tế số tiền hoàn thuế này được “bỏ túi” những nhà sản xuất, kinh doanh. Ngoài ra, việc hoàn thuế đối với trường hợp (2) phát sinh vướng mắc khi người nộp thuế bảo vệ môi trường là tổ chức, hộ gia đình, cá nhân mua bao bì để đóng gói sản phẩm nhưng người được hoàn thuế lại là tổ chức sản xuất hoặc nhập khẩu bao bì để bán, trong nhiều trường hợp bên được hoàn thuế đã không hoàn trả lại số tiền hoàn thuế cho người mua bao bì.

Thứ sáu: Một số vấn đề khác

Hiện nay trên thị trường, việc mua bán các sản phẩm thuộc đối tượng chịu thuế bảo vệ môi trường diễn ra khá phổ biến, nhưng có rất nhiều sản phẩm không rõ nguồn gốc xuất xứ, buôn bán không công khai minh bạch, nhập khẩu theo hình thức buôn lậu theo các con đường tiểu ngạch, nhiều sản sản phẩm không có cơ sở để xác định được đã nộp thuế bảo vệ môi trường hay chưa. Bên cạnh đó, cũng tồn tại khá nhiều đối tượng kinh doanh mua bán (không phải sản xuất, nhập khẩu) các sản phẩm như túi ni lông, dầu mazut … trôi nổi trên thị trường, không rõ nguồn gốc nhưng hiện chưa có quy định phải nộp thuế BVMT cho các đối tượng này (ngoại trừ đối tượng làm đầu mối thu mua than khai thác nhỏ, lẻ đã được quy định). Do đó việc có thể kiểm soát được chặt chẽ các đối tượng chịu thuế cũng như người nộp thuế là vấn đề đặt ra quan trọng cho công tác quản lý thu thuế bảo vệ môi trường hiện nay.

Việc áp dụng thuế bảo vệ môi trường trong hệ thống chính sách thuế hiện nay nhằm mục tiêu góp phần bảo vệ môi trường, hướng tới xây dựng một hệ thống thuế xanh. Đối với việc đánh thuế bảo vệ môi trường vào nhóm sản phẩm túi ni lông gây hại cho môi trường, đứng trên khía cạnh tiêu dùng thì thời gian qua người dân đã giảm bớt việc tiêu dùng mặt hàng này hoặc đã chuyển qua dùng các loại túi ni lông thân thiện với môi trường. Nhưng đứng trên góc độ nhà sản xuất thì việc áp dụng thuế bảo vệ môi trường ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động sản xuất túi ni lông kéo theo hệ lụy dẫn đến các hành vi trốn thuế trở nên khá phổ biến. Cụ thể trên thị trường 1 kg túi ni lông bán với giá trung bình từ 25.000đ/1kg- 40.000đ/1kg trong khi đó mức thuế BVMT là 40.000đ/1kg nên giá sản phẩm tăng cao gây khó khăn cho doanh nghiệp, nhiều trường hợp doanh nghiệp sản xuất túi ni lông trốn thuế nên cơ quan thuế gặp khó khăn trong việc quản  lý nguồn thu này.

Thuế BVMT có mục tiêu chính là góp phần bảo vệ môi trường trước thực trạng môi trường đang có nhiều biến động theo chiều hướng xấu như hiện nay, còn mục tiêu tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước không phải là mục tiêu hàng đầu cần phải đạt được ở sắc thuế này, và số thuế bảo vệ môi trường thu được cũng được dùng để khắc phục các vấn đề về môi trường. Qua một thời gian triển khai áp dụng Luật thuế BVMT trong thực tế bên cạnh những kết quả đã đạt được rất đáng ghi nhận về cả số thu và phần nào tác động hiệu quả đến công cuộc BVMT; thì vẫn còn tồn tại khá nhiều hạn chế về cả công tác quản lý của cơ quan thuế và đặc biệt là các quy định về mặt chính sách cần thiết phải được nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung để chính sách thuế bảo vệ môi trường được áp dụng có tính hiệu quả hơn trong thực tế.

13.3. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thu thuế bảo vệ môi trường thời gian tới

Hiệu quả thu thuế bảo vệ môi trường chịu sự tác động của tổng thể nhiều nhân tố khác nhau từ các nhân tố xuất phát từ phía cơ quan thuế đến các nhân tố về mặt chính sách và các nhân tố khác có liên quan đến công tác thu thuế của cơ quan thuế. Do đó giải pháp để nâng cao hiệu quả thu thuế bảo vệ môi trường thời gian tới có thể đề cập đến một số nhóm giải pháp sau:

13.3.1. Giải pháp về phía cơ quan thuế

– Cần phải tăng cường công tác tuyên truyền về hệ thống chính sách pháp luật về thuế bảo vệ môi trường để người dân biết thực hiện ở cả hình thức tuyên truyền và nội dung tuyên truyền. Công tác hỗ trợ cần phải được chú trọng hơn để có thể giải đáp kịp thời những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện nghĩa vụ thuế của người nộp thuế.

– Thuế bảo vệ môi trường được cấu thành trong giá tính thuế GTGT, ẩn trong giá mà người mua phải trả cuối cùng khi mua hàng thuộc đối tượng chịu thuế BVMT. Với bản chất là thuế gián thu, người sản xuất, người nhập khẩu là người nộp còn người tiêu dùng là người chịu thuế nhưng khi mức thuế phải nộp cao sẽ kéo theo giá bán hàng hóa đó ra sẽ cao gây ảnh hưởng đến doanh thu tiêu thụ sản phẩm, dẫn tới người nộp thuế sẽ luôn tìm cách trốn thuế, làm giảm đi số thuế phải nộp gây thất thu cho ngân sách nhà nước. Do đó, ngành thuế cần phải tăng cường hơn nữa công tác kiểm tra thuế BVMT song hành cùng với công tác kiểm tra thuế GTGT; tăng cường từ công tác kiểm tra căn cứ tính thuế, kiểm tra việc thực hiện nghĩa vụ thuế đến công tác hoàn thuế cho người nộp thuế. Từ đó mới đảm bảo thu đúng, thu đủ số thu từ thuế bảo vệ môi trường vào ngân sách nhà nước.

13.3.2. Giải pháp về mặt chính sách

Trên cơ sở những tồn tại đã nêu trong phần thực trạng, một số đề xuất sửa đổi, bổ sung pháp luật về chính sách thuế bảo vệ môi trường như sau:

– Về đối tượng chịu thuế:

Cần bổ sung thêm đối tượng chịu thuế BVMT là thuốc lá, các chất tẩy rửa trong công nghiệp, chất thải phóng xạ, nhập khẩu các hàng phế liệu, phế thải, rác thải công nghiệp, phốt pho, axit, dầu mỏ thô (HS code: 2709.00.10),… vì thực tế hiện nay việc ô nhiễm môi trường tại các làng nghề, các khu công nghiệp trên cả nước đang là vấn đề hết sức trầm trọng và không quản lý được. Vì vậy, cần phải có một cơ chế tài chính để điều tiết đối với các hành vi xả các chất thải ra môi trường.

Đối với mặt hàng là túi ni lông thì Luật thuế BVMT chỉ quy định túi ni lông thuộc diện chịu thuế là loại túi, bao bì chung chung nên trong quá trình triển khai thực hiện có nhiều vướng mắc liên quan đến việc nhận diện hình dạng túi ni lông (túi, bao bì) thuộc đối tượng chịu thuế. Để giải quyết vấn đề này, tại Nghị định số 69/2012/NĐ-CP ngày 14/9/2012 của Chính phủ đã có hướng dẫn cụ thể. Tuy nhiên, để nâng cao tính pháp lý đối với quy định này thì cần quy định rõ tại Luật. Ngoài ra cần quy định rõ chỉ thu vào túi ni lông hay có cả màng ni lông vì thực tế màng ni lông không phải là túi cũng gây ô nhiễm môi trường. Hiện nay, màng nilong phục vụ trong sản xuất nông nghiệp thì không thu nhưng màng nilong phục vụ trong công nghiệp thì phải thu dẫn đến tình trạng quản lý theo mục đích không thực hiện được. Bên cạnh đó cũng nên quy định rõ đối với các tổ chức cá nhân thu gom phế liệu, túi ni lông về để bán để tái chế lại nếu không chứng minh được các sản phẩm này đã chịu thuế thì phải kê khai, nộp thuế bảo vệ môi trường. Việc nộp thuế bảo vệ môi trường không phải là căn cứ để hợp thức hoá hành vi vi phạm pháp luật của người nộp thuế. Mặt khác, theo quy định tại Nghị định số 67/2011/NĐ-CP và Nghị định số 69/2012/NĐ-CP thì các loại túi ni lông dùng để đóng gói sẵn hàng hoá thuộc đối tượng không phải nộp thuế BVMT. Quy định này gây rất nhiều khó khăn cho việc quản lý thuế đồng thời gây thất thu ngân sách và vừa không hạn chế được ô nhiễm môi trường cũng như thay đổi hành vi của nhà sản xuất, công nghệ sản xuất túi. Vì vậy, nên đưa tất cả các loại túi nilong nói chung vào đối tượng chịu thuế không loại trừ đối với loại nào cả tránh tình trạng quản lý thuế theo mục đích sử dụng như hiện nay.

Theo quy định tại Luật thuế bảo vệ môi trường hiện hành thì dung dịch HCFC thuộc đối tượng chịu thuế bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, trên thực tế, dung dịch này còn tồn tại dưới dạng chất hỗn hợp có chứa HCFC (như chất Polyol có trộn sẵn HCFC-141,…) nhưng chưa được quy định tại Luật thuế bảo vệ môi trường. Về vấn đề này, Bộ Tài chính đã có công văn số 12128/BTC-CST ngày 1/9/2015 hướng dẫn thu thuế BVMT đối với dung dịch HCFC dưới dạng chất hỗn hợp. Để đảm bảo cơ sở pháp lý chặt chẽ về thu thuế BVMT đối với dung dịch HCFC dưới dạng chất hỗn hợp, đề nghị bổ sung quy định này tại Luật thuế BVMT.

Về đối tượng không chịu thuế:

Theo quy định của Luật thuế BVMT thì hàng hóa (bao gồm cả xăng, dầu) do cơ sở sản xuất trực tiếp xuất khẩu hoặc ủy thác cho cơ sở kinh doanh xuất khẩu để xuất khẩu thuộc đối tượng không phải nộp thuế BVMT. Tuy nhiên, hiện nay tại Việt Nam chỉ có duy nhất Công ty Lọc hóa dầu Bình Sơn là đơn vị sản xuất các sản phẩm từ dầu mỏ. Công ty này không trực tiếp xuất khẩu xăng dầu, đồng thời cũng không thực hiện ủy thác cho các công ty kinh doanh xăng dầu đầu mối để xuất khẩu mà chỉ xuất bán cho các công ty đầu mối kinh doanh xăng dầu (có giấy phép xuất nhập khẩu, kinh doanh xăng dầu của Bộ Công thương) để xuất khẩu. Như vậy, trường hợp công ty kinh doanh xăng dầu đầu mối mua xăng dầu của Công ty Lọc hóa dầu Bình Sơn sau đó xuất khẩu ra nước ngoài thì vẫn phải nộp thuế BVMT. Quy định này làm phát sinh vướng mắc là không đảm bảo được mục tiêu điều chỉnh của Luật thuế BVMT là thu vào hàng hóa khi sử dụng tác động xấu đến môi trường (tại Việt Nam); không khuyến khích được hoạt động của Công ty sản xuất các sản phẩm từ dầu mỏ trong nước. Do đó, cần nghiên cứu sửa đổi, bổ sung quy định nêu trên của Luật thuế BVMT cho phù hợp với thực tế.

– Về khung thuế BVMT:

Nên cần mở rộng khung biểu thuế bảo vệ môi trường để phù hợp với sự trượt giá của đồng nội tệ. Đồng thời cần nâng mức thu của các loại hàng hoá chịu thuế hiện hành lên mức cao nhất, đối với những hàng hoá không khuyến khích sử dụng nên nâng khung chịu thuế đồng thời giảm khoảng cách giữa mức tối thiểu và mức tối đa áp dụng cho một loại hàng hoá.

– Về thời điểm tính thuế:

Để thống nhất với quy định tại Luật NSNN và tránh tình trạng các đơn vị lợi dụng việc nhập khẩu xăng dầu nhưng không bán ra mà dùng cho sản xuất nhưng không kê khai, nộp thuế BVMT, đề nghị sửa đổi quy định về thời điểm tính thuế đối với xăng dầu như sau:

– Đi với xăng, dầu sản xuất để bán: Thời điểm tính thuế là thời điểm đầu mối kinh doanh xăng, dầu bán ra.

– Đối với xăng dầu nhập khẩu (bao gồm cả trường hợp nhập khẩu để bán): Thời điểm tính thuế là thời điểm đăng ký tờ khai hải quan.

– Về nội dung hoàn thuế:

Thuế BVMT là thuế gián thu, nên nhà sản xuất hoặc nhập khẩu chỉ là nộp thay cho người tiêu dùng. Bản chất của việc hoàn thuế là nhà nước trả lại phần tiền thuế đã nộp theo đúng quy định của pháp luật. Để tránh việc chi trả sai cho đối tượng thụ hưởng thì cần bổ sung thêm chế tài quy định về việc có căn cứ kiểm soát chặt chẽ số thuế được hoàn trả lại đúng cho người đã chịu tiền thuế BVMT trước đó theo thông tư 30/2013/TT-BTC ngày 18/03/2013.

13.3.3. Giải pháp khác

Công tác quản lý thu thuế nói chung và thuế bảo vệ môi trường nói riêng không chỉ thực hiện trong nội bộ ngành Thuế mà rất cần thiết có sự phối kết hợp với các cơ quan, ban, ngành khác để có thể thu thập đủ thông tin, xác minh tính chính xác của thông tin, bao quát được các đối tượng phục vụ cho công tác quản lý.

Theo quy định việc phân chia nguồn thu thuế bảo vệ môi trường đối với xăng dầu giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương được thực hiện theo quy định của Luật Ngân sách. Tuy nhiên, hiện nay chưa có quy định cụ thể về phương thức phân chia nguồn thu này nên một số địa phương đề nghị nguồn thu thuế BVMT từ xăng dầu của các đơn vị sản xuất, kinh doanh đóng trên địa bàn đều nộp vào ngân sách địa phương làm phá vỡ nguyên tắc chung của kê khai nộp thuế BVMT đối với xăng dầu và khó cho công tác quản lý thu. Để khắc phục tình trạng này và đảm bảo thực hiện đúng Luật Ngân sách thì cần nghiên cứu và quy định phương thức thu nộp hay phân chia số thu để đảm bảo lợi ích của địa phương, minh bạch, giảm thủ tục hành chính và thực hiện đúng quy định của pháp luật về thuế BVMT cũng như Luật Ngân sách.

Như vậy để nâng cao hiệu quả thu thuế bảo vệ môi trường thì ngay trong nội tại ngành thuế cần nâng cao hơn nữa năng lực quản lý đặc biệt đối với hai chức năng tuyên truyền- hỗ trợ người nộp thuế và chức năng thanh, kiểm tra thuế – hai chức năng quan trọng trong mô hình quản lý thuế hiện đại. Bên cạnh đó, việc sửa đổi, bổ sung các quy định về chính sách thuế bảo vệ môi trường cũng rất cần thiết để phù hợp hơn với thực tiễn quản lý đồng thời nâng cao tính pháp lý ở một số nội dung quản lý nhằm đảm bảo sự thực hiện nghĩa vụ thuế được đồng nhất, đúng theo quy định của pháp luật.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Vụ Chính sách, Tờ trình báo cáo đánh giá Luật thuế Bảo vệ môi trường, 2016.
  2. Luật thuế bảo vệ môi trường số 57/2010/QH12, ngày 14/7/2011.
  3. Nghị quyết số 1269/2011/UBTVQH12 ngày 14/07/2011 về Biểu thuế Bảo vệ môi trường.
  4. Nghị định số 67/2011/NĐ-CP ngày 8/8/2011 hướng dẫn Luật thuế Bảo vệ môi trường;
  5. Nghị định số 69/2012/NĐ-CP ngày 14/9/2012 sửa đổi, bổ sung Khoản 3, Điều 2 Nghị định số 67/2011/NĐ- CP ngày 8/8/2011 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế Bảo vệ môi trường.
  6. Thông tư số 152/2011/TT-BTC ngày 11/11/2011 hướng dẫn thi hành Nghị định số 67/2011/NĐ-CP ngày 8/8/2011 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế Bảo vệ môi trường.
  7. Thông tư số 159/2012/TT-BTC ngày 28/9/2012 sửa đổi, bổ sung Thông tư số 152/2011/TT-BTC ngày 11/11/2011 hướng dẫn thi hành Nghị định số 67/2011/NĐ-CP ngày 8/8/2011 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế Bảo vệ môi trường.
  8. Thông tư số 60/2015/TT-BTC ngày 27/04/2015 sửa đổi, bổ sung khoản 2, điều 5 Thông tư số 152/2011/TT-BTC ngày 11/11/2011 hướng dẫn thi hành Nghị định số 67/2011/NĐ-CP ngày 8/8/2011 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế Bảo vệ môi trường.
  9. Thông tư số 30/2013/TT-BTC ngày 18/03/2013 hướng dẫn hoàn lại tiền thuế Bảo vệ môi trường đối với túi ni lông làm bao bì đóng gói sẵn hàng hóa theo Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 7/1/2013 của Chính phủ.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *