ĐIỀU HÀNH NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC NĂM 2015 NHIỆM VỤ, PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP ĐIỀU HÀNH NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC NĂM 2016

ĐIỀU HÀNH NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC NĂM 2015 NHIỆM VỤ, PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP ĐIỀU HÀNH NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC NĂM 2016

Thạc sĩ Nguyễn Thị Thu Trung

Trường Bồi dưỡng cán bộ tài chính

 2.1. Hoạt động điều hành ngân sách năm 2015

2.1.1. Nhiệm vụ, giải pháp và kết quả điều hành ngân sách nhà nước năm 2015

a) Nhiệm vụ điều hành NSNN 2015:

Năm 2014 là năm có nền kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát được kiểm soát, lãi suất huy động và cho vay giảm, tỷ giá, thị trường ngoại tệ ổn định, dự trữ ngoại tệ tăng cao, xuất khẩu duy trì đà tăng trưởng… Thu NSNN vượt dự toán, chi NSNN được quản lý, điều hành chặt chẽ, kịp thời xử lý các nhiệm vụ cấp thiết phát sinh về khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh, đảm bảo quốc phòng, an ninh, an sinh xã hội. Đặc biệt, năm 2014 là năm thực hiện hàng loạt biện pháp cải cách về thủ tục hành chính thuế, hải quan một cách mạnh mẽ, rút ngắn được thời gian làm thủ tục, tạo thuận lợi và tiết kiệm chi phí cho doanh nghiệp, được cộng đồng doanh nghiệp đánh giá cao. Bên cạnh đó công tác điều hành NSNN năm 2014 cũng phải đối mặt với nhiều khó khăn thách thức, nổi bật là sự kiện Trung Quốc hạ đặt giàn khoan HD981, đã gây ra cho chúng ta những bất ổn về chính trị, kéo theo ảnh hưởng rất lớn về kinh tế, làm giảm thu NSNN và phát sinh thêm những khoản chi về Quốc phòng, khắc phục hậu quả của các vụ bạo động, ….

Kinh tế thế giới năm 2015 được dự báo sẽ tăng trưởng cao hơn năm 2014 và sẽ tiếp tục đà phục hồi với mức tăng trưởng khá. Cơ cấu kinh tế Việt Nam năm 2015 tiếp tục được dịch chuyển theo hướng tích cực, tăng trưởng kinh tế dự kiến khoảng 6.2%, lạm phát khoảng 5%…Tuy nhiên, vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức, SXKD phục hồi chậm, các doanh nghiệp còn nhiều khó khăn, áp lực tham gia các hiệp định thương mại, tự do ảnh hưởng đến các ngành sản xuất trong nước. Diễn biến phức tạp, bất thường của thời tiết, thiên tai, nguy cơ dịch bệnh bùng phát…Đặc biệt rủi do giảm thu lớn do giá dầu thế giới giảm mạnh và năm 2016 là năm tổ chức Đại hội Đảng các cấp để tiến tới Đại hội Đảng toàn Quốc lần thứ XII và kỷ niệm nhiều ngày lễ lớn cấp quốc gia. Vì vậy, sẽ tác động đến việc thực thi các chính sách kinh tế vĩ mô và cân đối thu, chi NSNN năm 2015.

Rút kinh nghiệm từ công tác điều hành NSNN năm 2014 và căn cứ vào những dự báo của nền kinh tế trong năm 2015, Quốc Hội đã thông qua Nghị quyết số 77/2014/QH13 ngày 10/11/2014 về nhiệm vụ, mục tiêu phát triển KTXH năm 2015 là : “Tăng cường ổn định kinh tế vĩ mô, tập trung tháo gỡ khó khăn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh. Thực hiện mạnh mẽ các đột phá chiến lược, tái cơ cấu nền kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng, nâng cao hiệu quả và năng lực cạnh tranh, phấn đấu tăng trưởng cao hơn năm 2014. Tiếp tục phát triển các lĩnh vực xã hội, văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ, bảo vệ môi trường, cải thiện đời sống nhân dân. Đẩy mạnh cải cách hành chính, cải cách tư pháp, phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia, bảo đảm an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội. Nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại, hội nhập và hợp tác quốc tế”.

Trên tinh thần Nghị quyết về KT-XH, ngày 10/11/2014 Quốc hội đã thông qua Nghị quyết số: 78/2014/QH13 về dự toán NSNN năm 2015 với 3 chỉ tiêu quan trọng nhất, đó là:

Tổng thu cân đối NSNN là:  996,87 nghìn tỷ đồng. So với tổng số thu thực hiện năm trước: 858.053 tỷ đồng thì đây là một số thu tích cực, tiên tiến, đặt ra yêu cầu cao nhưng cũng có khả năng thực hiện cao.

Tổng số chi cân đối NSNN là 1.262,87 nghìn tỷ đồng.

Mức bội chi NSNN năm 2015 là 256 nghìn tỷ đồng (bằng 5,71% GDP), trong phạm vi dự toán điều chỉnh.

So với mức bội chi năm trước giảm 0,3%, đây cũng là mức bội chi được Quốc Hội đặt ra có tính tiên tiến, bám sát kế hoạch trung hạn về kiểm soát bội chi từ năm 2010 – 2020.

b) Giải pháp điều hành NSNN năm 2015:

Để đạt được mục tiêu và kế hoạch KT-XH cũng như dự toán NSNN đã đặt ra, căn cứ vào dự báo tình hình KT-XH trong nước, quốc tế và rút kinh nghiệm từ hoạt động điều hành NSNN năm 2014 Quốc Hội, Chính phủ, đã lãnh đạo, chỉ đạo các Bộ, Ngành, các địa phương thực hiện tốt và đồng bộ Nghị quyết của Quốc Hội, Nghị quyết số 01/NQ-CP của Chính phủ ngày 03/01/2015, đề ra những giải pháp đồng bộ trên tinh thần kế thừa những giải pháp đã phát huy tác dụng trong những năm về trước, bên cạnh đó cũng bổ sung những giải pháp phù hợp với tình hình mới:

+ Nghiên cứu phương án cơ cấu lại ngân sách nhà nước theo hướng tăng tỷ trọng thu nội địa, bảo đảm tỷ lệ hợp lý giữa chi đầu tư, chi thường xuyên và trả nợ trong xây dựng kế hoạch tài chính và ngân sách nhà nước 5 năm 2016 – 2020.

+ Không mua xe công, trừ xe chuyên dụng theo quy định của pháp luật, xe ô tô phục vụ công tác chung của cơ quan, đơn vị mới thành lập mà không có xe để điều chuyển, xe ô tô bị hư hỏng do nguyên nhân bất khả kháng dẫn đến không còn xe phục vụ công tác và xe cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài đã đến hạn thay thế theo quy định.

+ Không ứng trước dự toán ngân sách nhà nước năm sau; trường hợp đặc biệt (thiên tai, bão, lũ, dịch bệnh, nhiệm vụ cấp thiết về quốc phòng, an ninh, nhiệm vụ quan trọng, cấp bách…), trình Thủ tướng Chính phủ báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định.

+ Dừng triển khai và thu hồi các khoản kinh phí chi thường xuyên đến ngày 30 tháng 6 năm 2015 chưa phân bổ hoặc đã phân bổ nhưng chưa triển khai thực hiện, chưa phê duyệt dự toán, chưa tổ chức đấu thầu để bổ sung dự phòng ngân sách trung ương và ngân sách địa phương, trừ một số trường hợp theo quy định của pháp luật và trường hợp đặc biệt do Thủ tướng Chính phủ quyết định.

+ Quản lý chặt chẽ nợ công; tiếp tục thực hiện đồng bộ các giải pháp quản lý nợ công, cơ cấu lại nợ công theo hướng kéo dài kỳ hạn, giảm chi phí vốn vay; bảo đảm nợ công trong giới hạn theo Nghị quyết của Quốc hội. Thường xuyên theo dõi, đánh giá về an toàn nợ công; định kỳ 6 tháng, hàng năm báo cáo Chính phủ hoặc báo cáo theo yêu cầu của Thủ tướng Chính phủ.

+ Từ năm 2015, thực hiện phát hành trái phiếu Chính phủ kỳ hạn từ 05 năm trở lên, không thực hiện các khoản vay có kỳ hạn ngắn cho bù đắp bội chi ngân sách nhà nước, giảm mức vay đảo nợ; trong tổ chức thực hiện nếu có vướng mắc kịp thời báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.

+ Tạm giữ lại tại Kho bạc Nhà nước 10% dự toán chi thường xuyên 8 tháng cuối năm 2015 của các đơn vị sử dụng ngân sách.

Trong trường hợp dự kiến thu ngân sách trung ương năm 2015 không đạt dự toán, căn cứ vào mức hụt thu cụ thể, sẽ cắt giảm các nguồn kinh phí tạm giữ lại cho đến khi bù đắp được số giảm thu, theo trật tự: 50% dự phòng ngân sách trung ương, 10% dự toán chi thường xuyên 8 tháng cuối năm.

+ Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Tài chính đến tháng 8 năm 2015, trên cơ sở diễn biến tình hình kinh tế – ngân sách nhà nước và dự báo giá dầu thô cả năm, tính toán tác động của việc giá dầu giảm đến ngân sách nhà nước, báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định việc sử dụng các nguồn kinh phí tạm giữ lại trong quá trình điều hành NSNN năm 2015 nêu trên.

+ Triển khai có hiệu quả các Luật Doanh nghiệp (sửa đổi), Luật Đầu tư (sửa đổi) và các văn bản hướng dẫn thi hành. Tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng, tăng thêm cơ hội cho hoạt động đầu tư vào các cơ sở sản xuất trong nước và xuất khẩu, tạo thêm nhiều việc làm cho người dân.

+ Đẩy nhanh tiến độ xử lý nợ xấu, phấn đấu đến cuối năm 2015 đưa tỷ lệ nợ xấu dưới 3%.

+ Trong quý III năm 2015, tổ chức đánh giá việc thực hiện Chỉ thị số 24/CT-TTg ngày 05 tháng 8 năm 2014 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực Thuế, Hải quan, Bảo hiểm xã hội, báo cáo Thủ tướng Chính phủ.

+ Trên cơ sở thành công của mô hình thí điểm chính quyền điện tử tại Đà Nẵng, tổ chức nhân rộng ra các địa phương và Bộ, cơ quan trong cả nước.

+ Tiếp tục chỉ đạo quyết liệt triển khai có hiệu quả, đúng tiến độ các giải pháp được nêu tại Nghị quyết số 19/NQ-CP ngày 18 tháng 3 năm 2014 của Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia; kịp thời đề xuất sửa đổi, bổ sung cho phù hợp yêu cầu thực tế

Từ hệ thống giải pháp của Chính Phủ đưa ra, Bộ Tài chính cụ thể hóa trong điều kiện của Ngành, đưa ra những giải pháp điều hành Ngân sách Nhà nước năm 2015 cụ thể như sau:

Một là, thực hiện tái cơ cấu nền kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình phát triển, tăng cường tính tự chủ, độc lập của nền kinh tế, tránh sự phụ thuộc vào một thị trường; tập trung tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy phát triển sản xuất kinh doanh, phục hồi tăng trưởng, tạo nguồn thu ngân sách ổn định, bền vững.

– Thực hiện tái cơ cấu công nghiệp, tập trung phát triển các sản phẩm công nghiệp có lợi thế cạnh tranh.

– Tập trung nguồn lực phát triển nông nghiệp, nông thôn, thực hiện tái cơ cấu nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới, khuyến khích đưa khoa học công nghệ vào sản xuất, kinh doanh;

– Tập trung phát triển một số ngành dịch vụ có lợi thế, có giá trị gia tăng cao như du lịch, viễn thông, công nghệ thông tin và các dịch vụ hỗ trợ kinh doanh.

 – Thực hiện đồng bộ các giải pháp để xây dựng thương hiệu, củng cố, phát triển thị trường hiện có, mở rộng chuyển đổi thị trường, phát triển các thị trường mới. Đẩy mạnh xuất khẩu, kiểm soát chặt chẽ nhập khẩu đối với những mặt hàng không khuyến khích.

 – Hoàn thiện các quy định pháp luật để cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, tổ chức triển khai thực hiện tốt Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều tại các Luật về thuế sau khi được Quốc hội thông qua;

– Rà soát, sửa đổi bổ sung, triển khai thực hiện có hiệu quả các chính sách ưu đãi, khuyến khích phát triển sản xuất kinh doanh, nhất là ưu đãi về đất đai, tiếp cận vốn, tín dụng đầu tư, tín dụng xuất khẩu, thuế, hải quan.

Hai là, kết hợp đồng bộ, chặt chẽ chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa nhằm tiếp tục giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, đảm bảo nền kinh tế phát triển bền vững và tăng trưởng hợp lý, tạo đà vững chắc cho phát triển kinh tế – xã hội giai đoạn 2016-2020.

– Điều hành CSTT linh hoạt, hiệu quả gắn kết đồng bộ với chính sách tài khóa nhằm tiếp tục giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và hỗ trợ tăng trưởng hợp lý;

– Thực hiện các giải pháp mở rộng tín dụng gắn với kiểm soát, nâng cao chất lượng tín dụng; tập trung xử lý nợ xấu, trích lập dự phòng rủi ro, cơ cấu lại nợ, hạn chế nợ xấu gia tăng; tăng cường kiểm tra, giám sát, thanh tra và công khai, minh bạch hoạt động của các tổ chức tín dụng.

Ba là, tiếp tục quán triệt quan điểm triệt để tiết kiệm, chống lãng phí ngay từ khâu xác định nhiệm vụ quan trọng, trọng tâm cần thực hiện năm 2015. Xây dựng và triển khai dự toán NSNN gắn với chiến lược và định hướng phát triển trong từng thời kỳ, đảm bảo tính bền vững của NSNN, xác định được thứ tự ưu tiên trong phân bổ nguồn NSNN đối với từng ngành, lĩnh vực.

– Tổ chức triển khai thực hiện tốt các Luật thuế sửa đổi, bổ sung và nhiệm vụ thu NSNN theo Nghị quyết của Quốc hội.

– Tập trung thực hiện đồng bộ, hiệu quả các giải pháp về NSNN, đảm bảo thực hiện các nhiệm vụ thu, chi theo dự toán đã được Quốc hội quyết định. Phấn đấu tăng thu, triệt để tiết kiệm chi để tạo nguồn xử lý các nhiệm vụ chi cấp thiết phát sinh, phấn đấu tăng chi trả nợ cao hơn chỉ tiêu Quốc hội thông qua. Hạn chế tối đa việc ban hành các chính sách mới làm giảm thu NSNN.

– Quản lý chi NSNN chặt chẽ, tiết kiệm và hiệu quả, không thành lập các Quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách mà nguồn kinh phí hoạt động chủ yếu từ NSNN; tiếp tục rà soát hệ thống định mức kinh tế – kỹ thuật không phù hợp với thực tế, vượt quá khả năng đảm bảo của NSNN nhằm tăng cường hiệu lực quản lý và thúc đẩy chi tiêu công hiệu quả, tiết kiệm.

– Tăng cường huy động các nguồn lực trong và ngoài nước cho đầu tư phát triển nền kinh tế. Hoàn thiện cơ sở pháp lý để thu hút các nguồn vốn đầu tư, khuyến khích và tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế, kể cả đầu tư nước ngoài tham gia đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, nhất là khu vực nông nghiệp, nông thôn.

– Khẩn trương ban hành các văn bản hướng dẫn và triển khai thực hiện Luật Đầu tư công, Luật Đấu thầu. Phân bổ dự toán chi đầu tư phát triển năm 2015 phải thực hiện theo các Chỉ thị: số 1792/CT-TTg ngày 15/10/2011, số 27/CT-TTg ngày 10/10/2012 và số 14/CT-TTg ngày 28/6/2013 của Thủ tướng Chính phủ;

Bốn là, quản lý giá theo nguyên tắc thị trường, thúc đẩy sự phát triển đồng bộ các loại hình thị trường.

– Theo dõi sát diễn biến cung cầu, giá cả thị trường trong nước và quốc tế, làm tốt công tác thu thập, phân tích và dự báo thông tin thị trường, kịp thời đề xuất các giải pháp bình ổn giá theo quy định của pháp luật.

– Tăng cường quản lý thị trường, giá cả, kiểm tra, giám sát các hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; kiểm soát giá đối với các mặt hàng thiết yếu; xử lý nghiêm việc điều chỉnh giá bất hợp lý.

– Thực hiện đồng bộ các giải pháp phát triển thị trường vốn, thị trường chứng khoán; nghiên cứu, hoàn thiện môi trường pháp lý nhằm thúc đẩy phát triển thị trường tài chính lành mạnh, an toàn.

Năm là, quản lý nợ công chặt chẽ, đảm bảo an ninh tài chính quốc gia.

– Thực hiện đồng bộ các giải pháp quản lý nợ công, nhất là quản lý sử dụng có hiệu quả vốn vay, quản lý tốt nợ trung hạn và quỹ tích lũy trả nợ, quản lý và xử lý kịp thời rủi ro; kiểm soát chặt chẽ việc cấp bảo lãnh Chính phủ, tăng cường cơ chế chia sẻ rủi ro đối với các khoản vay nước ngoài của Chính phủ về cho vay lại… đảm bảo kiểm soát mức dư nợ công, nợ Chính phủ, nợ nước ngoài của quốc gia trong giới hạn an toàn.

– Có biện pháp cơ cấu lại các khoản vay ngay trong năm 2015 và xây dựng lộ trình cụ thể cho giai đoạn tiếp theo để tăng cường huy động các khoản vay với kỳ hạn dài, giảm thiểu các khoản vay với kỳ hạn ngắn, giảm phát hành đảo nợ.

 Sáu là, tăng cường quản lý tài chính doanh nghiệp, đẩy mạnh tái cấu trúc, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước.

– Tiếp tục tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước theo đề án được duyệt.

– Đẩy mạnh cổ phần hóa, thoái vốn đầu tư ngoài ngành, giảm và bán toàn bộ vốn nhà nước ở các doanh nghiệp Nhà nước không cần nắm giữ cổ phần chi phối theo nguyên tắc thị trường và lộ trình đã được phê duyệt.

– Tăng cường quản lý, giám sát, kiểm tra hoạt động, tình hình tài chính, kết quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nhà nước, nhất là các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước.

Bảy là, đổi mới cơ chế tài chính đơn vị sự nghiệp công, giá dịch vụ công.

– Khẩn trương triển khai cơ chế hoạt động tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập gắn với lộ trình thực hiện tính giá dịch vụ sự nghiệp công.

Tám là, tăng cường kỷ luật, kỷ cương tài chính, đẩy mạnh cải cách hành chính, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.

– Các Bộ, cơ quan, địa phương thực hiện nghiêm kỷ luật tài chính – NSNN, tăng cường kiểm tra, giám sát và công khai, minh bạch việc sử dụng NSNN, nhất là trong các lĩnh vực dễ phát sinh tham nhũng, lãng phí. Thực hiện nghiêm Chỉ thị số 21-CT/TW ngày 21/12/2012 của Ban Bí thư và Chỉ thị số 30/CT-TTg ngày 26/11/2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.

– Tiếp tục tổ chức thực hiện đồng bộ, hiệu quả Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 – 2020.

c) Kết quả điều hành NSNN 2015:

Năm 2015 nền kinh tế tiếp tục chuyển biến tích cực, tăng trưởng kinh tế ước đạt 6,68%GDP, vượt mục tiêu đề ra là 6,2%GDP; lạm phát thấp (chỉ số giá tiêu dùng bình quân tăng 0,63% so với năm 2014); tín dụng tăng trưởng khá; sản xuất công nghiệp tiếp tục tăng trưởng… Tuy nhiên, tình hình vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức, nhất là giá dầu thế giới giảm sâu và khó dự báo, làm giảm thu NSTW; thị trường tiền tệ thế giới biến động phức tạp, gây áp lực lên tỷ giá.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, chỉ đạo sát sao, kịp thời của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; cùng với sự phối hợp chặt chẽ, vào cuộc quyết liệt, có hiệu quả của các cấp, các ngành và địa phương, nỗ lực phấn đấu của cộng đồng doanh nghiệp, đến nay kết quả thực hiện nhiệm vụ NSNN năm 2015 là tích cực. Cụ thể, kết quả điều hành NSNN theo từng thời kỳ trong năm như sau:

(1) Kết thúc Quý I:

– Về thu ngân sách nhà nước: Thu quý I đạt 226 nghìn tỷ đồng, bằng 24,8% dự toán, tăng 10,3% so cùng kỳ năm 2014, trong đó:

Thu nội địa: Thu quý I đạt 173,19 nghìn tỷ đồng, bằng 27,1% dự toán, tăng 19,6% so cùng kỳ năm 2014 (không kể tiền sử dụng đất tăng 18%); đạt khá cả tiến độ thực hiện dự toán và mức tăng trưởng so cùng kỳ (Quý I/2012 đạt 22,7% dự toán; quý I/2013 đạt 20,9% dự toán; quý I/2014 đạt 24,8% dự toán).

Đa số các khoản thu ngoài sản xuất – kinh doanh đạt và vượt yêu cầu dự toán (từ 25% dự toán năm trở lên), như: Thuế thu nhập cá nhân đạt 29,3% dự toán, tăng 5,4% so cùng kỳ; thu về nhà và đất đạt 27,2% dự toán, tăng 42,8% so cùng kỳ[1]; thuế bảo vệ môi trường đạt 25,1% dự toán, tăng 15% so cùng kỳ….

Ước tính có 48 địa phương thu đạt trên mức bình quân chung (25% dự toán). So cùng kỳ năm 2014, có 54 địa phương thu cao hơn.

Thu về dầu thô: Thu quý I ước đạt 16,63 nghìn tỷ đồng, bằng 17,9% dự toán, giảm 35,9% so cùng kỳ năm 2014. Giá dầu thanh toán bình quân quý I đạt khoảng 58 USD/thùng, giảm 42 USD/thùng so giá tính dự toán; sản lượng dầu thanh toán ước đạt 3,99 triệu tấn, bằng 27,1% kế hoạch cả năm.

Thu ngân sách từ hoạt động xuất nhập khẩu: Thu quý I đạt 35,4 nghìn tỷ đồng, bằng 20,2% dự toán, tăng 5,8% so cùng kỳ năm 2014 (tổng thu ước đạt 58 nghìn tỷ đồng, bằng 22,3% dự toán, tăng 7% so cùng kỳ; hoàn thuế giá trị gia tăng 21,5 nghìn tỷ đồng).

– Về chi NSNN: Chi quý I ước đạt 263,3 nghìn tỷ đồng, bằng 23% dự toán, tăng 12,3% so cùng kỳ năm 2014, trong đó:

 Chi đầu tư phát triển: Chi quý I đạt 41 nghìn tỷ đồng, bằng 21% dự toán, tăng 14,5% cùng kỳ năm 2014;

 Chi trả nợ và viện trợ: Đạt 24,8% dự toán, tăng 27,5% so cùng kỳ năm 2014, đảm bảo thanh toán đầy đủ, kịp thời các khoản nợ đến hạn theo cam kết;

Chi phát triển các sự nghiệp kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý hành chính: Thực hiện tháng 3 đạt 24,1% dự toán, tăng 9,1% so cùng kỳ năm 2014.

Trong quý I/2015, các nhiệm vụ chi ngân sách được đảm bảo theo đúng dự toán và tiến độ triển khai thực hiện của các đơn vị sử dụng ngân sách; đáp ứng các nhiệm vụ đảm bảo an sinh xã hội, kinh phí phục vụ sản xuất, khắc phục hậu quả thiên tai, bình ổn giá trong dịp Tết Nguyên đán Ất Mùi… Ngoài ra, thực hiện các Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tài chính đã xuất cấp trên 49,3 nghìn tấn gạo dự trữ quốc gia để cứu trợ, cứu đói cho nhân dân trong dịp Tết Nguyên đán và giáp hạt đầu năm 2015. 

– Về cân đối NSNN: Bội chi NSNN quý I ước 37,3 nghìn tỷ đồng, bằng 16,5% dự toán năm.

– Về tình hình huy động vốn cho NSNN: Tính đến hết tháng 3/2015 đã huy động được 55.992,5 tỷ đồng, đạt 22,4% kế hoạch cả năm, bằng 62,7% so với cùng kỳ năm 2014, trong đó: kỳ hạn 5 năm 36.913,5 tỷ đồng, bằng 66,0%, kỳ hạn 10 năm 6.030 tỷ đồng, bằng 10,7%, kỳ hạn 15 năm 13.049 tỷ đồng, bằng 23,3%.

Hết tháng 3/2015 đã đàm phán, ký kết hiệp định vay ODA, vay ưu đãi, trong đó: Ký kết 13 hiệp định vay với tổng số tiền ký kết là 1.728,52 triệu USD.

– Thuận lợi: Tình hình điều hành NSNN quý I năm 2015 đạt được kết quả khả quan như vậy, là  nhờ các yếu tố sau:

+ Tình hình kinh tế vĩ mô ổn định; tốc độ tăng trưởng cao hơn nhiều so với cùng kỳ các năm gần đây; thực hiện chính sách tài khóa chặt chẽ, quản lý và sử dụng tiết kiệm, hiệu quả, tăng cường kỷ cương, kỷ luật tài chính; hoạt động sản xuất – kinh doanh trong nước duy trì được đà phục hồi tốt nhờ có những cải thiện đáng kể cả về tổng cầu và tổng cung; kim ngạch xuất nhập khẩu đạt được những kết quả khả quan;

+ Cải cách hành chính, nhất là cải cách về thủ tục hành chính thuế và hải quan từ năm 2014 và tiếp tục được đẩy mạnh, nhằm giảm số giờ kê khai nộp thuế, tăng số doanh nghiệp khai thuế điện tử và nộp thuế điện tử. Cơ quan Thuế, Hải quan đã chủ động rà soát lại quy trình, thủ tục hành chính thuế, đẩy mạnh việc cải cách, đơn giản các thủ tục hành chính về thuế, nhằm tạo thuận lợi ở mức cao nhất cho doanh nghiệp và người dân; tăng cường tuyên truyền, hỗ trợ tư vấn pháp luật về thuế, tổ chức đối thoại thường xuyên với người nộp thuế cho cộng đồng doanh nghiệp và người dân để nâng cao tính tuân thủ trong thực thi pháp luật thuế

+ Cơ quan Thuế đã triển khai quyết liệt các biện pháp quản lý thu NSNN ngay từ đầu năm, như: Tổ chức theo dõi, bám sát tình hình, nắm chắc đối tượng, địa bàn; thường xuyên kiểm tra, rà soát số lượng doanh nghiệp đăng ký kinh doanh, kiểm soát chặt chẽ việc kê khai thuế của các tổ chức, cá nhân; kiểm soát chặt chẽ công tác hoàn thuế giá trị gia tăng; tăng cường thanh tra, kiểm tra, phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại, trốn thuế; tập trung đôn đốc, xử lý nợ đọng thuế.

+ Thị trường bất động sản tiếp đà phục hồi của năm 2014, giao dịch những tháng đầu năm tăng mạnh, tạo điều kiện cho các địa phương đẩy nhanh tiến độ đấu giá, cấp quyền sử dụng đất và thu hồi các khoản nợ của các dự án đã triển khai từ các năm trước, góp phần tăng thu tiền sử dụng đất.

+ Công tác quản lý, điều hành giá tiếp tục được điều hành theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của nhà nước đối với các mặt hàng quan trọng, thiếu yếu theo lộ trình.

+ Thị trường chứng khoán chủ động có những giải pháp ngay từ đầu năm, hoạt động của thị trường chứng khoán đảm bảo ổn định, an toàn

– Khó khăn: Nền kinh tế đã vẫn còn tiềm ẩn nhiều khó khăn, thách thức tác động đến việc thực hiện NSNN

– Giải pháp đối với giai đoạn tiếp theo:

+ Tiếp tục theo dõi diễn biến và thực hiện điều hành dự toán thu, chi NSNN theo đúng mục tiêu và chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã đề ra;

+ Đảm bảo cân đối thu chi ngân sách; triển khai đồng bộ các giải pháp để phấn đấu tăng thu ngân sách, phải thu đúng, thu đủ, chống gian lận, trốn thuế, thất thoát và nợ đọng; quản lý chi ngân sách chặt chẽ, tiết kiệm và hiệu quả, cần hạn chế tối đa việc bổ sung ngoài dự toán; phấn đấu thu NSNN cả năm đạt và vượt dự toán giao.

 (2) Kết thúc Quý II:

Về thu ngân sách nhà nước: Thu 6 tháng đầu năm ước đạt 446,12 nghìn tỷ đồng, bằng 49% dự toán, tăng 6% so với cùng kỳ năm 2014. Ước tính có 52/63 địa phương thu đảm bảo tiến độ dự toán (từ 50% dự toán trở lên

Về chi NSNN: Tổng chi 6 tháng đầu năm ước đạt 545,18 nghìn tỷ đồng, bằng 47,5% dự toán, tăng 8,2% so cùng kỳ năm 2014.

 Về cân đối NSNN: Bội chi NSNN 06 tháng đầu năm ước 99 nghìn tỷ đồng bằng 43,8% dự toán.

– Về huy động vốn: Công tác huy động vốn được thực hiện chủ động, tích cực và linh hoạt.Tính đến ngày 29/6/2015, đã phát hành khoảng 115 nghìn tỷ đồng trái phiếu Chính phủ để bù đắp bội chi NSNN và cho ĐTPT, bằng khoảng 46% kế hoạch.

– Về quản lý nợ công, nợ nước ngoài quốc gia: Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 02/CT-TTg ngày 14/02/2015 về tăng cường công tác quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng nợ công. Trong quá trình điều hành, đã đảm bảo chi trả nợ đầy đủ, đúng hạn (cả gốc và lãi) trong phạm vi dự toán. Thực hiện đầy đủ công tác công khai thông tin về nợ công theo tinh thần của Luật Quản lý nợ công.

– Thuận lợi:

+Tình hình kinh tế thế giới và trong nước có dấu hiệu phục hồi.

+Thực hiện triển khai các giải pháp về tài chính – NSNN một cách thống nhất trong ý chí và hành động, quyết liệt trong chỉ đạo điều hành.

+ Chỉ thị số 06/CT-TTg ngày 21/4/2015 được Thủ tướng Chính phủ ban hành về tăng cường chỉ đạo điều hành thực hiện nhiệm vụ tài chính – NSNN năm 2015 với những giải pháp quan trọng nhằm tăng cường hơn nữa công tác quản lý chi NSNN, đảm bảo tiết kiệm, chặt chẽ, hiệu quả. Cụ thể xác định số tạm giữ lại 10% dự toán chi thường xuyên 8 tháng cuối năm của các đơn vị sử dụng ngân sách.

– Giải pháp điều hành NSNN đặt ra cho 6 tháng cuối năm: Để hoàn thành thắng lợi các nhiệm vụ tài chính – NSNN năm 2015, giải pháp đặt ra cho 6 tháng cuối năm là:

+ Tiếp tục thực hiện chính sách tài khóa chặt chẽ, hiệu quả: Tiếp tục triển khai quyết liệt, đồng bộ các giải pháp về quản lý thu NSNN để hoàn thành vượt mức dự toán thu NSNN năm 2015 đã được Quốc hội quyết định trong bối cảnh thu NSNN vẫn chịu nhiều yếu tố tác động về tình hình SXKD của doanh nghiệp vẫn còn khó khăn, việc điều chỉnh chính sách thu của luật Thuế GTGT, giá dầu giảm mạnh so với dự toán,…

+ Tổ chức triển khai thực hiện tốt các Luật thuế sửa đổi, bổ sung và nhiệm vụ thu NSNN theo Nghị quyết của Quốc hội; thực hiện có hiệu quả các biện pháp chống thất thu, chuyển giá, trốn thuế. Đẩy mạnh xử lý, thu hồi để giảm nợ đọng thuế. Tiếp tục chấn chỉnh công tác hoàn thuế GTGT, kiểm soát chặt chẽ để đảm bảo hoàn thuế đúng đối tượng, đúng chính sách pháp luật.

+ Tổ chức điều hành chi NSNN chủ động, tích cực, đảm bảo cân đối ngân sách các cấp, giữ mức bội chi NSNN trong phạm vi Quốc hội quyết định. Điều hành chi thường xuyên chặt chẽ, triệt để tiết kiệm, hạn chế tối đa việc bổ sung ngoài dự toán và ứng vốn, trừ trường hợp thật sự cần thiết, cấp bách. Sử dụng dự phòng, dự trữ tiết kiệm, ưu tiên dành nguồn hỗ trợ phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh, quốc phòng, an ninh…

+ Thực hiện nghiêm kỷ luật tài chính – NSNN, tăng cường kiểm tra, giám sát, thanh tra các khoản chi trong cân đối NSNN, các khoản chi được quản lý qua NSNN, các khoản chi từ các quỹ tài chính nhà nước, tích cực thu hồi các khoản vay, tạm ứng. Thực hiện minh bạch hóa chi tiêu của NSNN.

+ Đẩy mạnh công tác huy động vốn để chủ động, đảm bảo nguồn kịp thời cho các nhiệm vụ chi theo dự toán.

+ Thực hiện nhất quán chủ trương quản lý giá theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước đối với các mặt hàng quan trọng, thiết yếu theo lộ trình với mức độ và thời gian điều chỉnh phù hợp. 

+ Quản lý nợ công chặt chẽ, đảm bảo khả năng trả nợ: Tập trung thực hiện tốt Chỉ thị số 02/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường quản lý, nâng cao hiệu quả sử dụng nợ công. Quản lý, kiểm soát chặt chẽ nợ công, đảm bảo không vượt mức trần cho phép (65%GDP).

+ Đẩy mạnh tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước: Tiếp tục triển khai, hoàn thành việc thực hiện Đề án Tái cơ cấu DNNN đã được phê duyệt.

+ Đổi mới cơ chế tài chính đơn vị sự nghiệp công, giá dịch vụ công: Khẩn trương triển khai thực hiện Nghị định số 16/2015/NĐ-CP ngày 14/2/2015 của Chính phủ quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập nhằm đẩy nhanh tiến độ đổi mới cơ chế hoạt động, cơ chế tài chính và tạo bước đột phá trong tạo nguồn cải cách tiền lương của khu vực này.

+ Đẩy mạnh cải cách hành chính, hiện đại hóa ngành; tăng cường kỷ luật, kỷ cương tài chính, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí: Tiếp tục đẩy mạnh cải cách hiện đại hóa gắn với cải cách TTHC đặc biệt trong lĩnh vực thuế, hải quan; cải cách quy trình, hồ sơ và thủ tục nộp thuế nhằm rút ngắn số giờ kê khai, nộp thuế cho các doanh nghiệp; đẩy mạnh tự động hóa quy trình tiếp nhận giải quyết hồ sơ, thủ tục hành chính thuế, khuyến khích các doanh nghiệp thực hiện việc kê khai thuế qua mạng… góp phần giảm thiểu chi phí và tạo thuận lợi ở mức cao nhất cho doanh nghiệp, người nộp thuế.

+ Thực hiện nghiêm kỷ luật tài chính- NSNN, đảm bảo các khoản thu, chi ngân sách phải được dự toán và do luật định; tăng cường kiểm tra, giám sát và công khai, minh bạch việc sử dụng NSNN đảm bảo đúng chính sách, chế độ quy định. Tiếp tục thực hiện triệt để tiết kiệm, chống thất thoát, lãng phí, tham nhũng.

+ Tập trung triển khai xây dựng kế hoạch tài chính – NSNN 05 năm giai đoạn 2016-2020: Tổ chức đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ tài chính – NSNN 05 năm 2011-2015 và xây dựng kế hoạch giai đoạn 2016-2020.

(3) Kết thúc Quý III:

– Về thu NSNN: Tổng thu cân đối NSNN thực hiện hết Quý III ước đạt 683 nghìn tỷ đồng, bằng 75% dự toán, tăng 7% so với cùng kỳ năm 2014. Trong đó:

– Thu nội địa: Thu hết Quý III ước đạt 504,3 nghìn tỷ đồng, bằng 79% dự toán, tăng 17,1% so với cùng kỳ năm 2014; trong đó nhiều khoản thu tiến độ đạt khá, có khoản đã hoàn thành dự toán năm.

– Thu từ dầu thô: Hết Quý II ước đạt 51,78 nghìn tỷ đồng, bằng 55,7% dự toán, giảm 34,8% so với cùng kỳ năm 2014.  

– Thu cân đối từ hoạt động xuất nhập khẩu: Hết Quý III tổng số thu ước đạt 187,4 nghìn tỷ đồng, bằng 72,1% dự toán, tăng 0,4% so với cùng kỳ năm 2014. Sau khi thực hiện hoàn thuế giá trị gia tăng theo chế độ 64 nghìn tỷ đồng, thu cân đối từ hoạt động xuất nhập khẩu ước đạt 123,4 nghìn tỷ đồng, bằng 70,5% dự toán.

– Về chi NSNN: Chi NSNN diễn biến ổn định, ước thực hiện chi 9 tháng đạt 823,97 nghìn tỷ đồng, bằng 71,8% dự toán, tăng 7,8% so cùng kỳ năm 2014, trong đó:

Chi đầu tư phát triển: Luỹ kế thực hiện chi 9 tháng đạt 127,28 nghìn tỷ đồng, bằng 65,3% dự toán, tăng 7,4% cùng kỳ năm 2014.

Riêng về thực hiện vốn đầu tư XDCB, đến hết tháng 9 vốn giải ngân cho các dự án ước đạt 123,5 nghìn tỷ đồng, bằng 64,8% dự toán (cùng kỳ năm 2014 đạt 63,6%).

Chi trả nợ và viện trợ: Luỹ kế thực hiện chi 9 tháng đạt 114,79 nghìn tỷ đồng, bằng 76,5% dự toán, tăng 12,5% so cùng kỳ năm 2014, đảm bảo thanh toán đầy đủ, kịp thời các khoản nợ đến hạn theo cam kết.

Chi phát triển các sự nghiệp kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý hành chính: Lũy kế thực hiện chi 9 tháng ước đạt 574,89 nghìn tỷ đồng, bằng 75% dự toán, tăng 5,6% so cùng kỳ năm 2014. Các nhiệm vụ chi NSNN được đáp ứng kịp thời theo dự toán giao và tiến độ thực hiện của các đơn vị sử dụng ngân sách, đảm bảo kinh phí cho công tác quốc phòng, an ninh và an sinh xã hội.

– Về cân đối ngân sách:  Bội chi NSNN lũy kế 9 tháng ước 140,97 nghìn tỷ đồng, xấp xỉ 62,4% dự toán năm.

– Về tình hình huy động vốn cho NSNN: Hết quý III, Kho bạc Nhà nước huy động trái phiếu Chính phủ đạt tổng số  127.473 tỷ đồng (bao gồm 1 tỷ USD trái phiếu ngoại tệ, quy đổi 21.458 tỷ đồng), đạt 51% kế hoạch năm 2015, bằng 61% so với cùng kỳ năm 2014.

– Thuận lợi:

+ Kinh tế toàn cầu tiếp tục được cải thiện. Trong nước, kinh tế tiếp tục chuyển biến tích cực. Kinh tế vĩ mô ổn định, tăng trưởng GDP khả quan; lạm phát được kiểm soát ở mức thấp; tín dụng tăng trưởng khá; sản xuất công nghiệp, nhất là công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục đà tăng trưởng cao; doanh nghiệp phát triển; tổng cầu và sức mua được cải thiện, tổng mức bán lẻ hàng hóa dịch vụ tăng khá; an sinh xã hội tiếp tục được bảo đảm…

+ Công tác điều hành giá một số mặt hàng quan trọng, thiết yếu tiếp tục được kiên trì thực hiện theo nguyên tắc thị trường, có sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước.

– Khó khăn

+ Kinh tế toàn cầu tiếp tục được cải thiện, nhưng thấp hơn kỳ vọng  và chứa đựng nhiều rủi ro.

+ Trong quý III/2015, thị trường tài chính – tiền tệ diễn biến không thuận lợi cho công tác huy động vốn cho NSNN, do ảnh hưởng từ việc Trung quốc phá giá đồng Nhân dân tệ, các đồng tiền trong khu vực giảm theo, trong đó có VNĐ. Diễn biến thị trường ngoại hối đã tác động mạnh đến tâm lý các nhà đầu tư trên thị trường trái phiếu, dẫn tới giảm nhu cầu mua TPCP.  

+ Xuất khẩu nhiều mặt hàng nông, thủy sản đạt thấp hơn so với cùng kỳ, nhập siêu có xu hướng tăng; tiến độ tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước còn chậm, cải thiện môi trường kinh doanh còn chưa đạt yêu cầu đề ra; diễn biến phức tạp của thời tiết, tình hình hạn hán, bão, lũ, dịch bệnh ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp và đời sống nhân dân ở nhiều địa phương; giá dầu thế giới giảm mạnh và vẫn ở mức thấp; thị trường tiền tệ thế giới biến động phức tạp, gây áp lực lên tỷ giá,… tác động không thuận đến việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội và NSNN năm 2015.

– Giải pháp triển khai nhiệm vụ những tháng cuối năm 2015: 

+ Tiếp tục theo dõi diễn biến và thực hiện điều hành dự toán thu, chi NSNN theo đúng mục tiêu và chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; đảm bảo cân đối thu chi ngân sách; triển khai đồng bộ các giải pháp để phấn đấu tăng thu ngân sách, chống gian lận, trốn thuế, thất thoát và giảm nợ đọng; quản lý chi ngân sách chặt chẽ, tiết kiệm và hiệu quả, hạn chế tối đa việc bổ sung ngoài dự toán; phấn đấu thu NSNN cả năm đạt và vượt dự toán giao.

+ Tổ chức thực hiện tốt các giải pháp về thu NSNN; tăng cường đôn đốc xử lý thu hồi nợ; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra thuế, kiểm tra sau thông quan; đẩy mạnh thanh tra, kiểm tra đảm bảo thực hiện đúng quy định của pháp luật; tăng cường giải pháp chống chuyển giá, hạn chế nợ đọng thuế, xử lý nghiêm các trường hợp trốn thuế, kê khai không trung thực về các khoản phải nộp NSNN. Quyết tâm hoàn thành vượt mức nhiệm vụ thu NSNN năm 2015 do Quốc hội đã quyết định.

+ Tích cực, chủ động trong tổ chức điều hành NSNN; tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát chi; đảm bảo nguồn đáp ứng kịp thời các nhiệm vụ chi của NSNN theo dự toán và ứng vốn; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; điều hành sử dụng dự phòng ngân sách chặt chẽ, ưu tiên để phòng chống khắc phục thiên tai, bão lụt, dịch bệnh, hỗ trợ lãi suất mua gạo tạm trữ… và một số nhiệm vụ cấp bách phát sinh; hạn chế tối đa trình cấp có thẩm quyền ứng trước dự toán ngân sách và ứng vốn trái phiếu Chính phủ năm sau.

– Tiếp tục nhất quán chủ trương quản lý giá theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước đối với các mặt hàng quan trọng, thiết yếu theo lộ trình (giá điện, giá than, giá dịch vụ công…). Tăng cường kiểm tra, thanh tra về giá.

+ Thực hiện đồng bộ, linh hoạt các giải pháp huy động vốn, phấn đấu huy động đạt kế hoạch được giao.

+ Rà soát, đàm phán, đẩy nhanh tiến độ giải ngân các khoản vốn nước ngoài bằng tiền cho cân đối NSNN; thực hiện huy động, giải ngân các khoản vốn vay nước ngoài theo kế hoạch.

+ Triển khai thực hiện tốt Luật số 71/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của các Luật về thuế có hiệu lực từ 1/1/2015 với nhiều quy định ưu đãi hơn đối với các hoạt động đầu tư, phát triển sản xuất kinh doanh và cải cách thủ tục hành chính thuế, hải quan, bảo hiểm xã hội, góp phần thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển.

+ Tăng cường quản lý thu, chống thất thu và xử lý nợ đọng thuế. Cơ quan Thuế, cơ quan Hải quan tăng cường phối hợp với Cấp ủy và chính quyền ở địa phương và các cơ quan chức năng của Trung ương đóng trên địa bàn (công an, biên phòng, quản lý thị trường,…) trong công tác đấu tranh chống gian lận thương mại, buôn lậu, trốn thuế, xử lý nợ đọng thuế…

(4) Kết thúc năm 2015, kết quả điều hành NSNN đạt được:

– Về thu NSNN: Năm 2015, thu cân đối NSNN ước đạt 989,69 nghìn tỷ đồng, bằng 108,6% dự toán, tăng 14,6% so năm 2014; trong đó thu NSTW cơ bản đạt dự toán, không phải sử dụng đến khoản 10.000 tỷ đồng thu thoái vốn Nhà nước tại các doanh nghiệp mà Quốc hội đã cho phép để xử lý số giảm thu NSTW; Công tác điều hành thu, chi NSNN đã chủ động, chặt chẽ, tiết kiệm, giữ vững cân đối ngân sách; tăng cường kỷ cương, kỷ luật tài chính. Đến ngày 28/12/2015, thu cân đối NSNN đạt xấp xỉ 957 nghìn tỷ đồng, đạt 105% dự toán, bằng 103,1% số ước thu cả năm đã báo cáo Quốc hội; trong đó:

Thu nội địa: Ước đạt 110,9% dự toán, bằng 103,1% số báo cáo Quốc hội;

Thu dầu thô: Ước đạt 73,1% dự toán, bằng 111,4% số báo cáo Quốc hội;

Thu cân đối từ hoạt động XNK : Ước đạt 98,2% dự toán và số báo cáo Quốc hội.

Hầu hết các địa phương đều thu đạt và vượt dự toán được giao. Có thể thấy, thu cân đối NSNN năm 2015 khá hiệu quả khi vượt dự toán hơn 8%, dù ban đầu tình hình thu ngân sách cho thấy sẽ rất nhiều khó khăn (đến hết quý III/2015 vẫn hết sức khó khăn và chỉ thực sự khả quan từ quý IV/2015).

– Về chi NSNN: Tổng chi NSNN ước tính đạt 1.093,7 nghìn tỷ đồng, bằng 101,8% dự toán năm. Trong đó,

Chi đầu tư phát triển: Ước khoảng 203 nghìn tỷ đồng, bằng 104,2%;

Chi phát triển sự nghiệp kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý hành chính: Ước  đạt 745 nghìn tỷ đồng, bằng 97,1%;

Chi trả nợ và viện trợ: Ước khoảng 148,3 nghìn tỷ đồng tính đến 15/12, bằng 98,9%. Ước tính sơ bộ chi thường xuyên năm 2015 tăng khoảng 1,95% so với dự toán

Về Bội chi NSNN: Giữ bội chi NSNN trong phạm vi dự toán Quốc hội quyết định đầu năm, đảm bảo cân đối ngân sách các cấp chính quyền địa phương. Dự toán bội chi ngân sách Nhà nước năm 2015 Quốc hội quyết định đầu năm là 226.000 tỷ đồng, bằng 5,0% GDP. Sau khi được bổ sung 30.000 tỷ đồng giải ngân vốn ODA vượt thêm theo Nghị quyết Quốc hội, bội chi ngân sách Nhà nước điều chỉnh là 256.000 tỷ đồng, bằng 6,11% GDP. Như vậy, bội chi ngân sách Nhà nước năm 2015 vẫn nằm trong phạm vi dự toán điều chỉnh.

Tính đến cuối năm 2015, dư nợ công của Việt Nam đã đạt mức 62,2% GDP, trần nợ công vẫn nằm trong giới hạn cho phép là 65% GDP, trong đó dư nợ Chính phủ lên tới 50,3%, đã vượt trần cho phép.

– Những thuận lợi trong công tác điều hành NSNN năm 2015:

+ Nhờ kinh tế phát triển, kết hợp với các giải pháp quyết liệt, phù hợp và quyết tâm, nỗ lực cao của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và ủng hộ của nhân dân, nhiệm vụ thu ngân sách năm 2015 đã hoàn thành vượt mức dự toán Quốc hội quyết định.

+ Ngay từ đầu năm 2015, trước tình hình giá dầu thô thế giới giảm mạnh, làm giảm thu NSNN, Bộ Tài chính đã chủ động tính toán, xây dựng các kịch bản điều hành, đảm bảo cân đối NSNN theo các mức giá dầu dự kiến (40, 50, 60 USD/thùng); tham mưu với Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ các giải pháp điều hành tài chính – NSNN nhằm tập trung tháo gỡ khó khăn cho SX-KD, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo điều kiện phấn đấu tăng thu nội địa và XNK để bù đắp số giảm thu từ dầu thô; đồng thời tổ chức theo dõi chặt chẽ tình hình để có điều chỉnh phù hợp trong quá trình tổ chức thực hiện.

+ Tích cực đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính thuế, hải quan, giảm số giờ kê khai và nộp thuế để tạo điều kiện thuận lợi hơn cho doanh nghiệp, người nộp thuế và thực tế đã hoàn thành kế hoạch đề ra; Thực hiện kết nối thông tin một cửa quốc gia (9 bộ, cơ quan Trung ương), kết nối kỹ thuật cơ chế một cửa ASEAN; thực hiện đề án kiểm tra tiêu chuẩn chất lượng hàng hóa, an toàn vệ sinh thực phẩm… Bên cạnh đó, đã tập trung làm quyết liệt công tác xử lý nợ đọng thuế, nhất là các khoản nợ đọng có khả năng thu (đến tháng 12/2015 đã thu được trên 39 nghìn tỷ đồng nợ thuế nội địa năm 2014 chuyển sang).

+ Thực hiện chính sách tài khóa chặt chẽ, quản lý và sử dụng kinh phí NSNN tiết kiệm, hiệu quả: rà soát, quản lý chặt chẽ các khoản chi, bảo đảm trong phạm vi dự toán đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt, theo đúng chế độ quy định; triệt để tiết kiệm chi thường xuyên, không mua xe ô tô công, giảm tối đa các khoản chi khánh tiết, hội nghị, hội thảo, lễ hội,…; thực hiện nghiêm, có hiệu quả các biện pháp chống thất thoát, lãng phí, tham nhũng.

– Trong tổ chức thực hiện, cơ quan tài chính các cấp và KBNN đã tăng cường công tác kiểm soát chi NSNN, đảm bảo chặt chẽ đúng mục đích, chất lượng, hiệu quả.

Như vậy, về cơ bản việc thực hiện các nhiệm vụ chi NSNN năm 2015 là khá tích cực. Tốc độ tăng chi đầu tư không còn cao so với dự toán như nhiều năm trước, điều này cho thấy, kiểm soát chi đầu tư đã phát huy hiệu quả và việc tái cơ cấu đầu tư công đã có những kết quả ban đầu.

– Những khó khăn, tồn tại, bất cập trong hoạt động điều hành NSNN năm 2015:

+ Chính sách tài khóa năm 2015 được thực hiện trong bối cảnh nền kinh tế trong và ngoài nước đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức: giá dầu giảm mạnh so với dự báo (trung bình cả năm 2015, giá dầu chỉ bằng hơn 50% giá dự báo khi lập dự toán). Ngoài ra, còn do thu ngân sách vẫn phụ thuộc khá lớn vào các loại thuế gián thu như: Thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt. Đây là những loại thuế phụ thuộc vào mức giá, nên khi lạm phát được kiềm chế, thì tốc độ thu NSNN từ các loại thuế cũng bị giảm. Các thị trường trầm lắng…Đã tác động đến hoạt động thu – chi ngân sách nhà nước.

+ Thu ngân sách gặp nhiều khó khăn nhưng nhu cầu chi lại quá lớn, dẫn đến bội chi NSNN tiếp tục tăng. Tỷ lệ bội chi NSNN năm 2015 vẫn ở mức dưới 5,0% GDP theo dự toán song cao hơn so với mức 4,9% của giai đoạn 2006-2010. Tính đến 31/12/2015, mức dư nợ công dự kiến khoảng 61,3% GDP, nợ Chính phủ khoảng 48,9% GDP và nợ nước ngoài của quốc gia khoảng 41,5% GDP, tỷ lệ này nằm trong phạm vi quy định. Tuy nhiên, dư nợ công từ năm 2011 đến năm 2015 tăng thêm khoảng 7% GDP do yêu cầu phải tăng vay để đầu tư kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội. Nhu cầu vay và trả nợ tăng nhanh (ước tính chi trả nợ lãi năm 2015 bằng khoảng 7,7% tổng chi cân đối NSNN, cao hơn nhiều so với mức trung bình 3,8% của giai đoạn 2006-2010) là một lý do dẫn đến việc Bộ Tài chính trình Chính phủ xin ý kiến Quốc hội cho phép phát hành 3 tỷ USD trái phiếu quốc tế để đảo nợ.

2.1.2. Bài học kinh nghiệm trong hoạt động điều hành NSNN năm 2015.

Từ những thành công cũng như tồn tại, bất cập trong hoạt động điều hành NSNN năm 2015, chúng ta có thể rút ra bài học kinh nghiệm trong điều hành Ngân sách như sau:

Một là, cần điều chỉnh lập dự toán NSNN phù hợp với những thay đổi dự kiến của tình hình kinh tế, nhất là biến động về tăng trưởng GDP, tình hình xuất nhập khẩu và giá cả. Điều hành NSNN bám sát vào tình hình KT-XH, công tác dự báo phải sát sao, đảm bảo tính chủ động trước mọi biến động về chính trị, xã hội,…

Hai là, tăng cường kỷ luật tài khóa và đẩy mạnh cải cách hành chính trong các lĩnh vực tài chính, cải cách thủ tục hành chính theo hướng thống nhất quy trình, đảm bảo đơn giản rõ ràng, minh bạch về hồ sơ, chứng từ; hiện đại hóa công nghệ thông tin, và xây dựng chuẩn ISO để áp dụng trong hoạt động thu chi ngân sách

Ba là, tập trung tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ Doanh nghiệp phát triển, thúc đẩy phục hồi tăng trưởng, tạo nguồn thu vững chắc, ổn định cho NSNN, đồng thời hạn chế tối đa ban hành thêm các chính sách mới làm giảm thu NSNN, tăng cường công tác quản lý thu, chống thất thu, chống buôn lậu, gian lận thương mại, chuyển giá; tập trung xử lý các khoản nợ đọng thuế; triển khai các biện pháp cưỡng chế nợ thuế để thu hồi nợ đọng và hạn chế phát sinh số nợ thuế; đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính thuế, hải quan;

Bốn là, cơ cấu lại các khoản chi trên cơ sở rà soát tổng thể các chính sách an sinh xã hội, các chương trình mục tiêu quốc gia… để cắt giảm, lồng ghép chính sách, chương trình, áp dụng phù hợp cho giai đoạn 2016-2020; hạn chế ban hành các chính sách làm tăng chi NSNN; từng bước tinh giảm biên chế bộ máy; giảm tối đa kinh phí tổ chức hội nghị, hội thảo, đi công tác nước ngoài; phân bổ, sử dụng vốn đầu tư đảm bảo tập trung, có hiệu quả, ưu tiên vốn cho đầu tư kết cấu hạ tầng trọng điểm; đẩy mạnh hình thức hợp tác công – tư (PPP) và các hình thức đầu tư không sử dụng vốn NSNN; phối hợp giữa các bộ ngành rà soát toàn bộ các dự án đầu tư để có các biện pháp xử lý, loại bỏ các dự án đầu tư kém hiệu quả.

Năm là, đẩy mạnh đổi mới cơ chế hoạt động, cơ chế tài chính và tiền lương gắn với kết quả hoạt động của đơn vị sự nghiệp công lập;

Sáu là, hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật; tăng cường hoạt động thanh tra, kiểm tra, kiểm toán đối với mọi hoạt động thu chi tài chính, ngân sách tại các đơn vị và các cấp hành chính trên phạm vi cả nước. Tăng cường kỷ luật tài chính, quyết liệt trong công tác thu hồi nợ đọng.

Bảy là, tiếp tục thực hiện cơ cấu lại nợ công theo hướng giảm các khoản nợ ngắn hạn, tăng các khoản nợ dài hạn có lãi suất phù hợp; tăng cường quản lý chặt chẽ nợ công, đảm bảo khả năng trả nợ.

Tám là, đi đôi với đầu tư phát triển kinh tế thì phải thực hiện các chính sách đảm bảo an sinh xã hội: Đối với nước ta, bảo đảm ngày càng tốt hơn an sinh xã hội và phúc lợi xã hội luôn là một chủ trương, nhiệm vụ lớn của Đảng và Nhà nước, thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ ta và có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự ổn định chính trị – xã hội và phát triển bền vững của đất nước. Quyết tâm cao của Đảng và Nhà nước cùng với tiềm lực kinh tế của đất nước được nâng lên là cơ sở quan trọng để bảo đảm tốt hơn an sinh xã hội và phúc lợi xã hội. Đó cũng là cơ sở để đảm bảo được mục tiêu bền vững trong điều hành Ngân sách.

Mặc dù trong điều hành NSNN năm 2015 có những thuận lợi, bên cạnh cũng không ít khó khăn, nhưng với sự nỗ lực của toàn Ngành về cơ bản đã hoàn thành toàn diện trên tất cả các lĩnh vực công tác. Công tác quản lý thu, điều hành chi được thực hiện chủ động, sát với tình hình thực tiễn, kỷ luật tài chính – ngân sách được tăng cường và có chuyển biến tích cực. Kết quả thu NSNN vượt dự toán và cao hơn số đánh giá trình Quốc hội, góp phần đảm bảo cân đối NSTW trong điều kiện có nhiều tác động không thuận từ môi trường thế giới đến nguồn thu NSTW, đặc biệt là việc giá dầu thô giảm sâu.

2.2. Nhiệm vụ, phương hướng và giải pháp điều hành NSNN năm 2016.

2.2.1. Mục tiêu, nhiệm vụ điều hành NSNN 2016

Năm 2016 là năm đầu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2016 – 2020, đồng thời là năm có nhiều sự kiện trọng đại của đất nước như Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016 – 2021. Bên cạnh những yếu tố thuận lợi cho phát triển kinh tế – xã hội nước ta, dự báo năm 2016 sẽ có nhiều khó khăn, thách thức. Tình hình kinh tế thế giới và khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp; tốc độ phục hồi kinh tế chậm và tiềm ẩn nhiều rủi ro. Cạnh tranh giữa các nền kinh tế ngày càng gay gắt; những rủi ro địa – chính trị trên thế giới, diễn biến phức tạp của tranh chấp chủ quyền biển, đảo trên biển Đông, cùng với biến động khó lường trên thị trường tài chính, tiền tệ, giá dầu thô, thiên tai… có thể ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển kinh tế của đất nước. Việc hình thành Cộng đồng ASEAN vào cuối năm 2015 cùng với việc ký kết và triển khai các hiệp định thương mại tự do mở ra nhiều cơ hội phát triển, nhưng cũng tạo ra những khó khăn, thách thức rất lớn phải nỗ lực vượt qua trong năm 2016.

Trước tình hình đó, Quốc hội đã thông qua mục tiêu tổng quát của Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm 2016 là: “Giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, phấn đấu tăng trưởng kinh tế cao hơn năm 2015, chú trọng cải thiện chất lượng tăng trưởng, bảo đảm phát triển bền vững. Đẩy mạnh thực hiện các đột phá chiến lược, tái cơ cấu nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh. Tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, thúc đẩy sản xuất, kinh doanh. Phát trin văn hóa, thực hiện tiến bộ công bằng xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, nâng cao phúc lợi xã hội và cải thiện đời sống nhân dân. Quản lý và sử dụng hiệu quả tài nguyên, chủ động phòng, chống thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu, bảo vệ môi trường. Đẩy mạnh ci cách hành chính, tăng cường kỷ cương, kỷ luật hành chính và xã hội; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước; tạo sự chuyển biến rõ nét về phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Tăng cường quốc phòng, an ninh, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia; bảo đảm an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội. Nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế.”

Trên tinh thần Nghị quyết về KT-XH, ngày 11/11/2015 Quốc hội đã thông qua Nghị quyết số: 99/2015/QH13 về dự toán NSNN năm 2016 với 3 chỉ tiêu quan trọng nhất, đó là:

Tổng thu cân đối NSNN là 1.014.500 tỷ đồng (một triệu, không trăm mười bốn nghìn, năm trăm tỷ đồng); nếu tính cả 4.700 tỷ đồng (bốn nghìn, bảy trăm tỷ đồng) thu chuyển nguồn ngân sách địa phương từ năm 2015 sang năm 2016 thì tổng số thu ngân sách nhà nước là1.019.200 tỷ đồng (một triệu, không trăm mười chín nghìn, hai trăm tỷ đồng); Trong đó: Thu nội địa: 785.000 tỷ đồng; Thu từ dầu thô: 54.500 tỷ đồng; Thu cân đối từ hoạt động xuất nhập khẩu: 172.000 tỷ đồng; Thu từ viện trợ: 3.000 tỷ đồng; Thu chuyển nguồn từ NSĐP từ 2015 sang năm 2016 là: 4.700 tỷ đồng.

Tổng số chi cân đối NSNN là 1.273.200 tỷ đồng (một triệu, hai trăm bảy mươi ba nghìn, hai trăm tỷ đồng); Trong đó: Chi đầu tư phát triển: 254.950 tỷ đồng ; Chi trả nợ và viện trợ: 155.100 tỷ đồng;

Chi phát triển sự nghiệp kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý hành chính: 823.995 tỷ đồng; Chi cải cách tiền lương, tinh giản biên chế: 13.055 tỷ đồng; Chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính: 100 tỷ đồng, chi dự phòng: 26.000 tỷ đồng 

Mức bội chi NSNN là 254.000 tỷ đồng (hai trăm năm mươi tư nghìn tỷ đồng), tương đương 4,95% tổng sản phẩm trong nước (GDP).

2.2.2. Phương hướng, nhiệm vụ điều hành NSNN năm 2016

Để hoàn thành cao nhất các mục tiêu, chỉ tiêu phát triển kinh tế – xã hội năm 2016 và tạo đà cho việc thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2016 – 2020; hoàn thành dự toán NSNN năm 2016 đã được Quốc Hội thông qua, Chính phủ đã yêu cầu các Bộ, cơ quan Trung ương, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, các đơn vị, cá nhân liên quan nỗ lực tổ chức thực hiện đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp trên tất cả các lĩnh vực; tiếp tục triển khai quyết liệt, có hiệu quả các đột phá chiến lược, các chương trình, đề án, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và chính sách, pháp luật phục vụ phát triển kinh tế – xã hội đã đề ra; trong đó tập trung chỉ đạo, điều hành, tổ chức thực hiện có hiệu quả những nhiệm vụ, giải pháp sau đây:

–  Điều hành linh hoạt, hiệu quả chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa và các chính sách khác để đạt và vượt các chỉ tiêu Quốc hội thông qua. Điều hành lãi suất, tỷ giá, tăng trưởng tín dụng phù hợp, xử lý nợ xấu có hiệu quả. Kiểm soát chặt chẽ nợ công, nợ Chính phủ, nợ nước ngoài của quốc gia trong giới hạn theo Nghị quyết của Quốc hội, nâng cao hiệu quả sử dụng, tăng cường kiểm tra, giám sát việc vay, sử dụng vốn vay và trả nợ, nhất là các khoản vay mới, vay có bảo lãnh của Chính phủ, tiếp tục cơ cấu lại các khoản vay theo hướng tăng tỷ trọng vay trung, dài hạn với lãi suất phù hợp. Tiếp tục cơ cấu lại thu, chi ngân sách nhà nước bảo đảm tỷ lệ hợp lý giữa chi đầu tư, chi thường xuyên và chi trả nợ, theo hướng chi đầu tư tăng nhanh hơn; xử lý cơ bản nợ đọng xây dựng cơ bản, không để phát sinh thêm nợ mới, kiên quyết xử lý và thu hồi nợ đọng thuế, quản lý chặt chẽ việc ứng trước dự toán và chi chuyển nguồn, triệt để thực hiện tiết kiệm chi thường xuyên, bảo đảm kỷ luật, kỷ cương tài chính, các khoản thu, chi ngân sách nhà nước phải được dự toán. Huy động, thu hút và sử dụng hiệu quả các nguồn lực cho đầu tư phát triển, tập trung thu hút các dự án đầu tư nước ngoài sử dụng công nghệ cao.

– Bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế. Tập trung tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy khu vực kinh tế trong nước phát triển, thực hiện hiệu quả các giải pháp hỗ trợ nông dân, doanh nghiệp trong sản xuất, tiêu thụ sản phẩm, mở rộng thị trường. Tăng cường công tác phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả, hàng không bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm.

– Tiếp tục triển khai Hiến pháp năm 2013, hoàn thiện hệ thống pháp luật, chấm dứt tình trạng chậm ban hành văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành pháp luật, nghiêm cấm ban hành văn bản trái với tinh thần và nội dung của Hiến pháp, luật, pháp lệnh, nghị định của Chính phủ, quyết định của Thủ tướng Chính phủ.

– Phát triển đồng bộ và nâng cao hiệu quả hoạt động các loại thị trường, bảo đảm cạnh tranh bình đẳng, minh bạch. Thực hiện cơ chế thị trường, nghiên cứu và thực hiện tách dịch vụ công ra khỏi quản lý nhà nước; đẩy mạnh xã hội hóa đối với việc cung cấp dịch vụ công, đổi mới tổ chức và hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập. Đẩy nhanh tiến độ và nâng cao hiệu quả việc sắp xếp, tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước, nhất là các công ty nông, lâm nghiệp.

– Tiếp tục hoàn thiện và tổ chức thực hiện có hiệu quả các cơ chế, chính sách hỗ trợ của Nhà nước đối với người có công, người nghèo theo chuẩn nghèo mới, bảo đảm an sinh xã hội, nâng cao phúc lợi xã hội và giải quyết tốt hơn cung cầu trên thị trường lao động. Tiếp tục đẩy mạnh đổi mới giáo dục và đào tạo để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực gắn với giải quyết việc làm.

– Tăng cường quản lý tài nguyên, khoáng sản, bảo vệ môi trường; việc khai thác mới tài nguyên, khoáng sản phải thực hiện đấu thầu công khai, minh bạch, phòng, chống thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu. Kiên trì đấu tranh bảo vệ lợi ích quốc gia trong quản lý, sử dụng bền vững nguồn nước sông Mê Công.

– Nâng cao hiệu quả, hiệu lực nền hành chính công và cải cách hành chính, thực hiện nghiêm Nghị quyết 39 của Bộ Chính trị về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Tăng cường kiểm tra, thanh tra, giám sát năng lực, thái độ thực thi pháp luật, đánh giá thực chất đội ngũ cán bộ, công chức, cương quyết loại bỏ những người cản trở, trục lợi, gây khó khăn cho doanh nghiệp, người dân. Nâng cao hiệu quả phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân.

–  Nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại; tiếp tục đưa quan hệ với các đối tác đi vào chiều sâu, thiết thực, hiệu quả; đẩy mạnh các hoạt động đối ngoại Nhà nước và ngoại giao nhân dân.

– Dự báo và nắm chắc diễn biến tình hình trong và ngoài nước, kết hợp chặt chẽ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại để chủ động giải quyết mọi tình huống xảy ra, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền quốc gia, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ, giữ vững môi trường hòa bình để phát triển đất nước.

Từ hệ thống giải pháp của Chính Phủ đưa ra, Bộ Tài chính cụ thể hóa trong điều kiện của Ngành, đưa ra những giải pháp điều hành Ngân sách Nhà nước năm 2016 cụ thể như sau:

Một là, triển khai đồng bộ, hiệu quả chính sách tài khóa chặt chẽ, triệt để tiết kiệm để hỗ trợ sản xuất-kinh doanh, kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp tập trung chỉ đạo công tác thu – chi NSNN quyết liệt để hoàn thành và hoàn thành vượt mức dự toán NSNN năm 2016 đã được Quốc hội quyết định. Cấp ủy, chính quyền địa phương phải có kế hoạch vào cuộc ngay từ những ngày đầu, tháng đầu, chỉ đạo quyết liệt công tác thu, đảm bảo thu đúng, thu đủ, thu kịp thời các khoản phát sinh theo quy định; xiết chặt công tác quản lý thu, thu hồi nợ đọng thuế, kiểm tra giám sát các gian lận thương mại, chuyển giá,… Phấn đấu thu nội địa tăng 7-8% để hỗ trợ bù đắp hụt thu từ việc giá dầu thô biến động khó lường và hội nhập quốc tế. Để chủ động ứng phó với việc giảm thu NSNN do giá dầu thô giảm, giữ vững cân đối NSNN năm 2016, Bộ Tài chính đã xây dựng các kịch bản điều hành NSNN theo từng mức giá dầu, trong đó có cả mức giá 30 và thậm chí dưới 30 USD/thùng, từ đó đưa ra những giải pháp xử lý cụ thể. Do tỷ trọng thu trực tiếp và gián tiếp liên quan đến dầu thô không lớn (khoảng 10% tổng thu NSNN); đồng thời, từ kinh nghiệm điều hành năm 2015 cho thấy việc giá xăng dầu giảm cũng có tác động tích cực đến phát triển kinh tế, tạo thêm nguồn thu cho NSNN. Vì vậy, số giảm thu do biến động giá dầu thô có thể bù đắp được từ số phấn đấu tăng thu nội địa và XNK. Quản lý, điều hành chi NSNN chặt chẽ, triệt để tiết kiệm chi thường xuyên, Hai là, tăng cường công tác quản lý giá, đẩy mạnh tái cơ cấu nền kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng; tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước tiếp tục đẩy mạnh cổ phần hóa, thoái vốn đầu tư ngoài ngành theo kế hoạch đã được Chính phủ phê duyệt.

Ba là, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong khu vực sự nghiệp công, thông qua điều chỉnh dần giá, phí dịch vụ sát với chi phí và giao quyền tự chủ cho các đơn vị.

Bốn là, kiên trì tiếp tục điều hành giá theo cơ chế thị trường đối với những mặt hàng, dịch vụ mà Nhà nước còn quản lý, định giá như xăng, dầu, điện,…

Năm là, Tiếp tục đẩy mạnh, tăng cường hơn nữa công tác xây dựng thể chế, cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực tài chính, rà soát các qui định về cải cách thủ tục hành chính để thống nhất quy trình tạo thuận lợi cho DN và người dân, góp phần nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp trong tiến trình hội nhập quốc tế. Hiện đại hóa và nâng cao hiệu lực và hiệu quả hoạt động quản lý Nhà nước của ngành Tài chính, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra tài chính, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.

Sáu là, điều hành bội chi NSNN trong phạm vi được Quốc hội quyết định; quản lý, kiểm soát chặt chẽ nợ công;

Bảy là, tiếp tục tăng cường kỷ cương, kỷ luật tài chính, tăng cường công khai, minh bạch,…

Trong không khí cả nước thi đua lập thành tích chào mừng Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII, bầu cử Quốc hội khóa XIV và HĐND các cấp; với sự chỉ đạo quyết liệt, sát sao của Đảng, Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; sự vào cuộc của các bộ, ngành, địa phương ngay từ những ngày đầu, tháng đầu của năm; sự nỗ lực, chung sức chung lòng của cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân, tin tưởng rằng nhiệm vụ tài chính – NSNN năm 2016 sẽ đạt và vượt mục tiêu đã đề ra, tạo nền tảng cho việc thực hiện thắng lợi kế hoạch 5 năm mà Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII đề ra.

2.2.3. Cơ hội và thách thức trong thực hiện nhiệm vụ điều hành NSNN năm 2016

Trong bối cảnh kinh tế năm 2016 còn nhiều khó khăn, việc thực hiện công tác điều hành NSNN năm 2016 có cả những cơ hội và thách thức:

a) Những cơ hội:

+ Tăng trưởng kinh tế tiếp tục có nhiều dấu hiệu tốt và là cơ sở cho việc thực hiện tốt các nhiệm vụ thu ngân sách. Dự báo tình hình tiếp tục có nhiều chuyển biến tích cực hơn so với năm 2015, tăng trưởng kinh tế khoảng 6,7%, lạm phát dưới 5%, tổng kim ngạch xuất khẩu tăng 10%.

+ Luật Đầu tư công đã bắt đầu có hiệu lực với việc áp dụng kế hoạch trung hạn trong chi tiêu cùng với những quy định chặt chẽ hơn về chi đầu tư, kỳ vọng về sự cải thiện vấn đề chi tiêu công.

+ Việc thực hiện các cam kết quốc tế về hội nhập sẽ mở ra những cơ hội mới cho nền kinh tế và cho NSNN.

b) Một số thách thức:

Nền kinh tế vẫn còn tiềm ẩn nhiều khó khăn, thách thức, nhất là những biến động phức tạp, khó lường:

+ Rủi ro của các yếu tố bên ngoài có thể tác động xấu đến tăng trưởng làm giảm nguồn thu NSNN. Kinh tế Việt Nam hiện đang phụ thuộc khá lớn vào biến động của kinh tế thế giới (độ mở của nền kinh tế tính theo quy mô ngoại thương/GDP trong giai đoạn gần đây lên đến 150%). Tăng trưởng của Việt Nam phụ thuộc rất lớn vào xuất khẩu, khi kinh tế thế giới còn khó khăn thì kinh tế Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng rất lớn.

+ Nguồn thu giảm do thay đổi chính sách thuế. Theo Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp thời gian tới, thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp sẽ chỉ còn 20% so với 22% hiện nay. Thu thuế xuất nhập khẩu cũng có thể giảm đi, khi Việt Nam tiếp tục cắt giảm thuế suất theo cam kết gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới và cam kết theo các Hiệp định thương mại tự do.

+ Mặc dù, năm 2016 Chính phủ có những biện pháp mạnh trong thực hiện tiết kiệm chi tiêu từ NSNN song cũng khó có thể tiết kiệm hơn nữa khi hệ thống và cơ chế chi tiêu chưa có sự thay đổi mạnh mẽ. Hơn nữa, vẫn cần tiếp tục duy trì các khoản chi vì mục đích an sinh xã hội, chi trả nợ. Năm 2016, cũng là năm đầu áp dụng thực hiện chi đầu tư theo Luật Đầu tư công, nên nếu không có sự giám sát và hướng dẫn kịp thời, rất có thể quy mô chi đầu tư sẽ tăng lên nhanh chóng. Bởi vì, khuôn khổ chi tiêu trung hạn cho phép điều chỉnh chi đầu tư giữa các năm kế hoạch.

+ Trên thị trường tài chính, tiền tệ thế giới và giá dầu thô tiếp tục giảm sâu, dự báo có tác động không thuận đến sự phát triển kinh tế và cân đối thu, chi NSNN năm 2016. vấn đề giá dầu và giá cả hàng hóa. Năm 2016, dự báo giá dầu biến động giảm mạnh và sẽ tác động mạnh đến thu ngân sách. Do vậy, cần có phương án về thu NSNN khi giá dầu giảm một nửa để có giải pháp điều hành phù hợp.

+ Việc dự báo thu ngân sách năm sau trong lập dự toán thường được xem xét trên cơ sở số thu năm hiện hành. Do đó, số thu NSNN sẽ tăng mạnh khi lạm phát cao và thay đổi tỷ giá lớn và ngược lại. Năm 2016 dự báo số thu cân đối NSNN (loại trừ phần bán cổ phần của DNNN) chỉ tăng 1% so với kết quả ước thực hiện 2015 nên việc hoàn thành dự toán thu là khả thi. Dự toán chi NSNN dự kiến cũng có thể tiếp tục được thực hiện tốt, căn cứ vào tình hình thực hiện nhiệm vụ chi 2 năm gần đây.

2.2.4. Kết quả bước đầu của những tháng đầu năm 2016 và định hướng cho những tháng còn lại

a) Kết quả quý I/2016:

Thu quý I đạt 230,5 nghìn tỷ đồng, bằng 22,7% dự toán, tăng 0,3% so với cùng kỳ năm 2015. Trong đó: Thu nội địa: quý I đạt 193,8 nghìn tỷ đồng, bằng 24,7% dự toán, tăng 10% so với cùng kỳ năm 2015 (không kể tiền sử dụng đất thì tăng 9,3%); Thu về dầu thô:  quý I ước đạt 8,9 nghìn tỷ đồng, bằng 16,4% dự toán, bằng 45,9% so với cùng kỳ năm 2015; Thu ngân sách từ hoạt động xuất nhập khẩu:  quý I ước đạt 54,6 nghìn tỷ đồng, bằng 20,2% dự toán, giảm 11,5% so với cùng kỳ năm 2015. Sau khi thực hiện hoàn thuế giá trị gia tăng theo chế độ (27 nghìn tỷ đồng), thu cân đối NSNN từ hoạt động xuất nhập khẩu quý I ước đạt 27,6 nghìn tỷ đồng, bằng 16% dự toán, bằng 81,3% so cùng kỳ năm 2015.

– Chi NSNN, quý I ước đạt 277,59 nghìn tỷ đồng, bằng 21,8% dự toán, tăng 5,4% so cùng kỳ năm 2015, trong đó: Chi đầu tư phát triển: quý I ước đạt 46,67 nghìn tỷ đồng, bằng 18,3% dự toán, tăng 6,9% so cùng kỳ năm 2015; Chi trả nợ và viện trợ: quý I ước đạt 39,2 nghìn tỷ đồng, bằng 25,2% dự toán, tăng 5,3% so cùng kỳ năm 2015, đảm bảo thanh toán đầy đủ, kịp thời các khoản nợ đến hạn theo cam kết; Chi phát triển các sự nghiệp kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý hành chính: quý I ước đạt 191,8 nghìn tỷ đồng, bằng 23,1% dự toán, tăng 5,1% so cùng kỳ năm 2015.

– Bội chi NSNN quý I ước 47,08 nghìn tỷ đồng, bằng 18,5% dự toán năm. 

Về tình hình huy động vốn cho ngân sách nhà nước: Tính đến ngày 25/3/2016, đã thực hiện phát hành được gần 69 nghìn tỷ đồng trái phiếu Chính phủ bù đắp bội chi NSNN và cho đầu tư phát triển, xấp xỉ 27% nhiệm vụ huy động vốn trong nước năm 2016, đảm bảo nguồn đáp ứng kịp thời các nhiệm vụ chi ngân sách theo dự toán

b. Định hướng nhiệm vụ, giải pháp cho những tháng còn lại của năm 2016:

Một là, tiếp tục theo dõi diễn biến và thực hiện điều hành dự toán thu, chi NSNN theo đúng mục tiêu và chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã đề ra; đảm bảo cân đối thu chi ngân sách; phấn đấu thu NSNN cả năm đạt và vượt dự toán được giao.

Hai là, thực hiện đồng bộ, linh hoạt các giải pháp huy động vốn, phấn đấu huy động đạt kế hoạch được giao; Tiếp tục rà soát, đàm phán, đẩy nhanh tiến độ giải ngân các khoản vốn nước ngoài bằng tiền cho cân đối NSNN; thực hiện huy động, giải ngân các khoản vốn vay nước ngoài theo kế hoạch.

Ba là, tiếp tục xây dựng, hoàn thiện thể chế quản lý tài chính đối với doanh nghiệp; tiếp tục phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương về xử lý tài chính, xử lý lao động dôi dư đối với các DNNN, thực hiện công tác giám sát, xử lý vướng mắc tài chính của các doanh nghiệp;

Bốn là, tiếp tục công tác tái cấu trúc các công ty chứng khoán; hướng dẫn, khuyến khích các công ty chứng khoán thực hiện hợp nhất, sáp nhập nhằm nâng cao năng lực hoạt động; Tăng cường thanh tra, kiểm tra, xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân vi phạm các quy định về chứng khoán và thị trường chứng khoán.

Năm là, tiếp tục nhất quán chủ trương quản lý giá theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước đối với các mặt hàng quan trọng, thiết yếu theo lộ trình (giá điện, giá than, giá dịch vụ công…); tăng cường kiểm tra, thanh tra về giá; rà soát, đánh giá, xây dựng các giải pháp cụ thể để xử lý chênh lệch thuế nhập khẩu xăng, dầu theo biểu MFN và FTA khi tính giá cơ sở.

Sáu là, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền, hỗ trợ, tư vấn pháp luật về thuế để những cải cách thủ tục hành chính, rút ngắn số giờ nộp thuế đi vào thực tế cũng như hoàn thiện Kế hoạch cải cách, hiện đại hóa ngành Hải quan giai đoạn 2016-2020; Hoàn thiện và trình ban hành Kế hoạch chi tiết triển khai các hoạt động cải cách, hiện đại hóa trọng tâm ngành Hải quan giai đoạn 2016-2020 và các năm 2016-2017./.

 TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Luật 01/2002/QH11 Ngân sách Nhà nước;

2. Luật 83/2015/QH13 Ngân sách Nhà nước;

3. Chỉ thị số 1792/CT-TTg ngày 15/10/2011 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường quản lý đầu tư từ vốn NSNN và vốn trái phiếu Chính phủ;

4. Chỉ thị số 27/CT-TTg ngày 10/10/2012 của Thủ tướng Chính phủ Về những giải pháp chủ yếu khắc phục tình trạng nợ đọng xây dựng cơ bản tại các địa phương;

5. Chỉ thị số 14/CT-TTg ngày 28/6/2013 của Thủ Tướng về tăng cường quản lý đầu tư và xử lý nợ đọng xây dựng cơ bản từ nguồn ngân sách nhà nước, trái phiếu chính phủ;

6. Nghị quyết số 77/2014/QH13 của Quốc Hội ngày 10/11/2014 về nhiệm vụ, mục tiêu phát triển KTXH năm 2015;

7. Nghị quyết số 78/2014/QH13 của Quốc Hội ngày 10/11/2014 về dự toán NSNN năm 2015

8. Nghị quyết số 01/NQ-CP của Chính phủ ngày 03/1/2015, đề ra những giải pháp chủ yếu chỉ đạo điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và dự toán ngân sách năm 2015

9. Nghị quyết số 98/2015/QH13 của Quốc Hội ngày 11/11/2015  về nhiệm vụ, mục tiêu phát triển KTXH năm 2016

10. Nghị quyết số 99/2015/QH13 của Quốc Hội ngày 10/11/2015 về dự toán NSNN năm 2016

11. Nghị quyết số 01/NQ-CP của Chính phủ ngày 07/1/2016, đề ra những giải pháp chủ yếu chỉ đạo điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và dự toán ngân sách năm 2016

12. Số liệu công khai Dự toán, Quyết toán NSNN (nhiều năm) của Bộ Tài chính ;

13. Báo cáo tổng kết năm 2015 của Bộ Tài chính

14. Trang http://www.mof.gov.vn/

15. Trang http://thoibaotaichinhvietnam.vn/

 


 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *