ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG CỦA THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU NĂM 2015 VÀ ĐỊNH HƯỚNG CÁC GIẢI PHÁP NĂM 2016

ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG CỦA THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU NĂM 2015 VÀ ĐỊNH HƯỚNG CÁC GIẢI PHÁP NĂM 2016

 Phòng Thị trường Tài chính

Vụ Tài chính Ngân hàng – Bộ Tài chính

Năm 2015 thị trường trái phiếu đã có bước phát triển tích cực trên cả thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp, tiếp tục là một kênh huy động vốn quan trọng cho ngân sách nhà nước, 2 ngân hàng chính sách, chính quyền địa phương và các doanh nghiệp.

25.1. Tổng quan

– Về khối lượng phát hành: Năm 2015, tổng khối lượng phát hành trái phiếu Chính phủ (TPCP), trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh (TPCPBL), trái phiếu chính quyền địa phương (TPCQĐP) và trái phiếu doanh nghiệp (TPDN) đạt là khoảng 355 nghìn tỷ đồng, tương đương 8,47% GDP năm 2015.

-Về dư nợ thị trường trái phiếu: Dư nợ thị trường trái phiếu tại thời điểm 31/12/2015 đạt khoảng 1.012 nghìn tỷ đồng, tương đương 24,14% GDP năm 2015, tăng 13% so với năm 2014.

25.2. Thị trường sơ cấp:

25.2.1. Trái phiếu Chính phủ

Về khối lượng: Trong năm 2015, KBNN đã huy động được khoảng 256 nghìn tỷ đồng, đạt 98% kế hoạch năm 2015 và tăng 3,31% so với năm 2014.

Về kỳ hạn phát hành: Trong năm 2015, Bộ Tài chính thực hiện phát hành TPCP kỳ hạn từ 03 năm trở lên nên kỳ hạn phát hành đã được cải thiện vượt bậc. Theo đó, kỳ hạn phát hành bình quân đã tăng đáng kể từ mức 4,84 năm (năm 2014) lên 6,98 năm (năm 2015)

 – Về lãi suất phát hành TPCP: Lãi suất phát hành TPCP năm 2015 đã theo rất sát diễn biến của thị trường. Theo đó, lãi suất giảm từ đầu năm cho tới cuối tháng 05 và tăng lên từ tháng 6 đến tháng 10 (đặc biệt lãi suất kỳ hạn 5 năm tăng 1% trong các tháng này) và giảm nhẹ trong tháng 11 và tháng 12. So với thời điểm đầu năm 2015, lãi suất phát hành tại thời điểm cuối năm 2015 tăng nhẹ từ 0,05-1,1% đối với các kỳ hạn từ 05 năm trở lên.

Về dư nợ trái phiếu Chính phủ: Dư nợ TPCP đến cuối năm 2015 là 678.760 tỷ đồng (bằng 16,19% GDP năm 2015), tăng 19% so với dư nợ tại thời điểm cuối năm 2014 là 569.014 tỷ đồng.

25.2.2. Trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh

Về khối lượng phát hành: Trong năm 2015, NHPT huy động được khoảng 33 nghìn tỷ đồng (bằng 99,9% hạn mức bảo lãnh năm 2015), tăng 43,2% so với mức phát hành năm 2014; và NHCSXH huy động được khoảng 15 nghìn tỷ đồng (bằng 99,7% hạn mức bảo lãnh năm 2015), tăng gấp 3 lần so với mức phát hành năm 2014 (4.702 tỷ đồng).

Về kỳ hạn phát hành: Kỳ hạn phát hành bình quân trong năm 2015 đã cải thiện so với năm 2014, từ mức 3,57 năm lên đến 4,24 năm đối với Ngân hàng phát triển và 3,69 năm lên đến 4,54 năm đối với Ngân hàng chính sách xã hội.

 – Về lãi suất phát hành: Tương tự như TPCP, lãi suất phát hành trái phiếu được CP bảo lãnh năm 2015 đã theo rất sát diễn biến của thị trường.

+ Đối với trái phiếu NHPT: So với thời điểm đầu năm 2015, lãi suất phát hành tăng 0,15-0,96% đối với các kỳ hạn.

+ Đối với trái phiếu NHCSXH: So với thời điểm đầu năm 2015, lãi suất phát hành tăng 0,10-0,83% đối với các kỳ hạn.

Về dư nợ trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh: Dư nợ TPCPBL đến cuối năm 2015 là khoảng 161 nghìn tỷ đồng (bằng 3,85% GDP), giảm 5% so với dư nợ tại thời điểm cuối năm 2014. Trong đó, dư nợ trái phiếu của NHPT và NHCSXH lần lượt là: khoảng 127 nghìn tỷ đồng và khoảng 34 nghìn tỷ đồng.

– Về kỳ hạn còn lại của trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh:

Kỳ hạn còn lại bình quân danh mục trái phiếu của 2 ngân hàng chính sách trong năm 2015 tăng so với năm 2014. Đối với NHPT, kỳ hạn còn lại bình quân trong năm 2015 là 2,95 năm, tăng 0,46 năm so với năm 2014 (2,49 năm). Đối với NHCSXH, kỳ hạn còn lại bình quân trong năm 2015 là 2,49 năm, tăng 0,92 năm so với năm 2014 (1,57 năm).

25.2.3. Trái phiếu Chính quyền địa phương

– Trong năm 2015, có 5 địa phương phát hành trái phiếu là TP Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, TP Hải Phòng, tỉnh Quảng Ninh và tỉnh Bắc Ninh với tổng khối lượng phát hành đạt khoảng 8 nghìn tỷ đồng, tăng 11% so với khối lượng phát hành trong năm 2014.

– Tính đến cuối năm 2015, dư nợ thị trường trái phiếu chính quyền địa phương đạt khoảng 29 nghìn tỷ đồng, tương đương 0,69% GDP năm 2015.

25.3. Thị trường TPDN

– Trong năm 2015, khối lượng đăng ký phát hành trái phiếu theo hình thức riêng lẻ là khoảng 84 nghìn tỷ đồng và khối lượng phát hành thực tế là khoảng 42 nghìn tỷ đồng.

– Dư nợ thị trường trái phiếu doanh nghiệp tại thời điểm cuối năm 2015 là khoảng 142 nghìn tỷ đồng, bằng 3,4% GDP năm 2015 và tăng 10% so với dư nợ thị trường trái phiếu doanh nghiệp tại thời điểm cuối năm 2014.

25.4. Cơ cấu nhà đầu tư

– Theo loại hình nhà đầu tư: Tại thời điểm cuối năm 2015, các ngân hàng thương mại nắm giữ khoảng 76,73% (giảm 2,92% so với năm 2014); các công ty bảo hiểm nắm giữ khoảng 8,42% (tăng 3,70% so với năm 2014), các quỹ tài chính nhà nước gồm BHXH, bảo hiểm tiền gửi và SCIC nắm giữ khoảng 14,15% (giảm 0,33% so với năm 2014); các tổ chức và cá nhân khác nắm giữ khoảng 0,7% khối lượng trái phiếu. Như vậy trên thị trường trái phiếu, các ngân hàng thương mại vẫn là nhà đầu tư chính trên thị trường nhưng tỷ trọng nắm giữ đã giảm dần, các nhà đầu tư dài hạn như công ty bảo hiểm đã tăng tỷ trọng nắm giữ trái phiếu trong năm 2015.

– Theo địa lý: Tại thời điểm cuối năm 2015, các nhà đầu tư nước ngoài (bao gồm cả NĐTNN sở hữu bởi pháp nhân nước ngoài và tổ chức thành lập trong nước có sở hữu bởi nhà đầu tư nước ngoài) nắm giữ khoảng 6%, các nhà đầu tư trong nước nắm giữ khoảng 94% tổng giá trị thị trường trái phiếu. Tuy nhiên, nhà đầu tư nước ngoài offshore chỉ nắm giữ 0,5% tổng giá trị thị trường trái phiếu, giảm 1% so với năm 2014.

25.5. Thị trường thứ cấp trái phiếu Chính phủ, trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh

– Năm 2015, khối lượng giao dịch trái phiếu Chính phủ và trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh bình quân là khoảng 3.600 tỷ đồng/phiên tăng 2% so với năm 2014. Tuy nhiên, thanh khoản trên thị trường thứ cấp giảm mạnh kể từ tháng 6/2015 do lãi suất trên thị trường biến động mạnh, cụ thể khối lượng giao dịch bình quân phiên trong giai đoạn này chỉ đạt khoảng 3.100 tỷ đồng/phiên, giảm 14% so với khối lượng giao dịch bình quân phiên trong 5 tháng đầu năm 2015 và giảm 10% so với khối lượng giao dịch bình quân phiên trong năm 2014 (chủ yếu giảm khối lượng giao dịch outright).

– Mặt bằng lãi suất giao dịch thứ cấp theo sát diễn biến lãi suất trên thị trường sơ cấp. So với thời điểm đầu năm 2015, lãi suất trên thị trường thứ cấp tại thời điểm cuối năm 2015 tăng 0,43-1,15% đối với tất cả các kỳ hạn.

25.6. Về khung khổ pháp lý

Năm 2015, Bộ Tài chính ban hành Thế hệ 2 Thông tư hướng dẫn Nghị định số 01/2011/NĐ-CP gồm Thông tư số 111/2015/TT-BTC hướng dẫn phát hành TPCP tại thị trường trong nước, Thông tư số 99/2015/TT-BTC hướng dẫn phát hành TPCPBL và Thông tư số 100/2015/TT-BTC hướng dẫn phát hành TPCQĐP tại thị trường trong nước để đảm bảo tăng cường tính công khai minh bạch, hoàn thiện quy trình phát hành, phát triển các sản phẩm mới. Đồng thời, Bộ Tài chính đang trình Chính phủ ban hành Nghị định về quỹ hưu trí tự nguyện để phát triển hệ thống nhà đầu tư dài hạn trên thị trường.

25.7. Về thành viên đấu thầu trái phiếu

Năm 2015 là năm thứ ba triển khai thí điểm việc lựa chọn các nhà tạo lập thị trường (thành viên đấu thầu trái phiếu Chính phủ) bao gồm 24 thành viên với các nghĩa vụ và quyền lợi cụ thể, trong đó có nghĩa vụ mua khối lượng tối thiểu TPCP trong năm (2.000 tỷ đối với công ty chứng khoán và 4.300 tỷ đổi với ngân hàng thương mại). Qua đánh giá cho thấy các thành viên đã phát huy tích cực vai trò hỗ trợ thị trường trái phiếu Chính phủ sơ cấp và thứ cấp, góp phần huy động vốn thành công trong năm 2014. Trong năm 2015 đã lựa chọn được 19/24 thành viên tích cực nhất được tiếp tục là thành viên đấu thầu trái phiếu Chính phủ năm 2016 theo Quyết định số 2729/QĐ-BTC ngày 22/12/2015. Đồng thời, Vụ TCNH đã trình Bộ ban hành Công văn số 19070/BTC-TCNH ngày 22/12/2015 hướng dẫn cụ thể quyền lợi, nghĩa vụ và các tiêu chí đánh giá đối với thành viên 2016 trong đó yêu cầu khối lượng mua tối thiểu trong năm 2016 là 2.000 tỷ đồng đối với CTCK, 3.000 tỷ đồng đối với chi nhánh NHNN và ngân hàng 100% vốn nước ngoài; 4.300 tỷ đồng đối với NHTMCP và NHTMNN và đảm bảo 70% khối lượng mua tối thiểu có kỳ hạn từ 05 năm trở lên.

25.8. Đánh giá kết quả đạt được và tồn tại hạn chế

25.8.1. Kết quả đạt được

– Việc huy động trái phiếu Chính phủ và trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh năm 2015 đã cơ bản đạt mục tiêu đề ra, góp phần rất quan trọng trong việc điều hành ngân sách trong bối cảnh thu ngân sách năm 2015 gặp nhiều khó khăn và đảm bảo vốn cho thực hiện nhiệm vụ chính trị của 2 ngân hàng chính sách.

– Bộ Tài chính đã triển khai đồng bộ các giải pháp theo Lộ trình phát triển thị trường trái phiếu đến năm 2020 tại Quyết định số 261/QĐ-BTC của Bộ trưởng Bộ Tài chính để phát triển thị trường trái phiếu, tập trung vào thị trường TPCP; thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ, giải pháp thuộc Lộ trình phát triển thị trường trái phiếu trong năm 2015, cụ thể là:

+ Cải tiến hoàn thiện khung khổ pháp lý thông qua việc ban hành Thế hệ 2 Thông tư hướng dẫn Nghị định số 01/2011/NĐ-CP để phù hợp với thực trạng của thị trường và thông lệ quốc tế, tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư tham gia thị trường.

+ Nâng cao quyền lợi, nghĩa vụ trách nhiệm của thành viên đấu thầu trái phiếu Chính phủ trên thị trường sơ cấp và giao dịch trên thị trường thứ cấp, góp phần phát triển thị trường trái phiếu.

+ Điều hành lãi suất phát hành TPCP hợp lý, phù hợp với tình hình thị trường trái phiếu và thị trường tiền tệ.

+ Tái cơ cấu thị trường TPCP thông qua việc phát hành đều đặn TPCP kỳ hạn 10 năm, 15 năm để thúc đẩy phát triển tỷ lệ nắm giữ của các nhà đầu tư của công ty bảo hiểm trên thị trường. Tăng khối lượng phát hành TPCP cho các công ty bảo hiểm, theo đó giảm dần sự phụ thuộc của các NHTM.

+ Kỳ hạn phát hành bình quân đã được cải thiện đáng kể, lần đầu tiên phát hành các kỳ hạn 30 năm và 20 năm – kỳ hạn dài nhất từ trước đến nay.

+ Từng bước thúc đẩy phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp.

25.8.2. Tồn tại hạn chế

25.8.2.1. Về cơ chế chính sách

– Trong năm 2015, một số yếu tố đã có tác động không thuận lợi cho thị trường trái phiếu như (i) thị trường tài chính tiền tệ trong và ngoài nước diễn biến bất lợi như Cục Dự trữ Liên bang Mỹ tăng lãi suất, giá dầu giảm mạnh, NHNN tăng tỷ giá; (ii) Tín dụng ngân hàng tăng mạnh nên các NHTM tập trung vốn giải ngân tín dụng thay vì đầu tư TPCP.

– Chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa quản lý ngân quỹ với phát triển thị trường trái phiếu. Do vậy, tại nhiều thời điểm, sức ép phải huy động được vốn cho NSNN đã làm tăng lãi suất huy động trong khi thanh khoản thị trường tốt, lãi suất tiền tệ vẫn không thay đổi

25.8.2.2. Về cơ sở nhà đầu tư

Hệ thống nhà đầu tư trên thị trường trái phiếu vẫn chưa có sự thay đổi cơ bản. Các ngân hàng thương mại vẫn nắm giữ khoảng 76% tổng khối lượng trái phiếu. Tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài còn thấp khoảng 6,11% tổng khối lượng trái phiếu (bao gồm cả tỷ lệ sở hữu của pháp nhân nước ngoài và của tổ chức thành lập trong nước có sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài). Sự tham gia của nhà đầu tư nước ngoài (không có hiện diện tại Việt Nam) là rất ít, chỉ chiếm khoảng 0,5% tổng khối lượng trái phiếu. Do đó, chưa có nhiều nhà đầu tư có nhu cầu đầu tư dài hạn, ngoài công ty bảo hiểm, trong khi quy mô thị trường này còn nhỏ. Điều này gây khó khăn cho công tác tái cơ cấu kỳ hạn trái phiếu do thị trường trái phiếu còn phụ thuộc nhiều vào chính sách điều hành tiền tệ của NHNN.

25.8.2.3. Về thị trường thứ cấp

Thị trường trái phiếu thứ cấp giao dịch trầm lắng từ tháng 6/2015 (giao dịch outright giảm) do còn nhiều tồn tại những hạn chế nhất định, ảnh hưởng đến độ tin cậy của các thông tin giao dịch thông báo trên hệ thống, gồm: (i) giao dịch repo chưa được báo cáo đúng bản chất, do vậy ảnh hưởng đến tính chính xác về bản chất và thời điểm của lãi suất giao dịch; (ii) Cơ chế thanh toán và lưu ký vẫn còn những hạn chế khi NHNN chưa sẵn sàng thực hiện chức năng thanh toán trái phiếu.

25.9. Giải pháp phát triển thị trường trái phiếu trong năm 2016

Để đáp ứng được nhiệm vụ huy động vốn TPCP năm 2016 và đảm bảo phát triển thị trường TPCP, Bộ Tài chính tiếp tục triển khai các giải pháp theo đúng Lộ trình phát triển thị trường trái phiếu đến năm 2020 tại Quyết định số 261/QĐ-BTC năm 2013, cụ thể như sau:

25.9.1. Về chính sách, khung khổ pháp lý

a) Tiếp tục xây dựng khung khổ pháp lý về phát hành trái phiếu Chính phủ, TPCPBL, TPCQĐP và phát hành TPDN, cụ thể:

– Ban hành Thông tư thay thế Thông tư liên tịch số 106/2012/TTLT-BTC-NHNN hướng dẫn phát hành tín phiếu qua NHNN;

– Ban hành Thông tư hướng dẫn về mua lại TPCP;

– Nghiên cứu xây dựng trình Chính phủ ban hành Nghị định sửa đổi bổ sung Nghị định số 90/2011/NĐ-CP về phát hành trái phiếu doanh nghiệp;

– Nghiên cứu cơ chế cho vay TPCP cho các đại lý cấp I nhằm hỗ trợ thanh khoản trên thị trường thứ cấp, trên cơ sở kết quả nghiên cứu trình Chính phủ sửa Nghị định số 01/2011/NĐ-CP hướng dẫn phát hành TPCP, TPCPBL và TPCQĐP trong năm 2017.

– Trình Chính phủ báo cáo Quốc hội cho phép phát hành đa dạng tất cả các loại kỳ hạn TPCP vào phiên họp thường kỳ Quốc hội tháng 10/2016.

b) Về phối hợp với NHNN:

+ Tăng cường phối hợp chặt chẽ giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ. Tiếp tục phối hợp trao đổi thông tin về kế hoạch, thời điểm, kỳ hạn và lãi suất phát hành, diễn biến thị trường để phối hợp giữa công tác phát hành trái phiếu và điề hành chính sách tiền tệ.

+ Tiếp tục kiến nghị NHNN nới quy định tỷ lệ giới hạn đầu tư vào TPCP của chi nhánh NHNN nhằm khuyến khích các chi nhánh NHNN tiếp tục tham gia thị trường trái phiếu.

+ Triển khai Đề án chuyển chức năng thanh toán tiền TPCP sang Ngân hàng Nhà nước để giảm thiểu rủi ro hệ thống thanh toán TPCP.

25.9.2. Về điều hành thị trường

a) Về thực hiện tái cơ cấu danh mục nợ trái phiếu Chính phủ: Tiếp tục nghiên cứu báo cáo Chính phủ về phương án tái cơ cấu danh mục nợ trái phiếu Chính phủ.

b) Về đánh giá hệ thống thành viên đấu thầu: Tiếp tục thực hiện theo dõi, đánh giá và củng cố hệ thống thành viên trong năm 2016 để đảm bảo vai trò nòng cốt trên cả thị trường sơ cấp và thứ cấp TPCP.

c) Về tổ chức phát hành

– Đối với trái phiếu Chính phủ, tổ chức triển khai công tác phát hành trái phiếu Chính phủ theo kế hoạch, tập trung vào:

+ Xây dựng và công khai lịch biểu phát hành bao gồm kỳ hạn dự kiến phát hành cho thành viên thị trường theo hướng phù hợp với khả năng hấp thụ của thị trường.

+ Tăng thanh khoản cho thị trường TPCP theo hướng giảm số mã trái phiếu và tăng quy mô niêm yết của một mã trái phiếu với các giải pháp: (i) phát hành bổ sung, (ii) phát hành lô lớn, (iii) thực hiện hoán đổi trái phiếu.

+ Xây dựng cơ chế, chính sách về quản lý ngân quỹ Kho bạc góp phần thúc đẩy việc phát triển thị trường trái phiếu thông qua việc quản lý dòng tiền.

+ Nghiên cứu về việc phát hành TPCP gắn với chỉ số lạm phát trong Quý 2/2016.

– Về trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh, tiếp tục công bố lịch biểu phát hành bao gồm kỳ hạn dự kiến phát hành sau khi Thủ tướng phê duyệt hạn mức phát hành trái phiếu để tăng tính công khai, minh bạch trên thị trường.

d) Về điều hành lãi suất

Tiếp tục thực hiện điều hành thị trường theo các giải pháp sau:

– Chủ động phát hành tín phiếu kho bạc đáo hạn trong năm ngân sách nhằm cung cấp các mức lãi suất chuẩn đối với kỳ hạn ngắn dưới 1 năm để hỗ trợ sự phát triển của thị trường tài chính, bên cạnh đó hỗ trợ thanh khoản của ngân quỹ.

– Theo dõi sát diễn biến thị trường, tình hình dự thầu để quyết định mức lãi suất trúng thầu theo nguyên tắc ổn định lãi suất, điều chỉnh lãi suất phát hành tăng dần nếu cần thiết, tránh tăng hoặc giảm lãi suất quá nhanh dẫn đến tác động bất lợi đến tâm lí thị trường;

– Thực hiện hoán đổi TPCP giữa kỳ hạn ngắn và kỳ hạn dài nhằm kéo dài kỳ hạn trái phiếu, tăng thanh khoản thị trường trái phiếu.

đ) Về đăng ký, lưu ký

Tiếp tục thực hiện các nhiệm vụ chủ yếu sau theo Lộ trình phát triển thị trường trái phiếu Việt Nam đến 2020, bao gồm:

+ Hoàn thiện hệ thống thanh toán bù trừ theo mô hình đối tác trung tâm.

+ Phối hợp với Ngân hàng Nhà nước để hoàn thiện và xây dựng hệ thống thanh toán TPCP nhanh chóng, giảm thiểu rủi ro đối tác trong giao dịch trái phiếu.

e) Về tham vấn thành viên thị trường

Tiếp tục tổ chức đối thoại theo cơ chế hiện hành, trao đổi định kỳ với thành viên thị trường để nắm bắt nhu cầu đầu tư, cũng như các nhận định về xu hướng lãi suất để Bộ Tài chính có căn cứ điều chỉnh kế hoạch phát hành trái phiếu cho phù hợp. Đặc biệt tại thời điểm thị trường có biến động lớn, chủ động tham vấn, trao đổi với thành viên thị trường để ổn định tâm lý thị trường, hỗ trợ công tác điều hành thị trường trái phiếu.

g) Đối với trái phiếu doanh nghiệp

Tiếp tục xây dựng cơ sở dữ liệu phát hành TPDN trên cơ sở Thông tư 211/2012/TT-BTC và Nghị định 90/2011/NĐ-CP để củng cố việc công bố thông tin trên thị trường sơ cấp để thúc đẩy sự phát triển của thị trường TPDN./.

 TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Nghị định số 01/2011/NĐ-CP ngày 05/01/2011 của Chính phủ hướng dẫn phát hành trái phiếu Chính phủ, trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh và trái phiếu chính quyền địa phương.

2. Thông tư số 111/2015/TT-BTC ngày 28/7/2015 của Bộ Tài chính hướng dẫn phát hành trái phiếu Chính phủ tại thị trường trong nước;

3. Thông tư số 99/2015/TT-BTC ngày 29/6/2015 của Bộ Tài chính hướng dẫn phát hành trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh;

4. Thông tư số 100/2015/TT-BTC ngày 29/6/2015 của Bộ Tài chính hướng dẫn phát hành trái phiếu chính quyền địa phương tại thị trường trong nước;

5. Quyết định số 261/QĐ-BTC ngày 01/5/2013 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về việc phê duyệt Lộ trình phát triển thị trường trái phiếu Việt Nam đến 2020;

6. Nghị định số 90/2011/NĐ-CP ngày 14/10/2011 của Chính phủ về phát hành trái phiếu doanh nghiệp;

 

 

 


 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *