Chuyên đề 9 ĐỊNH MỨC PHÂN BỔ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC GIAI ĐOẠN 2017 – 2020

Chuyên đề 9, ĐỊNH MỨC PHÂN BỔ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC GIAI ĐOẠN 2017 – 2020 

ThS. Lê Thị Mai Liên, Viện Chiến lược và Chính sách Tài chính – Bộ Tài chính

 Phân bổ NSNN hiệu quả, công bằng, minh bạch luôn là vấn đề được nhiều người quan tâm, đặc biệt là các chuyên gia, các nhà khoa học, các nhà quản lý tài chính – NSNN. Ở Việt Nam, phân bổ NSNN trong thời gian qua đã có nhiều đổi mới. Đặc biệt là từ khi áp dụng Luật NSNN năm 2002 (có hiệu lực từ 01/01/2004), cơ chế phân bổ ngân sách có sự thay đổi mạnh bằng việc thiết lập hệ thống định mức phân bổ ngân sách chi thường xuyên và chi đầu tư với các nguyên tắc, tiêu chí phân bổ cụ thể cho từng lĩnh vực và áp dụng trong từng thời kỳ ổn định ngân sách, đồng thời thẩm quyền quyết định ban hành định mức phân bổ ngân sách cũng được quy định rõ[1]. Định mức phân bổ ngân sách được ban hành là căn cứ để xây dựng và phân bổ ngân sách cho các cơ quan Trung ương và các địa phương. Trải qua các thời kỳ ổn định ngân sách[2], định mức phân bổ ngân sách đối với các cơ quan Trung ương và địa phương đã ngày càng được hoàn thiện.

9.1. Định mức phân bổ ngân sách nhà nước và quá trình đổi mới, hoàn thiện qua các thời kỳ ổn định ngân sách từ 2004 đến 2016

a) Những kết quả tích cực

Hệ thống định mức phân bổ ngân sách chi thường xuyên được xây dựng và áp dụng từ năm 2004, đến nay đã trải qua 04 lần đổi mới gắn với 04 thời kỳ ổn định ngân sách. Cụ thể, thời kỳ ổn định ngân sách 2004 – 2006 thực hiện phân bổ theo Quyết định 139/2003/QĐ-TTg ngày 11/7/2003 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành định mức phân bổ dự toán chi NSNN năm 2004; Thời kỳ ổn định ngân sách 2007-2010 áp dụng theo Quyết định 151/2006/QĐ-TTg ngày 29/6/2006 về việc ban hành định mức phân bổ dự toán chi thường xuyên NSNN năm 2007; Thời kỳ ổn định ngân sách 2011 – 2015 áp dụng theo Quyết định 59/2010/QĐ-TTg ngày 30/9/2010 về việc ban hành định mức phân bổ dự toán chi thường xuyên NSNN năm 2011 và thời kỳ ổn định ngân sách 2017-2020 thực hiện trên cơ sở Nghị quyết 266/2016/UBTVQH14 ngày 04/10/2016 về các nguyên tắc, tiêu chí và định mức phân bổ dự toán chi thường xuyên NSNN năm 2017 và Quyết định 46/2016/QĐ-TTg ngày 19/10/2016 về ban hành định mức phân bổ dự toán chi thường xuyên NSNN năm 2017.

Trải qua các thời kỳ ổn định ngân sách và các lần đổi mới định mức phân bổ ngân sách chi thường xuyên cho thấy hệ thống định mức phân bổ chi thường xuyên NSNN ngày càng hoàn thiện. Cụ thể là so với thời kỳ ổn định ngân sách 2004 – 2006[3] thì thời kỳ ổn định ngân sách 2007 – 2010[4] đã tăng định mức phân bổ ngân sách chi quản lý hành chính cho các nhóm biên chế với mức tăng trung bình 51%, riêng đối với các cơ quan ngành dọc định mức phân bổ ngân sách tăng 62%. Việc điều chỉnh tăng định mức phân bổ ngân sách nhằm đảm bảo mức chi phù hợp với tình hình thực tế, có tính đến trượt giá trong giai đoạn 2004 – 2006. Đối với định mức phân bổ ngân sách cho các địa phương, đã tách định mức phân bổ ngân sách chi quốc phòng với định mức phân bổ ngân sách chi an ninh; bổ sung định mức phân bổ ngân sách chi hoạt động môi trường, chi dự phòng ngân sách, chi cho các đơn vị hành chính thành lập mới; Đối với chi trợ giá, trợ cước, định mức phân bổ ngân sách giai đoạn 2004 – 2006 chưa có mức phân bổ cụ thể mà chỉ căn cứ vào chế độ của Nhà nước để xác định mức trợ giá cho từng địa phương; tuy nhiên, sang thời kỳ ổn định ngân sách 2007 – 2010, định mức phân bổ ngân sách chi trợ giá, trợ cước đã được xác định theo tiêu chí dân số với mức trợ giá, trợ cước được quy định cho 4 vùng, miền. Thời kỳ ổn định ngân sách 2011 – 2015[5], đối với các cơ quan Trung ương, đã tách chi lương, phụ cấp và các khoản có tính chất lương ra khỏi định mức phân bổ ngân sách chi quản lý hành chính[6], giãn cách về số lượng biên chế giữa các bậc định mức phân bổ ngân sách cũng tăng lên[7], đồng thời, không quy định định mức riêng cho khối các đơn vị ngành dọc; bổ sung quy định về phân bổ ngân sách chi sự nghiệp nghiên cứu khoa học. Đối với định mức phân bổ ngân sách cho các địa phương, mức phân bổ cho từng lĩnh vực đã tăng từ 0,6 đến 1,5 lần so với mức phân bổ giai đoạn 2007 – 2010 trên cơ sở xem xét mức trượt giá 4 năm 2007 – 2010 và điều chỉnh tăng hệ số ưu tiên đối với khu vực miền núi, vùng cao – hải đảo (riêng định mức phân bổ ngân sách sự nghiệp hoạt động môi trường nâng hệ số ưu tiên đối với đô thị đặc biệt). Theo đó lĩnh vực đào tạo có mức tăng cao nhất khoảng 1,5 lần, các lĩnh vực văn hóa thông tin, phát thanh truyền hình, thể dục thể thao, đảm bảo xã hội tăng 0,6 lần. Về tiêu chí, lĩnh vực sự nghiệp đào tạo và dạy nghề đã loại bỏ dân số dưới 18 tuổi[8] nhằm đảm bảo việc phân bổ ngân sách đúng đối tượng, tránh dàn trải,…

Đối với định mức phân bổ vốn đầu tư phát triển bằng nguồn NSNN, trong giai đoạn 2004 – 2006 Thủ tướng Chính phủ không quy định cụ thể các nguyên tắc, tiêu chí và định mức phân bổ vốn đầu tư phát triển bằng nguồn NSNN mà chỉ quy định chi đầu tư phát triển bằng nguồn NSNN trong thời kỳ ổn định ngân sách 2004 – 2006 được xác định theo tỷ lệ phần trăm (%) so với tổng chi NSNN. Tuy nhiên, từ thời kỳ ổn định ngân sách 2007 – 2010, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành các nguyên tắc, tiêu chí và định mức phân bổ chi đầu tư phát triển bằng nguồn NSNN[9]. Trong đó đối với các công trình, dự án của các bộ, ngành Trung ương việc phân bổ vốn đầu tư từ NSNN dựa trên các nguyên tắc cụ thể còn đối với các địa phương thì việc phân bổ vốn đầu tư phát triển nguồn cân đối NSNN và nguồn bổ sung được căn cứ vào các nguyên tắc, tiêu chí, điểm số và định mức phân bổ cụ thể. Ngoài ra đối với nguồn vốn bổ sung còn phân bổ theo từng nội dung nhiệm vụ. Sang thời kỳ ổn định NSNN 2011 – 2015[10], tại Quyết định 60/2010/QĐ-TTg ngày 30/9/2010 của Thủ tướng Chính phủ ban hành các nguyên tắc, tiêu chí và định mức phân bổ vốn đầu tư phát triển bằng nguồn NSNN đã bổ sung và quy định rõ các ngành, lĩnh vực sử dụng vốn đầu tư phát triển từ NSNN (gồm 15 lĩnh vực). Về tiêu chí, không áp dụng tiêu chí dân số chung mà áp dụng tiêu chí dân số trung bình; đối với tiêu chí diện tích được bổ sung thêm tiêu chí diện tích đất trồng lúa; trong tiêu chí bổ sung đã thay tiêu chí thành phố loại I thuộc tỉnh thành tiêu chí đô thị loại 1, loại 2 và loại 3. Ngoài ra, các thang điểm và giãn cách giữa các thang điểm cũng được sửa đổi cho phù hợp với tình hình thực tế.

Có thể thấy hệ thống định mức phân bổ ngân sách chi thường xuyên và chi đầu tư từ NSNN qua các thời kỳ ổn định ngân sách thời gian qua đã mang lại một số điểm tích cực như: (i) Là căn cứ quan trọng, chủ yếu để xây dựng dự toán chi NSNN đối với các cơ quan Trung ương và các địa phương; là cơ sở để cấp có thẩm quyền quyết định số bổ sung cân đối từ NSTW cho NSĐP, tỷ lệ phần trăm (%) phân chia các khoản thu giữa NSTW và NSĐP của thời kỳ ổn định ngân sách; (ii) Định mức phân bổ ngân sách chi thường xuyên và chi đầu tư từ NSNN trong thời gian qua đã đảm bảo phù hợp với khả năng cân đối NSNN nói chung, NSTW và ngân sách từng địa phương nói riêng; cơ bản thực hiện được các chế độ, chính sách của Đảng, Nhà nước; đảm bảo và đáp ứng nguồn lực cho việc thực hiện các nhiệm vụ phát triển KTXH của Nhà nước và của mỗi cấp chính quyền địa phương; (iii) Góp phần tăng cường tính công khai, minh bạch trong phân bổ NSNN, khắc phục được việc phân bổ thiếu căn cứ, không rõ ràng trước đây; (iv) Đảm bảo sự công bằng và bình đẳng tương đối[11] trong phân bổ nguồn lực NSNN khi áp dụng tiêu chí dân số được sử dụng chủ yếu trong các định mức phân bổ ngân sách chi thường xuyên và tiêu chí dân số trung bình áp dụng trong phân bổ ngân sách chi đầu tư phát triển. Có thể thấy rằng, việc phân bổ nguồn lực NSNN trong cung cấp các dịch vụ công (với đối tượng hưởng lợi ở đây là người dân) đã được đảm bảo, phù hợp và công bằng trong phân bổ nguồn lực công. Ngoài ra, để đảm bảo sự công bằng và bình đẳng giữa các vùng, miền, giữa các đối tượng khác nhau, định mức phân bổ ngân sách chi thường xuyên cho các địa phương theo từng lĩnh vực đã được xác định theo 4 vùng (đô thị; đồng bằng; miền núi – vùng đồng bào dân tộc ở đồng bằng, vùng sâu; vùng cao – hải đảo), bên cạnh đó việc sử dụng các tiêu chí đặc thù như tiêu chí về người dân tộc thiểu số, xã biên giới, tỷ lệ hộ nghèo,… cũng thể hiện sự quan tâm của Nhà nước trong phân bổ nguồn lực NSNN nhằm đảm bảo sự công bằng, bình đẳng giữa các vùng, các đối tượng chính sách. Qua đó góp phần thu hẹp dần khoảng cách về trình độ phát triển ở từng lĩnh vực, giữa các vùng, miền trong cả nước; (v) Tăng tính chủ động, linh hoạt cho các cơ quan Trung ương và các địa phương trong xây dựng dự toán ngân sách cũng như trong quản lý và sử dụng ngân sách; (vii) Dễ kiểm tra, dễ thực hiện trong quá trình phân bổ nguồn lực tài chính ngân sách bởi tiêu chí được sử dụng chủ yếu trong phân bổ ngân sách là dân số nên có thể dễ dàng đánh giá được mức ngân sách phân bổ cho 01 (một) người dân ở từng lĩnh vực cũng như xác định được tổng mức ngân sách cho từng lĩnh vực. Ngoài ra còn có các tiêu chí bổ trợ, tiêu chí đặc thù như biên chế; số người dân tộc thiểu số; tỷ lệ hộ nghèo; số thu nội địa và tỷ lệ điều tiết về ngân sách Trung ương; số đơn vị hành chính cấp huyện, xã;… là các tiêu chí rất đơn giản, dễ hiểu, dễ áp dụng. Các công thức tính điểm trong xác định định mức phân bổ ngân sách đầu tư phát triển cho các địa phương cũng như cách xác định mức ngân sách phân bổ chi thường xuyên cho các địa phương theo từng lĩnh vực nhìn chung khá đơn giản, dễ hiểu, dễ thực hiện, tạo điều kiện thuận lợi trong triển khai thực hiện cũng như trong kiểm tra, thanh tra việc thực hiện các định mức phân bổ ngân sách.

Thực tế triển khai thực hiện cho thấy, đối với các cơ quan Trung ương, có Bộ Công an, Bảo hiểm xã hội Việt Nam và Tổng cục Thống kê đã xây dựng và ban hành định mức phân bổ ngân sách chi thường xuyên cho các cơ quan trực thuộc. Đối với các địa phương, HĐND và Ủy ban nhân dân (UBND) các địa phương đã ban hành các nghị quyết, quyết định về định mức phân bổ ngân sách chi thường xuyên và chi đầu tư phát triển cho các cấp ngân sách của địa phương giai đoạn 2011-2015[12]. Các địa phương đã có những cách phân bổ khá đa dạng nhưng nhìn chung đều sử dụng các chỉ số cấp huyện, xã để quyết định số ngân sách phân bổ, các tiêu chí được sử dụng về cơ bản dựa trên các tiêu chí mà Trung ương lựa chọn như dân số, trình độ phát triển, vị trí địa lý. Ngoài ra còn bổ sung thêm các tiêu chí đặc thù lĩnh vực như giường bệnh, lớp học, giáo viên, một số tỉnh quy định mức phân bổ cụ thể cho từng cấp học (như Khánh Hòa, Bình Định,…). Các định mức phân bổ ngân sách chi đầu tư của các địa phương được xây dựng có phần đơn giản hơn theo xu hướng phân bổ thành một khoản chi trọn gói theo từng huyện nhưng cũng có những cách phân bổ theo tỷ lệ tăng dần. Một số tỉnh áp dụng các tiêu chí và ứng dụng linh hoạt các thang điểm theo hướng dẫn tại Quyết định 60/2010/QĐ-TTg ngày 30/9/2010 của Thủ tướng Chính phủ và đồng thời công bố điểm cho từng đơn vị cấp huyện trực thuộc (Bình Định, Cần Thơ, Vĩnh Long,…) đã góp phần tăng cường tính công khai, minh bạch trong phân bổ NSNN, tạo sự chủ động cho các huyện trong quản lý thực hiện NSNN.

b) Những tồn tại, hạn chế cần được xử lý và giải quyết trong phân bổ ngân sách giai đoạn 2017 – 2020

Một là, nhiều cơ quan Trung ương chưa sử dụng thẩm quyền trong ban hành định mức phân bổ dự toán chi ngân sách cho các đơn vị trực thuộc để các đơn vị trực thuộc có căn cứ và chủ động trong xây dựng, phân bổ, giao dự toán ngân sách hàng năm cho từng đơn vị. Mặc dù, Luật NSNN năm 2004 và các văn bản hướng dẫn thi hành đã quy định rõ các nội dung: (i) Thủ tướng Chính phủ quyết định định mức phân bổ ngân sách làm căn cứ xây dựng dự toán, phân bổ ngân sách cho các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, các cơ quan khác ở Trung ương, các địa phương nhưng trước khi ban hành Thủ tướng Chính phủ báo cáo Uỷ ban thường vụ Quốc hội cho ý kiến bằng văn bản; (ii) Căn cứ định mức phân bổ ngân sách do Thủ tướng Chính phủ quy định, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan khác ở Trung ương ban hành định mức phân bổ dự toán chi ngân sách cho các đơn vị trực thuộc để làm căn cứ tổ chức thực hiện; đồng thời gửi Bộ Tài chính để tổng hợp báo cáo Thủ tướng Chính phủ; (iii) HĐND cấp tỉnh căn cứ vào định mức phân bổ ngân sách do Thủ tướng Chính phủ ban hành, khả năng tài chính – ngân sách và đặc điểm tình hình ở địa phương, quyết định định mức phân bổ ngân sách cho các cấp chính quyền địa phương làm căn cứ xây dựng dự toán và phân bổ ngân sách ở địa phương.

Với quy định trên, các địa phương (HĐND và UBND) đã ban hành các nghị quyết, quyết định về định mức phân bổ ngân sách (chi thường xuyên và chi đầu tư phát triển) cho các cấp ngân sách của địa phương giai đoạn 2011 – 2015. Tuy nhiên, đối với các cơ quan Trung ương, rất ít các đơn vị ban hành định mức phân bổ dự toán chi ngân sách cho các đơn vị trực thuộc[13]. Điều này đã ảnh hưởng tới sự chủ động trong xây dựng, phân bổ và thực hiện dự toán NSNN của các đơn vị trực thuộc tại các cơ quan Trung ương. Nguyên nhân của tình trạng này một phần là do các quy định về định mức phân bổ dự toán ngân sách chi đầu tư và chi thường xuyên đối với các cơ quan Trung ương chưa đầy đủ, chưa bao quát hết các lĩnh vực và một phần là do sự thiếu chủ động của các cơ quan Trung ương trong xây dựng và ban hành định mức phân bổ ngân sách đối với các đơn vị trực thuộc.

Hai là, tiêu chí phân bổ ngân sách chưa đầy đủ, chưa khoa học, chưa bao quát hết các nội dung lĩnh vực chi cũng như đặc thù nhiệm vụ trong từng lĩnh vực, từng cơ quan, từng cấp ngân sách. Cụ thể:

Thứ nhất, nhiều nội dung, lĩnh vực chi chưa có tiêu chí phân bổ ngân sách cụ thể. Định mức phân bổ ngân sách chi đầu tư theo Quyết định 60/2010/QĐ-TTg ngày 30/9/2010 mới chỉ quy định 5 nhóm tiêu chí (dân số, trình độ phát triển, diện tích, đơn vị hành chính và các tiêu chí bổ sung) để làm căn cứ phân bổ ngân sách đầu tư chung cho các địa phương trong khi đối với các cơ quan Trung ương tiêu chí phân bổ còn chưa rõ, chưa cụ thể. Hơn thế, Quyết định 60/2010/QĐ-TTg ngày 30/9/2010 của Thủ tướng Chính phủ cũng mới chỉ đề cập tới 15 ngành, lĩnh vực được sử dụng vốn đầu tư phát triển giai đoạn 2011 – 2015 mà không có tiêu chí phân bổ ngân sách đầu tư cho từng ngành, lĩnh vực và đối với từng cấp ngân sách (Trung ương, địa phương). Tiêu chí làm căn cứ phân bổ ngân sách cho các Chương trình mục tiêu quốc gia (CTMTQG) và các chương trình mục tiêu (CTMT) cũng chưa có, đồng thời việc phân bổ ngân sách của các CTMTQG, CTMT cho các địa phương cũng chưa đầy đủ, một số CTMT mới chỉ đề cập tới nguyên tắc hỗ trợ từ nguồn NSTW. Về định mức phân bổ ngân sách chi thường xuyên đối với các cơ quan Trung ương thì ngoài 4 lĩnh vực (quản lý hành chính nhà nước, y tế, đào tạo và nghiên cứu khoa học) thì các lĩnh vực còn lại chưa có tiêu chí phân bổ. Việc sử dụng tiêu chí phân bổ ngân sách lĩnh vực y tế, lĩnh vực đào tạo cho các cơ quan Trung ương theo nhiệm vụ và theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính cũng chưa rõ ràng.

Thứ hai, một số lĩnh vực đã có tiêu chí phân bổ ngân sách nhưng tiêu chí sử dụng chưa khoa học, chưa phù hợp với tính chất, nội dung của lĩnh vực hoạt động. Ví dụ như định mức phân bổ ngân sách chi sự nghiệp kinh tế không gắn với nhiệm vụ của nội dung chi sự nghiệp kinh tế là duy tu, bảo dưỡng cơ sở hạ tầng hiện có,… mà định mức phân bổ ngân sách sự nghiệp kinh tế lại được tính trên 10% chi thường xuyên của 11 lĩnh vực (y tế, giáo dục, đào tạo và dạy nghề, quản lý hành chính, văn hóa thông tin, phát thanh truyền hình, thể dục thể thao, đảm bảo xã hội, quốc phòng, an ninh, khoa học công nghệ) hay định mức phân bổ ngân sách chi khác được xác định bằng 0,5% tổng của 14 khoản chi cho thấy cơ sở để xác định định mức phân bổ ngân sách còn chưa khoa học.

Thứ ba, một số tiêu chí được sử dụng làm căn cứ phân bổ ngân sách nhưng việc áp dụng cũng cho thấy những bất cập. Cụ thể như: (i) Tiêu chí dân số là tiêu chí chủ đạo áp dụng trong phân bổ ngân sách nhưng việc áp dụng tiêu chí này cũng có những hạn chế. Đó là đối với các địa phương có dân số thấp, diện tích rộng, địa hình phức tạp, định mức phân bổ ngân sách cho từng lĩnh vực mặc dù đã có hệ số ưu tiên vùng, miền nhưng các địa phương vẫn khó khăn về nguồn ngân sách để đảm bảo các nhiệm vụ chi theo phân cấp. Đặc biệt là các địa phương có nguồn thu thấp, nhận trợ cấp nhiều thì càng về cuối thời kỳ ổn định ngân sách càng khó khăn do số bổ sung cân đối được ổn định, mức hỗ trợ thêm từ NSTW theo điểm 20, mục II của Quyết định 59 cũng không đáp ứng nhu cầu chi của địa phương trong khi nhiệm vụ chi ngày càng tăng cao. Mặt khác, tiêu chí dân số do Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê công bố nhưng chỉ tiêu này là của năm thực hiện, không phải của năm kế hoạch. Mặt khác, tiêu chí dân số trên thực tế nhiều địa phương (như Bà Rịa – Vũng Tàu, Đồng Nai,…) cho rằng chưa thống kê được đầy đủ về dân số do nhập cư, tạm trú. Tương tự, những khó khăn trong thống kê dân số trong độ tuổi đến trường cũng làm ảnh hưởng tới quá trình phân bổ ngân sách giáo dục; (ii) Tiêu chí tỷ lệ hộ nghèo theo Quyết định 60/2010/QĐ-TTg mới chỉ thể hiện mức độ quan tâm tới đối tượng này khi phân bổ ngân sách chứ chưa khuyến khích các địa phương giảm nghèo; (iii) Tiêu chí “trình độ phát triển” trong phân bổ ngân sách chi đầu tư phát triển từ NSNN bao gồm: tỷ lệ hộ nghèo, thu nội địa và tỷ lệ điều tiết về ngân sách Trung ương thì tỷ lệ hộ nghèo và số thu nội địa là hai yếu tố ngược chiều nhau, địa phương có tỷ lệ hộ nghèo cao có số thu nội địa thấp và ngược lại, dẫn đến tiêu chí trình độ phát triển giảm ý nghĩa trong khi xác định điểm của các địa phương.

Ba là, mức phân bổ ngân sách cho một số lĩnh vực còn bất cập bởi vì:

Thứ nhất, định mức phân bổ ngân sách còn thấp và chỉ đảm bảo trong năm đầu của thời kỳ ổn định ngân sách do: (i) Định mức phân bổ ngân sách mới chỉ tính trên nguồn lực hiện có để phân bổ, chưa xác định trên cơ sở chi phí nguồn lực thực hiện các nhiệm vụ; (ii) Định mức phân bổ ngân sách chưa tính tới yếu tố trượt giá trong các năm của thời kỳ ổn định ngân sách; (iii) Định mức phân bổ ngân sách chưa tính tới các chính sách, chế độ mới ban hành, mức tăng chi của một số nội dung chi và chưa bao gồm một số nội dung chi. Ví dụ trong lĩnh vực giáo dục, nội dung chi dạy thêm giờ, ghép lớp chưa được tính vào phần chi cho con người… do đó khoản bổ sung ngoài định mức phân bổ còn nhiều.

Thứ hai, định mức phân bổ ngân sách chưa bao quát hết các lĩnh vực chi, nhiều lĩnh vực chi chưa có quy định về định mức phân bổ ngân sách. Ví dụ như đối với chi thường xuyên từ NSNN cho các cơ quan Trung ương chưa có định mức phân bổ ngân sách cho các lĩnh vực an ninh, quốc phòng, văn hóa thể thao, bảo vệ môi trường, phát thanh truyền hình, đảm bảo xã hội, sự nghiệp kinh tế,… Nguyên nhân được cho là những lĩnh vực này chỉ do một Bộ, ngành thực hiện. Điều này làm cho việc phân bổ ngân sách kém rõ ràng, thiếu minh bạch. Định mức phân bổ ngân sách chi thường xuyên đối với các địa phương lại chưa bao gồm định mức phân bổ ngân sách chi cho công tác dân số kế hoạch hóa gia đình, sự nghiệp truyền thông,… Định mức phân bổ ngân sách chi đầu tư cho từng lĩnh vực hầu như chưa có và một số lĩnh vực như thương mại (xây dựng, cải tạo và nâng cấp các công trình, dự án hạ tầng thương mại trọng điểm), du lịch (xây dựng và cải tạo, nâng cấp các dự án hạ tầng trọng điểm du lịch) chưa được quy định sử dụng vốn đầu tư phát triển nhưng trên thực tế ngành, lĩnh vực này vẫn được sử dụng vốn đầu tư phát triển của nhà nước…

Thứ ba, định mức phân bổ ngân sách cho một số lĩnh vực chưa đảm bảo tỷ lệ/cơ cấu chi trong từng lĩnh vực theo quy định, đặc biệt là trong những năm cuối của thời kỳ ổn định ngân sách. Ví dụ định mức phân bổ ngân sách chi thường xuyên cho giáo dục theo quy định tỷ lệ chi cho con người và chi hoạt động giảng dạy là 80%/20% nhưng tỷ lệ này chủ yếu mới chỉ đảm bảo trong năm đầu của thời kỳ ổn định ngân sách, các năm sau, khi thực hiện cải cách tiền lương thì tỷ lệ chi lương và các khoản có tính chất lương tăng nhưng chi hoạt động không được phân bổ tăng tương ứng. Ngoài ra, trong thời kỳ ổn định ngân sách 2011-2015, các đơn vị dự toán còn phải thực hiện tiết kiệm chi ngân sách[14] khi nguồn thu khó khăn. Điều này càng làm cho ý nghĩa của định mức phân bổ ngân sách bị hạn chế và gây khó khăn cho các đơn vị trong thực hiện các nhiệm vụ được giao.

Bốn là, bất cập trong xác định điểm cho các tiêu chí. Số điểm tính theo diện tích đất nông nghiệp rất thấp trong khi số điểm tính cho tiêu chí bổ sung là thành phố đặc biệt và thành phố trực thuộc Trung ương là rất cao. Do đó điểm tương quan trong các tiêu chí chưa phù hợp, chưa góp phần giảm sự chênh lệch giữa các vùng, miền. Mối quan hệ về điểm giữa các tiêu chí nhìn chung chưa rõ ràng, chưa thể hiện mối tương quan, ví dụ cơ sở để xác định điểm cho tiêu chí dân số trung bình và người dân tộc thiểu số trong xác định định mức phân bổ ngân sách chi đầu tư phát triển cho các địa phương.

Năm là, phương pháp và cách xác định ĐMPBNS cho mỗi tiêu chí và từng lĩnh vực hiện nay dựa theo khả năng nguồn lực hiện hành và trên cơ sở chi tiêu quá khứ. Tuy nhiên lại chưa đo lường và dự báo các yếu tố ảnh hưởng trong thời kỳ ổn định ngân sách như mức độ trượt giá, những điều chỉnh chính sách làm tăng chi ngân sách… nên trên thực tế phải bổ sung ngoài ngân sách (theo các tiêu chí, định mức phân bổ) trong thời gian qua là khá nhiều, làm giảm hiệu quả, vai trò và tính minh bạch của công cụ định mức phân bổ ngân sách.

Với những vấn đề nêu trên cho thấy tính rõ ràng trong các quy định về định mức phân bổ NSNN còn hạn chế, tính bao quát, toàn diện còn chưa đảm bảo, tính hiệu quả, tính khoa học trong phân bổ NSNN còn thấp, tính khả thi trong các quy định về định mức phân bổ ngân sách còn chưa đảm bảo. Do vậy, để nâng cao hiệu quả phân bổ ngân sách, cùng với việc thực hiện các luật mới liên quan tới phân bổ ngân sách như Luật NSNN số 83/2015/QH13 ngày 25/6/2015 có hiệu lực từ 01/01/2017, Luật Đầu tư công số 49/2014/QH13 ngày 18/6/2014,… Định mức phân bổ ngân sách chi thường xuyên và chi đầu tư từ NSNN thời kỳ ổn định 2017 – 2020 đã có nhiều điểm mới hơn so với trước đây.

9.2. Những điểm mới trong định mức phân bổ ngân sách năm 2017 và giai đoạn 2017 – 2020

Luật NSNN sửa đổi năm 2015 có hiệu lực thi hành từ năm 2017 quy định Chính phủ xây dựng nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ NSNN trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định làm căn cứ xây dựng dự toán, phân bổ ngân sách cho các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, các cơ quan khác ở Trung ương và các địa phương[15]. Điều này cho thấy vai trò lớn hơn từ cơ quan của Quốc hội trong phân bổ ngân sách cũng như thể hiện tính pháp lý cao hơn trong thực hiện các quy định về phân bổ ngân sách. Một số điểm mới về định mức phân bổ ngân sách chi thường xuyên và chi đầu tư từ NSNN giai đoạn 2017 – 2020 cụ thể như sau:

a) Đối với định mức phân bổ dự toán chi thường xuyên

Một là, làm rõ phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng định mức phân bổ dự toán chi thường xuyên NSNN năm 2017 tại Quyết định 46/2016/QĐ-TTg ngày 19/10/2016 (Quyết định 46). Trong đó:

(1) Nêu rõ định mức phân bổ dự toán chi thường xuyên NSNN áp dụng cho năm ngân sách 2017 là năm đầu của thời kỳ ổn định ngân sách 2017-2020, các năm còn lại trong thời kỳ ổn định ngân sách thực hiện theo quy định của Luật NSNN ban hành năm 2015 và các quy định áp dụng cho thời kỳ ổn định ngân sách tại Quyết định 46. Điều này có nghĩa là: i) Đối với dự toán chi quản lý hành chính các năm tiếp theo trong thời kỳ ổn định ngân sách (từ năm 2018 – 2020), được xác định theo biên chế được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt và định mức phân bổ chi quản lý hành chính điều chỉnh tăng/giảm theo khả năng NSNN do Chính phủ trình Quốc hội quyết định trong phương án phân bổ NSTW hàng năm; ii) Đối với chi hoạt động kinh tế các năm trong thời kỳ ổn định ngân sách, trường hợp địa phương được cơ quan có thẩm quyền ở Trung ương công nhận nâng cấp đô thị, thì được bổ sung từ NSTW cho các địa phương nhận bổ sung cân đối từ NSTW theo mức hỗ trợ đô thị tương ứng; iii) NSTW hỗ trợ theo quy định đối với các chính sách mới, chính sách tăng mức chi so với định mức quy định cho năm 2017; iv) Tăng thêm số bổ sung cân đối từ NSTW cho các địa phương so với năm đầu thời kỳ ổn định ngân sách theo quy định. Quy định này tạo sự linh hoạt trong phân bổ ngân sách cũng như đảm bảo tính khả thi trong thực hiện khi phân bổ ngân sách được dựa trên khả năng sẵn có của ngân sách;

(2) Về đối tượng áp dụng nêu khá rõ gồm các bộ, cơ quan Trung ương và các địa phương; Cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến lập, phân bổ, chấp hành dự toán chi thường xuyên NSNN.

Hai là, bổ sung cụ thể các nguyên tắc phân bổ dự toán chi thường xuyên NSNN và nguyên tắc áp dụng định mức.

Tại Nghị quyết 266/2016/UBTVQH14 ngày 04/10/2016 đã chỉ rõ 06 nguyên tắc lớn. Trong đó:

i) Ưu tiên bố trí kinh phí cho các lĩnh vực xã hội (giáo dục, đào tạo và dạy nghề, khoa học và công nghệ, môi trường, y tế) và khu vực khó khăn (địa bàn vùng cao – hải đảo, vùng miền núi, vùng đồng bào dân tộc ít người khó khăn) và ưu tiên mức phân bổ kinh phí chi hành chính cho khối các cơ quan tư pháp, Kiểm toán Nhà nước, Thanh tra Chính phủ;

ii) Phù hợp với khả năng cân đối NSNN, đồng thời vừa nhằm hướng tới cơ cấu lại NSNN, vừa đảm bảo tính hiệu quả trong sử dụng NSNN và thực hành tiết kiệm chống lãng phí;

iii) Bảo đảm đẩy mạnh đổi mới khu vực sự nghiệp công;

iv) Tiêu chí phân bổ ngân sách cần rõ ràng, minh bạch, dễ hiểu, dễ kiểm tra và thúc đẩy cải cách hành chính;

v) Tổng dự toán chi thường xuyên của các địa phương và dự toán chi thường xuyên của lĩnh vực giáo dục – đào tạo và dạy nghề, khoa học và công nghệ được năm 2017 đảm bảo không thấp hơn dự toán chi năm 2016 Quốc hội quyết định. Quyết định 46 cũng chỉ rõ định mức phân bổ ngân sách chi thường xuyên là cơ sở để xây dựng dự toán chi ngân sách của từng Bộ, cơ quan Trung ương, dự toán chi ngân sách của từng tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và hệ thống định mức phân bổ này đã bao gồm toàn bộ nhu cầu kinh phí thực hiện các chế độ chính sách do Trung ương ban hành đến 31/5/2016.

Ba là, đối với định mức phân bổ ngân sách cho các cơ quan Trung ương:

i) Đã quy định cụ thể về phân bổ dự toán chi cho các đơn vị sự nghiệp công lập theo 4 nhóm tại Nghị định 16/2015/NĐ-CP, đồng thời cũng góp phần thúc đẩy các đơn vị sự nghiệp công sớm thực hiện cơ chế giá dịch vụ khi NSNN giảm cấp chi thường xuyên cho đơn vị khi từng bước thực hiện lộ trình giá dịch vụ. Hơn thế, việc chỉ rõ sử dụng nguồn lực từ giảm cấp chi thường xuyên cho đơn vị sự nghiệp công khi thực hiện lộ trình giá cho các đối tượng yếu thế, đối tượng chính sách tiếp cận dịch vụ công, thực hiện cải cách tiền lương,… cũng góp phần cơ cấu lại NSNN tốt hơn. Ngoài ra, Quyết định 46 cũng đưa ra điều khoản chuyển tiếp khi các nghị định về cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập trong từng lĩnh vực chưa được ban hành, các đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính theo quy định hiện hành

ii) Đối với định mức phân bổ chi quản lý hành chính, áp dụng định mức phân bổ theo phương pháp lũy thoái và mở rộng quy mô biên chế từ bậc thứ hai là 500 biên chế. Cụ thể, từ 100 biên chế trở xuống, tính 54 triệu đồng/biên chế; từ biên chế thứ 101 – 500, tính 50 triệu đồng/biên chế; từ biên chế thứ 501 – 1000, tính 48 triệu đồng/biên chế; từ biên chế 1.001 trở lên, tính 45 triệu đồng/biên chế. Theo đó góp phần khuyến khích, thúc đẩy các đơn vị tinh giản biên chế. Định mức phân bổ ngân sách cho các cơ quan Trung ương cũng đã bổ sung thêm quy định về phân bổ dự toán chi quốc phòng, an ninh trên cơ sở nhu cầu kinh phí thực hiện các chính sách, chế độ đối với con người, nhiệm vụ đặc thù của quốc phòng, an ninh và khả năng cân đối ngân sách trung ương hàng năm.

Bốn là, đối với định mức phân bổ ngân sách cho các địa phương đã:

i) Bổ sung thêm nhiều tiêu chí phân bổ như tiêu chí khu, điểm du lịch quốc gia;

ii) Mức phân bổ ngân sách chi thường xuyên cho các lĩnh vực theo các vùng tăng lên từ 1,7 đến 2,4 lần so với mức phân bổ quy định năm 2011. Trong đó có một số lĩnh vực có mức phân bổ tăng đều giữa 4 vùng như định mức phân bổ chi quản lý hành chính (mức phân bổ cho 04 vùng đều tăng 1,7 lần so mức phân bổ năm 2011); văn hóa thông tin; phát thanh truyền hình; sự nghiệp thể thao, đảm bảo xã hội;

iii) Không đề cập việc hỗ trợ cho các trường, bệnh viện thuộc tỉnh mang tính chất khu vực trong lĩnh vực đào tạo, dạy nghề và y tế;

iv) Bỏ quy định về định mức phân bổ ngân sách chi trợ giá, trợ cước;

v) Các tỷ lệ cứng trong một số lĩnh vực giữa chi hoạt động với chi lương và các khoản có tính chất lương (như giáo dục 18%/82%; quản lý hành chính 25%/75%;) đã có sự điều chỉnh theo hướng giảm tỷ trọng chi hoạt động nhằm phù hợp hơn với thực tế và chỉ áp dụng trong năm 2017, các năm sau sẽ xem xét quyết định cho phù hợp với khả năng ngân sách và điều kiện thực tế. Điều này tạo sự chủ động cho địa phương và các đơn vị trong quản lý nguồn lực NSNN…

b) Đối với quy định về các nguyên tắc, tiêu chí và định mức phân bổ vốn đầu tư phát triển nguồn NSNN

  Một là, mở rộng ngành, lĩnh vực được sử dụng vốn đầu tư phát triển nguồn NSNN giai đoạn 2016 – 2020.

Bảng 9.1. Các lĩnh vực được sử dụng vốn đầu tư phát triển nguồn NSNN giai đoạn 2011 – 2015 và 2016 – 2020

TT Ngành, lĩnh vực được sử dụng vốn đầu tư phát triển nguồn NSNN giai đoạn 2011-2015 Ngành, lĩnh vực được sử dụng vốn đầu tư phát triển nguồn NSNN giai đoạn  2016-2020
1. Nông, lâm nghiệp và thủy sản Nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy lợi và thủy sản
2. Công nghiệp Công nghiệp
3. Thương mại
4. Giao thông vận tải Giao thông
5. Cấp nước và xử lý rác thải, nước thải Cấp nước, thoát nước và xử lý rác thải, nước thải
6. Kho tàng Kho tàng
7. Văn hóa Văn hóa
8. Thể thao Thể thao
9. Du lịch
10. Khoa học, công nghệ và công nghệ thông tin Khoa học, công nghệ
11. Công nghệ thông tin
12. Thông tin và truyền thông Thông tin
13. Truyền thông
14. Giáo dục và đào tạo Giáo dục, đào tạo và giáo dục nghề nghiệp
15. Y tế và vệ sinh an toàn thực phẩm Y tế, dân số và vệ sinh an toàn thực phẩm
16. Xã hội Xã hội
17. Tài nguyên và môi trường Tài nguyên và môi trường
18. Quản lý nhà nước Quản lý nhà nước
19. Quốc phòng, an ninh Quốc phòng, an ninh
20. Dự trữ quốc gia

 Có 20 ngành, lĩnh vực được sử dụng vốn đầu tư phát triển nguồn NSNN giai đoạn 2016 – 2020 để chuẩn bị đầu tư và thực hiện các dự án hạ tầng kinh tế xã hội không có khả năng hoàn vốn trực tiếp hoặc không xã hội hóa được thuộc 20 ngành, lĩnhvực: (1) Nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy lợi và thủy sản; (2) Công nghiệp; (3) Thương mại; (4) Giao thông; (5) Cấp nước, thoát nước và xử lý rác thải, nước thải; (6) Kho tàng; (7) Văn hóa; (8) Thể thao; (9) Du lịch; (10) Khoa học, công nghệ; (11) Thông tin; (12) Truyền thông; (13) Công nghệ thông tin; (14) Giáo dục, đào tạo và giáo dục nghề nghiệp; (15) Y tế, dân số và vệ sinh an toàn thực phẩm; (16) Xã hội; (17) Tài nguyên và môi trường; (18) Quản lý nhà nước; (19) Quốc phòng, an ninh; (20) Dự trữ quốc gia trong khi giai đoạn 2011 – 2015 là 15 ngành lĩnh vực. Tuy nhiên, thực tế giai đoạn 2016 – 2020 chỉ bổ sung lĩnh vực thương mại, du lịch, dự trữ quốc gia. Ngoài ra, bổ sung thủy lợi vào nhóm lĩnh vực nông nghiệp; bổ sung thoát nước vào nhóm lĩnh vực cấp nước và xử lý rác thải; bổ sung giáo dục nghề nghiệp vào nhóm giáo dục và đào tạo; bổ sung dân số vào nhóm y tế và vệ sinh an toàn thực phẩm; còn lại là tách và làm rõ nội dung đầu tư trong lĩnh vực thông tin và truyền thông; lĩnh vực khoa học, công nghệ và công nghệ thông tin.

Hai là, bổ sung các nguyên tắc chung trong phân bổ vốn đầu tư phát triển nguồn NSNN. Trong đó việc phân bổ vốn đầu tư phát triển nguồn NSNN giai đoạn 2016 – 2020 phải tuân thủ các quy định của Luật NSNN, Luật Đầu tư công và các văn bản pháp luật có liên quan. Đồng thời, phải phục vụ cho việc thực hiện các mục tiêu, định hướng phát triển tại Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 10 năm 2011 – 2020, Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2016 – 2020 của quốc gia, của các ngành, lĩnh vực, địa phương, quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội và các quy hoạch ngành, lĩnh vực đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Bố trí vốn đầu tư tập trung, khắc phục tình trạng phân tán, dàn trải, bảo đảm hiệu quả sử dụng vốn đầu tư. Chỉ bố trí vốn cho các dự án đã đủ thủ tục đầu tư được cấp có thẩm quyền phê duyệt theo đúng quy định của Luật Đầu tư công và các văn bản pháp luật có liên quan. Ưu tiên bố trí vốn cho các vùng miền núi, biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và các vùng có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn, vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn, góp phần thu hẹp dần khoảng cách về trình độ phát triển kinh tế, thu nhập và mức sống của dân cư giữa các vùng, miền trong cả nước. Tập trung bố trí vốn để hoàn thành và đẩy nhanh tiến độ thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia, dự án quan trọng quốc gia, chương trình mục tiêu, dự án có ý nghĩa lớn đối với phát triển kinh tế – xã hội của cả nước, của các cấp, các ngành.

Ngoài ra, Quyết định 40/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ còn quy định chi tiết nguyên tắc phân bổ vốn đầu tư phát triển nguồn NSNN cho bộ, ngành trung ương; Nguyên tắc, tiêu chí và định mức phân bổ vốn đầu tư phát triển nguồn cân đối ngân sách địa phương; Nguyên tắc, tiêu chí và định mức phân bổ nguồn ngân sách trung ương cho các chương trình mục tiêu quốc gia và vốn trái phiếu Chính phủ và nguyên tắc, tiêu chí phân bổ vốn ngân sách trung ương cho các chương trình mục tiêu. Trong đó, phân bổ vốn ngân sách Trung ương cho các chương trình mục tiêu quốc gia và vốn trái phiếu Chính phủ được thực hiện theo Nghị quyết riêng của Quốc hội, Quyết định của Thủ tướng Chính phủ. Ví dụ đối với Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, việc phân bổ được thực hiện theo Nghị quyết số 100/2015/QH13 ngày 12/11/2015 về việc phê duyệt chủ trương đầu tư các chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2016 – 2020 và Quyết định 12/2017/QĐ-TTg ngày 22/4/2017 về nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ vốn ngân sách trung ương và tỷ lệ vốn đối ứng của ngân sách địa phương thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016 – 2020. Ngoài ra, việc phân bổ ngân sách thực hiện 21 chương trình mục tiêu giai đoạn 2016 – 2020 được xác định trên cơ làm rõ phạm vi hỗ trợ; đối tượng hỗ trợ; nguyên tắc, tiêu chí phân bổ vốn.

Ba là, thay đổi các tiêu chí bổ sung. Trong đó các tiêu chí bổ sung áp dụng trong giai đoạn 2011 – 2015 chỉ tập trung vào các thành phố lớn, các đô thị thì sang giai đoạn 2016 – 2020 không còn mà chỉ bao gồm xã ATK, xã biên giới đất liền.

Bốn là, về điểm cho các tiêu chí về cơ bản là tăng so với giai đoạn 2011 – 2015 và chú trọng ưu tiên cho người dân tộc thiểu số. Tuy nhiên điểm số cho tiêu chí cấp huyện ở từng vùng và tiêu chí diện tích đất tự nhiên không thay đổi so với giai đoạn 2011 – 2015

Ngoài ra, tại Quyết định 40/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ không yêu cầu các bộ, ngành phải xây dựng các nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ vốn đầu tư phát triển nguồn NSNN cho các đơn vị trực thuộc vì việc phân bổ ngân sách cho các bộ, ngành theo dự án và các dự án này phải nằm trong Kế hoạch đầu tư công trung hạn.

9.3. Những vấn đề đặt ra cần hoàn thiện hệ thống phân bổ ngân sách

Bên cạnh những điểm mới, tích cực về định mức phân bổ ngân sách chi thường xuyên và chi đầu tư năm 2017 cũng cho thấy một số vấn đề cần quan tâm giải quyết:

a) Đối với định mức phân bổ chi thường xuyên NSNN

Thứ nhất, đối với định mức phân bổ chi thường xuyên cho các cơ quan Trung ương:

i) Nguyên tắc phân bổ dự toán chi thường xuyên NSNN có đề cập ưu tiên mức phân bổ kinh phí cho khối các cơ quan tư pháp, Kiểm toán Nhà nước, Thanh tra Chính phủ nên về mức phân bổ cho các cơ quan này theo đầu biên chế là cao nhất (55 triệu đồng/biên chế/năm) nhưng nếu so với định mức phân bổ của giai đoạn trước đó thì mức tăng lại là thấp nhất;

ii) Quy định về phân bổ chi thường xuyên NSNN đối với quốc phòng, an ninh cũng chưa rõ ràng, chưa có các mức phân bổ cụ thể nên có thể tạo sự không minh bạch trong phân bổ ngân sách;

iii) Việc chậm ban hành các nghị định về cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập trong từng lĩnh vực cũng làm hạn chế hiệu quả phân bổ chi thường xuyên từ NSNN.

Thứ hai, việc sử dụng tiêu chí người thuộc hộ gia đình nghèo được xác định theo chuẩn nghèo quy định tại Quyết định 09/2011/QĐ-TTg là không còn phù hợp vì quy định này chỉ áp dụng cho giai đoạn 2011-2015.

Thứ ba, trong phân bổ ngân sách chi sự nghiệp giáo dục, việc sử dụng tiêu chí bổ sung hỗ trợ học sinh trung học phổ thông ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn theo Quyết định 12/2013/QĐ-TTg ngày 24/01/2013 (Quyết định 12) là chưa đúng vì Quyết định 12 đã hết hiệu lực từ 01/9/2016, tức là trước khi ban hành Quyết định 46. Hiện nay Quyết định 12 đã được thay bằng Nghị định 116/2016/NĐ-CP ngày 18/7/2016 về chính sách hỗ trợ học sinh và trường phổ thông ở xã, thôn đặc biệt khó khăn.

Thứ tư, định mức phân bổ ngân sách chi sự nghiệp kinh tế chưa gắn với nhiệm vụ của nội dung chi sự nghiệp kinh tế là duy tu, bảo dưỡng cơ sở hạ tầng hiện có mà định mức phân bổ ngân sách sự nghiệp kinh tế lại được tính trên 10% chi thường xuyên của 11 lĩnh vực (y tế, giáo dục, đào tạo và dạy nghề,…) hay định mức phân bổ ngân sách chi khác được xác định bằng 0,5% tổng của 13 khoản chi cho thấy cơ sở để xác định định mức phân bổ ngân sách còn chưa khoa học. Trong khi đó việc xác định định mức phân bổ ngân sách chi sự nghiệp bảo vệ môi trường lại khá phức tạp đòi hỏi hệ thống dữ liệu thống kê kinh tế tài chính phải đầy đủ và cập nhật.

b) Đối với định mức phân bổ chi đầu tư từ NSNN

Thứ nhất, chưa có tiêu chí phân bổ ngân sách đầu tư cho từng ngành, lĩnh vực và theo cấp ngân ngân sách.

Thứ hai, chưa quy định mức phân bổ ngân sách ở nhiều chương trình mục tiêu

Thứ ba,  phương pháp tính mức vốn được phân bổ còn rườm rà

9.4. Tăng cường hiệu quả phân bổ ngân sách và định hướng giải pháp

Để tăng cường hiệu quả phân bổ ngân sách trong thời gian tới, cùng với việc thực hiện các luật mới liên quan tới phân bổ ngân sách như Luật NSNN số 83/2015/QH13 ngày 25/6/2015 có hiệu lực từ 01/01/2017, Luật Đầu tư công số 49/2014/QH13 ngày 18/6/2014,… đòi hỏi định mức phân bổ ngân sách cần tiếp tục được nghiên cứu, xem xét tính tới đảm bảo các yêu cầu:

Đảm bảo kinh phí thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng của cả nước cũng như của từng Bộ, cơ quan Trung ương và địa phương; ưu tiên bố trí kinh phí cho các lĩnh vực quan trọng (giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ,…) và vùng cao, hải đảo, vùng miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số khó khăn; tăng hệ số ưu tiên cho các địa phương trọng điểm để có nguồn lực phát triển kinh tế – xã hội của địa phương, của vùng.

Hệ thống định mức phân bổ ngân sách phải phù hợp với khả năng cân đối ngân sách trong từng giai đoạn, thời kỳ.

Thúc đẩy thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và khuyến khích xã hội hóa, cải cách hành chính, nâng cao chất lượng dịch vụ công; sử dụng hiệu quả NSNN cho phát triển kinh tế – xã hội.

Tiêu chí, căn cứ, mức phân bổ ngân sách phải đơn giản, rõ ràng, dễ hiểu, dễ thực hiện, dễ kiểm tra, đồng thời đảm bảo tính công khai, minh bạch, công bằng trong phân bổ ngân sách và hướng tới từng bước phù hợp với thông lệ quốc tế.

Việc xây dựng định mức phân bổ ngân sách phải dựa trên các nguyên tắc: (i) Kế thừa những kết quả đã đạt được của hệ thống định mức phân bổ ngân sách chi thường xuyên và chi đầu tư đã áp dụng; (ii) Tăng tính công khai, minh bạch trong các phương án phân bổ ngân sách; (iii) Đảm bảo kinh phí thực hiện các chính sách chế độ của Đảng và nhà nước đã ban hành.

Cùng với việc thực hiện các yêu cầu trên cũng cần nghiên cứu thực hiện các giải pháp:

Một là, rà soát, đánh giá chi tiêu ngân sách phân bổ cho các lĩnh vực trong thời gian qua và tiếp tục nghiên cứu xác định lại các ngành, lĩnh vực được sử dụng NSNN

Hai là, rà soát và hoàn thiện hệ thống tiêu chí phân bổ ngân sách. Trên cơ sở xác định rõ các ngành, lĩnh vực sử dụng kinh phí NSNN, nhiệm vụ và tính chất hoạt động của các ngành, lĩnh vực để xác định tiêu chí phân bổ ngân sách cho phù hợp với tính chất và nhiệm vụ trong từng ngành, lĩnh vực và từng cấp ngân sách (TW, ĐP). Trong đó, tiêu chí dân số vẫn là tiêu chí chủ đạo khi phân bổ ngân sách nhưng cần hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu thống kê và dự báo dân số, việc thống kê và dự báo dân số cũng cần chi tiết theo cơ cấu tuổi và giới tính để làm căn cứ cho phân bổ ngân sách. Hiện nay, Luật NSNN số 83/2015/QH13 ngày 25/6/2015 có hiệu lực từ 01/01/2017 đã chỉ ra một nguyên tắc mới, quan trọng trong quản lý ngân sách là thực hiện mục tiêu bình đẳng giới. Theo đó để định mức phân bổ ngân sách có tính đến yếu tố giới thì cần có sự thống kê và phân tích về giới cũng như tác động của yếu tố giới trong từng ngành, lĩnh vực bởi vì yếu tố giới có vai trò và tác động lớn tới kinh tế vĩ mô, ví dụ ở nước ta hiện nay hầu hết phụ nữ đảm nhiệm việc nhà, nuôi dạy con cái, chăm sóc các thành viên trong gia đình. Công việc này không có thù lao nhưng có ảnh hưởng lớn tới kinh tế vĩ mô thông qua tác động của nó tới số lượng và chất lượng của lực lượng lao động. Số lượng, chất lượng của lực lượng lao động lại có tác động lớn tới thu, chi ngân sách. Do đó không nên coi tất cả các khoản chi tiêu ngân sách là trung tính về giới. Tuy nhiên, phân bổ ngân sách có tính đến yếu tố giới không hẳn là việc phân bổ ngân sách nhiều hơn cho nữ và ít hơn cho nam mà phụ thuộc vào vai trò của từng giới trong từng ngành, lĩnh vực trong thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội. Việc xây dựng định mức phân bổ ngân sách có tính đến yếu tố giới sẽ là công cụ mạnh cung cấp dữ liệu đầu vào cho lập ngân sách nói chung, ngân sách về giới nói riêng và cho quá trình ngân sách.

Bên cạnh tiêu chí dân số thì cần xét đến tính đặc thù trong từng lĩnh vực để có những tiêu chí bổ sung như trong lĩnh vực giáo dục cần tính tới các yếu tố độ lớn của lớp học, số giáo viên mỗi lớp, chi phí hoạt động thường xuyên của mỗi cơ sở giáo dục,… còn trong lĩnh vực y tế thì số giường bệnh trong các cơ sở y tế có liên quan trực tiếp đến các khoản chi trong lĩnh vực này; trong lĩnh vực đầu tư thì mục đích chủ yếu của chi đầu tư phát triển từ NSNN là phát triển cơ sở hạ tầng, do vậy tiêu chí về tốc độ đô thị hóa hay mức độ phát triển cơ sở hạ tầng là quan trọng. Ngoài ra, do đặc thù địa lý, suất đầu tư theo từng nội dung đầu tư ở các vùng khác nhau sẽ có sự khác nhau. Điều này cần được tính đến trong các tiêu chí sử dụng trong phân bổ ngân sách đầu tư… Có thể thấy rằng việc quyết định nhu cầu chi theo dân số được hưởng lợi là một thước đo tương đối. Việc dựa trên cả các yếu tố khác (số lượng đơn vị, biên chế, số người nhận trợ cấp xã hội, giường bệnh,…) sẽ tính toán được nhu cầu chi tốt hơn, nhưng điều này cũng làm hệ thống tính toán phức tạp hơn. Do đó để đơn giản hóa thì ngoài tiêu chí chủ đạo, trong mỗi lĩnh vực chỉ nên có thêm có 1-2 tiêu chí bổ sung.

Ba là, cần xác định nguồn lực ngân sách trong từng giai đoạn cụ thể và căn cứ vào mục tiêu, định hướng phát triển kinh tế xã hội trong từng giai đoạn để xác định nhu cầu chi ngân sách. Kinh nghiệm các nước cho thấy căn cứ phân bổ ngân sách xuất phát từ: (i) chỉ số nhu cầu chi tiêu hoặc tiêu chuẩn dịch vụ công quốc gia; (ii) chỉ số về năng lực tài khóa địa phương; (iii) chỉ số chênh lệch năng lực thu và nhu cầu chi; (iv) dân số. Theo đó trong xây dựng định mức phân bổ ngân sách để đảm bảo việc phân bổ công bằng, có tính tiên liệu, có tính tới các biến động kinh tế nhưng không tạo ra động cơ tiêu cực trong thu, chi ngân sách của các địa phương cũng như đảm bảo việc phân bổ ngân sách đơn giản, minh bạch việc xác định nhu cầu chi tiêu có ý nghĩa quan trọng làm cơ sở cho việc tính toán định mức phân bổ ngân sách. Phương pháp xác định nhu cầu chi tiêu hiện nay bao gồm:

Dựa trên các yếu tố chi phí cung cấp dịch vụ. Theo phương pháp này phải tính toán các yếu tố chi phí trong cung cấp dịch vụ công chuẩn nên đòi hỏi bộ dữ liệu chi tiết, đầy đủ. Tuy nhiên nếu thực hiện được sẽ đảm bảo kinh phí theo các yếu tố chi phí thực tế nhưng cũng có thể không đảm bảo cân đối với khả năng nguồn lực.

Xác định nhu cầu theo các chỉ số giản đơn có trọng số. Tức là xác định các chỉ số có vai trò quyết định đối với chi ngân sách địa phương, gắn với các mục tiêu ưu tiên. Phương pháp này khá đơn giản và minh bạch nhưng lại phụ thuộc nhiều vào tính chủ quan trong lựa chọn nhân tố của địa phương.

Xác định nhu cầu chi dựa trên chi tiêu công trong quá khứ. Phương pháp này đảm bảo tính khả thi về nguồn lực, phản ánh thực tế chi tiêu của địa phương nhưng đòi hỏi dữ liệu quá khứ để chạy các hàm hồi quy xác định các nhân tố trọng yếu, trọng số cho các nhân tố.

Dựa trên khả năng nguồn lực bằng việc xác định tổng nguồn lực dành cho địa phương và phân bổ nguồn lực cho các lĩnh vực thông qua số người sử dụng dịch vụ của lĩnh vực đó. Phương pháp này đơn giản và khả thi về nguồn lực và dễ thực hiện các ưu tiên của Chính phủ.

 ——————TÀI LIỆU THAM KHẢO——————————-

  1. Báo cáo 100/TTr-BTC ngày 16/8/2010 của Bộ Tài chính về việc đánh giá hệ thống định mức phân bổ chi thường xuyên của NSNN năm 2007 và xây dựng hệ thống định mức phân bổ dự toán chi thường xuyên của NSNN năm 2011 của các Bộ, cơ quan Trung ương và các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
  2. Tài liệu Hội thảo của Viện CL&CSTC về “Định mức phân bổ NSNN: kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn Việt Nam” tổ chức tháng 7/2014 tại Nghệ An.
  3. Lê Thị Mai Liên và Ngô Thị Phương Thảo. “Điểm mới trong phân bổ dự toán chi thường xuyên năm 2017 và những vấn đề đặt ra” – Tạp chí Quản lý ngân quỹ quốc gia số 177 – 3/2017.
  4. The World Bank (2010). Technical note on the methodology for the allocation of international grants in the Republic of Belarus, Andrey Timofeev and Jorge Martinez – Vazquez.
  5. Korea Institute of Public Finance (2007). Measuring Local Government Expenditure Needs.
  6. James Alm, Jorge Martinez-Vazquez (2002). On the use of budgetary norms as a tool for fiscal management. Public finance and management: PFM.- Harrisburg,Vol. 2.2002, 3, p. 387-435.
  7. The World Bank (2007). Intergovernment Fiscal Transfer: A Comparision of Nince Countries (Cases of the United States, Canada, the United Kingdon, Australia, Germany, Japan, Korea, India, and Indonesia).
  8. Một số văn bản tham khảo

– Quyết định 12/2017/QĐ-TTg ngày 22/4/2017 quy định nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ vốn ngân sách Trung ương và tỷ lệ vốn đối ứng của ngân sách địa phương thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016 – 2020.

– Nghị quyết 266/2016/UBTVQH14 ngày 04/10/2016 về các nguyên tắc, tiêu chí và định mức phân bổ dự toán chi thường xuyên NSNN năm 2017.

– Quyết định 46/2016/QĐ-TTg ngày 19/10/2016 về ban hành định mức phân bổ dự toán chi thường xuyên NSNN năm 2017.

– Nghị quyết 1023/NQ-UBTVQH13 ngày 28/8/2015 ban hành các nguyên tắc, tiêu chí và định mức phân bổ vốn đầu tư phát triển nguồn NSNN giai đoạn 2016 – 2020.

– Quyết định 40/2015/QĐ-TTg ngày 14/9/2015 ban hành các nguyên tắc, tiêu chí và định mức phân bổ vốn đầu tư phát triển nguồn NSNN giai đoạn 2016 – 2020.

[1] Chính phủ xây dựng các nguyên tắc, tiêu chí và định mức phân bổ ngân sách (cụ thể là Bộ Tài chính xây dựng nguyên tắc, tiêu chí và định mức phân bổ chi thường xuyên của NSNN; Bộ Kế hoạch và Đầu tư xây dựng nguyên tắc, tiêu chí và định mức phân bổ vốn đầu tư phát triển của NSNN) trình Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định làm căn cứ xây dựng dự toán, phân bổ ngân sách cho các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, các cơ quan khác ở Trung ương và các địa phương. Hội đồng nhân dân (HĐND) tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương căn cứ vào định mức phân bổ ngân sách do Thủ tướng Chính phủ ban hành, khả năng tài chính – ngân sách và đặc điểm tình hình của địa phương, quyết định định mức phân bổ ngân sách làm căn cứ xây dựng dự toán và phân bổ ngân sách ở địa phương.

[2] Theo quy định của Luật NSNN, thời kỳ ổn định ngân sách được xác định từ 3 đến 5 năm. Trong đó thực hiện ổn định phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi của ngân sách các cấp và ổn định tỷ lệ phần trăm (%) phân chia các khoản thu và số bổ sung cân đối từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới trong một thời kỳ nhất định (từ 3 đến 5 năm) gọi là thời kỳ ổn định ngân sách. Kể từ khi Luật NSNN năm 2002 có hiệu lực đến nay đã trải qua 3 thời kỳ ổn định ngân sách. Đó là: (1) Thời kỳ ổn định ngân sách 2004 – 2006; (2) Thời kỳ ổn định ngân sách 2007 – 2010; (3) và Thời kỳ ổn định ngân sách 2011 – 2015 được kéo dài đến hết năm 2016. Thời kỳ ổn định ngân sách tiếp theo được tính từ năm 2017 đến năm 2020 (Khoản 2 Điểu 75 Luật NSNN năm 2015).

[3] Thực hiện theo Quyêt định 139/2003/QĐ-TTg ngày 11/7/2003 về việc ban hành định mức phân bổ dự toán chi NSNN năm 2004.

[4] Thực hiện theo Quyết định 151/2006/QĐ-TTg ngày 29/6/2006 về việc ban hành định mức phân bổ dự toán chi thường xuyên NSNN năm 2007.

[5] Thực hiện theo Quyết định 59/2010/QĐ-TTg ngày 30/9/2010 về việc ban hành định mức phân bổ dự toán chi thường xuyên NSNN năm 2011.

[6] Quy định này nhằm khắc phục sự bất hợp lý trong phân bổ chi quản lý hành chính giữa các Bộ, cơ quan Trung ương do tỷ lệ chi tiền lương, phụ cấp và các khoản trích theo lương trong tổng dự toán chi quản lý hành chính hàng năm giữa các Bộ, cơ quan Trung ương là khác nhau do tính đặc thù ngành (như phụ cấp đặc thù ngành y tế, giáo dục,…) hoặc do cơ cấu cán bộ (dẫn tới hệ số lương bình quân của các Bộ, cơ quan Trung ương khác nhau) tác động làm cho các Bộ, cơ quan Trung ương có tỷ lệ chi quỹ lương lớn sẽ gặp khó khăn trong việc đảm bảo kinh phí thực hiện các hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ được giao.

[7] Giai đoạn 2004-2006 và 2007-2010 giãn cách biên chế giữa các bậc định mức phân bổ ngân sách được xác định cho từng 100 biên chế thì sang giai đoạn 2011-2015 là 200 biên chế và 300 biên chế. Nguyên nhân của việc điều chỉnh là do việc sắp xếp lại cơ cấu tổ chức của Chính phủ theo hướng giảm số lượng Bộ trên cơ sở sáp nhập một số Bộ, cơ quan Trung ương vào các Bộ, cơ quan Trung ương khác đã làm tăng quy mô biên chế của từng Bộ, cơ quan Trung ương. Do đó, phần lớn các Bộ, cơ quan Trung ương có số biên chế trên 500 người (Biên chế công chức năm 2010 theo Quyết định 44/QĐ-TTg ngày 11/01/2010 có 24 đầu mối, trong đó 09/24 cơ quan có trên 1.000 biên chế; 05/24 cơ quan có từ 701-1.000 biên chế; 03/24 cơ quan có từ 501-700 biên chế; 02/24 cơ quan có từ 301-400 biên chế; 01/24 cơ quan có từ 201-300 biên chế; 04/24 cơ quan dưới 101 biên chế và không có cơ quan nào có số biên chế từ 101 đến 200 biên chế và từ 401-500 biên chế. Tại Quyết định 187/QĐ-TTg ngày 29/01/2011, số đầu mối chỉ còn 22, trong đó 10/22 cơ quan có trên 1.000 biên chế; 04/22 cơ quan có từ 701-1.000 biên chế; 03/22 cơ quan có từ 501-700 biên chế; 01/22 cơ quan có từ 401-500 biên chế; 01/22 cơ quan có từ 301-400 biên chế; 01/24 cơ quan có từ 201-300 biên chế; không có cơ quan nào có số biên chế từ 101 đến 200 biên chế và có 02/22 cơ quan dưới 101 biên chế).

[8] Tiêu chí sử dụng trong xác định định mức phân bổ ngân sách chi sự nghiệp đào tạo và dạy nghề giai đoạn 2007-2010 là toàn bộ dân số.

[9] Quyết định 210/2006/QĐ-TTg ngày 12/9/2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành các nguyên tắc, tiêu chí và định mức phân bổ chi đầu tư phát triển bằng nguồn NSNN giai đoạn 2007-2010.

[10] Thực hiện theo Quyết định 60/2010/QĐ-TTg ngày 30/9/2010 ban hành các nguyên tắc, tiêu chí và định mức phân bổ vốn đầu tư phát triển bằng nguồn NSNN giai đoạn 2011-2015.

[11] Tính công bằng và bình đẳng tương đối trong phân bổ NSNN cho các cơ quan Trung ương và các địa phương thể hiện ở chỗ nguồn lực NSNN là giới hạn trong khi nhu cầu về cung cấp dịch vụ công là rất lớn (kể cả ở cấp Trung ương và cấp địa phương). Bên cạnh đó, mỗi Bộ, ngành ở Trung ương cũng như ở từng địa phương lại có các đặc thù nhiệm vụ, vị trí địa lý, văn hóa, nền tảng kinh tế,… khác nhau. Mặc dù, trong các quyết định của Thủ tướng Chính phủ về ĐMPBNS đã có những tiêu chí đặc thù, những hệ số vùng/miền, những chương trình mục tiêu… được áp dụng, thể hiện những cố gắng trong phân phối nguồn lực NSNN hướng tới bình đẳng và công bằng nhưng cũng có thể khẳng định rằng các tiêu chí, hệ số được áp dụng chưa thể bao quát hết các yếu tố đặc thù. Ngoài ra, mức độ sử dụng dịch vụ công của các đối tượng, nhóm đối tượng trong xã hội cũng là yếu tố tác động tới việc đảm bảo tính công bằng và bình đẳng trong phân bổ nguồn lực NSNN.

[12] Tỉnh Vĩnh Long: HĐND đã ban hành Nghị quyết 133/2010/NQ-HĐND ngày 10/12/2010 phê chuẩn ĐMPB dự toán chi thường xuyên NSĐP ổn định giai đoạn 2011-2015; Nghị quyết 134/2010/NQ-HĐND ngày 10/12/2010 về ban hành các nguyên tắc, tiêu chí và ĐMPB vốn đầu tư phát triển bằng nguồn NSNN giai đoạn 2011-2015; UBND tỉnh Vĩnh Long đã ban hành Quyết định 35/2010/QĐ-UBND ngày 28/12/2010 về ban hành các nguyên tắc, tiêu chí và ĐMPB vốn đầu tư phát triển bằng nguồn NSNN giai đoạn 2011-2015. Tỉnh Long An: HĐND đã ban hành Nghị quyết 149/2010/NQ-HĐND ngày 09/12/2010 về ĐMPB dự toán chi thường xuyên NSNN năm 2011; Nghị quyết 153/2010/NQ-HĐND ngày 09/12/2010 về nguyên tắc, tiêu chí và ĐMPB vốn đầu tư phát triển từ nguồn NSNN cho các huyện, thành phố giai đoạn 2011-2015; UBND tỉnh Long An đã ban hành Quyết định 54/2010/QĐ-UBND ngày 10/12/2010 về ĐMPB dự toán chi thường xuyên NSNN năm 2011 cho các cấp ngân sách trên địa bàn tỉnh,…

[13] Qua rà soát có 03 đơn vị là: (1) Bộ Công an đã ban hành Quyết định 6620/QĐ-BCA ngày 11/11/2014 về hệ thống tiêu chí, định mức và phương pháp lập, phân bổ dự toán chi an ninh năm 2015; (2) Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã ban hành Quyết định 345/QĐ-BHXH ngày 06/4/2012 về tiêu chí, định mức phân bổ dự toán định mức chi quản lý bộ máy đối với BHXH các tỉnh, thành phố trực thuộc TW, các đơn vị dự toán cấp 3 trực thuộc BHXH Việt Nam và Quyết định số 1739/QĐ-BHXH ngày 14/12/2012 về sửa đổi một số nội dung của Quyết định 345/QĐ-BHXH ngày 06/4/2012; (3) Tổng cục Thống kê (thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư) đã ban hành Quyết định 1064/QĐ-TCTK ngày 31/12/2010 về định mức phân bổ dự toán chi quản lý hành chính năm 2011 của Tổng cục Thống kê.

[14] Cụ thể: năm 2012 tiết kiệm 10% chi thường xuyên (không bao gồm các khoản chi cho con người như lương, phụ cấp) theo Thông tư 104/2012/TT-BTC ngày 02/8/2012 để làm lương; tiết kiệm 10% chi thường xuyên (không bao gồm các khoản chi cho con người như lương, phụ cấp) theo Quyết định 3036/QĐ-BTC ngày 03/12/2012 để chi lương và an sinh xã hội; năm 2013 tiết kiệm 10% chi thường xuyên (không bao gồm các khoản chi cho con người như lương, phụ cấp) theo Công văn số 6684/BTC-NSNN ngày 27/5/2013 để bổ sung dự phòng ngân sách; năm 2015 tiết kiệm 10% chi thường xuyên (không bao gồm các khoản chi cho con người như lương, phụ cấp) để tạo nguồn cải cách tiền lương và tạm giữ lại tại KBNN 10% chi thường xuyên (không bao gồm chi tiền lương, phụ cấp theo lương, chi cho con người theo chế độ) của 8 tháng cuối năm của các đơn vị sử dụng ngân sách theo chỉ thị 06/CT-TTg ngày 21/4/2015.

[15] Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Nghị quyết 1023/NQ-UBTVQH13 ngày 28/8/2015 về các nguyên tắc, tiêu chí và định mức phân bổ vốn đầu tư phát triển nguồn NSNN giai đoạn 2016 – 2020; Nghị quyết 266/2016/UBTVQH14 ngày 04/10/2016 về các nguyên tắc, tiêu chí và định mức phân bổ dự toán chi thường xuyên NSNN năm 2017. Trên cơ sở các Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 40/2015/QĐ-TTg ngày 14/9/2015 về nguyên tắc, tiêu chí và định mức phân bổ vốn đầu tư phát triển nguồn NSNN giai đoạn 2016 – 2020 và Quyết định số 46/2016/QĐ-TTg ngày 19/10/2016 về định mức phân bổ dự toán chi thường xuyên NSNN năm 2017.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *