Chuyên đề 9: CƠ CHẾ QUẢN LÝ VÀ ĐIỀU HÀNH GIÁ

Chuyên đề 9: CƠ CHẾ QUẢN LÝ VÀ ĐIỀU HÀNH GIÁ

Thsĩ. Nguyễn Thị Hồng Liên,
                                                                                     CN. Nguyễn Sơn Vĩnh,

Cục Quản lý Giá – Bộ Tài chính

 9.1. Giá cả và vai trò của cơ chế quản lý và điều hành giá trong nền kinh tế Việt Nam

9.1.1. Giá cả là một hệ thống tín hiệu khách quan trên thị trường, phát sinh và phát triển cùng với sự ra đời và phát triển của sản xuất hàng hóa. Về cơ bản, nó là những thông tin đáng tin cậy để định hướng sản xuất, đầu tư; giám sát sản xuất, phát hiện hiệu quả của sản xuất, cung cấp những thông tin có căn cứ chính xác về hiệu quả sản xuất kinh doanh của từng mặt hàng; tác động làm thay đổi cơ cấu sản xuất và cơ cấu đầu tư, tổ chức sắp xếp lại sản xuất dưới sự kiểm soát của thị trường. Giá cả là lợi ích kinh tế, nên nó có tác động mạnh đến việc đổi mới công nghệ, tiến bộ kỹ thuật, tăng năng suất, hạ giá thành, khuyến khích sản xuất phát triển…, góp phần tích cực vào việc phân bổ nguồn lực của đất nước, phân phối và phân phối lại sản phẩm trong nền kinh tế.

Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực nói trên, do tính tự phát, tự điều tiết vốn có, giá thị trường có thể tác động, dẫn đến suy thoái, khủng hoảng và thậm chí phá hủy cả một hệ thống kinh tế, nếu nền kinh tế có cơ chế quản lý giá và hệ thống giá không hợp lý. Chính vì vậy, cần phải có những thể chế thích hợp để hạn chế, kiểm soát tính tự phát của giá cả, phát huy tính tích cực của nó để góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển.

9.1.2. Với việc khẳng định mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ đi lên Chủ nghĩa xã hội là ”Thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng Xã hội chủ nghĩa”, quản lý giá trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN không thể thoát ly mà phải tuân thủ và phục vụ việc thực hiện mô hình kinh tế tổng quát nêu trên. Trong cơ chế kinh tế thị trường ấy đòi hỏi Nhà nước định hướng phát triển bằng chiến lược, quy hoạch kế hoạch và cơ chế chính sách trên cơ sở tôn trọng nguyên tắc và cơ chế hoạt động khách quan của thị trường, chỉ can thiệp vào thị trường bằng những biện pháp hành chính trong những trường hợp cần thiết và trong những điều kiện đặc biệt như khủng hoảng kinh tế, thiên tai, địch họa…. Thực hiện quản lý nhà nước bằng pháp luật, tạo môi trường pháp lý và cơ chế chính sách thuận lợi để phát huy các nguồn lực của xã hội cho phát triển, các chủ thể hoạt động kinh doanh bình đẳng, cạnh tranh lành mạnh, công khai và minh bạch, có trật tự, kỷ cương. Tác động đến thị trường chủ yếu thông qua cơ chế chính sách và các công cụ kinh tế; đồng thời sử dụng kịp thời, có hiệu quả một số biện pháp cần thiết khi thị trường hoạt động không có hiệu quả hoặc thị trường khu vực và thế giới có biến động lớn. Nhà nước tôn trọng quyền tự định giá, thỏa thuận giá và cạnh tranh về giá của tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh trên cơ sở phù hợp với yêu cầu và sự vận động kinh tế khách quan của giá cả đối với hầu hết các hệ thống giá: nông, lâm, thủy sản; hàng tiêu dùng, dịch vụ; hàng tư liệu sản xuất, vật liệu xây dựng… Từ đó để tạo ra cơ chế làm cho giá cả phát huy được những tác dụng tích cực của nó đối với nền kinh tế như: Điều tiết, kích thích sản xuất phát triển; đổi mới công nghệ, tiến bộ kỹ thuật; đổi mới quản lý, tăng năng suất, hạ giá thành sản phẩm; phân bổ và sử dụng đạt hiệu quả tối ưu các nguồn lực của nền kinh tế.

Cơ chế thị trường nói chung, cơ chế giá thị trường nói riêng đều có những “khuyết tật”, đó là độc quyền, cạnh tranh không lành mạnh về giá, các dịch vụ xã hội thiết yếu và khu vực kinh tế tư nhân ít quan tâm đầu tư (vì lợi nhuận thấp) như hạ tầng xã hội, các hàng hóa công cộng… Những khuyết tật đó đã gây ra những “thất bại” của thị trường, bao gồm các thất bại về hiệu quả, công bằng, ổn định kinh tế vĩ mô, thông tin, thị trường không hoàn thiện, hàng hóa công cộng… Nhà nước với vai trò điều phối nền kinh tế cần phải khắc phục những khuyết tật đó thông qua phối hợp sử dụng nhiều công cụ về tài chính – kinh tế, trong đó có những quy định về quản lý giá, điều hành giá.[1] Sự can thiệp đó đòi hỏi phải đúng chức năng, phù hợp, bảo đảm để giá cả vận hành theo cơ chế thị trường và các quy luật vốn có của nó (quy luật giá trị, quy luật cung – cầu, cạnh tranh), đồng thời khắc phục được khuyết tật của thị trường thông qua các biện pháp như kiểm soát giá độc quyền và cạnh tranh không lành mạnh về giá, kiểm soát chi phí và giá cả khi có tình trạng khẩn cấp hoặc những biến động bất thường, qua đó góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển hướng tới các mục tiêu hiệu quả, công bằng và ổn định.

Ngoài ra, thực tế cho thấy tuy nền kinh tế nước ta đã chuyển sang cơ chế giá thị trường có sự quản lý của Nhà nước nhưng là thị trường chưa hoàn thiện, vẫn còn đan xen giữa thị trường và chưa thị trường, thường xuyên phát sinh các yếu tố mới, chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi những biến động của nền kinh tế thế giới. Điều này đặt ra yêu cầu Nhà nước phải thường xuyên rà soát, sửa đổi, bổ sung cơ chế quản lý giá hiện hành cho phù hợp với các diễn biến mới của nền kinh tế nhằm tác động hợp lý vào cung-cầu mang tính vĩ mô như: Không để xảy ra mất cân đối cung cầu, luôn có những dự trữ đủ mạnh, điều hành linh hoạt tỷ giá, lãi suất, kiểm soát giá độc quyền, chống cạnh tranh không lành mạnh về giá, chống bán phá giá, chống chuyển giá nội bộ. Kiểm soát các yếu tố hình thành giá, chi phí tiền lương, tiền thưởng, thu nhập chịu thuế để loại bỏ việc hạch toán các chi phí không hợp lý…

Cuối cùng, để đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế với phạm vi và mức độ ngày càng sâu rộng, tính chất cạnh trạnh ngày càng quyết liệt, việc xây dựng cơ chế quản lý và điều hành giá và việc áp dụng các biện pháp về quản lý giá phải bảo đảm nguyên tắc rõ ràng, minh bạch, phải thực hiện công bố danh mục các mặt hàng và dịch vụ chịu sự quản lý của Nhà nước và mọi sự thay đổi phải được công bố công khai. Khi áp dụng các biện pháp quản lý giá phải cân nhắc đến lợi ích của bên xuất khẩu là thành viên của WTO để không tạo ra bất lợi cho các đối tác này, không tạo ra sự phân biệt đối xử giữa các doanh nghiệp trong nước và nước ngoài. Tuân thủ nguyên tắc đối xử quốc gia (NT); quy định và sử dụng phù hợp không trái với các cam kết quốc tế về các biện pháp tự vệ chính đáng, các biện pháp chống trợ cấp, trợ giá đối với hàng hóa nhập khẩu và các biện pháp hỗ trợ, bảo hộ; áp dụng những hệ thống rào cản hợp lý để bảo vệ thị trường nội địa… Đồng thời, áp dụng các biện pháp bảo đảm thông tin công bằng về giá trong thương mại quốc tế, phù hợp với các quy định của WTO… Có thể nói, cơ chế quản lý và điều hành giá là một trong các nội dung trọng tâm được xem xét để công nhận Việt Nam là nền kinh tế thị trường.

9.2. Cơ chế quản lý và điều hành giá ở Việt Nam

9.2.1. Những đổi mới trong cơ chế quản lý và điều hành giá gần đây

Nhằm đáp ứng yêu cầu phải tiếp tục đổi mới phương thức quản lý giá, khắc phục những bất cập hiện tại để quản lý giá phù hợp với cơ chế kinh tế thị trường; bảo đảm khuyến khích cạnh tranh về giá; bảo đảm vai trò của giá cả trong cơ chế kinh tế thị trường; và bảo đảm được sự can thiệp của Nhà nước về giá phù hợp với vai trò, chức năng của Nhà nước trong cơ chế kinh tế thị trường; tại kỳ họp thứ ba Quốc hội khóa XIII, ngày 20/6/2012, 476/476 (100%) Đại biểu Quốc hội có mặt đã bỏ phiếu thông qua Luật Giá số 11/2012/QH13 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2013 (thay thế Pháp lệnh Giá 2002)

Mục tiêu, yêu cầu trọng tâm nhất của việc ban hành Luật Giá là thực hiện nhất quán cơ chế giá thị trường có sự quản lý của Nhà nước, đảm bảo mục tiêu đặt ra là thể chế hóa đúng đắn đường lối, chính sách phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Đảng và Nhà nước.

Luật Giá được xây dựng và hoàn thiện theo hướng vừa quy định rõ quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh, của người tiêu dùng trong lĩnh vực giá, bảo đảm được sự điều tiết của Nhà nước về giá chủ yếu thông qua các biện pháp kinh tế nhằm bình ổn giá thị trường phù hợp với các cam kết quốc tế về chính sách giá được nêu tại Báo cáo của Ban công tác về việc Việt Nam gia nhập WTO ngày 27/10/2006.

Các quy định của Luật phù hợp với cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; tôn trọng quyền tự định giá của các tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh; khuyến khích cạnh tranh, tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng và đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế.

Nhà nước tôn trọng quyền tự định giá và cạnh tranh về giá của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước hoạt động, sản xuất kinh doanh tại Việt Nam (trừ trường hợp điều ước quốc tế có quy định khác) theo đúng pháp luật. Doanh nghiệp được quyền quyết định giá bán hàng hóa, dịch vụ sản xuất ra phù hợp với đặc điểm kinh doanh của đơn vị mình, phù hợp với giá cả trên thị trường, Nhà nước không can thiệp vào việc định giá bán hàng hóa, dịch vụ, trừ hàng hóa, dịch vụ thuộc danh mục do Nhà nước định giá. Nhà nước sử dụng các biện pháp cần thiết (chủ yếu là các biện pháp kinh tế, điều hòa cung cầu, tài chính, tiền tệ…) theo quy định của pháp luật để bình ổn giá. Từ đó, góp phần hữu hiệu vào bình ổn giá thị trường, ổn định kinh tế vĩ mô; khắc phục những tác động tiêu cực của kinh tế thị trường; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh, người tiêu dùng và ổn định đời sống nhân dân.

Luật Giá cũng bảo đảm được tính thống nhất, đồng bộ với các pháp luật liên quan; bảo đảm tính khả thi, minh bạch và thuận tiện cho tổ chức thực hiện.

  Sau Luật Giá, các Nghị định hướng dẫn cũng lần lượt được ban hành:

– Nghị định số 89/2013/NĐ-CP ngày 06/8/2013 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Giá về thẩm định giá (có hiệu lực thi hành kể từ ngày 25/9/2013).

– Nghị định số 177/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Giá (có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2014).

  Bộ Tài chính hiện đang xây dựng các thông tư hướng dẫn các Nghị định nói trên.

Như vậy, về cơ bản, hệ thống văn bản pháp luật về giá đã được xây dựng tương đối hoàn thiện, các điều khoản Luật giao Chính phủ hướng dẫn đã được cụ thể tại Nghị định, bước đầu đã hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về giá cho thời kỳ nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Bên cạnh đó, hệ thống văn bản hướng dẫn xử phạt vi phạm hành chính được ban hành đã tạo thuận lợi cho cơ quan có thẩm quyền có đủ cơ sở pháp lý để tiến hành xử phạt các hành vi vi phạm pháp luật, trong đó bao gồm những hành vi vi pháp về lĩnh vực giá, góp phần đảm bảo trật tự, kỷ cương cho việc thực thi các quy định quản lý Nhà nước trong lĩnh vực giá. Chính phủ đã ban hành Nghị định số 109/2013/NĐ-CP ngày 24/9/2013 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giá, phí, lệ phí, hóa đơn, trong đó có 17 Điều (từ Điều 5 đến Điều 21) quy định về xử phạt các hành vi vi phạm hành chính, hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả về giá, thẩm định giá (có hiệu lực thi hành từ ngày 09/11/2013). Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 31/2014/NĐ-CP ngày 7/3/2014 hướng dẫn xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý giá tại Nghị định số 109/2013/NĐ-CP (có hiệu lực thi hành từ ngày 18/5/2014).

9.2.2. Các quy định cụ thể về quản lý và điều hành giá

Trên cơ sở các quy định về quản lý và điều hành giá nói trên, việc quản lý, điều hành giá của Nhà nước được thực hiện thông qua các cơ chế sau:

9.2.2.1. Công khai thông tin về giá

Trong cơ chế kinh tế thị trường thì thông tin về giá có vai trò rất quan trọng, nó ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định đầu tư, sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp cũng như quyết định mua của người tiêu dùng. Nó là cơ sở để thúc đẩy cạnh tranh nhằm hạ giá bán sản phẩm giữa các nhà sản xuất, là cơ sở để người tiêu dùng lựa chọn sản phẩm có mức giá tốt nhất. Đối với cơ quan quản lý nhà nước về giá thì nó là cơ sở để đưa ra các biện pháp điều hành giá đúng đắn nhằm khắc phục các khuyết tật của cơ chế thị trường.

Điều 6 Luật Giá đã quy định nghĩa vụ công khai thông tin về giá không chỉ đối với tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh, cơ quan thông tin truyền thông mà đối với cả cơ quan quản lý nhà nước cụ thể như sau:

– Cơ quan nhà nước thực hiện công khai chủ trương, chính sách, biện pháp quản lý, điều tiết, quyết định về giá của Nhà nước bằng một hoặc một số hình thức như họp báo, đăng tải trên phương tiện thông tin đại chúng hoặc hình thức thích hợp khác.

– Tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ thực hiện công khai thông tin về giá hàng hóa, dịch vụ gắn với thông số kinh tế – kỹ thuật cơ bản của hàng hóa, dịch vụ đó bằng hình thức niêm yết giá. Đối với hàng hóa, dịch vụ thuộc Danh mục hàng hóa, dịch vụ thực hiện bình ổn giá, Danh mục hàng hóa, dịch vụ do Nhà nước định giá, tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh lựa chọn thêm một hoặc một số hình thức như họp báo, đăng tải trên phương tiện thông tin đại chúng hoặc hình thức thích hợp khác.

– Cơ quan thông tin, truyền thông có trách nhiệm đưa tin về giá chính xác, khách quan, trung thực và chịu trách nhiệm về việc đưa tin theo quy định của pháp luật.

Nghị định số 109/2013/NĐ-CP quy định xử phạt đối với hành vi vi phạm quy định về công khai thông tin về giá hàng hóa, dịch vụ, bao gồm các hình thức xử phạt từ cảnh cáo đến phạt tiền (tối đa từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng).

9.2.2.2. Quyền, nghĩa vụ của tổ chức cá nhân sản xuất kinh doanh

Cơ chế thị trường nhấn mạnh quyền tự do quyết định giá của tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, để các quyết định này là đúng đắn, phù hợp với các quy luật kinh tế khách quan thì cần thiết phải quy định về quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh trong lĩnh vực giá. Các quy định này là cơ sở để các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh nhận thức được quyền và nghĩa vụ của mình để chủ động trong việc định giá hàng hóa, dịch vụ do mình sản xuất, kinh doanh; cũng như là cơ sở để cơ quan quản lý nhà nước tổ chức kiểm tra, xử lý các hành vi vi phạm.

a. Quyền của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh (Điều 11 Luật Giá) bao gồm:

– Tự định giá hàng hóa, dịch vụ do mình sản xuất, kinh doanh, trừ hàng hóa, dịch vụ thuộc Danh mục hàng hóa, dịch vụ do Nhà nước định giá;

– Quyết định giá mua, giá bán hàng hóa, dịch vụ do mình sản xuất, kinh doanh mà Nhà nước quy định khung giá, giá tối đa, giá tối thiểu;

– Đấu thầu, đấu giá, thoả thuận giá, hiệp thương giá và cạnh tranh về giá dưới các hình thức khác theo quy định của pháp luật khi mua, bán hàng hoá, dịch vụ;

– Áp dụng nguyên tắc, căn cứ, phương pháp định giá do Nhà nước quy định để định giá hàng hóa, dịch vụ;

– Điều chỉnh giá hàng hóa, dịch vụ do mình sản xuất, kinh doanh phù hợp với biến động của yếu tố hình thành giá;

– Hạ giá bán hàng hóa, dịch vụ mà không bị coi là vi phạm pháp luật về cạnh tranh và pháp luật chống bán phá giá hàng nhập khẩu, đồng thời phải niêm yết công khai tại nơi giao dịch về mức giá cũ, mức giá mới, thời hạn hạ giá đối với các trường hợp: Hàng tươi sống; Hàng hóa tồn kho; Hàng hóa, dịch vụ theo mùa vụ; Hàng hóa, dịch vụ để khuyến mại theo quy định của pháp luật; Hàng hóa, dịch vụ trong trường hợp doanh nghiệp phá sản, giải thể; thay đổi địa điểm, ngành nghề sản xuất, kinh doanh; Hàng hóa, dịch vụ khi thực hiện chính sách bình ổn giá của Nhà nước;

– Kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền điều chỉnh giá hàng hóa, dịch vụ do mình sản xuất, kinh doanh thuộc Danh mục hàng hóa, dịch vụ do Nhà nước định giá;

– Tiếp cận thông tin về chính sách giá của Nhà nước; các biện pháp quản lý, điều tiết giá của Nhà nước và các thông tin công khai khác;

– Khiếu nại, tố cáo hoặc khởi kiện hành vi có dấu hiệu vi phạm pháp luật về giá; yêu cầu tổ chức, cá nhân bồi thường thiệt hại do hành vi vi phạm pháp luật về giá theo quy định của pháp luật.

b. Nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh (Điều 12 Luật Giá) bao gồm:

– Lập phương án giá hàng hoá, dịch vụ do mình sản xuất, kinh doanh thuộc Danh mục hàng hóa, dịch vụ do Nhà nước định giá trình cơ quan có thẩm quyền quyết định;

– Chấp hành quyết định về giá, biện pháp bình ổn giá của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;

– Đăng ký giá bán hoặc giá mua đối với hàng hóa, dịch vụ thuộc diện phải đăng ký giá và chịu trách nhiệm về tính chính xác của mức giá đã đăng ký theo quy định của pháp luật;

– Kê khai giá bán hoặc giá mua hàng hóa, dịch vụ và chịu trách nhiệm về tính chính xác của mức giá đã kê khai đối với hàng hóa, dịch vụ thuộc diện phải kê khai giá theo quy định của Chính phủ;

– Niêm yết giá: Đối với hàng hóa, dịch vụ do Nhà nước định giá thì tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh phải niêm yết đúng giá do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định và mua, bán đúng giá niêm yết; Đối với hàng hóa, dịch vụ không thuộc Danh mục hàng hóa, dịch vụ do Nhà nước định giá thì niêm yết theo giá do tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh quyết định và không được mua, bán cao hơn giá niêm yết;

– Công khai thông tin về giá hàng hóa, dịch vụ thuộc thẩm quyền định giá của mình; Cung cấp kịp thời, chính xác, đầy đủ số liệu, tài liệu có liên quan theo yêu cầu bằng văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong trường hợp Nhà nước định giá, áp dụng biện pháp bình ổn giá đối với hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh;

– Giải quyết kịp thời mọi khiếu nại về giá hàng hoá, dịch vụ do mình sản xuất, kinh doanh. Bồi thường thiệt hại do hành vi vi phạm pháp luật về giá theo quy định của pháp luật.

9.2.2.3. Hoạt động điều tiết giá của Nhà nước

Trước đây, Pháp lệnh Giá quy định là: “Điều hành giá của Nhà nước” nhưng Luật Giá thay bằng “Hoạt động điều tiết giá của Nhà nước”. Sở dĩ như vậy là vì: điều hành với nội dung của nó là chỉ huy, chỉ đạo nên mang nặng tính hành chính và phạm vi tác động đến thị trường hẹp hơn “Hoạt động điều tiết”.

“Hoạt động điều tiết giá của Nhà nước” được hiểu là Nhà nước áp dụng các biện pháp phù hợp tác động để làm cho giá cả vận động phù hợp với quy luật để đạt được mục tiêu đề ra. Đồng thời, sử dụng cụm từ “Hoạt động điều tiết” cũng phù hợp với Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI.

Hoạt động điều tiết giá của Nhà nước bao gồm các nội dung như: bình ổn giá, định giá, hiệp thương giá, kiểm tra yếu tố hình thành giá. Các nội dung như: chống bán phá giá, kiểm soát giá độc quyền trước đây Pháp lệnh Giá có quy định, nhưng Luật Giá không quy định nữa để tránh chồng chéo với các luật khác như Pháp lệnh Chống bán phá giá hàng nhập khẩu và Luật Cạnh tranh.

9.2.2.4. Bình ổn giá

Bình ổn giá là việc Nhà nước áp dụng biện pháp thích hợp về điều hòa cung cầu, tài chính, tiền tệ và biện pháp kinh tế, hành chính cần thiết khác để tác động vào sự hình thành và vận động của giá, không để giá hàng hóa, dịch vụ tăng quá cao hoặc giảm quá thấp bất hợp lý.

a. Hàng hóa, dịch vụ thực hiện bình ổn giá (Điều 15 Luật Giá và Điều 3 Nghị định số 177/2013/NĐ-CP)

Trong cơ chế thị trường, không phải tất cả mọi hàng hóa, dịch vụ Nhà nước đều bình ổn giá. Nhà nước chỉ thực hiện bình ổn giá đối với hàng hóa, dịch vụ thiết yếu cho sản xuất, đời sống bao gồm: Nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu và dịch vụ chính cho sản xuất và lưu thông và hàng hóa, dịch vụ đáp ứng nhu cầu cơ bản của con người cụ thể là:

– Xăng, dầu thành phẩm tiêu thụ nội địa ở nhiệt độ thực tế bao gồm: xăng động cơ (không bao gồm xăng máy bay), dầu hỏa, dầu điêzen, dầu mazut;

– Điện bán lẻ;

– Khí dầu mỏ hóa lỏng (LPG);

– Phân đạm urê; phân NPK;

– Thuốc bảo vệ thực vật, bao gồm: thuốc trừ sâu, thuốc trừ bệnh, thuốc trừ cỏ;

– Vac-xin phòng bệnh cho gia súc, gia cầm;

– Muối ăn;

– Sữa dành cho trẻ em dưới 06 tuổi;

– Đường ăn, bao gồm đường trắng và đường tinh luyện;

– Thóc, gạo tẻ thường;

– Thuốc phòng bệnh, chữa bệnh cho người thuộc danh mục thuốc chữa bệnh thiết yếu sử dụng tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.

b. Trường hợp thực hiện bình ổn giá (Điều 16 và 17 Luật Giá và Điều 4 Nghị định số 177/2013/NĐ-CP)

Khi giá hàng hóa, dịch vụ trên có biến động bất thường hoặc khi mặt bằng giá biến động ảnh hưởng đến ổn định kinh tế – xã hội thì Nhà nước sẽ áp dụng một hoặc một số biện pháp để bình ổn giá thị trường.

Các biện pháp được sử dụng chủ yếu là các biện pháp kinh tế để tác động vào cung – cầu giá cả thị trường cụ thể như sau:

– Điều hòa cung cầu hàng hoá sản xuất trong nước và hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu; hàng hoá giữa các vùng, các địa phương trong nước thông qua việc tổ chức lưu thông hàng hóa; mua vào hoặc bán ra hàng dự trữ quốc gia, hàng dự trữ lưu thông;

– Sử dụng các biện pháp về tài chính, tiền tệ phù hợp với quy định của pháp luật;

– Trong trường hợp cần thiết, lập quỹ bình ổn giá đối với mặt hàng cần bình ổn giá thuộc Danh mục hàng hóa, dịch vụ thực hiện bình ổn giá nhằm mục tiêu hỗ trợ cho bình ổn giá; sử dụng quỹ bình ổn giá khi giá của hàng hóa, dịch vụ đó biến động bất thường hoặc tác động xấu đến nền kinh tế và đời sống;

– Đăng ký giá đối với hàng hóa, dịch vụ thuộc diện bình ổn giá;

– Kiểm tra yếu tố hình thành giá; kiểm soát hàng hoá tồn kho; kiểm tra số lượng, khối lượng hàng hóa hiện có;

– Áp dụng biện pháp hỗ trợ về giá phù hợp với quy định của pháp luật và cam kết quốc tế;

– Định giá cụ thể, giá tối đa, giá tối thiểu hoặc khung giá.

c. Xử phạt hành vi vi phạm quy định về bình ổn giá

 Điều 5 Nghị định số 109/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm quy định về bình ổn giá, cụ thể:

– Mức thấp nhất là phạt cảnh cáo đối với hành vi chậm báo cáo trong thời hạn dưới 05 ngày làm việc so với yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền để phục vụ công tác bình ổn giá.

– Mức cao nhất là Phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng đối với hành vi không trích lập Quỹ bình ổn giá.

Ngoài ra, Nghị định cũng quy định các biện pháp khắc phục hậu quả, như buộc nộp vào Quỹ bình ổn giá toàn bộ số tiền do sử dụng không đúng Quỹ bình ổn giá hoặc do trích lập không đúng hoặc không trích lập Quỹ bình ổn giá.

9.2.2.5. Định giá của Nhà nước

a. Hàng hóa, dịch vụ do Nhà nước định giá (Điều 19 Luật Giá)

Do yêu cầu khách quan để khắc phục những khuyết tật của thị trường (như độc quyền, các hàng hóa, dịch vụ chưa có thị trường…), Nhà nước thực hiện can thiệp trực tiếp vào giá cả ở mức độ nhất định (quy định trực tiếp giá cả bằng những hình thức thích hợp). Nhà nước thực hiện quyền quyết định giá đối với:

– Hàng hóa, dịch vụ thuộc lĩnh vực độc quyền nhà nước sản xuất, kinh doanh;

– Tài nguyên quan trọng;

– Hàng dự trữ quốc gia; sản phẩm, dịch vụ công ích và dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước.

Các hình thức định giá gồm: định mức giá cụ thể; định khung giá; định mức giá tối đa, mức giá tối thiểu phù hợp với đặc thù và mức độ phát triển thị trường của từng hàng hóa, dịch vụ.

Nguyên tắc định giá của Nhà nước là phải: Bảo đảm bù đắp chi phí sản xuất, kinh doanh thực tế hợp lý, có lợi nhuận phù hợp với mặt bằng giá thị trường và chủ trương, chính sách phát triển kinh tế – xã hội của Nhà nước trong từng thời kỳ; Kịp thời điều chỉnh giá khi các yếu tố hình thành giá thay đổi.

b. Thẩm quyền và trách nhiệm định giá (Điều 22 Luật Giá và Điều 8 Nghị định số 177/2013/NĐ-CP)

Theo quy định của Luật Giá và Nghị định số 177/2013/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Giá thì người có thẩm quyền định giá hàng hóa, dich vụ do Nhà nước định giá bao gồm: Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Cụ thể như sau:

* Chính phủ quy định: Khung giá đất; Khung giá cho thuê mặt nước; Khung giá cho thuê, thuê mua nhà ở xã hội, nhà ở công vụ.

* Thủ tướng Chính phủ quy định khung giá của mức giá bán lẻ điện bình quân, cơ chế điều chỉnh giá và cơ cấu biểu giá bán lẻ điện.

* Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định:

– Giá cụ thể đối với các dịch vụ hàng không bao gồm: Dịch vụ cất cánh, hạ cánh; điều hành bay đi, đến; hỗ trợ hoạt động bay; soi chiếu an ninh;

– Khung giá đối với: Dịch vụ vận chuyển hàng không nội địa tuyến độc quyền; dịch vụ độc quyền nhà nước tại cảng hàng không sân bay theo quy định tại Luật Hàng không dân dụng Việt Nam; nước sạch sinh hoạt;

– Giá mua tối đa, giá bán tối thiểu hàng dự trữ quốc gia (trừ hàng dự trữ quốc gia trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh); định mức chi phí nhập, chi phí xuất tại cửa kho dự trữ quốc gia và chi phí xuất tối đa ngoài cửa kho, chi phí bảo quản hàng dự trữ quốc gia;

– Giá mua tối đa sản phẩm, dịch vụ công ích và dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách trung ương (trừ sản phẩm, dịch vụ thuộc thẩm quyền định giá của các Bộ, ngành khác và của Ủy ban nhân dân tỉnh) được cơ quan nhà nước có thẩm quyền đặt hàng, giao kế hoạch;

– Giá mua tối đa hàng hóa, dịch vụ được Thủ tướng Chính phủ đặt hàng, giao kế hoạch sản xuất, kinh doanh sử dụng ngân sách trung ương;

– Giá bán tối thiểu đối với sản phẩm thuốc lá điếu sản xuất trong nước;

– Giá tối đa hoặc giá tối thiểu đối với giá cho thuê tài sản nhà nước là công trình kết cấu hạ tầng phục vụ lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng;

* Bộ trưởng Bộ Công Thương quy định:

– Giá cụ thể đối với giá truyền tải điện, giá dịch vụ phụ trợ hệ thống điện;

– Khung giá đối với giá phát điện, giá bán buôn điện;

* Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định: Khung giá rừng bao gồm rừng sản xuất, rừng phòng hộ và rừng đặc dụng thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước làm đại diện chủ sở hữu;

* Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông quy định: Giá sản phẩm, dịch vụ bưu chính, viễn thông bao gồm cả dịch vụ bưu chính, viễn thông công ích theo quy định của pháp luật về bưu chính, viễn thông;

* Bộ trưởng Bộ Y tế quy định: Giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh theo quy định của pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh; giá thuốc do ngân sách nhà nước và bảo hiểm y tế chi trả theo quy định của pháp luật về dược;

* Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải quy định: Giá sản phẩm, dịch vụ công ích trong lĩnh vực quản lý, bảo trì đường sắt quốc gia, đường bộ, đường thủy nội địa thực hiện theo phương thức Nhà nước đặt hàng hoặc giao kế hoạch sử dụng nguồn ngân sách trung ương;

* Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định:

– Giá sản phẩm, dịch vụ công ích phục vụ quốc phòng do các doanh nghiệp, đơn vị thuộc Bộ Quốc phòng sản xuất, cung ứng theo đặt hàng, giao kế hoạch, chỉ định thầu được thanh toán bằng nguồn ngân sách nhà nước;

– Giá hàng hóa, dịch vụ quốc phòng do Bộ Quốc phòng đặt hàng tại các doanh nghiệp theo kế hoạch của Chính phủ thanh toán bằng ngân sách nhà nước; Giá hàng dự trữ quốc gia về quốc phòng;

* Bộ trưởng Bộ Công an quy định:

– Giá hàng hóa, dịch vụ phục vụ an ninh chính trị, trật tự xã hội do các doanh nghiệp an ninh thuộc Bộ Công an sản xuất, cung ứng theo đặt hàng, giao kế hoạch, chỉ định thầu của Bộ được thanh toán bằng nguồn ngân sách nhà nước;

– Giá hàng dự trữ quốc gia về an ninh chính trị, trật tự xã hội;

* Bộ trưởng các Bộ quy định giá cụ thể đối với hàng dự trữ quốc gia, sản phẩm, dịch vụ công ích và dịch vụ sự nghiệp công, hàng hóa, dịch vụ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền đặt hàng, giao kế hoạch sử dụng ngân sách nhà nước thuộc phạm vi quản lý của Bộ mà Bộ Tài chính quy định khung giá, giá tối đa, giá tối thiểu; định giá cho thuê, thuê mua nhà ở xã hội, nhà ở công vụ được đầu tư xây dựng từ ngân sách nhà nước; giá bán hoặc giá cho thuê nhà ở thuộc sở hữu nhà nước theo quy định của pháp luật về nhà ở;

* Bộ trưởng các Bộ quy định giá hàng hóa, dịch vụ khác theo quy định của pháp luật chuyên ngành.

* Thủ trưởng cơ quan, đơn vị có thẩm quyền thực hiện quy định giá cụ thể hàng hóa, dịch vụ mà Nhà nước quy định khung giá, giá tối đa, giá tối thiểu.

* Ủy ban nhân dân tỉnh quy định:

– Giá các loại đất;

– Giá cho thuê đất, thuê mặt nước;

– Giá rừng bao gồm rừng sản xuất, rừng phòng hộ và rừng đặc dụng thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước làm đại diện chủ sở hữu;

– Giá cho thuê, thuê mua nhà ở xã hội, nhà ở công vụ được đầu tư xây dựng từ ngân sách nhà nước; giá bán hoặc giá cho thuê nhà ở thuộc sở hữu nhà nước theo quy định của pháp luật về nhà ở;

– Giá nước sạch sinh hoạt;

– Giá cho thuê tài sản Nhà nước là công trình kết cấu hạ tầng đầu tư từ nguồn ngân sách địa phương;

– Giá sản phẩm, dịch vụ công ích, dịch vụ sự nghiệp công và hàng hóa, dịch vụ được địa phương đặt hàng, giao kế hoạch sản xuất, kinh doanh sử dụng ngân sách địa phương theo quy định của pháp luật;

– Giá dịch vụ giáo dục, đào tạo áp dụng đối với cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông công lập thuộc tỉnh;

– Giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của Nhà nước thuộc phạm vi quản lý của địa phương;

– Mức trợ giá, trợ cước vận chuyển hàng hóa thuộc danh mục được trợ giá, trợ cước vận chuyển chi từ ngân sách địa phương và trung ương; mức giá hoặc khung giá bán lẻ hàng hóa được trợ giá, trợ cước vận chuyển; giá cước vận chuyển cung ứng hàng hóa, dịch vụ thiết yếu thuộc danh mục được trợ giá phục vụ đồng bào miền núi, vùng sâu, vùng xa và hải đảo;

– Giá hàng hóa, dịch vụ khác theo quy định của pháp luật chuyên ngành.

Chính phủ cũng đã quy định cụ thể về trình tự, thời hạn trình và thẩm định phương án giá đối với các hàng hóa, dịch vụ do Nhà nước quyết định giá.

c. Xử phạt hành vi vi phạm quy định về định giá

Điều 8 Nghị định số 109/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi không chấp hành đúng giá do cơ quan, người có thẩm quyền quy định, cụ thể:

– Mức thấp nhất là phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với hành vi bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ không đúng với mức giá do cơ quan, người có thẩm quyền quyết định.

– Mức cao nhất là phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng đối với hành vi bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ không đúng với mức giá cụ thể hoặc không nằm trong khung giá hoặc cao hơn mức giá tối đa hoặc thấp hơn mức giá tối thiểu do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ quyết định.

Biện pháp khắc phục hậu quả là Buộc trả lại cho khách hàng toàn bộ tiền chênh lệch do bán cao hơn mức giá do cơ quan, người có thẩm quyền quy định, trong trường hợp khó hoặc không xác định được khách hàng để trả lại thì nộp vào ngân sách nhà nước.

Đối với hành vi vi phạm quy định về lập phương án giá hàng hóa, dịch vụ, Điều 9 Nghị định số 109/2013/NĐ-CP quy định:

“1. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi lập phương án giá hàng hóa, dịch vụ không đúng với hướng dẫn về phương pháp định giá do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành.

2. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với hành vi không lập phương án giá hàng hóa, dịch vụ theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.”

9.2.2.6. Hiệp thương giá

Hiệp thương giá là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền tổ chức và làm trung gian cho bên mua và bên bán thương lượng về mức giá mua, giá bán hàng hoá, dịch vụ thỏa mãn điều kiện hiệp thương giá theo đề nghị của một trong hai bên hoặc cả hai bên mua, bán hoặc khi có yêu cầu của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong trường hợp bên mua và bên bán không thống nhất được về mức giá.

Điều 23 Luật Giá quy định hiệp thương giá chỉ được thực hiện đối với hàng hóa, dịch vụ đáp ứng các điều kiện sau: (i) Hàng hoá, dịch vụ không thuộc Danh mục hàng hóa, dịch vụ do Nhà nước định giá; (ii) Hàng hoá, dịch vụ quan trọng được sản xuất, kinh doanh trong điều kiện đặc thù hoặc có thị trường cạnh tranh hạn chế; có tính chất độc quyền mua hoặc độc quyền bán hoặc bên mua, bên bán phụ thuộc nhau không thể thay thế được.

Thực tế, trong những năm qua theo yêu cầu của Thủ tướng Chính phủ, các doanh nghiệp, Bộ Tài chính đã tổ chức hiệp thương giá đối với một số hàng hóa, dịch vụ sau:

– Than bán cho 4 hộ tiêu dùng lớn (điện, xi măng, phân bón, giấy).

– Cước vận chuyển than cho sản xuất điện bằng đường sông.

– Vật liệu nổ công nghiệp bán cho khai thác khoáng sản.

– Phí tra nạp nhiên liệu cho máy bay.

Theo quy định của pháp luật hiện hành (Điều 24 Luật Giá) thì có hai cơ quan có thẩm quyền tổ chức hiệp thương giá bao gồm: Bộ Tài chính và Sở Tài chính các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Cụ thể như sau: Bộ Tài chính chủ trì tổ chức hiệp thương giá theo yêu cầu của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ; Sở Tài chính chủ trì tổ chức hiệp thương giá theo yêu cầu của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh hoặc khi có đề nghị của bên mua hoặc bên bán hoặc cả hai bên mua và bán có trụ sở đóng trên địa bàn. Trường hợp bên mua và bên bán có trụ sở đóng tại hai tỉnh khác nhau cùng đề nghị hiệp thương thì hai bên thống nhất đề nghị một trong hai Sở Tài chính chủ trì hiệp thương; trường hợp không thống nhất được thì Sở Tài chính nơi bên bán đóng trụ sở chủ trì hiệp thương.

Sau khi tổ chức hiệp thương giá, nếu các bên thống nhất được mức giá thì cơ quan tổ chức hiệp thương giá thông báo bằng văn bản về mức giá  được thỏa thuận cho các bên sau khi hiệp thương. Trường hợp đã tổ chức hiệp thương giá nhưng các bên chưa thống nhất được mức giá thì cơ quan tổ chức hiệp thương giá quyết định giá tạm thời để hai bên thi hành. Quyết định giá tạm thời này có hiệu lực thi hành tối đa là 06 tháng. Trong thời gian thi hành quyết định giá tạm thời, các bên tiếp tục thương thảo về giá. Nếu các bên thống nhất được giá thì thực hiện theo giá đã thống nhất và có trách nhiệm báo cáo cơ quan tổ chức hiệp thương biết giá đã thống nhất, thời gian thực hiện. Hết thời hạn 06 tháng, nếu các bên không thỏa thuận được giá thì cơ quan có thẩm quyền tổ chức hiệp thương giá lần hai. Nếu các bên vẫn không đạt được thỏa thuận về giá thì quyết định giá tạm thời vẫn tiếp tục có hiệu lực thi hành cho đến khi đạt được thỏa thuận về mức giá (Điều 25 Luật Giá).

Về xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm quy định về hiệp thương giá, Điều 7 Nghị định số 109/2013/NĐ-CP quy định phạt tiền đến đến 50.000.000 đồng đối với hành vi không thực hiện hiệp thương giá theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền.

9.2.2.7. Kiểm tra yếu tố hình thành giá

Yếu tố hình thành giá là giá thành toàn bộ thực tế hợp lý tương ứng với chất lượng hàng hóa, dịch vụ; lợi nhuận (nếu có); các nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật; giá trị vô hình của thương hiệu. Trong đó, giá thành toàn bộ của hàng hoá, dịch vụ là giá thành tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ, bao gồm: Giá thành sản xuất hàng hóa, dịch vụ; giá mua hàng hoá, dịch vụ đối với tổ chức, cá nhân hoạt động thương mại; Chi phí lưu thông để đưa hàng hoá, dịch vụ đến người tiêu dùng.

Kiểm tra yếu tố hình thành giá là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiểm tra yếu tố hình thành giá yêu cầu tổ chức, cá nhân cung cấp các tài liệu cần thiết phục vụ kiểm tra yếu tố hình thành giá.

Các tài liệu phục vụ cho kiểm tra yếu tố hình thành giá bao gồm:

– Phương án tính giá hàng hoá, dịch vụ được lập theo phương pháp định giá chung do Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định và hướng dẫn phương pháp định giá với từng lĩnh vực cụ thể do cơ quan có thẩm quyền ban hành hoặc theo phương pháp định giá phù hợp do doanh nghiệp tự thực hiện;

– Các tài liệu, sổ sách, chứng từ phục vụ việc lập phương án giá;

– Bảng định mức kinh tế kỹ thuật mà tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh đang áp dụng để xác định giá thành của hàng hóa, dịch vụ;

– Tình hình lưu chuyển hàng hoá (tồn kho đầu năm, đầu quý, đầu tháng; nhập và xuất trong năm, trong quý, trong tháng; tồn kho cuối năm, cuối quý, cuối tháng) và cung ứng dịch vụ;

– Báo cáo tài chính có kiểm toán của năm liên quan đến việc kiểm tra các yếu tố hình thành giá và các tài liệu cần thiết khác.

Trên cơ sở các tài liệu mà tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh cung cấp, kết hợp với hoạt động kiểm tra, đối chiếu thực tế tại doanh nghiệp, cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ tính toán và đưa ra kết luận về mức giá hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh. Trường hợp mức giá hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân không hợp lý, cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ yêu cầu các tổ chức, cá nhân này đình chỉ việc tăng hoặc giảm giá, đồng thời điều chỉnh mức giá về mức giá đã được cơ quan có thẩm quyền tính toán.

Cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện kiểm tra yếu tố hình thành giá đối với hàng hóa, dịch vụ do Nhà nước định giá, hàng hóa, dịch vụ thực hiện bình ổn giá hoặc một số hàng hoá, dịch vụ khác khi giá có biến động bất thường theo yêu cầu của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định bình ổn giá, định giá hoặc khi giá có biến động bất thường và theo yêu cầu của Thủ tướng Chính phủ; Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh.

Cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện kiểm tra yếu tố hình thành giá bao gồm: Bộ Tài chính, các bộ, cơ quan ngang bộ và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Điều 27 Luật Giá quy định:

– Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh kiểm tra yếu tố hình thành giá đối với: (i) Hàng hoá, dịch vụ thuộc thẩm quyền định giá của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Tài chín; và (ii) Hàng hoá, dịch vụ thuộc Danh mục hàng hóa, dịch vụ thực hiện bình ổn giá.

– Các bộ, cơ quan ngang bộ chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh kiểm tra yếu tố hình thành giá đối với hàng hoá, dịch vụ thuộc thẩm quyền định giá của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ.

– Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh kiểm tra yếu tố hình thành giá đối với: (i) Hàng hoá, dịch vụ thuộc thẩm quyền định giá của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh; và (ii) Hàng hoá, dịch vụ thuộc Danh mục hàng hóa, dịch vụ thực hiện bình ổn giá của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh trên địa bàn.  

9.2.2.8. Kê khai giá

Kê khai giá là một biện pháp quản lý giá của nhà nước, theo đó tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có nghĩa vụ gửi thông báo mức giá hàng hóa, dịch vụ cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi định giá, điều chỉnh giá và phải chịu trách nhiệm về tính chính xác của mức giá đã kê khai đối với hàng hóa, dịch vụ thuộc diện phải kê khai giá.

a. Hàng hóa, dịch vụ thuộc diện kê khai giá (Điều 15 Nghị định số 177/2013/NĐ-CP) bao gồm:

– Hàng hóa, dịch vụ thuộc Danh mục hàng hóa, dịch vụ thực hiện bình ổn giá trong thời gian Nhà nước không áp dụng biện pháp đăng ký giá;

– Xi măng, thép xây dựng;

– Than;

– Thức ăn chăn nuôi cho gia súc, gia cầm và thủy sản; thuốc tiêu độc, sát trùng, tẩy trùng, trị bệnh cho gia súc, gia cầm và thủy sản;

– Giấy in, viết (dạng cuộn), giấy in báo sản xuất trong nước;

– Giá dịch vụ tại cảng biển, giá dịch vụ hàng không tại cảng hàng không sân bay;

– Cước vận chuyển hành khách bằng đường sắt loại ghế ngồi cứng;

– Sách giáo khoa;

– Giá vé máy bay trên các đường bay nội địa không thuộc danh mục Nhà nước quy định khung giá;

– Dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh cho người tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tư nhân; khám bệnh, chữa bệnh theo yêu cầu tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của nhà nước;

– Cước vận tải hành khách tuyến cố định bằng đường bộ; cước vận tải hành khách bằng taxi;

– Thực phẩm chức năng cho trẻ em dưới 06 tuổi theo quy định của Bộ Y tế và một số hàng hóa, dịch vụ khác theo quy định của pháp luật chuyên ngành.

Căn cứ vào tình hình thực tế, Bộ Tài chính chủ trì phối hợp với Bộ, ngành liên quan trình Thủ tướng Chính phủ quyết định điều chỉnh danh mục hàng hóa, dịch vụ kê khai giá trừ hàng hóa, dịch vụ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 15 Nghị định số 177/2013/NĐ-CP. Căn cứ vào tình hình thực tế tại địa phương, Sở Tài chính chủ trì phối hợp với cơ quan chức năng trình Ủy ban nhân dân tỉnh bổ sung một số hàng hóa, dịch vụ đặc thù thực hiện kê khai giá tại địa phương (nếu có).

b. Tổ chức thực hiện kê khai giá (Điều 16 Nghị định số 177/2013/NĐ-CP)

Tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ thuộc diện kê khai giá thực hiện kê khai giá bằng việc gửi thông báo mức giá kê khai đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiếp nhận thông báo kê khai giá trước khi định giá, điều chỉnh giá ít nhất 05 ngày. Cụ thể như sau:

– Trường hợp tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh chỉ thực hiện bán buôn thì kê khai giá bán buôn;

– Trường hợp tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh vừa thực hiện bán buôn, vừa thực hiện bán lẻ thì kê khai cả giá bán buôn và giá bán lẻ;

– Trường hợp tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh là đơn vị nhập khẩu, đồng thời là nhà phân phối độc quyền thì kê khai giá bán buôn và giá bán lẻ dự kiến (nếu có);

– Trường hợp tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh là nhà phân phối độc quyền thì kê khai giá bán buôn, giá bán lẻ hoặc giá bán lẻ dự kiến; tổng đại lý có quyền quyết định giá và điều chỉnh giá thì kê khai giá bán buôn, giá bán lẻ hoặc giá bán lẻ dự kiến; đại lý có quyền quyết định giá và điều chỉnh giá thì thực hiện kê khai giá bán lẻ.

Cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiếp nhận văn bản kê khai giá được quy định thống nhất từ trung ương đến địa phương để bảo đảm thuận lợi cho việc theo dõi tình hình giá cả thị trường, cụ thể:

– Ở trung ương thì Bộ Tài chính thực hiện tiếp nhận văn bản kê khai giá đối với hầu hết hàng hóa, dịch vụ trừ mặt hàng thuốc phòng, chữa bệnh cho người và dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh cho người cho người thuộc thẩm quyền tiếp nhận của Bộ Y tế.

– Ở địa phương là Sở Tài chính và các Sở quản lý ngành; Ủy ban nhân dân cấp huyện theo phân công của Ủy ban nhân dân tỉnh thực hiện tiếp nhận văn bản kê khai giá trên địa bàn địa phương;

Danh mục hàng hóa, dịch vụ thực hiện bình ổn giá là một phần của danh mục hàng hóa, dịch vụ thuộc diện kê khai giá. Do đó, trong thời gian Nhà nước áp dụng biện pháp đăng ký giá để bình ổn giá, tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ thuộc Danh mục bình ổn giá không thực hiện kê khai giá mà thực hiện đăng ký giá theo quy định tại Điều 6 Nghị định này. Hết thời gian Nhà nước áp dụng biện pháp đăng ký giá, trước khi điều chỉnh giá tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ thuộc Danh mục bình ổn giá tiếp tục thực hiện kê khai giá theo quy định.

Bộ Tài chính thông báo tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực hiện kê khai giá ở trung ương; quy định mẫu văn bản kê khai giá và quy trình tiếp nhận, rà soát văn bản kê khai giá. Trên cơ sở danh sách tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh thực hiện kê khai giá tại Bộ Tài chính, Ủy ban nhân dân tỉnh chỉ đạo các cơ quan của tỉnh rà soát tại địa phương và thông báo tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực hiện kê khai giá ở địa phương. Đối với dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh cho người tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tư nhân; khám bệnh, chữa bệnh theo yêu cầu tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của nhà nước, việc kê khai giá thực hiện theo hướng dẫn của Bộ Y tế.

Bên cạnh khái niệm về kê khai giá theo quy định của pháp luật về giá, một số pháp luật chuyên ngành cũng sử dụng khái niệm kê khai giá như pháp luật về dược, pháp luật về viễn thông với nội hàm là một biện pháp kiểm soát giá. Do đó, để bảo đảm tính thống nhất với hệ thống pháp luật chuyên ngành, pháp luật về giá đã quy định hàng hóa, dịch vụ khác mà pháp luật chuyên ngành có quy định về kê khai giá thì pháp luật về giá thì thực hiện theo quy định của pháp luật chuyên ngành đó.

c. Xử phạt hành vi vi phạm quy định về kê khai giá

Điều 11 Nghị định số 109/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi quy định về đăng ký giá, cụ thể:

– Mức thấp nhất là phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi kê khai giá sai so với mẫu văn bản kê khai giá đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định.

– Mức cao nhất là phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng đối với hành vi không kê khai giá với cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định.

9.2.2.9. Niêm yết giá

Niêm yết giá là việc tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thông báo công khai bằng các hình thức thích hợp, rõ ràng và không gây nhầm lẫn cho khách hàng về mức giá mua, giá bán hàng hóa, dịch vụ bằng Đồng Việt Nam bằng cách in, dán, ghi giá trên bảng, trên giấy hoặc trên bao bì của hàng hóa hoặc bằng hình thức khác tại nơi giao dịch hoặc nơi chào bán hàng hóa, dịch vụ để thuận tiện cho việc quan sát, nhận biết của khách hàng, cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Giá niêm yết là giá hàng hóa, dịch vụ đã bao gồm các loại thuế, phí và lệ phí (nếu có) của hàng hóa, dịch vụ đó.

Đối với hàng hóa, dịch vụ do Nhà nước định giá thì tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh phải niêm yết đúng giá do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định và mua, bán đúng giá niêm yết. Đối với hàng hóa, dịch vụ không thuộc Danh mục hàng hóa, dịch vụ do Nhà nước định giá thì tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực hiện niêm yết theo giá do tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh quyết định và không được mua, bán cao hơn giá niêm yết.

 Niêm yết giá là một nghĩa vụ bắt buộc của tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh, thể hiện văn minh thương mại, khuyến khích cạnh tranh, là cơ sở để người tiêu dùng nhận biết và lựa chọn hàng hóa, dịch vụ có mức giá tốt nhất. Để quy định về niêm yết giá phù hợp với tình hình thực tế thì pháp luật hiện hành cũng quy định về địa điểm phải thực hiện niêm yết giá do việc bắt buộc những người bán hàng rong thực hiện niêm yết giá là rất khó khả thi. Theo đó, tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh ở các địa điểm sau thì phải thực hiện thực hiện niêm yết giá: Cơ sở sản xuất, kinh doanh (có quầy giao dịch và bán sản phẩm); Siêu thị, trung tâm thương mại, chợ theo quy định của pháp luật, cửa hàng, cửa hiệu, ki-ốt, quầy hàng, nơi giao dịch thực hiện việc bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ; Hội chợ triển lãm có bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ và các địa điểm khác theo quy định của pháp luật.

Việc xử phạt các hành vi vi phạm quy định về niêm yết giá nằm trong nội dung xử phạt hành chính đối với các hành vi vi phạm quy định về công khai thông tin về giá hàng hóa, dịch vụ theo Điều 12 Nghị định số 109/2013/NĐ-CP.

9.2.2.10. Cơ sở dữ liệu về giá

Để thực hiện nhiệm vụ quản lý, điều tiết giá của Nhà nước, nhất là công tác dự báo tình hình biến động giá cả thị trường thì vai trò của cơ sở dữ liệu về giá là rất quan trọng. Pháp luật về giá về cơ bản đã xây dựng khung pháp lý để cơ quan quản lý nhà nước về giá tổ chức thực hiện xây dựng cơ sở dữ liệu về giá, cụ thể như sau:

Cơ quan quản lý nhà nước về giá ở trung ương bao gồm Bộ Tài chính và Bộ quản lý ngành, lĩnh vực; ở địa phương là Sở Tài chính các tỉnh có trách nhiệm xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu về giá phục vụ quản lý nhà nước trong lĩnh vực ngành, địa phương. Bộ Tài chính chịu trách nhiệm xây dựng trung tâm cơ sở dữ liệu quốc gia về giá. Trung tâm cơ sở dữ liệu về giá là đầu mối kết nối các hệ thống cơ sở dữ liệu về giá của các Bộ, ngành và địa phương; cung cấp thông tin về giá phục vụ nhiệm vụ quản lý nhà nước và theo yêu cầu của các tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật.

Nội dung cơ sở dữ liệu về giá bao gồm:

– Giá hàng hóa, dịch vụ do Nhà nước định giá;

–  Giá hàng hóa, dịch vụ thuộc danh mục đăng ký giá, kê khai giá;

–  Giá thị trường hàng hóa, dịch vụ thuộc danh mục báo cáo giá thị trường theo quy định của Bộ Tài chính;

– Giá thị trường hàng hóa, dịch vụ cần thiết khác phục vụ công tác dự báo và quản lý nhà nước về giá;

– Thông tin về giá tài sản được thẩm định theo quy định của pháp luật về giá, thẩm định giá;

–  Các thông tin khác phục vụ công tác quản lý giá theo quy định của pháp luật.

Nguồn thông tin phục vụ xây dựng cơ sở dữ liệu được quy định như sau:

– Thông tin do cơ quan quản lý nhà nước về giá tiến hành điều tra, khảo sát, thu thập và do các cơ quan quản lý nhà nước cung cấp;

– Thông tin do cơ quan quản lý nhà nước về giá mua từ các đơn vị, cá nhân cung cấp thông tin;

– Thông tin do tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh cung cấp theo quy định tại khoản 7 Điều 12 của Luật Giá và các trường hợp cần thiết khác phục vụ yêu cầu quản lý của Nhà nước.

9.2.3. Quản lý và điều hành giá đối với một số mặt hàng quan trọng, thiết yếu

Đối với một số mặt hàng quan trọng, thiết yếu đối với sản xuất và đời sống như điện, xăng, dầu, than, nước sinh hoạt thì bên cạnh các cơ chế quản lý giá chung của Luật Giá và văn bản hướng dẫn, các mặt hàng này còn chịu sự điều chỉnh của hệ thống pháp luật chuyên ngành.

9.2.3.1. Đối với mặt hàng điện

Trước đây, theo quy định của Pháp lệnh Giá, điện là mặt hàng độc quyền và do nhà nước quyết định giá. Điều 31 Luật Điện lực số 28/2004/QH11 quy định về giá điện và các loại phí, trong đó: Biểu giá bán lẻ điện do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Cơ quan điều tiết điện lực giúp Bộ trưởng Bộ Công nghiệp xây dựng biểu giá bán lẻ điện trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Khung giá phát điện, bán buôn điện và các loại phí truyền tải điện, phân phối điện, điều độ hệ thống điện, điều hành giao dịch thị trường điện lực, các phí dịch vụ phụ trợ do đơn vị điện lực liên quan xây dựng, cơ quan điều tiết điện lực thẩm định trình Bộ trưởng Bộ Công nghiệp phê duyệt. Giá phát điện, giá bán buôn điện, giá bán lẻ điện theo hợp đồng mua bán điện do các đơn vị điện lực quyết định nhưng không được vượt quá khung giá, biểu giá được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.

Để tiến tới thực hiện giá bán điện theo cơ chế giá thị trường có sự điều tiết của Nhà nước, ngày 15/4/2011, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 24/2011/QĐ-TTg về điều chỉnh giá bán điện theo cơ chế thị trường. Theo đó, trong năm tài chính, giá bán điện chỉ được điều chỉnh khi thông số đầu vào cơ bản biến động so với thông số đã được sử dụng để xác định giá bán điện hiện hành. Các thông số đầu vào khác của giá bán điện được xem xét để điều chỉnh giá bán điện sau khi có báo cáo quyết toán, kiểm toán theo quy định. Thời gian điều chỉnh giá bán điện giữa hai lần liên tiếp tối thiểu là ba tháng. Việc điều chỉnh giá điện ở mức 5% được giao cho Bộ Công Thương quyết định; trên 5% giao Bộ Tài chính thẩm định, Bộ Công Thương thẩm định trình Chính phủ quyết định.

Từ 01/1/2013, khi Luật Giá có hiệu lực, Điện bán lẻ nói chung đã chuyển sang danh mục hàng hóa, dịch vụ thực hiện bình ổn giá. Nhà nước (Bộ trưởng Bộ Công thương) chỉ quy định giá cụ thể đối với giá truyền tải điện, giá dịch vụ phụ trợ hệ thống điện; quy định khung giá đối với giá phát điện, giá bán buôn điện, mức giá bán lẻ điện bình quân (Điều 8 Luật Giá). Bên cạnh đó, để phù hợp với thực tế và chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện lực (có hiệu lực từ 1/7/2013) cũng đã bổ sung thêm quy định “Giá bán điện thực hiện theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước phù hợp với cấp độ phát triển của thị trường điện lực”; đồng thời quy định “Nhà nước hỗ trợ giá bán lẻ điện cho mục đích sinh hoạt đối với hộ nghèo, hộ chính sách xã hội theo tiêu chí do Thủ tướng Chính phủ quy định phù hợp với tình hình kinh tế – xã hội từng thời kỳ”.

Sau hơn 2 năm thực hiện, sau khi Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện lực được ban hành; cùng với Quyết định số 2165/QĐ-TTg ngày 11/11/2013 về khung giá của mức giá bán lẻ điện bình quân; Chính phủ đã ban hành Quyết định số 69/2013/QĐ-TTg ngày 19/11/2013 để phù hợp với tình hình thực tế và các quy định pháp luật hiện hành. Theo đó, cơ chế điều chỉnh giá bán lẻ điện bình quân từ 10/1/2014 có một số điểm mới so với quy định tại Quyết định số 24/2011/QĐ-TTg như sau:

– Giá bán lẻ điện bình quân được điều chỉnh không vượt quá giá tối đa là 1.835 đ/kwh; không thấp hơn giá tối thiểu là 1.437 đ/kwh (chưa bao gồm thuế VAT).

– Phạm vi điều chỉnh và thời gian tối thiểu giữa các lần điều chỉnh đều tăng lên so với Quyết định 24/2011/QĐ-TTg. Theo đó, thay vì mức 5%, giá điện bình quân chỉ được điều chỉnh ở mức 7% so với hiện hành; thời gian tối thiểu giữa các lần điều chỉnh giá điện được tăng lên 6 tháng;

– Thẩm quyền phê duyệt mức điều chỉnh giá bán điện bình quân thay đổi: Từ 7 – 10%: Bộ Công Thương; trên 10%: Bộ Tài chính thẩm định, Bộ Công Thương tổng hợp trình Thủ tướng Chính phủ quyết định.

Nhìn chung trong thời gian qua, với cơ chế tương đối linh hoạt, quy định phân cấp thẩm quyền rõ ràng, việc điều chỉnh giá điện dần dần được quy định theo hướng linh hoạt hơn theo tín hiệu của thị trường (biến động các yếu tố đầu vào) nhưng vẫn đảm bảo sự quản lý của Nhà nước. Các phương án giá điện được kiểm soát chặt chẽ, mức điều chỉnh được cân nhắc để hạn chế tác động đến kinh tế xã hội.

9.2.3.2. Đối với mặt hàng xăng, dầu

Sau khi Nghị định số 84/2009/NĐ-CP ngày 15/10/2009 của Chính phủ về kinh doanh xăng dầu được ban hành, Liên Bộ Tài chính ‑ Công Thương đã điều hành kinh doanh xăng dầu theo đúng các quy định tại Nghị định số 84/2009/NĐ-CP và các văn bản quy phạm pháp luật liên quan, cụ thể điều hành kinh doanh xăng dầu theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước; giá xăng dầu trong nước bám sát diễn biến giá xăng dầu thế giới đảm bảo chia sẻ hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người tiêu dùng; việc công bố thông tin đảm bảo kịp thời, công khai, minh bạch; trong thời gian vừa qua đã góp phần bình ổn chỉ số giá tiêu dùng, việc điều hành thuế, phí được bình ổn, đặc biệt Nhà nước không bù lỗ các mặt hàng xăng dầu.

Có thể thấy, mục tiêu lớn nhất của Nghị định số 84/2009/NĐ-CP là tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý và điều hành giá xăng dầu nhằm bảo đảm để giá xăng dầu vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước; Nhà nước không bù lỗ kinh doanh mặt hàng xăng dầu, tạo điều kiện cho doanh nghiệp thực hiện quyền tự chủ về giá, cạnh tranh trong sản xuất kinh doanh và cạnh tranh về giá; tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của mình; Đồng thời đảm bảo vai trò quản lý Nhà nước về giá hướng vào việc khắc phục tình trạng độc quyền, cạnh tranh không lành mạnh về giá, bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng, nâng cao hiệu quả của nền sản xuất xã hội; bình ổn giá, ngăn ngừa tác động tự phát của giá thế giới vào hệ thống giá trong nước, đẩy giá trong nước tăng quá cao hoặc giảm quá thấp bất hợp lý. Để triển khai thực hiện Nghị định số 84/2009/NĐ-CP, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư 234/2009/TT-BTC ngày 9/12/2009 hướng dẫn cơ chế hình thành, quản lý và sử dụng Quỹ Bình ổn giá xăng dầu theo quy định tại Nghị định số 84/2009/NĐ-CP, Quyết định 3130/QĐ-BTC ngày 11/12/2009 Thành lập Tổ giám sát Liên Ngành về giá xăng dầu.

Đồng thời với việc đổi mới cơ chế giá, Bộ Tài chính cũng ban hành Barem thuế suất thuế nhập khẩu xăng dầu tương ứng với giá mặt hàng xăng dầu trên thị trường thế giới. Trước đó, Bộ Tài chính đã ban hành khung thuế tương tự tuy nhiên do các điều kiện thị trường chưa đồng bộ nên khung thuế còn có những hạn chế (tần suất điều chỉnh nhiều khiến doanh nghiệp rất khó chủ động trong kinh doanh, hạch toán giá thành, thuế suất những mặt hàng là nhiên liệu đầu vào cho các ngành sản xuất quan trọng: điêzen, madut cao…). Theo khung thuế mới nhằm khắc phục những nhược điểm của khung thuế cũ: tần suất điều chỉnh giảm (khoảng cách giữa các bước trong khung thuế lớn hơn trước) và có ưu tiên cho nhiên liệu dùng cho sản xuất hơn là nhiên liệu cho tiêu dùng (nhiên liệu cho sản xuất có mức thuế thấp hơn 5% so với nhiêu liệu cho tiêu dùng)…

9.2.3.3. Đối với mặt hàng than

Từ 2011 đến hết 2012, giá than thuộc danh mục mặt hàng đăng ký giá theo quy định tại Thông tư số 122/2010/TT-BTC. Theo đó, trước khi điều chỉnh giá, Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam phải thực hiện đăng ký giá về Bộ Tài chính (Cục Quản lý giá). Từ năm 2013 đến nay, theo quy định tại Luật Giá và Nghị định số 177/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Giá, mặt hàng than chuyển sang danh mục hàng hóa, dịch vụ kê khai giá.

Than tiêu dùng trong nước chủ yếu được bán cho 3 đối tượng: than bán cho sản xuất điện; than bán cho 3 hộ sản xuất xi măng, giấy, phân bón; than bán cho các hộ tiêu thụ nhỏ lẻ (nung gạch, ngói, sản xuất gốm, sứ….). Trong đó, giá than báo cho các hộ khác (trừ than bán cho điện) thực hiện theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Thông báo số 244/VPCP-KTTH ngày 11/8/2009 của Văn phòng Chính phủ về giá than bán cho các nhu cầu tiêu thụ trong nước: “Giá than bán cho các nhu cầu tiêu thụ trong nước (trừ than bán cho điện) thấp hơn giá than xuất khẩu tối đa là 10%. Giá than bán cho sản xuất điện thực hiện theo lộ trình do Chính phủ quy định; từ năm 2013 về cơ bản đã bù đắp giá thành toàn bộ và tiến tới thực hiện cơ chế thị trường từ năm 2014.

9.2.3.4. Đối với mặt hàng nước sạch

Về cơ bản, giá nước sạch thực hiện theo cơ chế thị trường. Điều 51 nghị định 117/2007/NĐ-CP ngày 11/7/2007 của Chính phủ về sản xuất, cung cấp và tiêu thụ nước sạch  quy định: Giá nước sạch phải được tính đúng, tính đủ các yếu tố chi phí sản xuất hợp lý trong quá trình sản xuất, phân phối nước sạch bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các đơn vị cấp nước và khách hàng sử dụng nước”. Điều 4 Thông tư Liên tịch số tịch số 75/2012/TTLT-BTC-BXD-BNNPTNT ngày 15/5/2012 của Bộ Tài chính- Bộ Xây dựng- Bộ Nông nghiệp, hướng dẫn nguyên tắc, phương pháp xác định và thẩm quyền quyết định giá tiêu thụ nước sạch tại các đô thị, khu công nghiệp và khu vực nông thôn quy định: “Hàng năm, khi các yếu tố cấu thành chi phí sản xuất, cung ứng nước sạch tính theo các nguyên tắc quy định tại Điều 3 và các phương pháp xác định tổng chi phí sản xuất quy định tại Điều 5 Thông tư này có biến động hoặc khi có sự thay đổi về công nghệ xử lý nước, quy chuẩn chất lượng dịch vụ; sự thay đổi về cơ chế chính sách của Nhà nước có liên quan làm giá thành tiêu thụ nước sạch tăng (hoặc giảm) thì cấp có thẩm quyền quyết định (hoặc phê duyệt) giá nước quy định tại Thông tư này phải xem xét điều chỉnh tăng (hoặc giảm) khung giá, mức giá tiêu thụ nước sạch cụ thể cho phù hợp”.

Đối với giá nước sạch sinh hoạt, từ năm 2011 đến nay, đây là mặt hàng thuộc danh mục nhà nước định giá. Theo đó, Bộ Tài chính ban hành khung giá nước sạch sinh hoạt trên cả nước, các đơn vị cấp nước xây dựng phương án giá , UBND tỉnh quyết định giá bán nước sạch sinh hoạt phù hợp với tình hình kinh tế xã hội tại địa phương và phù hợp với khung giá do Bộ Tài chính quy định.

9.3. Định hướng cơ chế quản lý và điều hành giá trong thời gian tới

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI của Đảng (tháng 1 – 2011) đã khẳng định định hướng phát triển kinh tế – xã hội 2011-2020  là “Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô; huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực”.

Nghị quyết số 10/2011/QH13 ngày 8/11/2011 của Quốc hội về Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2011-2015 đã đặt ra mục tiêu tổng quát trong 2-3 năm đầu tập trung thực hiện mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội, tăng trưởng ở mức hợp lý và tiến hành khởi động mạnh mẽ cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng; 2-3 năm tiếp theo bảo đảm hoàn thành cơ bản cơ cấu lại nền kinh tế để phát triển nhanh và bền vững, hài hòa giữa mục tiêu tăng trưởng, ổn định kinh tế vĩ mô và an sinh xã hội, tăng trưởng GDP bình quân 5 năm khoảng 6,5-7%, chỉ số giá tiêu dùng tăng khoảng 5-7% vào năm 2015. Nghị quyết cũng đặt các nhiệm vụ liên quan trực tiếp đến công tác quản lý, điều hành giá đó là “Tiếp tục kiên trì kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, ổn định giá trị sức mua đồng tiền”, “Thực hiện cơ chế giá thị trường đối với giá điện, than và giá dịch vụ công chậm nhất vào năm 2013”, “Cơ bản xây dựng xong hệ thống pháp luật gắn với cải cách, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”.

Nghị Quyết số 10/NQ-CP ngày 24/4/2012 của Chính phủ Ban hành Chương trình hành động của Chính phủ  triển khai thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 2011 – 2020 và Phương hướng, nhiệm vụ phát triển đất nước 5 năm 2011 – 2015 cũng nhấn mạnh một trong những nhiệm vụ chủ yếu là “Thực hiện quản lý giá theo cơ chế thị trường có sự kiểm soát của Nhà nước, xây dựng lộ trình phù hợp điều chỉnh giá một số mặt hàng thiết yếu theo cơ chế giá thị trường”.

Trên cơ sở triển khai thực hiện Nghị quyết của Quốc hội và Chính phủ nói trên, trong thời gian tới công tác quản lý, điều hành giá cần tiếp tục được hoàn thiện theo phương hướng như sau:

9.3.1. Hoàn thiện cơ chế quản lý giá

Phương hướng chung: Tiếp tục thực hiện nhất quán cơ chế quản lý giá theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo quy định của Luật Giá. Tôn trọng quyền tự định giá, cạnh tranh về giá của các tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh theo đúng pháp luật, sử dụng các biện pháp cần thiết để bình ổn giá, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức cá nhân sản xuất kinh doanh, của người tiêu dùng và lợi ích của Nhà nước. Tiếp tục thực hiện xoá cơ chế bao cấp qua giá đối với một số ít hàng hoá dịch vụ công ích, dịch vụ sự nghiệp công còn bao cấp; giảm dần và tiến đến xoá bỏ tình trạng độc quyền về giá, hình thức “bù chéo” trong một số giá hiện nay (điện, nước sạch, cước vận chuyển hành khách bằng xe buýt, cước bưu chính…) đi liền với tổ chức sắp xếp lại sản xuất kinh doanh, thực hiện chính sách an sinh xã hội. Mở rộng cơ chế đấu thầu, đấu giá, thẩm định giá, góp phần làm cho hệ thống tín hiệu giá cả vận động khách quan, minh bạch. Thực hiện đúng các cam kết hội nhập kinh tế quốc tế.   

Phương hướng cụ thể: Triển khai có hiệu quả Luật Giá và các Nghị định hướng dẫn Luật Giá; đồng thời tiếp tục hoàn thiện môi trường pháp lý để quản lý điều hành giá thông qua việc tiếp tục ban hành các văn bản pháp luật hướng dẫn thi hành Luật Giá hoặc xem xét, bổ sung sửa đổi cho phù hợp (nếu cần thiết) trong quá trình thực hiện. Tiếp tục nhất quán chủ trương: Nhà nước điều hành giá theo cơ chế thị trường, tôn trọng quyền tự định giá và cạnh tranh về giá của tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh theo đúng pháp luật. Sử dụng các biện pháp cần thiết để bình ổn giá, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh, của người tiêu dùng và lợi ích của Nhà nước.

Trên cơ sở đó, cơ chế quản lý giá cụ thể được xử lý theo Luật Giá như sau:

Nhà nước tiếp tục áp dụng cơ chế quản lý giá trực tiếp bằng những hình thức định giá thích hợp do yêu cầu khách quan đối với một số ít hàng hoá, dịch vụ; đó là:

+ Quy định trực tiếp mức giá cả bằng những hình thức thích hợp (giá cụ thể, khung giá, giá tối đa, giá tối thiểu) đối với một số ít hàng hoá dịch vụ thuộc lĩnh vực độc quyền Nhà nước sản xuất kinh doanh, tài nguyên quan trọng; hàng hoá, dịch vụ công ích, dịch vụ sự nghiệp công; hàng dự trữ quốc gia.

+ Kiểm tra yếu tố hình thành giá khi có tình trạng khẩn cấp (giá tăng hoặc giảm bất hợp lý trong trường hợp khủng hoảng, thiên tai, địch hoạ) hoặc trong trường hợp bất thường (thoả thuận ấn định mức giá hàng hoá dịch vụ một cách trực tiếp hay gián tiếp không hợp lý, lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường quy định giá không đúng…).

– Nhà nước thực hiện cơ chế quản lý giá gián tiếp qua thị trường là chủ yếu đối với đại bộ phận các hàng hoá dịch vụ trong nền kinh tế, thông qua các biện pháp: điều hoà cung-cầu hàng hoá dịch vụ; sử dụng các công cụ tài chính, tiền tệ; áp dụng các biện pháp kiểm soát thị trường (kiểm soát độc quyền về giá, đầu cơ, găm hàng, đăng ký giá, kê khai giá, niêm yết giá, công khai thông tin về giá…).

9.3.2. Hoàn thiện hệ thống giá

– Phương hướng chung: Tiếp tục thực hiện quản lý giá theo nguyên tắc quy định tại Luật Giá. Hệ thống giá phải thể hiện đầy đủ yếu tố hình thành giá, tính đến quan hệ cung – cầu, sức mua của đồng tiền Việt Nam, mối tương quan hợp lý với giá thị trường khu vực và thế giới; Đồng thời phải căn cứ vào chính sách phát triển kinh tế xã hội trong từng thời kỳ.

Phương hướng cụ thể:

+ Đối với những loại hàng hoá dịch vụ độc quyền, tính chất cạnh tranh hạn chế như điện (cụ thể là giá truyền tải điện, giá dịch vụ phụ trợ hệ thống điện, giá phát điện, giá bán buôn điện, mức giá bán lẻ điện bình quân), đất đai, tài nguyên, kết cấu hạ tầng…, Nhà nước định giá bằng những phương pháp thích hợp (giá cụ thể, khung giá, giá tối đa, giá tối thiểu) căn cứ vào chi phí sản xuất, lưu thông tính đúng, tính đủ và có mức lợi nhuận, hợp lý theo nguyên tắc thị trường (cả thị trường thế giới và thị trường trong nước) trên cơ sở nguyên tắc, căn cứ, phương pháp do Nhà nước quy định. Đồng thời, so sánh với giá thị trường của hàng hoá dịch vụ cùng loại trên thị trường thế giới để quy định mức giá phù hợp với sức chịu đựng của nền kinh tế, khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp và được xã hội chấp nhận.

+ Đối với đại bộ phận hàng hoá, dịch vụ đã và đang áp dụng cơ chế thị trường (như toàn bộ hàng nông sản, thực phẩm; hàng công nghiệp như xi măng, sắt thép, phân bón; hàng tiêu dùng; các dịch vụ du lịch, văn hoá, vui chơi, giải trí…): giá hình thành theo cơ chế thị trường trên cơ sở các yếu tố hình thành giá hợp lý, theo tín hiệu khách quan của cung – cầu, cạnh tranh, giá thị trường trong nước và thế giới.

 + Trong trường hợp giá tăng cao quá hoặc giảm thấp bất hợp lý, Nhà nước áp dụng các biện pháp bình ổn giá phù hợp với cơ chế thị trường, các cam kết quốc tế và quy định của pháp luật./.

 TÀI LIỆU THAM KHẢO

———————–

  1. Cục Quản lý giá, Đề án tổng kết một số lý luận – thực tiễn 30 năm đổi mới công tác quản lý giá 1986 – 2016
  2. Cục Quản lý giá, Đề án những định hướng lớn về giá cả trong Chiến lược Tài chính giai đoạn 2011- 2020
  3. Cục Quản lý giá, 45 năm ngành Vật giá Việt Nam 2010.
  4. Nguyễn Tiến Thỏa, Con đường cải cách giá ở Việt Nam 2010, Nhà xuất bản Dân trí.

 [1] Nguyễn Tiến Thỏa, “Con đường cải cách giá ở Việt Nam”, NXB Dân trí, tr.157-160.

Bản in

 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *