Chuyên đề 8: CHÍNH SÁCH THU NSNN TỪ TỔ CHỨC VÀ LỢI NHUẬN CÒN LẠI CỦA TẬP ĐOÀN, TỔNG CÔNG TY DO NHÀ NƯỚC NẮM GIỮ 100% VỐN ĐIỀU LỆ

Chuyên đề 8: CHÍNH SÁCH THU NSNN TỪ TỔ CHỨC VÀ LỢI NHUẬN CÒN LẠI CỦA TẬP ĐOÀN, TỔNG CÔNG TY DO NHÀ NƯỚC NẮM GIỮ 100% VỐN ĐIỀU LỆ

           Thsĩ. Nguyễn Thu Thủy

Vụ Chính sách thuế – Bộ Tài chính 

8.1. Bối cảnh kinh tế khi nghiên cứu xây dựng chính sách thu vào NSNN đối với khoản cổ tức được chia và phần lợi nhuận còn lại

Triển khai thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và dự toán ngân sách nhà nước (NSNN) năm 2013, theo Nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ đã ban hành và chỉ đạo quyết liệt thực hiện các giải pháp tại Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 07/01/2013. Việc thực hiện các giải pháp này trong 3 Quý đầu năm 2013 đã đạt được một số kết quả tích cực: kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, lạm phát được kiểm soát; kinh tế có bước phục hồi. Đã tập trung tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường, giải quyết nợ xấu, hàng tồn kho và hướng tín dụng vào các lĩnh vực ưu tiên. Nhìn lại việc thực hiện kế hoạch năm 2013, trong 15 chỉ tiêu được Quốc hội thông qua, có 11 chỉ tiêu ước đạt và vượt kế hoạch, 2 chỉ tiêu xấp xỉ đạt và 2 chỉ tiêu không đạt[1]. Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu suy giảm, kinh tế trong nước gặp nhiều khó khăn và phải tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội và quốc phòng an ninh, đạt được kết quả nêu trên là cố gắng lớn của cả hệ thống chính trị.

Bên cạnh kết quả đạt được, kinh tế – xã hội vẫn còn những hạn chế, yếu kém: kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, lạm phát được kiểm soát nhưng chưa vững chắc. Cân đối ngân sách khó khăn, bội chi cao hơn kế hoạch. Việc thực hiện lộ trình giá thị trường đối với một số mặt hàng và dịch vụ thiết yếu còn chậm, chưa tạo được sự đồng thuận cao trong xã hội. Hoạt động của một số tổ chức tín dụng chưa thật an toàn. Thị trường bất động sản, thị trường chứng khoán còn trầm lắng. Hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp. Sản xuất kinh doanh còn nhiều khó khăn. Nợ xấu còn cao. Số doanh nghiệp giải thể, ngừng hoạt động còn lớn. Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội so với GDP không đạt kế hoạch[2]. Sản xuất kinh doanh còn nhiều khó khăn. Tăng trưởng GDP chưa đạt kế hoạch (5,4% so với kế hoạch 5,5%). Năm 2013, thu ngân sách khó khăn, tổng thu ước đạt 96,9%, tổng chi ước đạt 100,8% dự toán. Bội chi khoảng 5,3% GDP. Nợ chính phủ, nợ công, nợ nước ngoài của quốc gia trong giới hạn an toàn.

Vì vậy, để đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát đạt được mức tăng trưởng kinh tế, đồng thời bảo đảm thu ngân sách nhà nước theo các mục tiêu nêu trên thì việc thực hiện một số giải pháp về kinh tế xã hội và điều hành NSNN là cần thiết.

8.2. Các giải pháp thực hiện thu vào NSNN năm 2013, năm 2014

Sau đây xin giới thiệu tóm tắt các giải pháp về thực hiện thu vào NSNN năm 2013, năm 2014 như sau:

8.2.1. Thực hiện thu NSNN đối với cổ tức được chia năm 2013 và năm 2014 cho phần vốn nhà nước tại công ty cổ phần có vốn nhà nước do Bộ, ngành, địa phương đại diện chủ sở hữu

(1) Cổ tức được chia cho phần vốn nhà nước tại công ty cổ phần do các Bộ, ngành, địa phương làm đại diện chủ sở hữu theo Nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông và Hội đồng quản trị (nếu có) bao gồm:

– Số cổ tức được chia theo quyết toán tài chính năm 2013 và năm 2014 (bao gồm cả số cổ tức tạm chia của năm 2013, năm 2014);

– Số cổ tức của các năm trước được chia trong năm 2013, năm 2014.

 (2) Số thu cổ tức được chia cho phần vốn nhà nước tại công ty cổ phần do các Bộ, ngành, địa phương làm đại diện chủ sở hữu nộp ngân sách nhà nước được điều tiết 100% cho ngân sách Trung ương và được hạch toán vào chương tương ứng, mục 4050, tiểu mục 4054 của Mục lục ngân sách nhà nước hiện hành.

(3) Việc khai, nộp ngân sách nhà nước đối với số cổ tức được chia cho phần vốn nhà nước được thực hiện như sau:

– Số cổ tức được chia cho phần vốn nhà nước tại công ty cổ phần do các Bộ, ngành, địa phương làm đại diện chủ sở hữu phải được nộp về Quỹ hỗ trợ sắp xếp và phát triển doanh nghiệp (gọi tắt là Quỹ) đặt tại Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước (gọi tắt là SCIC) chậm nhất là 10 ngày kể từ ngày ban hành Nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị (nếu có).

– SCIC có trách nhiệm nộp vào ngân sách nhà nước chậm nhất không quá 03 ngày làm việc kể từ ngày thu tiền về Quỹ; đồng thời có trách nhiệm kê khai số cổ tức với cơ quan thuế nơi kê khai, nộp thuế thu nhập doanh nghiệp theo các mẫu biểu do Bộ Tài chính ban hành (mẫu số 01/CTĐC và Bảng kê  mẫu số 01-1/CTĐC ban hành kèm theo Thông tư số 187/2013/TT-BTC) chậm nhất vào ngày thứ hai mươi của tháng tiếp theo tháng thu được số cổ tức được chia vào Quỹ.

Riêng số cổ tức được chia cho phần vốn nhà nước tại công ty cổ phần do các Bộ, ngành, địa phương làm đại diện chủ sở hữu đã nộp về Quỹ kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2013 đến hết ngày 10 tháng 12 năm 2013, SCIC nộp vào ngân sách nhà nước trước ngày 15 tháng 12 năm 2013, đồng thời sao gửi chứng từ nộp tiền cho cơ quan thuế cùng thời điểm nộp tiền vào ngân sách nhà nước.

8.2.2. Về thu NSNN đối với lợi nhuận còn lại của năm 2013 và năm 2014 sau khi trích nộp các quỹ theo quy định của pháp luật của các tập đoàn, tổng công ty do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ

8.2.2.1. Đối tượng thực hiện nộp NSNN phần lợi nhuận còn lại sau khi trích nộp các quỹ theo quy định của pháp luật (gọi chung là doanh nghiệp) gồm:

– Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là công ty mẹ của các tập đoàn kinh tế;

– Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là công ty mẹ của tổng công ty nhà nước;

– Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là công ty mẹ trong mô hình công ty mẹ – công ty con;

– SCIC.

8.2.2.2. Về xác định khoản lợi nhuận còn lại năm 2013 và năm 2014

a. Lợi nhuận còn lại của năm 2013 và năm 2014 của các doanh nghiệp (trừ SCIC) là lợi nhuận sau khi đã nộp thuế hoặc tạm nộp thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định trừ đi các khoản phân phối, trích lập các quỹ theo thứ tự sau:

a1. Chia lãi cho các thành viên góp vốn liên kết theo quy định của hợp đồng (nếu có).

a2. Bù đắp khoản lỗ của các năm trước đã hết thời hạn được trừ vào lợi nhuận trước thuế.

a3. Số lợi nhuận còn lại sau khi trừ đi các nội dung quy định tại tiết a.1 và tiết a.2 nêu trên được trừ đi các khoản trích lập quỹ theo thứ tự sau:

– Khoản trích quỹ đầu tư phát triển theo tỷ lệ 30%.

– Khoản trích quỹ khen thưởng, phúc lợi theo quy định.

– Khoản trích quỹ thưởng viên chức quản lý doanh nghiệp theo quy định.

– Khoản trích các quỹ đặc thù từ lợi nhuận sau thuế theo quy định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ (nếu có).

Riêng năm 2013, doanh nghiệp đã tạm phân phối lợi nhuận và tạm trích lập các quỹ theo quy định của pháp luật trước thời điểm Thông tư 187/2013/TT-BTC có hiệu lực (ngày 05/12/2013) thì phần lợi nhuận còn lại nộp ngân sách nhà nước 09 tháng đầu năm được xác định theo thực tế đã tạm phân phối, tạm trích lập các quỹ. Khi quyết toán năm 2013, doanh nghiệp xác định lại khoản lợi nhuận nộp ngân sách nhà nước trên cơ sở mức phân phối, trích lập các quỹ theo quy định và được trừ khoản chi từ lợi nhuận sau thuế theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ (nếu có).

b. Lợi nhuận còn lại của năm 2013 và năm 2014 của SCIC là lợi nhuận sau khi đã nộp thuế hoặc tạm nộp thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định trừ đi các khoản phân phối, trích lập các quỹ theo thứ tự sau:

– Thực hiện phân phối lợi nhuận theo quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 34 Nghị định số 151/2013/NĐ-CP ngày 01 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ;

– Khoản trích lập quỹ đầu tư phát triển theo tỷ lệ 30%;

– Khoản trích lập quỹ thưởng viên chức quản lý, quỹ khen thưởng, phúc lợi theo quy định;

– Khoản trích lập quỹ thưởng thành tích bán vốn theo mức 10% tính trên phần chênh lệch của tổng tiền thu bán vốn tiếp nhận trong năm trừ đi giá vốn được xác định lại theo Quy định tại Điều 8 Nghị định số 151/2013/NĐ-CP, chi phí bán vốn và thuế thu nhập doanh nghiệp nhưng không quá 03 tháng lương thực hiện.

Ngoài việc thực hiện thu, nộp vào ngân sách khoản lợi nhuận còn lại của năm 2013 và năm 2014 của SCIC, SCIC có trách nhiệm nộp vào ngân sách khoản lợi nhuận thu về Quỹ phát sinh trong năm 2013 và năm 2014 của các công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên độc lập 100% vốn nhà nước do Bộ, ngành, địa phương là đại diện chủ sở hữu.

8.2.2.3. Điều tiết ngân sách nhà nước

a. Lợi nhuận nộp ngân sách nhà nước của các tập đoàn, tổng công ty do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ và các doanh nghiệp thuộc Trung ương quản lý được điều tiết 100% cho ngân sách trung ương.

b. Lợi nhuận nộp ngân sách nhà nước của doanh nghiệp 100% vốn nhà nước do Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thành lập và quản lý được điều tiết 100% cho ngân sách địa phương.

8.2.2.4. Về kê khai, nộp ngân sách nhà nước

Căn cứ số liệu trên Tờ khai thuế thu nhập doanh nghiệp, doanh nghiệp thực hiện khai, nộp vào ngân sách nhà nước trước ngày 10 tháng 12 năm 2013 đối với số lợi nhuận phải nộp ngân sách nhà nước tạm tính 09 tháng đầu năm 2013. Khi quyết toán năm 2013, doanh nghiệp nộp số còn lại chậm nhất vào ngày 31 tháng 3 năm 2014.

Số phải nộp ngân sách nhà nước năm 2014 kê khai, nộp theo thời điểm kê khai, nộp thuế thu nhập doanh nghiệp tạm tính quý và thời điểm quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2014.

Trường hợp quyết toán năm 2013 và năm 2014 nếu phát sinh số đã nộp vào ngân sách nhà nước lớn hơn số thực tế phải nộp thì doanh nghiệp được hoàn lại số tiền đã nộp thừa hoặc được giảm trừ vào số phải nộp của kỳ tiếp theo.

Doanh nghiệp thuộc diện phải nộp khoản lợi nhuận còn lại sau khi trích lập các quỹ theo quy định (trừ SCIC) kê khai tạm tính và kê khai quyết toán với cơ quan thuế nơi kê khai, nộp thuế thu nhập doanh nghiệp số lợi nhuận còn lại theo các mẫu tờ khai do Bộ Tài chính ban hành (Tờ khai mẫu số 02A/TT-LNCL (đối với khai tạm tính) và Tờ khai mẫu số 02A/QT-LNCL (đối với khai quyết toán) ban hành kèm theo Thông tư số 187/2013/TT-BTC).

Đối với số lợi nhuận còn lại của SCIC, SCIC thực hiện kê khai tạm tính và kê khai quyết toán với Cục thuế nơi SCIC kê khai, nộp thuế thu nhập doanh nghiệp theo Tờ khai mẫu số 02B/TT-LNCL (đối với khai tạm tính) và Tờ khai mẫu số 02B/QT-LNCL (đối với khai quyết toán). Đối với khoản lợi nhuận còn lại thu về Quỹ phát sinh trong năm 2013 và năm 2014 của các công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên độc lập 100% vốn nhà nước do Bộ, ngành, địa phương là đại diện chủ sở hữu, SCIC thực hiện kê khai với cơ quan thuế nơi kê khai, nộp thuế thu nhập doanh nghiệp theo tờ khai mẫu số 02C/LNCL, bảng kê 02C-1/LNCL và bảng kê 02C-2/LNCL đồng thời sao gửi bảng kê 02C-2/LNCL cho Cục Thuế tỉnh, thành phố nơi công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên độc lập 100% vốn nhà nước do Bộ, ngành, địa phương là đại diện chủ sở hữu kê khai, nộp thuế thu nhập doanh nghiệp.

Căn cứ bảng kê 02C-2/LNCL, SCIC lập giấy nộp tiền cho từng địa phương nơi được điều tiết khoản lợi nhuận còn lại của các doanh nghiệp 100% vốn nhà nước do UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thành lập và quản lý. Trên chứng từ nộp tiền phải ghi rõ nộp vào tài khoản thu ngân sách nhà nước tại Kho bạc nhà nước cấp tỉnh nơi địa phương được điều tiết nguồn thu.

8.2.3. Về trách nhiệm đôn đốc thu nộp ngân sách

Ngoài việc quy định chi tiết nội dung thu vào ngân sách các khoản thu nêu trên, để thực hiện thu kịp thời vào ngân sách nhà nước ngay từ những tháng cuối năm 2013, tại các văn bản hướng dẫn của Chính phủ và Bộ Tài chính cũng quy định rõ trách nhiệm của các Bộ, ngành, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và doanh nghiệp liên quan để thực hiện đôn đốc thu nộp ngân sách. Cụ thể:

a. Các Bộ, ngành, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm trong phạm vi thẩm quyền theo quy định của pháp luật có trách nhiệm chỉ đạo Người đại diện theo ủy quyền phần vốn nhà nước đầu tư tại các doanh nghiệp kiểm tra, đôn đốc doanh nghiệp nộp các khoản thu ngân sách nhà nước theo quy định; doanh nghiệp sao gửi chứng từ nộp tiền về Tổng cục Thuế, SCIC để phối hợp đôn đốc, theo dõi, kiểm tra việc thu nộp.

b. Cơ quan Thuế các cấp

– Đôn đốc, thu kịp thời các khoản nộp ngân sách nhà nước của các doanh nghiệp.

– Phối hợp với các cơ quan, doanh nghiệp và cá nhân liên quan để đôn đốc, kiểm tra việc thu nộp vào ngân sách nhà nước đối với những khoản nộp vào ngân sách nhà nước.

c. Các doanh nghiệp (trừ SCIC)

– Công ty cổ phần có vốn nhà nước do Bộ, ngành địa phương đại diện chủ sở hữu, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên độc lập 100% vốn nhà nước do Bộ, ngành, địa phương đại diện chủ sở hữu có trách nhiệm nộp số cổ tức, lợi nhuận phải nộp ngân sách nhà nước về Quỹ theo quy định đồng thời gửi kèm theo thông báo về khoản nộp (bao gồm cả thông tin về tên doanh nghiệp, mã số thuế) cho SCIC để theo dõi, đối chiếu.

– Tập đoàn, Tổng công ty do nhà nước nắm giữ 100% vốn (trừ SCIC) có trách nhiệm đôn đốc, thu cổ tức và phần lợi nhuận được chia từ phần vốn của doanh nghiệp đầu tư vào doanh nghiệp khác; và nộp phần lợi nhuận phải nộp ngân sách nhà nước của doanh nghiệp theo quy định.

d. SCIC

– Đôn đốc, thu về Quỹ các khoản cổ tức được chia cho phần vốn nhà nước tại các công ty cổ phần có vốn nhà nước và phần lợi nhuận phải nộp ngân sách của các công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên độc lập 100% vốn nhà nước do các Bộ, ngành, địa phương là đại diện chủ sở hữu.

– Nộp ngân sách nhà nước các khoản thu về Quỹ và phần lợi nhuận phải nộp ngân sách nhà nước của SCIC.

– Phối hợp với các cơ quan thuế để đôn đốc thu vào ngân sách khoản lợi nhuận còn lại của các doanh nghiệp khác.

e. Hội đồng thành viên tại các tập đoàn, tổng công ty nhà nước có trách nhiệm chỉ đạo Người đại diện theo ủy quyền phần vốn của doanh nghiệp đầu tư tại doanh nghiệp khác đôn đốc doanh nghiệp:

– Tạm nộp lợi nhuận, cổ tức 09 tháng đầu năm 2013 và cả năm 2013, năm 2014 tại công ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên về công ty mẹ để nộp vào ngân sách nhà nước.

– Tổ chức Đại hội đồng cổ đông đúng quy định, thực hiện phân phối lợi nhuận, chia cổ tức và nộp kịp thời cổ tức được chia về tập đoàn, tổng công ty nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ.

PHỤ LỤC VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT

V/v chính sách thu NSNN từ cổ được chia cho phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp và phần lợi nhuận còn lại sau khi trích lập các quỹ của Tập đoàn, Tổng công ty do nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ

1. Nghị quyết số 54/2013/QH13 của Quốc hội về điều chỉnh dự toán ngân sách nhà nước năm 2013;

2. Nghị quyết số 57/2013/QH13 của Quốc hội về dự toán ngân sách nhà nước năm 2014;

3. Nghị định số 204/2013/NĐ-CP ngày 05 tháng 12 năm 2013 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Nghị quyết của Quốc hội về một số giải pháp thực hiện ngân sách nhà nước năm 2013, 2014

4. Thông tư số 187/2013/TT-BTC ngày 05/12/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số 204/2013/NĐ-CP ngày 05 tháng 12 năm 2013 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Nghị quyết của Quốc hội về một số giải pháp thực hiện ngân sách nhà nước năm 2013, 2014./.


[1] Các chỉ tiêu và vượt kế hoạch là: Tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu, tỷ lệ nhập siêu, tốc độ tăng giá tiêu dùng, giảm tỷ lệ hộ nghèo, tỷ lệ thất nghiệp… Hai chỉ tiêu xấp xỉ đạt kế hoạch là: Tăng trưởng GDP (5.4% so với kế hoạch 5.5%) và tạo việc làm (tạo được 1.54 triệu việc làm so với kế hoạch 1.6 triệu). Hai chỉ tiêu không đạt kế hoạch là tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hộ so với GDP (đạt 29.1% so với kế hoạch là 30%) và tỷ lệ bội chi NSNN/GDP (5.3% so với kế hoạch là 4.8%) 

[2] Tổng vốn đầu tư toàn xã hội so với GDP năm 2011 đạt 33,33%, năm 2012 đạt 30,5% và năm 2013 ước đạt 29,1%

Bản in

 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *