Chuyên đề 7: KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƯỚC VỀ KIỂM SOÁT ĐỊNH GIÁ CHUYỂN GIAO

Chuyên đề 7: KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƯỚC VỀ KIỂM SOÁT ĐỊNH GIÁ CHUYỂN GIAO

                                                  PGS, TS Lê Văn Ái, Nguyên Phó Viện trưởng viên nghiên cứu tài chính

7.1. Điều kiện hình thành và phát triển của vấn đề định giá chuyển giao nội bộ và những ảnh hưởng của nó đối với quá trình phát triển kinh tế

Ngày nay, phần lớn các quy trình sản xuất đi qua nhiều nước. Chúng ta có thể thấy một điện thoại di động được lắp ráp ở một nước với linh kiện sản xuất từ nhiều nước khác.

Khi một công ty sở hữu dây chuyền sản xuất quốc tế như vậy, thì sẽ xảy ra vấn đề định giá nội bộ. Đây là giá mà các chi nhánh trong cùng một công ty “bán” hàng hóa hay dịch vụ cho nhau. Việc định giá nội bộ không chỉ tác động lên kết quả hoạt động của chi nhánh mà còn tác động lên ngân sách quốc gia.

Giá nội bộ có thể dựa trên cơ sở thị trường, chi phí, hay qua thương lượng. Tuy nhiên, thường yếu tố quyết định đến việc định giá nội bộ của công ty vẫn là giảm thiểu số thuế công ty phải nộp.

Ví dụ, nếu thuế thu nhập công ty ở Đài Loan là 20% và Malaysia là 40%, thì chi nhánh ở Đài Loan của một công ty có thể tăng giá chuyển giao hàng hóa và dịch vụ cho chi nhánh ở Malaysia. Nếu khoản nâng giá là 100.000 đô-la, thì lợi nhuận báo cáo ở Đài Loan sẽ tăng 100.000 đô-la và thuế nộp cho chính phủ nước này tăng thêm 20.000 đô-la. Đồng thời, lợi nhuận báo cáo ở Malaysia bị giảm đi 100.000 đô-la, và số thuế phải đóng ở đây giảm 40.000 đô-la. Tóm lại, công ty tiết kiệm được 20.000 đô-la tiền thuế.

Các chính phủ không dễ kiểm soát được việc định giá nội bộ. Năm 1993, công ty Nissan bị chính phủ Mỹ phạt 170 triệu đô-la vì đã “nâng giá một cách vô lý” ô-tô nhập khẩu từ Nhật. Nhật đã trả đũa bằng cách phạt hãng Coca-Cola 150 triệu đô-la vì tính giá “quá đáng” các nguyên liệu nhập khẩu từ Mỹ cho chi nhánh ở Nhật.

Có người cho rằng thuế suất thấp ở nhiều nước đang phát triển sẽ làm tăng số thu thuế của chính phủ các nước này, vì các công ty đa quốc gia sẽ muốn chuyển càng nhiều lợi nhuận càng tốt sang những chi nhánh ở đó. Đáng tiếc là thực tế không phải luôn như vậy. Song nhiều chuyên gia trong lĩnh vực này thường cho rằng về lâu dài, các nước đang phát triển là những nước chịu nhiều thua thiệt nhiều hơn trong trong cuộc chơi định giá chuyển giao nội bộ của các doanh nghiệp FDI nước ngoài.

Để có thể thực hiện phương thức định giá chuyển giao nội bộ như vậy cần có 3 điều kiện:

Một là, các chủ thể được tự do kinh doanh, được quyền định đoạt giá cả sản phẩm của mình. Đây là điều kiện tất yếu của kinh tế thị trường

Hai là, có sự liên kết hoạt động sản xuất kinh doanh và có sự thống nhất về mặt lợi íchtrong sự liên kết của một tổ chức kinh tế. Nghĩa là các thành viên trong một tổ chức kinh tế có thể chia sẽ lợi ích với nhau vì lợi ích chung của tổ chức. Sự thống nhất này thường xuất hiện ở các Tập đoàn kinh tế, các công ty đa quốc gia.

Ba là, có sự khác biệt về mức thuế, nhất là thuế thu nhập công ty. Hai điều kiện trên là điều kiện “cần” còn điều kiện này là điều kiện “đủ”.Khi có sự chênh lệch mức thuế giữa các quốc gia thì thủ đoạn lợi dụng định giá chuyển giao nội bộ để tối thiểu hóa nghĩa vụ thuế nhằm tối đa hóa lợi nhuận (như ví dụ ở trên) sẽ xuất hiện.

Trong thực tiễn 3 điều kiện kể trên luôn luôn tồn tại nên việc định giá chuyển giao nội bộ thoát ly giá thị trường để tìm kiếm lợi ích luôn tồn tại và phát triển.

Sự tồn tại và phát triển định giá chuyển giao nội bộ thoát ly giá hình thành trên thị trường đưa đến hệ quả không mong muốn cho quá trình phát triển kinh tế của quốc gia nhận đầu tư từ nước ngoài. Cụ thể:

Một là, việc định giá chuyển giao nội bộ trong các công ty đa quốc gia có thể làm cho cơ cấu vốn của nền kinh tế ở quốc gia tiếp nhận vốn sẽ bị đột ngột tăng lên trong một thời gian ngắn mà nền kinh tế không kịp hấp thụ được, sau đó đột ngột chảy ra cũng trong một thời gian ngắn. Sự biến đổi đột ngột này tạo ra một bức tranh kinh tế bị sai lệch trong những thời kỳ khác nhau, làm cho điều hành kinh tế vĩ mô của Nhà nước gặp nhiều khó khăn.

Hai là, đối với quốc gia được coi là thiên đường về thuế có thể được hưởng lợi về thuế trước mắt do định giá chuyển giao nội bộ của các công ty đa quốc gia, song về lâu dài phải đương đầu khó khăn về tài chính ngân sách khi mà các công ty đa quốc gia thoái vốn do thu nhập sút kém

Ba là, việc định giá chuyển giao nội bộ thoát ly giá cả hình thành trên thị trường dẫn đến tình trạng thao túng thị trường, tạo ra bức tranh cạnh tranh không bình đẳng giữa các chủ thể trong nền kinh tế thị trường, làm cho việc điều chỉnhkinh tế vĩ mô của Nhà nước gặp nhiều khó khăn trong việc thúc đẩy các ngành sản xuất trong nước phát triển

Bốn là, định giá chuyển giao nội bộ thoát ly giá hình thành trên thị trường có thể phá vỡ cán cân thanh toán quốc tế và các kế hoạch kinh tế của nước nhận đầu tư .

Do những hậu quả không mong muốn như vậy, nên vấn đề định giá chuyển giao hàng hóa, dịch vụ trong nội bộ của các Tập đoàn kinh tế, các công ty đa quốc gia luôn là tâm điểm chú ý của các quốc gia, nhất là ở các quốc gia tiếp nhận đầu tư từ các tập đoàn kinh tế, các công ty đa quốc gia.

Nhằm đối phó với chính sách định giá chuyển giao hàng hóa, dịch vụ trong các Tập đoàn kinh tế, các công ty đa quốc gia, các nước đều phải tiến hành thực hiện kiểm soát định giá chuyển giao trong nội bộ của MNC bằng cách sử dụng tổng hợp các công cụ, biện pháp từ pháp luật, kinh tế, tuyên truyền. Đối với Việt Nam cũng đã sớm nhận thức được tác hại đối với vấn đề định giá chuyển giao hàng hóa, dịch vụ thoát ly giá hình thành trên thị trường đối với nền kinh tế và đã có nhiều nổ lực trong công tác kiểm soát hoạt động định giá chuyển giao đối với các công ty đa quốc gia hoạt động trong lãnh thổ Việt Nam trên phương diện pháp lý cũng như thực tế. Tuy vậy, cho đến nay,xem ra những nỗ lực đó chưa đạt được hiệu quả như mong muốn, các thủ đoạn lợi dụng định giá chuyển giao của các công ty đa quốc gia nhằm trốn thuế diễn ra khá phức tạp với nhiều thủ đoạn hết sức tinh vi. Chính vì vậy, nghiên cứu, học hỏi kinh nghiệm của một số nước trong việc kiểm soát hoạt động định giá là một việc làm rất cần thiết.

7.2. Kiêm soát định giá chuyển giao trong giao dịch liên kết và kinh nghiệm kiểm soát định giá chuyển giao trong nội bộ của các công ty đa quốc gia ởtổ chức OECD và một số nước

7.2.1 Kiểm soát định giá chuyển giao trong giao dịch liên kết

Kiểm soát là một thuật ngữ được dùng đê chỉ những hoạt động của cá nhân,tổ chức,trong và ngoài tổ chức giao nhiệm vụ quyền hạn xem xét, đánh giá,xử lý đối với hành thực hiện vi quy định chung của cá nhân, tổ chức hữu quan. Kiểm soát mang đặc điểm chung của quản lý. Đó là những tác động có tính tổ chức và mục đíchcủa chủ thể kiểm soát.

Với quan điểm như vậy có thể coi kiểm soát định giá chuyển giao trong giao dịch liên kết là việc xem xét, đánh giá và xử lý hành vi định giá giao dịch trong liên kết của các chủ kinh doanh không tuân thủ theo những quy định về định giá chuyển giao trong giao dịch liên kết của Nhà nước. Quy định của Nhà nước trong định giá chuyển giao các giao dịch hàng hóa dịch vụ giữa các bên có mối quan hệ liên kết là bảo đảm tuân thủ theo giá hình thành trên thị trường. Tuy nhiên do nhiều động cơ khác nhau, các chủ thể trong quan hệ liên kết thường định giá chuyển giao hàng hóa, dịchchênh lệch so với giá hình thành trong thị trường nên bắt buộc các cơ quan quản lý nhà nước, nhất là cơ quan quản lý thuế phải tiến hành kiểm soát việc định giá chuyển giao hàng hóa, dịch vụ do các chủ thể có mối quan hệ liên kết thực, nghĩa là các cơ quan quản lý nhà nước phải xem đánh giá trên các khía cạnh như xác định các quan hệ liên kết, xác định giá hàng hóa hình thành trên thị trường, đối chiếu, so sánh giữa giá thị trường của sản phẩm trao đổi giữa các bên liên kết với giá do các bên liên kết thỏa thuận với nhau để xác định hiện tượng chuyển giá. Nói vấn đề kiểm soát định giá chuyển giao trong giao dịch hàng hóa giữa các bên liên kết là một vấn đề phức tạp, đòi hỏi phải có chuyên môn nghiệp vụ sâu. Trong những năm gần đây các cơ quan thuếViệt Nam mới bắt đầu thực hiện hoạt động kiểm soát dịnh giá chuyển giao của các MNC, song hiệu quả chưa cao, còn nhiều vấn đề cần phải tập trung nghiên cứu. Chính vì vậy, cần nghiên cứu học hỏi kinh nghiệm hoạt động kiểm soát định giá chuyển giao của các nước.

7.2.2. Kinh nghiểm kiểm soát định giá chuyển giao của một số tổ chức

7.2.2.1. Cẩm nang hướng dẫn định giá chuyển giao của OECD

Nhằm hạn chế tình trạng lợi dụng định giá chuyển giao của các công ty MNC làm phương hai đến nguồn thu của NSNN ở các nước nhận đầu tư FDI của các công ty MNC, OECD đã cho xuất bản cuốn Cẩm nang hướng dẫn định giá chuyển giao. Cuốn Cẩm nang hướng dẫnđịnh giá chuyển giao đề cập nhiều vấn đề về định giá chuyển giao, song trong đó có hai điểm nhấn quan trọng. Đó là đưa ra định nghĩa về giá chuyển giao và các giải pháp định giá chuyển giao có tính chất hướng dẫn cho các nước trong vấn đề quản lý định giá chuyển giao của các công ty MNC

Thứ nhất, Về định nghĩa giá chuyển giao của các công ty MNC

Theo Cẩm nang hướng dẫn định giá chuyển giao của OECD thì: “Giá chuyển giao là giá của các loại hàng hóa hữu hình và vô hình hay giá của cung cấp dịch vụ mà một công ty chuyển giao cho một công ty liên kết khác” Như vậy, theo định nghĩa trong cuốn Cẩm nang hướng dẫn định giá chuyển giao có hai điểm đáng chú ý: giá chuyển giao luôn gắn với hành hóa hữu hình, vô hình và các dịch vụvà phát sinh trong quá trình trao đổi giữa các bên có mối quan hệ liên kết chặt với nhau. Như vậy, giá chuyển giao về hàng hóa dịch vụ, khác với giá bán thông thường trên thị trường ở điểm giá chuyển giao chỉ xuất hiện ở bên mua, bên bán có mối quan hệ liên kết với nhau trong một tổ chức (công ty, tập đoàn), giá chuyển giao có thể là giá hình thành trên thị trường, song phổ biến giá chuyển giao thường là giá phi thị trường (có thể cao, hoặc thấp hơn giá thị trường).Trong trường hợp định giá chuyển giao chênh lệch so với giá hình thành trên trường người ta gọi trường hợp này là chuyển giá. Cùng với làm rõ khái niệm giá chuyển giao, Cẩm nang hướng dẫn định giá chuyển giaocũng nêu bật thủ đoạn lợi dụng định giá chuyển giao để tối thiểu nghĩa vụ thuế và tối đa hóa lợi nhuận của các công ty MNC: “Bằng cách thay đổi giá chuyển giao giữa các loại giao dịch khác nhau một công ty MNC sẽ thể hiện thu nhập của nó dưới nhiều dạng tại một quốc gia, cụ thể nhằm tối thiểu hóa nghĩa vụ nộp thuế tại quốc gia này và bằng cách thay đổi giá chuyển giaotrong các giao dịch nội bộ công ty MNC có thể chuyển lợi nhuận trước thuế từ một quốc gia này sang một quốc gia khác nhằm tối đa hóa tổng lợi nhuận sau thuế của nó”.

Nhằm giúp các quốc gia tiếp nhận đầu tư FDI của các công ty MNC tránh được thủ đoạn trên Cẩm nang hướng dẫn định giá chuyển giao của OECD đã đề xuất hệ thống các phương pháp định giá chuyển giao nhằm hướng dẫn các nước trong công tác quản lý định giá chuyển giao của các công ty MNC.

Thứ hai, Về các phương pháp định giá chuyển giao

1)Phương pháp so sánh giá thị trường tự do (Comparable Uncontrolled Price- CUP)

Phương pháp so sánh giá thị trường tự do là phương so sánh giá của giao dịch chịu sự kiểm soátvà giá của giao dịch độc lập trong những hoàn cảnh và điều kiện tương tự. Sau khi lợi trừ những tác nhân gây ảnh hưởng đến sự chênh lệchđến hai loại giao dịch, giá làm cơ sởxác định doanh thu, hay chi phí là giá của giao dịch độc lập. Phương pháp CUP được chia làm hai loại:

– Phương pháp CUP nội bộ: phương pháp này dùng giá của những sản phẩm hàng hóa, dịch vụ được chuyển giao giữacác công ty concủa một công ty MNC hay giữa công ty con với công ty mẹ với giá cảhàng hóa, dịch vụmà một thành viên của công ty MNC ra bên ngoài cho một công ty độc lập hoàn toàn trong cùng một điều kiện có thể so sánh được với nhau

– Phương pháp CUP đối ngoại: phương pháp này sử dụng giá hàng hóa, dịch vụcủa nghiệp vụ chuyển giao mua, bán giữa nội bộ công ty MNC và giao dịch giữa chủ thể hoàn toàn độc lập khác nhưng phải cùng điều kiện tương đương.

Điều quan trọng để có thể áp dụng phương pháp CUP là các giao dịch đem ra so sánh không có sự khác biệt trọng yếu ảnh hưởng đáng kể đến giá của sản phẩm hàng hóa, dịch vụ. Nếu có sự khác biệt thì sự khác biệt này phải được tính toán, điều chỉnhcho phù hợp, Các yếu tố ảnh hưởng trọng yếu đến giá cả hàng hóa, dịch vụ thường là:(1) Đặc tính vật chất và nhãn hiệu thương mại của sản phẩm; (2) Các điều kiện hợp đồng trong việc cung cấp, chuyển giao sản phẩm. Chẳng hạn như trong hợp đồng thỏa thuận nếu mua khối hàng lớn hay thanh toán tiền mua hàng hóa trước thời hạn quy định thì sẽ được chiết khấulàm cho giá mua rẻ hơn ; (3) Quyền phân phối, tiêu thụ sản phẩm sẽ ảnh hưởng tới giá trị kinh tế của sản phẩm; (4) Thị trường diễn ra các giao dịch mua, bán.

Nhằm bảo đảm các giao dịch tuân thủ theo giá thị trường đòi hỏi công ty MNC phải thực hiện việc so sánh giá chuyển giao nội bộ với giá các giao dịch có thể so sánh như sau:

– Giá giao dịch của một công ty thành viên của công ty MNC cho một công ty hoàn toàn độc lập

-Giá bán hàng hóa dịch vụ trong một nghiệp vụ mua, bán củahai công ty hoàn toàn độc lập với công ty MNC (tức là hai công ty này không phải là thành viêncủa công ty MNC)

– Giá bán hàng hóa, dịch vụ của một công ty hoàn toàn độc lập cho một công ty là thành viên của MNC

 Phương pháp CUP thường được áp dụng trong các trường hợp: (1) Các giao dịch riêng lẻ về từng chủng loại hàng hóa lưu thông trên thị trường; (2) Các giao dịch riêng lẽ từng loại dịch vụ, bản quyền, khế ước vay; (3) Các công ty MNC kinh doanh thực hiện cả giao dịch độc lập và giao dịch liên kếtcho cùng chủng loại sản phẩm

Áp dụng phương pháp này có ưu điểm :là phương pháp định giá chuyển giao trực tiếp, có độ chính xác cao so với phương pháp khác theo nguyên tắc giá thị trường. Tuy nhiên, việc áp dụng phương pháp CUP cũng có những hạn chế nhất định, cụ thể để áp dụng phương pháp này cần phải tìm ra được một doanh nghiệp hoạt động độc lập hoàn toàn có đặc tính về kinh doanh, quy mô và sản phẩm tương tựhoặc giống hệtvới doanh nghiệp chịu sự kiểm soát để so sánh. Trong thực tế rất khó tìm

2) Phương pháp dựa vào giá bán ra (Resale Price Method- RPM)

Phương pháp dựa vào giá bán ra hay giá bán lạicủa sản phẩm trong giao dịch độc lập của cơ sở kinh doanh để xác định giá mua vào của sản phẩm đó từ giao dịch liên kết.

Như vậy, phương pháp này bắt đầu lấy giá bán rahay giá bán lại trừ (-) lợi nhuận gộp trừ (-) các chi phí khác. Trong đó lợi nhuận gộp bao gồm các khoản chiết khấu mà công ty độc lập này được hưởng và tổng các khoản chiết khấu này phải đủ bùđắp các chi phí bán hàng, chi phí quản lývà điều hành doanh nghiệp cũng như có được mức lợi nhuận hợp lý; các khoản chi phí khác là các khoản chi phí liên quan đến việc mua sản phẩmvà vận chuyển sản phẩm như thuế nhập khẩu, chi phí hải quan, chi phí bảo hiểm, chi phí vận chuyển…Sau khi trừ lợi nhuận gộp và chi phí khác phần còn lại được xem là giá mua theo nguyên tắc thị trường – (ALP)

B=D- (L+C) Trong đó B là giá mua; L lãi gộp và C chi phí khác

L= td D; td là tỷ suất lợi nhuận gộp trên doanh thu và td =Doanh thu thuần trừ (-) giá vốnchia Doanh thu thuần.

Như vậy vấn đề quan trọng muốn áp dụng phương pháp này là phải xác định được tỷ suất lợi nhuận gộp trên doanh thu thuần vì thế, tỷ suất lợi nhuận gốp thường được căn cứ trên cơ sở so sánh với số liệu của doanh nghiệp độc lập có phân phối sản phẩm tương tự và phải loại trừ yếu tố có thể gây ảnh hưởng về mặt vật chất như: các chi phí phản ảnh của cơ sở kinh doanh (vì dụ: đại lý phân bổ độc quyền, thực hiện chương trình quảng cáo, khuyến mại, bảo hành); chủng loại, quy mô, khối lượngthời gian quay vòng của sản phẩm mua vào để bán ravà tính chất hoạt độngcủa giao dịch trên thị trường; phương pháp hạch toán kế toán… Phương pháp này chỉ thích hợp áp dụng trong điều kiện không có sự khác biệt về điều kiện giao dịch khi so sánh giữa giao dịch độc lập và giao dịch liên kết gây ảnh hưởng trọng yếu đến tỷ suất lợi nhuận gộp trên doanh thu thuần. Vì vậy phương pháp giá bán lạithường áp dụngcho các trường hợp giao dịch đối với các sản phẩm thuộc khâu cung cấp dịch vụ đơn giản và thương mại phân phối có thời gian từ khi mua vào đến khi bán ra ngắn, ít có sự biến động về tính thời vụ, đồng thời sản phẩm trước khi bán ra không thông qua khâu gia công, chế biến, lắp ráp, thay thế, thay đổi tính chất sản phẩm hoặc gắn với nhãn hiệu thương mại để làm tăng giá trị sản phẩm đáng kể

Phương pháp RPM có ưu điểm là gần gũi với nguyên tắc giá bán thị trường – ALP. Việc áp dụng phương pháp này không phụ thuộc vào giá tự do có thể so sánh được. Tuy nhiên, phương pháp này vẫn có nhược điểm là nó đòi hỏi phải xác định được tỷ suất lợi nhuận gộp trên doanh thu thuần một cách chính xác, trong lợi nhuận gộp của doanh nghiệp lại thường xuyên bị biến động do nhiều nhân tố khác nhau. Vì vậy, trong điều kiện có sự khác biệt về giao dịch độc lập và giao dịch liên kết có sự khác biệt trong yếu thì việc áp dụng phương pháp RPM không thích hợp

3) Phương pháp cộng lãi vào giá vốn (Cost Plus Method-CP)

Đây là phương pháp căn cứ vào giá vốn hay giá thành của sản phẩm để xác định giá bán ra của sản phẩm đó trong giao dịch liên kết.

Pb= Pv + Lg Trong đó: Pb giá bán ra của sản phẩm trong liên kết; Pv giá vốn hàng bán ra hoặc giá thành của sản phẩm; Lg lãi gộp.

Lãi gộp là giá trị chênh lệch giữa doanh thu thuần và giá vốn hoặc giá thành của sản phẩm hạch toán theo quy định của chế độ kế toán. Lãi gộp được xác định trên cơ sở tỷ suất lãi gộpnhân với giá vốn hoặc giá thành của sản phẩm đó. Tỷ suất lãi gộp được xác định theo công thức:  trong đó lg là tỷ suất lãi gộp; Lg là lãi gộp; Pv là giá vốn hay giá thành của sản phẩm bán ra trong liên kết. Tương tự như tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu thuần, tỷ suất lợi nhuận trên giá vốnhoặc giá thành trong trường hợp này cũng cần căn cứ vào tỷ suất lợi nhuận gộptương tự của doanh nghiệp độc lập có cùng tính chất hoạt động sau khi đã loại trừcác yếu tố có thể gây ảnh hưởng về mặt vật chất. Tỷ suất lợi nhuận gộp này là cơ sở ban đầu cho việc tính ra mức lợi nhuận phù hợp. Tuy nhiên, khi so sánh tỷ suất lợi nhuận trên giá vốn hoặc giá thành của sản phẩm bán ra không nêntính tỷ suất lợi nhuận bình quân ngành vì chỉ số này không mang tính đặc trưng vàcó biến động lớn.

Nói chung phương pháp CP thích hợp với doanh nghiệpsản xuất khi thành phẩm hoặc bán thành phẩm được chuyển giao sang khâu chế biếntiếp theo tại một doanh nghiệp liên kết khácvà cũng phù hợp với các giao dịch cung cấp dịch vụ. Ưu điểm nổi bật của phương pháp này là phù hợp với nguyên tắc giá thị trường, được nhiều nước sử dụng. Tuy vậy, phương pháp này cũng có nhược điểm khi áp dụng. Việc áp dụng phương pháp này phụ thuộc tính chất xác của tỷ suất lợi nhuận trên giá vốn hoặc giá thành.

Ba phương pháp kể trên được được đề cập trong Cẩm nang định giá chuyển giaocủa OECD ban hành năm 1979, gọi là cá phương pháp truyền thống và là các phương trực tiếp để xác định xem liệu rằng các điều kiện trong quan hệ thương mại và tài chính giữa hai doanh nghiệp liên kết khi xác định giá chuyển giao có thực sự được hình thành theo nguyên tắc thị trường hay không. Do tính chất trực tiếp của ba phương pháp trên nên được áp dụng thường xuyên tại nhiều nước trên thế giới.Tuy nhiên, ngày nay trong một thế giới đầy biến động nhất là ở lĩnh vực kinh tế, gây không ít khó khăn cho hoạt đông của các công ty MNC và do đó tình trạng lợi dụng định giá chuyển giao của các công ty MNC để trốn thuế ngày càng phát triển với nhiều thủ đoạn tinh vi. Nhiều trường hợp các phương pháp trên không thể áp dụng được, năm 1995 OECD ban hành cuốn Cẩm nang hướng dẫn định giá chuyển giao mới, trong đó,ngoài phần bảo lưu 3 phương pháp truền thống kể trênđề cập thêm các phương pháp mới

4)Phương pháp tác lợi nhuận (Profit Split mothod- PS)

Phương pháp này được thiết lập trên cơ sởgiả định lợi trừ tất cả các yếu tố đặc biệt làm ảnh hưởng đến giá giao dịch độc lập và coi tất cả các bên tham gia trong giao dịch đều tạo nên lợi tức. Lợi tức thu được từ việc tham gia các giao dịchsẽ được chia cho các bên trên cơ sở tính đến các yếu tố như: vốn góp, rủi ro và chức năngcủa từng bên tham gia. Phương pháp này có hai cách tính:

– Cách thứ nhất:phân bổ lợi nhuận cho từng bên liên kết trên cơ sở đóng góp vốn(chi phí) theo đó lợi nhuận của mỗi bên tham gia trong giao dịch được xác định trên cơ sở phân bổ tổng lợi nhuận thu được từ giao dịch liên kết tổng hợp theo tỷ lệ vốn góp(chi phí) sử dụng trong giao dịch liên kết của cơ sở kinh doanh đó trong tổng vốn đầu tư để tạo ra sản phẩm cuối cùng. Cụ thể được xác định theo công thức sau:

 ,

Trong đó lpb lợi nhuận phân bổ cho cơ sở kinh doanh, Lt Tổng lợi nhuận (lãi, lỗ trước thuế TNDN được tạo ra từ giao dịch liên kết), Vt tổng vốn đầu tư (Tổng số vốn góp các bên tham gia trong giao dịch), vg vốn góp (bằng tiền, bằng dịch vụ và các tài sản khác được quy đổi thành giá trị bằng tiền)

– Cách thứ hai; phân chia lợi nhuận thành hai bước

Bước 1 phân chia lợi nhuận cơ bản.

Mỗi bên tham gia giao dịch liên kếtđược nhận phần lợi nhuận cơ bản tương ứng với chức năng hoạt động của mình. Phần lợi nhuận cơ bản này phản ảnh giá trị lợi nhuận của giao dịch liên kết tổng hợp mà mà cơ sở kinh doanh(bên tham gia) do chức năng hoạt động của mình mà có và chưa tính đến các yếu tố đặc thùvà duy nhất (ví dụ độc quyền sở hữu, quyền sở hữu trí tuệ hoặc tài sản vô hình).

Phần lợi nhuận cơ bản được tính theo tỷ suất lợi nhuận gộphoặc tỷ suất sinh lời của sản phẩm theo công thức:trong đó Lcb là luận nhuận cơ bản lts là tỷ suất lợi nhuận, Z là giá thành

 trong đó Gv giá vốn hàng bán; CR&Dchi phí nghiên cứu và triển khai, CB chi phí bán hàng và quản lý chung

Bước 2phân chia lợi nhuận phụ trội.

Mỗi bênkinh doanh tham gia giao dịch liên kết được tiếp nhận phần lợi nhuận phụ trộitương ứng với tỷ lệ đóng góp liên quan tổng lợi nhuận phụ trội. Tổng lợi nhuận phụ trội là số chênh lệch giữa tổng lợi nhuận thu được và tổng lợi nhuân cơ bản đã phân chia ở bước thứ nhất của giao dịch liên kết tổng hợp. Phần lợi nhuận phụ trội phản ảnh lợi nhuận của giao dịchliên kết tổng hợpmà cơ sở kinh doanh thu đượcngoài phần lợi nhuận cơ bảnnhờ các yếu tố đặc thùvà duy nhất. Phần lợi nhuậnphụ trội của mỗi bên được tính bằng tổng lợi nhuận phụ trộithu được từ liên kết nhân với tỷ lệ đóng góp các chi phíhoặc tài sản của mỗi bên.

Phương pháp tách lợi nhuận (PS) thường được áp dụng trong trường hợp bên liên kết cùng tham gia nghiên cứu và phát triểnsản phẩm mớihoặc phát triển sản phẩm là tài sản vô hình độc quyền hoặc các giao dịch trong quy trình sản xuất kinh doanh chuyển tiếp giữacác bên liên kếttừ khâunguyên vật liệu đến thành phẩm cuối cùngđể lưu thông sản phẩmgắn liền với các sở hữu hoặc sử dụng quyền sở hữu trí tuệ duy nhất. Phương pháp PS có ưu điểm là không phụ thuộc vào các giao dịch độc lập để so sánh chỉ lấy dữ liệu kinh tế từ giao dịch độc lập làm yếu tố tham khảo. Nhược điểm của phương pháp PS là tính toán phức tạp khó phù hợp với các nước đang phát triển;

5)Phương pháp so sánh lợi nhuận (Transactional Net Marginmethod -TNM);

Đây là phương pháp dựa vào tỷ suất sinh lời của sản phẩm trong giao dịch độc lập được chọn để so sánh xác định tỷ suất sinh lời của sản phẩm trong giao dịch liên kết khi mà giao dịch trong liên kết có điều kiện tương đương với giao dịch độc lập. Cơ sở kinh doanh có thể lựa chọn một trong các tỷ suất sinh lời của giao dịch độc lập để so sánh tỷ suất sinh lời sản phẩm trong giao dịch liên kết và có thể sử dụng một hoặc nhiều tỷ suất sinh lời khác được quy định theo chế độ báo cáo tài chính nhằm bổ trợ kiểm tra tính chính xác của tỷ suất sinh lợi đã chọn. Nói chung việc lựa chọn tỷ suất sinh lời của sản phẩm trong giao dịch liên kết phụ thuộc vào bản chất kinh tế của giao dịch. Tỷ suất sinh lời được tính bằng lợi nhuận thuần trước thuế trên doanh thu thuần hoặc trên chi phí hoặc trên tài sản của hoạt động sản xuất kinh doanh.

Lợi nhuận thuần trước thuế có thể được cộng thêm (+) chi phí lãi tiền vay hoặc khấu hao TSCĐ để xác định hiệu quả sản xuất kinh doanh trước khi chi trả các khảo chi phí này. Các tỷ suất sinh lời thường được sử dụng là

– Tỷ suất lợi nhuận thuần trước thuếtrên doanh thu thuầntừ hoạt động SXKD

– Tỷ suất lợi nhuận thuần trước thuế trên tổng chi phí từ hoạt động SXKD

– Tỷ suất lợi nhuận thuần trước thuếtrên giá trị tài sản hoạt động SXKD nếu cơ sở kinh doanh có giá trị TSCĐ có tỷ trọng đáng kể trong tổng vốn đầu tư(chẳng hạn doanh nghiệp trong ngành khai thác mỏ)

Phương pháp TNM được áp dụng thích hợp trong điều kiện không có sự khác biệt về điều kiện giao dịch khi so sánh giữa giao dịch độc lập với giao dịch liên kết gây ảnh hưởng trọng yếu đến tỷ suất sinh lời

Công thức tính toán tỷ suất sinh lời:

Tỷ suất thu nhập thuần trước thuế (lợi nhuận thuần trướcthuế) trêndoanh thu thuần

 Tỷ suất = , Trong đó: EBT thu nhập thuần trước thuế (doanh thu thuần – Tổng chi phí), DTdoanh thu thuần

Tỷ suất thu nhậpthuần trước thuêtrên tổng chi phí hoạt động sản xuất kinh doanh

Tỷ suất  trong đó CTlà tổng chi phí

Tỷ suất thu nhập thuần trên tà sản sử dụng để SXKD

Tỷ suất  trong đó GTTS là giá trị tài sản sử dụng để SXKS

Nhược điểm chủ yếu của phương pháp này là do quá tập trung phân tích lợi nhuận phát sinh từng nghiệp vụ chuyển giao một cách riêng rẽ, vì vậy, sẽ gặp trở ngại khi các nghiệp vụ chuyển giao có mối quan hệ chặt chẽ với nhau (thường xẩy ra trong thực tiễn)

6) Phương pháp phân bổ lợi nhuận toàn cầu (Global FormularApportionment- GFA)

Mặc dù phương pháp này không dựa vào nguyên tắc giao dịch độc lập, nhưng được chấp nhận như phương án 2 để xác định giá chuyển giao trong giao dịch liên kết. Điểm cốt lỏi của phương pháp này là lấy tổng lợi nhuận của toàn công ty MNC gọi là lợi nhuận toàn cầu chiacho từng đơn vị chịu thuế. Cách tiến hành như sau:

– Xác định số đơn vị chịu thuế trong công ty MNC

– Xác định tổng lợi nhuận của công ty MNC (lợi nhuận toàn cầu)

– Xây dựng công thức để phân bổ lợi nhuận toàn cầu cho từng đơn vị chịu thuế trongcông ty MNC. Các yếu tố thường được sử dụng để làm căn cứ phân bổ lợi nhuận toàn cầu cho từng thành viên chịu thuế là: chi phí, tài sản,quỹ lương, doanh thu của mỗi thành viên.

Yêu cầu đặt ra khi sử dụng phương pháp GFA là không được mâu thuẫn với phương pháp lợi nhuận ròng của nghiệp vụ chuyển giao và phải dựa trên cơ sở từng nghiệp vụ chuyển giao và phải có sự so sánh với các giao dịch tương tự được thực hiện bởi các công ty độc lập, đồng thời công thức phân bổlợi nhuận cũng không được tạo ra sự tranh cãi giữa cơ quan thuế và đối tượng nộp thuế, vì vậy việc phân bổ lợi nhuậnphải dựa trên sự phân tíchrất thận trọng về những dữ kiện thực tế.

7)Phương pháp thỏa thuận trước về giá Advance Pricing Agreement-APA

Phương pháp APA thực chất là một dạng cam kết về mặt pháp lý giữa cơ quan thuế (của một hoặc nhiều nước)và đối tượng nộp thuế được xây dựng trước khiphát sinh giao dịch liên kết để xác định một nhómcác nhân tố(phương pháp tính,các điều chỉnh và so sánh thích hợp, các giả định trọng yếu sẽ xảy ra trong tương lai vv…) làm cơ sở cho việc xác định giá chuyển giao thích hợp trong các giao dịch liên kết của đối tượng nộp thuế trong một khoảng thời gian nhất định.

Việc áp dụng phương pháp APA thích hợp trong các trường hợp sau:

– Còn có sự nghi ngờ về độ tin cậy và tính chính xác trong việc sử dụng các phương pháp xác định giá thị trường;

– Khi có những giao dịch liên kết đặc biệt phức tạp việc sử dụng các phương pháp định giá chuyển giao không thực hiện được;

– Sau khi tiến hành thanh tra, kiểm tra chuyển giá mà hoạt động chuyển giá vẫn tái diễn.

Phương pháp APA có nhiều dạng: phương phápAPA đơn phương; phương pháp APA song phương và phương pháp APA đa phương

– Phương pháp APA đơn phương là phương pháp thỏa thuận trước giá giữa cơ quan thuế một nước với đối tượng nộp thuế;Phương pháp này có ưu điểm là đơn giản, thời gian đàm phán ngắn, chi phí thấp. Điều kiện áp dụng phương pháp APA đơn phương là khi nước ban hành không có Hiệp định tránh đánh thuế hai lần với nước công ty mẹ cư trú, khi cơ quan thuếcác nước mới bắt đầuthực hiện phương pháp APA và cần thời gia học hỏi rút kinh nghiệm, số thuế phát sinh không lớn, yêu cầu thực hiện phương pháp APA của các công ty vừa và nhỏ, vấn đề thuế phát sinh không phức tạp lắm.

– Phương pháp APA song phương là hình thức thỏa thuậncủa hai cơ quan thuế ở hai nước được xác lập trên cơ sở đề nghị của đối tượng nộp thuế ở mỗi nước.Phương pháp này có ưu điểm là loại trừ được tình trạng đánh thuế hai lần. Điều kiện áp dụng phương pháp này là nước áp dụng có tham gia ký kết Hiệp định tránh đánh thuế hai lần

– Phương pháp APA đa phương là hình thức thỏa thuận giá trước của nhiều hơn 2 cơ quan thuếở nhiều hơn hai nước với đối tượng nộp thuế

Nói chung phương pháp APA có đặc điểm:mang tính tự nguyện; đề cao tính hợp tác; có các điều khoản áp dụng cho tương lai; linh hoạt

Áp dụng phương pháp APA có nhiều ưu điểm, song cũng ẩn chưa nhiều hạn chế:

Về ưu điểm:

– Đối với cơ quan thuế: phương pháp APA cung cấpmột lộ trình thực hiện nghĩa vụthuế khá đầy đủcủa đối tượng nộp thuế trong tương lai, giúp cơ quan thuế chủ động hơn khi thu thuế; giảm được chi phí tuân thủ vì trong thời hạn thực hiện APA cơ quan thuế không cần phải thanh tra kiểm tra chuyển giá chừng nào đối tượng nộp thuếvẫn còn tuân thủ những quy định đã được thống nhất trong APA; giảm được rủi ro kiện tụng trong trường hợp không có sựnhất trí về quyết định thanh tra của cơ quan thu thu thuế vì APA dựa trên nguyên tắc tự nguyện; củng cố mối quan hệ giữa các cơ quan thuếvà giữa các cơ quan thuế với đối tượng nộp thuế qua đó tạo ra sự tin tưởng lẫn nhau trong hợp tác thực hiện nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước. Khi thực hiện phương pháp APA cơ quan thuế trở thành cơ quan tư vấn, cung cấp các dịch vụ công cho đối tượng nộp thuế là chủ yếu .

– Đối với đối tượng nộp thuế:

Phương pháp APA tạo môi trường thuế thuận lợi cho người nộp thuế, giúp đối tượng nộp thuế dự báo được mức thuế phải nộp trong một khoảng thời giannhất định trong tương lai,nhờ đó tránh được những bất ổn về nghĩa vụ thuế hay phạt hànhchính vv…có thể xẩy ra trong quá trình thanh tra chuyển giá, giúp đối tượng nộp thuế chủ động trong việc xây dựng kế hoạch kinh doanh; loại bỏ rủi ro liên quan đến kiện tụngtrong trường hợp không có nhất trí về quyết định thanh tra chuyển giácủa cơ quan thuế, giúp doanh nghiệp tránh được bị đánh thuế hai lần nếu tham gia APA song phương hoặc đa phương.

Những hạn chế của phương pháp APA

– Đối với cơ quan thuế:

Khi áp dụng phương pháp APA có những khó khăn bất lợi sau đây:

+Sử dụng APA đơn phương có thể gây ra rủi ro về tham nhũng bởi lẽ trong đàm phán APA đơn phương chỉ có cơ quan thuế và đối tượng nộp thuế dễ dẫn đến hiện tượng móc ngoặc, thông đồng giữa đối tượng nộp thuế và cơ quan thuế.

+Phương pháp APA đơn phương có thể tạo ra sự bất đồng giữa các cơ quan thuế và không giảm được rủi rocủa việc đánh thuế trùng. APA là thỏa thuận về giá giữa cơ quan thuế và đối tượng nộp thuế trong cùng một quốc gia, tuy nhiên kết quả đàm phán lại ảnh hưởng đến cả cơ quan thuế và đối tượng nộp thuế của các quốc gia khác. Việc điều chỉnhgiá giao dịch liên kết của đối tượng nộp thuế có thể không tương xứng giữa các quốc gia, do đó người nộp thuế vẫn có thể bị đánh thuếcả 2 quốc gia hoặc sẽ dẫn đến tranh chấp về quyền đánh thuế giữa hai cơ quan thuế

+Về bản chất các điều khoản thỏa thuận trước về giá chuyển giao là căn cứ vào kết quả dự báo các yếu tố. Khi kết quả dự báo điễn biến các yếu tố đó không chính xác, không phù hợp với thực tế xẩy ra trong tương lai, điều tất yếu sẽ xẩy ra là việc điều chỉnh giá giao dịch liên kết của đối tượng nộp thuế sẽ sai sót, hậu quả là hoặc làm thiệt hại nguồn thu của NSNN hoặc ảnh hưởng đến quyền lợi chính đáng của người nộp thuế

+ Sử dụng phương pháp APA dòi hỏi lượng thông tin rất lớn từ người nộp thuế và từ thị trường. Do nhiều lý do khách quan và chủ quan, đối tượng nộp thuế không muốn cung cấp thông tin bí mật về kinh doanh, hoặc do năng lực thu thập, xử lý thông tin từ thị trường của cơ quan thuế còn hạn chế, nên cơ quan thuế thiếu nguồn thông tin đáng tin cậy để thực hiện phương pháp APA

– Đối với đối tượng nộp thuế:

Tham gia vào APA đối tượng nộp thuế phải cung cấp tư liệu về hoạt động của mình theo yêu cầu của cơ quan thuế. Nếu cơ quan thuế chỉ nghiêng về tạo thuận lợi cho mình, đòi hỏi đối tượng nộp thuế cung cấp lượng thông quá lớn, phức tạp, vượt quá khả năng, tất yếu gây khó dễ cho đối tượng nộp thuế. Mặt khác trong trường hợp nếu đàm phán giữa cơ quan thuế và đối tượng nộp thuế về áp dụng phương pháp APA không thành công, bắt buộc cơ quan thuế phải sử dụng các giải pháp để kiểm soát việc chuyển giá trong giao dịch liên kết như thanh tra về chuyển giá gây rắc rối thêm cho đối tượng nộp thuế

Tóm lại, việc áp dụng phương pháp APA tuy có nhiều ưu việt so những hạn chế của nó, song việc áp dụng phương pháp APA hay không tùy thuộc vào nội luật của từng nước, có nước cho phép cơ quan thuế áp dụng phương pháp thỏa thuận trước giá chuyển giao trong liên kết với đối tượng nộp thuế, có nước lại không cho phép.

Nhận xét

Tuy Cẩm nang của OECD không đưa thực tế áp dụng Cẩm nang của các nước trong khối, song Cẩm nang đưa ra những định nghĩa và phương pháp định giá chuyển giao là cơ sở nền tảng quan trọng hướng dẫn cho các nước nghiên cứu tổ chức áp dụng.Đối với Việt Nam vấn đề kiểm soát định giá chuyển giao trong giao dịch liên kết là một vấn đề mới, vì vậy nghiên cứu vận dụng những quy định trong cuốn Cẩm nang của OECD là một hêt sức cần thiết, nhất là đối với cơ quan quản lý thuế.

7.2.2.2. Kinh nghiệm của Mỹ

Thứ nhất, Khái quát về hoạt động đầu tư trực tiếp của các MNC nước ngoài và tình hình chuyển giá của các MNC ở Mỹ

Có thể nói, tuy những năm gần đây tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Mỹ có sự giảm sút đáng kể, song nhin chung đầu tư trực tiếp của các nước vào Mỹ vẫn chiếm tỷ lệ lớn nhất so với các nước trên thế gới. Theo báo cáo của Bộ Thương Mại và Hội đồng Cố vấn kinh tế của Tổng thống Obama, Mỹ liên tục đứng đầu thế giới về thu hút FDI kể từ năm 2006 đến nay, với dòng vốn tổng cộng lên tới 1.500 tỷ USD.

Năm 2012, FDI vào Mỹ ước tính đạt 166 tỷ USD và tài sản ròng của các chi nhánh nước ngoài đặt tại Mỹ tổng cộng là 3,9 tỷ USD. Đầu tư vào Mỹ chủ yếu đến từ một nhóm các nước công nghiệp gồm Nhật Bản, Canada, Australia, Hàn Quốc và các nước Tây Âu – vốn chiếm trới 80% FDI mới đổ vào Mỹ. Trong khi đó, mặc dù còn khiêm tốn nhưng dòng vốn đầu tư của các nền kinh tế mới nổi vào Mỹ như Trung Quốc và Brazil cũng đang gia tăng nhanh chóng.(www.usis.us/tintuc/my-cong-bo-chien-luoc-nham-thu-hut-dau-tu-nuoc-ngoai.html

Đi liền với sự gia tăng nguồn FDI vào Mỹ, thì vấn nạn chuyển giá nhằm tối thiểu hóa nghĩa vụ thuế để tối đa hóa lợi nhuận của các MNC cũng gia tăng tại Mỹ

Nói chung vấn đề định giá chuyển giao trong nội bộ của các MNC nhằm trốn thuế ở Mỹ diễn biến hết sức tinh vi phức tạp, các cơ quan thuế không thể tìm được hướng tiếp cận một cách một cách chính xác phần nào là tổng lợi nhuận được tạo ra trên lãnh thổ Mỹ

Sự gia tăng làm giảm nghĩa vụ thuế bằng cách định giá chuyển giao trong giao dịch liên kết của MNC ở Mỹ có nhiều nguyên nhân, trong số các nguyên nhân đó là những quy định trong luật thuế công ty tại Mỹ có phần chưa hợp lý. Thuế thu nhập công ty của Mỹ có ba đặc điểm đáng quan tâm liên quan đến vấn đề chuyển giá trong hoạt giao dịch liên kết của các MNC

Thức nhất, mức thuế suất thuế thu nhập công ty cao chiếm tới 40% thu nhập chịu thuế

Thứ hai,thuế thu nhập công ty của Mỹ chỉ điều tiết thu nhập của các MNC phát sinh trong nước Mỹ

Thứ ba, các chi phí của các MNC không được luật thuế thu nhập công ty cân nhắc xem xét.

Những đặc điểm này là một trong những nguyên cớ để các công tyMNC lợi dụng định giá chuyển giao nhằm tối thiểu hóa nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước Mỹ.Chẳng hạn IRS (Internal Revenue Service) đưa ra các bằng chứng cho thấy, những công ty MNC không thuộc sở hữu của người Mỹ hầu hết là nộp thuế ít hơn các công ty MNC của người Mỹ thuần túy nội địa do họ gian lận trong kê khai thu nhập phát sinh tại Mỹ (theo quy định Luật thuế thu nhập công ty của Mỹ chỉ đánh thuế trên phần thu nhập phát sinh tại Mỹ) và do đó các công ty MNC của người Mỹ thực hiện trốn thuế bằng cách di chuyển vốn đầu tư ra các nước đang phát triển. Mặt khác, các công ty mẹ tại Mỹ có thể đầu tư vào các công ty con ở nước ngoài thuộc các ngành dược phẩm, điện tử , sau đó họ chuyển nhượng những tài sản đáng giá nhất của mình như bằng sáng chế, phát minh, bí quyết thương mại… cho hoạt động tại các nước đang phát triển. Bằng cách đó họ họ có thể khai báo với cơ quan thuế phần rất lớn lợi nhuận họ kiếm được là từ các nước đang phát triển nên không chịu sự điều chỉnh của thuế thu nhập công ty. Theo thông báo của IRS với hành vi lợi dụng định giá chuyển giao trong nội các công ty MNC đã làm thiệt hại cho NS liên bang ít nhất 95 tỷ USD trong 7 năm qua(1998-2005)

Nhằm đối phó với tình trạng trên, Mỹ đã thực thi một số giải pháp kiểm soát định giá chuyển giaokhá quyết liệt

Thứ hai, Các biệm pháp kiểm soát định giá chuyển giao hàng hóa, dịch vụ trong nội bộ của các MNC tại Mỹ.

Một là, Nhà nước Mỹ đặc biệt chú trọng đến các văn bản pháp lý cao nhằm điều chỉnh hoạt động định giá chuyển giao hàng hóa, dịch vụ trong nội bộ của cácMNC. Đến nay đạo luật cơ bản và đầy đủ nhất về việc chống chuyển giá của Mỹ là Bộ Luật thu nội địa (Đạo luật IRS Sec 482).Tại các điều 482,6038 A, 6038C, 6062(e)-(h) của Bộ Luật IRS 482 đẫ đề cập đến các nội dung liên quan đến việc quản lý giá chuyển giao một cách cụ thể. Trên cơ sở Luật IRS đã được ban hành, Cục thuế nội địa của Mỹ đã có văn bản hướng dẫn về định giá chuyển giao. Trong số các văn bản hướng dẫn phải kể đến một văn bản có tên gọi là “Sách trắng” (White Paper).Trong cuốn “ Sách trắng” này đặc biệt đề cập đến các phương pháp định giá chuyển giao và đặt trọng tâm vào vấn đề sử dụng phương pháp lợi nhuận. Phương pháp này xem xét giới hạn lợi nhuận ròng trong mối quan hệvới cácchỉ tiêu như:giá phí, doanh số bán hàng, lợi nhuận mà công ty MNC nộp thuế từ một loạt hoạt động chuyển giao kiểm soát được

Hai là, về đối tượng điều chỉnh giá chuyển giao

Mỹ xác định đối tương điều chỉnh giá chuyển giao là các công ty liên kết tham gia kinh doanh quốc tế bao gồm:

– Doanh nghiệp Mỹ nắm giữ và kiểm soát một cách trực tiếp hay gián tiếp của một doanh nghiệp ở nước ngoài

– Các doanh nghiệp Mỹ đặt dưới sự nắm giữ và kiểm soát một cách trực tiếp hoặc gián tiếp của một doanh nghiệp nước ngoài

– Các doanh nghiệpMỹ cung với một hoặc nhiều doanh nghiệp nước ngoài cùng chịu sự kiểm soát chung của một doanh nghiệp hoặc một tập đoàn ở nước ngoài.

Việc quy định đối tượng điều chỉnh giá chuyển giao ở Mỹ khá rỏ ràng chỉ giới hạn trong các công ty liên kết vừa có tác dụng khoanh vùng các doanh nghiệp trong quá trình điều tra , vừa có tác dụng như là một biện pháp để chống lại sự liên kết của các công ty MNC nhằm mục đích trốn thuế.

Ba là,về phương pháp sử dụng để điều chỉnh giá chuyển giao.

Nhìn chung ở Mỹ việc điều chỉnh giá chuyển giao trong nội bộ của các công ty MNC sử dụng tổng hợp các phương pháp như: phương pháp so sánh giá thị trường tự do (CUP), phương pháp dựa vào giá bán ra, phương pháp cộng chi phí vào giá vốn, phương pháp chiết tách lợi nhuận, phương pháp so sánh lợi nhuận. Trong số các phương pháp đó,phương pháp thường được sử dụng nhiều nhất ở Mỹ là phương pháp chiết tách lợi nhuận, bởi lẽ theo họ đây là phương pháp tối ưu để thực hiện, ít tốn kém nhất ở Mỹ và việc xác định mức lợi nhuận hợp lýcó thể so sánh được. Việc áp dụng phương pháp tách lợi nhuậnđược Cục thuế nội địa đưa ra những hướng dẫn riêng và rất cụ thể cho tài sản vô hình. Tuy nhiên đây là phương pháp có độ chính xác không cao nên thường bị các công ty MNC chỉ trích khi áp dụng đối với họ.

Bốn là,đối với vấn đề xuất trình các tài liệu minh chứng.

Vấn đề xuất trình tài liệu minh chứng những hoạt động chuyển giao trong liên kết của các công ty MNC ở Mỹ do cơ quan thuế yêu cầu và được quy định trong Danh mục tài liệu PATA

Danh mục tài liệu yêu cầu đối tượng nộp thuế cung cấp để quản lý chuyển giácủa Hiệp hội các cơ quan thuế Châu Á- Thái Bình Dương (PATA)

Các thanh viên PATA bao gồm Úc, Canada, Mỹ, Nhật quy định những nguyên tắc về một về một danh mục thống nhất các tài liệu đối tượng nộp thuế phải cung cấp nhằm đáp ứng được các yêu cầu quản lý giá chuyển giao. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là danh mục tài liệu PATA này có giá trị pháp lý cao hơn quy định trong nội luật của các nước thành viên. Sau khi rà soát nội luật liên quan đến vấn đềgiá chuyển giao và các giao dịch bị kiểm soát , các nước thành viên PATA đã nhất trí rằng một công ty đa quốc gia sẽ thực hiện đầy đủquy định đầy đủ về tài liệu yêu cầu của từng nước thành viên nếu có đủ tài liệu theo Danh mục PATA thì sẽ tránh được các nước thành viên phạt do thiếu các tài liệu yêu cầu đối với giao dịch đang được xử lý. Tuy nhiên,các nước thành viên PATA vẫn có quyền điều chỉnh giá chuyển giao mặc dù công ty MNC đáp ứng được đầy đủ các quy định về tài liệu.

Danh mục PATA có 3 nguyên tắc chính nhằm tránh bị các nước thành viên phạt do thiếu các tài liệu yêu cầu đối với các giao dịch được quản lý. Ba nguyên tắc đó là: (i) Các công ty MNC cần nỗ lực (mức độ do cơ quan thuế xác định) xây dựng giá chuyển giao theo nguyên tắc giao dịch độc lập; (ii) Các công ty MNC cần duy trì các tài liệu hiện hành chứng minh thực hiện theo nguyên tắc giao dịch độc lập; (iii)Các công ty MNC cần nộp đúng thời hạn quy định các tài liệu khi được cơ quan thuế của các nước thành viên PATA yêu cầu.

Hiện nay, Canada và Mỹ áp dụng hình thức phạt đối với các giao dịch liên quan đến giá chuyển giao trên cơ sở các nguyên tắc Danh mục tài liệu yêu cầu củaPATA

Năm là,về vấn đề xử lý khi có bằng chứng vi phạm

Trong trường hợp cơ quan thuế Mỹ chứng minh được rằng có một sự chuyển lợi nhuận qua giá chuyển giao giữa doanh nghiệp liên kết mà đối tượng nộp thuế không đưa ra được bằng chứng của một giao dịch bình thường theo nguyên tắc thị trường, thì cơ quan thuế có quyền điều chỉnh lại thu nhập của đối tượng nộp thuế và áp dụng mức phạt từ 20%-40% số thuế khai thiếu bị phát hiện do gian lận qua định giá chuyển giao

Sáu là,về vấn đề áp dụng biện pháp thỏa thuân trước về xác định giá (APA).

Ngoài việc thực hiện các biện pháp kể trên, cơ quan thuế Mỹ cũng đưa ra các quy tắc mang tính chi tiết hóa đối với những thỏa thuận về phân bổ chi phí và được cập nhật đối với các thủ tục trong Thỏa thuận trước về xác định giá (APA). Ở Mỹ các thỏa thuân trướcAPA đơn phương, APA song phương hoặc APA đa phương được thực hiện dưới sự điều chỉnh của Revenue Procedure 2006-9 (Pev.Proc.,2006-9) được sửa đổi tháng 12 năm 2005. Để thực hiện Thỏa thuận trước APA, đòi hỏi khoản phí cao hơn theo yêu cầu từ IRS

Nhận xét chung

Qua kinh nghiệm của Mỹ về các biện pháp quản lý giá chuyển giao nhằm chống lại tình trạng chuyển giá của các công ty MNC có thể rút ra hai vấn đề cơ bản:

Một là,ở Mỹ rất chú trọng đến tính chất pháp lý cao của văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động định giá chuyển giao của các công ty MNC. Như phần trên đã chỉ rõ cho đến nay văn bản pháp lý cao nhất trong điều chỉnh hoạt động định giá chuyển giao của các công ty MNC ở Mỷ là đạo luật IRS Sec 482

Hai là,cơ bản Mỹ vẫn áp dụng phương pháp truyền thống của OECD vê định giá chuyển giao. Những hướng dẫncủa Mỹ về áp dụng các phương pháp truyền thống của OECD là khá cụ thể, chi tiết và thống nhất quan điểm của OECD với những nội dung chính như: khái niệm, phương pháp xác định giá, yêu cầu về thông tin, chứng từ, lưu giữ hồ sơ của đối tượng nộp thuế

Tuy nhiên ngoài những điểm thống nhất nói trên, giữa Mỹ và OECD có hai điểm khác biệt: (i) Cơ chế quản lý của Mỹ đặt vấn đề trách nhiệm chính cho cơ quan thuế trong việc xác định giá thị trường song văn bản ban hành cho việc thực hiện mang tính chất khuyến cáo để đối tượng nộp thuế thực hiện và có sự chuẩn bị trước; (ii) Mỹ có xu hướng “sáng tạo”ra các phương pháp xác định giá mới (xác định dựa trên lợi nhuận) và có hướng dẫn cụ thể riêng cho hàng hóa giao dịch hữu hình và hàng hóa giao dịch vô hình do đặc điểm Mỹ là quốc gia công nghệ nguồn phát triển nên hoạt động chuyển giao các sản phẩm “trí tuệ”-tài sản vô hình giữa công ty mẹ ở Mỹ với các công ty con ở nước ngoài khá phát triển

Ba là, nhằm liên kết với các nước trong cuộc chiến chống lợi dụng định giá chuyển giao để trốn thuế Mỹ đã tích cực cùng với các nước Canad, Nhật, Úc thống nhất ban hành Danh mục tài liệu thống nhất gọi là Danh mục PATA cầu cầu đối tượng nộp thuế cung cấp cho cơ quan thuế khi thực hiện thanh tra giá chuyển giao. Vè cơ bản Danh mục PATA giải quyết được những vấn đề nan giải mà các công ty MNCgặp phải khi cùng một lúc phải tuân thủ các yêu cầu khác nhau về chính sách cũng như quản lý thuế của nhiều nước về giá chuyển giao như: thời gian, chi phí và yêu cầu trùng lắp.

Tuy nhiên, bên cạnh đó, cũng cần thấy, sở dĩ có sự gia tăng hoạt động chuyển giá của các MNC tại Mỹ là do những quy định trong Luật thuế thu nhập công ty có mức điều tiết quá cao và chỉ điều tiết thu nhập phát sinh tại Mỹ, không có sự xem xét, cân nhắc đến các chi phí hoạt động của các MNC.Đây có thể là một điểm nhấn quan trong trong việc cải cách đổi mới Luật thuế TNDN của Việt Nam đứng trên góc độ kiểm soát định giá chuyển giao nhìn nhận.

7.2.2.3. Kinh nghiệm của Trung Quốc

Thứ nhất,Khái quát tình hình đầu tư của các công ty MNC và thực trạng định giá chuyển giao của các công ty MNC ở Trung Quốc

Trung Quốc là nước thu hút nguồn FDI của nước ngoài nhiều nhất thế giới.

Năm 1979 đánh dấu việc Trung Quốc mở cửa thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Kể từ đó đến nay, tình hình thu hút FDI đã có nhiều chuyển biến mạnh mẽ. Có thể tóm tắt tình hình thu hút FDI của Trung Quốc qua bốn giai đoạn:

Giai đoạn 1979-1985

Do một thời gian khá dài Trung Quốc đóng cửa, bài ngoại nên thu hút FDI trong dài đoạn này mang tính chất thăm dò,tiến độ thực hiện chậm chạp, mức độ thu hút FDI còn rất hạn chế, chủ yếu là các dự án đầu tư vào vùng duyên hải của các nhà đầu tư tư bản vừa và nhỏ của Hồng Kông,Ma cao. Lĩnh vực đầu tư chủ yếu là vào nhà hàng khách sạn thu lợi nhuận cao. Hầu hết các hạng mục công trình quy mô nhỏ với kỹ thuật thấp, kỳ hạn quay vòng vốn nhanh.Tính tới cuối năm 1985, Trung Quốc đã thu hút được 6.321 hạng mục, với số vốn đầu tư thực tế là 4,72 tỷ USD.

Hầu hết các hạng mục sử dụng nhiều lao động vào những ngành gia công cấp thấp hoặc trung bình. Mục đích của nhà đầu tư lúc đó là lợi dụng sứclao động rẻ ở Trung Quốc.

Giai đoạn phát triển ổn định (1986 – 1991)

Đầu năm 1986, Trung Quốc có sự điều chỉnh. Chiến lược thu hút FDI được cựu Tổng bí thư Đảng CS Trung Quốc Triệu Tử Dương gọi là “lưỡng đầu tại ngoại”, tức là dựa vào bên ngoài cả về cung đầu vào lẫn thị trường đầu ra. Với chiến lược này, Trung Quốc quyết định lấy mục tiêu kinh tế loại hình hướng ra bên ngoài là kết hợp công thương, lấy xây dựng công nghiệp làm chủ,lấy trọng điểm từ việc trải ra kinh doanh chuyển hướng cơ bản sang nắm sản xuất, nâng cao trình độ để đạt hiệu quả kinh tế. Đây là quyết định có ý nghĩa quan trọng cho sự phát triển kinh tế ở Trung Quốc. Chính sách này rất khác so với chính sách của nhiều nước công nghiệp hoá mới (NICs) là thu hút FDI vào sản xuất thay thế nhập khẩu. Đặc điểm của Trung Quốc là đồng thời chuyển đầu tư nước ngoài từ thay thế nhập khẩu sang hướng về xuất khẩu đồng thời vẫn thực hiện công nghiệp hoá. Đặc điểm này đã làm cho các nhà đầu tư chú ý.

Các nhà đầu tư từ trên 60 nước và khu vực, chủ yếu là từ Hồng Kông, Ma Cao, Đài Loan, Nhật Bản và các nước phát triển phương Tây đã đến Trung Quốc. Họ chủ yếu đầu tư vào các ngành năng lượng, thông tin, chế tạo máy,điện tử, dệt, công nghiệp nhẹ, hoá chất, nông nghiệp, lâm nghiệp, chăn nuôi,đánh cá, xây dựng và ngành bất động sản. Những dự án được chấp thuận ở các tỉnh và thành phố duyên hải chiếm 80% tổng số của cả nước. Đầu tư trực tiếp từ nước ngoài có sự chuyển hướng từ các ngành kinh doanh dịch vụ sang các ngành công nghiệp chế tạo, chủ yếu là các ngành công nghiệp tập trung nhiều lao động, sản phẩm được tái xuất qua Hồng Kông phù hợp với chiến lược sử dụng vốn nước ngoài cho mục đích xuất khẩu của Trung Quốc, đã làm tổng sản lượng công nghiệp tăng lên.

Năm 1991, Trung Quốc đã thông qua việc khống chế vĩ mô, kết hợp chặt chẽ chính sách ưu đãi trong thu hút vốn nước ngoài và chính sách ngành nghề của đất nước, khuyến khích có trọng điểm đầu tư nước ngoài vào các hạng mục theo hướng phù hợp với chính sách ngành nghề, các hạng mục phải có quy mô tương đối lớn và có kỹ thuật tiên tiến. Đầu tư nước ngoài ngày càng phát triển vững chắc hơn. Theo báo cáo điều tra của Cục mậu dịch Hồng Kông, từ năm 1979 – 1991, Trung Quốc đã phê chuẩn 12.100 hạng mục vốn nước ngoài, kim ngạch ký kết theo hiệp định là 121,5 tỷ USD, vốn lợi dụng thực tế đạt 79,6 tỷ USD.

Nhìn chung, giai đoạn 1984 – 1991, đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Trung Quốc phát triển ổn định, có sự tăng trưởng cao. Đặc điểm chủ yếu của đầu tư là các hạng mục mang tính sản xuất ngày càng tăng, (riêng năm 1991 chiếm trên 90%). Các hạng mục mang tính kỹ thuật tiên tiến và thuộc loại hình xuất khẩu ngày càng nhiều.

Giai đoạn phát triển nhanh chóng và mạnh mẽ (1992 – 1993)

Bước sang thập kỷ 90, sau chuyến đi thị sát của Đặng Tiểu Bình ở các tỉnh phía Nam, tại Đại hội XIV năm 1992, Đảng Cộng sản Trung Quốc quyết định đẩy nhanh tốc độ kinh tế thị trường. Cả nước đã hình thành kết cấu mở cửa đối ngoại bao gồm 339 huyện thị với diện tích hơn 50 vạn km2 và hơn 300 triệu người. Trung Quốc tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư ngày càng phù hợp với yêu cầu và đòi hỏi của kinh tế thị trường, mở rộng thêm các lĩnh vực đầu tư, quyết định đẩy nhanh sự phát triển của ngành nghề thứ ba và đặc biệt là mở rộng thị trường nội địa. Các nhà đầu tư đã nhìn thấy thị trường nội địa rất tốt, tiềm lực rất lớn, do vậy họ đã đầu tư ồ ạt vào thị trường trong nước.

Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Trung Quốc tăng trưởng cao chưa từng thấy. Số lượng đầu tư của thương gia nước ngoài tăng theo cấp số nhân. Năm 1992, tổng số hạng mục đầu tư của thương gia nước ngoài ký kết trên cả nước là 48.764 hạng mục, tăng 3,75 lần so với 1991. Nó vượt quá cả tổng số hạng mục thời kỳ 1979 – 1991 là 42.027 hạng mục. Kim ngạch ký kết theo hiệp định là 58,12 tỷ USD, tăng 4,85 lần so với 1991, vượt qua tổng kim ngạch ký kết thời kỳ 1979 – 1991, là 52,54 tỷ USD. Kim ngạch sử dụng thực tế là 11,01 tỷ, tăng 2,52 lần so với năm 1991. Năm 1993, số dự án đầu tư của thương gia nước ngoài lên tới 83.437 hạng mục, tăng 71,1% so với năm 1992. Kim ngạch ký kết theo hiệp định là 111,44 tỷ USD, tăng 149,95% so với năm trước. Đồng thời nó cũng nhiều hơn tổng kim ngạch ký kết 14 năm trước đó (1987 – 1992) là 110,46 tỷ USD. Mức sử dụng thực tế đạt 27,52 tỷ USD, tăng 2,49 lần so với năm 1992 và tương đương 80% tổng kim ngạch 14 năm trước đó.

Nguồn FDI trong 2 năm đến từ hơn 120 nước và khu vực. Tốc độ tăng trưởng của các nước phương Tây tăng nhanh. Trong đó các công ty xuyên quốc gia (TNCs), các nhà tư bản từ 3 cường quốc Mỹ – Nhật – EU ngày càng tăng cường số lượng đầu tư vào Trung Quốc.

TNCs và các nhà tư bản lớn phương Tây đầu tư vào Trung Quốc mang theo một số loại hình đầu tư mới, quy mô đầu tư lớn, khởi điểm kỹ thuật cao, sản phẩm cao cấp hoá. Các dự án mang tính sản xuất trong kết cấu ngành nghề giảm xuống. Các dự án mang tính phi sản xuất phát triển tương đối nhanh. Đặc biệt là ngành bất động sản tăng cao, chiếm tỷ trọng lớn trong số các dự án và tỷ lệ trong số vốn của hiệp định từ 9,3% và 31% năm 1992 lên đến 13,57% và 39,28% năm 1993.

Do đầu tư tăng cao đã gây nên những cơn sốt đầu tư, gây ra tình trạng rối loạn về bất động sản, về mở khu chế xuất, khu khai thác kinh tế kỹ thuật. Đầu tư tăng cao đã làm cho nền kinh tế trở nên quá nóng. Năm 1992, kinh tế tăng trưởng 12%, năm 1993 tăng 13,4%. Tốc độ tăng trưởng này đã kéo theo rối loạn về tài chính tiền tệ, tổng cung và tổng cầu mất cân bằng ảnh hưởng đến lạm phát.

Năm 1992, 1993, tuy đầu tư tăng trưởng cao nhưng tỷ trọng kim ngạch sử dụng thực tế trong kim ngạch hiệp định mỗi năm là 18,9% và 24,7%, thấp hơn so với mấy năm trước đó. Tình trạng này xẩy ra một phần do ở nhiều địa phương đã mù quáng đưa các hạng mục đầu tư mà tiền vốn đồng bộ trong nước kèm theo không đủ, thiết bị cơ sở hạ tầng không theo kịp, nguyên liệu, nhiên liệu, cung ứng không đủ.

Nhìn chung, FDI những năm 1992 – 1993 tăng trưởng với tốc độ cao ở Trung Quốc. Đặc trưng cơ bản của nó là mở rộng khu vực đầu tư, mở rộng ngành nghề, mở rộng quy mô dự án, cải thiện kết cấu đầu tư, kết cấu ngành nghề có sự chuyển biến cao cấp hoá.

Giai đoạn điều chỉnh (1994 đến nay)

Trước tình trạng FDI tăng trưởng quá nóng trong giai đoạn 1992 – 1993, từ năm 1994, Chính phủ Trung Quốc đã tiến hành điều chỉnh chiến lược thu hút FDI theo hướng:

+ Đưa tiền vốn vào từ công nghiệp gia công thông thường chuyển sang các ngành nghề cơ sở, ngành nghề tập trung nhiều tiền vốn và kỹ thuật.

+ Từ tiếp nhận những hạng mục nhỏ chuyển sang tiếp nhận những hạng mục lớn và vừa.

+ Từ thu hút tiền vốn ngành nghề chuyển sang thu hút tiền vốn lưu thông quốc tế.

+ Từ xây dựng doanh nghiệp mới là trọng tâm chuyển sang cải tạo những doanh nghiệp cũ.

+ Từ việc đưa đầu tư vào đối tượng bị động chuyển sang đưa vào đối tượng chủ động, có lựa chọn, chú trọng hơn đến chất lượng của đầu tư.

Chính sách điều chỉnh đã làm dịu tình trạng kinh tế quá nóng của Trung Quốc trong 2 năm 1992 – 1993. Trong 6 tháng đầu năm 1994, những cơn sốt về mở khu chế xuất và bất động sản đã dịu xuống. Số lượng dự án mở khu chế xuất, khu phát triển kỹ thuật ở các tỉnh Giang Tô, Triết Giang, Sơn Đông, Phúc Kiến, Quảng Đông, Quảng Tây, Liêu Ninh, Hà Bắc đã giảm từ hơn 1.200 khu xuống chỉ còn 200 khu. Kim ngạch dịch vụ kinh doanh bất động sản tăng143,5% trước đây chỉ còn tăng 43,9%. Ở khu vực duyên hải – điểm nóng mà thương gia nước ngoài đầu tư ngoài Thượng Hải – tăng một chút 1,5%, với kim ngạch tăng 14,2%, các tỉnh và thành phố khác đều có xu thế giảm đi, trong đó, Giang Tô giảm 55,5%, Sơn Đông giảm 50%.

Nhờ điều chỉnh mà đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Trung Quốc đã có sự chuyển biến rõ rệt từ số lượng sang chất lượng. Từ năm 1994 đến nay, mặc dù kim ngạch hiệp định có xu hướng giảm đi nhưng kim ngạch sử dụng thực tế tăng lên. Thượng Hải và Bắc Kinh từng nơi tăng trưởng 2,1 lần và 2,7 lần. Sơn Đông tăng ít nhất cũng đạt 17%. Tính chung cả nước trong năm 1994, số hạng mục đầu tư được Trung Quốc phê chuẩn là 47.490, giảm 43,09% so với năm 1993. Số kim ngạch đầu tư ký kết theo hiệp định là 81,41 tỷ USD, giảm 26,95%. Song số kim ngạch sử dụng thực tế là 33,75 tỷ USD, tăng 22,78%, chiếm 41,5% trong tổng kim ngạch đầu tư ký kết theo hiệp định. Vốn FDI thực tế vào Trung Quốc trong hai năm tiếp theo 1995, 1996 cũng vẫn tăng đều đặn với mức 10%/ năm.

Tuy nhiên, do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực năm 1997 mà luồng vốn FDI vào Trung Quốc có sụt giảm trong hai năm 1998,1999. Kim ngạch thực tế trong hai năm này lần lượt chỉ đạt 43,7 tỷ USD và 40,3 tỷ USD, giảm 1% và 7% so với những năm trước đó. Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ làm giảm thực lực kinh tế của các nước trong khu vực như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài loan, Hồng Kông, vốn là những đối tác đầu tư chủ yếu của Trung Quốc (chiếm hơn 75% tổng vốn FDI). Các nước này phải giải quyết những khó khăn nội tại nên giảm đầu tư ra nước ngoài nói chung và vào Trung Quốc nói riêng. Trung Quốc đã tiến hành một loạt các biện pháp nhằm tăng cường sức hấp dẫn của môi trường đầu tư như: duy trì ổn định tỷ giá đồng NDT, duy trì tốc độ tăng trưởng cao của nền kinh tế, tiếp tục đầu tư cải thiện cơ sở hạ tầng, lựa chọn những hạng mục đầu tư có hiệu quả cao, nâng cao hàm lượng khoa học kỹ thuật của các hạng mục. Nhờ vậy, từ năm 2000, FDI vào Trung Quốc bắt đầu phục hồi trở lại mức 40,77 tỷ USD, 46,87 tỷ USD vào năm 2001, và tăng lên con số kỷ lục là 52,7 tỷ USD vào năm 2002 và theo dự đoán trong năm 2003 sẽ đạt 60 tỷ USD. Hiện nay, có hơn 400.000 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thuộc 180 nước và vùng lãnh thổ đang hoạt động ởTrung Quốc.

Tóm lại, là một trong các quốc gia đi lên từ nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), quá trình thu hút nguồn vốn FDI của Trung Quốc được chia là 3 giai đoạn chính: giai đoạn thăm dò (1979-1985); giai đoạn tăng trưởng và ổn định (1986-1991); giai đoạn điều chỉnh tiến tới phù hợp, hiệu quả (từ năm 1992 đến nay).

Từ năm 1992 đến nay, Trung Quốc luôn là một trong những nước đứng đầu thu hút vốn FDI, trong đó riêng năm 2014, với tổng số vốn đầu tư FDI đăng ký năm 2014 lên tới 128 tỷ USD và là năm đầu tiên kể từ năm 2003, Trung Quốc vượt qua Mỹ để đứng đầu danh sách quốc gia thu hút vốn FDI nhiều nhất thế giới.

Trên thực tế, để có được sự phát triển vượt bậc như hiện nay Trung Quốc đã không ngừng hoàn thiện các chính sách thu hút vốn đầu tư nước ngoài, thận trọng mở cửa đầu tư, phát triển cân đối các vùng miền.

Thời gian đầu, Trung Quốc thực hiện thu hút FDI thử nghiệm ở các đặc khu kinh tế, sau đó mở rộng ra các thành phố ven biển, tạo điều kiện thuận lợi thiết lập quan hệ hợp tác với các nước trong khu vực và trên thế giới. Đặc biệt, sau một thời gian chú trọng thu hút FDI về số lượng nên đã buông lỏng và thiếu kiểm soát công nghệ nhập khẩu, gây tổn hại đến môi trường, đến nay, Trung Quốc luôn yêu cầu kiểm soát công nghệ chuyển giao từ nguồn vốn FDI kèm với bảo vệ môi trường.

Giai đoạn đầu, Trung Quốc chú trọng nguồn vốn của Hoa Kiều từ Đài Loan, Hồng Kông, Ma Cao nhưng sau đó đã chuyển hướng lựa chọn các nhà đầu tư (NĐT) từ các quốc gia như Mỹ, Nhật Bản, Anh (www.vafie.org.vn/detail/thu-hut-von-dau-tu-truc-tiep-tai-chau-a-va-viet-nam.html)

Có thể nói nguồn FDI của nước ngoài đã góp phần không nhỏ cho quá trình phát triển kinh tế, xã hội của Trung Quốc. Tuy vậy, Trung Quốc cũng như các nước đang phát triển, bên cạnh những thành quả đạt được, Trung quốc cũng đang đối mặt với vấn đề lợi dụng định giá chuyển giao của các MNC nhằm tối thiểu nghĩa vụ thuế và tối đa hóa lợi nhuận dưới chiêu bài khai báo lỗ. Do đo, Trung Quốc cũng đang loay hoay tìm biện pháp chống đỡ.

Thứ hai, các biện pháp kiểm soátđịnh giá chuyển giao nhằm trốn thuế của các công ty MNC tại Trung quốc

Đứng trước tình trạng lợi dụng định giá chuyển giao trong nội bộ của các công ty MNC, Trung Quốc cũng tiến hành thực thi nhiềugiải pháp chống chuyển giá. Cụ thể:

Một là,chú trọng tạo cơ sở pháp lý cần thiết cho công tác chống hiện tượng lợi dụng định giá chuyển giao để trốn thuế của các công ty MNC

Để góp phần quan trọng cho việc chống chuyển giá làm thất thoát nguồn thu từ thuế của NSNN, ngày 28 tháng 4 năm 2001 Trung Quốc tiến hành sửa đổi Luật quản lý thuế Nhà nước đồng thời ban hành Nghị định số 362: “Quy định chi tiết Luật quản lý việc đánh thuế và thu thuế”. Nghị định này quy định rõ thẩm quyền của cán bộ thuế và quy định các thủ tục thống nhất hướng dẫn xác định giá chuyển giao đối với các doanh nghiệp ĐTNN hoạt động tại Trung Quốc và có hiệu lực thi hành 15/10/2002, tiếp đến ngày 16 tháng 3 năm 2007 thông qua Luật thuế doanh nghiệp Nhà nước sửa đổi. Nhìn chung những nội dung chống chuyển giá theo quy định của OECD đều được cập nhật trong hai bộ luật này. Tuy vậy mãi đến năm 2013, Trung Quốc mới ban hanh Luật chống chuyển giá. Phải nói rằng, việc quy định và áp dụngcác văn bản pháp lý chống chuyển giá ở Trung Quốc chịu chi phối bởi chính sách thu hút đầu tư. Chính vì vậy, nhìn chung các văn bản pháp lý của Trung Quốcvề chống chuyển giá cũng chỉ điều chính đối với các công ty MNC vừa và nhỏ và cũng mang tính chất thử nghiệm.

Hai là, các phương pháp áp dụng.

Trong hoạt động chống chuyển giá, Trung Quốc chú trọng nhiều đến phương pháp so sánh giá thị trường tự do(CUP), phương pháp cộng chi phí và phương pháp dự vào giá bán ra, song cũng có thể dựa vào các phương pháp khác khi xét thấy cần thiết.

Ba là, về yêu cầu các tài liệu khi các công ty MNC nộp tờ khai thuế và khi thanh tra về giá chuyển giao. Khi nộp tờ khai thuế, các công ty MNC bắt buộc phải kê khai các giao dịch với các doanh nghiệp liên kết. Khi cơ quan thuế thanh tra về giá chuyển giao Luật chống chuyển giá của Trung Quốc không chỉ định chọn một cơ sở dữ liệu nào, tuy nhiên trong thực tế người ta thường sử dụng một số cơ sở dữ liệu như:Bureau van Dijk,s Osiris và Standard and Poor Research Insight

Bốn là,về sử dụng hình thức phạt

Trung Quốc không có quy định cụ thể về xử phạt đối với xác định giá chuyển giao mà áp dụng các hình thức phạt hành chính trong các trường hợp sau:

– Chậm nộp tờ khai các giao dịch với các bên liên kết với mức từ 2000 đến 10.000 CNY;

– Phát hiện các công ty MNC kê khai giảm thu nhập thì sẽ bị phạt đến 3 lần số thuế thuế trốn và trong trường hợp nghiêm trọng có thể bị pháp gấp 5 lần số thuế trốn;

– Có sai sót về lỗi kỹ thuật mức phạt áp dụng từ 10.000 CNY (khoảng 1.208 USD) đến 50.000 CNY (khoảng 6.041 USD);

– Thời hiệu truy thu tiền thuế thông thường là 3 năm trở về trước và 5 đến 10 năm đối với những trường hợp trốn thuế lớn gây hậu quả nghiêm trọng.

– Số thuế nợ được tính lãi suất theo ngày (0,05%/ ngày

Năm là,một số biện pháp khác:

Người nộp thuế có thể xin áp dụng Thỏa thuận trước về giá (APA)

Các công ty MNC khi cung cấp dịch vụ cho công ty con của mình phải tính phí theo nguyên tắc giao dịch độc lập.

Nhận xét chung

Về cơ bản các gải pháp chống chuyển giá của Trung Quốc chủ yếu vẫn dựa trên những hướng dẫn của OECD. Tuy nhiên Luật chống chuyển giá của Trung Quốc có một số điểm khác cơ bản so với Luậtchống chuyển giácủa Mỹ. Cụ thể như sau:

Một là,nghĩa vụ thuế của Trung Quốc không được hợp nhất, nếu một Tập đoàn kinh tế có các chi nhánh tại các tỉnh, thành khác nhau của Trung Quốc sẽ chịu thanh tra về thuế chốngchuyển giá nhiều lần.

Hai là, khi cơ quan thuế của tỉnh này chấp nhận một vấn đề nào đó về thuế thì cơ quan thuế ở địa phương khác chưa chắc đã chấp nhận. Điều này khác hoàn toàn ở Mỹ. Ở Mỹ nếu các Tập đoàn kinh tếcó nhiều chi nhánh trên lãnh thỗ Mỹ,nếu các vấn đề về thuế được chấp nhận ở tiểu bang này, thì cũng được chấp nhận ở các tiểu ban khác

Ba là, ở Trung Quốc, nếu bị xác định là có hành vi chuyển giá tại công ty MNC thì các điều chỉnh về định giá chuyển giao do cơ quan thuếTrung Quốc đưa ra sẽ được áp đặt cho tất cả các loại thuế có liên quan như thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế GTGT, thuế nhập khẩu, xuất khẩu. Trong khi đó tại Mỹ chỉ áp đặt tính lại thuế thu nhập công ty mà thôi

Bốn là, tại Mỹ các chỉ số về mức nâng giá hợp lý do cơ quan thuế lập nên dựa trên các nguồn thông tin đại chúng và công khai mọi người đều biết. Tuy nhiên, tại Trung Quốc thì cũng do cơ quan thuế xây dựng các dữ liệu từ việc so sánh bí mật.

Năm là, việc lập Luật thuế có liên quan đến vấn đề chống chuyển giá tại Trung Quốcphải phối hợp hài hòa giữa haimục tiêu: quản lý thuế và mục tiêu thu hút nguồn FDI của Trung Quốc. Nghĩa là Luật thuế liên quan đến vấn đề chống chống chuyển giá không được làm thui chột mục tiêu thu hút nguồn FDI nước ngoài của Trung Quốc.

7.2.2.4. Kinh nghiêm sử dụng các biện pháp chống chuyển giá của Thái Lan

Thứ nhất, khái quát diễn biến tình hình đầu tư FDI của MNC tại Thái Lan

Đối với các nhà đầu tư nước ngoài, Thái Lan từ lâu đã là điểm đến đầu tư hấp dẫn nhờ nguồn cung cấp năng lượng ổn định và chính sách kinh tế tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp. Thái Lan cũng có lực lượng lao động được đào tạo tốt hơn so với các nước láng giềng như Myanmar, Lào và Campuchia, trong khi quy mô của nền kinh tế Thái Lan lớn gấp 5 lần so với ba nền kinh tế này cộng lại. Ngân hàng Thế giới (WB) xếp Thái Lan ở vị trí thứ 18 trong tổng số 189 nước xét về môi trường kinh doanh thuận lợi, trên cả các nước công nghiệp phát triển như Đức và Nhật Bản.

Thu hút FDI luôn được coi là một trong những nhân tố kích thích quan trọng đối với nền kinh tế Thái Lan. Chính phủ Thái Lan đã xây dựng một chính sách ưu đãi để cho dòng vốn này phát huy được lợi thế. Ngay từ giai đoạn 1959-1971, Thái Lan đã thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế thay thế hàng nhập khẩu. Quốc gia này đã có chủ trương giảm dần đầu tư từ Chính phủ, khuyến khích đầu tư tư nhân. Theo đó, năm 1959, Thái Lan đã thành lập Bộ Đầu tư và đến năm 1960 đã ban hành Luật Đầu tư.

Giai đoạn 1972-1996, Bộ Đầu tư Thái Lan đã ban hành chính sách thu hút các chuyên gia, lao động chất lượng cao từ bên ngoài với những ưu đãi về đất, việc làm để thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế theo hướng xuất khẩu. Từ năm 2005, chính sách thu hút FDI của Thái Lan có sự biến chuyển theo hướng đầu tư chọn lọc với chính sách ưu tiên nhà đầu tư trong nước, hỗ trợ phát triển các loại hình dịch vụ phi sản xuất và các loại hình dịch vụ tài chính. Thống kê cho thấy, FDI vào Thái Lan đầu tư nhiều nhất là lĩnh vực công nghiệp, sau đó là thương mại, bất động sản, xây dựng…

Trước cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1996-1997, Thái Lan chỉ thu hút được nguồn vốn FDI tương đương với 11% GDP của nước này. Tuy nhiên, đến cuối năm 2013, con số này đã tăng lên 48%. Trong khi đó, dòng vốn đầu tư ra nước ngoài của Thái Lan cũng tăng mạnh, từ mức tương đương 1% GDP năm 1995 lên 15% vào năm 2013.

Trong quá khứ, nước này đã khá hào phóng cho các dự án đầu tư lớn hay đầu tư vào vùng kinh tế khó khăn. Các ưu đãi này tỏ ra kém hiệu quả do nhà đầu tư chỉ muốn đầu tư vào các vùng miền có giao thông thuận tiện, trình độ dân trí đủ để cung cấp lực lượng lao động có tay nghề chứ không phải chỉ đầu tư để hưởng ưu đãi thuế. Hiểu được điều này, Chính phủ Thái Lan có ý định giảm chính sách ưu đãi vùng miền trong thời gian tới, thay vào đó sẽ tập trung ưu đãi những dự án lớn, trọng điểm để tạo sức lan tỏa thu hút các nhà đầu tư khác. Chính phủ nước này cũng từng bước chuyển từ ưu đãi thuế đơn thuần sang ưu đãi trọn gói, bao gồm cả thuế, lao động, thủ tục cấp phép trong thời gian nhanh nhất, cung ứng lao động và cơ sở hạ tầng cho nhà đầu tư và quan trọng nhất là đơn giản hóa thủ tục hành chính.

Đáng chú ý là họ còn có ý định ưu đãi cho các dự án đầu tư ra nước ngoài nhằm chủ động hội nhập nền kinh tế toàn cầu, đồng thời nắm vị trí dẫn đầu trong các nền kinh tế thuộc Cộng đồng kinh tế chung ASEAN (AEC). Điều này thể hiện qua việc cung cấp ưu đãi đầu tư cho các công ty mẹ đóng tại Thái Lan (gọi là Regional Operating Headquarters hay ROH). Theo đó, nếu các ROH nắm giữ ít nhất 25% vốn tại các công ty con ở nước ngoài và tiến hành các dịch vụ hỗ trợ (như quản lý, nghiên cứu thị trường, mua sắm, marketing, chuyển giao công nghệ), có trên 50% doanh thu từ các hoạt động đầu tư ra nước ngoài thì sẽ được hưởng thuế suất thu nhập doanh nghiệp ưu đãi 10% đối với lợi nhuận từ kinh doanh, tiền bản quyền, lãi và được miễn thuế đối với tiền cổ tức thu được từ nước ngoài. Ngoài ra, người nước ngoài làm việc cho ROH sẽ được miễn thuế thu nhập cá nhân nếu thu nhập đó phát sinh từ các hoạt động ngoài Thái Lan. Nhờ có chính sách thuế đối với ROH, nhiều công ty đa quốc gia chuyên về sản xuất đang cân nhắc dời trụ sở vùng từ Singapore sang Bangkok. Điều đó cũng sẽ làm tăng số công ty mẹ tại Thái Lan và về lâu dài, tiền sẽ quay về nước này để tái đầu tư. Thời gian qua, tình hình chính trị trong nước đã ảnh hưởng lớn đến triển vọng thu hút FDI của Thái Lan. Chính quyền Thái Lan hiện nay nhận thức rất rõ về nguy cơ trì trệ kinh tế của nước này. Nhiều người cho rằng sự tồn tại của chính phủ phụ thuộc vào quá trình phục hồi của nền kinh tế và các nhà lãnh đạo Thái Lan đang nỗ lực thuyết phục các nhà đầu tư rằng họ sẽ mang lại sự ổn định chính trị và tiếp tục thực hiện các chính sách trước đây. Trong báo cáo đánh giá về môi trường đầu tư của các nước trên toàn cầu công bố cuối tháng 8 vừa qua, WB đánh giá cao những nỗ lực của Thái Lan trong việc cung cấp điện và bảo vệ các nhà đầu tư, xử lý các giấy phép xây dựng và thực hiện các hợp đồng. Các chính sách của chính phủ quân sự có thể tiếp tục duy trì những ưu thế này để hỗ trợ các nhà đầu tư.Thái Lan có một thời gian chứng kiến dòng vốn nước ngoài suy giảm do bất ổn chính trị, thế nhưng, họ đã ngăn được đà suy giảm nhờ biết cách tập trung vào những lĩnh vực quan trọng, đồng thời đơn giản hóa thủ tục hành chính. Vì vậy, mặc dù chính trị vẫn còn chưa thật ổn định nhưng Thái Lan vẫn được xem là một điểm đến đầu tư hấp dẫn. Theo báo cáo của Tổ chức Thương mại và Phát triển của LHQ (UNCTAD), tổng dòng vốn FDI đổ vào khu vực châu Á (trừ Tây Á) trong năm 2013 lên tới 382 tỷ USD, tăng 4% so với năm 2012. Trong đó, Thái Lan là một trong những nền kinh tế đứng đầu châu Á về thu hút vốn FDI sau Trung Quốc, Hồng Kông, Singapore, Ấn Độ, Indonesia. Những chính sách ưu tiên thu hút đầu tư FDI ở nước ngoài của Thái Lan đã góp phần không nhỏ trong quá trình phát triển kinh tế của Thái Lan, song với những chính sách ưu tiên về thuế của Thái Lan cũng là môi trường thuận lợi cho các công ty MNC tại Thái Lan lợi dụng định giá chuyển giao để trốn thuế nhà nước ngày càng phát triển và tinh vi. Sớm nhận rõ các thủ đoạn chuyển giá để trốn thuế, trong thời gian qua Chính phủ Thái Lan cũng đã áp dụng nhiều giải pháp hữu hiệu để hạn chế tình trạng trốn thuế thông hoạt động định giá chuyển giao.(123doc.org/docseachtitle/64005-chinh-sach-thu-hut-von-dau-tu-truc-tiep-nuoc-ngoai-o-an-do-trung-quoc-ma-lay-sia-thai-lan-va-bai-hoc-cho-viet-nam-doc.htm)

Thứ hai, những giải pháp Kiểm soát định giá chuyển giá của Thái Lan

Một là,ban hành Luật chống chuyển giá. Luật chống chuyển giá của Thái Lan ban hànhcách đây hơn 10 năm (năm 2003). Luật chủ yếu cụ thể hóa những quy định của OECD vào điều kiện cụ thể của Thái Lan. Nói chung Luật chống chuyển giá của Thái Lan là văn bản pháp lý cao nhất tạo điều kiện thuận lợi cho cơ quan thuế Thái Lan thực hiện các gải pháp cụ thể trong lĩnh vực chống chuyển giá ở các công ty liên kết trong và ngoài nước. Bởi lẽ phạm vi điều chỉnh của Luật chống chuyển giá ở Thái Lan không chỉ điều chỉnh đối hoạt đông chuyển giá của các công ty MNC mà cả những công ty trong nước có hoạt động liên kết.

Hai là,thực hiện đồng bộ các phương pháp chống chuyển giá

Khác với một số nước, ở Thái Lan không đặt trọng tâm vào một phương pháp nào mà là trong quá trình kiểm tra các hoạt động liên kết có dấu hiệu chuyển giá cơ quan thuế sử dụng tổng hợp đồng bộ các phương pháp bao gồm:phương pháp so sánh giá thị trường tự do; phương pháp cộng chi phí vào giá vốn; phương pháp phân chia lợi nhuận; phương pháp lợi tức thuần từ giao dịch

Ba là,quy định đưa ra các tài liệu giải trình khá cụ thể, chặt chẽ ngay từ khi nộp tờ khai cũng như khi kiểm tra, thanh tra của cơ quan thuế về chuyển giá

Khi nộp tờ khai các công ty có hoạt động liên kếtphải cung cấp cho cơ quan thuếThái Lanbáo cáo kiểm toán với nội dung chuyển giá tài sản. Khi cơ quan thuế thanh tra về giá chuyển giao đối tương nộp thuếphải lưu giữ tài liệu liên quanđến các bước xác định giá thị trường của mỗi giao dịch, Đó là các tài liệu như: (i) Tài liệu mô tả cơ cấu và mối quan hệ giữa các đơn vị kinh doanh trong cùng một tập đoàn/ doanh nghiệp liên kết, cơ cấu và bản chấtcông việc kinh doanh mà mỗi đơn vị thực hiện; (ii) Ngân sách,kế hoạch kinh doanh và phương án tài chính; (iii)Các tài liệu liên quanđến chiến lượckinh doanh của đối tượng nộp thuế và các lý do đưa ra các chiến lược đó; (iv)Tài liệu liên quan đến doanh thu, kết quả hoạt động và bản chất giao dịch với doanh nghiệp liên kết;(v) Tài liệuchứng minh lý dotham gia các giao dịch quốc tế với các doanh nghiệp liên kết; (vi) Chính sách giá, khả năng sinh lời của sản phẩm, thông tin thị trường liên quan và việc phân chia lợi nhuận của mỗi đơn vị kinh doanh; (vii)Tài liệu chi tiết về lý do chọn một phương pháp hoặc phương pháp luận xác định giá chuyển giao; (viii) Tài liệu chứng minh quan điểm đàm phán của đối tương nộp thuế liên quan đến đến giao dịch quốc tế với doanh nghiệp liên kết; (ix) Các tài liệu liên quan đến việc xác định giá chuyển giao.

Bốn là,về sử dụng các hình thức phạt

Nói chung cho đến nay ở Thái Lanchưa có quy định cụ thể về xử phạt đối với xác định giá chuyển giao, song cơ quan thuế vẫn áp dụng xử phạt có tính chất hành chính trongtrường hợp:Số thuế nộp thiếu với mức phạt 100% hoặc 200% số thuế nộp thiếu hoặc 1,5% số thuế nộp thiếu hàng tháng

Ngoài ra, tùy theo yêu cầu của đối tượng nộp thuếcó thể áp dụng phương pháp APA theo APA song phương, hoặc đa phươngvì Thái Lan đã ký với các nước Hiệp định tránh đánh thuế 2 lần

Nhân xét chung

Qua nghiên cứu thực tế các biện pháp chống thủ đoạn trốn thuế bằng hình thức định giá chuyển giao trong liên kết cho thấy:

Một là, Thái Lan rất chú trọng đến tính pháp lý của công tác chống chuyển giá, sớm đưa ra Luật chống chuyển giá ngay từ năm 2003

Hai là,những quy định cung cấp tài liệu của đối tượng nộp thuế trong hoạt động định giá chuyển giao khá cụ thể chi tiết,điều này tạo thuận lợi cho cơ quan thuế tiến hành các hoạt động thanh tra về chuyển giá của các đối tượng nộp thuế

Ba là,tuy không quy định xử phạt trực tiếp về hành vi chuyển giá không đúng quy định, song hình thức gián tiếp phạt hành chính đối với trường hợp thiếu thuế là rất nặng.

7.2.2.5. Kinh nghiệm sử dụng các biện pháp chống chuyển giá của Ấn độ

Thứ nhất, khái quát về thu hút nguồn FDI ở Ấn độ trong một số năm gần đây.

Chính phủ của Thủ tướng Manmohan Singh vừa quyết định mở cửa nền kinh tế và tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài FDI nhằm kích thích nền kinh tế và nâng giá đồng rupee Ấn Độ. Theo đó sẽ dỡ bỏ giới hạn 74% khi đầu tư vào mạng điện thoại di động và một loạt các hạn chế khác vào các ngành từ bảo hiểm cho tới trồng chè cũng được nới lỏng hoặc bỏ hẳn.Đối với các ngành như lọc dầu, sàn giao dịch hàng hóa hay bán lẻ “một thương hiệu” vẫn giữ nguyên các quy định hiện hành đối với FDI, tuy nhiên tỷ lệ sở hữu của nước ngoài có thể được nâng lên “một cách tự động” sau này, mà không cần phải thông qua xin phép chính thức. Đây là tín hiệu cho thấy Ấn Độ đã sẵn sàng cải tổ mạnh mẽ để thu hút dòng vốn ngoại nhiều hơn.Anand Sharma, Bộ trưởng Thương mại Ấn Độ cho biết hạn chế áp dụng cho ngành bán lẻ “đa thương hiệu” như siêu thị, trung tâm thương mại sẽ sớm được nới lỏng. Ngoài ra, đầu tư vào lĩnh vực công nghệ cao cho quốc phòng sẽ được phép vượt mức 26% hiện tại nếu được Ủy ban an ninh của chính phủ đồng ý. Việc mở cửa thêm với FDI là một trong những chính sách cải cách mới nhất của Ấn Độ. Năm ngoái, Thủ tướng Singh cũng đã bổ nhiệm nhân vật có tư tưởng cách tiến bộ Palaniappan Chidambaram làm Bộ trưởng Tài chính. Đây là kết quả của “thời kỳ nóng” đối với mảng di động tại đây. Đã có thời người ta ngưỡng mộ ngành này vì sự tăng trưởng nhanh chóng và cước phí rẻ, nhưng giờ đây nổi tiếng bởi chính sách không nhất quán và cạnh tranh giá giữa các nhà mạng đang ngập trong nợ nần

Tín hiệu mở cửa sẽ giúp các công ty ngoại như Vodafone (Anh) hay Telenor (Na Uy) có thể nâng sở hữu lên tới 100%, không còn vướng tới các đối tác nội địa.. Đồng thời giúp các hãng lớn mua lại đối thủ nhỏ và một số hãng nội địa đang gặp khó khăn tài chính như Reliance Communications có thể tìm được các nhà đầu tư ngoại mới. Công ty tư vấn Ernst & Young dự đoán biện pháp mới sẽ giúp Ấn Độ thu hút thêm được 10 tỷ USD Mỹ trong dài hạn. Ngày15/7, Ngân hàng Dự trữ Ấn Độ bất ngờ thắt chặt chính sách tiền tệ trong bối cảnh lạm phát cao còn tăng trưởng thì thấp. Nhằm tăng cường đồng rupee, Ngân hàng Trung ương tuyên bố giới hạn mức thanh khoản liên ngân hàng còn 13 tỷ USD và nâng lãi suất từ 8,25% lên 10,25%. Trong phiên giao dịch ngày 17/7, đồng rupee đã tăng 1% so với USD, tuy nhiên chỉ số SENSEX của sàn giao dịch chứng khoán Bombay giảm 1%. Cổ phiếu của các ngân hàng cũng giảm giá đáng kể. Năm 2014, mới chỉ hơn 1 năm kể từ khi Tổng thống Narendra Modi lên nắm quyền,Chính phủ của ông Modi đã ban hành những chính sách cải cách quan trọng, nâng cao hiệu quả đầu tư công, chú trọng xây dựng cơ sở hạ tầng và mở rộng cánh cửa để các nhà đầu tư nước ngoài bước vào Ấn Độ. Giám đốc chiến lược đầu tư tại CLSA, Christopher Wood cho biết: “Nhờ sức ảnh hưởng ấn tượng của ông Modi, Ấn Độ đang trở thành thị trường mới nổi hứa hẹn nhất trong vòng 5 tới 10 năm tới trên toàn cầu”. Các chuyên gia dự đoán, kinh tế Ấn Độ sẽ tăng tưởng từ 7,5 – 8,5% trong năm tài chính 2015 và 2016, nhanh hơn bất kỳ quốc gia nào trong nhóm G20, bao gồm cả Trung Quốc.Mức độ tăng trưởng này cũng sẽ được duy trì trong dài hạn. Theo đánh giá của Qũy Tiền tệ Quốc tế (IMF), trong vòng 15 năm tới, “Ấn Độ sẽ trở thành quốc gia rộng lớn với dân số trẻ, nguồn nhần lực dồi dào nhất trên thế giới và sẽ có hơn 100 triệu công dân trẻ của Ấn Độ gia nhập thị trường lao động”. Cho tới năm 2050, Ấn Độ được kỳ vọng sẽ trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới, với sức mạnh thương mại tương đương Trung Quốc.Các nhà đầu tư nước ngoài đang nhận ra những dấu hiệu tích cực trên và đẩy mạnh hoạt động đầu tư vào thị trường đầy tiềm năng là Ấn Độ, đặc biệt khi quốc gia này đang thực hiện chính sách nới lỏng tiền tệ. Thống kê của CLSA cho thấy, trung bình mỗi tháng có 737 triệu USD từ các quỹ đầu tư đổ vào Ấn Độ kể từ khi ông Modi lên nắm quyền hồi tháng 5/2014, tăng lên nhiều lần so với giai đoạn trước đó. Trong số các lĩnh vực, thương mại điện tử tại Ấn Độ chính là điểm sáng thu hút được sự quan tâm đặc biệt của các nhà đầu tư nước ngoài. Ngân hàng đầu tư Nomura ước tính trong một nghiên cứu rằng ngành công nghiệp thương mại điện tử tại Ấn Độ có thể tăng hơn gấp 4 lần, lên mức 43 tỷ USD trong 5 năm tới, mà dẫn đầu là hoạt động bán lẻ online.Eric Mookherjee, một giám đốc quản lý quỹ cho biết: “Một công ty tương đương Alibaba hoặc Tencent tiếp theo sẽ được thành lập ở đất nước có dân số gần ngang ngửa Trung Quốc này. Mọi người đều sẽ muốn đầu tư vào Ấn Độ”. Cho dù dân số có sử dụng Internet của Ấn Độ rất lớn và ngày càng tăng nhanh, nhưng cơ sở hạ tầng cho thương mại điện tử vẫn dưới tầm và có tiềm năng khổng lồ để phát triển. Giá trị hàng hóa bán lẻ online tại Ấn Độ đạt 1,6 tỷ USD năm 2013, chỉ chiếm khoảng 0,4% so với tổng doanh số bán lẻ hàng hóa theo hãng nghiên cứu Forrester và được dự đoán sẽ đạt 32 tỷ USD trong vòng 6 năm tới nhờ sự phát triển của công nghệ.

Nắm bắt được thời cơ này, nhiều công ty lớn và các quỹ đầu tư đang dồn lực trong cuộc cạnh tranh thị phần tại thị trường rộng lớn này. Với cam kết đầu tư 10 tỷ USD vào Ấn Độ trong 10 năm tới, SoftBank đang nắm giữ phần lớn cổ phần tại Snapdeal, công ty thương mại điện tử lớn thứ ba tại Ấn Độ. Masayoshi Son, CEO của Softbank cho rằng, Sapdeal có tiềm năng trở thành một Alibaba của Ấn Độ trong thời gian tới.Softbank đã bước vào thị trường Ấn Độ chậm hơn một chút so với 2 đại gia bán lẻ online khác là Flipkart.com và Amazon. Ngay từ cuối năm ngoái, Amazon đã đầu tư 2 tỷ USD vào lĩnh vực bán lẻ online tại quốc gia Nam Á này nhằm đánh đòn phủ đầu, chiếm thị phần tại đây.Jeff Bezos, CEO của Amazon.com cho biết: “Ngay từ những ngày đầu kinh doanh tại Ấn Độ, sự phản hồi từ các khách hàng cũng những doanh nghiệp vừa và nhỏ tại đây đã vượt xa kỳ vọng của chúng tôi. Chúng tôi nhận thấy một tiềm năng phát triển khổng lồ của nền kinh tế nói chung và lĩnh vực thương mại điện tử của Ấn Độ nói riêng”

Tóm lại, với chủ trương đẩy mạnh thu hút nguồn FDI bằng những chính sách cởi mở dưới thời Thủ tướng Manmohan Singh, cũng như Tổng thống Narendra Modi, nguồn FDI đổ vào Ấn độ tăng vượt bậc so với giai đoạn trước, nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoài đổ vào Ấn độ đã góp phần không nhỏ cho quá trình phát triển kinh tế xã hội của Ấn Độ, song cũng đặt nhiều vấn đề kinh tế, xã hội mà Ấn Độ phải đương đầu. Một trong những vấn đề đó là vấn đề định giá chuyển giao trong nội bộ của MNC làm thất thoát nguồn thu của NSNN. Cũng như ở các nước khác, chính phủ Ấn Độ cũng đưa hàng loạt các giải pháp kiểm soát định giá chuyển giao trong nội bộ của MNC đang hoạt động trên lãnh thổ Ấn Độ nhằm ngăn chặn tình trạng trốn thuế thông qua thủ đoạn chuyển giá theo những cách thức riêng của mình(123doc.org/docseachtitle/64005-chinh-sach-thu-hut-von-dau-tu-truc-tiep-nuoc-ngoai-o-an-do-trung-quoc-ma-lay-sia-thai-lan-va-bai-hoc-cho-viet-nam-doc.htm)

Thứ hai, các biện pháp kiểm soát định giá chuyển giao trong nội của các MNC tại Ấn độ

Một là,về hệ thống quy phạm pháp luật

Ở Ấn độ không có Luật chống chuyển giá như một số nước. Tất cả nội dung liên quan đến vấn đề chống chuyển giá được quy định cụ thể trong Luật thuế thu nhập công ty có hiệu lực thi hành từ ngày 1/4/2001

Hai là,về quy định hướng dẫn các văn bản pháp luật liên quan đến vấn đề chống chuyển giá.

Ở Ấn độ cơ quan thuế trực thu trung ươngban hành văn bản hướng dẫn nội bộ, hướng dẫn cơ quan thuế xác định giá chuyển giao đối với các giao dịch quốc tế theo nguyên tắc giao dịch độc lập. Văn bản hướng dẫn được ban hành ngày 20/5/2003.

Ba là,về áp dụng các phương pháp định giá chuyển giao.

Ấn độ sử dụng tất cả các phương pháp định giá chuyển giaotheo hướng dẫn của OECD tùy theo từng trường hợp cụ thế, bao gồm:phương pháp so sánh giá thị trường tự do (CUP), phương phápdựa vào giá bán ra, phương pháp cộng chi phí vào giá vốn, phương pháp phân chia lợi nhuận, phương pháp lợi tức thuần từ giao dịch

Bốn là, sử dụng các tài liệu theo yêu cầu của cơ quan thuế khi nộp tờ khai cũng như khi thanh tra về giá chuyển giao. Cụ thể:

Khi nộp tờ khai, đối tượng nộp thuế được cơ qua thuế yêu cầu phải cung cấp báo cáo của kiểm toán viên trong đó kiểm toán viên phải xác nhận đối tượng nộp thuếđã lưu giữ các thông tin và hồ sơtài liệu theo yêu cầuvà xác nhận các thông tin liên quan đến các giao dịch bên liên kết là đúng

Khi thanh tra về giá chuyển giao, các đối tượng nộp thuế tham gia các giao dịch quốc tếcó tổng giá trịcác giao dịchvới bên liên kếttrên 10.000.000 INR (khoảng 200.000 USD) lưu giữ các tài liệu sau và cung cấp cho cơ quan thuếkhi được yêu cầu: Tài liệu cơ bảngồm thông tin liên quanđến cơ cấu sở hữu,tên địa chỉ của doanh nghiệp liên kết, các quan hệ giao dịch quốc tế, khái quát công việc kinh doanh của đối tượng nộp thuế, chi tiết về tài sản và dịch vụ, mô tảchức năng , rủi ro về tài sản vốn, các thỏa thuận thương mại với doanh nghiệp liên kết và các bên thứ ba, quỹ, các dự báo và báo cáo các giao dịchsử dụng để xác định giá của các giao dịch quốc tế, phân tích và mô tả phương phápvà số liệu so sánhđược sử dụng để chọn phương pháp phù hợp nhất. Như vậy, có thể nói cơ quan thuế của Ấn độ rất coi trọng đến vấn đề tài liệu trong quá trình thanh tra giá chuyển giao của các doanh nghiệp tham gia liên kết, co những quy định khá cụ thể chi tiết

Năm là,về hình thức xử phạt

Ấn độ coi vấn đề xử phạt là một trong những vấn đề quan trọng nhằm răn đe, cảnh báo đối người nộp thuế trong quá trình thực hiện nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước. Có thể xem xét các trường hợp xử phạt và mức độ xử phát theo biểu dưới đây:

Hành vi bị xử phạt

Mức phạt

Dấu thu nhập trong trường hợp yêu cầu điều chỉnh

100-200% số thuế đối với thu nhập đều chỉnh

Không lưu giữ tài liệu theo quy định

2% giá trị mỗi giao dịch

Không cung cấp báo cáo của kiểm toán viên (báo cáo đã được kiểm toán)

100.000 INR (khoảng 2000 USD)

 Ngoài ra, trong giai đoạn gần do sự diễn biến phức tạp của hành vi chuyển giá, khó kiểm soát, Nhà nước cho phép cơ quan thuế áp dụng phương pháp thỏa thuận trước về giá (APA) khi đối tượng nộp thuế yêu cầu, Nhìn chung quy trình các bước tiến hành APA của Ấn độ đều dựa chủ yếu vào cuốn Cẩm nang định giá chuyển giao của OECD năm 1995.

Nhận xét chung

Nhìn chung các biện pháphạn chế chông chuyển giá của Ấn độ không khác mấy so với các nước cơ bản vẫn tuân thủ theo những hướng dẫn của OECD. Tuy nhiên, xét về mức độ có những biện pháp cụ thể và chi tiết hơn. Chẳng hạn như những quy định về các tài liệu đối tượng nộp thuế phải cung cấp cho cơ quan thuế khi nộp tờ khai thuế, khi cơ quan thuế thanh tra giá chuyển giao trong liên kết.Hơn nữa, ở Ấn độ việc quy định các hình thức và mức độ xử phát khá rõ ràng và chi tiết, mức phạt khá nặng

7.2.2.6. Kinh nghiệm của Malaysia về sử dụng các biện pháp kiểm soát định giá chuyển giao trong nội bộ của MNC

Thứ nhất, khái quát về tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Malaysia

Bộ trưởng Thương mại quốc tế và Công nghiệp Mustapa Mohamed tại lễ công bố đầu tư của Malaysia năm 2014 cho hay, vốn đầu tư trực tiếp trong nước và nước ngoài của Malaysia đã đạt mức kỷ lục mới gần 236 tỷ ringgit (RM) trong năm 2014, tăng 7,5%so với hơn 219 tỷ RM năm 2013.Đầu tư trực tiếp trong nước (DDI) đạt 171 tỷ RM, chiếm xấp xỉ 73% tổng vốn đầu tư, chủ yếu trong các ngành sản xuất, dịch vụ và một số lĩnh vực chính, trong khi đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đạt 64,6 tỷ RM, chiếm hơn 27% tổng vốn đầu tư.

Phát biểu tại lễ công bố đầu tư năm 2014 do Cơ quan Phát triển Đầu tư Malaysia (MIDA) tổ chức ở thủ đô Kuala Lumpur, ngày 26/2, Bộ trưởng Thương mại quốc tế và Công nghiệp Mustapa Mohamed, cho biết đầu tư trực tiếp trong nước năm 2014 (171 tỷ RM) đã vượt mục tiêu 148 tỷ RM và tỷ lệ DDI-FDI cũng phù hợp với chương trình thúc đẩy đầu tư trong nước của Chính phủ được đề cập trong Chương trình chuyển đổi kinh tế và Kế hoạch lần thứ 10 của Malaysia.
Khu vực dịch vụ đạt tỷ lệ thu hút đầu tư cao nhất, hơn 63% (gần 150 tỷ RM), tiếp theo là ngành sản xuất 30,5% (xấp xỉ 72 tỷ RM), và một số lĩnh vực chủ chốt như khai thác mỏ, nông nghiệp và sản xuất hàng hóa, với tổng vốn đầu tư trên 6% (14,4 tỷ RM).

Trong năm 2014, hơn 5.900 dự án đã được phê duyệt, ước tính tạo ra 178.360 việc làm, phần lớn là ở các khu công nghệ cao và các ngành có giá trị gia tăng cao.
Theo Bộ trưởng Mustapa, sự gia tăng mạnh mẽ đầu tư trong năm 2014 cho thấy sự chuyển đổi thành nền kinh tế thu nhập cao của Malaysia, với nhiều dự án chất lượng trong các ngành công nghệ tiên tiến và dịch vụ sản xuất, nổi bật trong số các dự án lớn của năm.

Về đầu tư trực tiếp nước ngoài, Bộ trưởng Mustapa cho biết, Malaysia tiếp tục thu hút lượng lớn các nhà đầu tư nước ngoài vào khu vực sản xuất mặc dù kinh tế toàn cầu giảm sút. Trong tổng số vốn FDI xấp xỉ 65 tỷ RM năm ngoái, khu vực sản xuất chiếm hơn 55% ( gần 40 tỷ RM). Dẫn đầu nguồn vốn đầu tư trong lĩnh vực này là Nhật Bản với tổng mức đầu tư gần 11 tỷ RM trong 55 dự án, tiếp theo là Singapore với 7,8 tỷ RM và 121 dự án, Trung Quốc (4,8 tỷ RM, 24 dự án), Đức (4,4 tỷ RM, 13 dự án) và Hàn Quốc (1,5 tỷ RM, 11 dự án).

Bộ trưởng Mustapa nhận định, Malaysia vẫn duy trì tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ năm nay trong bối cảnh đầy thách thức từ bên ngoài. Dự kiến, tăng trưởng kinh tế của nước này sẽ từ 4,5-5,5% trong năm 2015, trong khi Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) dự báo tăng trưởng kinh tế toàn cầu ở mức 3,5%.

Để thu hút hiệu quả nguồn vốn đầu tư trong năm 2015, Chính phủ Malaysia sẽ tiếp tục đưa ra các biện pháp khác nhau để tăng cường khả năng cạnh tranh của Malaysia trong bối cảnh thách thức và cơ hội trong và ngoài nước. Những biện pháp này sẽ bao gồm điều chỉnh chính sách đầu tư, hỗ trợ quản lý, ưu đãi tài chính và phi tài chính, cũng như tiếp tục hợp tác và thu hút các nhà đầu tư trong tất cả thành phần kinh tế.

Đi liền với những thành quả trong thu hút đầu tư với nhiều chính sách ưu đãi nhất là ưu đãi thuế , cũng như các nước nhận đầu tư khác, Malaysia cũng đối mặt với các thủ đoạn lợi dụng đinh giá chuyển giao trong liên kết để trốn thuế cuả các công ty MNC đang hoạt động tại Malaysia. Chính vì vây, Malaysia cũng tìm cáchkiếm soát định giá chuyển giao làm phương hại đến NSNN của các MNC (123doc.org/docseachtitle/64005-chinh-sach-thu-hut-von-dau-tu-truc-tiep-nuoc-ngoai-o-an-do-trung-quoc-ma-lay-sia-thai-lan-va-bai-hoc-cho-viet-nam-doc.htm)

Thứ hai, các biện pháp kiểm soát định giá chuyển giao trong nội bộ của các MNC tại Malaysia

Một là,,về xác lập các văn bản pháp lý kiểm soát định giá chuyển giao

Malaysia không có luật chuyển gia riêng mà vấn đề chống chuyển giá được quy định tại Luật Giao dịchthực hiện bởi các đối tượng không cư trú và Luật thuế thu nhập công ty, trong đó có mục quy định chung vềchốngchuyển giá

Hai là, về các quy định mang tính hướng dẫn

Cho đến nay Malaysia chưa có văn bản nào hướng dẫn cụ thể nào về chống chuyển giá ngoại trừ những quy định chung trong Luật giao dịch thực hiện bởi các đối tượng không cư trú và Luật thuế thu nhập công ty.

Ba là, về sử dụng các phương pháp định giá chuyển giao

Ở Malaysia chủ yếu vẫn áp dụng các phương phápđược đề cập trong cuốn Cẩm nang hướng dẫn định giá chuyển giao xuất bản năm 1995 của OECD. Tùy theo từng trường hợp cụ thể mà sử dụng các phương pháp sau đây: Phương pháp so sánh giá thị trường tự do (CUP); phương pháp dựa vào giá bán ra; phương pháp cộng chi phí vào giá vốn; phương pháp phân chia lợi nhuận, phương pháp lợi tức thuần từ giao dịch

Bốn là, về yêu cầu cung cấp tài liệu

Cơ quan thuế không có yêu cầu cung cấp các tài liệu trong quá trình thanh tra giá chuyển giao chỉ yêu cầu giải trình khi nộp tờ khai thuế bao gồm các tài liệu: về hàng bán cho liên kết, hàng mua từ bên liên kết, các khoản thanh toán khác cho bên liên kết , các khoản vay từ bên liên kết và các khoản nhận được từ bên liên kết

Năm là, về hình thức và mức độ xử phạt

Ở Malaysia không quy định riêng về hình thức và mức xử phạt cho hành vi lợi dụng định giá chuyển giao để tối thiểu hóa nghĩa vụ đối với NSNN mà áp dụng xử phạtchung được quy định trong Luật thuế TNDNđối với trường hợp có gian lận về thuế với mức phạt từ 100 đến 300% số thuế bị phát hiện gian lận tùy theo mức độ

Ngoài ra Malaysia cũng áp dụng cơ chế thỏa thuận trước về giá chuyển giao APAtheo yêu cầu của người nộp thuế. Việc áp dụng cơ chế thỏa thuận trước về gía chuyễn giao liên kết nói chung áp dụng theo những quy định trong cuốn Cẩm nang hướng dẫn định giá chuyển giao liên kết của OECD

Nhận xét chung

Về cơ bản các biện pháp chống chuyển giá của Malaysia chủ yếu vẫn dựa trênnhững quy định trong cuốn Cẩm nang hướng định giá chuyển giao 1995 của OECDnhất là về các phương pháp định giáchuyển giao. Các quy định khác của Malaysia hết sức đơn giản,không có những quy định riêng về cung cấp tài liệu khi tiến hành thanh tra chuyển giá, không có quy định riêng về Luật chống chuyển giá,về hình thức và mức phạt đối với hành vi lợi dụng định giá chuyển giao mà chỉ áp dụng mức phạt chung được quy định trong Luật thuế TNDN. Điều này cho thấy, Malaysia có sự cân nhắc tính toán giữa yêu cầu đẩy mạnh thu hút nguồn FDI nước ngoài với vấn đề sử dụng các biện pháp chống chuyển giá theo hướng ưu tiên thực hiện chủ trương đẩy mạnh thu hút nguồn FDI của Malaysia.

7.2.2.7. Biện pháp chống chuyển giá của Indonesia

Thứ nhất, khái quát về tình hình đầu tư FDI ở Indonesia

Ở ASEAN, Indonesia cũng là nước thu hút FDI đáng kể. Theo báo cáo của World Bank, dòng vốn FDI vào Indonesia, mặc dù có những dao động nhất định từng năm nhưng về cơ bản đã tăng gấp hơn 15 lần trong 10 năm qua.

Năm 2012, dòng vốn FDI vào Indonesia ước đạt 21 tỷ USD, chủ yếu được đầu tư vào các lĩnh vực khai khoáng và dược phẩm. Trên bản đồ FDI của thế giới, Indonesia hiện đang đứng thứ tư về thu hút vốn FDI, sau Mỹ, Trung Quốc và Ấn Độ.

Yếu tố lớn nhất đem lại thành công trong thu hút vốn FDI của Indonesia phải kể đến đó là những “cú hích” đủ mạnh từ sức tiêu dùng nội địa. Với đà tăng trưởng và triển vọng khả quan của các ngành, kinh tế Indonesia sẽ mở rộng hơn nữa trong năm 2012, với dự đoán có thể đạt GDP danh nghĩa 8,5 triệu tỷ Rp, đồng nghĩa việc Indonesia sẽ gia nhập “Câu lạc bộ các nền kinh tế có GDP 1.000 tỷ USD”.

Ủy ban điều phối đầu tư Indonesia (BKPM) mới đây cũng đã công bố mục tiêu thu hút FDI năm 2013 của quốc gia vạn đảo là 29 tỷ USD, tăng khoảng 7% so với con số 21 tỷ USD của năm 2012. Mục tiêu này cho thấy năm 2013 Indonesia vẫn là điểm đến ưa thích của các nhà đầu tư nước ngoài nhờ tăng trưởng kinh tế ổn định, cao trong thời gian dài. Chuyên gia Ngân hàng Thế giới (WB) tại Indonesia, Ashley Taylor, phân tích rằng bên cạnh tăng trưởng kinh tế ổn định, thị trường tiêu thụ lớn với sự gia tăng nhanh của tầng lớp trung lưu thì sự bất ổn kinh tế toàn cầu cũng đang đưa đến những lợi thế nhất định cho Indonesia. Đó là sự chuyển dịch dòng vốn từ các trung tâm kinh tế phát triển sang các thị trường mới nổi trong khi các nước mới nổi như Brazil, Ấn Độ, Trung Quốc đang có dấu hiệu phát triển chững lại (Brazil tăng trưởng thấp dưới 1%, Ấn Độ đang vật lộn với tình trạng lạm phát, Trung Quốc giảm tăng trưởng liên tục trong các năm gần đây), khiến nhà đầu tư quốc tế không còn nhiều sự lựa chọn. Trong bối cảnh đó, với ưu thế tăng trưởng kinh tế cao, ổn định,thị trường tiêu thụ lớn, tầng lớp trung lưu trong xã hội ngày càng tăng đã tạo ra sự hấp dẫn của các nhà đầu tư đưa dòng vốn FDI quay về với Indonesia.

Cùng như các nước nhận đầu tưsự gia tăng thu hút đầu tư nguồn FDI với nhiều chính sách ưu đãi, nhất là ưu đãi về thuế, bên cạnh những tác động tích cực đối với nền kinh tế không thể phủ nhận của dòng vốn FDI nước ngoài, Indonesia cũng đang đối mặt với thủ đoạn lợi dụng định giá chuyển giao để trốn thuế, gia tăng lợi nhuận của các công ty MNC đang hoạt động tại Indonesia. Chính phủ Indonesia cũng đã đề ra một số biện pháp chống chuyển giá đối với các MNC.

Thứ hai, các biện pháp kiểm soát định giá chuyển giá trong nội bộ của các MNC tại Indonesia

Nhìn chung các biện pháp mà Indonesia quy định về chống chuyển giá trong giao dịch liên kếtkhông có gì khác biệt lớn so với các nước, chủ yếu vẫn dựa trên các quy định của OECD trong cuốn Cẩm nanghướng dẫn định giá chuyển giao năm 1995. Cụ thể:

Một là,, về các văn bản pháp luật điều chỉnh định giá chuyển giao trong giao dịch liên kết

Cũng như Malaysia, Indonesia không có Luật chuyển giá riêng, các quy định về hạn chế tình trạng chuyển giá trong giao dịch liên kết đều được thể hiện trong Luật thuế thu nhập công tythể tại điều 18 của Luật

Hai là, về quy định hướng dẫn

Cơ quan thuế cụ thể hóa quy định tại điều 18 của Luật thuế thu nhập công ty, đưa ra những quy địnhvề chống gian lận qua chuyển giá áp dụng cho cả giao dịch liên kết của các doanh nghiệp nội địavà doanh nghiệp có vốn FDI nước ngoài. Đồng thời quy định thất thu thuế do điều chỉnh giá chuyển đối với các giao dịch nội địa không được bù trừ giữa các bảng

Ba là, về sử dụng các phương pháp định giá chuyển giao trong giao dịch liên kết.

Về cơ bản, Indonesia loại trừ phương pháp APA còn lại sử dụng tất cả các phương pháp doOECD hướng dẫn trong Cẩm nang hướng dẫnđịnh giá chuyển giao, song ưu tiên sử dụng phương pháp so sánh giá thị trường tự do

Bốn là,về yêu cầu tài liệu trong quá trình nộp tờ khai thuế và quá trình thanh về giá chuyển giao

Khi nộp tờ khai thuế thu nhập công ty, cơ quan thuế yêu cầu phải kê khai các giao dịchvới các đối tượng liên kết, song khi thanh tra giá chuyển giao, cơ quan thuế không yêu cầu cụ thểmà chỉ yêu cầu tài liệutối thiểu như hóa đơn và hợp đồng giữa các bên liên quan đến giao dịch đang bị thanh tra.

Năm là, về trường hợp và mức xử phạt

Ở Indonesia không quy định riêng về xử phạt đối hành vi lợi dụng định giá giá chuyển giao để giảm thiểu nghĩa vụ thuế mà chỉ quy định nộp phạt do thiếu thuế với mức phạttừ 2% đến 48 %/tháng trên tổng số thuế nộp thiếu;

Nhận xét chung

Các biện pháp mà Indonesia sử dụng về cơ bảndựa trên những quy định của OECD trong cuốn Cẩm nang hướng dẫn định giá chuyển giao đối với các giao dịch liên kết, song đơn giản hóa, không đòi hỏi nhiều các tài liệu khi nộp tờ khai thuế thu nhập, khi thanh tra giá chuyển giao trong giao dịch liên kết, không quy định hình thức và mức phạt riêng đối với vấn đề định giá chuyển giao, chỉ có phạt trong trường hợp nộp thiếu thuế. Mức phạt so với các nước cũng tương đối nhẹ.

Có thể lý giải điều này là ở Indonesia Chính phủ, cơ quan thuế có sự cân nhắc tính toán giữa một bên là chủ trương đẩy mạnh thu hút đầu và một bên là sử dụng các biện pháp chống chuyển giá. Nói chung giữa chúng có liên quan tác động lẫn nhau. Chính phủ Indonesia đặt vấn đề trước hết là ưu tiên thu hút đầu tư. Mặt khác, có thể lý giảilà thủ đoạn lợi dụng định giá chuyến giao trong giao dịch liên kết của các doanh nghiệp ở Indonesia chưa đến mức trầm trọng như một số nước

7.3. Kết luận chung

Qua nghiên cứu kinh nghiệm của các nước trên có thể rút ra một số kết luận sau đây:

Thứ nhất, việc tìm kiếm các biện pháp chống giá chuyển giao không làm tăng nghĩa vụ thuế đối với các công ty MNC đang hoạt động trên lãnh thổ nước nhận đầu tư mà chỉ có nghĩa Nhà nước đòi lại phần thuế đáng ra phải nộp theo luật định, song do hành vi lợi dụng định giá chuyển giao mà các công ty MNC chiếm dụng phần thuế đó. Chính vì vậy, tất cả nước có hoạt động đầu tư FDI của các công ty MNC đều tiến hành các biến pháp chống giá chuyển giao làm phương hại đến nguồn thu của NSNN

Thứ hai, vấn đề chuyển giá của các công ty MNC không chỉ liên quan đến lợi ích của nhà đầu tư hay nước nhận đầu tư mà còn liên quan đến quyền lợi của nước cư trú của nhà đầu tư. Do đó để, có thể thi hành các biện pháp chống giá chuyển giao có hiệu quả ở một sốnước nghiên cứu người ta quan tâm đến sự hợp tác giữa các cơ quan thuế ở các nước. Chẳng hạn nhưtrong Hiệp hội thuế Châu Á- Thái Bình Dương(PATA) người tathống nhất quy định Danh mục tài liệu minh chứng về hoạt động chuyển giá gọi là Danh mục PATA màMỹ là một thành viên

Thứ ba, cơ bản các nước đều áp dụng các phương pháp hướng dẫn của OECD quy định trong cuốn Cẩm nang hướng dẫn định giá chuyển giao ban hành năm 1995, tuy nhiên tuy quan điểm của Mỹ là đặt nền tảngtrên các phương pháp dựa vào lợi nhuận (Profit Based), ngược lại quan điểm của các nước Châu Á như Trung Quốc, Ấn độ,Thái Lan là đặt nền tảng trên phương pháp theo nguyên tắc thị trường(transaction based)

Thứ tư, vấn đề hình thành riêng một bộ Luật chống chuyển giá đối với các nước nghiên cứu không có tính chất phổ biến, tùy theo nhu cầu của mỗi nước, phổ biến ở các nước nghiên cứu các vấn đề quản lý định giá chuyển giao trong liên kết được đưa vào Luật thuế thu nhập doanh nghiệp (thuế thu nhập công ty) hoặc Luật quản lý thuế

Thứ năm, các nước đều xác định đối tượng áp dụng các dụng các biện pháp quản lý định giá chuyển giao chủ yếu là các công ty cóliên kết với một doanh nghiệp khác ở nước ngoài và tiêu thức để xác định thế nào là doanh nghiệp liên kếtđược các nước đề cập khá rõ ràng, chi tiếtvà cụ thể tạo điều kiện thuận lợi cho cơ quan thuếxác lập, giới hạn đối tượng khi kiểm tra giá chuyển giao. Nhìn chung các tiêu thức các nước đưa ra chủ yếu dựa vào khoản 1 điều 9 Hiệp định tránh đánh thuế trùng của OECD.

Thứ sáu, cho dù cơ quan thuế các nước lựa chọn phương pháp định giá chuyển giao có sự ưu tiên trong số phương pháp định giá chuyển giao của OECD, song các nước vẫn cho đối tượng nộp thuế lựa chọn phương pháp định giá chuyển giao của mình khi thực hiện cơ chế thỏa thuận trước giá (APA), không bắt buộc đối tượng nộp thuế phải sử dụng tất cả các phương pháp định giá chuyển giao của OECD, song phải giải trình lý do mình chọn phương pháp định giá chuyển giao trong giao dịch liên kếtđồng thời đối tượng nộp thuế khi lựa chọn phương pháp định giá chuyên giao nào trong giao dịch liên kết đều phải tuân thủ nguyên tắc giá giao độc lập, nghĩa là dù chọn phương pháp nào đều phải tuân thủ nguyên tắc giá chuyển giao độc lập

Thứ bảy, tùy theo điều kiện cụ thể về năng lực thanh tra giá chuyểngiao của cơ quan thuế, cũng tính phức tạp với nhiều thủ đoạn tinh vihành vi chuyển giá của đối tượng nộp thuế, một số nước cho phép cơ quan thuế thực hiện cơ chế thỏa thuận trước về giá (APA) với đối tượng nộp thuế và coi việc áp dụng cơ chế thỏa thuận trước về giá cũng là một biện pháp hữu ích trong vấn đề chống chuyển giá

Thứ tám, ở các nước nghiên cứu đều rất coi trọng vấn đề lưu giữ tài liệunhằm phục vụ cho thanh tra gái của cơ quan thuế. Vì vậy, hầu hết các nước nghiên cứu đều đưa ra các yêu cầukhá chi tiết đối với đối tượng nộp thuế về các tài liệu lưu giữ, thậm chí có cả chế tài phạt trong vấn đề lưu giữ tài liệu

Thứ chín, ở hầu hết các nước nghiên cứuđều chú trọng đến tính dân chủ, bàn bạc với đối tượng nộp thuế khi cơ quan thuế thực hiện thanh tra giá chuyển giao và công khai kết quả thanh tra giá chuyển giao cho đối tượng nộp thuế biết

Thứ mười, trong quá trình thanh tra giá chuyển giao, cơ quan thuế phát hiện có những sai sótlàm giảm số thuế phải nộp thì cơ quan thuế thực hiện truy thu và thực hiện xử phạt. Hình thức và mức độ xử phát đều được quy định trong các văn bản pháp luật liên quan của mỗi nước

Thứ mười một, để thực hiện kiểm soát định giá chuyển giao thành công các nước không chỉ đều chú trọng đến việc ban hành một hệ thống các văn bản pháp lý hoàn chỉnh mà còn chú trọng đến vấn đề trao quyền và trách nhiệm đối với cơ quan thuế. Cụ thể:

– Cơ quan thuế phải có đội ngũ cán bộ chuyên sâu bao gồm các chuyên gia kinh tế ngành để có thể hiểu sâu về các hoạt động sản xuất kinh doanh của từng nhóm đối tượng nộp thuế

– Ngành thuếphải có chương trình hỗ trợ về phân tích, đánh giá rủi ro và cập nhật liên tụcvề hồ sơ đối tượng nộp thuế, cần có một cơ sở dữ liệuluôn được cập nhật đầy đủtoàn diện về đối tượng nộp thuế, các thông tin về tình hình kinh tế trong và ngoài nướcliên quan đến vấn đề thuếtrên cơ sở phối hợp với các cơ quan liên quan

Tóm lại 11 kết luận trên đây về kinh nghiệm của các nước nghiên cứu đối với vấn đề quản lý, kiểmsoát định giá chuyển giao trong giao dịch liên kếtcó thể cũng là gợi ý đối với các cơ quan liên quan đến vấn đề quản lý, kiểm soát định giá chuyến chuyển giao trong giao dịch liên kết của các đối tượng nộp thuế ở Việt Nam.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

  1. Kỷ yếu hội thảo khoa học: “ Hoạt động chuyển giá – những vấn đề lý luận, thực tiễn và giải pháp hạn chế”- Học viện Tài chính-NXB tài chính – Hà Nội tháng 8 năm 2012
  2. Báo cáo tóm tắt đề tài khoa học và công nghệ cấp bộ: “Vấn đề định giá chuyển giaocủa các công ty đa quốc gia hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam- thực trạng và giải pháp”Mã số B 2012-08-07 Chủ nhiệm đề tài TS Nguyễn Thị Lan- Đại học ngoại thương – Bảo vệ tháng 6/2014
  3. Tổng cục thuế- Ban đầu tư nước ngoài (2006) Báo cáo về quản lý đối với các công ty có vốn ĐTNN về tuân thủ và thanh tra
  4. “ Điều chỉnh chính sách FDI của Trung quốc- Bài học cho Việt Nam”- Th.S Nguyễn Thu Hạnh, trường Cao đẳng sư phạm Hà Nội – Tạp chí khoa học ĐHQG Hà Nội- Kinh tế và kinh doanh 26 (2010)-271-274
  5. http//thegioi.baotintuc.vn/phanphantichnhandinh Chiến lược thu hút FDI mới của Thái Lan
  6. Bộ KH&ĐT- NCEIF (2007), “Xu hướng dịch chuyển các luồng vốn trên thế giớivà tác động đến nền kinh tế Việt Nam”

 

 

Bản in

 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *