Chuyên đề 7: CHÍNH SÁCH THUẾ XUẤT NHẬP KHẨU GIAI ĐOẠN 2016-2018 TRONG CÁC FTA

Chuyên đề 7: CHÍNH SÁCH THUẾ XUẤT NHẬP KHẨU GIAI ĐOẠN 2016-2018 TRONG CÁC FTA

Phòng Song phương

Vụ Hợp tác quốc tế – Bộ Tài chính

 7.1. Tổng quan về cam kết thuế xuất nhập khẩu của Việt Nam trong các FTA

Thực hiện chủ trương, chính sách lớn của Đảng về hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam đã trở thành thành viên của WTO và nhiều Hiệp định thương mại tự do, đồng thời đang tham gia đàm phán một số Hiệp định quan trọng như TPP, EVFTA.

Theo số liệu XNK của Việt Nam, các đối tác FTA của Việt Nam đều là các đối tác thương mại quan trọng, thể hiện ở giá trị thương mại lớn và tỉ trọng cao trên tổng số liệu thương mại với thế giới của Việt Nam hàng năm. Cụ thể trong năm 2014 như sau:

Biểu đồ 7.1. Tỷ trọng kim ngạch XNK của các đối tác chính năm 2014

 

Nguồn: Vụ Hợp tác Quốc tế – Bộ Tài chính tổng hợp

7.1.1. Cam kết về thuế nhập khẩu trong các FTA

7.1.1.1. Về các FTA đã ký kết và đang thực hiện

Cam kết về mở cửa thị trường là một nội dung quan trọng trong các Hiệp định thương mại tự do mà Việt Nam đã ký kết. Trong hầu hết các FTA mà ta đã ký kết thì mức độ tự do hóa trung bình khoảng 90% số dòng thuế, trừ Hiệp định ASEAN (ATIGA) là Hiệp định nội khối với mức cam kết tự do hóa xấp xỉ 97%. Mức độ tự do hóa cuối cùng trong các FTA khác dự kiến đạt khoảng 90% số dòng thuế với thuế suất cuối cùng về 0% vào các thời điểm khác nhau tùy từng FTA. FTA hoàn thành lộ trình sớm nhất là ATIGA (2018), tiếp đó là ACFTA (2020) và AKFTA (2021). Diện mặt hàng mà ta không cam kết xóa bỏ thuế trong hầu hết các Hiệp định FTA chiếm khoảng từ 3-7% số dòng thuế bao gồm: thuốc lá, rượu bia, xăng dầu, ô tô, một số linh kiện và phụ tùng ô tô, một số mặt hàng sắt thép, các mặt hàng áp dụng hạn ngạch thuế quan (đường, trứng, lá thuốc lá) và các mặt hàng an ninh quốc phòng (vũ khí, thuốc nổ…). Có thể tóm tắt cam kết về thuế NK của các FTA đã ký kết như sau:

Bảng 7.1. Cam kết về mức độ tự do hóa trong các FTA

KHUÔN KHỔ

PHẠM VI CAM KẾT (% SỐ DÒNG THUẾ)

HIỆU LỰC

HOÀN THÀNH

1. ASEAN

97%

1999

2015/2018

2. ACFTA

90%

2005

2015/2018

3. AKFTA

86%

2007

2016/2018

4. AANZFTA

90%

2009

2018/2020

5. AIFTA

78%

2010

2020

6. AJEPA

87%

2008

2025

7. VJEPA

92%

2009

2026

8. VCFTA

89%

2014

2030

9. VKFTA

88%

2015

2029

10.VNEAEUFTA

88%

2016

2027

Nguồn: Vụ hợp tác Quốc tế – Bộ Tài chính

7.1.1.2. Xu hướng cam kết trong các FTA thế hệ mới

Hiệp định Việt Nam – EU (EVFTA – đã tuyên bố cơ bản kết thúc vào tháng 8/2015), và Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) đều là các FTA thế hệ mới với diện cam kết rộng và mức cam kết sâu. Ngoài cam kết về tự do hóa thương mại hàng hóa và dịch vụ, các nước tham gia còn cam kết trên nhiều lĩnh vực khác như mua sắm chính phủ, lao động, môi trường, sở hữu trí tuệ, doanh nghiệp nhà nước, đầu tư… Là một thành viên tham gia, Việt Nam cũng có những cam kết trong tất cả các lĩnh vực mà từng Hiệp định đưa ra, tuy nhiên lộ trình thực hiện và diện cam kết có thể thấp hơn so với các nước. Ví dụ trong TPP, Việt Nam cam kết xóa bỏ thuế đối với khoảng 66% số dòng thuế ngay khi Hiệp định có hiệu lực và xóa bỏ đối với 86,5% số dòng thuế sau 3 năm Hiệp định có hiệu lực, trong khi đó Hoa Kỳ cam kết xóa bỏ thuế ngay khi Hiệp định có hiệu lực đối với khoảng 78% số dòng thuế và xóa bỏ sau 3 năm đối với 85,6% số dòng thuế, Nhật Bản cam kết xóa bỏ thuế nhập khẩu ngay khi Hiệp định có hiệu lực đối với khoảng 86% số dòng thuế và sau 5 năm đối gần 90% số dòng thuế…Tuy nhiên, các Hiệp định như TPP và EVFTA đều có mục tiêu xóa bỏ toàn bộ số dòng thuế với các lộ trình dài ngắn khác nhau, đồng thời tự do hóa rất sâu các lĩnh vực khác nhằm cho phép nhà đầu tư nước ngoài có cơ hội ngang bằng với doanh nghiệp trong nước khi tham gia vào các lĩnh vực cam kết.

7.1.2. Cam kết thuế xuất khẩu

Đối với thuế xuất khẩu, với WTO và các FTA đã ký kết, Việt Nam không có nghĩa vụ phải xóa bỏ thuế XK. Duy nhất ta chỉ cam kết đối với nhóm hàng sắt thép, phế liệu kim loại sẽ được giảm thuế sau 5 năm gia nhập WTO đến mức 17% và 22%, thực hiện từ 2007.

Với các FTA hiện nay ta đang đàm phán với đặc thù là đàm phán với các nước phát triển nên các nước đều ủng hộ quan điểm xóa bỏ thuế xuất khẩu vì cho rằng thuế xuất khẩu là một hình thức trợ cấp cho sản xuất trong nước, gây bóp méo thương mại quốc tế.

Đối với EU vừa tuyên bố cơ bản kết thúc, Việt Nam cam kết xóa bỏ phần lớn thuế xuất khẩu với hàng xuất khẩu sang EU với lộ trình dài nhất là 15 năm. Những mặt hàng quan trọng còn lại sẽ tiếp tục được duy trì thuế xuất khẩu và áp dụng một mức trần thuế suất thuế xuất khẩu. Cụ thể là:

– 546 mặt hàng sẽ xóa bỏ thuế XK với lộ trình 5-7-10-12-15 năm, trong đó có quặng titan và tinh quặng titan;

– 57 mặt hàng sẽ áp dụng mức thuế suất thuế XK 10-20% đối với nhóm mặt hàng khoáng sản, quặng kim loại, than đá, vàng và vàng trang sức.

Trong TPP: 

– Cho đến thời điểm này ta đã bảo lưu đối với khoảng 70 mặt hàng thuế xuất khẩu sẽ có mức thuế suất từ 2-40%, trong đó quan trọng nhất là bảo lưu được đối với nhóm than đá, dầu mỏ và một số nhóm khoáng sản khác. 

– Các mặt hàng còn lại có lộ trình xóa bỏ thuế xuất khẩu ngay hoặc trong vòng 5/7/10/15 năm.

7.2. Tình hình triển khai thực hiện cam kết về thuế xuất nhập khẩu trong các FTA của Việt Nam trong giai đoạn 2016 – 2018

7.2.1. Các Hiệp định đã ký kết

Triển khai cam kết trong khuôn khổ các FTA nói trên, trong giai đoạn 2016-2018, Bộ Tài chính đã ban hành các Thông tư thực hiện lộ trình cắt giảm thuế quan trong các FTA đã ký kết, cụ thể gồm:

7.2.1.1. Hiệp định Thương mại hàng hóa trong ASEAN (ATIGA)

Ngày 26/2/2009, Hiệp định ATIGA được ký tại Hội nghị Cấp cao ASEAN 14 tại Thái Lan và bắt đầu có hiệu lực kể từ ngày 17/5/2010. Lộ trình cam kết của các nước như sau:

– ASEAN 6 (gồm Bru-nei, In-đô-nê-si-a, Ma-lai-si-a, Philipine, Sin-ga-po và Thái Lan) đã cơ bản hoàn thành việc xóa bỏ thuế nhập khẩu vào năm 2010.

– Các nước CLMV (Cam-pu-chia, Lào, My-an-ma, Việt Nam) xóa bỏ khoảng 90% số dòng thuế vào 2015 và 97% vào 2018. Ngoài ra, một số mặt hàng nông nghiệp nhạy cảm như đường thô, đường trăng, gạo, thịt gà, thịt lợn và phụ phẩm, thịt đóng hộp, trứng, một số mặt hàng hoa quả… được phép duy trì mức thuế suất 5% sau giai đoạn 2018.

Để thực hiện cam kết của Việt Nam trong Hiệp định ATIGA, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư 165/2014/TT-BTC ngày 14/11/2014 của Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt để thực hiện Hiệp định Thương mại ATIGA giai đoạn 2015-2018, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2015, thay thế Thông tư 161/2011/TT-BTC ngày 17/11/2011 của Bộ trưởng Bộ Tài chính.

– Thực hiện cam kết ATIGA, Việt Nam đã cắt giảm 6.897 dòng thuế (chiếm 72% tổng Biểu thuế xuất nhập khẩu) xuống thuế suất 0% tính đến thời điểm 2014.

– Từ ngày 1/1/2015, đã có thêm 1.706 dòng thuế được cắt giảm xuống thuế suất 0%. Số còn lại gồm 669 dòng thuế (chiếm 7% Biểu thuế), chủ yếu là những mặt hàng nhạy cảm trong thương mại giữa Việt Nam và ASEAN, sẽ xuống 0% vào năm 2018, tập trung vào các nhóm hàng như ô tô, xe máy, phụ tùng linh kiện ô tô xe máy, dầu thực vật, hoa quả nhiệt đới, đồ điện dân dụng như tủ lạnh, máy điều hòa, sữa và các sản phẩm sữa…

– Diện mặt hàng không phải xóa bỏ thuế nhập khẩu (duy trì thuế suất MFN) gồm Thuốc lá điếu, lá thuốc lá, các mặt hàng an ninh quốc phòng như thuốc nổ, súng đạn, pháo hoa, rác thải y tế, lốp cũ…

– Như vậy, nhìn chung với việc đưa 1.706 số dòng thuế cắt giảm xuống 0% vào 2015 sẽ tác động đến việc gia tăng kim ngạch nhập khẩu và xu hướng dịch chuyển nhập khẩu tăng từ các nước ASEAN so với các đối tác khác, trong khi kim ngạch xuất khẩu không có nhiều cơ hội gia tăng đột biến dưới tác động của tự do hóa thuế quan do các nước ASEAN 6 đã cắt giảm hoàn toàn thuế quan dành cho Việt Nam xuống 0% từ năm 2010.

7.2.1.2. Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN – Trung Quốc (ACFTA)

Nội dung cam kết cắt giảm thuế của Việt Nam trong khuôn khổ Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN-Trung Quốc (ACFTA) được điều chỉnh bởi Hiệp định Khung về Hợp tác Kinh tế toàn diện ASEAN-Trung Quốc được các nhà lãnh đạo Thượng đỉnh ASEAN và Trung Quốc ký ngày 4/11/2002 tại Campuchia (gọi tắt là Hiệp định Khung), Hiệp định Thương mại Hàng hoá ASEAN-Trung Quốc được ký kết ngày 29/11/2004 tại Lào, tiếp đó Biên bản ghi nhớ giữa Việt Nam-Trung Quốc ký ngày 18/7/2005 tại Trung Quốc. Hiệp định bắt đầu có hiệu lực từ ngày 1/1/2006.

Việt Nam cam kết xóa bỏ thuế quan của 90% số dòng thuế trong vòng 10 năm, linh hoạt đến lộ trình cuối cùng vào năm 2018. Số dòng thuế còn lại Việt Nam cam kết cắt giảm về từ 5% đến 50% vào cuối lộ trình là năm 2020. Để thực hiện cam kết của Việt Nam, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư 166/2014/TT-BTC ngày 14/11/2014 của Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt để thực hiện Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN – Trung Quốc (ACFTA) giai đoạn 2015-2018, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2015.

– Từ 1/1/2015, Việt Nam cắt giảm thêm 3691 dòng thuế xuống 0% so với năm 2014 (nâng số dòng thuế cắt giảm về 0% là 7983 dòng, chiếm 84,11% tổng biểu), tập trung vào các nhóm mặt hàng: Chất dẻo & chất dẻo nguyên liệu, đồ nội thất & các sản phẩm từ gỗ, máy móc thiết bị, linh kiện phụ tùng, máy vi tính và các sản phẩm linh kiện điện tử, vải may mặc, nguyên phụ liệu dệt may, da giầy, sản phẩm dệt may, và 1 số sản phẩm sắt thép. Thuế suất 2016, 2017 giữ nguyên so với năm 2015.

– Từ 1/1/2018, có thêm 588 dòng thuế cắt giảm xuống 0% nâng số dòng thuế cắt giảm về 0% lên 8571 dòng, chiếm 90,3% tổng biểu, gồm một số mặt hàng chế phẩm từ thịt, chế phẩm từ rau quả, ngũ cốc, động cơ điện, hàng gia dụng, hóa chất, linh kiện phụ tùng ô tô, vật liệu xây dựng, nhựa, cao su, giấy…

– Đến năm 2020, có khoảng 475 dòng thuế nhạy cảm được cắt giảm xuống 5% gồm các sản phẩm sắt thép, cáp điện, sản phẩm điện gia dụng; các sản phẩm cao su, gốm sứ, giấy, xi măng, nhựa và các sản phẩm công nghiệp khác; các chế phẩm nông nghiệp đã qua chế biến; một số dòng xe tải và xe chuyên dụng …

– Những dòng duy trì thuế suất cao hoặc không cam kết cắt giảm thuế quan gồm 456 dòng thuế, gồm: trứng gia cầm, đường, thuốc lá, động cơ, phương tiện vận tải (ô tô, xe máy trừ xe tải 6-10 tấn), xăng dầu, sắt thép, vật liệu xây dựng, một số mặt hàng liên quan đến an ninh quốc phòng.

7.2.1.3. Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN – Hàn Quốc (AKFTA)

Việt Nam tham gia vào Hiệp định Thương mại tự do ASEAN – Hàn Quốc (AKFTA) từ năm 2005 và bắt đầu thực hiện các cam kết về thuế nhập khẩu từ năm 2007.

Trong Hiệp định AKFTA, Việt Nam cam kết xóa bỏ thuế nhập khẩu đối với khoảng 86% tổng số dòng thuế vào năm 2018, 14% tổng số dòng thuế còn lại sẽ: (i) giảm thuế về 5% vào thời điểm cuối lộ trình (năm 2021), và (ii) cắt giảm một phần thuế suất vào 2021 hoặc giữ nguyên thuế suất MFN.

  Để thực hiện cam kết, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 167/2014/TT-BTC ngày 15/11/2014 và Thông tư số 44/2015/TT-BTC ngày 30/3/2015 ban hành Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt của Việt Nam thực hiện AKFTA giai đoạn 2015-2018. Từ năm 2015, Việt Nam xóa bỏ thuế quan đối với 7366 dòng thuế (chiếm 77,6% tổng số dòng thuế) tập trung vào một số sản phẩm thuộc các nhóm: sản phẩm nông nghiệp, máy móc thiết bị phụ tùng, dệt may, thủy sản, giấy, hóa chất, sản phẩm từ sắt thép và kim loại cơ bản, … Đến năm 2018, tổng số dòng thuế phải xóa bỏ thuế quan là 8.184 (chiếm khoảng 86% tổng số dòng thuế).

Lộ trình cắt giảm cuối cùng của Hiệp định AKFTA là năm 2021. Ngoài các dòng thuế đã được xóa bỏ thuế quan vào năm 2018, dự kiến khoảng 620 dòng thuế sẽ được giảm thuế về 5% (tập trung vào một số nhóm như điện tử, cơ khí, sắt thép và kim loại cơ bản, sản phẩm hóa dầu, phụ tùng máy móc, một số mặt hàng ô tô đặc chủng và chuyên dụng…); những mặt hàng còn lại không cam kết hoặc duy trì thuế suất cao (50%) gồm ô tô nguyên chiếc, linh kiện, phụ tùng ô tô, xe máy, xe đạp, đồ điện gia dụng, sắt thép, điện tử, rượu, thuốc lá, xăng dầu…

7.2.1.4. Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN-Úc-NiuDiLân (AANZFTA)

Hiệp định Khu vực mậu dịch tự do ASEAN-Úc và Niu Di lân (AANZFTA) đã được ký kết tại Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 14 vào ngày 27/02/2009 tại Hua Hin, Thái Lan. Hiệp định này có hiệu lực với Việt Nam từ ngày 01/01/2010.

Lộ trình cắt giảm thuế của Việt Nam cam kết trong AANZFTA là đến năm 2022 với tỷ lệ xóa bỏ thuế quan là 92% số dòng thuế, 8% số dòng thuế còn lại được cắt giảm theo lộ trình riêng hoặc được giữ nguyên thuế suất.

Để thực hiện cam kết, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 168/2014/TT-BTC ngày 14/11/2014 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về việc ban hành Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt của Việt Nam để thực hiện Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN-Úc-NiuDilân giai đoạn 2015-2018. Thông tư này có hiệu lực từ ngày 01/01/2015.

Năm 2015, có 2.666 dòng thuế được xóa bỏ thuế quan (chiếm 28,1% biểu thuế), tập trung vào nhóm các mặt hàng: Ngũ cốc; Gỗ; Rau quả; Thủy sản; Bông các loại, chất dẻo nguyên liệu; Gốm, sứ; Nguyên liệu dược phẩm; Nguyên phụ liệu dệt, may, da, giày; Than đá; Hóa chất…

Năm 2018, có 8.127 dòng thuế được xóa bỏ thuế quan (chiếm 86% biểu thuế), tập trung vào nhóm các mặt hàng: Bánh, kẹo; Dược phẩm; Giấy; Gỗ Hàng may mặc và đồ phụ trợ may mặc; Hóa chất; Máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng; Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện; Ngô; Nguyên phụ liệu dược phẩm…

Lộ trình giảm và xóa bỏ thuế quan cuối cùng trong AANZFTA là năm 2022 với 8.669 dòng thuế được xóa bỏ thuế quan (chiếm 92% biểu thuế), bao gồm các nhóm hàng được xóa bỏ thuế quan từ năm 2018 nêu trên và các nhóm hàng: chăn nuôi; dược phẩm; đường; gạo; gỗ, giấy; hóa chất; mỹ phẩm; điện gia dụng; rau quả; sắt thép và sữa. Ngoài ra, có 513 dòng thuế sẽ về 5%, tập trung vào nhóm hàng như: chất dẻo nguyên liệu; dược phẩm; giấy các loại; khí đốt hóa lỏng; linh kiện, phụ tùng ô tô; máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng; ô tô nguyên chiếc các loại; phôi thép; cao su; sản phẩm từ dầu mỏ khác; sắt thép.

Các mặt hàng như hoa quả (cam, quýt); rượu bia, xì gà, dầu mỏ, lá thuốc lá, một số sản phẩm sắt, thép, xe có động cơ dùng để vận tải hàng hóa… sẽ không phải xóa bỏ thuế quan mà có lộ trình cắt giảm riêng với năm kết thúc 2020/2022.

7.2.1.5. Hiệp định Thương mại tự do ASEAN-Ấn Độ (AIFTA)

Hiệp định thương mại tự do ASEAN – Ấn Độ được ký ngày 13 tháng 08 năm 2009 tại Thái Lan.

Việt Nam cam kết xóa bỏ 80% số dòng thuế vào năm cuối lộ trình là năm 2021 (71% số dòng thuế vào 2018, và 9% số dòng thuế vào 2021), 10% số dòng thuế còn lại chỉ cắt giảm vào cuối lộ trình (năm 2024), danh mục loại trừ gồm 468 dòng HS 6 số (chiếm khoảng 10% số dòng thuế).

Bộ Tài chính đã ban hành Biểu thuế NK ưu đãi đặc biệt ASEAN-Ấn Độ giai đoạn 2015-2018 kèm theo Thông tư số 169/2014/TT-BTC ngày 14/11/2014 có hiệu lực từ ngày 01/01/2015.

Năm 2015-2018 có 1.170 dòng có mức thuế suất là 0%, chiếm 12,3%  tổng số dòng thuế, trong đó chỉ có 8 dòng thuế ưu đãi hơn so với thuế suất MFN hiện hành.

Việt Nam sẽ kết thúc thực hiện lộ trình cam kết xóa bỏ/cắt giảm thuế vào 2024 với tỷ lệ xóa bỏ 70% số dòng thuế, tập trung vào nhóm chè, cà phê, cao su, rau củ quả, giày dép, Hàng gia dụng, thuỷ sản, Hoá chất, Kim loại, sắt thép, khoáng sản, Máy móc, thiết bị, vật liệu xây dựng.

Diện mặt hàng không cam kết (30% số dòng thuế) gồm: trứng, đường, muối, xăng dầu, phân bón, nhựa, cao su, kim loại quý, sắt thép, máy móc, thiết bị điện, ô tô, xe máy, thiết bị phụ tùng, và các mặt hàng an ninh quốc phòng (pháo hoa, súng, thuốc phiện,…).

7.2.1.6. Hiệp định Đối tác kinh tế Việt Nam – Nhật Bản (VJEPA)

Hiệp định Đối tác kinh tế Việt Nam – Nhật Bản (VJEPA) được ký kết vào ngày 25/12/2008 và bắt đầu có hiệu lực từ ngày 1/10/2009. Hiệp định VJEPA có nội dung toàn diện, bao gồm nhiều lĩnh vực như thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ, đầu tư, cải thiện môi trường kinh doanh, di chuyển của thể nhân. Theo đó, vào năm cuối của Lộ trình giảm thuế (2026), tức là sau 16 năm thực hiện Hiệp định, Việt Nam cam kết xóa bỏ thuế quan đối với 90,64% số dòng thuế, trong đó xóa bỏ thuế quan ngay tại thời điểm Hiệp định có hiệu lực đối với 29,14% số dòng thuế. Các dòng thuế còn lại là các dòng thuế CKD ô tô và các dòng thuế nhậy cảm duy trì thuế suất cơ sở hoặc không cam kết cắt giảm chiếm khoảng 9%, tập trung vào một số nhóm Rượu, thuốc lá, một số sản phẩm hóa chất, chất nổ, cao su, bông, vải, sắt thép…..

Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 25/2015/BTC-TT ngày 14/2/2015 về việc ban hành Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt của Việt Nam  thực hiện Hiệp định VJEPA tiếp tục cho giai đoạn 2015-2018. Theo đó, tính tới thời điểm 1/4/2015, Việt Nam cam kết xóa bỏ tổng số 32,92% các dòng thuế trong Hiệp định VJEPA. Cho tới thời điểm 1/4/2018, số dòng thuế cắt giảm thuế nhập khẩu về 0% của Việt Nam sẽ chiếm 41,78% tổng biểu.

7.2.1.7. Đối với Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện ASEAN – Nhật Bản (AJCEP)

Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện giữa Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (viết tắt là ASEAN) và Nhật Bản ký ngày 3 tháng 4 năm 2008 và có hiệu lực thực hiện ngày 15/8/2008.

Việt Nam cam kết xóa bỏ thuế quan đối với 8231 dòng thuế (chiếm 88.6% tổng Biểu) trong vòng 16 năm, gần 100 dòng thuế cắt giảm xuống 5% và khoảng 10% số dòng thuế còn lại cắt giảm một phần thuế suất hoặc không cam kết.

Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 24/2015/BTC-TT ngày 14/2/2015 ban hành Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt của Việt Nam thực hiện AJCEP giai đoạn 2015-2018.

– Năm 2015, có 2874 số dòng thuế có thuế suất 0% (tương đương với 30% tổng biểu thuế)

– Năm 2018, Việt Nam kết xoá bỏ thuế quan đối với 62,2% số dòng thuế, tập trung vào các nhóm mặt hàng như chất dẻo nguyên liệu, hóa chất, máy móc thiết bị, dụng cụ, phụ tùng, máy vi tính, sản phẩm điện tử, linh kiện, sợi các loại, nguyên phụ liệu dệt may, da giày, sản phẩm tân dược

– Đến năm 2025, Việt Nam cam kết xóa bỏ thêm 26,4% số dòng thuế, nâng tổng số dòng thuế về 0% lên 88,6% tổng biểu. Những mặt hàng không cam kết cắt giảm, thuế suất áp dụng sẽ theo mức thuế MFN tại thời điểm hiện hành gồm các mặt hàng ô tô nguyên chiếc, phụ tùng linh kiện, đồ điện gia dụng, sắt thép, máy móc thiết bị…

7.2.1.8. Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Chi lê (VCFTA)

Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Chile được được ký kết vào ngày 11/11/2011 tại Hawai (Mỹ). Hiệp định chính thức có hiệu lực kể từ ngày 1/1/2014.

Việt Nam cam kết xoá bỏ thuế quan đối với 87,8% số dòng thuế (chiếm 91,22% kim ngạch nhập khẩu từ Chi Lê năm 2007). Trong vòng 15 năm, dự kiến lộ trình cuối cùng vào 2029, số dòng thuế không cam kết của Việt Nam hoặc chỉ cam kết cắt giảm một phần chiếm 12,2%, tập trung vào một số lĩnh vực nhạy cảm như nông nghiệp, xăng dầu…

Đến năm 2023, Việt Nam cam kết xóa bỏ thêm 1163 dòng thuế so với thời điểm ban đầu, nâng tổng số dòng thuế có thuế suấ 0% lên 3860 dòng, tương đương 42,42% toàn biển. Tốc độ cam kết xóa bỏ thuế quan trong Hiệp định VCFTA sẽ được đẩy mạnh trong 5 năm cuối của Hiệp định đạt mức cam kết tối đa 87,8% vào năm 2028. Nhóm hàng Việt Nam cam kết xóa bỏ thuế quan là hóa chất, gỗ, nguyên liệu dệt may, máy móc, thịt gà, cam, quýt, rượu vang, thủy sản, bia, thép xây dựng…

Để thực hiện cam kết cắt giảm thuế quan trong Hiệp định VCFTA, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 162/2013/TT-BTC ngày 15/11/2013 ban hành biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt của Việt Nam giai đoạn 2014-2016. Việt Nam cam kết xóa bỏ ngay khi Hiệp định có hiệu lực là 2697 dòng, tương đương 29,64% biểu thuế.

7.2.1.9. Hiệp định Thương mại tự do song phương Việt Nam – Hàn Quốc (VKFTA)

Đàm phán VKFTA được chính thức khởi động tại Hà Nội vào ngày 6/8/2012. Sau 9 phiên đàm phán chính thức, ngày 10/12/2014, nhân dịp Hội nghị Cấp cao đặc biệt kỷ niệm 25 năm thiết lập quan hệ đối thoại ASEAN – Hàn Quốc, Chính phủ hai nước đã tuyên bố kết thúc đàm phán. Ngày 4/5/2015 tại Hà Nội, Việt Nam và Hàn Quốc đã chính thức ký kết hiệp định.

Trên nền cam kết ASEAN-Hàn Quốc, cam kết của Việt Nam trong VKFTA bổ sung thêm 265 mặt hàng, có kim ngạch nhập khẩu từ Hàn Quốc là 917 triệu USD. Danh mục này bao gồm các nhóm hàng như nguyên phụ liệu dệt, may; nguyên liệu nhựa, linh kiện điện tử, phụ tùng ô tô, điện gia dụng, một số sản phẩm sắt thép, dây cáp điện, dòng xe tải từ 10-20 tấn và xe con từ 3000cc trở lên …

Để thực hiện cam kết cắt giảm thuế quan trong Hiệp định VKFTA, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 201/2015/TT-BTC ngày 16/12/2015 ban hành biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt của Việt Nam giai đoạn 2015-2018. Tổng hợp lộ trình cam kết của VKFTA đối với 9.502 dòng thuế như sau:

– Số dòng thuế cam kết cắt giảm về 0% vào từ 20/12/2015: 7.520 dòng, chiếm 79,14% tổng số dòng thuế trong Biểu thuế.

– Số dòng thuế cam kết cắt giảm về 0% vào năm 2016: 7.857 dòng, chiếm 82,68% tổng số dòng thuế trong Biểu thuế.

– Số dòng thuế cam kết cắt giảm về 0% vào năm 2018: 8.336 dòng, chiếm 87,73% tổng số dòng thuế trong Biểu thuế.

7.2.2. Các Hiệp định vừa kết thúc đàm phán

Hiện nay Việt Nam đã kết thúc đàm phán 03 Hiệp định thương mại tự do gồm Hiệp định Đối tác Chiến lược Xuyên Thái Bình Dương (TPP), Hiệp định Việt Nam – EU, Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – Liên minh Hải quan Nga, Bê la rút, Ca dắc xtan (VEAEUFTA)

7.2.2.1. Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP)

TPP khởi động đàm phán từ tháng 3/2010, cho tới nay có 12 nước tham gia đàm phán, gồm Úc, Brunei, Canada, Chi lê, Malaysia, Mexico, Nhật Bản, Niu Di Lân, Peru, Singapore, Hoa Kỳ, Việt Nam.

So với các Hiệp định Việt Nam đã ký kết trước đây thì Hiệp định TPP được coi là một Hiệp định thế hệ mới với mức cam kết sâu rộng hơn, lên đến 100% số dòng thuế với lộ trình khác nhau. Hiệp định đã được ký kết vào tháng 2/2016 và các bên đang trong quá trình phê duyệt nội bộ. Hiệp định sẽ có hiệu lực 6 tháng sau khi tất cả các bên thông báo đã hoàn tất thủ tục phê duyệt trong nước.

Cam kết về thuế NK:

Tính đến thời điểm hiện nay, Việt nam cam kết xóa bỏ thuế đối với khoảng 66% số dòng thuế ngay khi Hiệp định có hiệu lực và xóa bỏ đối với 86,5% số dòng thuế sau 3 năm Hiệp định có hiệu lực. Các mặt hàng còn lại sẽ có lộ trình giảm thuế cơ bản từ 4-10 năm. Một số mặt hàng đặc biệt nhạy cảm, Việt Nam cam kết lộ trình trên 10 năm hoặc hạn ngạch thuế quan (TRQ). Cam kết một số nhóm của Việt Nam trong TPP như sau:

Sản phẩm chăn nuôi (thịt lợn, gà): Xóa bỏ thuế nhập khẩu trong vòng 10 năm đối với thịt gà; 9 năm đối với thịt lợn tươi và 7 năm đối với thịt lợn đông lạnh

Rượu bia: Xóa bỏ thuế nhập khẩu trong vòng 10 hoặc 11 năm. Riêng mặt hàng rượu sake, chào xóa bỏ thuế trong vòng 2 năm (bằng với mức cam kết cho Nhật Bản trong Hiệp định Việt Nam-Nhật Bản).

Ô tô: Xóa bỏ thuế trong vòng 11 năm, ô tô trên 3000 cc xóa bỏ thuế trong vòng 9 năm.

Sắt thép: Xóa bỏ thuế trong vòng 10 năm

Mặt hàng xăng dầu: Xóa bỏ thuế trong vòng 10 năm (phù hợp với lộ trình cam kết Nghi Sơn và ASEAN).

Nhóm hàng máy móc, thiết bị, động cơ: Xóa bỏ thuế ngay khi Hiệp định có hiệu lực hoặc trong vòng 3 năm.

Mặt hàng sữa và sản phẩm sữa: Xóa bỏ thuế ngay khi Hiệp định có hiệu lực hoặc trong vòng 2/3 năm.

Cam kết về thuế XK:

– Cho đến thời điểm này ta đã bảo lưu đối với khoảng 70 mặt hàng thuế xuất khẩu sẽ có mức thuế suất từ 2-40%, trong đó quan trọng nhất là bảo lưu được đối với nhóm than đá, dầu mỏ và một số nhóm khoáng sản khác. 

– Các mặt hàng còn lại có lộ trình xóa bỏ thuế xuất khẩu ngay hoặc trong vòng 5/7/10/15 năm.

7.2.2.2. Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam-Liên minh Châu Âu EU (EVFTA)

Hiệp định khởi động đàm phán từ tháng 10/2012. Mục tiêu nhằm hướng đến tự do hóa cao với lộ trình thực hiện khác nhau. Hiện 2 bên đã kết thúc đàm phán, chuẩn bị ký kết trong thời gian tới.

Cam kết về thuế NK:

Đối với nhập khẩu của Việt Nam, Việt Nam cam kết sẽ xóa bỏ thuế quan ngay khi Hiệp định có hiệu lực với 48,5% số dòng thuế, tương đương 64,5% kim ngạch nhập khẩu từ EU, và sau 10 năm là khoảng 99% số dòng thuế, tương đương 99,8% kim ngạch nhập khẩu từ EU. Đối với số dòng thuế còn lại, Việt Nam sẽ có lộ trình trên 10 năm hoặc dành ưu đãi cho EU trên cơ sở hạn ngạnh thuế quan của WTO.

Đối với một số nhóm hàng quan trọng, cam kết của Việt Nam như sau:

– Ô tô: Việt Nam cam kết xóa bỏ thuế quan sau 9 năm đối với ô tô phân khối lớn (trên 3000cc cho động cơ xăng và trên 2500 cc cho động cơ diesel) và 10 năm đối với các loại ô tô còn lại.

– Linh kiện, phụ tùng ô tô: Việt Nam sẽ xóa bỏ thuế quan sau tối đa 7 năm.

– Xe máy: Việt Nam cam kết xóa bỏ thuế quan sau 7 năm đối với xe máy phân khối lớn (trên 150cc) và sau 10 năm đối với các nhóm xe máy còn lại.

– Hóa chất: Việt Nam cam kết xóa bỏ thuế quan sau tối đa 7 năm, trong đó, khoảng 70% kim ngạch nhập khẩu hóa chất từ EU được hưởng thuế suất 0% ngay khi Hiệp định có hiệu lực.

– Đồ uống có cồn: Việt Nam cam kết xóa bỏ thuế quan tối đa không quá 10 năm.

– Thịt lợn, gà, bò: Việt Nam cam kết xóa bỏ thuế quan sau 3 năm đối với thịt bò; 7 năm đối với thịt lợn đông lạnh, 9 năm đối với các nhóm thịt lợn khác; và 10 năm đối với thịt gà.

– Sữa và sản phẩm sữa: Việt Nam sẽ xóa bỏ thuế quan sau 3-5 năm.

– Cá và các sản phẩm cá: Việt Nam cam kết xóa bỏ thuế quan sau tối đa 3 năm đối với cá, và tối đa 7 năm đối với chế phẩm từ cá.

– Thuốc lá, xì gà: Việt Nam cam kết xóa bỏ thuế quan sau 15 năm.

– Máy móc thiết bị: Việt Nam cam kết xóa bỏ thuế quan tối đa 7 năm.

– Sản phẩm gỗ, giấy: Việt nam cam kết xóa  bỏ thuế quan tối đa 7 năm.

– Nhóm đang áp dụng chính sách TRQ (gồm trứng, đường, lá thuốc lá, muối): Việt Nam cam kết xóa bỏ thuế quan trong hạn ngạch WTO sau 10 năm, không cam kết đối với thuế quan ngoài hạn ngạch.

Cam kết về thuế XK:

Việt Nam cam kết xóa bỏ phần lớn thuế xuất khẩu với hàng xuất khẩu sang EU với lộ trình dài nhất là 15 năm. Những mặt hàng quan trọng còn lại sẽ tiếp tục được duy trì thuế xuất khẩu và áp dụng một mức trần thuế suất thuế xuất khẩu. Cụ thể là:

– 546 mặt hàng sẽ xóa bỏ thuế XK với lộ trình 5-7-10-12-15 năm, trong đó có quặng titan và tinh quặng titan;

– 57 mặt hàng sẽ áp dụng mức thuế suất thuế XK 10-20% đối với nhóm mặt hàng khoáng sản, quặng kim loại, than đá, vàng và vàng trang sức.

7.2.2.3. Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – Liên minh Hải quan Nga, Bê la rút, Ca dắc xtan (VEAEUFTA)

Hiệp định được khởi động đàm phán từ tháng 3/2013 giữa Việt Nam và 3 nước Nga, Bê-la-rút, Ca-dắc-xtan. Ngày 15/12/2014, hai Bên đã ký tuyên bố kết thúc cơ bản đàm phán với sự chứng kiến của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng. Hiệp định đã được ký kết ngày 29/5/2015, hiện hai bên đang tiến hành thủ tục phê chuẩn trong nước và dự kiến sẽ có hiệu lực giữa năm 2016.

Việt Nam cam kết mở cửa thị trường khoảng 90% số dòng thuế với lộ trình trong vòng 10 năm. Cụ thể: xóa bỏ thuế ngay đối với một số mặt hàng nông sản (thịt bò, sản phẩm sữa, bột mì); mở cửa có lộ trình 3-5 năm đối với thịt, cá chế biến, máy móc thiết bị điện, máy dùng trong nông nghiệp; 5 năm đối với thịt gà, thịt lợn; 10 năm đối với một số loại rượu bia, ô tô; thuế nhập khẩu xăng dầu không xóa bỏ sớm hơn năm 2027. Sắt thép có lộ trình xóa bỏ 0-5-7-10 năm.

Ngoài ra, Việt Nam cam kết hạn ngạch thuế quan đối với mặt hàng trứng gia cầm và Lá thuốc lá chưa chế biến. Theo đó, LMKTAA sẽ được hưởng ưu đãi về thuế nhập khẩu khi nhập khẩu vào Việt Nam một lượng hạn ngạch dành riêng cho LMKTAA. Lượng hạn ngạch này tách riêng (đối với trứng)/nằm trong (đối với lá thuốc lá) lượng hạn ngạch mà Việt Nam cam kết trong WTO. Bộ Công Thương sẽ ban hành văn bản hướng dẫn chi tiết về lượng hạn ngạch dành riêng cho LMKTAA; thuế suất nhập khẩu trong và ngoài hạn ngạch sẽ theo quy định của Bộ Tài chính, cụ thể: thuế suất nhập khẩu trong hạn ngạch dành cho LMKTAA sẽ được chi tiết tại Phụ lục đính kèm Thông tư, thuế suất ngoài hạn ngạch sẽ áp dụng theo quy định hiện hành.

7.3. Định hướng chính sách về thuế xuất nhập khẩu trong giai đoạn 2016 – 2018

7.3.1. Triển khai thực hiện Luật Thuế Xuất Nhập khẩu 2016

Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu số 45/2005/QH11 được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 14/06/2005 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2006 (sau đây gọi là Luật thuế XNK). Qua 10 năm thực hiện, Luật thuế XNK đã tác động tích cực đến nhiều mặt kinh tế -xã hội của đất nước và đạt được các mục tiêu đề ra khi ban hành Luật.

Luật thuế XNK đã tạo lập khuôn khổ pháp lý đồng bộ trong việc chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại và thực hiện vai trò điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Các quy định tại Luật đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc đàm phán và thực hiện cam kết quốc tế về thuế quan khi nước ta gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) và tham gia các Hiệp định thương mại tự do (FTA). Việc quy định ba loại thuế suất thuế nhập khẩu là thuế suất ưu đãi, thuế suất ưu đãi đặc biệt và thuế suất thông thường đã tạo cơ sở để áp dụng các mức thuế nhập khẩu phân biệt theo mức độ cam kết về quan hệ thương mại của Việt Nam với các nước, các tổ chức quốc tế có liên quan… và qua đó, thúc đẩy mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại theo nguyên tắc có đi có lại. Đến nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ thương mại với trên 160 nước và vùng lãnh thổ; có thỏa thuận về quy chế tối huệ quốc trong quan hệ thương mại với 90 quốc gia và vùng lãnh thổ. 

Ngày 06/4/2016, Quốc Hội đã thông qua dự án Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu (sửa đổi). Luật này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/9/2016.

Một trong những nội dung được sửa đổi trong Luật Thuế xuất nhập khẩu sửa đổi là nhóm vấn đề về khuyến khích phát triển và bảo hộ hợp lý sản xuất kinh doanh trong nước phù hợp định hướng phát triển của Đảng, Nhà nước và các cam kết quốc tế đã ký kết, cụ thể gồm:

a) Bổ sung một số nội dung quy định về thuế chống bán phá giá, chống trợ cấp, thuế tự vệ để góp phần bảo vệ sản xuất trong nước trong điều kiện hội nhập quốc tế trên cơ sở kế thừa, nâng cấp một số quy định của các Pháp lệnh liên quan:

Tại khoản 2, 3 Điều 5 và Điều 11 Luật thuế XNK hiện hành đã có quy định các biện pháp về thuế để tự vệ, chống bán phá giá, chống trợ cấp trong nhập khẩu hàng hóa nhưng chưa đầy đủ và mới dừng ở việc định danh về các biện pháp này. Việc áp dụng cụ thể các biện pháp này đang được thực hiện theo quy định tại Pháp lệnh chống bán phá giá, Pháp lệnh chống trợ cấp và Pháp lệnh về tự vệ.

Nhằm phát huy vai trò là công cụ góp phần bảo vệ môi trường kinh doanh, bảo vệ hàng hóa sản xuất trong nước trong điều kiện phải cắt giảm thuế nhập khẩu theo các cam kết quốc tế, các nội dung về thuế áp dụng đối với hàng hóa nhập khẩu cần quy định thống nhất tại Luật thuế XNK để đảm bảo sự nhất quán trong thực hiện. Mặt khác, việc nâng một số quy định pháp lý từ Pháp lệnh thành nội dung Luật sẽ tạo sự rõ ràng, minh bạch trong quá trình hoàn thiện pháp luật Việt Nam, phù hợp với tinh thần Hiến pháp 2013 (Điều 70) là Quốc hội quy định các thứ thuế. Trên cơ sở đó, Luật Thuế XNK đã bổ sung thêm Chương III quy định về thuế phòng vệ thương mại, quy định về điều kiện, nguyên tắc và thời hạn áp dụng các biện pháp phòng vệ về thuế trên cơ sở kế thừa quy định tại 3 Pháp lệnh hiện hành.

Các nội dung liên quan đến trình tự thủ tục, hồ sơ để thực hiện các biện pháp phòng vệ về thuế, khiếu nại và xử lý vi phạm sẽ tiếp tục được thực hiện theo quy định tại Pháp lệnh chống bán phá giá, Pháp lệnh chống trợ cấp về Pháp lệnh về tự vệ.

b) Sửa đổi nguyên tắc ban hành Biểu thuế, thuế suất:

Điều 12 Luật thuế XNK hiện hành đã quy định một số nguyên tắc xây dựng Biểu thuế, mức thuế suất thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu làm cơ sở để Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành mức thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu cho từng mặt hàng. Tuy nhiên, trong bối cảnh thực hiện lộ trình cắt giảm thuế quan theo các Hiệp định thương mại tự do thì một số nguyên tắc tại Luật hiện hành đã không còn phù hợp như nguyên tắc bảo đảm nguồn thu ngân sách; đồng thời, qua quá trình thực hiện cho thấy các nguyên tắc ban hành biểu thuế hiện hành chưa đảm bảo tính hợp lý giữa thuế suất thuế nhập khẩu đánh vào nguyên liệu, vật tư, linh kiện, phụ tùng, bán thành phẩm và sản phẩm nguyên chiếc; một số trường hợp thuế nhập khẩu của nguyên vật liệu cao hơn linh kiện, phụ tùng quan trọng trong nước chưa sản xuất được, cao hơn sản phẩm nguyên chiếc dẫn đến không khuyến khích phát triển công nghiệp hỗ trợ, không khuyến khích sản xuất để tạo thêm giá trị gia tăng; số lượng mức thuế suất của biểu thuế còn nhiều, tạo nên sự phức tạp, dễ nhầm lẫn, tranh chấp trong kê khai, tính thuế.

Để khắc phục và góp phần phát triển và bảo hộ hợp lý sản xuất trong nước; thúc đẩy cải cách hành chính, đơn giản hóa biểu thuế, thu gọn mức thuế suất, đảm bảo đơn giản, tạo thuận lợi cho cải cách thủ tục hành chính, phù hợp với chính sách phát triển kinh tế của Đảng và Nhà nước đối với công nghệ cao, công nghệ nguồn, tiết kiệm năng lượng, bảo vệ môi trường tại khoản 1 Điều 11 dự thảo Luật quy định nguyên tắc ban hành Biểu thuế, thuế suất như sau:

1. Nguyên tắc ban hành biểu thuế, thuế suất

a) Khuyến khích nhập khẩu nguyên liệu, vật liệu, ưu tiên loại trong nước chưa đáp ứng nhu cầu; chú trọng phát triển lĩnh vực công nghệ cao, công nghệ nguồn, tiết kiệm năng lượng, bảo vệ môi trường;

b) Phù hợp với định hướng phát triển kinh tế – xã hội của Nhà nước và các cam kết về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu trong các điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên;

c) Đóng góp hợp lý nguồn thu ngân sách nhà nước và góp phần bình ổn thị trường;

d) Đơn giản, minh bạch, tạo thuận lợi cho cải cách thủ tục hành chính về thuế; áp dụng thống nhất mức thuế suất đối với hàng hóa có cùng bản chất, cấu tạo, công dụng, có tính năng kỹ thuật tương tự; thuế suất thuế nhập khẩu giảm dần từ thành phẩm đến nguyên liệu thô; thuế suất thuế xuất khẩu tăng dần từ thành phẩm đến nguyên liệu thô”. 

c) Sửa đổi thẩm quyền ban hành Biểu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và khung thuế suất

Luật thuế xuất nhập khẩu sửa đổi quy định: UBTVQH ban hành mức thuế suất tối thiểu cho từng phân nhóm hàng thuộc danh mục nhóm hàng chịu thuế xuất khẩu; Thủ tướng Chính phủ căn cứ vào các nguyên tắc được nêu tại dự thảo Luật và mức thuế suất tối thiểu do UBTVHQ ban hành để quy định biểu thuế xuất khẩu, biểu thuế nhập khẩu đối với từng mặt hàng; quyết định áp dụng mặt hàng và mức thuế tuyệt đối, thuế hỗn hợp, thuế nhập khẩu ngoài hạn ngạch thuế quan, đối với từng mặt hàng trong trường hợp cần thiết.

Như vậy, kể từ 01/9/2016, hệ thống văn bản pháp luật quy định thuế xuất-nhập khẩu ưu đãi của Việt Nam (MFN) sẽ dưới dạng Nghị định của Chính phủ.

Tương tự với Biểu thuế xuất-nhập khẩu ưu đãi của Việt Nam, trong thời gian tới, thuế nhập khẩu và xuất khẩu ưu đãi đặc biệt thực hiện cam kết của Việt Nam trong các FTA như đã nêu ở trên sẽ được quy định tại các Nghị định của Chính phủ. Bên cạnh đó là các Nghị định của Chính phủ quy định lượng hạn ngạch đối với ô tô cũ theo cam kết của Việt Nam trong TPP (Bộ Công Thương là đơn vị chủ trì xây dựng).

7.3.2. Thực hiện chuyển đổi Danh mục thuế quan hài hòa ASEAN (AHTN)

Hiện nay Bộ Tài chính đang cùng các cơ quan hải quan và thuế các nước ASEAN đàm phán xây dựng Nghị định thư AHTN 2017 (thay thế cho Nghị định thư AHTN 2012) . Dự kiến, Hội nghị Tổng cục trưởng TCHQ ASEAN sẽ phê duyệt Nghị định thư AHTN 2017 vào tháng 6/2016, các nước sẽ làm thủ tục ký kết và phê chuẩn Nghị định thư AHTN 2017 để hướng tới mục tiêu Danh mục sẽ có hiệu lực từ 1/1/2017. Sau khi Nghị định thư AHTN 2017 có hiệu lựcViệt Nam phải thực hiện chính sách thuế XNK dựa trên Biểu thuế AHTN 2017.

Xuất phát từ thực tế này, trong thời gian tới, Việt Nam sẽ thực hiện chuyển đổi các Biểu thuế MFN và FTA thực hiện các cam kết về Thương mại hàng hóa trong các Hiệp định Thương mại tự do từ AHTN 2012 sang AHTN 2017 để dự kiến thực hiện từ 01/01/2017.

7.3.3. Phát huy vai trò của các Ủy ban thực thi Hiệp định

Trong khuôn khổ các Hiệp định FTA đã ký kết, các Ủy ban thực thi Hiệp định được thành lập nhằm mục tiêu rà soát thực thi cam kết, tạo thuận lợi thương mại giữa các bên… thường được nhóm họp 1-2 lần /năm. Nhằm tận dụng các cơ hội trao đổi, rà soát, giải quyết các vướng mắc với đối tác trong khuôn khổ các Hiệp định này, trong thời gian tới, Việt Nam cần tích cực hơn nữa thông qua việc tăng cường vai trò trong các Tiểu ban; thu thập, xử lý các vướng mắc của Doanh nghiệp trong nước và nếu có khó khăn cần đưa ra trao đổi, thảo luận tại các Tiểu ban để tìm hướng tháo gỡ cho Doanh nghiệp.

 Ngoài ra, nhằm tăng cường phối hợp với các đối tác trong giám sát thực thi các cam kết và nâng cao hiệu quả sử dụng ưu đãi của các FTA mang lại, Việt Nam sẽ phối hợp với các đối tác có FTA đánh giá tình hình thực hiện các cam kết FTA và nâng cao năng lực giám sát hàng hóa, kiểm tra xuất xứ, phối hợp trong công tác chống buôn lậu, hàng giả.

7.3.4. Tiếp tục đàm phán Hiệp định mới và nâng cấp các Hiệp định đã có

Trong tiến trình hội nhập toàn cầu, Việt nam sẽ tiếp tục đàm phán Hiệp định Thương mại tự do mới trong các khuôn khổ như ASEAN-Hồng Kông, ASEAN với 6 đối tác khu vực gồm Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Úc, Niu Di lân và Ấn độ (Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP)), Việt Nam và Israel, Việt Nam và Cuba nhằm củng cố và tăng cường quan hệ thương mại với các đối tác quan trọng, phù hợp với xu hướng thương mại, tình hình hội nhập trong giai đoạn mới và định hướng chiến lược FTA 2016-2020. Ngoài ra, nhằm mở rộng hợp tác, Việt nam sẽ cùng các đối tác nâng cấp các FTA đã ký kết trong thời gian tới (như ASEAN-Hàn Quốc, ASEAN-Ấn độ…) nhằm hoàn thiện các cơ chế Hiệp định tạo thuận lợi thương mại hai chiều, phù hợp với bối cảnh và diễn biến mới của hội nhập.

7.3.5. Rà soát theo dõi phân tích diễn biến xuất nhập khẩu

Thực tế cho thấy, trong quá trình thực thi cam kết quốc tế đã nảy sinh một số khó khăn đối với một số ngành hàng trong nước do xu hướng dịch chuyển thương mại, diễn biến bất lợi của cung cầu thị trường, mặt bằng cam kết thuế giưa các đối tác FTA không đồng nhất… Ví dụ như một số mặt hàng có xu hướng nhập khẩu tăng trong khi năng lực sản xuất trong nước đang dư thừa (sắt thép) hoặc một số mặt hàng trong nước chưa sản xuất được (linh kiện, phụ tùng ô tô…) cần thu hút nhập khẩu từ các nước có công nghệ cao nhưng thuế suất thực hiện cam kết lại đang ở mức cao, làm hạn chế nhập khẩu. Do đó, cần có phân tích, dự báo diễn biến kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam từ các đối tác, đánh giá thực trạng ngành hàng và năng lực sản xuất trong nước để từ đó đưa ra các khuyến nghị điều chỉnh chính sách cho phù hợp (ví dụ như việc theo dõi, phân tích diễn biến xuất nhập khẩu và rà soát cam kết đối với mặt hàng ô tô nguyên chiếc và linh kiện, phụ tùng ô tô…).

Để làm tốt nhiệm vụ này, trong thời gian tới cần: (i) tăng cường phối hợp với các Bộ, Ngành triển khai công tác phân tích, dự báo, thành lập Nhóm chuyên trách; (ii) tăng cường đào tạo cho các cán bộ phân tích, dự báo; (iii) Hoàn thiện cơ sở dữ liệu để khai thác phân tích.

7.3.6.  Sử dụng công cụ phòng vệ thương mại

– Trong thương mại quốc tế, phòng vệ thương mại gồm 3 biện pháp trụ cột là biện pháp chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ. Các biện pháp này được áp dụng để bảo vệ thị trường nội địa trước sự thâm nhập của hàng hóa nước khác. Về bản chất, biện pháp chống bán phá giá và chống trợ cấp được áp dụng để đối phó với hành vi cạnh tranh không lành mạnh hay không công bằng của hàng hóa nhập khẩu. Biện pháp tự vệ thường được nói đến như một biện pháp bảo vệ ngành sản xuất hàng hóa tương tự hoặc cạnh tranh trực tiếp trong nước trong trường hợp khẩn cấp nhằm hạn chế những tác động không thuận lợi gây thiệt hại nghiêm trọng cho sản xuất trong nước do tình trạng gia tăng bất thường của hàng hóa nhập khẩu.

– Tuy nhiên các doanh nghiệp VN hầu hết chưa có kiến thức chuyên sâu cũng như chưa sử dụng hiệu quả công cụ này. Số lượng các vụ kiện thương mại ở Việt Nam rất ít và đây dường như là công cụ bị bỏ quên ở Việt Nam. Tính đến tháng 10/2015, tổng số vụ điều tra phòng vệ thương mại đối với hàng hóa Việt Nam ở nước ngoài là 70, trong đó, tổng số vụ dẫn tới áp dụng phòng vệ thương mại là 36. Các vụ kiện này có tác động lớn đến  hoạt động sản xuất kinh doanh, xuất khẩu của các ngành sản xuất mặt hàng tương tự tại Việt Nam, nhất là các mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu lớn như: cá tra, basa, tôm, da giày. Trong khi đó, ở VN mới chỉ sử dụng công cụ này 04 lần với 03 vụ kiện tự vệ và 01 vụ kiện chống bán phá giá.

– Việc tận dụng có hiệu quả các biện pháp phòng vệ thương mại như những công cụ hợp pháp, phù hợp với cam kết và thông lệ quốc tế sẽ góp phần bảo vệ sản xuất trong nước. Để hiện thực hóa mục tiêu, các doanh nghiệp trong nước cần hiểu rõ và nắm vững các quy trình thủ tục điều tra cũng như các thông tin liên quan đến các vấn đề phòng vệ thương mại quốc tế. Doanh nghiệp cần trang bị kiến thức và nguồn nhân lực cho việc áp dụng công cụ này.

– Củng cố sức mạnh tập thể: Các doanh nghiệp của ngành sản xuất nội địa các sản phẩm liên quan cần tập hợp lại với nhau thành một lực lượng mạnh đủ sức đại diện cho ngành để thực hiện các biện pháp phòng vệ thương mại.

– Các cơ quan nhà nước như Bộ Công thương, Bộ Tài chính cần tăng cường và đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến pháp luật về phòng vệ thương mại đến doanh nghiệp và các đối tượng liên quan.

7.3.7. Tăng cường kiểm tra xuất xứ hàng hóa đối với hàng hóa XNK;  phát huy vai trò Ban Chỉ đạo quốc gia chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả (Ban 389)

– Gian lận về xuất xứ hàng hóa ngày càng phổ biến, đặc biệt là trong bối cảnh Việt Nam hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới. Trong thời gian qua, ngành Hải quan đã phát hiện nhiều vụ việc doanh nghiệp nước ngoài đưa các sản phẩm thành phẩm vào Việt Nam để gian lận xuất xứ, hưởng ưu đãi khi xuất khẩu sang các nước mà Việt Nam đã ký Hiệp định thương mại tự do. Việc này dẫn đến thất thu cho ngân sách nhà nước, tác động tiêu cực đến sản xuất trong nước và ảnh hưởng đến uy tín của các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam ở nước ngoài.

–  Để ngăn chặn tình trạng này, một trong những biện pháp là tăng cường kiểm tra xuất xứ đối với hàng hóa xuất nhập khẩu.

+ Đối với những nguồn thu lớn, cần lên kế hoạch kiểm soát C/O, phối hợp với các nước tiến hành thanh tra, kiểm tra thực tế để xác định những vấn đề tồn tại trong quá trình cấp C/O.

+ Tăng cường năng lực kiểm soát C/O, đảm bảo đúng đối tượng ưu đãi để xuất khẩu sang nước thứ 3.

–  Phát huy vai trò của Ban Chỉ đạo quốc gia chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả: thành lập các đoàn kiểm tra liên ngành để kiểm tra gian lận thương mại tại một số địa bàn và ngành hàng trọng điểm; thực hiện hợp tác quốc tế trong lĩnh vực này; xây dựng chương trình, kế hoạch tuyên truyền về chống gian lận thương mại.

– Tổng cục Hải quan cũng đã ban hành Đề án Tăng cường năng lực của Cơ quan Hải quan trong việc kiểm tra và xuất xứ hàng hóa giai đoạn 2015 – 2020.

7.3.8. Điều chỉnh chính sách thu trong nước, tăng cường vai trò của nguồn thu nội địa

– Khi mặt bằng thuế suất giảm về 0 thì nguồn thu từ xuất khẩu sẽ không còn đóng vai trò quan trọng trong tổng thu ngân sách nhà nước.

– Tiếp tục đổi mới chính sách động viên, thực hiện mức động viên hợp lý vào ngân sách nhà nước, cải thiện môi trường đầu tư, tăng tích lũy cho doanh nghiệp, thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển bền vững, giảm tác động do cắt giảm thuế quan để hội nhập và giảm thu từ dầu thô, khoáng sản, thu bán tài sản, tạo mọi điều kiện để phát triển sản xuất kinh doanh, tái cơ cấu khu vực doanh nghiệp nhà nước, đưa tốc độ tăng trưởng giai đoạn tới lên mức cao hơn, tạo nền tảng để tăng thu ngân sách bền vững.

– Chuyển dịch cơ cấu thu theo hướng: tỷ trọng các nguồn thu nội địa tăng lên cùng với quá trình nâng cao chất lượng và hiệu quả tăng trưởng của nền kinh tế; tỷ trọng thu từ dầu thô và xuất nhập khẩu giảm xuống.

– Từ các định hướng trên, cần tiếp tục xây dựng và cải cách hệ thống chính sách thuế theo hướng bền vững với việc ban hành và củng cố các sắc thu nội địa gắn theo hướng mở rộng cơ sở thuế, giảm mức thuế suất./.

 TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Tài liệu trình bày tại Hội nghị về Hội nhập Kinh tế Quốc tế của Đảng ủy Bộ Tài chính (tháng 9/2015) ;

2. Tài liệu Hội thảo “Cam kết hội nhập trong lĩnh vực tài chính và những vấn đề đặt ra” (Vụ HTQT và Viện CL&CSTC phối hợp tổ chức tháng 12/2015);

3. Website Quốc hội:

http://www.quochoi.vn/csdlth/duthaoonline/Pages/duthaoluat.aspx

4. Cổng thông tin Bộ Tài chính

 http://www.btc/mofwebinfo/index.aspx?tabid=2251

 

 

 

 

 

Bản in

 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *