Chuyên đề 7 CẢI CÁCH DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC GIAI ĐOẠN 2016 – 2020

Chuyên đề 7: CẢI CÁCH DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC GIAI ĐOẠN 2016 – 2020 

ThS. Phạm Thị Tường Vân, Viện Chiến lược và Chính sách tài chính – Bộ Tài chính

 7.1. Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về cải cách DNNN

Xuất phát từ tầm quan trọng của công tác sắp xếp đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước, tại Hội nghị Trung ương 3 khóa IX ngày 22/8/2001 đã ra Nghị quyết về tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả DNNN trong đó đã nêu rõ quan điểm chỉ đạo, mục tiêu, vị trí, vai trò của kinh tế nhà nước.

Tiếp tục triển khai Nghị quyết Trung ương 3 khóa IX của Đảng, Nghị quyết Trung ương 9 khóa IX của Đảng đã xác định đẩy nhanh tiến độ cổ phần hóa và mở rộng diện các doanh nghiệp nhà nước cần cổ phần hóa, kể cả một số tổng công ty và doanh nghiệp lớn … Khẩn trương chuyển các doanh nghiệp mà Nhà nước giữ 100% vốn sang hoạt động theo chế độ công ty dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên. …Nghiên cứu việc thành lập công ty đầu tư tài chính của nhà nước và cơ quan quản lý nhà nước để thực hiện thống nhất và có hiệu quả chức năng đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp thuộc mọi ngành trong nền kinh tế quốc dân.

Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI (Kết luận số 10-KL/TW ngày 18/10/2011) về tái cơ cấu nền kinh tế, trong đó đã xác định: mục tiêu tổng quát của 5 năm giai đoạn 2011 – 2015 là phát triển nhanh, bền vững, gắn với mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh và tập trung vào 3 lĩnh vực quan trọng: i) Tái cơ cấu đầu tư với trọng tâm là đầu tư công; ii) Cơ cấu lại thị trường tài chính với trọng tâm là tái cơ cấu hệ thống ngân hàng thương mại và các tổ chức tài chính; iii) Tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước mà trọng tâm là các tập đoàn, tổng công ty nhà nước.

Triển khai Kết luận Hội nghị lần thứ ba Ban chấp hành Trung ương khóa XI của Đảng, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 929/QĐ-TTg ngày 17/7/2012 phê duyệt Đề án “Tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước, trọng tâm là Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty nhà nước giai đoạn 2011 – 2015”.

Hội nghị Trung ương 6, Khóa XI đã ban hành kết luận số 50-KL/TW ngày 29/10/2012 về đề án “Tiếp tục sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả DNNN”; Bộ Chính trị cũng đã ban hành Nghị quyết số 30-NQ/TW về tiếp tục sắp xếp, đổi mới và phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty nông, lâm nghiệp.

Triển khai thực hiện các Nghị quyết, Kết luận của Trung ương, Quốc hội đã ban hành các Nghị quyết về kế hoạch phát triển kinh tế xã hội trong từng giai đoạn và Nghị quyết số 10/2011/QH13 về Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2011 – 2015 trong đó nhấn mạnh nhiệm vụ tái cơ cấu nền kinh tế trong lĩnh vực đầu tư công, DNNN và hệ thống ngân hàng; Quốc hội đã ban hành Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước vào sản xuất kinh doanh tại doanh nghiệp số 69/2014/QH13 ngày 26/11/2014, Luật Phá sản năm 2014, Luật Doanh nghiệp năm 2014, Luật Đầu tư năm 2014.

7.2. Kết quả thực hiện cải cách DNNN giai đoạn 2011 – 2015

7.2.1. Khung khổ pháp lý về quản lý, giám sát đối với DNNN ngày càng hoàn thiện

Ngay từ năm 2011, công tác sắp xếp, cổ phần hóa và tái cơ cấu DNNN đã được triển khai khẩn trương, quyết liệt. Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị về đẩy mạnh tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước; phê duyệt Đề án tổng thể tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước, trọng tâm là tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước giai đoạn 2011 -­ 2015. Việc triển khai Đề án được thực hiện đồng bộ từ hoàn thiện thể chế, khung pháp lý, cơ chế, chính sách đến xác định nội dung tái cơ cấu của từng doanh nghiệp và cụ thể hóa kế hoạch triển khai thực hiện. Cụ thể:

a) Trách nhiệm, nghĩa vụ của các chủ thể trong quản lý, giám sát đối với DNNN và doanh nghiệp có vốn đầu tư Nhà nước được phân tách rõ ràng hơn, quyền hạn của các chủ thể gắn liền với trách nhiệm.

Trong giai đoạn 2011 – 2015, để khắc phục những tồn tại của giai đoạn 2005 – 2010, việc phân công, phân cấp, thực hiện các quyền, trách nhiệm, nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà nước đối với DNNN và doanh nghiệp có vốn đầu tư Nhà nước được ban hành với những quy định cụ thể hơn, rõ ràng hơn, được hoàn thiện từng bước trong cả giai đoạn, đánh dấu bằng sự ra đời của Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất kinh doanh tại doanh nghiệp. Theo hướng đó, chức năng, nhiệm vụ thực hiện các quyền của chủ sở hữu, người đại diện, Hội đồng thành viên, các Bộ ngành được quy định cụ thể với từng đối tượng doanh nghiệp. Chủ thể giám sát tài chính được phân cấp cho Bộ quản lý ngành, UBND tỉnh và cơ quan quản lý tài chính từ trung ương đến địa phương. Việc tổ chức giám sát cũng được quy định từ chủ sở hữu, Bộ Tài chính đến doanh nghiệp.

Trong đó, Bộ Tài chính thực hiện nhiệm vụ phối hợp, hỗ trợ các Bộ, ngành thực hiện giám sát tài chính, tổng hợp báo cáo giám sát tài chính và đưa ra những khuyến nghị, cũng như quy định các nguyên tắc chung trong đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.

 Bộ quản lý ngành, UBND cấp Tỉnh phối hợp với Bộ Tài chính thực hiện quản lý, giám sát thường xuyên và thanh tra việc chấp hành pháp luật; việc quản lý, sử dụng, bảo toàn và phát triển vốn; thực hiện chiến lược, kế hoạch; thực hiện chế độ tuyển dụng, tiền lương, tiền thưởng cũng như đánh giá việc thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ, ngành nghề kinh doanh và kết quả hoạt động, hiệu quả sản xuất kinh doanh của DN thông qua báo cáo của người đại diện.

Đối với từng Tập đoàn, tổng công ty nhà nước và tổng thể chung cho toàn bộ khu vực DNNN, Bộ Tài chính thực hiện quyền, trách nhiệm giám sát trực tiếp về mặt tài chính . Quy định chế độ quản lý tài chính, phân phối lợi nhuận, chế độ báo cáo và công khai thông tin về tình hình tài chính, kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, trích lập sử dụng các quỹ, đóng góp vào ngân sách Nhà nước, thu nhập của viên chức quản lý và người lao động cũng như tình hình quản trị doanh nghiệp.

Quy định rõ ràng hơn về cơ chế tiền lương, tiền thưởng của người đại diện. Những người được cử giữ các chức danh quản lý điều hành tại DN; người đại diện được trao quyền gắn với trách nhiệm rõ ràng góp phần tăng tính giám sát, thanh tra, kiểm tra thường xuyên hơn, giúp cho chủ sở hữu nắm rõ hơn tình hình hoạt động, tăng, giảm vốn trong DNNN cũng như hiệu quả hoạt động, nâng cao được tính chất cảnh báo, phòng ngừa rủi ro trong quá trình hoạt động của DN.

Những nội dung về quyền hạn, trách nhiệm của chủ sở hữu, đại diện chủ sở hữu trực tiếp tại doanh nghiệp, cơ quan đại diện chủ sở hữu trong hoạt động đầu tư và quản lý vốn nhà nước tại  doanh nghiệp và giám sát đầu tư vốn vào DNNN được luật hóa và có hiệu lực từ 01/7/2015 đã giúp cho quy định được đầy đủ, chặt chẽ và cụ thể hơn, kỳ vọng  tình hình tài chính và sử dụng vốn đầu tư nhà nước cũng như tính hiệu quả trong hoạt động của các DNNN và doanh nghiệp có vốn đầu tư của nhà nước sẽ được công khai và giám sát chặt chẽ.

b) Quy định về giám sát trong đầu tư vốn Nhà nước, quản lý, sử dụng vốn Nhà nước tại doanh nghiệp chi tiết, rõ ràng theo tỷ lệ sở hữu của Nhà nước, tăng cường giám sát trước, trong và sau.

Trong nửa đầu giai đoạn 2011 – 2015, các quy định về giám sát, đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước còn bất cập, chưa thực sự hiệu quả để kịp thời phát hiện, cảnh báo cho chủ sở hữu doanh nghiệp về những nguy cơ, dấu hiệu rủi ro về tài chính; dẫn đến kết quả đánh giá hoạt động của DNNN còn mang tính hình thức, chưa có tác dụng nhiều đối với việc xem xét và quyết định các vấn đề đối với DNNN như tăng (thoái) vốn đầu tư Nhà nước, quản trị doanh nghiệp,… Các chế tài liên quan đến xử lý các sai phạm về quản lý giám sát tài chính và đánh giá hiệu quả hoạt động của DNNN chưa cao, dẫn đến tình trạng một số DNNN, Bộ, ngành, UBND tỉnh chưa làm tốt công tác quản lý và giám sát DNNN.

Trong nửa sau giai đoạn 2011-2015 (đặc biệt là Luật quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất kinh doanh tại doanh nghiệp), những hạn chế này đã được khắc phục thông qua quy định cụ thể hơn về huy động, quản lý, sử dụng vốn Nhà nước cũng như giám sát vốn Nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp theo tỷ lệ sở hữu của Nhà nước trong DNNN, công ty cổ phần, công ty TNHH hai thành viên trở lên; Trong đó, tập trung vào quản lý, sử dụng vốn và tài sản nhà nước tại doanh nghiệp thông qua đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp; giám sát việc bảo toàn và phát triển vốn; giám sát hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, kế hoạch đầu tư, thực hiện dự án đầu tư, tình hình huy động vốn, vay nợ nước ngoài của doanh nghiệp; thực hiện chính sách đối với người lao động trong doanh nghiệp; phân phối lợi nhuận và phân chia rủi ro từ phần vốn góp; đồng thời tăng cường quy định các chế tài xử lý vi phạm và hình thức kỷ luật đối với các chủ thể khi vi phạm hoặc không hoàn thành nhiệm vụ giám sát tài chính doanh nghiệp. Trong đó, quy định chặt chẽ hơn về huy động và đầu tư vốn của DNNN (siết đầu tư ngoài ngành của DNNN tại bốn lĩnh vực nhạy cảm; tăng cường trách nhiệm đối với khoản vay nợ nước ngoài cho DNNN; đưa ra điều kiện để được bổ sung vốn điều lệ;…). Quy chế mới đã góp phần đánh giá đúng thực trạng, hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, kịp thời giúp doanh nghiệp khắc phục những tồn tại, hoàn thành mục tiêu, kế hoạch kinh doanh, nhiệm vụ công ích, nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh và khả năng cạnh tranh; nâng cao trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc chấp hành các quy định của pháp luật đối với việc quản lý và sử dụng vốn nhà nước; giúp nhà nước, chủ sở hữu vốn đầu tư vào doanh nghiệp khác, cơ quan quản lý nhà nước về tài chính doanh nghiệp kịp thời phát hiện các yếu kém trong quá trình hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh. Bên cạnh đó cũng góp phần đảm bảo tính minh bạch, là cơ sở nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực thi chính sách, pháp luật quản lý, sử dụng vốn, tài sản nhà nước đối với doanh nghiệp do nhà nước làm chủ sở hữu và doanh nghiệp có vốn nhà nước. 

c) Quy định về sắp xếp, đổi mới, tái cơ cấu DNNN chú trọng tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc làm chậm tiến trình cổ phần hóa DNNN như: xác định giá trị vốn đầu tư dài hạn của doanh nghiệp; tăng quyền, tăng trách nhiệm cho các chủ sở hữu; bổ sung ưu đãi cho người lao động; đa dạng trong phương thức thoái vốn.

Theo đó, đến cuối năm 2015, các quy định về sắp xếp, đổi mới DNNN đã được sửa đổi theo hướng nới lỏng, tăng quyền, tăng trách nhiệm cho các chủ sở hữu trong lựa chọn tổ chức tư vấn xác định giá trị doanh nghiệp theo nguyên tắc chỉ định thầu (các gói thầu tư vấn dưới 03 tỷ đồng) và tổ chức đấu thầu, mang lại tính chủ động cho các cơ quan có thẩm quyền quyết định phương án cổ phần hóa nhằm đẩy nhanh tiến độ sắp xếp, đổi mới DNNN.

Đối với việc xác định giá trị vốn đầu tư dài hạn của doanh nghiệp, quy định đã được sửa đổi theo hướng được xác định theo giá trị thực tế xác định lại trong trường hợp giá trị thực tế thấp hơn giá trị ghi trên sổ sách kế toán, đã kịp thời xử lý các khó khăn, vướng mắc trong xác định giá trị doanh nghiệp – một khâu quan trọng trong quá trình CPH DNNN.

Quy định về thoái vốn của DNNN cũng được hoàn thiện dần cho phù hợp với tiến trình sắp xếp, cổ phần hóa và tái cơ cấu DNNN. Theo đó, việc thoái vốn của doanh nghiệp được thực hiện theo các phương thức khớp lệnh, đấu giá, thỏa thuận hoặc chào bán cạnh tranh và áp dụng đối với trường hợp DNNN đầu tư ra ngoài ngành, lĩnh vực sản xuất kinh doanh chính. Trong đó, tiêu biểu là việc ban hành, sửa đổi các quy định về thoái vốn dưới mệnh giá, thoái vốn dưới giá trị sổ sách, và thoái vốn cổ phần theo lô (công khai, minh bạch, nhà đầu tư được mua lượng cổ phần không hạn chế); những quy định kịp thời đã góp phần tháo gỡ khó khăn cho các DNNN đẩy nhanh thoái vốn đầu tư trái ngành vốn đang gặp nhiều khó khăn.

Các chính sách ưu đãi cho người lao động được mở rộng phạm vi điều chỉnh không chỉ đối với các DN sắp xếp lại theo hình thức cổ phần hóa, bán, chuyển thành công ty TNHH hai thành viên trở lên,… mà còn điều chỉnh đối với DN thực hiện sáp nhập, hợp nhất, chia tách. Các chính sách lao động dôi dư được sửa đổi, bổ sung thêm và quy định cụ thể đối với từng trường hợp người lao động theo hai mốc thời gian và theo trường hợp chuyển đổi của doanh nghiệp. Chính sách lao động dôi dư là người đại diện phần vốn của công ty cũng được bổ sung để phù hợp với thực tế và theo quy định của pháp luật về lao động.

7.2.2. Kết quả thực hiện

a) Tình hình sắp xếp, đổi mới, thoái vốn DNNN năm 2015 đạt cao nhất trong 5 năm về số lượng, đưa cả giai đoạn đạt 93% kế hoạch.

Thứ nhất, về sắp xếp, cổ phần hóa DNNN: có 508 doanh nghiệp được cấp có thẩm quyền phê duyệt phương án cổ phần hóa (giảm so với giai đoạn 2006 – 2010), tổng giá trị thực tế là 762.169,5 tỷ đồng và giá trị thực tế phần vốn nhà nước là 189.040 tỷ đồng. Tỷ trọng vốn Nhà nước trong cơ cấu vốn Điều lệ theo phương án cổ phần hóa được phê duyệt của 508 DNNN chiếm 65% (giảm so với giai đoạn trước), đồng thời tỷ trọng vốn của nhà đầu tư chiến lược và đấu giá công khai tăng lên.

Thứ hai, Về tình hình thoái vốn/ đầu tư thêm vào năm lĩnh vực nhạy cảm (bất động sản, chứng khoán, tài chính ngân hàng, bảo hiểm và Quỹ đầu tư)[1]: Trong giai đoạn 2011 – 2015, các Tập đoàn, Tổng công ty đã thoái được 11.036 tỷ đồng, thu về 10.742 tỷ đồng (số thu về giảm so với sổ sách). Hầu hết các khoản đầu tư của các doanh nghiệp khi thoái vốn đều có lãi so với giá trị sổ sách. Tuy nhiên, quá trình thoái vốn khỏi các lĩnh vực nhạy cảm là việc xử lý hậu quả của quá trình đầu tư dàn trải của các DNNN trong giai đoạn 2006 – 2010, tuy đã được xử lý về cơ bản nhưng cũng đã để lại nhiều hậu quả.

Thứ ba, Đối với doanh nghiệp CPH bán đấu giá cổ phần lần đầu ra công chúng tại Sở giao dịch chứng khoán và các công ty chứng khoán có 93 doanh nghiệp (tính đến hết ngày 20/10/2015) với số cổ phiếu bán được 318,595,743 cổ phiếu, đạt 38% số lượng cổ phần chào bán.

b) Hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp sau cổ phần hóa đạt kết quả khả quan so với trước khi cổ phần hóa

Kết quả hoạt động kinh doanh của các DNNN đã cổ phần hóa trong giai đoạn 2011 – 2015 trong năm 2015 đều tăng hơn so với năm trước khi cổ phần hóa, cụ thể: vốn điều lệ tăng 72%; tổng tài sản tăng 39%; vốn chủ sở hữu tăng 60%; doanh thu tăng 29%; lợi nhuận trước thuế tăng 49%; nộp ngân sách tăng 27%; thu nhập bình quân của người lao động tăng 33%.

Trong đó, kết quả hoạt động kinh doanh của khối tập đoàn, tổng công ty được nâng lên, góp phần ổn định và phát triển kinh tế – xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh và cung ứng nhiều sản phẩm, dịch vụ công ích.

Vốn chủ sở hữu năm 2014 của doanh nghiệp tăng 7% so với năm 2013, trong đó khối các tập đoàn, tổng công ty, công tỵ mẹ – con tăng 6% so với 2013.

Tổng tài sản của doanh nghiệp năm 2014 tăng 10% so với năm 2013. Trong đó, khối tập đoàn, tổng công ty và Công ty mẹ- con tăng 7% so với năm 2013. Tỷ trọng tài sản cố định bình quân chiếm 45% tổng tài sản.

Doanh thu và lợi nhuận trước thuế: Doanh thu của các doanh nghiệp năm 2014 tăng 1% so với năm 2013, trong đó khối tập đoàn (8 tập đoàn) tăng 2%, chiếm 59% tổng doanh thu của doanh nghiệp toàn quốc; tổng công ty (85 tổng công ty) tăng 2%, chiếm 30% tổng doanh thu của doanh nghiệp toàn quốc; Công ty mẹ – con giảm 21% (26 công ty mẹ – con), chiếm 2% tổng doanh thu của doanh nghiệp toàn quốc. Lợi nhuận trước thuế năm 2014 của doanh nghiệp giảm 1% so với năm 2013. Các tập đoàn, tổng công ty có lợi nhuận đạt cao trên 2.000 tỷ đồng chủ yếu ở những tập đoàn, tổng công ty, công ty mẹ có quy mô lớn. Tỷ suất lợi nhuận trước thuế/ vốn chủ sở hữu bình quân năm 2014 của một số tập đoàn, tổng công ty tăng 16% nhưng thấp hơn so với năm trước.

Xem xét về nợ phải trả của các tập đoàn, tổng công ty cho thấy tổng số nợ phải trả trong năm 2014 của nhóm doanh nghiệp này tăng 8% so với năm 2013. Hệ số nợ phải trả/ vốn chủ sở hữu bình quân năm 2014 là 1,41 lần, khả năng thanh toán tổng quát bình quân là 1,78 lần cho thấy các tập đoàn, tổng công ty có dấu hiệu cải thiện về tình hình huy động vốn và khả năng thanh toán mặc dù các tập đoàn, tổng công ty vẫn đang phụ thuộc phần lớn vào nguồn vốn vay.

Về tình hình niêm yết của các DNNN CPH, tổng số các doanh nghiệp đã cổ phần hóa đã niêm yết trên hai sàn giao dịch chứng khoán là gần 450 doanh nghiệp trên tổng số gần 700 công ty niêm yết. Về cơ bản, đây là các doanh nghiệp lớn dẫn đầu thị trường về mức vốn hóa cũng như về tính minh bạch và quản trị công ty.

Theo báo cáo của Ủy ban chứng khoán Nhà nước, quy mô của khối doanh nghiệp này liên tục tăng qua từng năm. Trong đó, tổng tài sản tăng bình quân 14%/năm, tổng vốn chủ sở hữu tăng bình quân 16%/năm, tổng vốn đầu tư chủ sở hữu tăng khoảng 12%/năm.

Quy mô của các doanh nghiệp này tăng chủ yếu từ nhu cầu vốn đầu tư ngày càng tăng và khả năng huy động vốn trên thị trường chứng khoán thông qua hình thức phát hành thêm. Hầu hết các DNNN sau cổ phần hóa thực hiện niêm yết đều có những lợi thế nhất định do được thừa hưởng cơ sở vật chất, nguồn nhân lực và một số ưu đãi từ chính sách cổ phần hóa, đồng thời cơ chế hoạt động theo mô hình mới cũng năng động hơn nên tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh có những chuyển biến tích cực. Hầu hết các doanh nghiệp đều có nguồn giữ lại để tăng vốn điều lệ, hoặc đáp ứng đủ điều kiện cũng như uy tín để huy động vốn từ các nhà đầu tư thông qua việc phát hành thêm.

7.2.3. Đánh giá kết quả cải cách DNNN giai đoạn 2011 – 2015

Có thể nói, cổ phần hóa DNNN trong thời gian qua là một quá trình đổi mới về tư duy, nhận thức, quan điểm và tổ chức chỉ đạo thực hiện. Giai đoạn 2011-2015 thực hiện sắp xếp, tái cơ cấu đã hướng theo chiều sâu, chuyển đổi sở hữu gắn liền với nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của DNNN và doanh nghiệp có vốn nhà nước.

Cơ chế cổ phần hóa đã làm thay đổi cơ bản phương thức quản lý, quản trị tại doanh nghiệp, qua đó nâng cao tính công khai, minh bạch, tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các doanh nghiệp, tăng cường sự giám sát của xã hội đối với hoạt động của doanh nghiệp (thông qua việc gắn cổ phần hóa với niêm yết) tạo áp lực cho các doanh nghiệp phải đổi mới về phương thức quản trị; đồng thời góp phần tháo gỡ kịp thời khó khăn về tài chính cho các doanh nghiệp, tạo môi trường pháp lý thuận lợi để các doanh nghiệp thực hiện sắp xếp, chuyển đổi.

Công tác cổ phần hóa doanh nghiệp đã góp phần hoàn thiện và phát triển thị trường vốn đặc biệt là thị trường chứng khoán, tạo điều kiện cho doanh nghiệp sau khi cổ phần hoá huy động vốn, đổi mới phương thức quản lý, công nghệ, gắn kết người lao động, ổn định và phát triển trong xu thế hội nhập với kinh tế khu vực và kinh tế thế giới. Lao động dôi dư ở các đơn vị thực hiện cổ phần hóa, giao, bán được hưởng chính sách trợ cấp; được hỗ trợ đào tạo, đào tạo lại nghề để bố trí việc làm mới tại doanh nghiệp cổ phần hoá hoặc tự thu xếp công việc mới đã góp phần đẩy nhanh tiến trình sắp xếp, cổ phần hoá, duy trì ổn định xã hội. Bên cạnh đó, công tác cổ phần hóa đã góp phần thúc đẩy phát triển thị trường vốn, thị trường chứng khoán; việc niêm yết trên thị trường chứng khoán đã nâng cao tính công khai, minh bạch, tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các doanh nghiệp, tăng cường sự giám sát của xã hội đối với hoạt động của doanh nghiệp, do đó đã tạo được niềm tin đối với các nhà đầu tư trong và ngoài nước.

Các DNNN vẫn có vai trò chi phối nhiều ngành kinh tế then chốt và đã tập trung hơn vào lĩnh vực then chốt, thiết yếu, địa bàn quan trọng. Hệ thống DNNN đã và đang được đổi mới, sắp xếp lại, góp phần phát triển và nâng cao hiệu quả kinh doanh. Từ chỗ năm 2006 có 2.850 DNNN, hoạt động ở hầu hết các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế thì đến đầu  năm 2016 còn 652 doanh nghiệp chủ yếu hoạt động trong các lĩnh vực then chốt, đảm bảo cân đối vĩ mô cho nền kinh tế, công ích, an ninh, quốc phòng.

Quản trị doanh nghiệp có nhiều chuyển biến tích cực. Cổ phần hóa đã làm thay đổi cách thức quản trị công ty, việc kiểm tra, giám sát của các cổ đông trong và ngoài doanh nghiệp đã có ý nghĩa thiết thực trong việc đổi mới phương thức quản lý, tiết kiệm chi phí, nâng cao hiệu quả doanh nghiệp.

Chức năng kiểm tra, giám sát, đánh giá hiệu quả hoạt động của chủ sở hữu nhà nước đối với DNNN được chú trọng hơn, tạo chuyển biến nhất định về nhận thức và trách nhiệm của các cơ quan đại diện chủ sở hữu nhà nước trong quản lý, bước đầu khắc phục tình trạng buông lỏng quản lý, giám sát đối với DNNN.

Tuy nhiên, công cuộc cải cách DNNN trong giai đoạn 2011 – 2015 bên cạnh những thành công cũng còn nhiều tồn tại cả về xây dựng chính sách và triển khai thực hiện. Việc thực hiện quyền, trách nhiệm và nghĩa vụ chủ sở hữu vẫn còn chưa được tập trung, thống nhất, bị chia cắt; phân tán đầu mối chịu trách nhiệm vừa làm giảm hiệu lực quản lý, vừa không rõ trách nhiệm giải trình. Quyết định của chủ sở hữu vẫn phải qua nhiều thủ tục, kéo dài về thời gian, làm giảm hiệu lực quyền chủ sở hữu, vừa làm hạn chế quyền tự chủ và gây khó khăn cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

Chưa tách biệt chức năng chủ sở hữu với các chức năng khác của Nhà nước; bộ máy và cách thức thực hiện quyền chủ sở hữu chưa chuyên trách, chuyên nghiệp làm giảm hiệu lực và hiệu quả của các quyết định chủ sở hữu, gây khó khăn cho đổi mới quản trị DNNN. Chưa xây dựng được mô hình cơ quan đại diện chủ sở hữu DNNN

Một số cơ chế chính sách liên quan đến sắp xếp, tái cơ cấu DNNN ban hành chưa kịp thời; một số Bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp chưa tích cực, chủ động chỉ đạo triển khai thực hiện tái cơ cấu DNNN.

Tỷ lệ vốn Nhà nước ở các công ty cổ phần còn cao do lượng cổ phần chào bán ra công chúng đạt thấp so với phương án cổ phần hóa doanh nghiệp. Mặt khác, số lượng doanh nghiệp thuộc diện Nhà nước cần nắm giữ cổ phần chi phối khi cổ phần hóa còn lớn nên làm giảm mức độ hấp dẫn tham gia của nhà đầu tư, đặc biệt là nhà đầu tư lớn, chuyên nghiệp và là rào cản của quá trình thay đổi nền tảng quản trị.

Hiệu quả hoạt động của DNNN chưa tương xứng với nguồn lực nắm giữ, chưa phát huy trên thực tế vai trò nòng cốt của DNNN trong khu vực kinh tế Nhà nước, năng suất lao động, hiệu quả sản xuất kinh doanh còn thấp; một số DNNN, tập đoàn, tổng công ty nhà nước hoạt động yếu kém, làm ăn thua lỗ. Cơ chế giám sát, đánh giá hiệu quả sản xuất, kinh doanh của DNNN còn hạn chế, bất cập.

7.3. Định hướng cải cách DNNN của Việt Nam giai đoạn 2016 – 2020

7.3.1. Quan điểm cải cách DNNN giai đoạn 2016 – 2020

Nghị quyết số 05-NQ/TW Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa XII; Nghị quyết số 24/2016/QH14 về kế hoạch cơ cấu nền kinh tế giai đoạn 2016 – 2020, quan điểm cải cách DNNN tiếp tục được đưa vào chủ trương, mục tiêu quan trọng, nhiệm vụ trọng tâm thực hiện trong giai đoạn 2016 – 2020.  Cụ thể:

– Tiếp tục đẩy mạnh cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước, trọng tâm là tập đoàn, tổng công ty nhà nước. Xác định cụ thể phạm vi, ngành nghề đầu tư, sản xuất, kinh doanh; đẩy nhanh tiến độ sắp xếp, cơ cấu lại danh mục vốn đầu tư nhà nước trong các ngành, nghề theo quy định.

– Tiếp tục đẩy mạnh cổ phần hoá, thoái vốn đầu tư của Nhà nước một cách công khai, minh bạch theo cơ chế thị trường; tăng cường kiểm tra, thanh tra, giám sát, kiểm toán, không để xảy ra thất thoát vốn, tài sản nhà nước; có cơ chế kiểm soát phù hợp nguồn vốn mua bán, sáp nhập doanh nghiệp; các doanh nghiệp cổ phần hoá phải niêm yết trong thời hạn một năm kể từ ngày phát hành cổ phiếu lần đầu; thu hút nhà đầu tư chiến lược có năng lực, giảm tỉ lệ sở hữu nhà nước xuống mức đủ để thay đổi quản trị doanh nghiệp một cách thực chất.

– Thành lập cơ quan chuyên trách làm đại diện chủ sở hữu đối với doanh nghiệp nhà nước để sớm xoá bỏ chức năng đại diện sở hữu của các bộ, uỷ ban nhân dân đối với vốn, tài sản nhà nước tại các doanh nghiệp; đổi mới quản trị doanh nghiệp nhà nước theo nguyên tắc thị trường và phù hợp với thông lệ quốc tế.

– Xây dựng và thực hiện cơ chế kiểm tra, giám sát chặt chẽ; kiên quyết xử lý các doanh nghiệp nhà nước thua lỗ, các dự án đầu tư của doanh nghiệp nhà nước không hiệu quả hoặc hiệu quả thấp theo nguyên tắc và cơ chế thị trường; xem xét, thực hiện biện pháp phá sản doanh nghiệp nhà nước theo quy định của pháp luật.

– Tăng cường quản lý, giám sát chặt chẽ việc vay nợ và sử dụng vốn vay của các doanh nghiệp, tập đoàn, tổng công ty nhà nước, nhất là vay nợ nước ngoài; hạn chế tối đa cấp bảo lãnh Chính phủ cho các khoản vay mới.

7.3.2. Xây dựng mục tiêu

a) Doanh nghiệp nhà nước có cơ cấu hợp lý hơn, tập trung vào ngành, lĩnh vực then chốt, cung cấp sản phẩm, dịch vụ công ích thiết yếu cho xã hội và quốc phòng, an ninh, làm nòng cốt để kinh tế nhà nước thực hiện được vai trò chủ đạo, là lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước định hướng, điều tiết nền kinh tế và ổn định kinh tế vĩ mô.

b) Nâng cao sức cạnh tranh, tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu đối với doanh nghiệp kinh doanh; hoàn thành nhiệm vụ sản xuất, cung ứng các sản phẩm, dịch vụ công ích thiết yếu cho xã hội, quốc phòng, an ninh đối với doanh nghiệp hoạt động công ích.

c) Hoàn thiện mô hình quản lý giám sát vốn, tài sản nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp theo nguyên tắc: (i) Hình thức cơ quan đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước độc lập để tách bạch chức năng quản lý nhà nước và chức năng quyền đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước tại doanh nghiệp; (ii) Củng cố và tăng cường năng lực cơ quan tài chính quản lý, giám sát, kiểm tra, kiểm soát bảo đảm công khai, minh bạch về đầu tư, tài chính và các hoạt động của DNNN.

7.3.3. Nhiệm vụ, giải pháp cần triển khai

a) Phân loại lại DNNN thành các nhóm theo quy định của Luật quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất kinh doanh tại doanh nghiệp. Theo đó: các DNNN sẽ tập trung vào các lĩnh vực quốc phòng, an ninh; cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích thiết yếu cho xã hội; lĩnh vực ứng dụng công nghệ cao, đầu tư lớn, tạo động lực phát triển nhanh cho các ngành, lĩnh vực khác và nền kinh tế (đóng vai trò doanh nghiệp đầu tàu của nền kinh tế). Các doanh nghiệp ngoài các lĩnh vực theo quy định sẽ giảm tỷ lệ phần vốn nhà nước nắm giữ tùy theo mức độ quan trọng, đóng góp của các ngành trong nền kinh tế và mức độ cần thiết phải có vai trò của nhà nước. Do đó, sẽ được phân chia theo tỷ lệ (nhà nước nắm giữ từ 65% tổng số cổ phần trở lên; Nhà nước nắm giữ từ 50% – 65% ổng số cổ phần; và nhà nước nắm giữ dưới 50% tổng vốn cổ phần). Thúc đẩy đa dạng hóa đầu tư của các thành phần kinh tế vào DNNN và hoạt động theo nguyên tắc thị trường. Áp dụng các hình thức giải thể, phá sản, thoái vốn đối với các doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả, hoặc không cần vai trò của nhà nước tham gia.

Bên cạnh đó, xác định danh mục DNNN cần thực hiện sắp xếp, cổ phần hóa, tái cơ cấu trong giai đoạn 2016 – 2020 theo các tiêu chí phân loại (theo tỷ trọng vốn chủ sở hữu và theo ngành, lĩnh vực). Để thực hiện nhiệm vụ này, quyết định số 58/2016/QĐ-TTg ngày 28/12/2016 về tiêu chí phân loại và danh mục DNNN thực hiện sắp xếp giai đoạn 2016 – 2020 đã được ban hành, thay thế cho Quyết định số 37/2014/QĐ-TTg. Theo đó, sẽ sắp xếp lại 240 DNNN (103 DNNN nắm giữ 100% vốn điều lệ; 04 DNNN CPH nhà nước nắm giữ trên 65% vốn điều lệ; 27 DNNN CPH nhà nước nắm giữ từ 50% – 65% vốn điều lệ; và 106 DNNN CPH nhà nước nắm giữ dưới 50% vốn điều lệ).

b) Tiếp tục tập trung thoái vốn của các Tập đoàn, Tổng công ty đầu tư vào 05 lĩnh vực nhạy cảm.

c) Thực hiện tái cơ cấu các tập đoàn, tổng công ty nhà nước nhằm đổi mới công tác quản trị doanh nghiệp, nâng cao hiệu quả, năng lực cạnh tranh của các tập đoàn, tổng công ty và khắc phục những tồn tại trong quá trình tái cơ cấu của giai đoạn trước. Xây dựng Đề án tái cơ cấu DNNN giai đoạn 2016 – 2020 để triển khai kép hai nhiệm vụ này.

d) Tiếp tục hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách về cổ phần hóa, sắp xếp DNNN; Chính sách quản lý đối với doanh nghiệp nhà nước (hướng đến DNNN hoạt động kinh doanh cạnh tranh bình đẳng với các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác, sử dụng có hiệu quả nguồn lực mà nhà nước đầu tư; đổi mới quản trị DNNN; các chính sách về minh bạch thông tin; tăng cường trách nhiệm của các cấp, các bộ phận trong quản lý, giám sát phần vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp; đổi mới cơ chế quản lý tiền lương, tiền thưởng để doanh nghiệp thực sự chủ động trong trả lương, trả thưởng gắn với năng suất lao động, hiệu quả sản xuất, kinh doanh); chính sách về cơ chế quản lý của chủ sở hữu nhà nước đối với DNNN (đánh giá mô hình công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước tại doanh nghiệp đang hoạt động để hoàn thiện mô hình thực hiện chức năng cơ quan đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước; tăng cường năng lực của cơ quan quản lý tài chính).

——————–TÀI LIỆU THAM KHẢO———————————

  1. Báo cáo Công tác đổi mới cơ chế quản lý tài chính doanh nghiệp trong tiến trình tái cơ cấu và cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước – Báo cáo Hội nghị tổng kết ngành Tài chính.
  2. Báo cáo Chính phủ số 436/BC-CP ngày 17/10/2016 về tình hình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước giai đoạn 2011 – 2015 và 9 tháng 2016, giải pháp đẩy mạnh cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước giai đoạn tới.
  3. Báo cáo Chính phủ số 428/BC-CP ngày 17/10/2016 về hoạt động đầu tư, quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp trong phạm vi toàn quốc năm 2015.
  4. Báo cáo Tổng kết 10 năm 2006 – 2016 việc thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng về đổi mới, cơ cấu lại, nâng cao hiệu quả khu vực doanh nghiệp nhà nước.
  5. Báo cáo số 163/BC-CP ngày 01/11/2010 về Báo cáo Quốc hội nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực hiện chính sách pháp luật về quản lý, sử dụng vốn, tài sản nhà nước tại các tập đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước.
  6. Báo cáo số 262/BC-CP ngày 23/11/2011 về Thực trạng hoạt động của tập đoàn, tổng công ty nhà nước giai đoạn 2006 – 2010 và phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp giai đoạn 2011 – 2015.
  7. Báo cáo số 336/BC-CP ngày 16/11/2012 về tình hình tài chính và hoạt động sản xuất kinh doanh của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước năm 2011. Phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp giai đoạn 2012 – 2015.
  8. Báo cáo số 490/BC-CP ngày 25/11/2013 về tình hình tài chính và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh năm 2012 của các doanh nghiệp do nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ và doanh nghiệp có cổ phần, vốn góp của Nhà nước.
  9. Báo cáo số 512/BC-CP ngày 25/11/2014 về tình hình tài chính và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh năm 2013 của các doanh nghiệp do nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ và doanh nghiệp có cổ phần, vốn góp của nhà nước.
  10. Báo cáo số 620/BC-CP ngày 11/11/2015, “Tình hình tài chính và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh năm 2014 của các doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ và doanh nghiệp có cổ phần, vốn góp của Nhà nước”.
  11. Chỉ thị số 04/CT-TTg về việc đẩy mạnh công tác sắp xếp, đổi mới DNNN giai đoạn 2016 – 2020.
  12. Nghị quyết số 05-NQ/TW Hội nghị Trung ương 4 Khóa XII.
  13. Nghị quyết số 24/2016/QH14 về kế hoạch cơ cấu lại nền kinh tế giai đoạn 2016 – 2020.
  14. Viện CL&CSTC, báo cáo cải cách DNNN của Trung Quốc trong giai đoạn tới.
  15. Viện CL&CSTC, Sách Tài chính Việt Nam 2015.
  16. Đề án tái cơ cấu DNNN 2016 – 2020: Phải hướng tới hai mục tiêu “kép” http://kinhtevadubao.vn/chi-tiet/146-7615-de–an-tai-co-cau-dnnn-2016-2020–phai-huong-toi-hai-muc-tieu-kep-.html.
  17. Định hướng tái cơ cấu DNNN giai đoạn 2016 – 2020 (http://www.mof.gov.vn).
  18. Sắp xếp 240 DNNN giai đoạn 2016 – 2020 (http://www.nhandan.com.vn).
  19. Tái cơ cấu DNNN giai đoạn 2016 – 2020: Thế nào? (http://kinhtevadubao.vn).

[1] Tình từ thời điểm Quốc hội ban hành Nghị quyết số 21/2011/QH13 ngày 26/11/2011.

Bản in

 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *