Chuyên đề 7: CÁC QUY ĐỊNH MỚI VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC GIÁ, PHÍ, LỆ PHÍ VÀ HOÁ ĐƠN

Chuyên đề 7: CÁC QUY ĐỊNH MỚI VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC GIÁ, PHÍ, LỆ PHÍ VÀ HOÁ ĐƠN 

TSKT. Phạm Ngọc Thạch

Vụ Chính sách Thuế – Bộ Tài chính

 Ngày 20/6/2012, Quốc hội thông qua Luật Xử lý vi phạm hành chính (XLVPHC) số 15/2012/QH13 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2013. Căn cứ quy định của Luật, ngày 24/9/2013 Chính phủ ban hành Nghị định số 109/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính (XPVPHC) trong lĩnh vực quản lý giá, phí, lệ phí, hóa đơn. So với các Nghị định của Chính phủ về XPVPHC trong lĩnh vực giá, phí, lệ phí, hóa đơn (các Nghị định: Số 106/2003/NĐ-CP, số 51/2010/NĐ-CP, số 84/2011/NĐ-CP) thì Nghị định số 109/2013/NĐ-CP ngày 24/9/2013 của Chính phủ quy định XPVPHC trong lĩnh vực quản lý giá, phí, lệ phí, hóa đơn có một số nội dung mới, cụ thể như sau:

7.1. Về những quy định chung

Trước đây, nội dung quy định chung được thể hiện tại 3 Nghị định, áp dụng cho 3 lĩnh vực khác nhau: quản lý giá; phí và lệ phí; hóa đơn. Đến nay, nội dung mới trước tiên đó là các quy định chung được thể hiện tại một Chương, trong một Nghị định của Chính phủ, theo đó nội dung cơ bản sẽ được áp dụng chung cho cả 3 lĩnh vực này, trừ một số trường hợp sẽ được quy định cụ thể.

7.1.1. Về hình thức XPVPHC

Để bảo đảm các quy định được rõ ràng, áp dụng thống nhất, Nghị định số 109/2013/NĐ-CP (dưới đây gọi là Nghị định 109) quy định chung một số hình thức XPVPHC và các biện pháp khắc phục hậu quả:

– Hình thức xử phạt chính

+ Phạt cảnh cáo, áp dụng đối với hành vi vi phạm không gây hậu quả nghiêm trọng, hành vi vi phạm lần đầu;

+ Phạt tiền, mức phạt tiền tối đa đối với cá nhân thực hiện hành vi vi phạm trong lĩnh vực quản lý giá là 150 triệu đồng; trong lĩnh vực quản lý phí, lệ phí, hóa đơn là 50 triệu đồng;

– Hình thức xử phạt bổ sung

+ Tước Giấy Chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh thẩm định giá;

+ Tước Thẻ thẩm định viên về giá; đình chỉ hoạt động kinh doanh dịch vụ thẩm định giá; đình chỉ hoạt động đào tạo, cấp chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ thẩm định giá; đình chỉ quyền tự in hóa đơn, quyền khởi tạo hóa đơn điện tử; đình chỉ in hóa đơn;

Biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc nộp vào Quỹ Bình ổn giá số tiền do sử dụng không đúng Quỹ Bình ổn giá; nộp ngân sách nhà nước số tiền có được do hành vi vi phạm; trả lại khách hàng số tiền chênh lệch do bán cao hơn mức giá quy định và mọi chi phí phát sinh do hành vi vi phạm gây ra; dừng thực hiện mức giá bán hàng hóa, dịch vụ do tổ chức, cá nhân quy định; cải chính thông tin sai lệch; tiêu hủy hoặc tịch thu tiêu hủy ấn phẩm có nội dung thông tin sai phạm; hủy kết quả thẩm định giá; hủy chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ thẩm định giá; hoàn trả tiền phí, lệ phí cho người nộp; hủy hóa đơn; thực hiện thủ tục phát hành hóa đơn theo quy định.

7.1.2. Về mức phạt tiền

– Đối với cùng một hành vi vi phạm hành chính thì mức phạt tiền đối với tổ chức bằng 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân. Mức phạt đối với cá nhân hoặc tổ chức được quy định cụ thể tại một số Điều cụ thể trong Nghị định 109 (Điều 3, khoản 5).

– Về việc xác định mức phạt tiền trong trường hợp có tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ: Tại khoản 4 Điều 23 Luật XLVPHC quy định: “Mức tiền phạt cụ thể đối với một hành vi vi phạm hành chính là mức trung bình của khung tiền phạt được quy định đối với hành vi đó; nếu có tình tiết giảm nhẹ thì mức tiền phạt có thể giảm xuống nhưng không được giảm quá mức tối thiểu của khung tiền phạt; nếu có tình tiết tăng nặng thì mức tiền phạt có thể tăng lên nhưng không được vượt quá mức tiền phạt tối đa của khung tiền phạt”.

Căn cứ quy định của Luật và từ tình hình thực tế, khi xây dựng Nghị định 109, có nhiều ý kiến đề nghị quy định rõ mức xử phạt tiền trong trường hợp có 01 tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và trong trường hợp có từ 02 tình tiết trở lên. Việc quy định cách xác định mức phạt tiền trong trường hợp có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ nhằm bảo đảm tính minh bạch của chính sách, tránh áp dụng tuỳ tiện trong thực tiễn.

Chính vì vậy, để quy định chi tiết thi hành Luật, tại khoản 6 Điều 3 Nghị định số 109/2013/NĐ-CP quy định: Khi phạt tiền đối với các hành vi vi phạm quy định về giá, phí, lệ phí, hóa đơn, mức phạt cụ thể đối với một hành vi không có tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ là mức trung bình của khung tiền phạt quy định đối với hành vi đó. Mức trung bình = (Mức tối đa + Mức tối thiểu)/2.

Trường hợp có một tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ thì áp dụng mức trung bình tăng thêm hoặc mức trung bình giảm bớt. Mức trung bình tăng thêm = (Mức tối đa + Mức trung bình)/2; Mức trung bình giảm bớt = (Mức tối thiểu + Mức trung bình)/2;

Trường hợp có từ hai tình tiết tăng nặng thì áp dụng mức tối đa của khung phạt tiền. Trường hợp có từ hai tình tiết giảm nhẹ thì áp dụng mức tối thiểu của khung tiền phạt.

Trường hợp vừa có tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ thì được bù trừ theo nguyên tắc một tình tiết tăng nặng trừ cho một tình tiết giảm nhẹ.

7.2. Về quy định cụ thể

7.2.1. XPVPHC trong lĩnh vực quản lý giá

7.2.1.1. Các hành vi VPHC trong lĩnh vực giá

Nghị định số 109/2013/NĐ-CP (sau đây gọi chung là Nghị định 109) đã kế thừa các quy định còn phù hợp quy định tại Nghị định số 84/2011/NĐ-CP (sau đây gọi là Nghị định 84), bao gồm: Hành vi vi phạm quy định về bình ổn giá (Điều 5); hành vi vi phạm chính sách trợ giá, trợ cước (Điều 6); hành vi vi phạm về hiệp thương giá (Điều 7); hành vi không chấp hành đúng giá do cơ quan, người có thẩm quyền quyết định (Điều 8); hành vi vi phạm về lập phương giá hàng hóa, dịch vụ (Điều 9); hành vi vi phạm quy định về đăng ký giá, kê khai giá hàng hóa, dịch vụ (Điều 11); hành vi đưa tin thất thiệt về thị trường giá cả hàng hóa, dịch vụ (Điều 14); hành vi vi phạm quy định đối với doanh nghiệp thẩm định giá (Điều 18); hành vi vi phạm quy định đối với thẩm định viên về giá (Điều 19); hành vi vi phạm đối với tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên ngành thẩm định giá (Điều 21).

Đồng thời, căn cứ vào các quy định tại Luật Giá và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Giá, Nghị định số 109 sửa đổi, bổ sung một số quy định sau:

Thứ nhất, bổ sung một số hành vi vi phạm, cụ thể là:

Đối với hành vi vi phạm quy định về hiệp thương giá (Điều 7), bổ sung hành vi vi phạm không thực hiện hiệp thương giá theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;

Đối với hành vi vi phạm quy định trong hoạt động kinh doanh đặc thù có điều kiện, Nghị định số 109 đã quy định cụ thể các hành vi vi phạm về giá trong hoạt động kinh doanh xuất khẩu gạo theo quy định của Chính phủ (Điều 10);

Đối với hành vi vi vi phạm về tăng hoặc giảm giá hàng hóa, dịch vụ một cách quá mức, Nghị định số 109 đã quy định đầy đủ các hành vi tăng hoặc giảm giá hàng hóa, dịch vụ bất hợp lý (Điều 13);

Đối với hành vi vi phạm về thẩm định giá đối với tổ chức, cá nhân sử dụng nguồn ngân sách nhà nước mua sắm tài sản, Nghị định số 109 đã quy định là hành vi vi phạm đối với người có tài sản thẩm định giá và người sử dụng kết quả thẩm định giá (Điều 20).

Thứ hai, đối với một số hành vi vi phạm mới theo quy định của Luật Giá, Nghị định số 109 đã bổ sung quy định về chế tài xử phạt đối với các hành vi vi phạm này, cụ thể là hành vi vi phạm quy định về công khai thông tin về giá hàng hóa, dịch vụ (Điều 12); hành vi vi phạm quy định về cung cấp số liệu, tài liệu có liên quan theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền (Điều 15); hành vi gian lận về giá (Điều 16); hành vi lợi dụng khủng hoảng kinh tế, thiên tai, dịch bệnh và điều kiện bất thường khác; lợi dụng chính sách của Nhà nước để định giá mua, giá bán hàng hóa, dịch vụ bất hợp lý (Điều 17).

Thứ ba, về xử phạt đối với hành vi đưa tin thất thiệt về thị trường, giá cả hàng hóa, dịch vụ. Trên cơ sở kế thừa các quy định về xử phạt đối với hành vi đưa tin thất thiệt về thị trường, giá cả hàng hóa, dịch vụ tại Nghị định số 84, đồng thời, bảo đảm quy định đầy đủ chế tài xử lý đối với các hành vi vi phạm quy định tại điểm a khoản 2 Điều 10 Luật Giá: “Cấm tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh bịa đặt, loan tin, đưa tin không đúng sự thật về tình hình thị trường, giá hàng hóa, dịch vụ”; khoản 3 Điều 6 Luật Giá: “Cơ quan thông tin, truyền thông có trách nhiệm đưa tin về giá chính xác, khách quan, trung thực và chịu trách nhiệm về việc đưa tin theo quy định của pháp luật.”, Nghị định số 109 đã quy định phạt tiền từ 75.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng đối với hành vi bịa đặt, loan tin, đưa tin không đúng sự thật về tình hình thị trường, giá cả hàng hóa, dịch vụ gây tâm lý hoang mang trong xã hội và bất ổn thị trường trên phương tiện thông tin đại chúng như báo in, báo nói, báo hình, báo điện tử hoặc các ấn phẩm thông tin khác (khoản 2 Điều 14). Quy định trên là cần thiết, nhằm xử lý các hành vi đưa tin không đúng sự thật về tình hình thị trường giá cả gây tâm lý hoang mang trong xã hội và bất ổn thị trường, đồng thời cũng phù hợp với phạm vi điều chỉnh của Nghị định là xử phạt hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý giá.

7.2.1. 2. Về hình thức xử phạt

a. Mức xử phạt tiền

Về cơ bản, Nghị định số 109 kế thừa các mức xử phạt còn phù hợp đối với một số hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý giá. Đồng thời, đối với một số hành vi mà theo quy định hiện hành mức xử phạt chưa đủ sức răn đe, Nghị định số 109 quy định mức phạt tiền cao hơn bảo đảm phù hợp với mức trần xử phạt mới trong lĩnh vực giá được quy định tại Luật Xử lý vi phạm hành chính, cụ thể là 150 triệu đồng đối với cá nhân và 300 triệu đồng đối với tổ chức. Trước đây, Nghị định số 84 quy định mức trần xử phạt đối với các hành vi vi phạm hành chính về giá tối đa là 40 triệu đồng.

Nghị định số 109 cũng quy định khung tiền phạt đối với hành vi vi phạm nhằm bảo đảm việc ra quyết định xử phạt linh hoạt hơn, có tính đến tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ. Trước đây Nghị định số 84 quy định một mức phạt tiền cố định đối với một hành vi vi phạm.

b. Xử phạt bổ sung

–  Căn cứ quy định của Luật XLVPHC, Luật Giá và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Giá, Nghị định số 109 (khoản 1 Điều 3) quy định một số hình thức xử phạt bổ sung mới đối với hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực giá như: đình chỉ hoạt động kinh doanh dịch vụ thẩm định giá; đình chỉ hoạt động đào tạo, cấp chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ thẩm định giá; buộc nộp vào Quỹ Bình ổn giá số tiền do sử dụng không đúng mục đích của Quỹ Bình ổn giá; dừng thực hiện mức giá bán hàng hóa, dịch vụ do tổ chức, cá nhân quy định; cải chính thông tin sai lệch; tiêu hủy hoặc tịch thu tiêu hủy ấn phẩm có nội dung thông tin sai phạm; hủy kết quả thẩm định giá; hủy chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ thẩm định giá…

Đồng thời, bỏ quy định các hình thức xử phạt bổ sung không còn phù hợp. Ví dụ: tước không thời hạn quyền sử dụng giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh, cung ứng hàng hóa, dịch vụ, dịch vụ thẩm định giá, các loại giấy phép kinh doanh của tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh, cung ứng hàng hóa, dịch vụ theo quy định của pháp luật; không được thông báo là doanh nghiệp có đủ điều kiện hoạt động thẩm định giá của năm tiếp theo…

– Về tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ:

Điểm mới của Nghị định số 109 là không quy định về các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ do Luật XLVPHC đã quy định cụ thể về nội dung này, mà chỉ hướng dẫn chi tiết về nguyên tắc phạt tiền khi có hoặc không có tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ (khoản 6 Điều 3).

– Ngoài ra, điểm mới của Nghị định số 109 là quy định đình chỉ có thời hạn hoạt động kinh doanh dịch vụ thẩm định giá, tước có thời hạn Thẻ thẩm định viên về giá và thời hạn đình chỉ, thời hạn tước tối đa cũng chỉ là 03 tháng để bảo đảm phù hợp với quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính và tình hình thực tiễn. Trước đây, Nghị định số 84 quy định thời hạn tước tối đa đối với tước giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh, Thẻ thẩm định viên về giá là tước không thời hạn.

7.2.1.3. Về thẩm quyền xử phạt

Về cơ bản, Nghị định số 109 kế thừa thẩm quyền xử phạt được quy định tại Nghị định số 84, theo đó tại Điều 42 đã quy định cụ thể thẩm quyền xử phạt tiền và áp dụng biện pháp xử phạt bổ sung đối với các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực giá của các cá nhân sau: Chánh Thanh tra Bộ Tài chính; Trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành giá; Chánh Thanh tra Sở Tài chính; Thanh tra viên, Chánh Thanh tra bộ, cơ quan ngang bộ và các chức danh tương đương; Người có thẩm quyền của cơ quan quản lý thị trường; Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã.

7.2.2. XPVPHC trong lĩnh vực quản lý phí, lệ phí

7.2.2.1. Các hành vi vi phạm

Nghị định số 109 kế thừa các quy định còn phù hợp về các hành vi vi phạm hành chính, về thẩm quyền quy định, đăng ký, kê khai, công khai chế độ thu, mức thu, chế độ thu nộp, miễn, giảm, quản lý, sử dụng, chứng từ, kế toán phí, lệ phí; vi phạm quy định về quy trình, thủ tục lập, báo cáo phương án thu phí.

Đồng thời, Nghị định số 109 quy định chi tiết hơn về hành vi vi phạm, mức xử phạt so với Nghị định số 106/2003/NĐ-CP như: Tách hành vi vi phạm quy định về đăng ký, kê khai, thu, nộp phí, lệ phí thành hành vi vi phạm quy định đăng ký, kê khai phí, lệ phí và hành vi vi phạm quy định về nộp phí, lệ phí.

Quy định này nhằm bảo đảm phù hợp với quy định về quản lý nhà nước trong lĩnh vực phí, lệ phí hiện hành; bảo đảm tính minh bạch và phân biệt rõ hơn tính chất mức độ của các hành vi vi phạm.

7.2.2.2. Mức xử phạt

Nghị định số 109 kế thừa quy định hiện hành về mức xử phạt tối đa đối với cá nhân là 50.000.000 đồng; bổ sung quy định mức xử phạt tối đa đối với tổ chức bằng 02 lần mức xử phạt đối với cá nhân (là 100.000.000 đồng), để phù hợp với quy định tại Luật XLVPHC.

Đồng thời, Nghị định số 109 điều chỉnh mức phạt đối với các hành vi vi phạm trong lĩnh vực quản lý phí, lệ phí tương ứng với mức xử phạt vi phạm đối với hành vi vi phạm có tính chất tương tự trong lĩnh vực quản lý thuế, bảo đảm tính thống nhất trong hệ thống chính sách.

Tại khoản 1 Điều 108 Luật Quản lý Thuế, quy định: “Người nộp thuế có một trong các hành vi trốn thuế, gian lận thuế thì phải nộp đủ số tiền thuế theo quy định và bị phạt từ 1 đến 3 lần số tiền thuế trốn”. Tại khoản 33 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý Thuế, quy định: “Người nộp thuế khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn thì phải nộp đủ số tiền thuế khai thiếu, nộp lại số tiền thuế được hoàn cao hơn và bị xử phạt 20% số tiền thuế khai thiếu, số tiền thuế được hoàn cao hơn”.

Nghị định số 109 quy định mức xử phạt đối với hành vi vi phạm quy định nộp phí, lệ phí; hành vi vi phạm quy định miễn, giảm phí, lệ phí phù hợp với mức xử phạt quy định tại Luật Quản lý Thuế.

7.2.2.3. Về thẩm quyền XPVPHC trong lĩnh vực phí, lệ phí

Nghị định số 109 quy định rõ người có thẩm quyền xử phạt, các hình thức xử phạt và mức phạt là cao hơn trước đây. Qua đó, quy định chi tiết hơn nội dung của Luật XLVPHC, tạo thuận lợi cho các cơ quan áp dụng và góp phần bảo đảm thực hiện thống nhất văn bản pháp luật.

Ví dụ: Chủ tịch UBND cấp xã có quyền:

– Phạt cảnh cáo;

– Phạt tiền đến 5.000.000 đồng;

– Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả.

7.2.3. Hành vi vi phạm hành chính, hình thức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả trong lĩnh vực quản lý hóa đơn

Nghị định số 109 kế thừa quy định xử phạt theo nhóm hành vi tại Nghị định số 51/2010/NĐ-CP (sau đây gọi là Nghị định 51), đồng thời, sửa đổi, bổ sung một số nội dung như sau:

7.2.3.1. Bổ sung một số hành vi vi phạm trong lĩnh vực hoá đơn chưa có chế tài xử lý

a. Hành vi vi phạm về cung cấp phần mềm tự in hóa đơn (điểm b khoản 1 Điều 33 Nghị định 109)

Nghị định số 51 chưa có chế tài xử phạt đối với các nhà cung cấp phần mềm tự in hóa đơn không đảm bảo nguyên tắc theo quy định hoặc hóa đơn khi in ra không đáp ứng đủ nội dung quy định. Dự thảo Nghị định bổ sung hành vi này với mức phạt từ 4.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng

b. Hành vi vi phạm về lập sai loại hoá đơn

Nghị định số 51 quy định 04 loại hoá đơn và quản lý, sử dụng 04 loại hoá đơn. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, một số tổ chức, cá nhân vẫn sử dụng sai loại hoá đơn. Ví dụ: Doanh nghiệp sử dụng hoá đơn GTGT cho hoạt động xuất khẩu hàng hoá (theo quy định phải dùng hoá đơn xuất khẩu), doanh nghiệp chế xuất sử dụng hoá đơn GTGT (theo quy định phải dùng hoá đơn bán hàng loại dành cho khu phi thuế quan). Nghị định số 51 chưa quy định chế tài xử phạt đối với hành vi này. Nghị định số 109 bổ sung hành vi sử dụng sai loại hoá đơn xử phạt từ 4.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng.(điểm e khoản 3 Điều 38)

c. Hành vi lập hoá đơn không đúng thời điểm

Nghị định số 51/2010/NĐ-CP quy định xử phạt đối với hành vi không lập hoá đơn khi bán hàng hoá, dịch vụ. Thực tế, có nhiều trường hợp bên bán vẫn lập hoá đơn nhưng không đúng với thời điểm bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ (Lý do có thể do bên mua chưa thanh toán), hành vi này chưa có chế tài xử lý cụ thể. Nghị định số 109 bổ sung hành vi lập hoá đơn không đúng thời điểm quy định. Mức phạt từ 4.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng (điểm a khoản 3 Điều 38 nghị định 109).

d. Hành vi ghi ngày trên hoá đơn trước ngày mua hoá đơn của cơ quan thuế

Đối với trường hợp tổ chức, cá nhân thuộc đối tượng được mua hoá đơn của cơ quan thuế nhưng ghi ngày lập hoá đơn bán hàng trước ngày mua hoá đơn của cơ quan thuế, tại Nghị định số 51/2010/NĐ-CP chưa có chế tài xử lý. Nghị định số 109/2013/NĐ-CP bổ sung xử phạt đối với hành vi này là 4.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng bằng với hành vi lập hoá đơn không đúng thời điểm (điểm c khoản 3 Điều 38 nghị định 109).

đ. Hành vi làm cháy, hỏng hóa đơn của người mua

Nghị định số 51/2010/NĐ-CP chỉ có chế tài xử phạt hành vi làm mất hóa đơn, không có chế tài xử phạt đối với hành vi người mua làm cháy, hỏng hóa đơn. Nhiều cơ sở kinh doanh khi mất hóa đơn đã khai là cháy, hỏng để không bị xử phạt. Nghị định số 109 bổ sung việc xử phạt đối với hành vi người mua hàng làm cháy, hỏng hóa đơn, trừ trường hợp mất, cháy, hỏng hóa đơn do thiên tai, hỏa hoạn, bất khả kháng, với mức xử phạt là 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.(điểm a khoản 4 Điều 38 nghị định 109)

Ngoài ra, Nghị định số 109 bổ sung quy định trong trường hợp người mua, người bán tìm lại được hóa đơn (Liên 2) đã mất trong khi cơ quan thuế chưa ra quyết định xử phạt thì không bị phạt tiền.

e. Hành vi vi phạm về lập, gửi thông báo, báo cáo cho cơ quan thuế (Điều 40 Nghị định 109)

Nghị định số 109 gộp các nội dung xử phạt vi phạm quy định về nộp các thông báo, báo cáo (Báo cáo tình hình sử dụng hóa đơn, thông báo huỷ hóa đơn…) cho cơ quan thuế (quy định tại nhiều điều khoản của Nghị định số 51/2010/NĐ-CP) thành một điều khoản xử phạt riêng (hành vi vi phạm liên quan đến thông báo phát hành hóa đơn). Theo đó, ngoài việc xử phạt không gửi báo cáo, bổ sung thêm quy định về xử phạt đối với các hành vi lập sai hoặc lập không đầy đủ nội dung của các thông báo, báo cáo gửi cơ quan thuế (mức phạt từ 200.000 đồng đến 1.000.000 đồng). Trường hợp tổ chức, cá nhân phát hiện ra sai sót và lập lại thông báo, báo cáo thay thế đúng quy định gửi cơ quan thuế trong thời hạn quy định nộp thông báo, báo cáo thì không bị xử phạt.

Ngoài ra, Nghị định số 109 quy định mức phạt tiền khác nhau giữa hành vi nộp chậm và hành vi không nộp thông báo, báo cáo (Nghị định số 51/2010/NĐ-CP chưa quy định phân biệt hành vi nộp chậm và hành vi không nộp thông báo, báo cáo hoá đơn). Cụ thể: Sau 10 ngày kể từ ngày hết hạn nộp thông báo, báo cáo thì xử phạt nộp chậm từ 2.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng; sau 20 ngày kể từ ngày hết thời hạn nộp thông báo, báo cáo thì xác định là không nộp và bị xử phạt nặng hơn mức nộp chậm, từ 4.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng.

7.2.3.2. Bỏ các quy định không cần thiết hoặc chưa hợp lý

a. Về xử phạt đối với hành vi ký hợp đồng in với cơ sở in không đủ điều kiện: Tại khoản 3 Điều 29 Nghị định số 51 quy định việc xử phạt đối với hành vi ký hợp đồng in với cơ sở in không đủ điều kiện được in hóa đơn theo quy định. Có ý kiến cho rằng chỉ cần xử phạt đối với nhà in nhận in hóa đơn mà chưa đủ điều kiện, mà không nên xử phạt đối với người đi đặt in. Nghị định số 109 đã thể hiện nội dung này.

b. Về hình thức phạt bổ sung “chỉ định nhà in” đối với tổ chức, doanh nghiệp đặt in hóa đơn khi có hành vi đặt in hóa đơn giả: Nghị định số 51 quy định hình thức phạt bổ sung “chỉ định nhà in” đối với tổ chức, doanh nghiệp đặt in hóa đơn khi có hành vi đặt in hóa đơn giả trong thời hạn 36 tháng. Tuy nhiên, do hiện nay cơ quan thuế không quản lý nhà in hoá đơn. Do đó, hình thức phạt bổ sung này không được đưa vào Nghị định số 109.

c. Về xử phạt đối với hành vi khai không đúng điều kiện để được mua hóa đơn do cơ quan thuế phát hành: Nghị định số 51 quy định việc xử phạt đối với hành vi khai không đúng điều kiện để được mua hóa đơn do cơ quan thuế phát hành. Từ năm 2012, đối tượng được mua hóa đơn của cơ quan thuế đã được quy định cụ thể là bao gồm các tổ chức không phải là doanh nghiệp nhưng có hoạt động kinh doanh, hộ, cá nhân kinh doanh (Không còn đối tượng là các doanh nghiệp), do đó, nội dung này không còn cần thiết, do đó không quy định trong Nghị định 109.

7.2.3.3. Mức xử phạt

Mức xử phạt tối đa quy định tại Nghị định số 51 là khá cao (100.000.000 đồng). Vì vậy, Nghị định 109 sửa các mức xử phạt so với Nghị định số 51/2010/NĐ-CP, đảm bảo một số nguyên tắc sau:

 – Giảm mức xử phạt của một số hành vi vi phạm (Giảm mức tối đa từ 100.000.000 đồng xuống 50.000.000 đồng) để đảm bảo phù hợp với thực tế và theo hướng phân cấp xử phạt;

– Quy định thống nhất mức xử phạt đối với các hành vi có mức độ, tính chất tương tự;

– Sửa đổi mức xử phạt cho phù hợp với mức độ thiệt hại do hành vi vi phạm gây ra và phù hợp với quy định các văn bản quy phạm pháp luật khác, đồng thời, bảo đảm dễ tính toán mức xử phạt trung bình;

– Quy định thu hẹp khung tiền phạt. Nghị định số 51 quy định khoảng cách giữa mức tối thiểu và mức tối đa là 5 lần. Nghị định 109 thu hẹp khoảng cách giữa mức tối thiểu và tối đa là từ 2 đến 3 lần.

7.2.4. Về thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính

Nghị định số 109 quy định rõ người có thẩm quyền lập biên bản XPVPHC có quyền lập biên bản hành chính về những vi phạm hành chính thuộc phạm vi thi hành công vụ, nhiệm vụ được giao theo mẫu quy định và chịu trách nhiệm về việc lập biên bản. Những người sau đây có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính:

– Người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính quy định tại Nghị định này khi đang thi hành công vụ.

– Công chức khi đang thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước trong lĩnh vực quản lý giá, quản lý thị trường, phí, lệ phí, hóa đơn.

Trên đây là một số nội dung mới về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý giá, phí, lệ phí và hóa đơn./.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Bản in

 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *