Chuyên đề 6: NHỮNG NỘI DUNG MỚI VỀ SỬA ĐỔI, BỔ SUNG LUẬT THUẾ TNDN, THUẾ TNCN, THUẾ GTGT KỂ TỪ NGÀY 01/7/2013

Chuyên đề 6: NHỮNG NỘI DUNG MỚI VỀ SỬA ĐỔI, BỔ SUNG LUẬT THUẾ TNDN, THUẾ TNCN, THUẾ GTGT KỂ TỪ NGÀY 01/7/2013

                                                                                                                                              Thsĩ. Dương Thị Ninh

Thsĩ. Huỳnh Vương Nam

                                                                 Vụ Chính sách thuế – Bộ Tài chính

 6.1. Những điểm mới về chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp

Luật thuế TNDN số 14/2008/QH12 được Quốc hội Khóa XII ban hành ngày 03/6/2008, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2009. Qua 4 năm thực hiện, Luật thuế TNDN đã cơ bản đạt được mục tiêu đề ra khi ban hành Luật. Bên cạnh những kết quả đạt được, trước thực tiễn nền kinh tế và xu hướng phát triển, một số quy định trong Luật đã bộc lộ những tồn tại như: chưa bao quát hết các khoản thu nhập mới phát sinh, một số quy định về các khoản chi phí được trừ và không được trừ chưa thật sự phù hợp với thực tiễn, chưa có quy định ưu đãi đối với đầu tư mở rộng,… Để phù hợp thực tiễn, khắc phục những bất cập nêu trên, giảm mức động viên để thu hút đầu tư, khuyến khích sản xuất kinh doanh, phù hợp với xu thế cải cách thuế của thế giới và đúng lộ trình của Chiến lược cải cách thuế giai đoạn 2011 – 2020, đồng thời để đảm bảo chính sách rõ ràng, minh bạch, đơn giản, giảm thủ tục hành chính, tạo thuận lợi cho người nộp thuế, công tác quản lý thuế và việc hiện đại hoá quản lý thuế, Luật thuế TNDN số 14/2008/QH12 đã được Quốc hội sửa đổi, bổ sung.

Ngày 19/6/2013, Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 5 đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế TNDN (Luật số 32/2013/QH13), Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2014 (trừ một số quy định có hiệu lực từ ngày 01/07/2013 sớm hơn 6 tháng so với hiệu lực chung của Luật). Ngày 26/12/2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 218/2013/NĐ-CP (Gọi tắt là Nghị định 218) quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật thuế TNDN. 

Sau đây xin giới thiệu những điểm mới của chính sách thuế TNDN

6.1.1. Về khái niệm cơ sở thường trú:

Sửa đổi khái niệm về cơ sở thường trú quy định tại khoản 3 Điều 2 Luật thuế TNDN, theo đó, bỏ cụm từ “mang lại thu nhập” để phù hợp với các cam kết quốc tế và không làm ảnh hưởng đến quyền đánh thuế của Việt Nam.

6.1.2. Về thu nhập chịu thuế:

Bổ sung vào diện thu nhập chịu thuế đối với: thu nhập từ chuyển nhượng dự án đầu tư; thu nhập từ chuyển nhượng quyền thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản; thu nhập từ chuyển nhượng quyền góp vốn, quyền tham gia dự án đầu tư để bao quát những khoản thu nhập mới phát sinh, đồng thời loại khoản “hoàn nhập dự phòng” khỏi thu nhập khác cho đúng bản chất (hạch toán giảm chi phí).

6.1.3. Về thu nhập được miễn thuế:

Ngoài việc kế thừa các quy định về thu nhập miễn thuế của Luật thuế TNDN năm 2008, pháp luật thuế TNDN từ 01/01/2014 đã bổ sung vào diện thu nhập miễn thuế đối với các khoản thu nhập sau đây để phù hợp với thực tiễn, đồng bộ với quy định của các pháp luật liên quan, như:

(1) thu nhập từ sản xuất muối của hợp tác xã (HTX).

(2) thu nhập của HTX hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp thực hiện ở địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn và ở địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn.

HTX hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp được hưởng ưu đãi thuế là HTX đáp ứng tỷ lệ về cung ứng sản phẩm, dịch vụ cho các thành viên là những cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân có hoạt động sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp theo quy định của Luật HTX và các văn bản hướng dẫn.

(3) thu nhập của doanh nghiệp từ trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản ở địa bàn kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn;

Quy định chi tiết nội dung này, Nghị định 218 quy định rõ thu nhập từ trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản của HTX và của doanh nghiệp  ở địa bàn kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn, địa bàn kinh tế – xã hội khó khăn được ưu đãi thuế không bao gồm thu nhập từ chế biến các sản phẩm nông, lâm, thủy sản.

HTX, doanh nghiệp phải hạch toán riêng phần thu nhập từ trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản với các khâu chế biến, chế tạo khác để xác định số thuế TNDN được ưu đãi thuế. Trường hợp không hạch toán riêng được thì thu nhập được ưu đãi thuế được xác định theo tỷ lệ giữa chi phí của hoạt động được ưu đãi thuế với tổng chi phí sản xuất kinh doanh của cơ sở trong kỳ tính thuế.

Hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản của HTX và doanh nghiệp được ưu đãi thuế như quy định tại Nghị định được xác định căn cứ theo mã ngành kinh tế cấp 1 của ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản quy định tại Hệ thống ngành kinh tế Việt Nam.

(4) thu nhập từ hoạt động đánh bắt hải sản;

(5) thu nhập từ chuyển nhượng chứng chỉ giảm phát thải (CERs) của DN được cấp chứng chỉ.

Nghị định 218 quy định rõ thu nhập từ chuyển nhượng chứng chỉ giảm phát thải (CERs) được miễn thuế là thu nhập từ chuyển nhượng CERs lần đầu của doanh nghiệp được cấp chứng chỉ giảm phát thải; các lần chuyển nhượng tiếp theo nếu có thu nhập thì không được miễn thuế mà thực hiện nộp thuế TNDN theo quy định.

(6) thu nhập từ hoạt động tín dụng đầu tư phát triển, tín dụng xuất khẩu của nhà nước của Ngân hàng phát triển Việt Nam, thu nhập từ hoạt động tín dụng cho người nghèo và các đối tượng chính sách khác của ngân hàng chính sách xã hội, thu nhập của các quỹ tài chính nhà nước và quỹ khác của Nhà nước hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, thu nhập của tổ chức Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ do Chính phủ thành lập để xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng Việt Nam;

Nghị định 218 quy định rõ thu nhập của các quỹ hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận và quỹ khác của Nhà nước hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận được thành lập và có cơ chế chính sách hoạt động theo quy định của Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ là thu nhập được miễn thuế TNDN, đồng thời quy định cụ thể tổ chức mà Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ do Chính phủ thành lập để xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng Việt Nam là Công ty TNHH một thành viên Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam để phù hợp với quy định của Luật số 32/2013/QH13 và các luật chuyên ngành.

(7) thu nhập không chia của cơ sở thực hiện xã hội hoá (XHH) trong lĩnh vực giáo dục – đào tạo, y tế và các lĩnh vực XHH khác (bao gồm cả văn phòng giám định tư pháp) để lại để đầu tư phát triển cơ sở đó theo quy định của luật chuyên ngành về lĩnh vực giáo dục – đào tạo, y tế và các lĩnh vực XHH khác;

(8) phần thu nhập hình thành tài sản không chia của HTX được thành lập và hoạt động theo Luật HTX;

(9) thu nhập từ chuyển giao công nghệ thuộc lĩnh vực ưu tiên chuyển giao cho tổ chức, cá nhân ở địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn.

Đồng thời với việc bổ sung một số khoản thu nhập vào diện miễn thuế, Nghị định 218 quy định rõ: 

Doanh nghiệp dành riêng cho lao động là người tàn tật, người sau cai nghiện, người nhiễm HIV được miễn thuế TNDN là doanh nghiệp có từ 30% số lao động bình quân trong năm trở lên là người tàn tật, người sau cai nghiện, người nhiễm HIV và có số lao động bình quân trong năm từ 20 người trở lên, không bao gồm doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tài chính, kinh doanh bất động sản.

Sửa đổi quy định về thời gian miễn thuế cho sản phẩm sản xuất thử nghiệm, sản phẩm làm ra từ công nghệ mới được tính kể từ ngày bắt đầu có doanh thu từ bán sản phẩm theo hợp đồng nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ, sản xuất thử nghiệm hoặc sản xuất theo công nghệ mới để phù hợp thực tế.

6.1.4. Về xác định thu nhập tính thuế và chuyển lỗ đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản và một số khoản thu nhập mới phát sinh:

Đồng thời với việc bổ sung vào thu nhập chịu thuế đối với một số khoản thu nhập (nêu tại điểm 1)[1], Luật sửa đổi, bổ sung đã bổ sung quy định về xác định thu nhập tính thuế và chuyển lỗ đối với hoạt động chuyển nhượng dự án đầu tư, chuyển nhượng quyền tham gia dự án đầu tư, chuyển nhượng quyền thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản. Theo đó, thu nhập từ chuyển nhượng dự án đầu tư, chuyển nhượng quyền tham gia dự án đầu tư, chuyển nhượng quyền thăm dò, khai thác khoáng sản, chuyển nhượng bất động sản phải xác định riêng để kê khai nộp thuế. Trường hợp chuyển nhượng quyền tham gia dự án đầu tư, chuyển nhượng dự án đầu tư (trừ dự án thăm dò, khai thác khoáng sản), chuyển nhượng bất động sản nếu bị lỗ thì số lỗ này được bù trừ với lãi của hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ tính thuế. Trường hợp sau khi đã bù trừ mà kết thúc kỳ kinh doanh vẫn còn lỗ thì được chuyển lỗ vào thu nhập của hoạt động này của năm tiếp theo theo quy định chung.

Nghị định 218 quy định rõ: Trường hợp doanhh nghiệp làm thủ tục giải thể có bán bất động sản là tài sản cố định thì thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản (nếu có) được bù trừ với thu nhập từ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

6.1.5. Về khoản chi được trừ và không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN

Luật thuế TNDN năm 2008 quy định nguyên tắc xác định khoản chi được trừ và quy định cụ thể 14 khoản chi không được trừ. Để phù hợp với thực tiễn và thông lệ quốc tế, tại Luật sửa đổi, bổ sung có quy định:

(1) bổ sung quy định về điều kiện được tính vào chi phí được trừ phải có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt;

(2) nâng tỷ lệ khống chế chi phí quảng cáo, khuyến mại từ 10% lên 15% tổng chi phí, đồng thời loại bỏ một số khoản chi không mang tính chất quảng cáo, khuyến mại như chiết khấu thanh toán, chi báo biếu, báo tặng của cơ quan báo chí ra khỏi diện chi phí khống chế;

(3) bổ sung vào diện khoản tài trợ được tính vào chi phí được trừ đối với khoản tài trợ theo chương trình của Nhà nước đối với các địa phương thuộc địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn;   

(4) bổ sung quy định về khoản chi đóng góp vào Quỹ hưu trí tự nguyện hoặc quỹ mang tính an sinh xã hội là khoản chi được trừ;

(5) bổ sung nguyên tắc xác định chi phí hợp lý của một số lĩnh vực đặc thù (ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán, xổ số,…);

(6) bỏ quy định về khoản chi không được trừ đối với phần chi vượt định mức tiêu hao nguyên vật liệu, năng lượng, hàng hoá do doanh nghiệp tự xây dựng và thông báo với cơ quan thuế. 

NĐ 218 quy định chi tiết về các khoản chi được trừ, các khoản chi không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế như sau:

Các khoản chi được trừ:

– Quy định rõ khoản chi cho thực hiện nhiệm vụ giáo dục quốc phòng và an ninh, huấn luyện, hoạt động của lực lượng dân quân tự vệ và phục vụ các nhiệm vụ quốc phòng, an ninh khác theo quy định của pháp luật được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN (để phù hợp với Luật và thống nhất với quy định tại Nghị định số 119/2004/NĐ-CP và Nghị định số 39/CP Nghị định của Chính phủ).

– Quy định khoản chi đóng góp quỹ hưu trí tự nguyện, mua bảo hiểm nhân thọ cho người lao động được tính vào chi phí được trừ tối đa không quá 01 triệu đồng/1 tháng/1 người; đồng thời bổ sung nguyên tắc về xác định khoản chi được trừ đối với khoản đóng góp quỹ có tính chất an sinh xã hội (BHXH, bảo hiểm hưu trí bổ sung bắt buộc, bảo hiểm y tế …) của doanh nghiệp cho người lao động không vượt quá mức quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế.

Quy định các trường hợp không bắt buộc phải có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt cũng được tính vào chi phí được trừ, gồm: khoản chi của doanh nghiệp cho việc: thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh theo quy định của pháp luật; chi cho hoạt động phòng, chống HIV/AIDS nơi làm việc; chi hỗ trợ phục vụ cho hoạt động của tổ chức đảng, tổ chức chính trị – xã hội trong doanh nghiệp; cho việc thu mua hàng hoá, dịch vụ được lập Bảng kê) để phù hợp với Luật, đảm bảo tính khả thi, phù hợp với thực tiễn điều kiện hạ tầng công nghệ thông tin về ngân hàng còn chưa thật phát triển đồng bộ giữa các vùng miền; đồng thời, giao Bộ Tài chính hướng dẫn cụ thể đối với trường hợp thanh toán theo hợp đồng mà thời điểm thanh toán khác với thời điểm ghi nhận chi phí theo quy định và các khoản chi không phải có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt khác.

Các khoản chi không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế như sau:

– Về khoản chi lãi tiền vay đã được ghi nhận vào giá trị tài sản: Bổ sung quy định chi phí lãi vay đã được ghi nhận vào giá trị tài sản là khoản chi không được trừ để phù hợp thực tế phát sinh và minh bạch về chính sách, đồng thời chỉnh sửa về câu chữ tại các điểm quy định về chi phí quảng cáo, khuyến mại; chi tài trợ; chi cho hoạt động kinh doanh ngân hàng, bảo hiểm, xổ số, chứng khoán và một số hoạt động kinh doanh đặc thù khác, quy định về “các khoản chi không tương ứng với doanh thu tính thuế” cho phù hợp với quy định của Luật.

– Về tiền chậm nộp thuế: Bổ sung quy định khoản “tiền chậm nộp thuế theo quy định của Luật quản lý thuế” là khoản chi không được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế để thống nhất với quy định của Luật Quản lý thuế.

Về các khoản chi liên quan trực tiếp đến việc tăng, giảm vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp: Quy định rõ khoản chi liên quan trực tiếp đến việc phát hành cổ phiếu (trừ cổ phiếu thuộc loại nợ phải trả) và cổ tức của cổ phiếu (trừ cổ tức của cổ phiếu thuộc loại nợ phải trả), mua bán cổ phiếu quỹ và các khoản chi khác liên quan trực tiếp đến việc tăng, giảm vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp không được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN để phù hợp với tính chất của hoạt động, tránh vướng mắc trong thực tiễn và đảm bảo sự nhất quán trong thực hiện.

– Về loại bỏ quy định khoản trích lập Quỹ dự phòng trợ cấp mất việc làm khỏi diện chi phí không được trừ:  Bỏ quy định tại điểm d khoản 6 Điều 1 Nghị định 122/2011/NĐ-CP về bỏ quy định khoản trích lập Quỹ dự phòng trợ cấp mất việc làm khỏi diện chi phí không được trừ để đảm bảo phù hợp với quy định của Bộ luật lao động năm 2012 và phù hợp với thực tế.

6.1.6. Về thuế suất

Luật thuế TNDN năm 2008 quy định mức thuế suất phổ thông là 25%.

Luật quy định từ 01/01/2014 áp dụng mức thuế suất phổ thông là 22%; riêng doanh nghiệp có tổng doanh thu năm không quá 20 tỷ đồng được áp dụng thuế suất phổ thông 20% kể từ 01/7/2013. Từ ngày 01/01/2016, mức thuế suất phổ thông là 20%  và mức thuế suất ưu đãi 20% được điều chỉnh giảm xuống còn 17% .

Nghị định số 218 quy định rõ doanh thu làm căn cứ xác định doanh nghiệp được áp dụng thuế suất 20% là tổng doanh thu bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ của năm trước liền kề không quá 20 tỷ đồng.

6.1.7. Về ưu đãi thuế

a. Về đối tượng ưu đãi thuế

Luật sửa đổi, bổ sung quy định đối tượng hưởng ưu đãi thuế là doanh nghiệp và căn cứ áp dụng ưu đãi thuế theo dự án đầu tư của doanh nghiệp (khác với Luật thuế TNDN năm 2008 quy định đối tượng được hưởng ưu đãi thuế là “Doanh nghiệp thành lập mới từ dự án đầu tư” hay ưu đãi theo pháp nhân). Theo quy định này thì phạm vi ưu đãi đối với đầu tư mới sẽ rộng hơn so với Luật thuế TNDN năm 2008, có ưu điểm là chính sách rõ ràng, thống nhất với quy định của pháp luật về đầu tư.

b. Về lĩnh vực, ngành nghề, địa bàn ưu đãi thuế

Luật thuế TNDN năm 2008 quy định ưu đãi thuế (bao gồm ưu đãi thuế suất và thời gian miễn, giảm thuế: thuế suất 10% trong 15 năm, miễn 4 năm, giảm 9 năm và thuế suất 20%, miễn 2 năm, giảm 4 năm đối với thu nhập của doanh nghiệp từ dự án đầu tư mới thuộc lĩnh vực, địa bàn ưu đãi thuế; và thuế suất 10% hoặc 20% đối với thu nhập của doanh nghiệp từ dự án đầu tư thuộc lĩnh vực, địa bàn ưu đãi) và quy định cụ thể lĩnh vực, địa bàn ưu đãi thuế. Luật sửa đổi, bổ sung vẫn kế thừa quy định về mức ưu đãi (các mức thuế suất ưu đãi, thời gian miễn, giảm thuế) của Luật thuế TNDN năm 2008, đồng thời bổ sung thêm lĩnh vực, ngành nghề, địa bàn ưu đãi (ngoài các lĩnh vực, địa bàn ưu đãi theo quy định của Luật hiện hành) để đáp ứng yêu cầu thực tiễn, đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật và phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế xã hội những năm tới. Cụ thể:

b1. Bổ sung vào diện áp dụng thuế suất ưu đãi 10% trong 15 năm, .miễn thuế tối đa trong 4 năm và giảm 50% số thuế phải nộp tối đa 9 năm tiếp theo đối với:

– Thu nhập của doanh nghiệp từ thực hiện dự án đầu tư mới thuộc lĩnh vực: ứng dụng công nghệ cao thuộc danh mục công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển theo quy định của Luật Công nghệ cao; ươm tạo công nghệ cao, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao; đầu tư mạo hiểm cho phát triển công nghệ cao thuộc danh mục công nghệ cao được ưu tiên phát triển theo quy định của pháp luật về công nghệ cao; đầu tư xây dựng – kinh doanh cơ sở ươm tạo công nghệ cao, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao; sản xuất vật liệu composit, các loại vật liệu xây dựng nhẹ, vật liệu quý hiếm; sản xuất năng lượng tái tạo, năng lượng sạch, năng lượng từ việc tiêu hủy chất thải; phát triển công nghệ sinh học; bảo vệ môi trường;

– Thu nhập của doanh nghiệp từ thực hiện dự án đầu tư mới trong lĩnh vực sản xuất (trừ dự án sản xuất mặt hàng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt, dự án khai thác khoáng sản) đáp ứng một trong hai tiêu chí sau:

(i) Dự án có quy mô vốn đầu tư tối thiểu 6 nghìn tỷ đồng, thực hiện giải ngân không quá 3 năm kể từ khi được cấp phép đầu tư và có tổng doanh thu tối thiểu đạt 10 nghìn tỷ đồng/năm chậm nhất sau 3 năm kể từ năm có doanh thu.

(ii) Dự án có quy mô vốn đầu tư tối thiểu 6 nghìn tỷ đồng, thực hiện giải ngân không quá 3 năm kể từ khi được cấp phép đầu tư và sử dụng trên 3.000 lao động chậm nhất sau 3 năm kể từ năm có doanh thu.

Nghị định 218 quy định rõ:

Đối với dự án đầu tư đáp ứng tiêu chí lao động thì phải sử dụng trên 3.000 lao động chậm nhất sau 3 năm kể từ năm có doanh thu. Số lao động quy định tại điểm này là số lao động có ký hợp đồng lao động làm việc toàn thời gian, không tính số lao động bán thời gian và lao động hợp đồng ngắn hạn dưới 01 năm.

Thời gian thực hiện giải ngân dự án làm căn cứ xác định ưu đãi thuế sau 3 năm không kể thời gian bị chậm tiến độ do nguyên nhân khách quan trong khâu giải phóng mặt bằng, giải quyết thủ tục hành chính của cơ quan nhà nước hoặc do thiên tai, địch họa, hỏa hoạn và được cơ quan cấp giấy chứng nhận đầu tư chấp thuận, báo cáo Thủ tướng Chính phủ phê duyệt hoặc năm thứ tư kể từ năm có doanh thu mà dự án đầu tư của doanh nghiệp không đáp ứng các điều kiện để được hưởng ưu đãi theo tiêu chí dự án đầu tư mới trong lĩnh vực sản xuất có quy mô lớn thì không được hưởng ưu đãi thuế TNDN, đồng thời doanh nghiệp phải kê khai, nộp số tiền thuế TNDN đã kê khai hưởng ưu đãi của các năm trước (nếu có) theo quy định của pháp luật.

– Doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao.

Để đảm bảo nguyên tắc ưu đãi của luật thuế TNDN, tránh trường hợp doanh nghiệp lợi dụng chính sách ưu đãi để được hưởng thời gian ưu đãi dài và nhà nước vẫn có thể khuyến khích được doanh nghiệp phấn đấu để trở thành doanh nghiệp công nghệ cao, Nghị định 218 quy định rõ: Doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao được áp dụng thuế suất ưu đãi 10% trong thời hạn 15 năm, miễn thuế 4 năm, giảm 50% số thuế phải nộp trong 9 năm tiếp theo. Trường hợp doanh nghiệp đang hưởng ưu đãi thuế TNDN hoặc đã hưởng hết ưu đãi thuế TNDN theo quy định của các văn bản quy phạm pháp luật về thuế TNDN mà được cấp Giấy chứng nhận doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao thì mức ưu đãi đối với doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao được xác định bằng mức ưu đãi áp dụng cho doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao như đã nêu trên trừ đi thời gian ưu đãi đã hưởng (cả về thuế suất và thời gian miễn, giảm nếu có).

b2. Bổ sung vào diện áp dụng thuế suất ưu đãi 10% đối với các khoản thu nhập sau:

– Thu nhập của doanh nghiệp từ thực hiện dự án đầu tư – kinh doanh nhà ở xã hội để bán, cho thuê, cho thuê mua đối với các đối tượng quy định Điều 53 Luật nhà ở năm 2005;

– Thu nhập của cơ quan báo chí từ hoạt động báo in (kể cả quảng cáo trên báo in) theo quy định của Luật báo chí; Thu nhập của cơ quan xuất bản từ hoạt động xuất bản theo quy định của Luật xuất bản;

– Thu nhập của doanh nghiệp từ: trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng; nuôi trồng nông, lâm, thủy sản ở địa bàn kinh tế – xã hội khó khăn; sản xuất, nhân và lai tạo giống cây trồng, vật nuôi; sản xuất, khai thác và tinh chế muối trừ sản xuất muối của HTX thuộc diện miễn thuế; đầu tư bảo quản nông sản sau thu hoạch, bảo quản nông, thủy sản và thực phẩm;

– Thu nhập của HTX hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp không thuộc địa bàn kinh tế – xã hội khó khăn và địa bàn kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn.

b3. Bổ sung vào diện áp dụng thuế suất ưu đãi 20% trong 10 năm, miễn thuế tối đa trong 2 năm và giảm 50% số thuế phải nộp tối đa 4 năm tiếp theo đối với: Thu nhập của doanh nghiệp từ thực hiện dự án đầu tư mới: sản xuất thép cao cấp; sản xuất sản phẩm tiết kiệm năng lượng; sản xuất máy móc, thiết bị phục vụ cho sản xuất nông, lâm, ngư, diêm nghiệp; sản xuất thiết bị tưới tiêu; sản xuất, tinh chế thức ăn gia súc, gia cầm, thuỷ sản; phát triển ngành nghề truyền thống.

b4. Bổ sung vào diện áp dụng thuế suất ưu đãi 20% đối với Tổ chức tài chính vi mô (như mức đang áp dụng đối với Quỹ tín dụng nhân dân).

b5. Bổ sung quy định ưu đãi thuế đối với khu công nghiệp: thu nhập của doanh nghiệp từ thực hiện dự án đầu tư mới tại khu công nghiệp (trừ khu công nghiệp nằm trên địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội thuận lợi) được miễn thuế trong 2 năm, giảm 50% số thuế phải nộp trong 4 năm tiếp theo.

Nghị định 218 quy định rõ : Địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội thuận lợi quy định tại khoản này là các quận nội thành của đô thị loại đặc biệt, đô thị loại I trực thuộc Trung ương và các đô thị loại I trực thuộc tỉnh; trường hợp khu công nghiệp vừa nằm trên địa bàn thuận lợi, vừa nằm trên địa bàn không thuận lợi thì việc xác định ưu đãi thuế đối với khu công nghiệp căn cứ vào địa bàn có phần diện tích khu công nghiệp lớn hơn. Việc xác định đô thị đặc biêt, loại I quy định tại Khoản này thực hiện theo quy định của Chính phủ về phân loại đô thị.

b6. Bổ sung quy định doanh nghiệp thực hiện chuyển giao công nghệ thuộc lĩnh vực ưu tiên chuyển giao cho các tổ chức, cá nhân thuộc địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn được giảm 50% số thuế TNDN tính trên phần thu nhập từ chuyển giao công nghệ (khoản 9 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung).

c. Quy định rõ lĩnh vực giáo dục – đào tạo, dạy nghề, y tế, văn hoá, thể thao và môi trường mà doanh nghiệp được áp dụng thuế suất ưu đãi 10% trên phần thu nhập từ thực hiện hoạt động xã hội hoá là lĩnh vực xã hội hoá.

Nghị định 218/2013/NĐ-CP quy định rõ:

Thời gian áp dụng thuế suất ưu đãi được tính liên tục từ năm đầu tiên có doanh thu từ dự án đầu tư mới; đối với doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao được tính từ ngày được công nhận là doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao; đối với dự án ứng dụng công nghệ cao được tính kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận dự án ứng dụng công nghệ cao.

Thời gian miễn, giảm thuế được tính liên tục từ năm đầu tiên có thu nhập chịu thuế từ dự án đầu tư mới được hưởng ưu đãi thuế, trường hợp không có thu nhập chịu thuế trong ba năm đầu kể từ năm đầu tiên có doanh thu từ dự án đầu tư mới thì thời gian miễn, giảm thuế được tính kể từ năm thứ tư. Thời gian miễn, giảm thuế đối với doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao được tính từ ngày được công nhận là doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao.

Trường hợp trong kỳ tính thuế đầu tiên mà dự án đầu tư mới của doanh nghiệp có thời gian hoạt động sản xuất kinh doanh được miễn thuế, giảm thuế dưới 12 tháng, doanh nghiệp được lựa chọn hưởng miễn thuế, giảm thuế đối với dự án đầu tư mới ngay từ trong kỳ tính thuế đó hoặc đăng ký với cơ quan thuế thời gian miễn thuế, giảm thuế từ kỳ tính thuế tiếp theo.

6.1.8. Ưu đãi thuế đối với đầu tư mở rộng

Luật thuế TNDN năm 2003 có quy định ưu đãi đối với đầu tư mở rộng. Luật thuế TNDN năm 2008 không có quy định ưu đãi thuế đối với đầu tư mở rộng nhưng có quy định dự án đầu tư mở rộng nếu thành lập pháp nhân mới thuộc lĩnh vực, địa bàn ưu đãi đầu tư thì mới được hưởng ưu đãi đầu tư.

Để đáp ứng yêu cầu thực tiễn và khuyến khích, thu hút đầu tư, góp phần vào việc phân bổ nguồn lực có hiệu quả, tại Khoản 8, Điều 1 Luật bổ sung quy định miễn thuế, giảm thuế đối với đầu tư mở rộng, trong đó quy định rõ phạm vi ưu đãi, mức ưu đãi, tiêu chí đầu tư mở rộng để được ưu đãi thuế (dự án đầu tư mở rộng thuộc lĩnh vực, địa bàn ưu đãi thuế) và đáp ứng một trong ba tiêu chí:

(i) Nguyên giá tài sản cố định tăng thêm khi dự án đầu tư hoàn thành đi vào hoạt động đạt tối thiểu từ 20 tỷ đồng đối với dự án đầu tư mở rộng thuộc lĩnh vực hưởng ưu đãi thuế TNDN theo quy định của Luật này hoặc từ 10 tỷ đồng đối với các dự án đầu tư mở rộng thực hiện tại các địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn hoặc đặc biệt khó khăn theo quy định của pháp luật về thuế TNDN;

(ii) Tỷ trọng nguyên giá tài sản cố định tăng thêm đạt tối thiểu từ 20% so với tổng nguyên giá tài sản cố định trước khi đầu tư;

(iii) Công suất thiết kế tăng thêm tối thiểu từ 20% so với công suất thiết kế trước khi đầu tư.

Đồng thời quy định rõ doanh nghiệp đầu tư mở rộng vào lĩnh vực, địa bàn ưu đãi thuế theo Luật này mà đáp ứng một trong 3 tiêu chí trên thì phần thu nhập tăng thêm do đầu tư mở rộng được lựa chọn hưởng ưu đãi thuế theo dự án đang hoạt động cho thời gian còn lại (nếu có) hoặc được miễn thuế, giảm thuế theo diện đầu tư mở rộng.

Trường hợp doanh nghiệp đang hoạt động có hoạt động đầu tư nâng cấp, thay thế đổi mới công nghệ của dự án đang hoạt động thuộc lĩnh vực, địa bàn ưu đãi thuế mà không đáp ứng một trong ba tiêu chí về đầu tư mở rộng như nêu trên thì ưu đãi thuế thực hiện theo dự án đang hoạt động cho thời gian còn lại (nếu có).

Thời gian miễn, giảm thuế đối với dự án đầu tư mở rộng được tính từ năm dự án đầu tư mở rộng hoàn thành đưa vào sản xuất, kinh doanh có thu nhập; trường hợp không có thu nhập chịu thuế trong ba năm đầu kể từ năm đầu tiên có doanh thu từ dự án  thì thời gian miễn, giảm thuế được tính kể từ năm thứ tư.

6.1.9. Bổ sung quy định dẫn chiếu về mức trích tối thiểu quỹ phát triển khoa học và công nghệ đối với doanh nghiệp Nhà nước

Luật sửa đổi, bổ sung có quy định dẫn chiếu về việc doanh nghiệp Nhà nước ngoài việc thực hiện trích quỹ theo quy định của Luật này còn phải đảm bảo tỷ lệ trích quỹ tối thiểu theo quy định tại Luật Khoa học và công nghệ.

6.1.10. Quy định cụ thể một số khoản thu nhập không được ưu đãi thuế và nguyên tắc ưu đãi thuế:

 a. Về quy định rõ một số trường hợp không áp dụng ưu đãi thuế TNDN theo diện dự án đầu tư mới

Để đảm bảo tính minh bạch của chính sách, pháp luật thuế TNDN đã quy định rõ: Dự án đầu tư mới được hưởng ưu đãi thuế và các trường hợp không áp dụng ưu đãi thuế theo diện dự án đầu tư mới, cụ thể:

Dự án đầu tư mới là dự án đầu tư thực hiện lần đầu hoặc dự án đầu tư độc lập với dự án đang thực hiện và không thuộc các trường hợp bị loại trừ không áp dụng ưu đãi thuế theo diện dự án đầu tư mới dưới đây. Dự án đầu tư mới được hưởng ưu đãi thuế phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép đầu tư hoặc giấy chứng nhận đầu tư. Trường hợp dự án đầu tư trong nước có vốn đầu tư dưới 15 tỷ đồng và không thuộc Danh mục lĩnh vực đầu tư có điều kiện mà gắn với việc thành lập doanh nghiệp mới thì hồ sơ để xác định dự án đầu tư là giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.

Các trường hợp không áp dụng ưu đãi thuế theo diện dự án đầu tư mới:

– Dự án đầu tư hình thành từ việc chia, tách, sáp nhập, hợp nhất, chuyển đổi hình thức doanh nghiệp theo quy định của pháp luật;

– Dự án đầu tư hình thành từ việc chuyển đổi sở hữu (bao gồm cả trường hợp thực hiện dự án đầu tư mới nhưng vẫn kế thừa tài sản, địa điểm kinh doanh, ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp cũ để tiếp tục hoạt động sản xuất kinh doanh).

b. Quy định cụ thể một số khoản thu nhập không được ưu đãi thuế

Để đáp ứng yêu cầu thực tiễn và giải quyết triệt để vướng mắc của doanh nghiệp về vấn đề ưu đãi thuế đối với thu nhập khác, pháp luật thuế TNDN đã quy định rõ về một số khoản thu nhập khác không được hưởng ưu đãi thuế, gồm:

Thu nhập từ chuyển nhượng vốn, chuyển nhượng quyền góp vốn; thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản (trừ nhà ở xã hội), thu nhập từ chuyển nhượng dự án đầu tư, chuyển nhượng quyền tham gia dự án đầu tư, chuyển nhượng quyền thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản; thu nhập nhận được từ hoạt động sản xuất, kinh doanh ở ngoài Việt Nam;

– Thu nhập từ hoạt động tìm kiếm, thăm dò, khai thác dầu khí, tài nguyên quí hiếm khác và thu nhập từ hoạt động khai thác khoáng sản;

– Thu nhập từ kinh doanh dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt theo quy định của Luật thuế tiêu thụ đặc biệt;

– Các khoản thu nhập khác không liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh được hưởng ưu đãi thuế đối với trường hợp đáp ứng điều kiện ưu đãi về lĩnh vực, ngành nghề thuộc diện ưu đãi thuế quy định tại Luật thuế.

c. Về nguyên tắc ưu đãi thuế

Để đảm bảo phù hợp với thực tế phát sinh, rõ ràng, minh bạch và tránh vướng mắc trong thực hiện, pháp luật thuế TNDN đã bổ sung quy định trường hợp không hạch toán riêng được thì thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh được ưu đãi thuế được xác định theo tỷ lệ giữa doanh thu của hoạt động sản xuất, kinh doanh được ưu đãi thuế trên tổng doanh thu của doanh nghiệp; đồng thời bổ sung quy định rõ trường hợp trong cùng một thời gian, nếu DN được hưởng nhiều mức ưu đãi thuế khác nhau đối với cùng một khoản thu nhập thì doanh nghiệp được lựa chọn áp dụng mức ưu đãi thuế có lợi nhất.

6.1.11. Về hiệu lực thi hành

– Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của Luật thuế TNDN có hiệu lực thi hành từ 01/01/2014.

– Để góp phần hỗ trợ giảm khó khăn cho các doanh có quy mô nhỏ và vừa, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư – kinh doanh nhà ở xã hội trong bối cảnh kinh tế khó khăn, thị trường bất động sản đóng băng, hàng tồn kho nhiều, Luật sửa đổi, bổ sung quy định áp dụng kể từ ngày 01/7/2013 (thực hiện sớm 6 tháng so với hiệu lực chung của Luật) hai giải pháp chính sách ưu đãi thuế, gồm: (i) quy định doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa áp dụng thuế suất 20% và (ii) quy định áp dụng thuế suất 10% đối với thu nhập của doanh nghiệp từ thực hiện dự án đầu tư – kinh doanh nhà ở xã hội.

– Nguyên tắc chuyển tiếp ưu đãi đối với trường hợp doanh nghiệp có dự án đầu tư mà tính đến hết kỳ tính thuế năm 2013 còn đang trong thời gian hưởng ưu đãi thuế TNDN thì tiếp tục được hưởng ưu đãi cho thời gian còn lại theo quy định của các văn bản đó; trường hợp đáp ứng điều kiện ưu đãi thuế theo quy định của Luật này thì được lựa chọn ưu đãi đang hưởng hoặc ưu đãi theo quy định của Luật này theo diện ưu đãi đối với đầu tư mới cho thời gian còn lại nếu đang hưởng theo diện doanh nghiệp thành lập mới từ dự án đầu tư hoặc theo diện ưu đãi đối với đầu tư mở rộng cho thời gian còn lại nếu đang hưởng theo diện đầu tư mở rộng.

NĐ 218 quy định chi tiết các trường hợp dự án đầu tư được chuyển tiếp ưu đãi bao gồm cả trường hợp dự án đầu tư đã được cấp Giấy phép đầu tư/Giấy chứng nhận đầu tư hoặc Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp (đối với dự án đầu tư trong nước gắn với việc thành lập doanh nghiệp mới có vốn đầu tư dưới 15 tỷ đồng và không thuộc Danh mục lĩnh vực đầu tư có điều kiện) nhưng đến kỳ tính thuế năm 2013 còn chưa được hưởng ưu đãi thuế.

– Quy định rõ nguyên tắc xử lý ưu đãi đối với các trường hợp đến hết kỳ tính thuế năm 2015 đang thuộc diện áp dụng thuế suất ưu đãi 20% được chuyển sang áp dụng thuế suất ưu đãi 17%.

– Đồng thời, quy định bãi bỏ các nội dung quy định về thuế TNDN tại các điều, khoản của các luật có liên quan[2].

6.2. Chính sách thuế thu nhập cá nhân hiện hành

Thuế thu nhập cá nhân (TNCN) là một trong những sắc thuế xuất hiện khá sớm trong lịch sử phát triển thuế khoá của hầu hết các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là những nước có nền kinh tế thị trường phát triển.

Ở nước ta Luật thuế thu nhập cá nhân lần đầu tiên được ban hành năm 2007 (Luật số 04/2007/QH12) và chính thức được áp dụng từ 01/01/2009. Tuy nhiên, trong thực tế, trước thời điểm Luật thuế TNCN có hiệu lực, chính sách thuế đối với thu nhập của cá nhân đã được thể hiện trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau. Đối với cá nhân làm công ăn lương có thu nhập cao, được điều chỉnh qua Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao[3]; đối với các cá nhân kinh doanh công, thương nghiệp, hành nghề độc lập có thu nhập từ kinh doanh, từ cho thuê tài sản được điều chỉnh qua Luật thuế thu nhập doanh nghiệp (trước 1999 là Luật thuế lợi tức, kể từ 01/01/1999 đến hết 31/12/2008 là Luật thuế TNDN); đối với cá nhân, hộ gia đình sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp,… (gọi chung là nông nghiệp), trước đây có thuế nông nghiệp đánh vào việc sử dụng đất sản xuất nông nghiệp và thu nhập từ nông nghiệp), kể từ 1994, thuế sử dụng đất nông nghiệp chỉ đánh vào việc sử dụng đất, tạm thời chưa đánh vào thu nhập trên đất., từ 01/01/1999, hoạt động sản xuất nông nghiệp của các hộ sản xuất nông nghiệp hàng hoá lớn (dưới hình thức trang trại) có thu nhập đã được đưa vào diện điều chỉnh của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp, nhưng trên thực tế, vì nhiều lý do nên tạm thời vẫn chưa thu thuế; đối với cá nhân có hoạt động chuyển nhượng quyền sử dụng đất thuộc diện điều chỉnh của Luật thuế chuyển quyền sử dụng đất (1994 – 2008).

Qua 3 năm thực hiện, Luật thuế TNCN số 04/2007/QH12 đã đạt được những mục tiêu đề ra như: Đã bao quát và mở rộng được đối tượng nộp thuế, đối tượng chịu thuế; đảm bảo động viên hợp lý thu nhập của dân cư, góp phần đảm bảo công bằng xã hội, thống nhất các quy định về thuế áp dụng đối với cá nhân có thu nhập; góp phần đảm bảo nguồn thu NSNN; và từng bước góp phần thực hiện kiểm soát thu nhập của dân cư.

Tuy nhiên, do sự biến động nhanh của nền kinh tế nên một số quy định trong Luật thuế TNCN đã không còn phù hợp với thực tiễn, đó là: mức giảm trừ gia cảnh không còn phù hợp; Phạm vi, đối tượng tính thuế chưa bao quát hết hoặc đã lạc hậu do phát sinh những nội dung mới theo quy định của pháp luật liên quan; Một số quy định về kỳ tính thuế, về thủ tục kê khai, quyết toán thuế còn phức tạp, chưa tạo thuận lợi cho người nộp thuế, công tác quản lý thuế cũng như hiện đại hoá quản lý thuế. Vì vậy, để kịp thời khắc phục những bất cập của Luật thuế TNCN năm 2007, đảm bảo đơn giản hoá chính sách, đáp ứng yêu cầu về cải cách thủ tục hành chính tạo thuận lợi cho người nộp thuế, cho công tác quản lý thuế và hiện đại hoá công tác quản lý thuế, Luật thuế TNCN năm 2007 đã được sửa đổi, bổ sung vào năm 2012 (Luật số 26/2012/QH13) để áp dụng từ 01/07/2013.

Luật thuế TNCN số 26/2012/QH13 có những điểm mới là:

Thứ nhất, về mức giảm trừ gia cảnh: Điều chỉnh nâng mức giảm trừ gia cảnh cho bản thân người nộp thuế từ mức 4 triệu đồng/tháng lên 9 triệu đồng/tháng (108 triệu đồng/năm); mức giảm trừ cho mỗi người phụ thuộc từ 1,6 triệu đồng/tháng lên 3,6 triệu đồng/tháng, đồng thời bổ sung quy định “mở” để khi chỉ số giá tiêu dùng (CPI) biến động trên 20% thì Chính phủ trình Uỷ ban Thường vụ Quốc hội điều chỉnh mức giảm trừ gia cảnh cho phù hợp với sự biến động của giá cả để áp dụng cho kỳ tính thuế tiếp theo.

Thứ hai, về phạm vi, đối tượng chịu thuế sửa đổi, bổ sung 04 nội dung: 

a. Về các khoản phụ cấp, trợ cấp không tính vào thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công: Sửa đổi quy định về các khoản phụ cấp, trợ cấp không tính vào thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công để đảm bảo nguyên tắc chỉ các khoản trợ cấp mang tính bù đắp những rủi ro, giải quyết khó khăn tạm thời cho người lao động, hoặc phụ cấp, trợ cấp mang tính chất bảo trợ, an sinh xã hội mới được trừ khỏi thu nhập chịu thuế, đồng thời bỏ các khoản phụ cấp, trợ cấp đến nay không còn nữa và bổ sung quy định thêm nội dung “quét”: “trợ cấp mang tính bảo trợ xã hội và các khoản trợ cấp, phụ cấp khác không mang tính chất tiền lương, tiền công theo quy định của Chính phủ” để đảm bảo Luật không bị lạc hậu khi có phát sinh các khoản phụ cấp mới.

b. Về thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản: Bổ sung quy định “Các khoản thu nhập khác nhận được từ chuyển nhượng bất động sản dưới mọi hình thức” vào diện thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản để đảm bảo bao quát hết các trường hợp thu nhập phát sinh từ chuyển nhượng bất động sản.

c. Về thuế TNCN đối với tiền lương hưu do quỹ hưu trí tự nguyện chi trả hàng tháng và khoản đóng góp quỹ hưu trí tự nguyện của cá nhân: Bổ sung quy định miễn thuế TNCN đối với tiền lương hưu do quỹ hưu trí tự nguyện chi trả hàng tháng và bổ sung quy định không tính vào thu nhập tính thuế của cá nhân đối với khoản đóng góp quỹ hưu trí tự nguyện. Đồng thời, để tránh tình trạng lợi dụng chính sách, bổ sung nội dung Chính phủ quy định mức tối đa được trừ đối với khoản đóng góp quỹ hưu trí tự nguyện quy định tại khoản này.

d. Về khoản đóng góp bảo hiểm thất nghiệp của cá nhân: Bổ sung quy định không tính vào thu nhập tính thuế của cá nhân đối với khoản đóng góp bảo hiểm thất nghiệp để đảm bảo chính sách rõ ràng và thống nhất với quy định của pháp luật về BHXH.

 Thứ ba, về kỳ tính thuế và quyết toán thuế sửa đổi, bổ sung 03 nội dung:

a. Về kỳ tính thuế: Bỏ quy định cá nhân có hoạt động chuyển nhượng chứng khoán phải đăng ký phương pháp tính thuế từ đầu năm với cơ quan thuế để tạo thuận lợi cho nhà đầu tư được lựa chọn phương pháp tính thuế.

b. Về quyết toán thuế: Sửa đổi, bổ sung quy định về quyết toán thuế để thuận lợi cho người nộp thuế và giảm khối lượng quyết toán thuế không cần thiết.

Sau đây xin giới thiệu những nội dung chủ yếu về chính sách thuế TNCN hiện hành (quy định tại Luật thuế TNCN số 04/2007/QH12, Luật số 26/2012/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế TNCN số 04/2007/QH12, Nghị định số 65/2013/NĐ-CP và Thông tư số 111/2013/TT-BTC):

6.2.1. Về đối tượng nộp thuế

Đối tượng nộp thuế TNCN là cá nhân cư trú và cá nhân không cư trú có thu nhập chịu thuế quy định tại Điều 3 Luật thuế TNCN. Cá nhân cư trú nộp thuế đối với thu nhập chịu thuế phát sinh tại Việt Nam và ngoài Việt Nam, không phân biệt nơi trả thu nhập. Cá nhân không cư trú chỉ phải nộp thuế đối với thu nhập phát sinh tại Việt Nam, không phân biệt nơi chi trả thu nhập, nơi nhận thu nhập.

Cá nhân cư trú là người đáp ứng một trong các điều kiện sau:

a) Có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên tính trong một năm dương lịch hoặc trong 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam;

b) Có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam theo một trong hai trường hợp: (i)  Có nơi ở đăng ký thường trú theo quy định của pháp luật về cư trú; hoặc (ii) Có nhà thuê để ở tại Việt Nam theo quy định của pháp luật về nhà ở, với thời hạn của hợp đồng thuê từ 183 ngày trở lên trong năm tính thuế.

Trường hợp cá nhân có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam theo quy định tại Điểm này nhưng thực tế có mặt tại Việt Nam dưới 183 ngày trong năm tính thuế mà cá nhân không chứng minh được là đối tượng cư trú của nước nào thì cá nhân đó là đối tượng cư trú tại Việt Nam.

Cá nhân không cư trú là người không đáp ứng điều kiện quy định để trở thành cá nhân cư trú như đã nêu trên.

6.2.2. Về thu nhập chịu thuế

Thu nhập chịu thuế TNCN gồm 10 loại thu nhập sau đây:

(1) Thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh, bao gồm:

– Thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ theo quy định của pháp luật. Riêng thu nhập từ hoạt động sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, làm muối, nuôi trồng, đánh bắt thuỷ sản chỉ áp dụng đối với trường hợp không đủ điều kiện được miễn thuế quy định tại khoản 5 Điều 4 Nghị định 65/2013/NĐ-CP;

– Thu nhập từ hoạt động hành nghề độc lập của cá nhân có giấy phép hoặc chứng chỉ hành nghề theo quy định của pháp luật.

(2) Thu nhập từ tiền lương, tiền công, bao gồm:

a. Tiền lương, tiền công và các khoản có tính chất tiền lương, tiền công nhận được dưới các hình thức bằng tiền hoặc không bằng tiền;

b. Các khoản phụ cấp, trợ cấp, trừ các khoản phụ cấp, trợ cấp sau:

– Trợ cấp, phụ cấp ưu đãi hàng tháng và trợ cấp một lần theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công;

– Trợ cấp hàng tháng, trợ cấp một lần đối với các đối tượng tham gia kháng chiến, bảo vệ tổ quốc, làm nhiệm vụ quốc tế, thanh niên xung phong đã hoàn thành nhiệm vụ;

– Phụ cấp quốc phòng, an ninh; các khoản trợ cấp đối với lực lượng vũ trang;

– Phụ cấp độc hại, nguy hiểm đối với những ngành, nghề hoặc công việc ở nơi làm việc có yếu tố độc hại, nguy hiểm;

– Phụ cấp thu hút, phụ cấp khu vực;

– Trợ cấp khó khăn đột xuất, trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, trợ cấp một lần khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi, trợ cấp do suy giảm khả năng lao động, trợ cấp hưu trí một lần, tiền tuất hàng tháng, trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm, trợ cấp thất nghiệp và các khoản trợ cấp khác theo quy định của Bộ luật lao động và Luật bảo hiểm xã hội;

– Trợ cấp đối với các đối tượng được bảo trợ xã hội theo quy định của pháp luật;

– Phụ cấp phục vụ đối với lãnh đạo cấp cao;

– Trợ cấp một lần đối với cá nhân khi chuyển công tác đến vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, hỗ trợ một lần đối với cán bộ, công chức làm công tác về chủ quyền biển đảo theo quy định của pháp luật. Trợ cấp chuyển vùng một lần đối với người nước ngoài đến cư trú tại Việt Nam, người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài;

– Phụ cấp đối với nhân viên y tế thôn, bản;

– Phụ cấp đặc thù ngành nghề;

Các khoản phụ cấp, trợ cấp không tính vào thu nhập chịu thuế quy định tại Điểm này phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định.

c. Tiền thù lao nhận được dưới các hình thức như: Tiền hoa hồng môi giới, tiền tham gia đề tài, dự án, tiền nhuận bút và các khoản tiền hoa hồng, thù lao khác;

d. Tiền nhận được từ tham gia hiệp hội kinh doanh, hội đồng quản trị, ban kiểm soát, hội đồng quản lý, các hiệp hội, hội nghề nghiệp, và các tổ chức khác;

đ. Các khoản lợi ích bằng tiền hoặc không bằng tiền ngoài tiền lương, tiền công do người sử dụng lao động trả mà người nộp thuế được hưởng dưới mọi hình thức:

– Tiền nhà ở, điện, nước và các dịch vụ kèm theo (nếu có);

– Khoản tiền phí tích lũy mua bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm không bắt buộc khác, tiền tích lũy đóng góp quỹ hưu trí tự nguyện, do người sử dụng lao động mua hoặc đóng góp cho người lao động. Trước khi trả tiền bảo hiểm, tiền lương hưu cho cá nhân, doanh nghiệp bảo hiểm, công ty quản lý quỹ hưu trí tự nguyện có trách nhiệm khấu trừ thuế theo tỷ lệ 10% đối với khoản tiền phí tích lũy, tiền tích lũy đóng góp quỹ tương ứng với phần người sử dụng lao động mua hoặc đóng góp cho người lao động từ ngày 01 tháng 7 năm 2013;

– Phí hội viên và các khoản chi dịch vụ khác phục vụ cho cá nhân theo yêu cầu, như: Chăm sóc sức khoẻ, vui chơi, thể thao, giải trí, thẩm mỹ;

– Các khoản lợi ích khác theo quy định của pháp luật.

e. Các khoản thưởng bằng tiền hoặc không bằng tiền dưới mọi hình thức, kể cả thưởng bằng chứng khoán, trừ các khoản tiền thưởng sau đây:

– Tiền thưởng kèm theo các danh hiệu được Nhà nước phong tặng, bao gồm cả tiền thưởng kèm theo các danh hiệu thi đua, các hình thức khen thưởng theo quy định của pháp luật về thi đua khen thưởng;

– Tiền thưởng kèm theo giải thưởng quốc gia, giải thưởng quốc tế được Nhà nước Việt Nam thừa nhận;

– Tiền thưởng về cải tiến kỹ thuật, sáng chế, phát minh được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận;

– Tiền thưởng về việc phát hiện, khai báo hành vi vi phạm pháp luật với cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

f. Không tính vào thu nhập chịu thuế đối với các khoản sau:

– Khoản hỗ trợ của người sử dụng lao động cho việc khám chữa bệnh hiểm nghèo cho bản thân người lao động và thân nhân (bố, mẹ, vợ/ chồng, con) của người lao động;

– Khoản tiền nhận được theo chế độ liên quan đến sử dụng phương tiện đi lại trong cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, tổ chức đảng, đoàn thể;

– Khoản tiền nhận được theo chế độ nhà ở công vụ theo quy định của pháp luật;

– Các khoản nhận được ngoài tiền lương, tiền công do tham gia, phục vụ hoạt động đảng, đoàn, Quốc hội hoặc xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước;

– Khoản tiền ăn giữa ca do người sử dụng lao động chi cho người lao động không vượt quá mức quy định của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội.

– Khoản tiền mua vé máy bay khứ hồi do người sử dụng lao động trả hộ (hoặc thanh toán) cho người lao động là người nước ngoài, người lao động là người Việt Nam làm việc ở nước ngoài về phép mỗi năm một lần;

– Khoản tiền học phí cho con của người lao động nước ngoài học tại Việt Nam, con của người lao động Việt Nam đang làm việc ở nước ngoài học tại nước ngoài theo bậc học từ mầm non đến trung học phổ thông do người sử dụng lao động trả hộ.

(3) Thu nhập từ đầu tư vốn, bao gồm:

a) Tiền lãi cho vay;

b) Lợi tức cổ phần;

c) Thu nhập từ đầu tư vốn dưới các hình thức khác, kể cả trường hợp góp vốn đầu tư bằng hiện vật, danh tiếng, quyền sử dụng đất, phát minh, sáng chế; trừ thu nhập nhận được từ lãi trái phiếu Chính phủ.

(4) Thu nhập từ chuyển nhượng vốn, bao gồm:

a) Thu nhập từ chuyển nhượng phần vốn trong các tổ chức kinh tế;

b) Thu nhập từ chuyển nhượng chứng khoán;

c) Thu nhập từ chuyển nhượng vốn dưới các hình thức khác.

(5) Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản, bao gồm:

a) Thu nhập từ chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, kể cả công trình xây dựng hình thành trong tương lai;

b) Thu nhập từ chuyển nhượng quyền sở hữu hoặc sử dụng nhà ở, kể cả nhà ở hình thành trong tương lai;

c) Thu nhập từ chuyển nhượng quyền thuê đất, quyền thuê mặt nước;

d) Các khoản thu nhập khác nhận được từ chuyển nhượng bất động sản dưới mọi hình thức;

Thu nhập chịu thuế tại khoản này bao gồm cả khoản thu nhập từ việc ủy quyền quản lý bất động sản mà người được ủy quyền có quyền chuyển nhượng bất động sản hoặc có quyền như người sở hữu bất động sản theo quy định của pháp luật.

(6) Thu nhập từ trúng thưởng bằng tiền hoặc hiện vật, bao gồm:

a) Trúng thưởng xổ số;

b) Trúng thưởng khuyến mại dưới các hình thức;

c) Trúng thưởng trong các hình thức cá cược, casino;

d) Trúng thưởng trong các trò chơi, cuộc thi có thưởng và các hình thức trúng thưởng khác.

(7) Thu nhập từ bản quyền, bao gồm:

a) Thu nhập từ chuyển giao, chuyển quyền sử dụng các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ: Quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả; quyền sở hữu công nghiệp; quyền đối với giống cây trồng;

b) Thu nhập từ chuyển giao công nghệ: Bí quyết kỹ thuật, kiến thức kỹ thuật, các giải pháp hợp lý hóa sản xuất, đổi mới công nghệ.

(8) Thu nhập từ nhượng quyền thương mại theo quy định của Luật thương mại.

(9) Thu nhập từ thừa kế là chứng khoán, phần vốn trong các tổ chức kinh tế, cơ sở kinh doanh, bất động sản và tài sản khác phải đăng ký sở hữu hoặc đăng ký sử dụng.

(10) Thu nhập từ nhận quà tặng là chứng khoán, phần vốn trong các tổ chức kinh tế, cơ sở kinh doanh, bất động sản và tài sản khác phải đăng ký sở hữu hoặc đăng ký sử dụng.

6.2.3. Về thu nhập được miễn thuế:

Pháp luật thuế TNCN quy định 14 loại thu nhập được miễn thuế, gồm:

(1) Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản (bao gồm cả nhà ở, công trình xây dựng hình thành trong tương lai theo quy định của pháp luật về kinh doanh bất động sản) giữa: Vợ với chồng; cha đẻ, mẹ đẻ với con đẻ; cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi; cha chồng, mẹ chồng với con dâu; cha vợ, mẹ vợ với con rể; ông nội, bà nội với cháu nội; ông ngoại, bà ngoại với cháu ngoại; anh, chị em ruột với nhau.

(2) Thu nhập từ chuyển nhượng nhà ở, quyền sử dụng đất ở và tài sản gắn liền với đất ở của cá nhân trong trường hợp người chuyển nhượng chỉ có duy nhất một nhà ở, quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam.

Cá nhân chuyển nhượng có duy nhất một nhà ở, quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam theo quy định tại Khoản này phải đáp ứng các điều kiện sau:

a) Tại thời điểm chuyển nhượng, cá nhân chỉ có quyền sở hữu, quyền sử dụng một nhà ở hoặc một thửa đất ở (bao gồm cả trường hợp có nhà ở hoặc công trình xây dựng gắn liền với thửa đất đó);

b) Thời gian cá nhân có quyền sở hữu, quyền sử dụng nhà ở, đất ở tính đến thời điểm chuyển nhượng tối thiểu là 183 ngày;

c) Nhà ở, quyền sử dụng đất ở được chuyển nhượng toàn bộ;

Việc xác định quyền sở hữu, quyền sử dụng nhà ở, đất ở căn cứ vào giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng nhà ở, đất ở. Cá nhân có nhà ở, đất ở chuyển nhượng có trách nhiệm kê khai và tự chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác của việc kê khai. Trường hợp cơ quan có thẩm quyền phát hiện kê khai sai thì không được miễn thuế và bị xử lý theo quy định của pháp luật.

(3) Thu nhập từ giá trị quyền sử dụng đất của cá nhân được Nhà nước giao đất không phải trả tiền hoặc được giảm tiền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

(4) Thu nhập từ nhận thừa kế, quà tặng là bất động sản (bao gồm cả nhà ở, công trình xây dựng hình thành trong tương lai theo quy định của pháp luật về kinh doanh bất động sản) giữa: Vợ với chồng; cha đẻ, mẹ đẻ với con đẻ; cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi; cha chồng, mẹ chồng với con dâu; cha vợ, mẹ vợ với con rể; ông nội, bà nội với cháu nội; ông ngoại, bà ngoại với cháu ngoại; anh, chị em ruột với nhau.

(5) Thu nhập của hộ gia đình, cá nhân trực tiếp tham gia vào hoạt động sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, làm muối, nuôi trồng, đánh bắt thủy sản chưa qua chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường.

Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp tham gia vào hoạt động sản xuất quy định tại Khoản này phải thỏa mãn các điều kiện:

a) Có quyền sử dụng đất, sử dụng mặt nước hợp pháp để sản xuất và trực tiếp tham gia lao động sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, làm muối, nuôi trồng thủy sản. Đối với đánh bắt thủy sản thì phải có quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng tàu, thuyền, phương tiện đánh bắt và trực tiếp tham gia đánh bắt thủy sản;

b) Thực tế cư trú tại địa phương nơi diễn ra hoạt động sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, làm muối, nuôi trồng thủy sản theo quy định của pháp luật về cư trú.

(6) Thu nhập từ chuyển đổi đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao để sản xuất.

(7) Thu nhập từ lãi tiền gửi tại ngân hàng, tổ chức tín dụng, thu nhập từ lãi hợp đồng bảo hiểm nhân thọ.

(8) Thu nhập từ kiều hối.

(9) Phần tiền lương, tiền công làm việc ban đêm, làm thêm giờ được trả cao hơn so với tiền lương, tiền công làm việc ban ngày, làm trong giờ theo quy định của pháp luật.

(10) Tiền lương hưu do Quỹ bảo hiểm xã hội chi trả theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội, tiền lương hưu nhận được hàng tháng từ Quỹ hưu trí tự nguyện. Cá nhân sinh sống, làm việc tại Việt Nam được miễn thuế đối với tiền lương hưu do nước ngoài trả.

(11) Thu nhập từ học bổng, bao gồm:

a) Học bổng nhận được từ ngân sách nhà nước;

b) Học bổng nhận được từ tổ chức trong nước và ngoài nước (bao gồm cả khoản tiền sinh hoạt phí) theo chương trình hỗ trợ khuyến học của tổ chức đó.

(12) Tiền bồi thường bảo hiểm nhân thọ, phi nhân thọ, bảo hiểm sức khỏe, tiền bồi thường tai nạn lao động, các khoản bồi thường nhà nước và các khoản bồi thường khác theo quy định của pháp luật.

(13) Thu nhập nhận được từ các quỹ từ thiện được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép thành lập hoặc công nhận, hoạt động vì mục đích từ thiện, nhân đạo, không nhằm mục đích thu lợi nhuận.

(14) Thu nhập nhận được từ nguồn viện trợ nước ngoài vì mục đích từ thiện, nhân đạo dưới hình thức Chính phủ và phi Chính phủ được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.

Thủ tục, hồ sơ xác định các khoản thu nhập được miễn thuế thực hiện theo hướng dẫn của Bộ Tài chính tại Thông tư 111/2013/TT-BTC.

6.2.4. Về giảm thuế

Pháp luật về thuế TNCN quy định gỉam thuế cho người nộp thuế gặp khó khăn do thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn, bệnh hiểm nghèo ảnh hưởng đến khả năng nộp thuế, số thuế được giảm tương ứng với mức độ thiệt hại nhưng không vượt quá số thuế phải nộp.

Thủ tục, hồ sơ đề nghị giảm thuế thực hiện theo hướng dẫn của Bộ Tài chính tại Thông tư 111/2013/TT-BTC.

6.2.5. Phương pháp và cách tính thuế đối với cá nhân cư trú

Cá nhân cư trú thực hiện nghĩa vụ thuế trên thu nhập chịu thuế phát sinh trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam (thu nhập toàn cầu).

Pháp luật thuế TNCN quy định rõ thu nhập chịu thuế và thu nhập tính thuế. Thu nhập tính thuế áp vào biểu thuế sẽ tính được số thuế phải nộp. Trong số 10 loại thu nhập chịu thuế TNCN thì thu nhập từ tiền lương, tiền công và thu nhập từ sản xuất kinh doanh thuộc diện tính thuế theo Biểu thuế lũy tiến từng phần, đối với các khoản thu nhập chịu thuế còn lại, việc tính thuế áp dụng theo thuế suất toàn phần tùy theo từng loại thu nhập. Cụ thể như sau:

6.2.5.1. Cách tính thuế đối với thu nhập từ kinh doanh và thu nhập từ tiền lương, tiền công

Số thuế phải nộp được xác định căn cứ vào thu nhập tính thuế và biểu thuế.

Thu nhập tính thuế: được xác định bằng thu nhập chịu thuế trừ đi (-) các khoản giảm trừ: (i) Đóng góp bảo hiểm bắt buộc theo quy định của pháp luật; (ii) Các khoản giảm trừ gia cảnh; và (iii) Các khoản đóng góp vào quỹ từ thiện, quỹ nhân đạo, quỹ khuyến học (nếu có).

Cá nhân vừa có thu nhập từ kinh doanh, vừa có thu nhập từ tiền lương tiền công thì thu nhập tính thuế được xác định bằng tổng thu nhập chịu thuế từ kinh doanh và thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công sau khi đã giảm trừ các khoản được giảm trừ như nêu trên.

a. Xác định thu nhập chịu thuế:

a1. Thu nhập chịu thuế từ kinh doanh

Thu nhập chịu thuế từ kinh doanh được xác định bằng doanh thu trừ các khoản chi phí hợp lý liên quan trực tiếp đến việc tạo ra thu nhập chịu thuế trong kỳ tính thuế. Doanh thu, chi phí để xác định thu nhập chịu thuế được xác định dựa vào sổ sách kế toán theo các nguyên tắc tương tự như quy định về thuế thu nhập doanh nghiệp.

Đối với cá nhân kinh doanh không thực hiện chế độ kế toán hoá đơn, chứng từ nộp thuế theo phương pháp khoán: thu nhập chịu thuế được xác định bằng Doanh thu ấn định nhân với (x) Tỷ lệ thu nhập chịu thuế ấn định. Trong đó, doanh thu ấn định căn cứ vào kê khai của cá nhân kinh doanh, kết quả điều tra của cơ quan thuế và ý kiến tham gia của Hội đồng tư vấn thuế xã, phường.

 – Đối với cá nhân kinh doanh có sổ sách kế toán, hạch toán được doanh thu nhưng không hạch toán, không xác định được chi phí thì thu nhập chịu thuế được xác định bằng Doanh thu nhân với (x) Tỷ lệ thu nhập chịu thuế ấn định. Trong đó, doanh thu để tính thu nhập chịu thuế được xác định theo sổ sách kế toán hoá đơn, chứng từ phù hợp với doanh thu để tính thuế giá trị gia tăng (GTGT).

Tỷ lệ % thu nhập chịu thuế ấn định trên doanh thu để áp dụng đối với 2 trường hợp nêu trên thực hiện theo quy định của Tổng cục Thuế. Căn cứ tỷ lệ này, Cục thuế cấp tỉnh xác định tỷ lệ % cụ thể theo từng lĩnh vực kinh doanh và khu vực địa lý tại địa phương.

Đối với cá nhân kinh doanh thực hiện đầy đủ chế độ kế toán hoá đơn, chứng từ, thu nhập chịu thuế được xác định theo công thức: 

Thu nhập chịu thuế trong kỳ tính thuế

=

Doanh thu để tính thu nhập chịu thuế trong kỳ tính thuế

Chi phí hợp lý liên quan đến việc tạo ra thu nhập trong kỳ tính thuế

+

 Thu nhập chịu thuế khác trong kỳ tính thuế

 Trong đó:

+ Doanh thu và chi phí được xác định theo sổ sách kế toán hoá đơn chứng từ. Trường hợp, cá nhân kinh doanh thuộc đối tượng nộp thuế GTGT thì doanh thu làm căn cứ xác định thu nhập chịu thuế phù hợp với doanh thu tính thuế GTGT.

+ Thu nhập chịu thuế khác là các khoản thu nhập phát sinh trong quá trình kinh doanh như: tiền phạt vi phạm hợp đồng; tiền phạt do chậm thanh toán; tiền lãi ngân hàng, tiền lãi do bán hàng trả chậm, trả góp, tiền lãi do bán TSCĐ, bán phế liệu, phế phẩm.

+ Doanh thu để tính thu nhập chịu thuế từ kinh doanh là toàn bộ tiền bán hàng hoá, tiền gia công, tiền hoa hồng, tiền cung ứng hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong kỳ tính thuế bao gồm cả khoản trợ giá, phụ thu, phụ trội mà cá nhân kinh doanh được hưởng không phân biệt đã thu được tiền hay chưa thu được tiền.

+ Các khoản chi phí hợp lý được trừ để tính thu nhập chịu thuế là các khoản chi phí thực tế phát sinh, có liên quan trực tiếp đến việc tạo ra doanh thu, thu nhập chịu thuế trong kỳ tính thuế và có hoá đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật.

Quy định về thời điểm xác định doanh thu, chi phí và quy định đối với các trường hợp cụ thể được thực hiện theo hướng dẫn tại Thông tư số 111/2013/TT-BTC.

a2. Thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công

Thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công được xác định bằng tổng số tiền lương, tiền công, tiền thù lao, các khoản thu nhập khác có tính chất tiền lương, tiền công mà cá nhân nhận được trong kỳ tính thuế theo hướng dẫn tại Thông tư số 111/2013/TT-BTC.

Thời điểm xác định thu nhập chịu thuế đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công là thời điểm tổ chức, cá nhân trả thu nhập cho đối tượng nộp thuế.

b. Các khoản giảm trừ vào thu nhập chịu thuế, gồm:

(i) Các khoản đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp đối với một số ngành, nghề phải tham gia bảo hiểm bắt buộc, đóng góp Quỹ hưu trí tự nguyện.

Tiền đóng bảo hiểm bắt buộc (bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp đối với một số ngành, nghề phải tham gia bảo hiểm bắt buộc) được trừ ra khỏi thu nhập chịu thuế.

Tiền đóng vào Quỹ hưu trí tự nguyện được trừ ra khỏi thu nhập chịu thuế theo thực tế phát sinh nhưng tối đa không quá một triệu đồng/tháng (12 triệu đồng/năm). Khoản đóng góp của năm nào được trừ vào thu nhập chịu thuế của năm đó.

 (ii) Các khoản giảm trừ gia cảnh (GTGC);

GTGC là số tiền được trừ vào thu nhập chịu thuế trước khi tính thuế đối với thu nhập từ kinh doanh, thu nhập từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú. Trường hợp cá nhân cư trú vừa có thu nhập từ kinh doanh, vừa có thu nhập từ tiền lương, tiền công thì GTGT được tính trừ một lần vào tổng thu nhập chịu thuế của 2 loại thu nhập này.

Mức giảm trừ gia cảnh gồm 2 phần: (i) giảm trừ cho cá nhân người nộp thuế là 9 triệu đồng/tháng[4], 108 triệu đồng/năm; (ii) giảm trừ cho mỗi người phụ thuộc mà người nộp thuế có trách nhiệm nuôi dưỡng là 3,6 triệu đồng/tháng kể từ tháng phát sinh nghĩa vụ nuôi dưỡng.

Nguyên tắc tính GTGC đối với người phụ thuộc:

– Chỉ được tính GTGC cho người phụ thuộc nếu cá nhân đã đăng ký thuế và được cấp mã số thuế.

– Mỗi người phụ thuộc chỉ được tính GTGC một lần vào một cá nhân nộp thuế trong năm tính thuế, trách nhiệm nuôi dưỡng phát sinh tháng nào thì được tính giảm trừ tháng đó. Nhiều cá nhân có chung người phụ thuộc phải nuôi dưỡng thì phải tự thoả thuận để đăng ký GTGC vào một cá nhân nộp thuế.

– Cá nhân nộp thuế có trách nhiệm kê khai số người phụ thuộc được giảm trừ và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính trung thực trong kê khai.

– Người phụ thuộc bao gồm nhiều đối tượng, thủ tục giấy tờ chứng minh với mỗi loại đối tượng được hướng dẫn cụ thể tại Thông tư số 111/2013/TT-BTC. Người phụ thuộc được tính GTGC phải bảo đảm điều kiện: không có thu nhập hoặc có mức thu nhập bình quân tháng trong năm từ tất cả các nguồn thu nhập không vượt quá 1.000.000 đồng.

– Người nộp thuế chỉ phải nộp hồ sơ chứng minh cho một người phụ thuộc một lần trong suốt thời gian được tính giảm trừ kể cả trường hợp thay đổi nơi làm việc, thay đổi nơi kinh doanh. Trường hợp có nhiều người phụ thuộc nhưng kê khai tạm giảm trừ không hết vào một loại thu nhập thì được tạm giảm trừ vào cả hai loại thu nhập.

(iii) Các khoản giảm trừ đóng góp từ thiện, nhân đạo, khuyến học, bao gồm: Khoản đóng góp vào các tổ chức, cơ sở chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, người tàn tật, người già không nơi nương tựa; khoản đóng góp vào các quỹ từ thiện, quỹ nhân đạo, quỹ khuyến học.

Khoản đóng góp từ thiện, nhân đạo, khuyến học phát sinh năm nào được giảm trừ vào thu nhập chịu thuế của năm đó, mức giảm trừ tối đa không vượt quá thu nhập tính thuế từ tiền lương, tiền công và thu nhập từ kinh doanh của năm phát sinh đóng góp từ thiện nhân đạo.

c. Biểu thuế lũy tiến từng phần và cách tính thuế:

c1. Biểu thuế lũy tiến từng phần: áp dụng đối với cá nhân cư trú có thu nhập chịu thuế từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công, cụ thể như sau:

Thu nhập tính thuế làm căn cứ áp dụng biểu thuế là thu nhập chịu thuế từ kinh doanh và từ tiền lương, tiền công sau khi đã trừ đi các khoản được giảm trừ (GTGC, các khoản đóng bảo hiểm bắt buộc, khoản đóng góp từ thiện, nhân đạo, khuyến học).

Bảng 6.1. Biểu thuế luỹ tiến từng phần

Bậc thuế

Thu nhập tính thuế/năm (triệu đồng)

Thu nhập tính thuế/tháng (triệu đồng)

Thuế suất (%)

1

Đến 60

Đến 5

5

2

Trên 60 đến 120

Trên 5 đến 10

10

3

Trên 120 đến 216

Trên 10 đến 18

15

4

Trên 216 đến 384

Trên 18 đến 32

20

5

Trên 384 đến 624

Trên 32 đến 52

25

6

Trên 624 đến 960

Trên 52 đến 80

30

7

Trên 960

Trên 80

35

 c2. Cách tính thuế:

Số thuế phải nộp của cá nhân là tổng số thuế tính theo từng bậc thu nhập tính thuế với mức thuế suất tương ứng trong biểu thuế. Trong đó, số thuế tính theo từng bậc thu nhập được xác định bằng thu nhập tính thuế của bậc nhân với (x) thuế suất tương ứng của bậc thu nhập đó.

Ví dụ: Ông Nguyễn Văn A có thu nhập từ tiền lương, tiền công trong tháng là 99 triệu đồng (đã trừ các khoản bảo hiểm bắt buộc), ông A có 2 người con dưới 18 tuổi phải nuôi dưỡng. Trong tháng, ông A không phát sinh khoản đóng góp từ thiện, nhân đạo, khuyến học. Vậy, số thuế TNCN tạm nộp trong tháng của ông A được tính như sau:

– Tính các khoản giảm trừ:  Trong tháng, ngoài tiền đóng bảo hiểm bắt buộc đã được trừ, ông A còn được trừ khoản giảm trừ gia cảnh:

+ Mức trừ cho bản thân: 9 tr./tháng

+ Mức trừ cho 2 con: 3,6 tr.  x 2 người = 7,2 tr.đ).

Tổng số tiền được giảm trừ: 16,2 tr.đ/tháng

– Xác định thu nhập tính thuế: 99 tr.đ – 16,2 tr.đ= 82,8 tr.đ

–  Số thuế phải nộp được tính là:

+  Bậc 1: 5 tr.  x 5% = 0,25 tr.đ

+  Bậc 2: (10 tr. – 5 tr.) x 10% = 0,5 tr.đ

+ Bậc 3: (18 tr. – 10 tr.) x 15% = 1,2 tr.đ

+ Bậc 4: (32 tr. – 18 tr.) x 20% = 2,8 tr.đ

+ Bậc 5: (52 tr. – 32 tr.) x 25% = 5 tr.đ

+ Bậc 6: (80 tr. – 52 tr.) x 30% = 8,4 tr.đ

+ Bậc 7: (82,8 tr. – 80 tr.) x 35% = 0,98 tr.đ

Như vậy, với mức thu nhập trong tháng là 99 triệu đồng, tổng số thuế TNCN tạm nộp trong tháng của ông A theo biểu thuế luỹ tiến từng phần là:

             (0,25 + 0,5 + 1,2 + 2,8 + 5 + 8,4 + 0,98) = 19,13 tr. đ

6.2.5.2. Tính thuế đối với các khoản thu nhập khác (ngoài thu nhập từ kinh doanh và tiền lương, tiền công) của cá nhân cư trú

a. Tính thuế đối với thu nhập từ đầu tư vốn:

Căn cứ tính thuế đối với thu nhập từ đầu tư vốn là thu nhập tính thuế và thuế suất.

– Thu nhập tính thuế từ đầu tư vốn là thu nhập chịu thuế mà cá nhân nhận được từ đầu tư vốn dưới các hình thức, bao gồm:

+ Tiền lãi từ việc cho cơ sở sản xuất, kinh doanh vay vốn (trừ lãi tiền gửi nhận được từ ngân hàng, tổ chức tín dụng thuộc thu nhập miễn thuế);

+ Cổ tức nhận được từ việc mua cổ phần hoặc góp vốn vào các cơ sở kinh doanh dưới các hình thức;

+ Thu nhập nhận được từ lãi trái phiếu, tín phiếu và các giấy tờ có giá khác do các tổ chức trong nước phát hành (trừ các khoản lãi tiền gửi, lãi trái phiếu Chính phủ thuộc thu nhập miễn thuế);

+ Thu nhập nhận được từ đầu tư vốn dưới các hình thức khác kể cả trường hợp góp vốn đầu tư bằng hiện vật, bằng danh tiếng, bằng quyền sử dụng đất, bằng phát minh, sáng chế.

+ Phần tăng thêm của giá trị vốn góp nhận được khi giải thể doanh nghiệp, chuyển đổi mô hình hoạt động, sáp nhập, hợp nhất doanh nghiệp hoặc khi rút vốn (không bao gồm vốn gốc được nhận lại).

Thời điểm xác định thu nhập tính thuế đối với thu nhập từ đầu tư vốn là thời điểm tổ chức, cá nhân trả thu nhập cho đối tượng nộp thuế.

– Thuế suất đối với thu nhập từ đầu tư vốn là 5%.

b. Tính thuế đối với thu nhập từ chuyển nhượng vốn

(i) Đối với chuyển nhượng phần vốn góp:

Căn cứ tính thuế đối với thu nhập từ chuyển nhượng phần vốn góp là thu nhập tính thuế và thuế suất.

– Thu nhập tính thuế từ chuyển nhượng phần vốn góp là thu nhập chịu thuế được xác định bằng giá chuyển nhượng trừ đi (-) giá mua của phần vốn góp và các chi phí hợp lý liên quan đến việc tạo ra thu nhập từ chuyển nhượng vốn.

Trong đó:

Giá chuyển nhượng là số tiền mà cá nhân nhận được theo hợp đồng chuyển nhượng vốn. Nếu hợp đồng chuyển nhượng không quy định giá thanh toán hoặc giá thanh toán trên hợp đồng không phù hợp với giá thị trường thì cơ quan thuế có quyền ấn định giá chuyển nhượng theo qui định của Luật Quản lý thuế và các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật.

Giá mua của phần vốn góp được xác định đối với từng trường hợp:

+ Nếu là chuyển nhượng vốn góp thành lập doanh nghiệp là trị giá phần vốn tại thời điểm góp vốn, được xác định trên cơ sở sổ sách kế toán, hoá đơn, chứng từ.

+ Nếu là phần vốn do mua lại thì giá mua là giá trị phần vốn đó tại thời điểm mua, được xác định căn cứ vào hợp đồng mua lại phần vốn góp.

Các chi phí liên quan được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế của hoạt động chuyển nhượng vốn gồm những chi phí hợp lý thực tế phát sinh liên quan đến việc tạo ra thu nhập từ chuyển nhượng vốn, có hoá đơn, chứng từ hợp lệ theo chế độ quy định như: Chi phí để làm các thủ tục pháp lý cần thiết cho việc chuyển nhượng; Các khoản phí và lệ phí người chuyển nhượng nộp ngân sách khi làm thủ tục chuyển nhượng; Các khoản chi phí khác có liên quan trực tiếp đến việc chuyển nhượng vốn có hoá đơn, chứng từ hợp pháp.

Thời điểm xác định thu nhập tính thuế là thời điểm giao dịch chuyển nhượng vốn hoàn thành theo quy định của pháp luật (các bên tham gia chuyển nhượng làm thủ tục khai báo, chuyển quyền sở hữu với cơ quan cấp đăng ký kinh doanh hoặc doanh nghiệp quản lý vốn góp.

Thuế suất đối với thu nhập từ chuyển nhượng vốn góp là 20%.

 (ii) Đối với chuyển nhượng chứng khoán

Căn cứ tính thuế đối với hoạt động chuyển nhượng chứng khoán là thu nhập tính thuế và thuế suất.

– Thu nhập tính thuế từ chuyển nhượng chứng khoán được xác định bằng giá bán chứng khoán trừ giá mua, các chi phí liên quan đến việc chuyển nhượng.

Giá bán chứng khoán, giá mua chứng khoán được xác định đối với từng loại chứng khoán (niêm yết, chưa niêm yết,…) theo hướng dẫn tại Thông tư số 111/2013/TT-BTC.

Thời điểm xác định thu nhập tính thuế:

– Đối với chứng khoán niêm yết và chứng khoán chưa niêm yết nhưng đã thực hiện đăng ký giao dịch tại Trung tâm giao dịch chứng khoán là thời điểm Sở giao dịch chứng khoán, Trung tâm giao dịch công bố giá thực hiện.

– Đối với chứng khoán không thuộc 2 trường hợp trên là thời điểm hợp đồng chuyển nhượng có hiệu lực, nếu không có hợp đồng chuyển nhượng thì thời điểm tính thuế là thời điểm đăng ký chuyển tên sở hữu chứng khoán.

– Thuế suất và cách tính thuế: Cá nhân chuyển nhượng chứng khoán thực hiện nộp thuế theo một trong 02 cách: (i) Thuế suất 20% trên thu nhập tính thuế; hoặc (ii) nộp thuế 0,1% trên giá chuyển nhượng chứng khoán từng lần.

Cá nhân chuyển nhượng chứng khoán đăng ký nộp thuế theo thuế suất 20% trên thu nhập thì cần đáp ứng các yêu cầu:

+ Thực hiện đăng ký thuế, có mã số thuế; thực hiện chế độ kế toán hoá đơn chứng từ, xác định được thu nhập tính thuế từ việc chuyển nhượng chứng khoán theo quy định.

+ Việc áp dụng thuế suất 20% phải tính trên tổng thu nhập từ các loại chứng khoán đã giao dịch trong năm dương lịch.

Cá nhân chuyển nhượng chứng khoán đã đăng ký nộp thuế theo thuế suất 20% vẫn phải tạm nộp thuế theo thuế suất 0,1% trên giá chuyển nhượng chứng khoán từng lần. Số thuế tạm nộp sẽ được trừ khi xác định số thuế phải nộp khi quyết toán thuế năm.

c. Tính thuế đối với thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản (BĐS)

Căn cứ tính thuế là thu nhập tính thuế và thuế suất.

Thu nhập tính thuế được xác định bằng giá chuyển nhượng BĐS trừ đi giá vốn của BĐS đó và các chi phí hợp lý có liên quan.

Trong đó:

+ Giá chuyển nhượng là giá thực tế ghi trên hợp đồng chuyển nhượng tại thời điểm chuyển nhượng. Trường hợp không xác định được giá thực tế hoặc giá ghi trên hợp đồng chuyển nhượng thấp hơn giá thị trường tại thời điểm chuyển nhượng thì giá chuyển nhượng được xác định như sau:

Phần giá trị đất chuyển nhượng được xác định căn cứ theo bảng giá đất do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quy định tại thời điểm chuyển nhượng.

Phần giá trị nhà, kết cấu hạ tầng và công trình kiến trúc gắn liền với đất, được xác định căn cứ theo quy định của Bộ Xây dựng về phân loại giá trị nhà và tiêu chuẩn, định mức xây dựng cơ bản và giá trị còn lại thực tế của công trình trên đất. Trường hợp UBND cấp tỉnh có ban hành bảng giá tính lệ phí trước bạ thì phần giá trị nhà, kết cấu hạ tầng trên đất được tính theo bảng giá lệ phí trước bạ.

+ Giá vốn (giá mua) được xác định căn cứ vào giá ghi trên hợp đồng chuyển nhượng tại thời điểm mua. 

+ Chi phí liên quan được trừ khi xác định thu nhập là các khoản chi phí thực tế phát sinh có liên quan đến hoạt động chuyển nhượng BĐS hoá đơn, chứng từ theo chế độ quy định, bao gồm: Các loại phí, lệ phí theo quy định của pháp luật liên quan đến cấp quyền sử dụng đất người chuyển nhượng đã nộp ngân sách; Chi phí cải tạo đất, san lấp mặt bằng; Chi phí xây dựng, cải tạo, nâng cấp, sửa chữa nhà, kết cấu hạ tầng và công trình kiến trúc trên đất; Các chi phí khác liên quan trực tiếp đến việc chuyển nhượng BĐS như: chi phí để làm các thủ tục pháp lý cho việc chuyển nhượng, chi phí thuê đo đạc…

Trường hợp chuyển nhượng BĐS là đồng sở hữu, thì nghĩa vụ thuế sẽ được tính riêng cho từng cá nhân. Thu nhập tính thuế của từng cá nhân được tính trên cơ sở tổng thu nhập từ chuyển nhượng BĐS và tỷ lệ phân chia thu nhập giữa các cá nhân đồng sở hữu (xác định căn cứ vào tài liệu hợp pháp như: thoả thuận góp vốn ban đầu, di chúc hoặc quyết định phân chia của toà án,…). Trường hợp không có tài liệu hợp pháp thì tỷ lệ phân chia thu nhập được xác định bình quân.

Thời điểm xác định thu nhập tính thuế đối với chuyển nhượng BĐS là thời điểm hợp đồng chuyển nhượng có hiệu lực theo quy định của pháp luật.

– Thuế suất và cách tính thuế:

Thuế suất đối với thu nhập từ chuyển nhượng BĐS là 25% trên thu nhập tính thuế. Cách tính thuế như sau: 

Thuế TNCN phải nộp

=

TN tính thuế

x

Thuế suất 25%

 Trường hợp người nộp thuế không xác định hoặc không có hồ sơ để xác định được giá vốn và các chi phí liên quan làm cơ sở xác định thu nhập tính thuế thì áp dụng thuế suất 2% trên giá chuyển nhượng. Cách tính thuế như sau: 

Thuế TNCN phải nộp

=

Giá chuyển nhượng

x

Thuế suất 2%

 d. Tính thuế đối với thu nhập từ bản quyền:

Căn cứ tính thuế là thu nhập tính thuế và thuế suất.

Thu nhập tính thuế từ tiền bản quyền là phần thu nhập vượt trên 10 triệu đồng theo hợp đồng chuyển nhượng, không phụ thuộc vào số lần thanh toán hoặc số lần nhận tiền mà cá nhân nhận được khi chuyển giao, chuyển quyển sử dụng các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghiệp.

Trường hợp cùng là một đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ nhưng hợp đồng chuyển giao, chuyển quyền sử dụng thực hiện làm nhiều hợp đồng với cùng một đối tượng sử dụng thì thu nhập tính thuế là phần thu nhập vượt trên 10 triệu đồng tính trên tổng các hợp đồng chuyển giao.

Trường hợp đối tượng chuyển giao, chuyển quyền là đồng sở hữu thì thu nhập tính thuế được phân chia cho từng cá nhân sở hữu (căn cứ theo giấy chứng nhận quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng của cơ quan nhà nước có thẩm quyền).

Thời điểm xác định thu nhập tính thuế từ bản quyền là thời điểm trả tiền bản quyền.

– Thuế suất đối với thu nhập từ bản quyền là 5% trên thu nhập tính thuế.

đ. Tính thuế đối với thu nhập từ nhượng quyền thương mại

Căn cứ tính thuế đối với thu nhập từ nhượng quyền thương mại là thu nhập tính thuế và thuế suất.

Thu nhập tính thuế từ nhượng quyền thương mại là phần thu nhập vượt trên 10 triệu đồng theo hợp đồng nhượng quyền thương mại, không phụ thuộc vào số lần thanh toán hoặc số lần nhận tiền mà người nộp thuế nhận được.

Trường hợp cùng là một đối tượng của quyền thương mại nhưng việc chuyển nhượng thực hiện thành nhiều hợp đồng thì thu nhập tính thuế là phần vượt trên 10 triệu đồng tính trên tổng các hợp đồng nhượng quyền thương mại.

Thời điểm xác định thu nhập tính thuế từ nhượng quyền thương mại là thời điểm thanh toán tiền nhượng quyền thương mại giữa bên nhận quyền thương mại và bên nhượng quyền thương mại.

– Thuế suất đối với thu nhập từ nhượng quyền thương mại là 5%.

e. Tính thuế đối với thu nhập từ  trúng thưởng

– Thu nhập tính thuế từ trúng thưởng là phần giá trị giải thưởng vượt trên 10 triệu đồng mà cá nhân nhận được theo từng lần trúng thưởng không phụ thuộc vào số lần nhận tiền thưởng.

Trường hợp một giải thưởng nhưng có nhiều người trúng giải thì thu nhập tính thuế được phân chia cho từng người nhận giải thưởng. Người được trúng giải phải xuất trình các căn cứ pháp lý chứng minh. Trường hợp không có căn cứ pháp lý chứng minh thì thu nhập trúng thưởng tính cho một cá nhân.

Trường hợp cá nhân trúng nhiều giải thưởng trong một cuộc chơi thì thu nhập tính thuế được tính trên tổng giá trị của các giải thưởng. Đối với trúng thưởng bằng hiện vật cần quy đổi thành tiền theo giá thị trường tại thời điểm nhận (tính thuế trên phần thu nhập vượt trên 10 triệu đồng).

Thời điểm xác định thu nhập tính thuế đối với thu nhập trúng thưởng là thời điểm tổ chức, cá nhân trả thưởng cho người trúng thưởng.

Thuế suất đối với thu nhập từ trúng thưởng là 10%.

f. Tính thuế đối với TN từ thừa kế, quà tặng

Thu nhập tính thuế từ thừa kế, quà tặng là phần giá trị tài sản nhận thừa kế, quà tặng vượt trên 10 triệu đồng mỗi lần nhận. Giá trị tài sản nhận thừa kế, quà tặng được xác định đối với từng trường hợp, cụ thể như sau:

Đối với trường hợp nhận thừa kế, quà tặng là quyền sử dụng đất thì giá trị xác định theo bảng giá đất do UBND cấp tỉnh quy định tại thời điểm cá nhân hưởng thừa kế làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất

Đối với trường hợp nhận thừa kế, quà tặng là bất động sản (nhà và công trình kiến trúc trên đất) thì giá trị được xác định căn cứ vào quy định của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về phân loại giá trị nhà; quy định tiêu chuẩn, định mức xây dựng cơ bản do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền ban hành; giá trị còn lại của nhà, công trình kiến trúc. Trường hợp không xác định được theo quy định trên thì căn cứ vào giá tính lệ phí trước bạ do UBND cấp tỉnh quy định.

Đối với trường hợp nhận thừa kế, quà tặng là ô tô, xe gắn máy, tàu thuyền,…: giá trị tài sản được xác định trên cơ sở bảng giá tính lệ phí trước bạ do UBND cấp tỉnh quy định tại thời điểm cá nhân nhận được thừa kế, quà tặng.

Đối với trường hợp nhận thừa kế, quà tặng là vốn góp trong các tổ chức kinh tế, cơ sở kinh doanh: giá trị của quà tặng, thừa kế là giá trị của phần vốn góp được xác định căn cứ vào sổ sách kế toán, hoá đơn, chứng từ tại thời điểm nhận thừa kế, quà tặng. Trường hợp không có sổ sách kế toán, hoá đơn, chứng từ làm căn cứ xác định thì giá trị phần vốn góp được xác định theo giá thị trường tại thời điểm nhận.

Đối với trường hợp nhận thừa kế, quà tặng là chứng khoán: Thu nhập để tính thuế là giá trị chứng khoán tại thời điểm chuyển quyền sở hữu.

Thời điểm xác định thu nhập tính thuế đối với thu nhập từ thừa kế là thời điểm người nộp thuế nhận thừa kế làm thủ tục chuyển quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng tài sản; đối với thu nhập từ nhận quà tặng, thời điểm xác định thu nhập tính thuế là thời điểm tổ chức, cá nhân tặng cho người nộp thuế. Trường hợp nhận quà tặng từ nước ngoài thì thời điểm xác định thu nhập tính thuế là thời điểm người nộp thuế nhận được quà tặng.

Thuế suất đối với thu nhập từ nhận thừa kế, quà tặng được áp dụng theo biểu thuế toàn phần với thuế suất là 10%.

6.2.6. Phương pháp và cách tính thuế đối với cá nhân không cư trú

Cá nhân không cư trú thực hiện nghĩa vụ thuế trên phần thu nhập chịu thuế phát sinh trong lãnh thổ Việt Nam.

Thuế suất và cách tính thuế đối với từng loại thu nhập cụ thể như sau:

6.2.6.1. Thuế đối với thu nhập từ kinh doanh:

Thuế đối với thu nhập từ kinh doanh của cá nhân không cư trú được xác định bằng doanh thu từ hoạt động sản xuất, kinh doanh nhân (x) với thuế suất.

Doanh thu là toàn bộ số tiền phát sinh từ việc cung cấp hàng hoá, dịch vụ bao gồm cả chi phí do bên mua hàng hoá, dịch vụ trả thay cho cá nhân không cư trú mà không được hoàn trả.

Doanh thu từ hoạt động kinh doanh của cá nhân không cư trú được xác định tương tự như doanh thu làm căn cứ tính thuế từ hoạt động kinh doanh của cá nhân cư trú. Trường hợp thoả thuận tại hợp đồng không bao gồm thuế TNCN thì doanh thu tính thuế phải quy đổi là toàn bộ số tiền mà cá nhân không cư trú nhận được dưới bất kỳ hình thức nào từ việc cung cấp hàng hoá, dịch vụ tại Việt Nam, không phụ thuộc vào địa điểm tiến hành các hoạt động kinh doanh.

Thuế suất đối với TN từ kinh doanh của cá nhân không cư trú quy định đối với từng lĩnh vực, ngành nghề sản xuất, kinh doanh như sau:

+  Thuế suất 1% đối với hoạt động kinh doanh hàng hoá;

+ Thuế suất 5% đối với hoạt động kinh doanh dịch vụ;

+ Thuế suất 2% đối với hoạt động sản xuất, xây dựng, vận tải và hoạt động kinh doanh khác.

Trường hợp cá nhân không cư trú có doanh thu từ nhiều lĩnh vực, ngành nghề SXKD khác nhau nhưng không tách riêng được doanh thu của từng lĩnh vực, ngành nghề thì áp dụng theo mức thuế suất cao nhất đối với lĩnh vực, ngành nghề thực tế hoạt động trên toàn bộ doanh thu.

6..2.6.2. Thuế đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công

Thuế đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công của cá nhân không cư trú được xác định bằng thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công nhân (x) với thuế suất 20%.

Thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công là tổng số tiền lương, tiền công và các khoản thu nhập có tính chất tiền lương, tiền công mà cá nhân không cư trú nhận được bằng tiền và không bằng tiền do thực hiện công việc tại Việt Nam không phân biệt nơi trả thu nhập. Nguyên tắc, phương pháp xác định thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công của cá nhân không cư trú được xác định như đối với cá nhân cư trú.

6..2.6.3. Thuế đối với thu nhập từ đầu tư vốn

Thuế đối với thu nhập từ đầu tư vốn của cá nhân không cư trú được xác định bằng tổng số tiền mà cá nhân không cư trú nhận được từ việc đầu tư vốn vào tổ chức, cá nhân tại Việt Nam nhân (x) với thuế suất 5%.

Thời điểm xác định thu nhập chịu thuế từ đầu tư vốn của cá nhân không cư trú được xác định tương tự như đối với cá nhân cư trú.

6..2.6.4. Thuế đối với thu nhập từ chuyển nhượng vốn

Thuế đối với thu nhập từ chuyển nhượng vốn (bao gồm cả chuyển nhượng chứng khoán) của cá nhân không cư trú được xác định bằng tổng số tiền mà cá nhân không cư trú nhận được từ việc chuyển nhượng phần vốn tại các tổ chức, cá nhân Việt Nam nhân (x) với thuế suất 0,1%, không phân biệt việc chuyển nhượng được thực hiện tại Việt Nam hay tại nước ngoài.

Tổng số tiền mà cá nhân không cư trú nhận được từ việc chuyển nhượng phần vốn tại các tổ chức, cá nhân Việt Nam là tổng giá trị chuyển nhượng vốn không trừ bất kỳ khoản chi phí nào kể cả giá vốn.

Tổng số tiền chuyển nhượng đối với từng trường hợp cụ thể như sau:

– Xác định căn cứ vào giá trị ghi trên hợp đồng chuyển nhượng. Nếu hợp đồng chuyển nhượng không quy định giá thanh toán hoặc giá thanh toán trên hợp đồng không phù hợp với giá thị trường thì cơ quan thuế có quyền ấn định giá chuyển nhượng theo qui định của Luật Quản lý thuế và các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật. 

– Chuyển nhượng chứng khoán thì xác định căn cứ vào giá chứng khoán:

+ Đối với chứng khoán niêm yết và chứng khoán chưa niêm yết nhưng đã đăng ký giao dịch tại trung tâm giao dịch chứng khoán thì giá bán chứng khoán là giá chuyển nhượng thực tế trên thị trường tại thời điểm bán. Giá thị trường tại thời điểm bán là giá khớp lệnh tại Sở giao dịch chứng khoán hoặc theo quy định của Trung tâm giao dịch chứng khoán tại ngày chuyển nhượng.

+ Đối với chứng khoán không thuộc các trường hợp nêu trên: Giá bán chứng khoán là giá chuyển nhượng ghi trên hợp đồng chuyển nhượng. Trường hợp hợp đồng chuyển nhượng không quy định giá chuyển nhượng hoặc giá chuyển nhượng trên hợp đồng không phù hợp với giá thị trường thì cơ quan thuế có quyền ấn định giá chuyển nhượng.

Thời điểm xác định thu nhập tính thuế đối với chuyển nhượng vốn của cá nhân không cư trú là thời điểm hợp đồng chuyển nhượng vốn có hiệu lực hoặc thời điểm hoàn tất việc chuyển tên sở hữu (đối với chuyển nhượng phần vốn góp; chứng khoán chưa niêm yết và chưa đăng ký giao dịch) hoặc thời điểm Trung tâm giao dịch chứng khoán hoặc Sở giao dịch chứng khoán công bố giá thực hiện (đối với chứng khoán niêm yết và chứng khoán chưa niêm yết nhưng đã đăng ký giao dịch).

6..2.6.5. Thuế đối với thu nhập từ chuyển nhượng BĐS

Thuế đối với chuyển nhượng BĐS tại Việt Nam của cá nhân không cư trú được xác định bằng giá chuyển nhượng BĐS nhân (x) với thuế suất 2%.

Giá chuyển nhượng BĐS của cá nhân không cư trú là toàn bộ số tiền mà cá nhân không cư trú nhận được từ việc chuyển nhượng BĐS không trừ bất kỳ khoản chi phí nào kể cả giá vốn. Đối với các trường hợp cụ thể được xác định như cách xác định giá chuyển nhượng BĐS của cá nhân cư trú.

6.2.6.6. Thuế đối với thu nhập từ bản quyền

Thuế đối với thu nhập từ bản quyền của cá nhân không cư trú được xác định bằng phần thu nhập vượt trên 10 triệu đồng theo từng hợp đồng chuyển giao, chuyển quyền sử dụng các đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ tại Việt Nam nhân với thuế suất 5%.

Thời điểm xác định thu nhập từ bản quyền là thời điểm tổ chức, cá nhân trả thu nhập từ chuyển bản quyền cho đối tượng nộp thuế là cá nhân không cư trú.

6.2.6.7. Thuế đối với thu nhập từ nhượng quyền thương mại

Thuế đối với thu nhập từ nhượng quyền thương mại của cá nhân không cư trú được xác định bằng phần thu nhập vượt trên 10 triệu đồng theo từng hợp đồng nhượng quyền thương mại tại Việt Nam nhân với thuế suất 5%. Thời điểm xác định thu nhập là thời điểm cá nhân không cư trú nhận được thu nhập từ việc nhượng quyền thương mại.

 6.2.6.8. Thuế đối với thu nhập từ từ trúng thưởng, từ thừa kế, quà tặng của cá nhân không cư trú được xác định bằng thu nhập chịu thuế nhân với (x) thuế suất 10%.      

Thu nhập chịu thuế từ trúng thưởng của cá nhân không cư trú là phần giá trị giải thưởng vượt trên 10 triệu đồng theo từng lần trúng thưởng tại Việt Nam.

Thu nhập chịu thuế từ nhận thừa kế, quà tặng của cá nhân không cư trú là phần giá trị tài sản thừa kế, quà tặng vượt trên 10 triệu đồng theo từng lần phát sinh thu nhập nhận được tại Việt Nam.

Thời điểm xác định thu nhập tính thuế đối với trúng thưởng là thời điểm tổ chức, cá nhân ở Việt Nam trả tiền thưởng cho cá nhân không cư trú. Đối với thu nhập từ thừa kế thì tính theo thời điểm cá nhân nhận thừa kế làm thủ tục chuyển quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng tài sản. Đối với quà tặng, xác định thu nhập tính thuế theo thời điểm cá nhân nhận quà tặng làm thủ tục chuyển quyền sở hữu/sử dụng tài sản.

 6.2.7. Đăng ký, kê khai, nộp thuế, quyết toán thuế

6.2.7.1. Đăng ký thuế

a. Đối tượng phải đăng ký thuế bao gồm:

 – Mọi tổ chức, cá nhân trả thu nhập cho cá nhân thực hiện đăng ký thuế theo hướng dẫn tại Thông tư số 156/2013/TT-BTC của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Luật quản lý thuế về việc đăng ký thuế.

– Mọi cá nhân có thu nhập chịu thuế, bao gồm:

+ Cá nhân có thu nhập từ SXKD, bao gồm cả cá nhân hành nghề độc lập; cá nhân, hộ gia đình sản xuất nông nghiệp không thuộc đối tượng miễn thuế TNCN. Cá nhân có thu nhập từ SXKD thực hiện đăng ký thuế thu nhập cá nhân đồng thời với việc đăng ký các loại thuế khác.

+ Cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công.

+ Các cá nhân có thu nhập chịu thuế khác (nếu phát sinh thường xuyên).

 b. Hồ sơ đăng ký thuế

 Thực hiện theo quy định tại Thông tư số 156/2013/TT-BTC của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Luật quản lý thuế về việc đăng ký thuế và quy định tại Thông tư số 111/2013/TT-BTC của Bộ Tài chính.

 6.2.7.2. Khấu trừ thuế, khai thuế, nộp thuế, quyết toán thuế

 Việc khấu trừ thuế, khai thuế, nộp thuế, quyết toán thuế TNCN như sau:

a. Khấu trừ thuế, các loại thu nhập phải khấu trừ thuế:

Khấu trừ thuế là việc tổ chức, cá nhân trả thu nhập thực hiện tính trừ số thuế phải nộp vào thu nhập của người nộp thuế trước khi trả thu nhập.

Các loại thu nhập phải khấu trừ thuế, gồm:

– Thu nhập của cá nhân không cư trú, bao gồm cả trường hợp không hiện diện tại Việt Nam;

– Thu nhập từ tiền lương, tiền công, tiền thù lao, kể cả tiền thù lao từ hoạt động môi giới;

– Thu nhập của cá nhân từ hoạt động đại lý bảo hiểm, đại lý xổ số, bán hàng đa cấp;

– Thu nhập từ đầu tư vốn;

– Thu nhập từ chuyển nhượng vốn của cá nhân không cư trú, chuyển nhượng chứng khoán;

– Thu nhập từ trúng thưởng;

– Thu nhập từ bản quyền;

– Thu nhập từ nhượng quyền thương mại.

Các trường hợp khấu trừ thuế cụ thể, mức và phương pháp khấu trừ thuế thực hiện theo hướng dẫn tại Thông tư số 111/2013/TT-BTC của Bộ Tài chính.

b. Các trường hợp không thực hiện khấu trừ thuế (người nộp thuế trực tiếp khai thuế, nộp thuế với cơ quan Thuế), gồm:

– Thu nhập từ kinh doanh của cá nhân cư trú;

– Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản;

– Thu nhập từ chuyển nhượng vốn góp của cá nhân cư trú;

– Thu nhập từ nhận thừa kế, quà tặng của cá nhân.

6.2.7.3. Khai thuế, nộp thuế thu nhập cá nhân

Tổ chức, cá nhân trả thu nhập thực hiện khấu trừ thuế và cá nhân có thu nhập chịu thuế theo quy định của Luật thuế thu nhập cá nhân và Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của Luật thuế thu nhập cá nhân có trách nhiệm thực hiện khai thuế, nộp thuế, quyết toán thuế như sau:

a. Khai thuế, nộp thuế theo tháng áp dụng đối với tổ chức, cá nhân trả thu nhập có thực hiện khấu trừ thuế đối với các khoản thu nhập quy định tại Khoản 2 Điều 28 Nghị định này mà tổng số thuế thu nhập cá nhân đã khấu trừ hàng tháng theo từng loại tờ khai từ 50 triệu đồng trở lên, trừ trường hợp là đối tượng khai, nộp thuế giá trị gia tăng theo quý.

b. Khai thuế, nộp thuế theo quý áp dụng đối với:

– Tổ chức, cá nhân trả thu nhập có thực hiện khấu trừ thuế đối với các khoản thu nhập thuộc diện khấu trừ thuế nhưng không thuộc diện khai thuế, nộp thuế theo tháng;

– Cá nhân, nhóm cá nhân kinh doanh;

– Thu nhập từ tiền lương, tiền công được trả từ nước ngoài hoặc do các tổ chức quốc tế, Đại sứ quán, Lãnh sự quán tại Việt Nam trả nhưng chưa thực hiện khấu trừ thuế.

c. Khai, nộp thuế theo từng lần phát sinh áp dụng đối với:

– Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản;

– Thu nhập từ chuyển nhượng vốn của cá nhân cư trú;

– Thu nhập từ nhận thừa kế, quà tặng;

– Thu nhập phát sinh từ hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hoá, dịch vụ của cá nhân, nhóm cá nhân kinh doanh được cơ quan thuế cấp hoá đơn lẻ;

– Thu nhập phát sinh tại nước ngoài của cá nhân cư trú, trừ thu nhập từ tiền lương, tiền công;

– Thu nhập phát sinh tại Việt Nam nhưng nhận thu nhập tại nước ngoài của cá nhân không cư trú, trừ thu nhập từ tiền lương, tiền công.

d. Khai thuế, nộp thuế theo năm: áp dụng đối với cá nhân, nhóm cá nhân kinh doanh nộp thuế theo tỷ lệ ấn định trên thu nhập chịu thuế.

6..2.7.4. Khai quyết toán thuế năm:

Tổ chức, cá nhân trả thu nhập; cá nhân cư trú có thu nhập từ tiền lương, tiền công, từ kinh doanh; cá nhân cư trú chuyển nhượng chứng khoán nộp thuế theo mức thuế suất 20% trên thu nhập có trách nhiệm khai quyết toán thuế năm, trừ các trường hợp sau:

– Cá nhân có số thuế phải nộp nhỏ hơn số thuế đã tạm nộp hàng quý mà không có yêu cầu hoàn thuế hoặc bù trừ thuế vào kỳ sau;

– Cá nhân, hộ kinh doanh chỉ có một nguồn thu nhập từ kinh doanh đã thực hiện nộp thuế theo tỷ lệ ấn định trên thu nhập chịu thuê;

– Cá nhân, hộ gia đình chỉ có thu nhập từ việc cho thuê nhà, quyền sử dụng đất đã thực hiện nộp thuế theo kê khai tại nơi có nhà, quyền sử dụng đất cho thuê;

– Cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công phát sinh thường xuyên tại một đơn vị mà có thêm thu nhập vãng lai ở các nơi khác bình quân tháng trong năm không quá 10 triệu đồng đã được đơn vị chi trả khấu trừ thuế tại nguồn nếu không có nhu cầu thì không quyết toán thuế đối với phần thu nhập này;

– Cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công còn có thêm thu nhập từ cho thuê nhà, cho thuê quyền sử dụng đất có doanh thu bình quân tháng trong năm không quá 20 triệu đồng đã nộp thuế tại nơi có nhà cho thuê, có quyền sử dụng đất cho thuê nếu không có nhu cầu thì không quyết toán thuế đối với phần thu nhập này. 

– Cá nhân uỷ quyền cho đơn vị chi trả thu nhập quyết toán thuế thay trong trường hợp cá nhân chỉ có một nguồn thu nhập từ tiền lương, tiền công phát sinh tại một đơn vị hoặc ngoài nguồn tiền lương, tiền công phát sinh tại đơn vị, cá nhân còn có thêm thu nhập khác quy định tại Điểm d, Điểm đ Khoản 5 Điều này.

6..2.7.5. Trách nhiệm khấu trừ, khai thuế, công bố thông tin của tổ chức trả thu nhập, tổ chức nơi cá nhân chuyển nhượng vốn, tổ chức lưu ký, phát hành chứng khoán, tổ chức Việt Nam ký hợp đồng mua dịch vụ của nhà thầu nước ngoài không hoạt động tại Việt Nam

a. Tổ chức, cá nhân trả thu nhập có trách nhiệm khấu trừ thuế  khi trả thu nhập cho cá nhân như sau:

Đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công của cá nhân có ký hợp đồng lao động: Hàng tháng tổ chức, cá nhân chi trả thu nhập khấu trừ thuế của từng cá nhân căn cứ vào thu nhập tính thuế tháng và biểu thuế luỹ tiến từng phần; tạm tính giảm trừ gia cảnh theo bản khai của người nộp thuế để tính số thuế phải nộp trong tháng, thực hiện khấu trừ thuế và không phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc khai tạm tính giảm trừ gia cảnh này. Tổ chức, cá nhân trả thu nhập thực hiện khai thuế, nộp thuế vào ngân sách nhà nước theo quy định tại Khoản 1, Khoản 2 Điều 30 Nghị định này và theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.

– Đối với các khoản tiền công, tiền chi khác cho cá nhân không ký hợp đồng lao động: Tổ chức, cá nhân trả thu nhập có trách nhiệm tạm khấu trừ thuế theo tỷ lệ 10% trên số thu nhập trả cho cá nhân. Cá nhân có thu nhập tạm khấu trừ thuế quy định tại Khoản này không phải khai thuế theo tháng.

b. Công ty chứng khoán, ngân hàng thương mại nơi cá nhân lưu ký chứng khoán, tổ chức phát hành chứng khoán có trách nhiệm khấu trừ thuế đối với chuyển nhượng chứng khoán theo mức 0,1% trên giá bán chứng khoán từng lần, kể cả đối với trường hợp nộp thuế theo mức thuế suất 20% trên thu nhập từ chuyển nhượng chứng khoán quy định tại Khoản 2 Điều 17 Nghị định này.

c. Doanh nghiệp nơi cá nhân có phần vốn góp được chuyển nhượng có trách nhiệm yêu cầu cá nhân cung cấp chứng từ đã hoàn thành nghĩa vụ thuế đối với phần vốn đã chuyển nhượng trước khi làm thủ tục thay đổi danh sách thành viên góp vốn hoặc danh sách cổ đông. Trường hợp doanh nghiệp thực hiện thủ tục thay đổi danh sách thành viên góp vốn hoặc danh sách cổ đông trong trường hợp chuyển nhượng vốn mà không có chứng từ chứng minh cá nhân chuyển nhượng vốn đã hoàn thành nghĩa vụ thuế thì doanh nghiệp nơi cá nhân chuyển nhượng vốn chịu trách nhiệm nộp thuế thay cho các cá nhân này.

d. Tổ chức được thành lập và hoạt động theo pháp luật Việt Nam (sau đây gọi tắt là bên Việt Nam) có ký hợp đồng mua dịch vụ của nhà thầu nước ngoài mà nhà thầu đó có ký hợp đồng lao động với người nước ngoài làm việc tại Việt Nam thì bên Việt Nam có trách nhiệm thông báo cho nhà thầu nước ngoài về nghĩa vụ nộp thuế thu nhập cá nhân của người lao động nước ngoài và về trách nhiệm cung cấp các thông tin về người lao động nước ngoài, gồm: Danh sách, quốc tịch, số hộ chiếu, thời gian làm việc, công việc đảm nhận, thu nhập cho bên Việt Nam để bên Việt Nam cung cấp cho cơ quan thuế chậm nhất trước 7 ngày kể từ ngày cá nhân nước ngoài bắt đầu làm việc tại Việt Nam.

6.2.8. Hoàn thuế:

Cá nhân được hoàn thuế trong các trường hợp sau đây và có yêu cầu được hoàn thuế:

– Số tiền thuế đã nộp lớn hơn số thuế phải nộp;

– Cá nhân đã nộp thuế nhưng có thu nhập tính thuế chưa đến mức phải nộp thuế;

– Các trường hợp khác theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Thủ tục, hồ sơ hoàn thuế thực hiện theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.

6.3. Những điểm mới của Luật Thuế Giá trị gia tăng

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế giá trị gia tăng (GTGT) số 31/2013/QH13 đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 16 tháng 6 năm 2013 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2014.

Luật sửa đổi, bổ sung đã thực hiện một số nội dung cải cách theo Chiến lược nhằm tháo gỡ những bất cập phát sinh trong thực tế, tạo bước đột phá trong cải cách hành chính nhằm đơn giản hoá về thủ tục, từ đó giảm thời gian và tiết kiệm chi phí cho người nộp thuế đồng thời hỗ trợ cho nhóm đối tượng xã hội, một trong những điểm mới của Luật thuế GTGT là:

6.3.1. Về đối tượng không chịu thuế:  

a. Bổ sung đối tượng không chịu thuế gồm bảo hiểm về con người cho phù hợp Luật kinh doanh bảo hiểm; bổ sung bảo hiểm cho ngư dân nhằm khuyến khích bám biển; Bổ sung làm rõ dịch vụ cho vay của người nộp thuế không phải là tổ chức tín dụng, bán nợ, kinh doanh ngoại tệ không chịu thuế GTGT;

b. Chuyển vệ sinh công cộng sang đối tượng áp dụng thuế suất 10% để đảm bảo tính liên hoàn về thuế GTGT và DN được kê khai, khấu trừ thuế GTGT đầu vào;

c. Quy định mức doanh thu để xác định hàng hoá, dịch vụ không chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh là từ 100 triệu đồng/năm trở xuống, tương đương với hơn 8 triệu đồng/tháng không phân biệt ngành nghề, địa bàn. (Nội dung sửa đổi, bổ sung thể hiện tại khoản 1 Điều 1 của Luật.)

Việc quy định mức doanh thu từ 100 triệu đồng trở xuống để xác định hàng hoá, dịch vụ của hộ, cá nhân kinh doanh không chịu thuế GTGT nhằm bảo đảm rõ ràng, tạo thuận lợi cho hộ, cá nhân kinh doanh tự xác định có phải kê khai, nộp thuế GTGT hay không. Hiện hành, hộ cá nhân kinh doanh phải tự so sánh mức thu nhập với mức lương tối thiểu, mà mức lương tối thiểu được quy định theo vùng và điều chỉnh thường xuyên nên các hộ kinh doanh không thể tự xác định được có thuộc đối tượng phải kê khai nộp thuế GTGT hay không.

6.3.2. Về giá tính thuế: Bổ sung quy định giá tính thuế GTGT đối với hàng hoá chịu thuế bảo vệ môi trường bao gồm cả thuế bảo vệ môi trường để phù hợp với nguyên tắc và thông lệ quốc tế về giá tính thuế GTGT là giá bán cuối cùng chưa có thuế GTGT. (Nội dung sửa đổi thể hiện tại khoản 2 Điều 1 của Luật.)

6.3.4. Về thuế suất thuế GTGT:

Để tạo điều kiện cho các tầng lớp dân cư có thu nhập trung bình và thấp được tiếp cận với nhà ở xã hội, khắc phục các vướng mắc trong thực tế và phù hợp với thông lệ quốc tế, bổ sung quy định: (a) áp dụng thuế suất 5% đối với nhà ở xã hội và để phù hợp với thông lệ quốc tế, giải quyết các vướng mắc hiện hành, sửa đổi bổ sung quy định (b) nguyên tắc xác định hàng hoá, dịch vụ xuất khẩu áp dụng thuế suất 0% là hàng hoá, dịch vụ được tiêu dùng ở ngoài Việt Nam, tiêu dùng trong khu phi thuế quan và hàng hoá, dịch vụ cung cấp cho khách hàng nước ngoài theo quy định của Chính phủ. (Nội dung sửa đổi, bổ sung thể hiện tại khoản 3 Điều 1 của Luật.)

6.3.5. Về ngưỡng đăng ký nộp thuế GTGT và phương pháp tính thuế:

Về cơ chế ngưỡng và phương pháp tính thuế, dự án Luật Quy định mức ngưỡng doanh thu 1 tỷ đồng/năm trở lên đối với doanh nghiệp để áp dụng phương pháp khấu trừ thuế GTGT; đồng thời quy định doanh nghiệp có doanh thu dưới ngưỡng và hộ, cá nhân kinh doanh nộp thuế GTGT theo phương pháp tỷ lệ % trên doanh thu. Theo đó, doanh nghiệp quy mô nhỏ, siêu nhỏ không phải thực hiện các thủ tục, hồ sơ kê khai nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ, đơn giản hoá công tác kế toán thuế, giảm thời gian và chi phí tuân thủ.

6.3.6. Về hoàn thuế GTGT:

Sửa đổi, nâng quy định mức tiền thuế GTGT đầu vào tối thiểu để được hoàn thuế đối với đầu tư và xuất khẩu từ 200 lên 300 triệu đồng cho phù hợp  thực tế, đơn giản và tiết kiệm chi phí cho cả người nộp thuế và cơ quan thuế.

Bổ sung quy định việc hoàn thuế đối với hàng hoá mang theo khi xuất cảnh của người mang hộ chiếu nước ngoài để khuyến khích khách du lịch người nước ngoài mua hàng tại Việt Nam khi xuất cảnh (Nội dung sửa đổi, bổ sung thể hiện tại khoản 7 Điều 1 của Luật.)./.

 PHỤ LỤC

———–

Các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành về thuế TNCN

– Luật thuế TNCN số 04/2007/QH12 ngày 21/11/2007 của Quốc hội.

– Luật số 26/2012/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế TNCN số 04/2007/QH12 của Quốc hội.

– Nghị định số 65/2013/NĐ-CP ngày 27/6/2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật thuế TNCN và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế TNCN.

– Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 hướng dẫn thực hiện Luật thuế TNCN, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế TNCN và Nghị định số 65/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế thu nhập cá nhân.

 


[1] Đây là các khoản thu nhập phát sinh không thường xuyên, tương tự như thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản mà Luật hiện hành đang xếp vào diện thu nhập khác, được hạch toán riêng và không được áp dụng ưu đãi thuế.

[2] Luật số 32/2013/QH13 (khoản 4, Điều 2) quy định:

“Bãi bỏ các nội dung quy định về thuế TNDN tại các điều, khoản của các luật sau: a) Khoản 2 Điều 7 Luật bảo hiểm tiền gửi số 06/2012/QH13;

b) Khoản 2 Điều 4 Luật bảo hiểm y tế số 25/2008/QH12;

c) Khoản 1 Điều 10; khoản 1 Điều 12; khoản 2 Điều 18, khoản 2 Điều 19; khoản 1 và khoản 2 Điều 22; khoản 3 Điều 24 và khoản 2 Điều 28 Luật công nghệ cao số 21/2008/QH12;

d) Các khoản 1, 4, 5, 6, 7 và khoản 8 Điều 44 và Điều 45 Luật chuyển giao công nghệ số 80/2006/QH11;

đ) Khoản 1 Điều 53, khoản 5 Điều 55 và khoản 3 Điều 86 Luật dạy nghề số 76/2006/QH11; 

e) Khoản 1 Điều 68 Luật người lao động Việt Nam đi làm việc tại nước ngoài số 72/2006/QH11;

g) Khoản 2 Điều 6 Luật bảo hiểm xã hội số 71/2006/QH11; 

h) Khoản 3 Điều 8 Luật trợ giúp pháp lý số 69/2006/QH11; 

i) Khoản 3 Điều 66 Luật giáo dục đại học số 08/2012/QH13;  

k) Điều 34 Luật người khuyết tật số 51/2010/QH12; 

l) Khoản 4 Điều 33 Luật đầu tư số 59/2005/QH11; 

m) Khoản 2 Điều 58, khoản 2 Điều 73, khoản 3 Điều 117 và khoản 3 Điều 125 Luật doanh nghiệp số 60/2005/QH11”.

Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao được ban hành 1991, đã qua 7 lần sửa đổi, bổ sung nhằm điều chỉnh mức khởi điểm thu nhập chịu thuế và thuế suất (lần thứ nhất vào năm 1992; lần thứ 2 vào năm 1993; lần thứ 3 vào năm 1994; lần thứ 4 vào năm 1997; lần thứ 5 vào năm 1999;  lần thứ 6 vào năm 2001; và lần thứ 7 vào năm 2004). Qua 7 lần sửa đổi, bổ sung, Pháp lệnh vẫn giữ nguyên tên gọi là “thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao” vì chỉ những cá nhân có thu nhập chịu thuế vượt trên mức khởi điểm theo quy định của Pháp lệnh mới phải nộp thuế. 

[4] Trước 01/07/2013, Luật thuế TNCN số 04/2008/QH12 quy định mức giảm trừ gia cảnh cho bản thân người nộp thuế là 4 triệu đồng/tháng (60 triệu đồng/năm); mức giảm trừ cho mỗi người phụ thuộc là 1,6 triệu đồng/tháng.

Bản in

 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *