Chuyên đề 6: MỘT SỐ KỸ NĂNG KIỂM SOÁT HOẠT ĐỘNG CHUYỂN GIÁ

Chuyên đề 6: MỘT SỐ KỸ NĂNG KIỂM SOÁT HOẠT ĐỘNG CHUYỂN GIÁ

TS. Phan Hiển Minh

Đại học Mở TP. Hồ Chí Minh

6.1. Kiểm soát hoạt động chuyển giá

6.1.1. Chuyển giá trong giao dịch liên kết[1]

Về phương diện kinh doanh, trong quá trình tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp thì doanh nghiệp luôn nỗ lực để có doanh thu cao nhất, chi phí thấp nhất nhằm đạt được lợi nhuận cao nhất. Trong nền kinh tế thị trường, doanh thu và chi phí đều phụ thuộc vào quy luật cung – cầu, nghĩa là doanh nghiệp chỉ có thể đạt doanh thu tối đa ở một mức nào đó và chi phí cũng tiêu hao tối thiểu ở một mức nào đó. Do vậy, việc mở rộng địa bàn và thị trường kinh doanh là việc tất yếu trong kế hoạch kinh doanh của doanh nghiệp. Mở rộng để có thêm thị trường mới, có được thêm doanh thu. tương ứng với mở rộng thị trường mới là chi phí để tiếp cận và định vị trên thị trường mới. Tùythuộc vào sản phẩm, dịch vụ công ty cung cấp cũng như đối tượng khách hàng của công ty, mỗi công ty sẽ có chính sách tiếp cận và định vị thị trường mới khác nhau. Bên cạnh đó, tùythuộc các chính sách về kinh tế, xã hội của thị trường mới, công ty sẽ có các kế hoạch để lựa chọn thị trường nào là tiềm năng, cách tiếp cận nào phù hợp nhất.

Như đã đề cập ở trên, doanh thu và chi phí đều hữu hạn, bên cạnh các tác động về các chính sách xã hội, kinh tế, đầu tư, … thì các chính sách thuế của thị trường mới có ảnh hưởng trọng yếu và trực tiếp đến kế hoạch phát triển cũng như quyết định của công ty trong việc tiếp cận một thị trường mới. Do chính sách thuế ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của công ty từ hoạt động kinh doanh cũng như việc chuyển lợi nhuận về nước, chính vì thế đối với một thị trường mới, bên cạnh tiềm năng về doanh thu thì một chính sách thuế rõ ràng minh bạch và hấp dẫn là một trong những điều kiện tiên quyết để doanh nghiệp quyết định lựa chọn đầu tư.

Chính vì thế, khi một doanh nghiệp nước ngoài hay một công ty đa quốc gia (ĐQG)[2] đã quyết định đầu tư kinh doanh vào một quốc gia khác, họ đã tìm hiểu rất kỹ các thông tin về thị trường tiềm năng, các chính sách xã hội, kinh tế, đầu tư, kể cả chính sách về thuế để xác định chiến lược kinh doanh cũng như ước tính lợi nhuận trong tương lai phù hợp với các quy định pháp quy của chính nước sở tại cũng như tại quốc gia của thị trường mới. Nhằm tránh và giảm thiểu các trở ngại về việc đánh thuế trùng đối với các giao dịch của trụ sở chính (tại nước sở tại) và công ty con (tại quốc gia của thị trường mới), công ty cần tuân thủ nguyên tắc giá thị trường (GTT)[3]và áp dụng các quy định về Định giá chuyển giao (ĐGCG)[4] đối với các giao dịch này. Như vậy, ĐGCG là một phương pháp để một doanh nghiệp có thể bảo vệ chính lợi ích của mình đối với vấn đề đánh thuế trùng. Bên cạnh đó, ĐGCG cũng chính là phương pháp mà cơ quan thuế áp dụng để kiểm tra nếu một doanh nghiệp đã tuân thủ các quy định thuế của nước sở tại. Các khái niệm trên đềcập khá rõ ràng và chi tiết tại Lời nói đầu của “Hướng dẫn về ĐGCG cho các công ty đa quốc gia và công tác quản lý thuế của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế”[5] (sau đây gọi tắt là Hướng dẫn OECD) và Chương 2 của “Chỉ dẫn thực tiễn về ĐGCG cho các nước đang phát triển của Liên hiệp quốc”[6] (sau đây gọi tắt là Chỉ dẫn LHQ).

Bên cạnh đó, cũng có các doanh nghiệp dựavào sự khác biệt về chính sách thuế của các nước để thực hiện việc dàn xếp các giao dịch nhằm tối đa hóa lợi nhuận cho doanh nghiệp mình. Việc tối đa hóa lợi nhuận là điều dĩ nhiên xét về khía cạnh doanh nghiệp nhưng lợi nhuận đó phải hợp pháp và tuân thủ pháp luật của cả nước sở tại và quốc gia được đầu tư. Đối với mỗi một công ty tại một quốc gia của một tập đoàn, xét về phương diện nội bộ, công ty chỉ là một bộ phận và phải chịu sự chi phối của trụ sở chính; tuy nhiên, về mặt pháp lý, công ty được thành lập theo quy định của một quốc gia, do đó, công ty là một pháp nhân độc lập với trụ sở chính. Chính về thế, trong bối cảnh thương mại toàn cầu, các giao dịch giữa trụ sở chính và công ty con cũng phải tuân theo các nguyên tắc chung của thị trường cũng như các quy định pháp luật của cả hai quốc gia. Cụ thể hơn, việc thực hiện và dàn xếp giao dịch chỉ với mục đích tối đa hóa lợi nhuận, tối thiểu chi phí không tuân theo nguyên tắc GTT được xem là hành vi chuyển giá.

Để xác định được một doanh nghiệp có hành vi chuyển giá hay có vấn đề chuyển giá hay không, cơ quan thuế cần phải có thông tin của giao dịch được cung cấp từ doanh nghiệp và cả thông tin thị trường của các doanh nghiệp tương tự, cùng ngành để có thể xác định. Bên cạnh đó, các thông tin nội bộ về chiến lược kinh doanh cũng như chính sách giá của doanh nghiệp đóng một vai trò quan trọng trong việc xác định giao dịch của doanh nghiệp có theo nguyên tắc GTT hay không. Chính vì thế, để xác định được một doanh nghiệp có vấn đề chuyển giá hay không, cơ quan thuế cần phải áp dụng việc ĐGCG để có cơ sở xác định.

Việc xác định chính sách giá trong các giao dịch của công ty ĐQG nhằm bảo đảm doanh nghiệp tuân thủ nguyên tắc GTT. Bên cạnh đó, cơ quan thuế cũng có thể xác định được số thuế mà doanh nghiệp phải nộp từ các giao dịch này. Như vậy, có thể nói rằng “chống chuyển giá” chính là chống thất thu thuế từ các giao dịch giữa các công ty ĐQG. Để thực hiện được điều này, cơ quan thuế cần xác định doanh nghiệp có hành vi chuyển giá hay không thông qua việc ĐGCG hay kiểm tra lại tính phù hợp của việc ĐGCG mà doanh nghiệp đã tự thực hiện.

6.1.2. Chống chuyển giá trong các giao dịch liên kết[7]

Việc ĐGCG là một công việc phức tạp, đòi hỏi năng lực và khả năng phân tích cẩn thận dựa trên một khối lượng thông tin lớn. Hơn nữa, công việc này cần một sự am hiểu về ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp cũng như bản chất giao dịch. Bên cạnh đó, việc đi đến một sự đồng thuận giữa công ty ĐQG và cơ quan thuế các nước là yếu tố rất quan trọng. Điều này đã được thể hiện qua nội dung của Hướng dẫn OECD và Chỉ dẫn LHQ như đã đề cập ở trên.

Theo đó, có thể thấy rằng đối với người nộp thuế hay doanh nghiệp, đội ngũ nhân sự trực thuộc phòng tài chính và kế toán không thể đáp ứng được các kĩ năng/chuyên môn cần thiết để xây dựng chính sách giá theo yêu cầu của các quy định pháp luật. Việc người nộp thuế sử dụng các dịch vụ bên ngoài đối với việc chuẩn bị các hồ sơ về chính sách giá là điều tấtyếu. Việc này thể hiện sự độc lập trong xác định các chính sách giá. Hơn nữa, người nộp thuế sẽ phần nào đó giảm bớt rủi ro nếu bị cơ quan thuế kiểm tra do chính sách giá được thực hiện bởi một công ty độc lập. Do đó, việc các công ty kiểm toán cung cấp dịch vụ về việc chuẩn bị các chính sách giá là nhu cầu thực tế từ các người nộp thuế. Với mạng lưới của các công ty kiểm toán trên toàn cầu cũng như kinh nghiệm về việc ĐGCG hay vấn đề chuyển giá tại các nước phát triển, đây là thế mạnh để họ thu thập thông tin và cung cấp dịch vụ cho các công ty ĐQG.

Thực tế cho thấy, hầu hết các chính sách thuế được xây dựng hiệu quả khi có đóng góp của các doanh nghiệp và cả các nhà tư vấn. Với quan điểm xuất phát khác với các cơ quan quản lý thuế, các nhà tư vấn vừa đứng ở góc độ các doanh nghiệp với các khó khăn, trở ngại trong việc kinh doanh, họ còn đứng ở góc độ người tuân thủ các văn bản pháp quy. Hơn nữa, họ còn đứng ở góc độ một người tư vấn là phải làm thế nào để phù hợp và hiệu quả nhất. Do đó, các đóng góp của các nhà tư vấn là cần thiết góp phần giảm thiểu khoảng cách của việc tuân thủ pháp luật của các doanh nghiệp và các quy định pháp luật hiện hành. Ngay cả Chỉ dẫn LHQ, đội ngũ tham gia cũng có các nhà tư vấn hàng đầu thế giới[8].

Qua đó, để có thể thực hiện được việc ĐGCG, yêu cầu cần phải có một đội ngũ chuyên môn, có kinh nghiệm là điều kiện tất yếu. Theo Chỉ dẫn LHQ, để có thể thực hiện được việc ĐGCG, một đội ngũ chuyên môn bao gồm[9]:

– Các quản lý nhóm và dự án – là những người với khả năng có thể tham gia quản lý các nhóm mới, không cần thiết đến việc họ có hay không có chuyên môn về ĐGCG;

– Các nhà kinh tế;

– Các luật sư;

– Các kế toán viên;

– Các kiểm toán viên;

– Các chuyên gia về cơ sở dữ liệu;

– Các chuyên gia về quy trình (sử dụng công nghệ thông tin để đánh giá, tự động, kết hợp, giám sát và giúp cải thiện các quy trình kinh doanh);

– Những người có các kĩ năng đặc biệt về giao tiếp và quan hệ công chúng, bao gồm các kĩ năng: lắng nghe chủ động và hiệu quả, giải quyết vấn đề, giải thích các vấn đề phức tạp theo cách có thể hiểu nhanh và ứng xử một cách chuyên nghiệp với tầm nhìn các mối quan hệ sản xuất dài hạn.

Qua đó, để có thể chống chuyển giá thì không phải là công việc đơn giản, mà cần một sự kết hợp của cả một đội ngũ chuyên môn và cán bộ thuế có chuyên môn, nắm vững và hiểu rõ các quy định pháp quy về giá thị trường cũng như có các kỹ năng và năng lực trong việc thanh tra, kiểm tra thuế tại doanh nghiệp.

Cần lưu ý rằng, vấn đề chuyển giá là một vấn đề về thuế quốc tế. Việc cơ quan thuế một quốc gia kết luận một công ty có hành vi chuyển giá và tiến hành phạt thuế có thể sẽ gặp sự tranh tụng mạnh từ phía công ty với sự hỗ trợ của các chuyên gia, luật sư từ trụ sở chính. Điều này là do các công ty ĐQG hầu hết niêm yết tại các thị trường chứng khoán lớn tại các nước phát triển trên thế giới và trong khu vực. Do vậy, việc một công ty trong tập đoạn bị xử phạt về thuế, đặc biệt về hành vi chuyển giá sẽ làm ảnh hưởng trực tiếp đến tên tuổi cũng như giá trị cổ phiếu của tập đoàn. Vì thế, công ty ĐQG sẽ vận dụng mọi nguồn lực để xử lý vấn đề này nhằm giảm thiểuít nhất các tác động đến công ty và tập đoàn. Do đó, việc tranh tụng trên tòa án là việc sẽ thường xảy ra tại các nước trên thế giới đối với vấn đề chuyển giá.

Bên cạnh đó, đối với các nước có Hiệp định thuế (“HĐT”)[10] với nhau, vấn đề chuyển giá được đề cập cụ thể trong các HĐT. Bên cạnh đó, việc điều chỉnh doanh thu/chi phí đối với vấn đề chuyển giá tại một nước thì nước kia sẽ được ghi nhận chi phí/doanh thu tương ứng.

Do đó, để có thể chống chuyển giá, ngoài đội ngũ nhân lực từ các nhà chuyên môn và kỹ năng khác nhau, một quốc gia còn cần một khung pháp lý rõ ràng để có thể thực hiện việc chống chuyển giá một cách hiệu quả theo thông lệ quốc tế.

6.2. Kinh nghiệm thanh tra, kiểm tra hoạt động chuyển giá

6.2.1. Các nguyên tắc chính trong khi thực hiện thanh tra, kiểm tra hoạt động chuyển giá

Như đã trình bày ở trên, vấn đề chuyển giá là một vấn đề mới và cần thời gian cũng như nguồn lực để ngày càng nâng cao tính hiệu quả. Do vậy, nên lưu ý các nguyên tắc sau trong khi thực hiện thanh tra, kiểm tra về hoạtđộng chuyển giá

– Phải đạt được sự đồng thuận với doanh nghiệp. Đây là nguyên tắc đầu tiên đóng vai trò quan trọng. Như đề cập ở trên, vấn đề chuyển giá là một vấn đề quốc tế, việc đạt được đồng thuận với doanh nghiệp sẽ tạo được một môi trường minh bạch trong quản lý thuế, tăng tính hội nhập của môi trường kinh doanh tại Việt Nam.

– Vận dụng quy định pháp luật hiện hành và linh động cân nhắc áp dụng thông lệ quốc tế. Điều này tạo sự minh bạch và tăng tính thuyết phục trong việc xử lý vi phạm về thuế (nếu có).

– Vận dụng nguyên tắc chi phí và lợi ích đối với từng GDLK và đối với tổng thể doanh nghiệp.

– Không phải doanh nghiệp lỗ là chuyển giá mà doanh nghiệp có lợi nhuận cao chưa chắc đã tuân theo nguyên tắc GTT.

Thiết lập cơ chế, chính sách để bảo đảm sự đồng thuận giữa doanh nghiệp và cơ quan thuế đối với nghĩa vụ thuế tại quốc gia sở tại và tại các quốc gia có liên quan.

Bảo đảm lợi ích quốc gia và doanh nghiệp.

6.2.2. Kinh nghiệm và quy định của các nước trong khu vực về vấn đề kiểm soát hoạt động chuyển giá

Như đã trình bày ở trên, vấn đề chuyển giá là một vấn đề chung trong nền kinh tế không chỉ ở riêng Việt Nam. Do đó, các nước trong khu vực như Thailand, Singapore, Trung Quốc, Nhật Bản cũng như Việt Nam đã từng trải qua giai đoạn đầu trong việc xử lý vấn đề chuyển giá tại quốc gia của họ. Hơn nữa với đặc thù kinh tế và địa lý khác nhau, mỗi quốc gia đều có khung pháp lý phù hợp để quản lý vấn đề chuyển giá này. Sau đây là cách các nước quản lý vấn đề chuyển giá để chúng tahiểu rõ hơn và đúc kết kinh nghiệm:

– Để tăng tính hội nhập và minh bạch, một số nước đã đưa các Hướng dẫn OECD vào luật quản lý. Điều này sẽ tạo sự an tâm cho nhà đầu tư vì nếu có vấn đề phát sinh về chuyển giá thì cơ chế giải quyết sẽ theo thông lệ quốc tế. Ví dụ: Singapore, Malaysia, Thailand, Australia, …

– Bên cạnh việc đưa Hướng dẫn OECD vào luật quản lý, các nước còn đề ra các quy định riêng cho chính quốc gia sở tại, ví dụ:

+ Mỹ: đưa ra các định nghĩa và các phương pháp riêng áp dụng cho giao dịch đối với hàng hóa, dịch vụ, tiền bản quyền, lãi vay, …

+ Nhật Bản, Indonesia, Australia: đưa ra giá trị GDLK hay doanh thu của doanh nghiệp phải thực hiện khai báo và chuẩn bị Hồ sơ GTT

+ Ấn Độ: đưa ra tỷ suất lợi nhuận sàn cho ngành nghề (dịch vụ: 20%),..

– Việc sử dụng nguồn lực và cơ sở dữ liệu một cách hiệu quả nhằm tăng tính minh bạch cũng như thuận tiện để cho việc quản lý, ví dụ:

+ Singapore: sử dụng cơ sở dữ liệu của công ty độc lập (Oriana của BvD) và công bố rộng rãi cho các doanh nghiệp biết để áp dụng;

+ Ấn Độ, Nhật Bản, Trung Quốc và châu Âu: xây dựng cơ sở dữ liệu chung và chấp nhận các cơ sở dữ liệu của các công ty độc lập;

+ Indonesia, Singapore, châu Âu: sử dụng sự hỗ trợ của các chuyên gia về kinh tế, thống kê, luật sư và cả chuyên gia tư vấn thuế; tuyển chuyên gia tư vấn thuế làm nhân viên, hoặc giao một sô dịch vụ về thuế…

– Các nước hiện nay thực hiện việc chấp thuận các giao dịch đặc thù như dịch vụ nội bộ, thỏa thuận phân bổ chi phí theo thông lệ quốc tế. Do đó, tăng tính hội nhập và thu hút đầu tư ở cấp độ quản lý khu vực, cấp độ vùng, ví dụ:

+ Phí quản lý cấp khu vực/cấp toàn cầu, phí dịch vụ hỗ trợ về pháp lý, công nghệ thông tin, … (các dịch vụ nội bộ): được chấp thuận tại Indonesia, Malaysia, Singapore, Thailand;

+ Thỏa thuận phân bổ chi phí: Indonesia, Malaysia, Singapore, Thailand;

Bên cạnh đó, vấn đề chuyển giá được giải quyết chủ yếu thông qua nguyên tắc thỏa thuận, và Thoả thuận trước phương pháp xác định giá tính thuế như tại Malaysia, Singapore, Thailand: APA song phương được thực hiện ngày càng nhiều hơn trên thế giới(Viet Nam đã ban hành thông tư 201/2013/TT-BTC ngày 20.12.2013)

Qua đó, cho chúng ta thấy rằng để có thể quản lý được vấn đề chuyển giá, cần phải có nguồn lực về nhân sự, cơ sở dữ liệu và khung pháp lý. Bên cạnh đó, việc vận dụng và chấp nhận thông lệ quốc tế trong việc quản lý vấn đề chuyển giá sẽ tạo được nền tảng cũng như tăng tính minh bạch và hội nhập cho môi trường kinh doanh tại Việt Nam.

6.2.3. Phân tích khi thanh tra, kiểm tra

Phân tích rủi ro trước khi thực hiện thanh tra, kiểm tra

– Thời gian hoạt động: Thời gian thành lập, thời gian hoạt động, thời gian bắt đầu có lời

– Chức năng doanh nghiệp: sản xuất (có hoạt động nghiên cứu phát triển hay không?), dịch vụ, thương mại, phân phối, có hoạt động quản lý doanh nghiệp hay không (nhân sự, tài chính, pháp lý, …)?

– Sự thay đổi chức năng/sở hữu: có sự thay đổi trong quá trình hoạt động hay không?

– Ngành nghề của doanh nghiệp: có bất kỳ đặc thù ngành nào cần lưu ý. Ví dụ: bất động sản: một năm tài chính không thể hiện được kết quả kinh doanh thật;

– Phân khúc thị trường và thị phần của doanh nghiệp: có sự khác biệt hay không?

– Loại GDLK, tỷ trọng GDLK trên tổng doanh thu/chi phí và loại hình doanh nghiệp: ví dụ: doanh nghiệp chế xuất thì hầu hết 100% bán cho công ty trong tập đoàn.

– Phương pháp xác định GTT doanh nghiệp kê khai trên Mẫu 01 (Mẫu 03-07) và trong Hồ sơ GTT

– Điều kiện kinh tế: có yếu tố kinh tế/thị trường nào ảnh hưởng trong giai đoạn báo cáo hay không?

– So sánh tổng giá trị GDLK giữa đầu ra và đầu vào;

– Phân tích quyền quyết định của công ty Việt Nam và các công ty trong tập đoàn

Lưu ý: Các công việc trên có thể thực hiện được thông qua Mẫu 01 và Hồ sơ xác định GTT của các doanh nghiệp theo thông tư 66/2010/TT-BTC ngày 22.4.2010

Lập Bảng phân tích 4Q

Lập bảng 4Q:

– Trái: Đầu vào

– Trên: Nước ngoài: Độc lập và liên kết

– Dưới: Trong nước: Độc lập và liên kết

– Phải: Đầu ra

– Trên: Nước ngoài: Độc lập và liên kết

– Dưới: Trong nước: Độc lập và liên kết

Chia theo từng giai đoạn của doanh nghiệp

Phân tích các giao dịch từ tổng quan đến chi tiết

* Đối với “Đầu vào”, phân tích các điểm sau:

+ Có sử dụng được PP1? Tại sao?

+ Điều kiện hợp đồng

+ Chức năng hoạt động

+ Quyền đàm phán và quyết định giá đầu vào

+ Rủi ro liên quan đến đầu vào

+ Lợi ích từ dịch vụ và giá dịch vụ

+ Ngành và thị trường

* Đối với “Đầu ra”, phân tích các điểm sau:

– Có sử dụng được PP1? Tại sao?

– Điều kiện hợp đồng

– Chức năng hoạt động (giá trị tăng thêm)

– Quyền đàm phán và quyết định giá đầu ra

– Rủi ro liên quan đến đầu ra

– Ngành và thị trường

Phân tích thông tin tài chính

– Các tỷ suất: Gross Margin – GM (LNG/DT); Net Cost Plus – NCP (LNT/CP); Operating Margin – OM (LNT/DT); Return on Asset – ROA (LNT/TS)

– Các chỉ tiêu trên BCTC

+ Doanh thu (ĐL và LK): Doanh thu tài chính, Thu nhập khác

+ GVHB (COGS/Cost of sales/Cost of services)

+ Chi phí bán hàng

+ Chi phí quản lý doanh nghiệp

+ Chi phí tài chính

+ Chi phí khác

Lưu ý:Khi tính toán các tỷ suất lợi nhuận, cần chú ý sự khác biệt giữa cách tính của Việt Nam (theo Thông tư 66) và của thông lệ quốc tế (theo Hướng dẫn OECD và Chỉ dẫn LHQ) như đã đề cập ở trên.

Phân tích rủi ro trong khi thực hiện thanh tra, kiểm tra

Liệu rằng có áp dụng được PP1 hay không? Lý do không thể áp dụng

+ Nếu doanh nghiệp áp dụng PP1, liệu rằng thông tin có tin cậy hay không (đặc biệt trong trường hợp internal CUP)

+ Đối với hàng hóa: sự khác biệt về giá có thể giải thích được không: các điều khoản hợp đồng về số lượng, hình thức giao nhận, thời gian thanh toán, chức năng/dịch vụ đi kèm. Liệu rằng có các GDLK khác không?

+ Đối với dịch vụ: dịch vụ có đem lại lợi ích cho bên nhận dịch vụ hay không? Lưu ý phần dịch vụ nội bộ

+ Đối với tiền bản quyền (thương hiệu/chuyển giao công nghệ): cơ sở xác định giá và thời gian tính phí có phù hợp với công nghệ hay không?; tỷ lệ phí có phù hợp với giá trị thương hiệu hay không? Liệu rằng có Hồ sơ GTT cấp toàn cầu/khu vực hỗ trợ hay không?

+ Đối với khoản vay: lưu ý khống chế lãi vay của quy định hiện hành

+ Phân tích chức năng thực hiện, tài sản sử dụng và rủi ro doanh nghiệp Việt Nam phải chịu để xác định tỷ suất lợi nhuận phù hợp. Ví dụ: Doanh nghiệp sản xuất hợp đồng (contract manufacturer) sẽ có lợi nhuận cao hơn doanh nghiệp gia công (processing/tolling companies) nhưng thấp hơn doanh nghiệp sản xuất đầy đủ (full-fledge manufacturer); hay doanh nghiệp thương mại sẽ có lợi nhuận thấp hơn doanh nghiệp phân phối có dịch vụ hậu mãi; …

+ Cần phân tích GDLK một cách riêng lẻ và rồi đặt trong góc độ cả công ty.

+ Khi xác định và phân tích phương pháp xác định GTT cần lưu ý thông tin sẳn có và cơ sở dữ liệu. Việc khác biệt về cách thức hạch toán kế toán là điểm cần cân nhắc để lựa chọn PP2 và PP3.

+ Hầu hết PP4 sẽ được lựa chọn, đặc biệt là các nước có thời gian xử lý vấn đề chuyển giá vừa mới bắt đầu như Việt Nam, đặc biệt là vấn đề cơ sở dữ liệu.

+ PP5 chỉ áp dụng đối với các GDLK trong một chuỗi cung cấp liên quan đến tài sản vô hình

Trong quá trình phân tích rủi ro, cần tập trung vào các tiêu chí:

– Bản chất doanh nghiệp (characterization)

– Chức năng hay bản chất của sản phẩm/dịch vụ

– Điều khoản hợp đồng

– Quyền đàm phán và quyết định giá đầu vào/đầu ra

– Rủi ro liên quan đến đầu vào/đầu ra

– Ngành và thị trường

6.2.4. Bài tập tình huống

Bài tập số 1:

Công ty PGD được thành lập năm 2006 tại địa bàn tỉnh Z Việt Nam, là doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài, có hoạt động chế biến đậu phụng (lạc) sấy giòn. 100% nguyên liệu và các chi phí khác đầu vào được mua từ các bên độc lập trong nước. Thành phẩm sản xuất ra gồm 4 loại là: A0, A1, A2, A3.

Quy trình sản xuất các sản phẩm này như sau:

Bước 1: Nguyên liệu a, b, c đầu vào được đưa vào bộ phận sản xuất 1 sẽ tạo thành các sản phẩm tương ứng là A1, A2, A3.

Bước 2: Một phần sản phẩm A2 được tiếp tục đưa vào bộ phận sản xuất2 sẽ tạo thành sản phẩm A0.

Về tiêu thụ thành phẩm:

– 100% sản phẩm A1 và A3 được bán cho công ty mẹ TGF tại nước ngoài.

– Sản phẩm A2 sau khi đưa vào sản xuất sản phẩm A0, số còn lại được bán toàn bộ cho công ty mẹ TGF tại nước ngoài.

– 100% sản phẩm A0 được bán cho các công ty độc lập có chức năng phân phối.

Giả thiết:

Số lượng và đơn giá sản phẩm bán cho Công ty mẹ như sau:

– Sản phẩm A1:

465,586 kg

đơn giá:

23,938 đồng/1kg

– Sản phẩm A2:

95,472 kg

đơn giá:

13,138 đồng/1kg

– Sản phẩm A3:

71,225 kg

đơn giá:

3,508 đồng/1kg

Có 11 giao dịch bán sản phẩm A0 với đơn giá như sau:

Giao dịch 1: 37,013 đ/kg

Giao dịch 5: 35,802 đ/kg

Giao dịch 9: 33,305 đ/kg

Giao dịch 2: 38,322 đ/kg

Giao dịch 6: 38,711 đ/kg

Giao dịch 10: 35,207 đ/kg

Giao dịch 3: 40,017 đ/kg

Giao dịch 7: 38,446 đ/kg

Giao dịch 11: 33,793 đ/kg

Giao dịch 4: 38,824 đ/kg

Giao dịch 8: 37,662 đ/kg

 

– Tỷ lệ hao hụt từ sản phẩm A2 khi chế biến thành sản phẩm A0: 0,0909

– Chi phí chế biến từ A2 thành A0 phát sinh tại bộ phận sản xuất 2 là: 5.500 đồng/1kg sản phẩm A0

– Trên thị trường Việt Nam không có doanh nghiệp nào sản xuất sản phẩm A1, A2, A3, A0.

– Giá vốn 1 đơn vị sản phẩm như sau:

+ Sản phẩm A2 là: 11.520 đồng/1kg

+ Sản phẩm A1 là: 19.200 đồng/1kg

+ Sản phẩm A3 là: 4.160 đồng/1kg

Câu hỏi:

Những giao dịch nào là giao dịch liên kết?

– Việc phân tích so sánh và áp dụng phương pháp xác định giá thị trường GDLK được thực hiện như thế nào?

Bài tập số 2

Công ty X được thành lập năm 1993 tại địa bàn thành phố Hà Nội, là doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, hoạt động trong lĩnh vựcsản xuất sợi và dệt vải. Theo báo cáo của Công ty X với cơ quan thuế, mỗi năm số lỗ của Công ty từ 200 tỷ đến 300 tỷ đồng. Hoạt động sản xuất kinh doanh của X như sau:

Đối với hoạt động sản xuất sợi:

– X mua hạt nhựa từ bên liên kết để xuất cho quá trình kết tinh, sấy, phun tơ, quấn tạo thành Sợi POY;

– Sợi POY còn được X mua vào từ các bên liên kết nước ngoài và các bên độc lập trong nước (POY mua vào gồm rất nhiều mã hàng khác nhau);

– Sợi POY được xuất cho phân xưởng kéo sợi để tạo thành sợi DTY;

– Sợi DTY còn được X mua vào từ các bên liên kết nước ngoài và các bên độc lập trong nước (DTY mua vào cũng gồm rất nhiều mã hàng khác nhau);

– Sợi DTY được kết hợp với sợi FDY mua vào từ bên liên kết nước ngoài và qua công đoạn quấn, hấp, xoắn để tạo thành sợi TFO;

– Sợi TFO được Công ty X bán cho các bên liên kết nước ngoài và các bên độc lập trong nước

Đối với hoạt động sản xuất vải:

Công ty X sản xuất 02 nhãn hiệu vải (nhãn hiệu A và nhãn hiệu B):

– Hoạt động sản xuất vải nhãn hiệu A như sau:

+ Sợi DTY được kết hợp với sợi FDY mua vào từ bên liên kết nước ngoài và qua công đoạn dệt kim để tạo thành vải mộc nhãn hiệu A;

+ Vải mộc nhãn hiệu A được đưa vào công đoạn nhuộm tạo thành vải thành phẩm nhãn hiệu A;

+ Vải thành phẩm nhãn hiệu A được Công ty X bán cho các bên liên kết nước ngoài và các bên độc lập trong nước.

– Hoạt động sản xuất vải nhãn hiệu B như sau:

+ Sợi DTY được kết hợp với một số loại sợi (FDY, ATY) mua vào từ bên liên kết nước ngoài và qua công đoạn quấn, xoắn, dệt để tạo thành vải mộc nhãn hiệu B;

+ Vải mộc nhãn hiệu B được đưa vào công đoạn nhuộm tạo thành vải thành phẩm nhãn hiệu B;

+ Vải thành phẩm nhãn hiệu B được Công ty X bán cho các bên liên kết nước ngoài và các bên độc lập trong nước.

Yêu cầu: Đề nghị nêu cụ thể các bước xác định giá thị trường giao dịch liên kết đối với Công ty X phù hợp với quy định tại Thông tư số 66/2010/TT-BTC.

Bài tập số 3

Công ty A thành lập năm 2005, bắt đầu hoạt động trong lĩnh vực sản xuất thiết bị điện tử năm 2006 có các hoạt động như sau:

– Năm 2005 đến 2007:

+ Mua TSCĐ từ các công ty trong tập đoàn

+ Mua NVL từ công ty B và C (bên liên kết ở nước ngoài) chiếm 80% tổng NVL đầu vào, còn lại mua từ công ty X, Y và Z (bên độc lập ở nước ngoài).

+ Trả tiền dịch vụ cho công ty S (bên liên kết ở nước ngoài) liên quan đến dịch vụ CNTT, hỗ trợ khách hàng (tìm kiếm, quảng cáo, tiếp thị, chăm sóc) , hỗ trợ chức năng (nhân sự, tài chính, pháp lý)

+ Trả tiền cho công ty R (bên liên kết ở nước ngoài) liên quan đến tiền bản quyền cho việc chuyển giao công nghệ và thương hiệu của SP được sản xuất

+ Bán SP cho công ty D và E (bên liên kết ở nước ngoài) chiếm 60% tổng SP đầu ra, còn lại bán cho công ty U, V và W (bên độc lập ở nước ngoài.

– Năm 2008 đến 2010:

+ Mua NVL/SP từ công ty B và C (bên liên kết ở nước ngoài) chiếm 50% tổng NVL/SP đầu vào; 30% mua NVL từ công ty X, Y và Z (bên độc lập ở nước ngoài); và 20% NVL mua từ công ty VN11, VN12 (bên độc lập trong nước).

+ Trả tiền dịch vụ cho công ty S (bên liên kết ở nước ngoài) liên quan đến dịch vụ CNTT, hỗ trợ khách hàng (tìm kiếm, quảng cáo, tiếp thị, chăm sóc) , hỗ trợ chức năng (nhân sự, tài chính, pháp lý).

+ Trả tiền cho công ty R (bên liên kết ở nước ngoài) liên quan đến tiền bản quyền cho việc chuyển giao công nghệ và thương hiệu của SP được sản xuất.

+ Trả tiền lãi vay cho công ty L (liên kết ở nước ngoài).

+ Bán SP cho công ty D và E (bên liên kết ở nước ngoài) chiếm 50% tổng SP đầu ra; bán 40% cho công ty U, V và W (bên độc lập ở nước ngoài; 10% cho công ty VN21, VN22 (bên độc lập trong nước).

– Năm 2011 đến nay:

+ Mua NVL/SP/BTP từ công ty B và C (bên liên kết ở nước ngoài) chiếm 30% tổng NVL/SP/BTP đầu vào; 20% mua NVL từ công ty X, Y và Z (bên độc lập ở nước ngoài); và 50% mua NVL từ công ty VN11, VN12 (bên độc lập trong nước).

+ Trả tiền dịch vụ cho công ty S (bên liên kết ở nước ngoài) liên quan đến dịch vụ CNTT, hỗ trợ khách hàng (tìm kiếm, quảng cáo, tiếp thị, chăm sóc) , hỗ trợ chức năng (nhân sự, tài chính, pháp lý).

+ Trả tiền cho công ty R (bên liên kết ở nước ngoài) liên quan đến tiền bản quyền cho việc chuyển giao công nghệ và thương hiệu của SP được sản xuất.

+ Trả tiền lãi vay cho công ty L (liên kết ở nước ngoài).

+ Bán SP cho công ty D và E (bên liên kết ở nước ngoài) chiếm 20% tổng SP đầu ra; bán 50% cho công ty U, V và W (bên độc lập ở nước ngoài; 30% cho công ty VN21, VN22 (bên độc lập trong nước)

+ Thu nhập từ dịch vụ gia công và nghiên cứu phát triển cho công ty M1, M2 (bên liên kết ở nước ngoài) chiếm 70% doanh thu; còn lại cho công ty N1, N2 (bên độc lập ở nước ngoài)

Câu hỏi:

– Lập bảng 4 Q

– Phân tích (rủi ro) của các GDLK qua các giai đoạn và nêu rõ lý do và giả định?

– Đề nghị phương pháp xác định GTT phù hợp?

 TÀI LIỆU THAM KHẢO:

  1. TS. Phan Hiển Minh và CN. Phan Trần Trung Quang, Tham luận: “Cần sửa đổi bổ sung các quy định về định giá chuyển giao tại Việt Nam trong quá trình hội nhập” tại Hội thảo Khoa học: “Chính sách mới thu hút nguồn lực bên ngoài” do Ban Kinh tế Trung Ương và Trường ĐH Kinh tế TP.HCM tổ chức, NXB Kinh tế TP.HCM, 2014;
  2. Đề tài Khoa học cấp thành phố “Nghiên cứu vấn đề chuyển giá của các doanh nghiệp trên địa bàn TP.HCM – Thực trạng và giải pháp”, Chủ nhiệm đề tài: TS. Ngô Thị Ngọc Huyền, Trường ĐH Kinh tế TP.HCM, 2014;Thành viên :Phan Hiển Minh,Phan Trần Trung Quang;
  3. Model Tax Convention on Income and Capital, OECD, July 2008;
  4. 4.OECD Transfer Pricing Guidelines for Multinational Enterprises and Tax Administrations, OECD, July 2010;
  5. United Nations Practical Manual on Transfer Pricing for Developing Countries, UN, 2013;
  6. Thông tư 74-TC/TCT ngày 20/10/1997 hướng dẫn thực hiện quy định về thuế đối với các hình thức đầu tư theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam;
  7. Thông tư 89/1999/TT-BTC ngày 16/07/1999 hướng dẫn thực hiện quy định về thuế đối với các hình thức đầu tư theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam;
  8. Thông 13/2001/TT-BTC ngày 08/03/2001 hướng dẫn thực hiện quy định về thuế đối với các hình thức đầu tư theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam;
  9. Thông tư 117/2005/TT-BTC ngày 19/12/2005 hướng dẫn thực hiện việc xác định giá thị trường trong giao dịch kinh doang giữa các bên có quan hệ liên kết;
  10. Thông tư 66/2010/TT-BTC ngày 22/04/2010 hướng dẫn thực hiện việc xác định giá thị trường trong giao dịch kinh doang giữa các bên có quan hệ liên kết;
  11. Nghị định 83/2013/NĐ-CP ngày 22/07/2013 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật quản lý thuế và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật quản lý thuế;
  12. Thông tư 201/2013/TT-BTC ngày 20/12/2013 hướng dẫn việc áp dụng Thỏa thuận trước về phương pháp xác định giá tính thuế (APA) trong quản lý thuế;
  13. Thông tư 205/2013/TT-BTC ngày 24/12/2013 hướng dẫn thực hiện các Hiệp định tránh đánh thuế hai lần và ngăn ngừa việc trốn lậu thuế đối với các loại thuế đánh vào thu nhập và tài sản giữa Việt Nam với các nước và vùng lãnh thổ có hiệu lực thi hành tại Việt Nam.

 

[1] [1] Bài viết

[2] Multi-national company (MNC) hay Multi-national enterprise (MNE)

[3] Arm’s length principle (ALP)

[4] Transfer Pricing (TP)

[5] [4] OECD Transfer Pricing Guidelines for Multinational Enterprises and Tax Administrations

[6] [5] United Nations Practical Manual on Transfer Pricing for Developing Countries

[7] [9] Kỷ yếu Đề tài

[8] Đoạn 13 – 15, Lời giới thiệu, [5]

[9] Điểm 4.6.2.1, Chương 4, [5]

[10] Double Tax Agreement (DTA) :Hiep dinh tranh danh thue hai lan

Bản in

 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *