Chuyên đề 6: HIỆP ĐỊNH VÀ CÁC CAM KẾT VỀ LĨNH VỰC TÀI CHÍNH TRONG CÁC HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO FTA THẾ HỆ MỚI (TPP, EVFTA, VKFTA…) VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH

Chuyên đề 6: HIỆP ĐỊNH VÀ CÁC CAM KẾT VỀ LĨNH VỰC TÀI CHÍNH TRONG CÁC HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO FTA THẾ HỆ MỚI (TPP, EVFTA, VKFTA…) VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH

Phòng Đa phương

Vụ Hợp tác quốc tế – Bộ Tài chính

Cho đến nay,Việt Nam đã trở thành thành viên ký kết của 10 Hiệp định thương mại tự do (FTA) song phương và đa phương ở các mức độ khác nhau đồng thời ta cũng đang song song tiến hành đàm phán các Hiệp định thương mại tự do khu vực và liên khu vực. Các Hiệp định mà Việt Nam tham gia đều dựa trên cơ sở lựa chọn đối tác phù hợp với chiến lược hội nhập kinh tế quốc tế đến năm 2020.

Trong năm 2015 vừa qua, Việt Nam đã hoàn tất đàm phán hoặc đi đến ký kết chính thức một số Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới. Đây là những Hiệp định được xem là tương đối hoàn thiện với mức độ cam kết sâu rộng hơn không chỉ ở lĩnh vực hàng hóa mà còn nhiều nội dung quan trọng khác như dịch vụ tài chính, doanh nghiệp nhà nước, mua sắm Chính phủ….. Những Hiệp định kiểu mới mà Việt Nam đã chính thức ký kết thời gian qua là Hiệp định Xuyên Thái Bình Dương (TPP); Hiệp định  Việt Nam – Hàn Quốc (VKFTA), Hiệp định Việt Nam – Liên minh Hải quan (VCUFTA). Ngoài ra Việt Nam đã hoàn tất đàm phán Hiệp định rất quan trọng với Liên minh Châu Âu (EU) (EVFTA).

Đối với TPP, đây là Hiệp định có tiêu chuẩn cao nhưng nhìn chung đa số các nước tham gia đàm phán đều có cơ cấu kinh tế mang tính bổ sung với kinh tế Việt Nam và là các thị trường ta duy trì xuất siêu với kim ngạch lớn. Hiệp định bao gồm 30 chương, đề cập không chỉ các lĩnh vực truyền thống như hàng hóa, dịch vụ, đầu tư mà còn cả các vấn đề mới như thương mại điện tử, tạo thuận lợi cho dây chuyền cung ứng, doanh nghiệp nhà nước v..v. Khi thực thi, TPP sẽ trở thành khu vực thương mại tự do lớn nhất thế giới, chiếm tới 40% GDP toàn cầu và xấp xỉ 30% tổng thương mại thế thới. Việt Nam được xem là quốc gia sẽ được hưởng lợi nhiều nhất từ TPP, đặc biệt trong các lĩnh vực thế mạnh của Việt Nam như may mặc, da giầy…

Tương tự như vậy, Hiệp định EVFTA là một Hiệp định toàn diện, chất lượng cao, cân bằng về lợi ích cho cả Việt Nam và EU, đồng thời phù hợp với các quy định của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Các nội dung chính của Hiệp định gồm: Thương mại hàng hóa (lời văn về quy định chung và cam kết mở cửa thị trường), Quy tắc xuất xứ, Hải quan và thuận lợi hóa thương mại, Các biện pháp vệ sinh an toàn thực phẩm và kiểm dịch động thực vật (SPS), Hàng rào kỹ thuật trong thương mại (TBT), Thương mại dịch vụ (lời văn về quy định chung và cam kết mở cửa thị trường), Đầu tư, Phòng vệ thương mại, Cạnh tranh, Doanh nghiệp nhà nước, Mua sắm của Chính phủ, Sở hữu trí tuệ (bao gồm chỉ dẫn địa lý), Phát triển bền vững, Hợp tác và xây dựng năng lực, Các vấn đề pháp lý.

Sau đây là tóm tắt một số nội dung chính về cam kết của Việt Nam đối với các nước cũng như của các nước dành cho Việt Nam trong các Hiệp định thế hệ mới này, cụ thể như sau:

6.1. Thương mại với các đối tác TPP và EU

6.1.1. Quan hệ thương mại Việt Nam – EU

EU hiện là đối tác thương mại quan trọng của Việt Nam với tổng kim ngạch hai chiều đạt 36,7 tỷ USD (năm 2014), trong đó kim ngạch xuất khẩu sang thị trường EU đạt 27,9 tỷ USD (tăng 14,7% so với năm 2013), kim ngạch nhập khẩu từ EU đạt 8,8 tỷ USD (giảm 6,2% so với năm 2013). Trong thời gian qua, Việt Nam luôn là nước xuất siêu sang thị trường EU (năm 2014 xuất siêu 19 tỷ USD) và EU là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam trong những năm gần đây (chiếm trên 18% tổng kim ngạch nhập khẩu năm 2014).

Đặc điểm nổi bật trong cơ cấu xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và EU là tính bổ sung rất lớn, ít mang tính cạnh tranh đối đầu trực tiếp. EU là thị trường xuất khẩu dệt may, giày dép, điện thoại và linh kiện, máy tính, hàng tiêu dùng, đồ gỗ, thuỷ sản, nông sản quan trọng của Việt Nam. Trong khi các mặt hàng chính nhập khẩu từ thị trường EU gồm: máy móc thiết bị dụng cụ và phụ tùng, nguyên phụ liệu dệt may da, tân dược, dược phẩm, hoá chất và sản phẩm hoá chất, phương tiện vận tải và phụ tùng,….

EU cũng là nhà đầu tư lớn vào Việt Nam. Tính đến hết năm 2014, đã có 23 trong số 28 nước EU đầu tư vào Việt Nam với hơn 2.000 dự án còn hiệu lực, tổng vốn đầu tư đăng ký đạt trên 37 tỷ USD. Các nhà đầu tư EU đã có mặt tại hầu hết các ngành kinh tế quan trọng của Việt Nam, tập trung nhiều nhất vào công nghiệp, xây dựng và một số ngành dịch vụ.

6.1.2. Quan hệ thương mại Việt Nam – TPP

Kim ngạch thương mại của Việt Nam với các nước thành viên TPP đạt trung bình 83 tỷ USD/năm (giai đoạn 2012-2015), theo đó kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam là 52,6 tỷ USD và nhập khẩu là 32,4 tỷ USD. Trong TPP, Hoa Kỳ là đối tác quan trọng nhất của Việt Nam với mức xuất siêu trung bình sang thị trường này khoảng 25 tỷ USD/năm.

Biểu đồ 6.1. Kim ngạch thương mại Việt Nam và các nước TPP (2012-2015)

Nguồn: Số liệu từ Tổng cục Hải quan

6.2. Cam kết trong lĩnh vực hàng hóa

6.2.1. Các quy định chung về Xuất Nhập khẩu

Hiệp định TPP đưa thêm các quy định mới nhằm đơn giản hóa hơn về thủ tục và các vấn đề trong xuất nhập khẩu hàng hóa và hải quan khác nhằm tạo thuận lợi thương mại cũng như một số quy định mới đối với chính sách xuất nhập khẩu ở một số nội dung cụ thể như sau:

Trong Hiệp định TPP, quy định miễn thuế không kể xuất xứ đối với một số mặt hàng cụ thể như phim và ghi âm quảng cáo, hàng mẫu có giá trị thương mại nhỏ, các ấn phẩm in quảng cáo nhằm tạo thuận lợi cho quá trình trao đổi thông tin tìm hiểu về mặt hàng của các đối tác của các Bên trong quá trình giao dịch và trao đổi, mua bán. Hiệp định EVFTA không cam kết nội dung này.

Quy định về hàng hóa tạm nhập tái xuất: Theo đó, mỗi Bên sẽ cho phép miễn thuế nhập khẩu các hàng hóa tạm nhập tái xuất đối với hàng hóa bất kể có xuất xứ từ đâu và đối với việc nhập khẩu các thiết bị phục vụ cho mục đích chuyên dụng (báo chí, thể thao, trưng bầy, hàng mẫu…) với điều kiện không thay đổi bản chất hàng hóa. Ngoài ra, không Bên nào được phép quy định điều kiện đối với việc miễn thuế hàng tạm nhập ngoài việc yêu cầu các hàng hóa đó được sử dụng hoặc giám sát việc sử dụng nhằm mục đích thực hiện hoạt động kinh doanh, thương mại, chuyên môn hoặc thể thao. Hiệp định EVFTA không cam kết nội dung này.

Quy định đối với hàng hóa tái nhập hoặc sau khi được sửa chữa hay thay thế: Hàng hóa xuất khẩu sau đó tái nhập vì mục đích sửa chữa thay thế thì không đánh thuế với một số điều kiện nhất định. Trong hiệp định EVFTA có nội dung cam kết tương tự với điều kiện chặt chẽ hơn, cụ thể thay đổi: công dụng, tính năng….

Quy tắc xuất xứ trong TPP: Được hiểu là các sản phẩm xuất khẩu từ một thành viên TPP sang các thành viên khác đều phải có xuất xứ nội khối nhằm đảm bảo rằng mọi lợi ích của TPP chỉ dành cho các thành viên của khối. Đối với mỗi loại hàng hóa cụ thể thì sẽ có quy định riêng về xuất xứ và quy trình cần thiết để chứng minh xuất xứ của hàng hóa đó. Bên cạnh đó, TPP cũng quy định quy tắc xuất xứ đối với hàng tân trang (remanufactured goods); quy tắc bộ hàng hóa, quy tắc linh hoạt sử dụng giá FOB thay cho giá CIF khi tính giá trị nguyên vật liệu không có xuất xứ nội khối; quy tắc cách tính RVC (giá tập trung); Quy tắc loại trừ việc áp dụng De Minimis đối với một số mặt hàng cụ thể.

Các nước TPP cam kết thực hiện đúng cam kết về thuế theo lộ trình đã thống nhất. Trong trường hợp đẩy nhanh cam kết thì có thể tăng trở lại mức cam kết. Các bên tham gia phải thông báo tới các Bên khác càng sớm càng tốt trước khi mức thuế mới có hiệu lực. Cụ thể, không Bên nào được tăng bất kỳ mức thuế quan nào đang có hiệu lực hoặc áp dụng mức thuế quan mới đối với một hàng hóa có xuất xứ theo lộ trình đã cam kết.

Quy tắc về phòng về thương mại

Trong điều khoản về Biện pháp tự vệ toàn cầu, Hiệp định TPP đặt ra các quy định đối với biện pháp tự vệ phù hợp với Hiệp định Tự vệ của WTO. Tuy nhiên, TPP bổ sung thêm quy định khi áp dụng biện pháp tự vệ toàn cầu khi cho phép loại trừ hàng hóa từ một nước thành viên TPP khác nếu việc nhập khẩu hàng hóa này không đe dọa tới sản xuất trong nước.

Hiệp định TPP cũng xây dựng Cơ chế tự vệ trong thời gian chuyển đổi, cho phép một nước thành viên có thời gian thích ứng trong giai đoạn tự do hóa thương mại nếu có biến động lớn về kim ngạch nhập khẩu một số mặt hàng. Hiệp định này được xây dựng theo hướng chặt chẽ hơn so với Hiệp định tự vệ của WTO, hạn chế việc lạm dụng, đảm bảo sự minh bạch thông qua việc cho phép các bên liên quan được tiếp cận các tài liệu cần thiết. Các biện pháp tự vệ này có thể được áp dụng trong thời gian 02 năm và trong trường hợp cần thiết có thể được gia hạn thêm 01 năm để ngăn chặn hoặc khắc phục thiệt hại nghiêm trọng. Bên cạnh đó, một quốc gia áp dụng biện pháp tự vệ sẽ phải có hình thức bồi thường theo thỏa thuận và trong cùng một thời điểm cũng không được áp dụng nhiều hơn 01 biện pháp tự vệ tạm thời cho phép.

6.2.2. Các cam kết về thuế nhập khẩu trong TPP

6.2.2.1. Cam kết của Việt Nam

Việt Nam áp dụng biểu thuế nhập khẩu chung cho tất cả các đối tác trong TPP, theo đó Việt Nam cam kết xóa bỏ gần 100% số dòng thuế, cụ thể:

– 65,8% tổng số dòng thuế có thuế suất 0% ngay khi Hiệp định có hiệu lực;

– 86,5% tổng số dòng thuế có thuế suất 0% vào năm thứ 4 kể từ khi Hiệp định có hiệu lực;

– 97,8% tổng số dòng thuế có thuế suất 0% vào năm thứ 11 kể từ khi Hiệp định có hiệu lực;

– Các mặt hàng còn lại cam kết xoá bỏ thuế nhập khẩu với lộ trình xóa bỏ thuế tối đa vào năm thứ 16 hoặc theo hạn ngạch thuế quan.

Những mặt hàng Việt Nam cam kết xóa bỏ thuế nhập khẩu ngay khi Hiệp định có hiệu lực bao gồm động vật sống, thức ăn gia súc, một số sản phẩm sữa, ngũ cốc, gạo, da và sản phẩm da, cao su và sản phẩm cao su, chất dẻo, dược phẩm, thuốc trừ sâu, hóa chất, khoáng sản, một số loại giấy, nguyên liệu dệt may, da giầy, vải bông các loại, sản phẩm dệt may, phân bón, nước hoa, mỹ phẩm, máy móc thiết bị, đồ nội thất, gỗ và sản phẩm gỗ, nhạc cụ, sản phẩm sắt thép, linh kiện điện tử…

Những nhóm có lộ trình xóa bỏ thuế quan sau 3 năm gồm bánh kẹo, chè và cà phê, ngô ngọt, đồng hồ, hàng gia dụng, máy khâu, máy phát điện, đồ trang sức, vật liệu xây dựng, sữa, máy móc thiết bị, nhựa và sản phẩm nhựa, sản phẩm điện tử…

Nhóm có lộ trình xóa bỏ thuế sau 5 năm chủ yếu gồm: Dầu thực vật, chế phẩm rau quả, một số sản phẩm cao su…

Nhóm có lộ trình xóa bỏ thuế quan sau 7 năm gồm: Bộ phận linh kiện xe đạp xe máy, một số linh kiện ô tô, bánh kẹo, chế phẩm thủy sản, dầu mỡ động thực vật, rau quả, sắt thép, xe đạp nguyên chiếc, một số loại xe chuyên dụng…

Nhóm có lộ trình xóa bỏ thuế quan sau 9 -10 năm: Thịt các loại, bia rượu, đường, trứng, muối, xăng dầu, ô tô, sắt thép, một số loại linh kiện phụ tùng ô tô, phôi thép, săm lốp…

Cam kết về thuế nhập khẩu của Việt Nam đối với một số nhóm mặt hàng cụ thể như sau:

a) Nhóm mặt hàng công nghiệp:

Việt Nam cam kết xóa bỏ gần 100% các mặt hàng công nghiệp, theo đó: 67% số dòng thuế có thuế suất 0% ngay khi Hiệp định có hiệu lực; 90% số dòng thuế có thuế suất 0% vào năm thứ 3 kể từ khi Hiệp định có hiệu lực và 98,7% số dòng thuế có thuế suất 0% vào năm thứ 11 kể từ khi Hiệp định có hiệu lực; Các mặt hàng còn lại cam kết xoá bỏ thuế nhập khẩu với lộ trình xóa bỏ thuế tối đa vào năm thứ 13 hoặc theo hạn ngạch thuế quan.

Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện: khoảng 60% số dòng thuế của nhóm này cam kết xóa bỏ thuế nhập khẩu ngay, phần còn lại tự do hóa với lộ trình 3 năm.

Máy móc thiết bị, dụng cụ và phụ tùng: 75% số dòng thuế của nhóm này sẽ xóa bỏ thuế nhập khẩu ngay khi Hiệp định có hiệu lực, còn lại cam kết tự do hóa theo lộ trình từ 3-8 năm (chủ yếu là 3 năm); Động cơ máy móc: chủ yếu xóa bỏ ngay đối với phần lớn kim ngạch nhập khẩu và vào năm thứ 8 khi Hiệp định có hiệu lực đối với các mặt hàng động cơ còn lại. Mặt hàng động cơ ô tô và xe máy cũng xóa bỏ vào năm thứ 8.

Hóa chất và sản phẩm hóa chất: Gần 88% tổng số dòng thuế của nhóm này cam kết xóa bỏ thuế nhập khẩu ngay khi Hiệp định có hiệu lực, còn lại chủ yếu cam kết xóa bỏ thuế nhập khẩu sau 3 năm.

NPL dệt may, da giày và nhóm chất dẻo nguyên liệu (kim ngạch nhập khẩu 1,15 tỉ USD, thuế suất ưu đãi (MFN) bình quân 2,9%): gần như toàn bộ các dòng thuế được cam kết xóa bỏ thuế nhập khẩu ngay khi hiệp định có hiệu lực.

Xăng: Sẽ xóa bỏ thuế nhập khẩu theo lộ trình đặc biệt, không sớm hơn năm 2027; Dầu, nhiên liệu bay : Việt Nam cam kết xóa bỏ thuế nhập khẩu không sớm hơn năm 2027.

+ Dụng cụ, thiết bị quang học và sản phẩm công nghiệp kỹ thuật cao: Hầu hết xóa bỏ thuế nhập khẩu ngay khi Hiệp định có hiệu lực;

Sắt thép và sản phẩm kim loại cơ bản: Hơn 50% cam kết xóa bỏ thuế nhập khẩu ngay, gần 30% cam kết xóa bỏ với lộ trình 3 năm, còn lại 20% được xóa bỏ sau lộ trình dài nhất 10 năm nhằm bảo hộ sản xuất trong nước theo đề nghị của Hiệp hội Thép Việt Nam.

Các mặt hàng cao su và sản phẩm từ cao su: Việt Nam cam kết xóa bỏ thuế ngay khi Hiệp định có hiệu lực đối với 63 mặt hàng, một số ít vào năm thứ 8; Chất dẻo nguyên liệu: Xóa bỏ 131 dòng chủ yếu là xóa bỏ ngay khi Hiệp định có hiệu lực.

Mặt hàng dây cáp điện: Việt Nam cam kết xóa bỏ vào năm thứ 4.

Mặt hàng nhựa nguyên liệu: Xóa bỏ 10 dòng ngay và vào năm thứ 4 khi Hiệp định có hiệu lực; Nhựa phế liệu: Xóa bỏ ngay khi Hiệp định có hiệu lực.

Mặt hàng da và sản phẩm da: Cam kết xóa bỏ 100 dòng chủ yếu là xóa bỏ ngay và vào năm thứ 4 khi Hiệp định có hiệu lực.

Mặt hàng đồ nội thất: Xóa bỏ 100 dòng chủ yếu là xóa bỏ ngay và vào năm thứ 4 khi Hiệp định có hiệu lực; Gỗ và sản phẩm gỗ: Việt Nam cam kết xóa bỏ 100 dòng chủ yếu là xóa bỏ ngay và vào năm thứ 4 khi Hiệp định có hiệu lực.

Mặt hàng nguyên phụ liệu dược phẩm: Việt Nam cam kết xóa bỏ 29 dòng xóa bỏ ngay khi Hiệp định có hiệu lực.

Mặt hàng phân bón: Việt Nam cam kết xóa bỏ 32 dòng xóa bỏ ngay khi Hiệp định có hiệu lực.

Như vậy, đối với một số các mặt hàng công nghiệp quan trọng có lộ trình như sau:

Mặt hàng ô tô: xóa bỏ thuế vào năm thứ 13 đối với các loại ô tô mới, riêng ô tô con có dung tích xi lanh từ 3000cc trở lên có lộ trình xóa bỏ vào năm thứ 10; Đối với các mặt hàng ô tô cũ, Việt Nam áp dụng hạn ngạch thuế quan đối với lượng hạn ngạch ban đầu là 66 chiếc, lượng hạn ngạch sẽ tăng dần và đạt 150 chiếc kể từ năm thứ 16. Thuế suất trong hạn ngạch giảm về 0% vào năm thứ 16, thuế suất ngoài hạn ngạch thực hiện theo mức thuế suất MFN theo cam kết WTO;

Mặt hàng sắt thép, xăng dầu: Chủ yếu xóa bỏ thuế vào năm thứ 11; Nhựa và sản phẩm nhựa; Hóa chất và sản phẩm hóa chất; Giấy, đồ gỗ; Máy móc, thiết bị: phần lớn xóa bỏ thuế ngay khi Hiệp định có hiệu lực, một số loại xóa bỏ vào năm thứ 4.

b) Sản phẩm nông nghiệp:

Việt Nam cam kết xóa bỏ xấp xỉ tổng số 99,2% các mặt hàng nông nghiệp, theo đó: 32,6% số dòng thuế có thuế suất 0% ngay khi Hiệp định có hiệu lực; 90% số dòng thuế có thuế suất 0% vào năm thứ 3 kể từ khi Hiệp định có hiệu lực và 98,7% số dòng thuế có thuế suất 0% vào năm thứ 11; Các mặt hàng còn lại cam kết xoá bỏ thuế nhập khẩu với lộ trình xóa bỏ thuế tối đa vào năm thứ 13 hoặc áp dụng hạn ngạch thuế quan. Cụ thể, các nhóm mặt hàng nông nghiệp quan trọng có lộ trình như sau:

Mặt hàng rau quả và chế phẩm từ rau quả: Cam kết tự do hóa xóa bỏ ngay hoặc vào năm thứ 2/3/4/5/6/8 khi Hiệp định có hiệu lực hoặc xóa bỏ vào năm thứ 5.

Mặt hàng thịt và phụ phẩm: Xóa bỏ theo lộ trình khác nhau tùy từng mặt hàng, thấp nhất là vào năm thứ 3 và cao nhất là năm thứ 13. Tuy nhiên, các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu có lộ trình từ 7-10 năm.

Mặt hàng sữa và sản phẩm từ sữa: Chủ yếu cam kết tự do hóa với lộ trình 3 năm, chiếm khoảng 55% tổng số dòng thuế của nhóm này, còn lại cam kết xóa bỏ ngay hoặc lộ trình xóa bỏ thuế quan sau 3 năm hoặc 4 năm.

Mặt hàng thức ăn gia súc và nguyên liệu: Cam kết xóa bỏ thuế nhập khẩu ngay khi Hiệp định có hiệu lực đối với toàn bộ dòng thuế của nhóm.

Nhóm mặt hàng chè, cà phê, gia vị: Cam kết xóa bỏ thuế nhập khẩu ngay khi Hiệp định có hiệu lực đối với toàn bộ dòng thuế của nhóm; Mặt hàng hạt và quả có dầu: xóa bỏ thuế vào năm thứ 5 hoặc thứ 6.

Mặt hàng dầu mỡ động thực vật: Chủ yếu cam kết tự do hóa vào năm thứ 5, thứ 6, thứ 7 hoặc thứ 8.

Mặt hàng đồ uống không cồn: Xóa bỏ ngay hoặc vào năm thứ 4 khi Hiệp định có hiệu lực.

Mặt hàng thủy sản: chủ yếu cam kết tự do hóa xóa bỏ ngay hoặc vào năm thứ 4 khi Hiệp định có hiệu lực.

Mặt hàng lúa mỳ: xóa bỏ ngay khi Hiệp định có hiệu lực; Ngũ cốc: Xóa bỏ ngay khi Hiệp định có hiệu lực hoặc xóa bỏ vào năm thứ 6; Chế phẩm từ ngũ cốc vào năm thứ 3; Ngô: Cam kết tự do hóa xóa bỏ ngay khi Hiệp định có hiệu lực hoặc xóa bỏ vào năm thứ 5.

Như vậy đối với một số các mặt hàng nông nghiệp quan trọng có lộ trình như sau:

Mặt hàng thịt gà: Việt Nam cam kết xóa bỏ thuế nhập khẩu sau vào năm thứ 11/12; Mặt hàng thịt lợn: Việt Nam cam kết xóa bỏ thuế nhập khẩu vào năm thứ 10 đối với thịt lợn tươi vào năm thứ 8 năm đối với thịt lợn đông lạnh; Thực phẩm chế biến từ thịt: Xóa bỏ vào năm thứ 8 đến năm thứ 11, chế biến từ thủy sản xóa bỏ vào năm thứ 5;

Mặt hàng đường, trứng, muối, Việt Nam cam kết xóa bỏ thuế trong hạn ngạch của WTO vào năm thứ 6 đối với mặt hàng trứng và vào năm thứ  11 đối với mặt hàng đường, muối. Thuế ngoài hạn ngạch giữ như mức thuế MFN; Lá thuốc lá: Xóa bỏ thuế trong hạn ngạch vào năm thứ 11 đối với lượng hạn ngạch 500 tấn, mỗi năm tăng thêm 5% trong vòng 20 năm. Thuế suất ngoài hạn ngạch duy trì ở mức thuế MFN đến năm thứ 20, đến năm 21 thuế nhập khẩu mặt hàng lá thuốc lá hoàn toàn về 0% và không còn áp dụng cơ chế hạn ngạch; Mặt hàng thuốc lá điếu, Việt Nam cam kết xoá bỏ thuế nhập khẩu vào năm thứ 16.

c) Sản phẩm dệt may:

Việt Nam cam kết xóa bỏ hoàn toàn thuế đối với các mặt hàng dệt may ngay khi Hiệp định có hiệu lực, trừ các mặt hàng quần áo cũ và vải vụn, trong đó. Các mặt hàng dệt may hiện nay ta vẫn đang áp dụng thuế suất MFN khoảng 12%.

6.2.2.2. Cam kết của các nước

Các nước cam kết xóa bỏ thuế nhập khẩu dành cho hàng hóa của Việt Nam ngay khi Hiệp định có hiệu lực khoảng từ 78-95% số dòng thuế và xóa bỏ hoàn toàn từ 97-100% dòng thuế. Các mặt hàng còn lại sẽ có lộ trình xóa bỏ thuế trong vòng 5-10 năm, trừ một số mặt hàng nhạy cảm có lộ trình trên 10 năm hoặc áp dụng biện pháp hạn ngạch thuế quan. Nhiều mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam vào thị trường TPP được hưởng thuế suất 0% ngay sau khi Hiệp định có hiệu lực hoặc sau 3-5 năm như nông sản, thủy sản, một số mặt hàng dệt may, giày dép, đồ gỗ, hàng điện, điện tử, cao su…

Hầu hết các nước có biểu thuế áp dụng chung cho tất cả các nước còn lại, trừ Hoa Kỳ áp dụng riêng lộ trình giảm thuế với hàng hóa của từng thành viên TPP.

a) Cam kết của Hoa Kỳ:

Hoa Kỳ cam kết xóa bỏ gần 100% số dòng thuế, trừ một số sản phẩm đường áp dụng hạn ngạch thuế quan.

+ Về nông nghiệp: Hoa Kỳ sẽ xóa bỏ ngay 55,4% số dòng thuế nông nghiệp (tương đương 97,7% kim ngạch nhập khẩu từ Việt Nam đạt 0,95 tỷ USD) ngay khi Hiệp định có hiệu lực. Các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam như gạo, mật ong, cà phê, chè, hạt tiêu, điều, rau quả đều được xóa bỏ thuế ngay. Vào năm thứ 10, tổng số dòng thuế nông nghiệp được xóa bỏ là 97,4%. Hoa kỳ áp dụng hạn ngạch thuế quan đối với 35 dòng thuế đường và sản phẩm chứa đường.

+ Về công nghiệp (trừ dệt may):

– Tổng số 85,6% số dòng thuế công nghiệp được xóa bỏ ngay khi Hiệp định có hiệu lực. Vào năm thứ 10, Hoa Kỳ sẽ xóa bỏ xấp xỉ 100% số dòng thuế công nghiệp.

– Thủy sản: Xóa bỏ ngay hoặc vào năm thứ 3 kể từ khi Hiệp định có hiệu lực (riêng cá ngừ chế biến xóa bỏ vào năm thứ 10).

– Giày dép: 85% số dòng thuế giày dép được xóa bỏ ngay và đồng thời 3,2% số dòng thuế có kim ngạch lớn (Hoa Kỳ cam kết giảm ngay từ 40% – 55% mức hiện hành và xóa bỏ hoàn toàn thuế suất vào năm thứ 12.

– Điện, điện tử: Khoảng 80% số dòng thuế sẽ được xóa bỏ ngay, một số mặt hàng còn lại được xóa bỏ vào năm thứ 3 đến năm thứ 5 và chỉ một số ít sản phẩm được xóa bỏ vào năm thứ 10.

+ Về dệt may: 73,1% số dòng thuế (1.182 dòng) được xóa bỏ thuế ngay khi Hiệp định có hiệu lực và thêm 7% số dòng thuế dệt may sẽ được xóa bỏ thuế vào năm thứ 5.

b) Cam kết của Ca-na-da:

Cam kết xoá bỏ thuế nhập khẩu cho 95% số dòng thuế và 78% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam tại thời điểm Hiệp định có hiệu lực. Trong đó 100% kim ngạch xuất khẩu thủy sản, 100% kim ngạch xuất khẩu gỗ được xóa bỏ thuế quan ngay khi Hiệp định có hiệu lực.

c) Cam kết của Mê-xi-cô:

Xóa bỏ ngay tổng số 77,2% số dòng thuế. Sau 10 năm, 98% số dòng thuế sẽ được xóa bỏ thuế nhập khẩu. Mê-xi-cô không cam kết xóa bỏ thuế đối với mặt hàng đường và áp dụng hạn ngạch thuế đối với sữa kem và sản phẩm; dầu cọ.

d) Cam kết của Nhật Bản:

Trong TPP, Nhật Bản cam kết xóa bỏ thuế ngay đối với 78% kim ngạch xuất khẩu nông sản của Việt Nam; gần 91% kim ngạch xuất khẩu thủy và xóa bỏ thuế ngay đối với gần 97% kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ; xóa bỏ thuế nhập khẩu giầy da, túi da vào năm thứ 16.

e) Cam kết của một số nước khác:

Úc và Niu-di-lân cam kết xóa bỏ 100% số dòng thuế, trong đó xóa bỏ ngay khoảng 93-95%. Xinh-ga-po; Ma-lai-xi-a; Bru-nây xóa bỏ 100% số dòng thuế và phần lớn về ngay 0% khi Hiệp định có hiệu lực. Pê-ru cam kết xóa bỏ tới 80,7% số dòng thuế ngay khi Hiệp định có hiệu lực; Chi – lê cam kết xóa bỏ đối với 95,1% số dòng thuế ngay khi Hiệp định có hiệu lực.

6.2.3. Cam kết về thuế nhập khẩu trong Hiệp định FTA Việt Nam – EU

6.2.3.1. Cam kết của EU dành cho Việt Nam

Ngay khi Hiệp định có hiệu lực, EU sẽ xóa bỏ thuế nhập khẩu đối với khoảng 85,6% số dòng thuế, tương đương 70,3% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang EU. Sau 07 năm kể từ khi Hiệp định có hiệu lực, EU sẽ xóa bỏ thuế nhập khẩu đối với 99,2% số dòng thuế, tương đương 99,7% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Đối với khoảng 0,3% kim ngạch xuất khẩu còn lại, EU cam kết dành cho Việt Nam hạn ngạch thuế quan với thuế nhập khẩu trong hạn ngạch là 0% ngay khi Hiệp định có hiệu lực.

Bảng 6.1. Lộ trình xóa bỏ thuế của EU

Danh mục

% Số dòng thuế

% Kim ngạch xuất khẩu sang EU 2009-2011

Xóa bỏ ngay

85.6%

70.3%

Xóa bỏ sau 3 năm

90.4%

82.5%

Xóa bỏ sau 5 năm

94.6%

92.0%

Xóa bỏ sau 7 năm

99.2%

99.7%

Nguồn: Vụ Hợp tác quốc tế – Bộ Tài chính

a) Về Nông nghiệp:

Gạo: EU dành cho Việt Nam một lượng hạn ngạch đáng kể đối với gạo xay xát, gạo chưa xay xát và gạo thơm. Gạo nhập khẩu theo hạn ngạch này được miễn thuế hoàn toàn khi Hiệp định có hiệu lực. Riêng gạo tấm, thuế nhập khẩu sẽ được xóa bỏ theo lộ trình. Đối với sản phẩm từ gạo, EU sẽ đưa thuế nhập khẩu về 0% trong vòng 7 năm.

Một số nhóm hàng nông sản khác áp dụng hạn ngạch gồm: Đường, tinh bột sắn, ngô ngọt, tỏi, nấm.

Mật ong: EU sẽ xóa bỏ thuế ngay khi Hiệp định có hiệu lực và không áp dụng hạn ngạch thuế quan.

Các sản phẩm rau củ quả, rau củ quả chế biến, nước hoa quả,…: Về cơ bản sẽ được xóa bỏ thuế quan ngay khi Hiệp định có hiệu lực.

b) Về Thủy sản:

Thủy sản (trừ cá ngừ đóng hộp): EU sẽ xóa bỏ thuế quan sau tối đa 7 năm.

Đối với cá ngừ đóng hộp: EU dành cho Việt Nam một lượng hạn ngạch thuế quan thỏa đáng.

c) Về Công nghiệp:

Dệt may: EU sẽ xóa bỏ hoàn toàn thuế nhập khẩu cho các sản phẩm của Việt Nam trong vòng 7 năm kể từ khi Hiệp định có hiệu lực. Trong đó, EU chấp nhận quy tắc xuất xứ từ vải trở đi và chấp nhận cộng gộp xuất xứ từ Hàn Quốc.

Giày dép: EU sẽ xóa bỏ hoàn toàn thuế nhập khẩu cho các sản phẩm của Việt Nam trong vòng 7 năm kể từ khi Hiệp định có hiệu lực. Trong đó, nhiều nhóm sản phẩm quan trọng sẽ được xóa bỏ thuế quan ngay khi Hiệp định có hiệu lực.

Các sản phẩm túi xách, vali, sản phẩm nhựa, sản phẩm gốm sứ thủy tinh,… về cơ bản sẽ được xóa bỏ thuế quan ngay khi Hiệp định có hiệu lực.

6.2.3.2. Cam kết của Việt Nam dành cho các nước EU

Việt Nam cam kết sẽ xóa bỏ thuế quan ngay khi Hiệp định có hiệu lực với 48,5% số dòng thuế, tương đương 64,5% kim ngạch nhập khẩu từ EU, và sau 10 năm là khoảng 98.3% số dòng thuế, tương đương 99,8% kim ngạch nhập khẩu từ EU. Đối với số dòng thuế còn lại, Việt Nam sẽ có lộ trình trên 10 năm hoặc dành ưu đãi cho EU trên cơ sở hạn ngạch thuế quan của WTO.

Bảng 6.2. Lộ trình xóa bỏ thuế của Việt Nam

Danh mục

% Số dòng thuế

% Kim ngạch nhập khẩu từ EU 2009-2011

Xóa bỏ ngay

48.5%

64.5%

Xóa bỏ sau 3 năm

58.7%

68.9%

Xóa bỏ sau 5 năm

79.6%

84.5%

Xóa bỏ sau 7 năm

91.8%

97.1%

Xóa bỏ sau 9 năm

92.2%

97.7%

Xóa bỏ sau 10 năm

98.3%

99.8%

Nguồn: Vụ Hợp tác quốc tế – Bộ Tài chính

a) Về Nông nghiệp:

Thịt lợn, gà, bò: Việt Nam cam kết xóa bỏ thuế quan sau 3 năm đối với thịt bò; 7 năm đối với thịt lợn đông lạnh, 9 năm đối với các nhóm thịt lợn khác; và 10 năm đối với thịt gà.

Sữa và sản phẩm sữa: Việt Nam sẽ xóa bỏ thuế quan sau 3-5 năm.

Đồ uống có cồn: Việt Nam cam kết xóa bỏ thuế quan tối đa không quá 10 năm.

Thuốc lá, xì gà: Việt Nam cam kết xóa bỏ thuế quan sau 15 năm.

Nhóm đang áp dụng chính sách TRQ (gồm trứng, đường, lá thuốc lá, muối): Việt Nam cam kết xóa bỏ thuế quan trong hạn ngạch WTO sau 10 năm, không cam kết đối với thuế quan ngoài hạn ngạch.

b) Về Thủy sản:

Thủy sản: Việt Nam cam kết xóa bỏ thuế quan sau tối đa 3 năm.

Các sản phẩm từ cá: Việt Nam cam kết xóa bỏ thuế quan sau tối đa 7 năm.

c) Về Công nghiệp:

Hóa chất: Việt Nam cam kết xóa bỏ thuế quan sau tối đa 7 năm, trong đó, khoảng 70% kim ngạch nhập khẩu hóa chất từ EU được hưởng thuế suất 0% ngay khi Hiệp định có hiệu lực.

Sản phẩm gỗ, giấy: Việt nam cam kết xóa  bỏ thuế quan tối đa 7 năm.

Máy móc thiết bị: Việt Nam cam kết xóa bỏ thuế quan tối đa 7 năm.

Linh kiện, phụ tùng ô tô: Việt Nam sẽ xóa bỏ thuế quan sau tối đa 7 năm.

Xe máy: Việt Nam cam kết xóa bỏ thuế quan sau 7 năm đối với xe máy phân khối lớn (trên 150cc) và sau 10 năm đối với các nhóm xe máy còn lại.

Ô tô: Việt Nam cam kết xóa bỏ thuế quan sau 9 năm đối với ô tô phân khối lớn (trên 3000cc cho động cơ xăng và trên 2500 cc cho động cơ diesel) và 10 năm đối với các loại ô tô còn lại.

6.2.4. Cam kết về thuế xuất khẩu

Cho tới nay, Việt Nam chỉ có cam kết về thuế xuất khẩu trong khuôn khổ WTO, trong đó Việt Nam chỉ cam kết về thuế xuất khẩu đối với duy nhất một nhóm hàng là phế liệu kim loại, cụ thể là cắt giảm thuế xuất khẩu phế liệu thép từ 35% xuống 17% sau 5 năm; phế liệu kim loại khác từ 40-45% xuống 22% sau 5 năm. Ngoài những nhóm hàng nói trên, Việt Nam không đưa ra bất kỳ cam kết nào về thuế xuất khẩu đối với các nhóm hàng khác. Như vậy, Việt Nam vẫn có quyền áp dụng thuế xuất khẩu đối với tất cả các mặt hàng. Các Hiệp định thương mại tự do mà Việt Nam đã tham gia ký kết từ trước đến nay đều chưa có bất kỳ cam kết nào về thuế xuất khẩu.

a) Trong Hiệp định TPP:

Trong TPP có 3 nước áp dụng thuế xuất khẩu là Việt Nam, Malaysia và Canada. Cả 3 nước cam kết xoá bỏ thuế xuất khẩu, ngoại trừ các nhóm mặt hàng được bảo lưu.

Việt Nam cam kết xóa bỏ thuế xuất khẩu đối với phần lớn các mặt hàng hiện đang áp dụng thuế xuất khẩu, cơ bản theo lộ trình từ 5-15 năm sau khi Hiệp định có hiệu lực. Một số nhóm mặt hàng quan trọng như than đá, dầu mỏ và một số loại quặng, khoáng sản (70 mặt hàng) được tiếp tục duy trì thuế xuất khẩu, cụ thể:

– Nhóm khoáng sản: cát (Ch.25), đá phiến (2514), đá làm tượng đài hoặc xây dựng (2516), quặng dolomite (2518), quặng amiăng (2524), đá vôi (2521), quặng steatit (2526).

– Nhóm quặng: quặng đồng (2603), cô ban (2605), quặng nhôm (2606), quặng chì (2607), quặng kẽm (2608), quặng urani (2612), quặng thori (2612), quặng titan (2614), quặng zircon (2615), quặng vàng (2616) và  quặng antimon (2617).

– Nhóm than: than đá (2701), than non (2702), than bùn (2703), và dầu thô (2709).

– Nhóm vàng (7108) và vàng trang sức (7113-7115).

b) Trong hiệp định EVFTA:

Trong hiệp định EVFTA Việt Nam cam kết xóa bỏ phần lớn thuế xuất khẩu với hàng xuất khẩu sang EU với lộ trình lên đến 15 năm. Những mặt hàng quan trọng còn lại sẽ tiếp tục được duy trì thuế xuất khẩu và áp dụng một mức trần thuế suất thuế xuất khẩu.

Chi tiết cam kết như sau:

– Đối với 57 dòng thuế xuất khẩu bảo lưu áp dụng thuế xuất khẩu: Việt Nam cam kết một mức trần thuế suất, thực hiện giảm dần hoặc giữ nguyên thuế xuất khẩu hiện hành và cắt về mức trần sau thời gian chuyển đổi. Chi tiết nhóm được duy trì thuế xuất khẩu gồm:

(i) Nhóm khoáng sản: Cát (Ch.25), đá phiến (2514), đá làm tượng đài hoặc xây dựng (2516), đá vôi (2521), quặng steatit (2526).

(ii) Nhóm quặng: Quặng sắt (2601), quặng mangan (2602), quặng đồng (2603), quặng niken (2604), quặng nhôm (2606), quặng chì (2607), quặng kẽm (2608), quặng urani (2612), quặng thori (2612), quặng zircon (2615), quặng antimon (2617).

(iii) Nhóm than đá (2701), than non (2702), than bùn (2703), than cốc (2704) và dầu thô (2709).

(iv) Nhóm vàng (7108) và vàng trang sức (7113-7115).

– Đối với các dòng thuế phải xóa bỏ thuế xuất khẩu: Việt Nam cam kết có lộ trình xóa bỏ ngay, sau 5/7/10/12/15 năm, thực hiện giảm dần hoặc giữ nguyên thuế xuất khẩu hiện hành và xóa bỏ thuế xuất khẩu vào năm thứ nhất, năm thứ 5/7/10/12/15 tương ứng.

Như vậy, trong Hiệp định EVFTA và TPP, Việt Nam bảo lưu áp dụng thuế xuất khẩu đối với một số nhóm mặt hàng quan trọng như dầu thô, than đá và một số loại khoáng sản khác.

6.2.5. Cơ hội và thách thức từ các cam kết thuế xuất nhập khẩu

a) Cơ hội:

– Cam kết thuế nhập khẩu trong các hiệp định thế hệ mới sẽ mở rộng cơ hội tiếp cận thị trường cho các doanh nghiệp Việt Nam dành cho hàng xuất khẩu, đặc biệt là những sản phẩm mà Việt Nam có lợi thế.

– Đối với sản xuất trong nước, việc cắt giảm thuế nhập khẩu đối với các mặt hàng làm nguyên liệu đầu vào cho sản xuất từ các quốc gia phát triển trong hiệp định TPP và EVFTA sẽ giúp tiết kiệm chi phí sản xuất cho các doanh nghiệp trong nước, từ đó giá cả hàng hóa cạnh tranh hơn, thúc đẩy sản xuất để xuất khẩu.

– Người tiêu dùng được sử dụng cả hàng hóa nội địa và nhập khẩu từ các nền kinh tế phát triển với chất lượng tốt và giá cả hợp lý hơn.

– Cam kết thuế nhập khẩu trong các hiệp định này, cùng với cam kết khác về cải thiện môi trường đầu tư góp phần thúc đẩy luồng vốn đầu tư chất lượng cao vào Việt Nam, mở rộng cơ hội tiếp cận với nguồn công nghệ tiên tiến, quy trình và chất lượng quản lý tốt, thúc đẩy phát triển năng lực sản xuất, chất lượng nguồn lao động của Việt Nam.

b) Khó khăn:

– Sản phẩm trong nước bị cạnh tranh gay gắt bởi hàng hóa nước ngoài có chất lượng, mẫu mã tốt, giá thành rẻ.

– Doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào Việt Nam nhưng không chuyển giao công nghệ mà lợi dụng nguồn tài nguyên, nhân công giá rẻ để gia công, chế biến sản phẩm xuất sang các thị trường FTA.

– Một số ngành có năng lực cạnh tranh yếu kém như chăn nuôi, chế biến thực phẩm, ô tô, dược phẩm sẽ gặp khó khăn, qua đó đặt ra yêu cầu cấp bách về đổi mới phương thức sản xuất, đổi mới công nghệ để có thể cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập sâu rộng

– Bên cạnh những cơ hội to lớn của FTA mang lại, doanh nghiệp và nền kinh tế Việt Nam cũng phải đối diện với nhiều thách thức từ việc đáp ứng các tiêu chuẩn của các quốc gia phát triển, yêu cầu về quy tắc xuất xứ, các rào cản kỹ thuật thương mại, các biện pháp vệ sinh dịch tễ.

6.3. Lĩnh vực Dịch vụ Tài chính

6.3.1. Hiệp định TPP

6.3.1.1. Lời văn cam kết trong TPP:

Lời văn Chương Dịch vụ Tài chính quy định quyền và nghĩa vụ của các tổ chức tài chính, nhà cung cấp dịch vụ tài chính, nhà đầu tư trong lĩnh vực dịch vụ tài chính và các cơ quan có thẩm quyền quản lý của các nước thành viên TPP, đồng thời xác lập môi trường pháp lý cho hoạt động cung cấp các Dịch vụ Tài chính ngân hàng trên thị trường các nước TPP. Chương Dịch vụ Tài chính bao gồm các nghĩa vụ cốt lõi tương tự như trong các Hiệp định mà ta đã ký kết, bao gồm: Đối xử quốc gia (NT), Đối xử tối huệ quốc (MFN), Mở cửa thị trường (MA), Thương mại qua biên giới (CBT), Nhân sự cấp cao và Hội đồng Quản trị (SMBD).

– Nghĩa vụ Đối xử quốc gia  yêu cầu một Bên không phân biệt đối xử giữa nhà Đầu tư[1] của các nước tham gia Hiệp định và nhà Đầu tư trong nước.

Nghĩa vụ Tối huệ quốc yêu cầu một Bên không phân biệt đối xử giữa nhà Đầu tư của các nước tham gia Hiệp định và các nước không tham gia Hiệp định. Như vậy, trường hợp ta dành bất kì ưu đãi nào hơn cho một nhà đầu tư trong hay ngoài TPP thì các nước tham gia Hiệp định TPP cũng sẽ được hưởng mức ưu đãi đó.

Nghĩa vụ Tiếp cận thị trường  yêu cầu mở cửa thị trường đối với Dịch vụ Tài chính và đầu tư vào lĩnh vực Dịch vụ Tài chính thông qua việc yêu cầu không được phép duy trì và áp dụng các biện pháp hạn chế thị trường. Cụ thể, các nước thành viên có nghĩa vụ không được áp dụng các biện pháp về (i) Hạn chế định lượng: Số lượng các tổ chức tài chính, Tổng giá trị các giao dịch và tài sản, Tổng số các hoạt động hoặc số lượng đầu ra, Tổng số thể nhân có thể được tuyển dụng; (ii) Hạn chế hoặc có yêu cầu cụ thể về hình thức pháp lý.

Nghĩa vụ Thương mại qua biên giới  yêu cầu nước thành viên không được hạn chế khách hàng trong việc tiêu dùng các Dịch vụ Tài chính được cung cấp bởi các nhà cung cấp dịch vụ qua biên giới theo danh mục các dịch vụ được phép thực hiện CBT mà nước thành viên đó đã cam kết tại Phụ lục CBT[2].

Tuy vậy, nghĩa vụ này không đồng nghĩa với việc phải cho phép các nhà cung cấp dịch vụ qua biên giới được quyền thực hiện hoạt động kinh doanh hoặc chào hàng trong lãnh thổ của nước thành viên TPP khác. Việc định nghĩa thế nào là thực hiện hoạt động kinh doanh và chào hàng sẽ do các nước tự định nghĩa nhưng ko được trái với các cam kết về danh mục các dịch vụ chọn cho được phép thực hiện CBT.

Nghĩa vụ SMBD quy định nghĩa vụ không đặt ra các yêu cầu về quốc tịch đối với Nhân sự cao cấp; và không yêu cầu về số thành viên Hội đồng Quản trị (trên mức tối thiểu trong tổng số thành viên Hội đồng quản trị) phải có quốc tịch hay cư trú tại nước sở tại.

Ngoài việc điều chỉnh các nội dung về quyền và nghĩa vụ của các bên liên quan đến lĩnh vực dịch vụ tài chính, Chương Dịch vụ Tài chính còn điều chỉnh các nội dung được áp dụng chéo từ Chương đầu tư. Cụ thể là các nghĩa vụ về bảo hộ đầu tư như nguyên tắc đối xử tối thiểu (MST), cơ chế giải quyết tranh chấp nhà đầu tư và nhà nước (ISDS), tuy nhiên có áp dụng cơ chế thận trọng.

Ngoài các nghĩa vụ nêu trên, trong khuôn khổ Hiệp định TPP, ta đã cam kết nghĩa vụ mới so với mặt bằng cam kết trong WTO như sau:

Cung cấp Dịch vụ Tài chính mới: Quy định yêu cầu nước thành viên không phân biệt đối xử giữa tổ chức tài chính của mình và tổ chức tài chính của các nước TPP khi cung cấp các dịch vụ tài chính mới, trong những hoàn cảnh tương tự, với điều kiện không phải xây dựng mới hoặc sửa đổi Luật hoặc quy định để cấp phép đối với các dịch vụ tài chính mới cho các tổ chức dịch vụ nước ngoài.

– Các biện pháp minh bạch và quản lý: Để các tổ chức tài chính của các nước TPP có thể tiếp cận và hoạt động hiệu quả trên thị trường của nhau, các nước thành viên ghi nhận tầm quan trọng của việc minh bạch hóa các chính sách quy định hoạt động của các tổ chức tài chính thông qua việc công bố công khai các luật, quy định trước khi ban hành/đang được áp dụng và giải quyết thỏa đáng các góp ý liên quan. Cơ quan quản lý của các nước TPP cũng phải cam kết khung thời gian nhất định để phúc đáp nhà đầu tư các vấn đề liên quan trong quá trình cấp phép.

Cấp phép nhanh các dịch vụ bảo hiểm: Các bên sẽ nỗ lực duy trì hoặc cải thiện các thủ tục hiện hành như việc cho phép giới thiệu sản phẩm trong một thời gian hợp lý, không yêu cầu hoặc chấp thuận cấp phép sản phẩm đối với sản phẩm bảo hiểm khác hoặc bảo hiểm bán cho cá nhân, bảo hiểm bắt buộc.

6.3.1.2. Về Thương mại qua biên giới

Việt nam cam kết cho phép các nước TPP cung cấp qua biên giới các Dịch vụ Tài chính sau đây:

–  Việc cung cấp và chuyển thông tin tài chính, xử lý dữ liệu tài chính và phần mềm liên quan, áp dụng đối với dịch vụ ngân hàng và dịch vụ tài chính khác (ngoại trừ dịch vụ bảo hiểm)

– Các dịch vụ tư vấn và các dịch vụ phụ trợ khác, không bao gồm trung gian môi giới liên quan đến dịch vụ ngân hàng, dịch vụ giao dịch chứng khoán thông qua tài khoản tự doanh hoặc tài khoản của khách hàng.

– Dịch vụ bảo hiểm cho các rủi ro liên quan tới: vận tải biển quốc tế và vận tải hàng không thương mại quốc tế với khoản bảo hiểm để bảo hiểm cho toàn bộ hoặc một phần các hàng hoá được vận chuyển, phương tiện vận chuyển hàng hóa và bất cứ nghĩa vụ phát sinh từ đó; hàng hoá vận chuyển quá cảnh quốc tế;

(i) Dịch vụ tái bảo hiểm và nhượng tái bảo hiểm;

(ii) Dịch vụ môi giới bảo hiểm qua biên giới;

(iii) Dịch vụ hỗ trợ bảo hiểm qua biên giới.

6.3.1.3. Các cam kết cụ thể

Chuyển thông tin: Các nước TPP phải cho phép tổ chức tài chính nước ngoài hoạt động trên thị trường của mình được phép chuyển thông tin dạng điện tử hoặc dạng khác vào và ra khỏi lãnh thổ nhằm mục đích xử lý thông tin vì các mục đích hoạt động kinh doanh thông thường. Tuy nhiên, cơ quan quản lý của mỗi nước vẫn duy trì quyền áp dụng các biện pháp liên quan đến bảo mật dữ liệu, thông tin và bí mật cá nhân hay yêu cầu tổ chức tài chính nước ngoài phải xin cấp phép trước từ cơ quan chức năng đối với Bên tiếp nhận thông tin.

– Dịch vụ quản lý danh mục đầu tư: Các nước TPP cam kết phải cho phép các tổ chức tài chính hoạt động trên lãnh thổ của nước thành viên khác được cung cấp các dịch vụ sau cho các Quỹ đầu tư tập thể nằm trong lãnh thổ của mình:

+ Dịch vụ tư vấn đầu tư

+ Các dịch vụ quản lý danh mục đầu tư không bao gồm: (i) các dịch vụ ngân hàng giám sát; (ii) Các dịch vụ ngân hàng lưu ký và thực hiện các dịch vụ phụ trợ không liên quan đến quản lý quỹ đầu tư tập thể.

Đối với Việt Nam, ta cam kết cho phép các tổ chức tài chính nước ngoài cung cấp dịch vụ tư vấn đầu tư và dịch vụ quản lý danh mục đầu tư cho các quỹ đầu tư trong nước theo phương thức 1 – cung cấp dịch vụ qua biên giới. Đồng thời, Việt Nam cho phép cung cấp dịch vụ cho công ty quản lý quỹ trong nước đối với phần vốn huy động nhằm mục đích đầu tư ngoài lãnh thổ Việt Nam.

– Cam kết về cung cấp bảo hiểm bởi các đơn vị bảo hiểm bưu điện: Cam kết không tạo điều kiện cạnh tranh thuận lợi hơn cho các tổ chức bảo hiểm bưu điện (bị trực thuộc hoặc chi phối, trực tiếp hoặc không trực tiếp bởi một tổ chức bưu điện) khai thác và bán bảo hiểm khi tổ chức này cạnh tranh trực tiếp đối với các nhà cung cấp bảo hiểm tư nhân. Cam kết này chỉ áp dụng đối với các tổ chức bảo hiểm bưu điện có thị phần nhân thọ hoặc phi nhân thọ lớn hơn 10% phí gốc tính đến thời điểm ngày 1/1/2013 và không ràng buộc nghĩa vụ cam kết đối với các tổ chức bảo hiểm bưu điện của các nước thành viên TPP trong tương lai được hình thành sau ngày ký Hiệp định TPP.

Việt Nam không bị ràng buộc bởi nội dung cam kết này vì các doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm bưu điện của Việt Nam tính đến thời điểm 1/1/2013 có thị phần nhân thọ hoặc phi nhân thọ nhỏ hơn 10% phí gốc.

6.3.1.4. Danh mục các biện pháp bảo lưu không tương thích (NCM):

Là danh mục quy định mức độ mở cửa thị trường dịch vụ tài chính theo đó Việt Nam được áp dụng và không chịu nghĩa vụ của các cam kết chung.

(i) Về bảo hiểm

Doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài không được thành lập chi nhánh tại Việt Nam, ngoại trừ chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài.

Doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài khi cung cấp dịch vụ bảo hiểm qua biên giới không cam kết tại phụ lục CBT của VN chỉ có thể thực hiện qua doanh nghiệp môi giới bảo hiểm được cấp phép thành lập và hoạt động tại Việt Nam;

Doanh nghiệp môi giới bảo hiểm nước ngoài cung cấp dịch vụ bảo hiểm qua biên giới không cam kết tại phụ lục CBT của Việt Nam chỉ có thể môi giới cho doanh nghiệp bảo hiểm hoặc chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài được cấp phép thành lập và hoạt động tại Việt Nam.

Bảo lưu điều kiện cá nhân hoạt động đại lý bảo hiểm phải là công dân Việt Nam thường trú tại Việt Nam.

Bảo lưu các điều kiện đối với nhà nhận tái bảo hiểm nước ngoài, theo đó, ngoài các điều kiện chung về cung cấp dịch vụ tái bảo hiểm, các doanh nghiệp tái bảo hiểm nước ngoài phải đáp ứng thêm các điều kiện về hệ số tín nhiệm.

Bảo lưu các điều kiện để được cấp giấy phép thành lập của chi nhánh kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ tại Việt Nam, doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài bao gồm: Điều kiện về năng lực hoạt động, năng lực tài chính và năng lực quản lý, giám sát chi nhánh tại Việt Nam của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài; Khả năng hợp tác giữa cơ quan quản lý, giám sát bảo hiểm nước ngoài nơi doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài đóng trụ sở chính và cơ quan quản lý giám sát bảo hiểm Việt Nam về việc quản lý, giám sát chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài tại Việt Nam.

(ii) Về chứng khoán

Tỷ lệ góp vốn của bên nước ngoài từ trên 49% đến dưới 100% vào vốn điều lệ của các công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ ở Việt Nam phải được sự phê duyệt của Chính phủ Việt Nam, bao gồm cả việc áp dụng các điều kiện về phê duyệt; áp dụng sau 5 năm kể từ ngày Hiệp định có hiệu lực.

Bảo lưu về hoạt động và phạm vi của chi nhánh công ty chứng khoán nước ngoài, chi nhánh công ty quản lý quỹ nước ngoài tại Việt Nam; bao gồm cả việc áp dụng các điều kiện chấp thuận.

Bảo lưu tính độc quyền của Trung tâm lưu ký chứng khoán Việt Nam với đặc thù cung cấp các dịch vụ đăng ký, lưu ký, bù trừ và thanh toán chứng khoán và giao dịch chứng khoán.

Bảo lưu quyền đối xử khác biệt đối với các trung tâm lưu ký chứng khoán tập trung nước ngoài (CSD) muốn trở thành thành viên hoặc có sự tương tác với Trung tâm Lưu ký Chứng khoán Việt Nam (VSD), bao gồm cả việc chỉ định ngân hàng thanh toán, căn cứ theo thỏa thuận giữa CSD nước ngoài đó và VSD. Bảo lưu quyền duy trì hoặc áp dụng mọi biện pháp liên quan đến việc thành lập, sở hữu và hoạt động của các thị trường chứng khoán có quản lý, cơ sở hạ tầng liên quan, bao gồm nhưng không hạn chế ở Trung tâm lưu ký chứng khoán (bao gồm hệ thống đăng ký, lưu ký, thanh toán và bù trừ), Trung tâm thanh toán bù trừ (CCP), Trung tâm giao dịch chứng khoán/Sở giao dịch chứng khoán và chứng khoán phái sinh (bao gồm hệ thống giao dịch và hạ tầng giao dịch), các hệ thống giao dịch điện tử ECNs và việc chỉ định ngân hàng thanh toán. Bảo lưu này không áp dụng đối với các tổ chức tài chính đang tham gia hoặc có mong muốn tham gia vào bất kỳ thị trường/trung tâm giao dịch nêu trên, hoặc đang tiếp cận với hạ tầng có liên quan như vậy để cung cấp dịch vụ tài chính. Ngoài các hạn chế cụ thể nêu trên, cơ quan quản lý của Việt nam duy trì các quyền sau:

(i) Đối với các dịch vụ tài chính mới, Việt Nam duy trì quyền áp dụng các chương trình thí điểm đối với dịch vụ tài chính mới. Trong quá trình áp dụng thí điểm, Việt Nam có thể hạn chế về số lượng nhà cung cấp dịch vụ tài chính tham gia chương trình thí điểm hoặc hạn chế về phạm vi chương trình thí điểm.

(ii) Đối với các dịch vụ tài chính mà Việt Nam không cam kết trong Phụ lục CBT, Việt Nam duy trì quyền áp dụng và duy trì các biện pháp liên quan đến việc mua dịch vụ tài chính từ các nhà cung cấp dịch vụ tài chính qua biên giới của người cư trú tại Việt Nam.

(iii) Việt Nam có quyền áp dụng các yêu cầu về đăng ký và cấp phép đối với các nhà cung cấp dịch vụ tài chính qua biên giới của Bên khác và đối với các công cụ tài chính.

6.3.1.5. Đánh giá và những vấn đề đặt ra

Cam kết mới so với cam kết trong WTO

Cam kết đối với lĩnh vực dịch vụ chứng khoán và bảo hiểm trong TPP bổ sung một số dịch vụ mới nhằm tạo cơ hội tiếp cận thị trường cho các nhà cung cấp dịch vụ tài chính nước ngoài như:

(i) Mở cửa dịch vụ nhượng tái bảo hiểm qua biên giới;

(ii) Dành đối xử quốc gia cho các nhà cung cấp dịch vụ chứng khoán nước ngoài đối với một số dịch vụ như xử lý dữ liệu tài chính qua biên giới; dịch vụ tư vấn và các dịch vụ phụ trợ qua biên giới liên quan tới giao dịch tài khoản tự doanh hoặc tài khoản của khách hàng;

(iii) Mở cửa dịch vụ quản lý danh mục đầu tư qua biên giới;

Cam kết dịch vụ tài chính trong Hiệp định TPP ràng buộc nghĩa vụ các nước thành viên phải tuân thủ nguyên tắc “chỉ tiến không lùi” trong việc điều hành chính sách, theo đó nếu Việt Nam điều chỉnh, sửa đổi quy định pháp luật trong nước theo hướng tự do hóa hơn, thông thoáng hơn so với mức cam kết ban đầu thì sẽ tự động trở thành nghĩa vụ ràng buộc. Ngoài ra, các nước TPP phải đảm bảo thực hiện các quy trình thủ tục cấp phép nhanh chóng và thuận tiện, tuân thủ thời gian phê duyệt hồ sơ cấp phép cho các nhà đầu tư nước ngoài.

Cam kết thuộc Chương dịch vụ tài chính của Hiệp định TPP tạo ra 3 thành tố cơ bản hướng tới đẩy mạnh sự phát triển của thị trường dịch vụ tài chính ở Việt Nam gồm:

(i) Mở rộng cam kết về mở cửa thị trường so với cam kết WTO đi kèm với cơ chế minh bạch hóa tạo cơ hội tiếp cận thị trường tốt hơn cho các nhà đầu tư nước ngoài;

(ii) Áp dụng cơ chế bảo hộ đầu tư nhằm đảm bảo đầy đủ lợi ích của các nhà đầu tư;

(iii) Đảm bảo không gian chính sách để thực hiện các biện pháp quản lý thận trọng nhằm xây dựng một nền tài chính vĩ mô ổn định; cụ thể:

(1) Về mở cửa thị trường: Cam kết dịch vụ tài chính về mở cửa thị trường trong TPP đi kèm với cơ chế minh bạch hóa. Các thành viên cam kết nâng cao tính minh bạch đối với các quy định quản lý dịch vụ tài chính. Nguyên tắc công bố thông tin được coi là quan trọng, theo đó nước thành viên sẽ công bố công khai các luật, quy định trước khi ban hành/đang được áp dụng và giải quyết thỏa đáng  các góp ý liên quan. Cơ quan quản lý của các nước TPP cũng phải cam kết khung thời gian nhất định để đáp ứng yêu cầu của nhà đầu tư về các vấn đề liên quan trong quá trình cấp phép.

Như vậy, cam kết này sẽ tạo thuận lợi cho sự phát triển đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ tài chính trên thị trường nhưng cũng tạo sức ép cạnh tranh cho các doanh nghiệp trong nước. Khi đó, đối tượng sử dụng dịch vụ sẽ được hưởng lợi từ sản phẩm có chất lượng tốt hơn do sự cạnh tranh ngày càng tăng giữa các doanh nghiệp nước ngoài và doanh nghiệp trong nước. Hơn nữa, cam kết về minh bạch đòi hỏi các cơ quan quản lý và các công ty cung cấp dịch vụ tăng cường năng lực quản lý, và minh bạch hóa chính sách và quy trình thực hiện, do đó, làm tăng tính lành mạnh của thị trường.

(2) Về bảo hộ đầu tư: Bổ sung các nghĩa vụ cam kết liên quan đến bảo hộ đầu tư như cơ chế giải quyết tranh chấp và nguyên tắc đối xử tối thiểu. Trong đó, cơ chế giải quyết tranh chấp được quy định chi tiết theo các cấp độ: Nhà nước và Nhà nước, Nhà đầu tư và Nhà nước, đặc biệt cơ chế Nhà đầu tư và Nhà nước cho phép đảm bảo đầy đủ quyền lợi của các nhà đầu tư khi tham gia thị trường. Quy trình giải quyết tranh chấp được quy định rõ ràng, cụ thể đảm bảo tính minh bạch, có hiệu quả. Cam kết này sẽ tạo môi trường và tâm lý ổn định cho nhà đầu tư nước ngoài đầu tư trong khối TPP.

(3) Đảm bảo không gian chính sách để thực hiện các biện pháp quản lý thận trọng: điều này có ý nghĩa đối với Việt Nam khi xét về thực tế là nước có trình độ phát triển thấp về dịch vụ tài chính trong khối. TPP có cơ chế áp dụng các ngoại lệ cần thiết, tạo ra không gian chính sách gồm các biện pháp thận trọng, các biện pháp bảo vệ an ninh quốc gia, quyền lợi và thông tin cá nhân đảm bảo một môi trường đầu tư ổn định, an toàn. Theo đó, cơ chế này giúp giảm thiểu tác động tiêu cực mà Hiệp định có thể mang lại đối với mỗi quốc gia thành viên.

6.3.2. Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA)

Trong hiệp định EVFTA, ngoài các cam kết của Việt Nam về cơ bản ngang bằng với cam kết chung của Việt Nam trong WTO và các hiệp định thương mại tự do Việt Nam đã ký kết, Việt Nam cam kết bổ sung một số nội dung đối với lĩnh vực bảo hiểm.

6.3.2.1. Bảo hiểm

Trong WTO, Việt Nam cam kết không hạn chế có một số ngoại trừ đối với 3 phương thức cung cấp dịch vụ đầu tiên là Cung cấp qua biên giới (phương thức 1), tiêu dùng ngoài lãnh thổ (phương thức 2) và hiện diện thương mại (phương thức 3). Đối với phương thức 4 – hiện diện thể nhân, Việt Nam chưa cam kết.

Trong hiệp định EVFTA, Việt Nam cam kết bổ sung như sau:

Cho phép một tổ chức tài chính của một nước thành viên EU cung cấp dịch vụ tài chính mới vào Việt Nam khi Việt Nam đã cho phép việc cung cấp dịch vụ đó đối với các tổ chức tài chính trong nước. Chương này cũng bao gồm các quy định cho phép các bên quyết định hình thức pháp lý của nhà cung cấp dịch vụ tài chính  mới để được cung cấp và/hoặc yêu cầu phê duyệt vì các lý do thận trọng để cung cấp dịch vụ tài chính  mới đó. 

Việt Nam cam kết mở cửa cho các công ty tái bảo hiểm EU được thành lập chi nhánh tái bảo hiểm ở Việt Nam theo lộ trình nhất định. (Theo Luật Kinh doanh Bảo hiểm, kinh doanh tái bảo hiểm là hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinh lợi, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm nhận một khoản phí bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm khác để cam kết bồi thường cho các trách nhiệm đã nhận bảo hiểm).

Việt Nam cam kết cho phép các công ty bảo hiểm EU được cung cấp dịch vụ nhượng tái bảo hiểm qua biên giới.

6.3.2.2. Chứng khoán

Trong lĩnh vực chứng khoán, cam kết trong hiệp định EVFTA ngang bằng với cam kết trong WTO. Theo biểu cam kết mở cửa dịch vụ trong WTO, lĩnh vực chứng khoán được cam kết cho lộ trình như sau:

– Việt Nam cho phép các nhà cung cấp dịch vụ chứng khoán nước ngoài chỉ được phép thành lập văn phòng đại diện và công ty Liên doanh với đối tác Việt Nam. Tỷ lệ vốn góp của phía nước ngoài trong liên doanh đó không vượt quá 49%, được quy định tại Quyết định số 238/2005/QD-TTg. Tuy nhiên, Việt Nam không mở cửa cho chi nhánh trong nước đối với các loại hình dịch vụ kinh doanh chứng khoán và tham gia phát hành, cũng như không cam kết mở cửa đối với phương thức cung cấp dịch vụ qua biên giới và hiện diện thương mại.

– Về loại hình dịch vụ, Việt Nam chỉ cam kết 2 dịch vụ trong số 6 dịch vụ cung cấp qua biên giới đó là dịch vụ cung cấp thông tin tài chính và dịch vụ tư vấn phụ trợ. Sau 5 năm từ khi gia nhập WTO, các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài sẽ được thành lập chi nhánh ở những loại hình như cung cấp dịch vụ quản lý tài sản như quản lý danh mục đầu tư, quản lý quỹ hưu trí, các dịch vụ lưu ký và tín thác, dịch vụ tư vấn, trung gian và các dịch vụ phụ trợ liên quan tới chứng khoán, bao gồm tư vấn và nghiên cứu đầu tư, danh mục đầu tư, tư vấn về mua lại công ty, lập chiến lược và cơ cấu lại công ty.

– Các dịch vụ khác như quản lý danh mục đầu tư, mọi hình thức quản lý đầu tư tập thể, quản lý quỹ hưu trí, các dịch vụ lưu ký và tín thác, các dịch vụ thanh toán và thanh toán bù trừ chứng khoán, các công cụ phái sinh và các sản phẩm chứng khoán chưa được cam kết theo phương thức 1 và 4 nhưng hoàn toàn không hạn chế đối với phương thức 2. Việc cung cấp các dịch vụ này theo phương thức 3 sẽ được cho phép sau 5 năm gia nhập dưới hình thức nước ngoài liên doanh với Việt Nam, thành lập văn phòng đại diện (không có tư cách pháp nhân độc lập, không được tiến hành các hoạt động sinh lời, đơn thuần chỉ là đại diện cho công ty mẹ ở nước ngoài).

Việt Nam cũng đã thực hiện việc ký kết các cam kết về lĩnh vực chứng khoán trên cơ sở cho phép nhà đầu tư nước ngoài tham gia cung cấp các dịch vụ chứng khoán tại Việt Nam với các nội dung:

– Giao dịch cho tài khoản của mình hoặc tài khoản của khách hàng tại Sở giao dịch chứng khoán, thị trường giao dịch trực tiếp (OTC) hay các thị trường khác những sản phẩm sau: (i) Các công cụ phái sinh, bao gồm cả hợp đồng tương lai và hợp đồng quyền lựa chọn; (ii) Các chứng khoán có thể chuyển nhượng; (iii) Các công cụ có thể chuyển nhượng khác và các tài sản chính, trừ vàng khối, (các dịch vụ này bao gồm cả hoạt động môi giới);

– Tham gia vào các đợt phát hành mọi loại chứng khoán: Bao gồm bảo lãnh phát hành, và làm đại lý bán (chào bán ra công chúng hoặc chào bán riêng), cung cấp các dịch vụ liên quan đến các đợt phát hành đó;

– Quản lý tài sản: Bao gồm quản lý danh mục đầu tư, mọi hình thức quản lý đầu tư tập thể, quản lý quỹ hưu trí, các dịch vụ lưu ký và tín thác;

– Các dịch vụ thanh toán và thanh toán bù trừ chứng khoán, các công cụ phái sinh và các sản phẩm liên quan đến chứng khoán khác;

– Cung cấp và chuyển thông tin tài chính, các phần mềm liên quan của các nhà cung cấp dịch vụ chứng khoán.

6.4. Lĩnh vực Hải quan

Trong hiệp định TPP, các quốc gia thành viên có một số cam kết trong linh vực Hải quan. Cụ thể:

Chương cam kết về Hải quan bao gồm 12 Điều, trong đó quy định các cam kết về nghiệp vụ chính như: Quy định về thời gian giải phóng hàng chuyển phát nhanh trong vòng 6 tiếng; quy định về cơ chế ban hành xác định trước đối với các lĩnh vực mã số, phương pháp xác định trị giá và xuất xứ hàng hóa, cơ chế giám sát đối với xuất xứ hàng hóa; quy định cụ thể về thời gian giải phóng hàng hóa trong vòng 48 tiếng khi hàng hóa nhập cảnh hải quan và có cơ chế cho phép thông tin được xử lý bằng phương thức điện tử trước khi hàng đến nhằm nhanh chóng giải phóng hàng; quy định quản lý rủi ro… Riêng đối với quy định về trị giá tối thiểu vẫn thực hiện theo luật của quốc gia.

Một vấn đề mà Hiệp định TPP tác động lớn đến công tác quản lý hải quan là quy định cơ chế tự chứng nhận xuất xứ trong thủ tục kiểm tra và xác định xuất xứ cho hàng hóa xuất nhập khẩu với thời gian chuyển đổi tối đa 10 năm. Cơ chế này cho phép doanh nghiệp tự khai báo xuất xứ cho hàng hóa của mình thay cho cách thức quản lý hiện tại là doanh nghiệp phải nộp cho cơ quan hải quan giấy chứng nhận xuất xứ do cơ quan có thẩm quyền của nước xuất khẩu cấp. Điều này tạo thuận lợi tối đa cho doanh nghiệp xuất nhập khẩu và đơn giản hóa thủ tục hải quan. Hiện nay trong khuôn khổ ASEAN, Việt Nam đang tham gia thực hiện thí điểm cơ chế tự chứng nhận xuất xứ là một bước quan trọng chuẩn bị cho công tác triển khai sau này.

6.5. Lĩnh vực Doanh nghiệp Nhà nước

Với mục tiêu tạo ra môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa doanh nghiệp Nhà nước với doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác, các nước TPP đề xuất các nghĩa vụ chính cần phải tuân thủ như sau:

– Các Doanh nghiệp nhà nước phải hoạt động theo cơ chế thị trường;

– Các Doanh nghiệp nhà nước không được có hành vi phản cạnh tranh khi có vị trí độc quyền, gây ảnh hưởng đến thương mại và đầu tư;

– Minh bạch hóa một số thông tin như tỷ lệ sở hữu của Nhà nước, báo cáo tài chính đã được kiểm toán và được phép công bố.

– Nhà nước không trợ cấp quá mức, gây ảnh hưởng lớn đến lợi ích của nước khác.

– Tuy nhiên, các nghĩa vụ trên chỉ áp dụng đối với các Doanh nghiệp nhà nước vượt ngưỡng doanh thu nhất định. Theo đó, các Doanh nghiệp nhà nước có doanh thu hàng năm dưới 16.000 tỷ VNĐ (khi Hiệp định có hiệu lực) và dưới 6.500 tỷ VNĐ (khi Hiệp định có hiệu lực được 5 năm) sẽ không phải thực thi phần lớn các nghĩa vụ của Hiệp định.

6.6. Lĩnh vực mua sắm Chính phủ

Các nước TPP thống nhất sẽ có một bộ quy tắc khá toàn diện về mua sắm công. Tuy nhiên, các cam kết trên không áp dụng với các gói thầu vì mục đích an ninh-quốc phòng, các gói thầu có giá trị dưới một mức nhất định và các trường hợp khác mà ta đã bảo lưu được trong đàm phán. Các nguyên tắc áp dụng khi mua sắm là:

–  Nhìn chung, sẽ phải sử dụng hình thức đấu thầu quốc tế rộng rãi để lựa chọn nhà thầu từ các nước tham gia TPP;

– Không áp dụng các điều kiện dự thầu mang tính ưu tiên đối với nhà thầu cũng như hàng hóa và dịch vụ nội địa;

– Minh bạch thông tin và thủ tục tại tất cả các khâu;

– Có quy định để bảo đảm liêm chính trong quá trình đấu thầu và xây dựng quy trình xem xét khiếu nại của nhà thầu.     

Ngoài các nguyên tắc nêu trên, các nước TPP đàm phán về mở cửa thị trường mua sắm công cho nhà cung cấp nước ngoài. Mỗi nước được phép duy trì biểu cam kết riêng, trong đó bao gồm cam kết về diện cơ quan mua sắm, phạm vi hàng hóa, dịch vụ được tổ chức đấu thầu mua sắm, ngưỡng giá trị mà từ đó trở lên phải cho phép các nước TPP tham gia đấu thầu….

6.7. Thách thức nói chung đối với ngành Tài chính trong quá trình thực hiện cam kết của Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới.

– Sức ép về cạnh tranh lớn khi gia nhập TPP, đặc biệt đối với một số ngành có sức cạnh tranh chưa thực sự tốt như ngành chăn nuôi, công nghiệp. Ngành chăn nuôi có nguy cơ phải cạnh tranh mạnh mẽ với các nước có thế mạnh về nông nghiệp như Mỹ, Úc và Niu Di Lân ngay trên thị trường nội địa. Ngành công nghiệp chưa phát triển và hoàn thiện của Việt Nam cũng sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong việc tạo ra sản phẩm có giá trị gia tăng hay dành xuất khẩu.

– Cam kết của các Hiệp định về việc đối xử bình đẳng đối với doanh nghiệp trong nước và nước ngoài sẽ làm giảm không gian chính sách về bảo hộ sản xuất.

– Việc quản lý, giám sát dòng vốn, đảm bảo sự an toàn của thị trường tài chính gặp nhiều thách thức do tính liên thông với thị trường tài chính trong nước và quốc tế, trình độ quản lý và môi trường pháp lý chưa hoàn thiện.

– Từ góc độ ngành tài chính, hội nhập kinh tế sâu rộng cho thấy vấn đề an ninh tài chính sẽ bị tác động nhiều. Thực tế các cuộc khủng hoảng tài chính khu vực cho thấy tác động của hội nhập, tự do hóa thương mại và tài chính nhiều hơn và gay go hơn đối với các ngành và lĩnh vực cam kết quốc tế có cam kết sâu trong khi không đồng bộ với sự phát triển trong nước về cơ sở hạ tầng, về luật pháp, về hệ thống quản lý thận trọng và các quy định về phát triển thể chế thị trường khác.

– Sự phối hợp giữa các cơ quan Bộ ngành và giữa cơ quan Trung ương và địa phương trong việc xây dựng các chính sách ngành, trong việc cung cấp thông tin quản lý và phối hợp xây dựng chính sách nhất quán vẫn chưa thực sự có hiệu quả dẫn đến lúng túng trong việc đưa ra chính sách và xử lý các vấn đề phát sinh trong khi sức ép từ các ràng buộc cam kết trong các Hiệp định ngày càng tăng.

– Thu ngân sách nhà nước từ hoạt động xuất nhập khẩu bị ảnh hưởng.

 TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Hiệp định thương mại tự do Xuyên Thái Bình Dương (TPP)

2. Hiệp định thương mại tự do EVFTA (đã kết thúc)

3. Hiệp định thương mại WTO.

 [1]  Nhà đầu tư bao gồm tổ chức tài chính của bên khác; nhà đầu tư của bên khác, các khoản đầu tư của bên khác; các nhà cung cấp thương mại dịch vụ qua biên giới trong lĩnh vực dịch vụ tài chính.

[2] Phụ lục CBT được xây dựng theo hình thức “Chọn – Cho” trên cơ sở cam kết của từng nước. Theo đó, các nước thành viên sẽ lựa chọn ngành, phân ngành DVTC cho phép tiến hành cung cấp qua biên giới. Các ngành, phân ngành không có trong Phụ lục CBT được hiểu là không cam kết cho phép thực hiện thương mại qua biên giới. 

 

Bản in

 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *