Chuyên đề 6 CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ NĂM 2016 VÀ TRIỂN VỌNG

Chuyên đề 6, CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ NĂM 2016 VÀ TRIỂN VỌNG

                                                     Lê Thị Thùy Vân, Viện Chiến lược và Chính sách Tài chính – Bộ Tài chính

6.1. Điều hành chính sách tiền tệ năm 2016 và một số kết quả đạt được

Thực hiện Chỉ thị số 01/CT-NHNN về tổ chức thực hiện chính sách tiền tệ và đảm bảo hoạt động ngân hàng an toàn, hiệu quả năm 2016, chính sách tiền tệ (CSTT) tiếp tục được điều hành theo hướng chủ động, linh hoạt, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô khác nhằm kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, góp phần hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, duy trì ổn định thị trường tiền tệ. Theo đó, NHNN đã duy trì ổn định các mức lãi suất điều hành, thông qua điều hành cung tiền hợp lý, linh hoạt nghiệp vụ thị trường mở, tái cấp vốn với thời hạn và khối lượng hợp lý để hỗ trợ thanh khoản cho các tổ chức tín dụng, thực hiện mua ngoại tệ khi thuận lợi, qua đó duy trì dư thừa thanh khoản của hệ thống, đưa mặt bằng lãi suất liên ngân hàng ở mức thấp, tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng giữ ổn định lãi suất huy động và giảm lãi suất cho vay khi có điều kiện. 

Về lãi suất, các lãi suất điều hành (lãi suất cơ bản, lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu) được duy trì ở mức ổn định để hỗ trợ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và góp phần ổn định thị trường tiền tệ và hoạt động ngân hàng. Thông qua điều hành cung tiền hợp lý, linh hoạt nghiệp vụ thị trường mở, tái cấp vốn với thời hạn và khối lượng hợp lý để hỗ trợ thanh khoản cho các tổ chức tín dụng, thực hiện mua ngoại tệ khi thuận lợi, NHNN đã đảm bảo được thanh khoản của hệ thống, đưa mặt bằng lãi suất liên ngân hàng ở mức thấp, tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng giữ ổn định lãi suất huy động và giảm lãi suất cho vay khi có điều kiện. Lãi suất liên ngân hàng trong năm 2016 nhìn chung thấp hơn nhiều so với năm 2015, do nhu cầu sử dụng vốn của hệ thống chưa cao. Mặt bằng lãi suất liên ngân hàng giảm mạnh kể từ tháng 4/2016 (từ mức 4,13%) và chỉ đến tháng 11 mới có xu hướng tăng trở lại, từ mức 1,18% lên mức 3,42% trong tháng 12, do nhu cầu vay vốn trong nền kinh tế thường tăng cao vào dịp cuối năm. Lãi suất huy động mặc dù trải qua đợt tăng lãi suất nhẹ trong tháng 9 từ các ngân hàng nhỏ[1], và đợt giảm lãi suất nhẹ từ các ngân hàng lớn trong tháng 10[2], và có tăng nhẹ trở lại trong tháng 12 tập trung ở các kỳ hạn dưới 12 tháng nhưng nhìn chung, mặt bằng lãi suất huy động vẫn được giữ ổn định ở mức 6,5% cho kỳ hạn 1 năm và 7,2% cho kỳ hạn trên 1 năm.

Từ cuối tháng 4/2016, thực hiện chủ trương của Chính phủ và NHNN về tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, các ngân hàng thương mại nhà nước và một số ngân hàng thương mại cổ phần đã điều chỉnh giảm 0,5%/năm lãi suất cho vay ngắn hạn và đưa lãi suất cho vay trung và dài hạn về tối đa 10%/năm đối với các khách hàng vay vốn phục vụ sản xuất kinh doanh, đồng thời tích cực triển khai các chương trình cho vay với lãi suất ưu đãi. Ngoài ra, Thông tư 06/2016/TT-NHNN[3] điều chỉnh tỷ lệ nguồn vốn ngắn hạn để cho vay trung dài hạn giảm dần theo lộ trình[4] nhằm hạn chế rủi ro thanh khoản, hệ thống ngân hàng và các doanh nghiệp bất động sản có gần một năm để điều chỉnh, đã góp phần hỗ trợ giảm áp lực lãi suất cho các tổ chức tín dụng. Nhìn chung, mặt bằng lãi suất cho vay đã giảm từ 8,15% (tháng 5/2016) xuống 8,02%/năm đối với các khoản vay ngắn hạn, và giảm từ 10,2% xuống 10,1% bình quân đối với các khoản vay trung và dài hạn, sau đó tiếp tục được duy trì ổn định đến cuối năm 2016.

Hình 6.1. Các mức lãi suất chính sách

Nguồn: Ngân hàng Nhà nước

Về tín dụng, chính sách tín dụng được điều hành theo hướng mở rộng nhằm tăng nguồn cung ứng vốn ra nền kinh tế, hỗ trợ sản xuất kinh doanh và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tập trung vào triển khai có hiệu quả các chương trình tín dụng đối với ngành, lĩnh vực, tín dụng chính sách theo chủ trương của Chính phủ. Trong năm 2016, chính sách tín dụng được điều hành theo Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 24/2/2011: (i) Khống chế trần lãi suất cho vay với nông nghiệp nông thôn; xuất khẩu; công nghiệp hỗ trợ; DNNVV; công nghệ cao (hiện ở mức 7%/năm); (ii) Giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc và công cụ tái cấp vốn để hướng dòng vốn tín dụng vào nông nghiệp (TT20/TT-NHNN, ngày 29/09/2010); (iii) Kết hợp chính sách tín dụng của ngân hàng với chính sách tài khóa trong hỗ trợ lãi suất giảm tổn thất sau thu hoạch, với mức hỗ trợ 100% hoặc 50% theo thời gian vay phù hợp…  Kết quả, trong năm 2016, tăng trưởng tín dụng ở mức hợp lý, đạt 18,71%  so với cuối năm 2015, trong đó, chủ yếu là tăng trưởng tín dụng bằng VND.

Để đạt được những kết quả trên, nhiều giải pháp tín dụng đã được triển khai trong nhằm hỗ trợ thị trường như:

Một là, trần  tăng  trưởng  tín  dụng được kiểm soát nhưng có sự điều  chỉnh linh hoạt theo tổ chức tín dụng. Năm 2016, trần tăng trưởng tín dụng 18-20% (có phân bổ theo từng nhóm TCTD) nhưng trên thực tế tăng trưởng tín dụng đã được điều chỉnh linh hoạt cho các TCTD có điều kiện mở rộng tín dụng và đảm bảo hoạt động an toàn[5].

Hai là, nhằm chống đô la hóa trong nền kinh tế, quan hệ mua – bán ngoại tệ tiếp tục được thực hiện thay cho quan hệ huy động – cho vay ngoại tệ nhưng có sự điều chỉnh linh hoạt theo thời điểm. Trong đó,  trước bối cảnh  hoạt động sản xuất, kinh doanh đang gặp khó khăn do chi phí đầu vào cao, sức cạnh tranh của hoạt động xuất khẩu hạn chế, ngày 27/5/2016, NHNN đã ban hành Thông tư số 07/2016/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 24/2015/TT-NHNN quy định hoạt động cho vay bằng ngoại tệ. Theo đó, một nhóm đối tượng là các doanh nghiệp xuất khẩu sẽ lại được vay vốn ngắn hạn bằng ngoại tệ để đáp ứng nhu cầu vốn ở trong nước nhằm thực hiện phương án sản xuất, kinh doanh hàng hóa xuất khẩu qua cửa khẩu biên giới Việt Nam mà khách hàng vay có đủ ngoại tệ từ nguồn thu xuất khẩu để trả nợ vay đến hết ngày 31/12/2016, sau khi đã có quy định dừng cho vay với đối tượng này từ 1/4/2016. Việc mở lại tín dụng ngoại tệ cho doanh nghiệp (DN) xuất khẩu, NHNN mở lại một kênh vốn có lãi vay thấp hơn nhiều so với vay VNĐ, để hỗ trợ DN và gián tiếp là hỗ trợ cho các hộ dân trong chuỗi liên kết.

Ba là, nâng cao chất lượng quản trị ngân hàng, giảm rủi ro tín dụng và hạn chế tăng trưởng tín dụng nóng thông qua việc ban hành thông tư số 06/2016/TT-NHNN nâng hệ số rủi ro của các khoản phải đòi để kinh doanh bất động sản từ 150% lên 200% từ thời điểm 1/1/2017, giảm có lộ trình tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn xuống 40% từ 1/1/2018 và tăng tỷ lệ mua, đầu tư trái phiếu Chính phủ so với nguồn vốn ngắn hạn bình quân của tháng liền kề trước của tổ chức tín dụng. Ngoài ra, Chỉ thị số 04/CT-NHNN gần đây cũng nêu rõ yêu cầu các đầu mối giám sát chặt chẽ và cảnh báo tổ chức tín dụng có quy mô và tốc độ tăng trưởng tín dụng ở một số ngành, lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro như tín dụng trung, dài hạn, tín dụng đối với nhóm khách hàng lớn, tín dụng đối với lĩnh vực đầu tư, kinh doanh bất động sản, tín dụng đối với các dự án BOT, BT giao thông.

Bốn là, nhằm thúc đẩy quá trình xử lý nợ xấu, trong năm 2016 NHNN đã ban hành nhiều văn bản, quyết định, thông tư liên quan đến việc hình thành thị trường mua bán nợ xấu, như: Thông tư 08/2016/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 19/2013/TT-NHNN quy định về việc mua, bán và xử lý nợ xấu của Công ty Quản lý tài sản các TCTD (VAMC) theo cơ chế thị trường giúp tăng tính chủ động và quyền hạn cho VAMC; Quyết định 618/QĐ-NHNN cho phép VAMC chính thức được triển khai phương án mua bán nợ xấu theo cơ chế thị trường.

Về tỷ giá hối đoái, chính sách điều hành tỷ giá được điều hành theo hướng linh hoạt nhằm đáp ứng những yêu cầu từ bối cảnh thương mại và đầu tư quốc tế, tăng cường ký kết các hiệp định thương mại tự do. Theo cơ chế tỷ giá mới, tỷ giá trung tâm được NHNN công bố hàng ngày, vào trước phiên giao dịch, dựa trên cơ sở tham chiếu 3 yếu tố: (i) Diễn biến tỷ giá bình quân gia quyền trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng, (ii) Diễn biến của đồng USD và một số đồng ngoại tệ trên thị trường quốc tế và (iii) Các cân đối kinh tế vĩ mô, tiền tệ, mục tiêu điều hành chính sách tiền tệ và chính sách kinh tế vĩ mô. Trên thực tế, trong năm 2016, tỷ giá trung tâm đã được điều chỉnh linh hoạt nhằm ứng phó với biến động trên thị trường tài chính tiền tệ quốc tế (tiêu biểu như: Sự kiện người dân Anh bỏ phiếu ủng hộ Liên Hiệp Vương Quốc Anh rời khỏi khối Liên minh châu Âu (Brexit); Kết quả bầu cử tổng thống Mỹ và những biến động với đồng USD).

Với cơ chế tỷ giá trung tâm, năm 2016, tỷ giá USD/VND không có nhiều biến động lớn. Đến cuối tháng 12, tỷ giá VND/USD tăng khoảng 1,23%  USD trên thị trường chính thức và tăng  2,4% trên thị trường tự do (so với cuối năm 2015). Sự ổn định của tỷ giá hối đoái được duy trì nhờ các yếu tố hỗ trợ như: (i) Cơ chế tỷ giá trung tâm và các công cụ điều tiết thị trường ngoại hối đang dần phát huy được hiệu quả, hạn chế hành vi đầu cơ, găm giữ ngoại tệ; (ii) Nguồn cung ngoại tệ tương đối dồi dào do cán cân thương mại tiếp tục thặng dư, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tăng trưởng khả quan; (iii) Hầu hết các đồng tiền trong rổ tính tỷ giá trung tâm của NHNN đều lên giá so với đồng USD đã giúp giải tỏa sức ép lên tỷ giá VND/USD. Sự ổn định của tỷ giá trong 10 tháng đầu năm đã giúp NHNN tích trữ được một lượng ngoại hối lên tới 40 tỷ USD. Ngoài ra, tỷ giá ổn định cũng giúp giảm tình trạng đô-la hóa, tỷ lệ USD trên tổng phương tiện thanh toán (M2) giảm xuống còn 10%, tương đương mức đô-la hóa nhẹ của theo tiêu chuẩn của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF)[6].

Tuy nhiên, trong hai tháng cuối năm tỷ giá trong nước diễn biến tăng mạnh do những biến động từ thị trường tài chính quốc tế như: (i) Kết quả cuộc bầu cử tổng thống Mỹ; (ii) Cục dự trữ Liên bang Mỹ (FED) quyết định tăng lãi suất cơ bản USD lên mức từ 0,5-0,75% vào ngày 14/12/2016, tiếp tục đưa ra thông điệp về việc có thể nâng lãi suất thêm 3 lần nữa trong năm 2017. Cách thức điều hành tỷ giá mới linh hoạt hơn đã giúp cho tỷ giá biến động hàng ngày theo kịp với những diễn biến trên thị trường trong nước và quốc tế.

Hình 6.2. Diễn biến tỷ giá VNĐ/USD tháng 4 năm 2016

Nguồn: Reuters

6.2. Một số vấn đề đặt ra

Mặc dù đã đạt được những kết quả tích cực trong điều hành chính sách tiền tệ năm 2016, vẫn còn một số vấn đề đặt ra cần được tập trung giải quyết. Cụ thể:

Thứ nhất, tăng trưởng tín dụng trong năm 2016 đều tăng chậm hơn so với tăng trưởng huy động. Xu hướng này ngược với xu hướng của năm 2015, cho thấy hệ thống ngân hàng còn gặp nhiều khó khăn khi cho vay ra trong khi thanh khoản rất dồi dào. Điều này đã gây ra áp lực không nhỏ với tình hình kinh doanh của hệ thống ngân hàng trong năm 2016.

Thứ hai, việc phối hợp CSTT và CSTK tuy đã đạt những kết quả nhất định, nhưng vẫn tồn tại một số hạn chế: (i) Việc phối hợp mới chỉ hướng đến từng mục tiêu kinh tế vĩ mô ưu tiên trong từng thời điểm, chưa có sự phối hợp để giải quyết đồng bộ tất cả các mục tiêu vĩ mô; (ii) Chưa xây dựng được cơ sở khoa học trong việc quyết định lựa chọn CSTT hay CSTK là công cụ sẽ phát huy được tác động nhiều nhất đến tổng cầu, cũng như chưa có cơ sở xác định liều lượng tác động của từng công cụ đến tổng cầu bao nhiêu là hợp lý trong từng bối cảnh kinh tế cụ thể.

Thứ ba, việc vẫn duy trì trần lãi suất huy động và cho vay trong năm 2016[7] đã can thiệp vào sự vận hành của thị trường, gây trở ngại cho công việc giám sát cũng như tạo ra nhiều rủi ro đạo đức trong khu vực ngân hàng, ảnh hưởng đến ổn định kinh tế vĩ mô. Lãi suất cơ bản chưa thể hiện rõ tính định hướng thị trường, còn mang nặng tính hình thức, chưa phản ánh đầy đủ mối quan hệ cung – cầu về vốn[8]. Mặc dù Luật NHNN Việt Nam năm 2010 (Điều 12) quy định lãi suất cơ bản được sử dụng nhằm điều hành CSTT, nhưng trên thực tế hầu như không được sử dụng. Năm 2016, trong bối cảnh áp lực lạm phát tăng cao hơn 2015 cả về lạm phát tiền tệ (tăng phương tiện thanh toán và nới lỏng tín dụng), lạm phát chi phí đẩy (tăng lương, giá dịch vụ công…) và lạm phát cầu kéo (tăng cầu từ các nhà thu mua nước ngoài để xuất khẩu và giảm cung trong nước do biến đổi khí hậu và ô nhiễm môi trường), trần lãi suất đồng nội tệ không thay đổi và trần lãi suất tiền gửi USD vẫn được giữ ở mức 0%[9]. Trong khi CSTT được điều chỉnh linh hoạt qua các chu kỳ nới lỏng và thắt chặt, đồng thời, lãi suất kinh doanh của các TCTD cũng đã thay đổi khá nhiều, nhưng lãi suất cơ bản vẫn giữ nguyên ở mức 9%/năm từ năm 2010 đến nay.       

Thứ tư, nợ xấu chưa được xử lý triệt để, rủi ro nợ xấu rất có thể sẽ tăng trở lại nếu như quá trình cơ cấu lại nợ xấu không phát huy tác dụng trong những năm tới. Mặc dù NHNN công bố nợ xấu trong toàn hệ thống giảm xuống dưới 3% tổng dư nợ tính tới cuối năm 2016, theo đúng yêu cầu mà Chính phủ đã đặt ra nhưng kết quả này là do: (i) Tổng tín dụng tăng trong năm 2016; (ii) Nợ xấu chuyển sang VAMC. Tuy nhiên, chất lượng xử lý nợ xấu vẫn còn nhiều hạn chế, VAMC chưa giải quyết dứt điểm được nợ xấu đã mua bởi thị trường mua bán nợ xấu còn chưa đi vào hoạt động và còn vướng mắc trong hàng lang pháp lý để vận hành thị trường[10]. Thêm vào đó, nguồn nhân lực và tài chính thực để xử lý nợ xấu còn hạn chế.

6.3. Triển vọng

Chính sách tiền tệ được dự báo sẽ tiếp tục duy trì theo hướng chủ động, linh hoạt, nới lỏng thận trọng, nhằm ổn định thị trường tiền tệ, bảo đảm thanh khoản hệ thống, cung ứng vốn có hiệu quả cho nền kinh tế, hỗ trợ ổn định tỷ giá, tạo điều kiện tăng dự trữ ngoại hối Nhà nước phù hợp với điều kiện thực tế và kiểm soát lạm phát theo mục tiêu.

Về điều hành lãi suất, các giải pháp điều hành nhằm phấn đấu ổn định lãi suất sẽ tiếp tục được thực hiện. Tuy nhiên, lãi suất có thể chịu áp lực tăng bởi các lý do: (i) FED có thể sẽ tăng tiếp lãi suất theo lộ trình đã đặt ra từ trước, qua đó tác động lên đến lãi suất toàn thế giới; (ii) Lạm phát trong năm 2017 sẽ tiếp tục tăng, qua đó gây ra áp lực tăng lãi suất tiền gửi với hệ thống ngân hàng và (iii) Các NHTM có thể sẽ chịu áp lực tăng lãi suất để thu hút các khoản tiền gửi dài hạn nhằm đáp ứng quy định thanh khoản mới của Ngân hàng Nhà nước bắt đầu áp dụng từ đầu năm 2017[11].

Về chính sách tín dụng, các biện pháp kiểm soát tăng trưởng tín dụng theo chỉ tiêu định hướng, phù hợp với mục tiêu điều hành chính sách tiền tệ, đảm bảo tăng trưởng tín dụng an toàn, hiệu quả, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp trong tiếp cận vốn tín dụng. Mức chỉ tiêu tăng tưởng tín dụng 2017 sẽ được xây dựng theo định hướng đảm bảo tăng trưởng tín dụng an toàn, hiệu quả, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp trong tiếp cận vốn tín dụng; tập trung tín dụng vào lĩnh vực ưu tiên theo chủ trương của Chính phủ. Ngoài ra, tín dụng ngoại tệ và tín dụng ở một số ngành rủi ro sẽ được kiểm soát chặt chẽ hơn để chống đô-la hóa và ngăn chặn rủi ro nợ xấu.

Về chủ trương chống đô la hóa trong nền kinh tế, NHNN vẫn sẽ tiếp tục kiểm soát chặt chẽ hoạt động tín dụng ngoại tệ dù đã có động thái sẽ tiếp tục mở tín dụng ngoại tệ để hỗ trợ doanh nghiệp trong năm 2017.  Tuy nhiên, tỷ giá VND/USD vẫn còn tiềm ẩn rủi ro bởi các yếu tố sau: (i) Trạng thái thặng dư cán cân thương mại chưa thật sự bền vững bởi trạng thái hiện nay có được là nhờ một phần không nhỏ của việc nhập khẩu liên tục giảm bớt, tuy nhiên tốc độ giảm nhập khẩu đang dần chậm lại và bắt đầu đảo chiều[12]; (ii) Xu hướng của các đồng tiền của nền kinh tế lớn (như Mỹ, Châu âu, Nhật Bản) khó lường trong bối cảnh FED sẽ tiếp tục tăng dần lãi suất trong khi NHTW châu Âu và Nhật Bản tăng cường các biện pháp nới lỏng tiền tệ bằng các gói nới lỏng định lượng (QE) và chính sách lãi suất âm. Trong những quý đầu năm 2017, tỷ giá VND/USD được dự báo sẽ lên mức 23.000 VND/USD và đến cuối năm 2017, tỷ giá VND/USD có thể sẽ tăng lên mức 23.000 VND/USD (Standard Chartered, 12/2017).

 ——————–TÀI LIỆU THAM KHẢO——————————–

  1. Appelbaum, B. (2016), Fed raises key interest rate, citing strenghthening economy, NewYorktimes, 14 December. Available: http://www.nytimes.com/2016/12/14/business/economy/fed-interest-rates-janet-yellen.html
  2. Balino, Tomas, J.T., Bennett, A., & Borensztein, E. (1999), “Montery policy in dollarized economies”, Occasional paper, No. 171.
  3. Lê Thị Thùy Vân & Vương Duy Lâm (2016), “Tổng quan thị trường tài chính tiền tệ năm 2016 và triển vọng”, Thông tin Tài chính
  4. Ngân hàng nhà nước (2016), Báo cáo kết quả điều hành chính sách tiền tệ 11 tháng năm 2016.
  5. Nguyễn Viết Lợi (2016), “Phối hợp chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ ở Việt Nam giai đoạn 2011-2015 và giải pháp đến năm 2020”, Tạp chí Ngân hàng.
  6. Viện Chiến lược & Chính sách Tài chính (2016), Tài chính Việt Nam năm 2015, NXB Tài chính
  7. Cơ sở dữ liệu của Reuters, Standard Charters

[1] NH TMCP Bản Việt, NH TMCP Việt Á, NH TMCP Phương Đông, NH TMCP Quốc dân

[2] VPBank, Vietcombank

[3] Thông tư 06/2016/TT-NHNN sửa đổi quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng, trong đó điều chỉnh tỷ lệ nguồn vốn ngắn hạn để cho vay trung dài hạn giảm dần theo lộ trình nhằm hạn chế rủi ro thanh khoản

[4] Quy định có hiệu lực từ ngày 1/1/2017

[5] Viet Capital Bank đã được NHNN chấp thuận cho nới quota tín dụng lên 30%.

[6] Theo tiêu chuẩn của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), tỷ lệ USD trên tổng phương tiên thanh toán từ mức 16-30% là đô-la hóa nhẹ, trên 30% là đô-la hóa nặng.

[7] Mặc dù đã tự do hóa lãi suất cùng với việc xóa bỏ trần lãi suất, thực hiện lãi suất cho vay thỏa thuận từ năm 2003, Ngân hàng Nhà nước vẫn tiếp tục sử dụng các biện pháp hành chính thông qua việc quy định trần lãi suất huy động (5,5%/năm đối với tiền gửi kỳ hạn dưới 6 tháng), trần lãi suất cho vay (7%/năm đối với các khoản vay ngắn hạn, dưới 12 tháng, bằng đồng VND, theo Thông tư số 08/2014/TT-NHNN ngày 28/10/2014).

[8] Lãi suất chủ yếu được sử dụng như một mức tham chiếu để hạn chế cho vay nặng lãi theo quy định tại  Bộ Luật Dân sự năm 2005 (Điều 476). Theo đó, lãi suất trong mối quan hệ vay mượn giữa dân cư là không được vượt quá 150% lãi suất cơ bản (tức với mức LSCB 9% như hiện nay, các NHTM được cho vay với lãi suất tối đa 13,5%) và áp dụng lên mức lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn, lên tới 20,25%. 

[9] Từ ngày 28/9/2015, lãi suất tiền gửi bằng USD áp dụng đối với tiền gửi của tổ chức (trừ tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài) giảm từ 0,25% xuống còn 0%/năm; mức lãi suất tối đa áp dụng đối với tiền gửi của cá nhân là 0,25%/năm, giảm tới 0,5%/năm.

Từ ngày, 18/12/2015, mức lãi suất áp dụng đối với tiền gửi của cá nhân là 0%/năm.

[10] Theo quy trình hoạt động đã được quy định tại Thông tư số 19/2013/TT-NHNN ngày 06/9/2013, VAMC trước tiên phải mua nợ, sau đó tái cơ cấu lại các khoản nợ, và cuối cùng bán nợ xấu đã mua và các tài sản bảo đảm của các khoản nợ này. Trong mô hình này, giai đoạn bán nợ xấu đã mua của VAMC là rất quan trọng, bởi nợ xấu cũng như một món hàng trên thị trường, nếu chỉ có đầu vào là số nợ đã mua mà không có đầu ra, tức là không tìm được người mua, thì sau 5 năm, các khoản nợ xấu này lại được trả về cho các NHTM.

[11] Theo thông tư 06/2016/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 36/2014/TT-NHNN ngày 20/11/2014 quy định về các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

[12] Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải Quan, trị giá nhập khẩu hàng hoá  của Việt Nam trong kỳ 1 tháng 12/2016 đạt gần 8,19 tỷ USD, giảm 0,6% ( tương ứng giảm 48 triệu USD) so với 15 ngày cuối tháng 11/2016.

Bản in

 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *