Chuyên đề 5: TÌNH HÌNH THỰC HIỆN TÁI CƠ CẤU ĐẦU TƯ CÔNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA

Chuyên đề 5: TÌNH HÌNH THỰC HIỆN TÁI CƠ CẤU ĐẦU TƯ CÔNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA

Thsĩ. Lê Thị Mai Liên

Viện Chiến lược và Chính sách tài chính – Bộ Tài chính

 Đề án tổng thể tái cơ cấu kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh giai đoạn 2013-2020[1] (Đề án) đặt ra 3 mục tiêu chính cho tái cơ cấu đầu tư, trọng tâm là đầu tư công là:

Thứ nhất, huy động hợp lý các nguồn lực cho đầu tư phát triển, bảo đảm tổng đầu tư xã hội khoảng 30% – 35% GDP, duy trì ở mức hợp lý các cân đối lớn của nền kinh tế;

Thứ hai, duy trì tỷ trọng đầu tư nhà nước khoảng 35% – 40% tổng đầu tư xã hội; hàng năm tăng dần tiết kiệm từ ngân sách nhà nước (NSNN) cho đầu tư; dành khoảng 20% – 25% tổng chi ngân sách cho đầu tư phát triển. Đổi mới cơ bản cơ chế phân bổ và quản lý, sử dụng vốn, khắc phục tình trạng đầu tư dàn trải, phân tán và lãng phí, nâng cao hiệu quả đầu tư nhà nước;

Thứ ba, mở rộng tối đa phạm vi và cơ hội cho đầu tư tư nhân, nhất là tư nhân trong nước. Khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho đầu tư tư nhân vào phát triển hạ tầng, phát triển các ngành, các sản phẩm có lợi thế, có tiềm năng phát triển và các vùng kinh tế động lực.

5.1. Các kết quả đạt được

Một là, quy mô vốn đầu tư phát triển toàn xã hội tiếp tục có xu hướng tăng nhưng nếu so với GDP thì có xu hướng giảm từ 33,3% năm 2011 xuống còn 30,4% năm 2013, trung bình giai đoạn 2011-2013 là 31,4% GDP, đảm bảo tổng mức huy động theo giới hạn Đề án đưa ra. Xét về tốc độ tăng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội, trung bình giai đoạn 2011-2013 tăng 9,5%. Tuy nhiên, so với giai đoạn trước đó thì tốc độ tăng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội có xu hướng giảm (tốc độ tăng vốn đầu tư phát triển giai đoạn 5 năm 2006-2010 là 19%).

Hai là, quy mô vốn đầu tư bình quân của khu vực nhà nước trong tổng đầu tư toàn xã hội giai đoạn 2011-2013 là 38,4%, tỷ lệ này nằm trong mức mà Đề án yêu cầu. Đầu tư của khu vực nhà nước và đầu tư từ NSNN luôn tăng. Tuy nhiên, nếu so sánh quy mô vốn đầu tư bình quân của giai đoạn trước so với giai đoạn sau cho thấy xu hướng tăng đã giảm đi rõ rệt. Cụ thể: vốn đầu tư khu vực nhà nước bình quân giai đoạn 5 năm trước so với giai đoạn 5 năm sau trong thời kỳ 1986-2010 (giai đoạn 1991-1995 so với giai đoạn 1986-1990; giai đoạn 1996-2000 so với giai đoạn 1991-1995; giai đoạn 2001-2005 so với giai đoạn 1996-2000; giai đoạn 2006-2010 so với giai đoạn 2001-2005) lần lượt là 13,5 lần; 3,9 lần; 2 lần; 1,9 lần và đặc biệt, quy mô vốn đầu tư khu vực nhà nước bình quân giai đoạn 2011-2013 chỉ còn gấp 1,6 lần giai đoạn 2006-2010. Đối với vốn đầu tư từ NSNN, khi so sánh quy mô vốn bình quân từng giai đoạn 5 năm trong cùng thời kỳ như trên cũng cho thấy xu hướng giảm lần lượt là 10,2 lần; 3,3 lần; 2,3 lần; 2,1 lần. Đối với giai đoạn 2013-2011 so với giai đoạn 2006-2010, mức tăng chỉ còn gấp có 1,5 lần.

Về cơ cấu vốn đầu tư, nguồn vốn đầu tư từ khu vực kinh tế nhà nước luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội[2], trong tổng vốn đầu tư từ khu vực kinh tế nhà nước thì vốn đầu tư từ NSNN cũng chiếm tỷ trọng lớn nhất[3]. Điều này thể hiện vai trò định hướng, dẫn dắt của kinh tế nhà nước đối với nền kinh tế. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, do thực hiện tái cấu trúc nền kinh tế, trong đó đầu tư công mà đặc biệt là đầu tư từ NSNN bị giảm đi đáng kể. Đầu tư từ NSNN có xu hướng giảm dần từ 25,6% tổng vốn đầu tư toàn xã hội năm 2005 xuống còn 18,9% năm 2013. Nếu tính theo tỷ lệ phần trăm (%) so GDP, vốn đầu tư từ NSNN giảm từ 8,5% năm 2010 xuống còn 6,1% năm 2013 và 3,9% theo dự toán 2014.

Xét về tốc độ tăng vốn đầu tư từ NSNN cũng cho thấy có xu hướng giảm, đặc biệt là năm 2010 (do năm 2009 thực hiện gói kích thích kinh tế) và mặc dù vốn đầu tư từ NSNN năm 2011 có sự tăng nhẹ nhưng nếu loại trừ yếu tố tăng giá thì tốc độ tăng vốn đầu tư từ NSNN trong giai đoạn 2010-2013 có xu hướng giảm.

Trong tổng đầu tư từ khu vực nhà nước, tỷ trọng chi đầu tư phát triển trong tổng chi NSNN năm 2011 là 20%, năm 2012 là 23% năm 2013 là 21,4%, trung bình ba năm 2011-2013 là 21,5%, đảm bảo theo tỷ lệ mà Đề án đưa ra.

Ba là, sự thu hẹp của đầu tư nhà nước trong những năm qua một phần là do thực hiện tái cơ cấu đầu tư, một phần là tạo điều kiện mở rộng đầu tư tư nhân. Tuy nhiên, mặc dù quy mô vốn đầu tư tư nhân tăng trong những năm gần đây nhưng xét về tỷ trọng trong tổng đầu tư xã hội nhìn chung không có sự thay đổi nhiều và nếu so với GDP thì có xu hướng giảm từ 12,8% năm 2011 xuống 11,5% năm 2013.

Mặc dù Đề án tổng thể tái cơ cấu kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng được Thủ tướng Chính phủ ban hành đầu năm 2013 nhưng trên thực tế một số nội dung là tiền đề cho việc thực hiện tái cơ cấu đầu tư công đã được tiến hành triển khai từ năm 2011. Những yếu tố thuận lợi tạo tiền đề cho quá trình tái cơ cấu đầu tư công đã được triển khai thực hiện có thể kể đến như:

Thứ nhất, đã thực hiện giao kế hoạch vốn đầu tư từ nguồn trái phiếu Chính phủ theo trung hạn[4], hàng năm có điều chỉnh cho phù hợp với tình hình thực tế. Theo đó, căn cứ vào kế hoạch vốn TPCP giai đoạn 2011-2015 đã được Quốc hội quyết nghị (tổng mức đầu tư bằng nguồn vốn TPCP giai đoạn 2011-2015 không quá 225.000 tỷ đồng) và số vốn TPCP Quốc hội quyết định huy động năm 2013[5], Chính phủ sẽ phân bổ và giao chi tiết kế hoạch vốn TPCP giai đoạn 2012-2015 và năm 2012 đối với từng dự án, công trình trong danh mục đã được phê duyệt. Việc giao kế hoạch vốn đầu tư từ nguồn TPCP theo trung hạn sẽ giúp cho các bộ, ngành, địa phương nắm bắt được tổng mức đầu tư từ nguồn TPCP sẽ được đầu tư cho ngành, lĩnh vực và địa phương mình trong trung hạn. Trên cơ sở đó, các bộ, ngành, địa phương chủ động xác định thứ tự ưu tiên đầu tư các công trình, dự án quan trọng, cần thiết, cấp bách, hướng tới giảm dần và xóa bỏ tình trạng kế hoạch đầu tư bị cắt khúc từng năm. Qua đó nâng cao hiệu quả phân bổ và sử dụng nguồn lực đầu tư từ TPCP.

Thứ hai, thực hiện chuyển đổi phương thức giao kế hoạch vốn trái phiếu Chính phủ từ giao tổng số và danh mục dự án sử dụng vốn trái phiếu Chính phủ sang giao danh mục và chi tiết mức vốn TPCP cho từng dự án. Phương thức giao kế hoạch vốn đầu tư từ nguồn TPCP chi tiết cho từng dự án giúp khắc phục được nhược điểm của phương thức giao kế hoạch vốn trước đây là dễ phân bổ vốn sai đối tượng, đầu tư dàn trải, lãng phí, kém hiệu quả, không đảm bảo khả năng cân đối vốn do thực hiện không theo đúng mức vốn kế hoạch đã giao, dễ gây nợ đọng trong XDCB.

 Thứ ba, nhiều giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn ngân sách nhà nước và nguồn trái phiếu Chính phủ đã được triển khai áp dụng. Năm 2012 là năm đầu tiên triển khai thực hiện các giải pháp về tăng cường quản lý đầu tư từ vốn NSNN và vốn TPCP theo Chỉ thị số 1792/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 15/10/2011. Theo đó, các cấp, các ngành từ trung ương tới địa phương phải tăng cường quản lý đầu tư XDCB trong tất cả các khâu từ quy hoạch, kế hoạch, chuẩn bị đầu tư, xây dựng dự án, bố trí vốn đến triển khai thực hiện, giám sát thực hiện và kiểm toán, quyết toán. Trong đó, việc bố trí phân bổ vốn đầu tư từ nguồn NSNN, vốn TPCP được thực hiện theo hướng: i) Ưu tiên cho các dự án đã hoàn thành đưa vào sử dụng nhưng chưa bố trí đủ vốn; ii) Các dự án có khả năng hoàn thành trong năm 2012, 2013, các dự án quan trọng, cấp bách; iii) Ưu tiên bố trí vốn đầu tư NSNN cho các lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, giao thông, giáo dục, y tế, quốc phòng, an ninh; iv) Hạn chế tối đa khởi công dự án mới sử dụng vốn NSNN; v) Kiên quyết điều chuyển hoặc thu hồi vốn đầu tư đối với các công trình, dự án chậm triển khai, triển khai không hiệu quả, phân bổ vốn và sử dụng không đúng đối tượng; vi) Bố trí hoàn trả vốn đã được ngân sách ứng trước. Việc ứng trước vốn NSNN và vốn TPCP cũng được quy định khá chặt chẽ[6]. Vấn đề giải quyết nợ đọng XDCB cũng được quan tâm chú trọng[7] để không gây nợ đọng XDCB. Ngoài ra, trách nhiệm của người quyết định đầu tư đối với chất lượng, hiệu quả các công trình xây dựng cũng được quy định rõ hơn[8]. Việc thực hiện các nội dung trên đã đem lại các kết quả tích cực, đó là: (i) Công tác triển khai giao và thông báo kế hoạch vốn NSNN và vốn TPCP của các bộ, ngành và địa phương năm 2013 sớm hơn so 2012[9] nhiều đơn vị triển khai giao và thông báo kế hoạch vốn đảm bảo đúng quy định[10]; (ii) Về cơ bản các bộ, ngành, địa phương đã thực hiện phân bổ vốn theo đúng Quyết định của Thủ tướng Chính phủ giao, công tác bố trí vốn được tập trung, khắc phục dần tình trạng phân tán, dàn trải, góp phần chống thất thoát, lãng phí, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn nhà nước[11]; (iii) Tiến độ giải ngân vốn đầu tư từ NSNN và TPCP năm 2013 đạt khá hơn so với cùng kỳ năm 2012. Đối với phần vốn nước ngoài tỷ lệ giải ngân đạt cao, năm 2012 tỷ lệ giải ngân của các bộ, cơ quan trung ương gấp 2,7 lần kế hoạch. Việc giải ngân vốn ngoài nước đạt cao là do các nhà tài trợ cho phép giải ngân theo tiến độ thực hiện của dự án, do đó nhiều bộ, ngành, cơ quan trung ương giải ngân vượt kế hoạch được giao. Ngoài ra, việc thực hiện các chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ[12] đã góp phần tăng cường quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước và trái phiếu Chính phủ cho đầu tư phát triển. Điều này được thấy một phần qua chỉ số ICOR giảm từ 6,7 giai đoạn 2008-2010 xuống còn 5,53 trong giai đoạn 2011-2013, năng suất lao động tăng[13],… Có thể thấy, với những yếu tố thuận lợi nêu trên sẽ tạo đà cho việc đẩy nhanh quá trình thực hiện tái cơ cấu đầu tư công.

Thực tế thực hiện tái cơ cấu đầu tư công trong thời gian qua cho thấy vốn đầu tư  từ NSNN và vốn TPCP đã được phân bổ và sử dụng có trọng tâm, trọng điểm, đã khắc phục được một phần tình trạng đầu tư dàn trải, kém hiệu quả,… góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả của vốn đầu tư công, qua đó thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế bền vững. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực đạt được trong tái cơ cấu đầu tư công vẫn nổi lên một số vấn đề đòi hỏi cần được làm rõ.

5.2. Những vấn đề đặt ra

Thứ nhất, về nội hàm của đầu tư công. Cho đến nay, nội hàm của đầu tư công chưa được xác định rõ ràng. Vẫn có hai quan điểm khác nhau về đầu tư công. Quan điểm thứ nhất cho rằng, đầu tư công là toàn bộ nội dung liên quan đến đầu tư sử dụng vốn nhà nước, bao gồm hoạt động đầu tư hoặc hỗ trợ đầu tư sử dụng vốn nhà nước không nhằm mục đích thu lợi nhuận vào các chương trình, dự án phục vụ phát triển kinh tế – xã hội (gọi tắt là nhóm 1); các hoạt động đầu tư, kinh doanh sử dụng vốn nhà nước, đặc biệt là quản lý các hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước (gọi tắt là nhóm 2). Quan điểm thứ hai khẳng định, đầu tư công chỉ bao gồm các hoạt động đầu tư bằng vốn nhà nước cho các dự án, chương trình không vì mục tiêu thu lợi nhuận, tức là giới hạn trong phạm vi các hoạt động đầu tư thuộc nhóm 1. Nghiên cứu kinh nghiệm của các nước cho thấy để xác định đầu tư công thì cần phải xác định khu vực công hay khu vực Chính phủ. Khu vực Chính phủ của hầu hết các nước đều bao hàm tất cả các doanh nghiệp công ích, doanh nghiệp nhà nước. Tuy nhiên, so với các nước thì có thể thấy số lượng các doanh nghiệp công ích, doanh nghiệp nhà nước của Việt Nam là khá lớn và chiếm tỷ trọng tương đối trong tổng số doanh nghiệp. Do vậy, nếu cộng cả khu vực này vào khu vực công thì khu vực công của Việt Nam là rất lớn. Dự thảo Luật đầu tư công đã được đưa ra Quốc hội tại kỳ họp thứ 6 Quốc hội khoá XIII nêu rằng: “Đầu tư công là việc sử dụng các nguồn vốn đầu tư công để đầu tư nhằm thực hiện các mục tiêu của các chương trình, các dự án phục vụ phát triển kinh tế – xã hội… Vốn đầu tư công bao gồm: vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước, công trái quốc gia, trái phiếu Chính phủ, trái phiếu chính quyền địa phương, nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ, tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước và các khoản vốn đầu tư khác có tính chất NSNN, các khoản vốn vay của ngân sách địa phương để đầu tư… Vốn đầu tư khác có tính chất NSNN là khoản vốn đầu tư từ nguồn thu để lại cho đầu tư nhưng không đưa vào cân đối NSNN, như: xổ số kiến thiết, một số hoặc một phần các khoản phí, lệ phí”. Như vậy, đầu tư công của Việt Nam được hiểu tương đối rộng nhưng cũng chưa rõ ràng một số nội dung như mục đích của đầu tư công, phạm vi đầu tư công,… Đầu tư công là khái niệm có nội hàm rất khác nhau tùy theo góc nhìn của từng đối tượng. Chẳng hạn, nếu xét theo nguồn vốn đầu tư thì bất kỳ khoản đầu tư nào, đầu tư vào đâu với mục đích gì đều là đầu tư công nếu nguồn vốn đầu tư là của nhà nước. Song, nếu xét theo mục đích đầu tư thì đầu tư công lại được hiểu là chỉ bao gồm đầu tư vào những chương trình, dự án phục vụ cộng đồng, không có mục đích thu lợi nhuận. Do vậy để thực hiện tái cơ cấu đầu tư công hiệu quả cần làm rõ nội hàm của đầu tư công trong quá trình thực hiện tái cơ cấu kinh tế.

Thứ hai, mặc dù tái cơ cấu đầu tư công đã được nêu ra nhưng nội dung cụ thể của tái cơ cấu đầu tư công lại chưa được rõ. Quyết định 339/QĐ-TTg ngày 19/2/2013 của Thủ tướng Chính phủ mới chỉ đề cập tới tỷ trọng đầu tư nhà nước trong tổng đầu tư xã hội, tỷ trọng chi đầu tư phát triển trong tổng chi ngân sách nhà nước và việc mở rộng, khuyến khích đầu tư tư nhân trong phát triển hạ tầng. Trong khi đó vấn đề cơ cấu đầu tư công bao gồm cơ cấu theo phạm vi trung ương – địa phương, cơ cấu đầu tư theo ngành, lĩnh vực và theo vùng,… lại chưa được làm rõ sẽ tập trung nhiều hơn vào đâu và theo định hướng nào. Sự chưa rõ ràng này gây khó khăn trong việc phân bổ nguồn lực công theo cấp (trung ương – địa phương), theo ngành, lĩnh vực (công nghiệp, nông nghiệp,…) và đầu tư công trong từng ngành, lĩnh vực.

Thứ ba, hệ thống thể chế, chính sách là cơ sở cho việc thực hiện tái cơ cấu đầu tư công còn chậm được ban hành, đổi mới. Luật đầu tư công, Luật ngân sách nhà nước (sửa đổi), Luật quản lý và sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào hoạt động sản xuất kinh doanh, Luật quy hoạch,… vẫn đang được xây dựng trước khi trình Quốc hội vào kỳ họp thứ 7 và thứ 8 của Quốc hội khoá XIII. Sự chậm trễ này đã ảnh hưởng không nhỏ tới việc thực hiện các mục tiêu, nội dung của tái cơ cấu đầu tư công. Ngoài ra, nhiều văn bản Luật điều chỉnh hoạt động đầu tư công cũng chưa thật cụ thể, đầy đủ, đồng bộ và rõ ràng. Ví dụ như Luật ngân sách nhà nước năm 2002 có quy định về chi đầu tư phát triển nhưng chỉ quy định kế hoạch ngân sách hàng năm trong khi chưa có quy định về kế hoạch bố trí nguồn vốn trung hạn theo các dự án đầu tư trong khi hầu hết các dự án đầu tư thường từ 3-5 năm và hơn thế. Hơn nữa Luật NSNN cũng chưa có quy định đầy đủ về phân bổ, sử dụng ngân sách từ nguồn trái phiếu Chính phủ, công trái, vốn hỗ trợ phát triển chính thức cho các dự án đầu tư,… mà các quy định này chỉ ở dạng các văn bản dưới luật nên tính pháp lý chưa cao. Hơn thế, chế tài liên quan tới nội dung này chưa đủ mạnh, kỷ luật tài khoá lỏng lẻo nên chưa đủ sức để răn đe.

Thứ tư, mối quan hệ giữa tái cơ cấu đầu tư công với tái cơ cấu tổng thể nền kinh tế còn chưa rõ ràng. Đầu tư công liên quan nhiều tới tái cơ cấu DNNN. Đầu tư công theo cách hiểu rộng bao gồm đầu tư từ NSNN, tín dụng đầu tư và đầu tư của các DNNN nên tái cơ cấu đầu tư công phải bao gồm cả tái cơ cấu các thành phần của đầu tư công và như vậy sẽ liên quan tới tái cơ cấu DNNN bởi vốn đầu tư từ NSNN được thực hiện bởi các doanh nghiệp mà trong đó tập trung chủ yếu ở các DNNN. Các khoản tính dụng liên quan đến vốn công cũng chủ yếu được thực hiện bởi các DNNN, một số trường hợp có sự tham gia của khu vực nước ngoài nhưng cũng có nhiều trường hợp chỉ là danh nghĩa khi các dự án được bán lại cho các tổ chức trong nước thực hiện.  Đối với vốn đầu tư của các DNNN có nguồn gốc từ NSNN nhưng quản lý còn chưa hiệu quả. Thực tế tái cơ cấu DNNN còn chậm, chủ yếu là chuyển giao nội bộ tập đoàn, tổng công ty hoặc giữa các DNNN. Chưa tạo động lực và áp lực mạnh để các DNNN đẩy nhanh quá trình tái cơ cấu. Việc thoái vốn của các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn do quy định về bảo toàn và phát triển vốn nhà nước đầu tư trong bối cảnh kinh tế suy giảm, điều kiện thị trường chứng khoán không thuận lợi.

Ngoài ra, vấn đề tư duy nhiệm kỳ, chất lượng quy hoạch,… vẫn còn ảnh hưởng và chi phối nhiều tới tái cơ cấu đầu tư công.

5.3. Định hướng giải pháp

Để tái cơ cấu đầu tư công hiệu quả, trong thời gian tới cần làm rõ các vấn đề sau:

Thứ nhất, xác định rõ nội hàm của đầu tư công. Đầu tư công cần được hiểu là tất cả các khoản đầu tư của nhà nước nhằm thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội. Do đó đầu tư công cần được hiểu theo nghĩa rộng theo quan điểm thứ nhất đã nêu ở trên. Trên cơ sở xác định rõ nội hàm của đầu tư công cần làm rõ vai trò của từng nguồn lực và định hướng nguồn lực đối với từng ngành, lĩnh vực, vùng kinh tế.

Thứ hai, cần làm rõ các nội dung cụ thể của tái cơ cấu đầu tư công trên cơ sở xác định rõ ngành, lĩnh vực trọng tâm cần đầu tư. Cần làm rõ chức năng của đầu tư công nói chung và đầu tư công của các ngành, lĩnh vực, các địa phương.

Thứ ba, tiếp tục rà soát và sớm hoàn thiện các thể chế, chính sách liên quan đến đầu tư công làm cơ sở pháp lý cho việc phân bổ, quản lý và sử dụng các nguồn lực công hiệu quả.

Phối hợp bố trí vốn đầu tư công trên cơ sở quy hoạch đầu tư công được xây dựng bảo đảm chất lượng cao và ổn định. Một mặt, cần coi trọng nâng cao chất lượng và giữ ổn định các quy hoạch đầu tư phát triển các lĩnh vực, ngành nghề được lập cả ở cấp quốc gia, ngành, cũng như địa phương. Mặt khác, sự điều chỉnh và hoàn thiện các quy hoạch đầu tư đã lập cũng là cần thiết, cần được tiến hành nghiêm túc, có căn cứ xác đáng, có quy trình và thời gian nhằm hạn chế thấp nhất những thiệt hại cho các bên liên quan.

Phối hợp hài hòa các mục tiêu, lợi ích và tính đến tác động hai mặt của dự án đầu tư công. Cần xây dựng bộ tiêu thức phù hợp và chuẩn hóa để tạo căn cứ lựa chọn và thông qua các dự án đầu tư công theo lĩnh vực và yêu cầu đầu tư, mục tiêu kinh tế – xã hội, môi trường, cũng như các lợi ích của quốc gia và địa phương, ngành, ngắn hạn và dài hạn; có phân biệt hai loại mục tiêu và hai loại tiêu chí đánh giá hiệu quả đầu tư công – đầu tư vì lợi nhuận và đầu tư phi lợi nhuận…

 Phối hợp tăng cường tái cơ cấu đầu tư công, phân cấp và đa dạng hóa phương thức, nguồn vốn đầu tư theo yêu cầu nâng cao hiệu quả đầu tư xã hội. Về dài hạn, cần chủ động giảm thiểu dần đầu tư công, tăng đầu tư ngoài ngân sách nhà nước trong tổng đầu tư xã hội; tiết giảm việc cấp vốn ngân sách cho nhu cầu đầu tư của khối các tổng công ty, tập đồn kinh tế nhà nước và chuyển trọng tâm đầu tư công ra ngoài lĩnh vực kinh tế, để tập trung vào phát triển các lĩnh vực hạ tầng và xã hội… Khuyến khích các chủ đầu tư huy động vốn ngoài ngân sách nhà nước để đầu tư theo phương thức “chìa khóa trao tay”, có đặt cọc bảo hành, bảo đảm chất lượng công trình.

Phối hợp tuân thủ các quy chuẩn về thủ tục và quy trình đầu tư, thực hiện đấu thầu thực chất và rộng răi cho mọi thành  phần kinh tế với các nguồn đầu tư công, tăng cường giám sát, phản biện và kiểm tra, tố giác, xử lý kịp thời và nghiêm khắc các vi phạm đầu tư công bằng các công cụ chế tài về tài chính và hành chính.

Về tổng thể, cần giảm quy mô đầu tư và đầu tư công cho phù hợp với khả năng của nền kinh tế, từ bỏ mô hình tăng trưởng “nóng”, dựa chủ yếu vào tăng vốn đầu tư và gia công sản xuất, chuyển sang mô hình phát triển theo chiều sâu. Tái cơ cấu thu, chi ngân sách, thay đổi cơ cấu chi tiêu ngân sách theo hướng giảm bớt chức năng “nhà nước kinh doanh” và đồng thời tăng cường chức năng “nhà nước phúc lợi”. Đổi mới phân bổ đầu tư công, gắn với tài chính công, và tái cấu trúc nền kinh tế bắt đầu từ chính sách tài khóa. Điều quan trọng nhất là kỷ luật tài khóa và việc nâng cao chất lượng công tác quy hoạch trên cơ sở tôn trọng tính tự phát triển của địa phương, nhưng cũng cần hướng về sự phát triển tổng thể nền kinh tế, tăng cường hơn vai trò tổng cân đối chung của Chính phủ./.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

———————

1. Báo cáo bổ sung tình hình đầu tư phát triển năm 2012 và triển khai kế hoạch đầu tư phát triển năm 2013 của Bộ KH&ĐT.

2. Báo cáo đánh giá bổ sung về kết quả thực hiện NSNN năm 2012, tình hình triển khai thực hiện dự toán NSNN năm 2013 của Bộ Tài chính.

3. Vũ Thành Tự Anh. Quản lý và phân cấp quản lý đầu tư công. Thực trạng ở Việt Nam và kinh nghiệm quốc tế.

4. Tái cấu trúc và đánh giá hiệu quả đầu tư công ở Việt Nam. Tài liệu hội thảo do Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương phối hợp với Tổ chức hợp tác phát triển (GIZ) tổ chức thực hiện.

5. http://www.mof.gov.vn

6. http://www.vneconomy.vn

7. http://www.mpi.gov.vn

 


1 Quyết định 339/QĐ-TTg ngày 19/02/2013 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Đề án tổng thể tái cơ cấu kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh giai đoạn 2013-2020.

[2] Bình quân giai đoạn 2006-2010 là 39,1%, giai đoạn 2011-2013 là 38,4% tổng vốn đầu tư toàn xã hội.

[3] Bình quân giai đoạn 2006-2010 là 21,8%, giai đoạn 2011-2013 là 19,6% tổng vốn đầu tư toàn xã hội.

[4] Nghị quyết 12/2011/QH13 ngày 09/11/2011 của Quốc hội về kế hoạch vốn TPCP giai đoạn 2011-2015; Nghị quyết 473/NQ-UBTVQH13 ngày 27/3/2012 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về kế hoạch phân bổ vốn trái phiếu Chính phủ giai đoạn 2011-2015; Nghị quyết 495/NQ-UBTVQH13 ngày 18/5/2012 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về kế hoạch phân bổ 5.500 tỷ đồng vốn trái phiếu Chính phủ giai đoạn 2011-2015 cho các dự án thuộc lĩnh vực thủy lợi, Thủ tướng Chính phủ đã giao kế hoạch vốn TPCP giai đoạn 2012-2015 và năm 2012 tại Quyết định 368/QĐ-TTg ngày 03/4/2012 về việc giao kế hoạch vốn trái phiếu Chính phủ giai đoạn 2012-2015 và năm 2012 và các quyết định giao bổ sung kế hoạch vốn TPCP giai đoạn 2012-2015 và năm 2012 như Quyết định 602/QĐ-TTg ngày 24/5/2012, Quyết định 699/QĐ-TTg ngày 09/6/2012, Quyết định 1515/QĐ-TTg ngày 15/10/2012, Quyết định 1903/QĐ-TTg ngày 20/12/2012…

[5] Hàng năm dựa vào khả năng và hiệu quả sử dụng vốn Quốc hội sẽ quyết định mức huy động cụ thể nhưng tổng mức huy động các năm trong giai đoạn 2011-2015 sẽ không quá 225.000 tỷ đồng. Kế hoạch huy động vốn TPCP năm 2011 là 45.000 tỷ đồng; năm 2012 là 45.000 tỷ đồng; năm 2013 là 60.000 tỷ đồng.

[6] Việc cấp phát và ứng chi vốn NSNN, vốn TPCP từ Kho bạc nhà nước cho các dự án đầu tư (trong kế hoạch) phải căn cứ vào khối lượng thực hiện. Đối với dự án chưa có khối lượng thực hiện, việc tạm ứng vốn tối đa là 30% kế hoạch vốn được giao hàng năm của dự án. Việc cấp phát và ứng chi tiếp theo chỉ được thực hiện sau khi thanh toán khối lượng hoàn thành (Chỉ thị 1792/CT-TTg ngày 15/10/2011).

[7] Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị 27/CT-TTg ngày 10/10/2012 về những giải pháp chủ yếu khắc phục tình trạng nợ đọng XDCB tại các địa phương.

[8] Chỉ được quyết định đầu tư khi đã xác định rõ nguồn vốn và khả năng cân đối vốn ở từng cấp ngân sách… Những dự án được quyết định đầu tư mà không xác định rõ nguồn vốn, mức vốn thuộc NSNN, vốn TPCP làm cho dự án phải thi công kéo dài, gây lãng phí thì người ký quyết định phải chịu trách nhiệm về những tổn thất do việc kéo dài gây ra (Chỉ thị 1792/CT-TTg ngày 15/10/2011).

[9] Do năm 2012 thực hiện giao kế hoạch vốn theo trung hạn nên việc giao kế hoạch vốn chậm so với quy định

[10] Đối với các bộ, ngành, cơ quan trung ương có 33/57 đơn vị đã triển khai giao và thông báo kế hoạch đúng thời hạn quy định

[11] So với năm 2012, năm 2013 các bộ, ngành và địa phương đã chú trọng bố trí vốn cho các dự án hoàn thành từ năm 2012 trở về trước tăng 291 dự án; số dự án hoàn thành của các bộ, ngành, cơ quan trung ương trong năm 2013 tăng 23 dự án.

[12] Chỉ thị 1792/CT-TTg ngày 15/10/2011; Chỉ thị 14/CT-TTg ngày 28/6/2013; Chỉ thị 27/CT-TTg ngày 10/10/2012 và Chỉ thị 27/CT-TTg ngày 27/12/2013.

[13] Năng suất lao động năm 2013 tăng 10,1% so với năm 2010.

Bản in

 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *