Chuyên đề 5: QUẢN LÝ NỢ VÀ CƯỠNG CHẾ NỢ THUẾ NĂM 2014, GIẢI PHÁP NĂM 2015

Chuyên đề 5: QUẢN LÝ NỢ VÀ CƯỠNG CHẾ NỢ THUẾ NĂM 2014, GIẢI PHÁP NĂM 2015

ThS, GVC Phạm Xuân Tuyên

Trường Bồi dưỡng cán bộ tài chính – Bộ Tài chính

5.1. Một số nhận thức chung về nợ thuế và cưỡng chế nợ thuế

5.1.1. Khái niệm về Nợ thuế và cưỡng chế nợ thuế

Theo nghĩa chung nhất nợ là nghĩa vụ phải trả, phát sinh từ những giao dịch sự kiện đã qua mà chắc chắn người mắc nợ phải sử dụng một nguồn tài chính của mình để thanh toán. Nợ của một cá nhân, tổ chức phát sinh khi:

-Cá nhân, tổ chức đó nhận về một tài sản nhưng chưa thanh toán giá trị hoặc trao đổi lại một tài sản khác có cùng giá trị tương ứng với tài sản đó cho nhà cung cấp;

– Cá nhân tổ chức đó đưa ra một cam kết với chủ thể khác nhưng chưa thực hiện;

– Khi cá nhân đó phải thực hiện một nghĩa vụ pháp lý.

Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, thuế là một phần trong thu nhập mà công dân, tổ chức kinh tế có nghĩa vụ nộp vào ngân sách nhà nước để chi tiêu cho việc chung.

Thuế hay thu ngân sách nhà nước là việc Nhà nước dùng quyền lực của mình để tập trung một phần nguồn tài chính quốc gia hình thành quỹ Ngân sách nhà nước nhằm thỏa mãn các nhu cầu của Nhà nước. Nói một các khác, thuế là một khoản nộp bắt buộc mà các thể nhân và pháp nhân có nghĩa vụ phải thực hiện đối với Nhà nước, phát sinh trên cơ sở các văn bản pháp luật do Nhà nước ban hành, không mang tính chất đối giá và hoàn trả trực tiếp cho đối tượng nộp thuế. Thuế không phải là một hiện tượng tự nhiên mà là một hiện tượng xã hội do chính con người định ra và nó gắn liền với phạm trù Nhà nước và pháp luật.

Như vậy, trong vấn đề thuế, xuất hiện mối quan hệ phân phối mà trong đó có sự tham gia của 2 chủ thể, một bên là nhà nước và một bên là các cá nhân, tổ chức có nghĩa vụ nộp thuế (sau đây gọi là Người nộp thuế và viết tắt là NNT).

Với chủ thể thứ nhất, Người nộp thuế có nghĩa vụ: Đăng ký thuế, sử dụng mã số thuế theo quy định của pháp luật; khai thuế chính xác, trung thực, đầy đủ và nộp hồ sơ thuế đúng thời hạn; chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, trung thực, đầy đủ của hồ sơ thuế; Nộp tiền thuế đầy đủ, đúng thời hạn, đúng địa điểm; Chấp hành chế độ kế toán, thống kê và quản lý, sử dụng hoá đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật; Ghi chép chính xác, trung thực, đầy đủ những hoạt động phát sinh nghĩa vụ thuế, khấu trừ thuế và giao dịch phải kê khai thông tin về thuế;Lập và giao hoá đơn, chứng từ cho người mua theo đúng số lượng, chủng loại, giá trị thực thanh toán khi bán hàng hoá, cung cấp dịch vụ theo quy định của pháp luật; Cung cấp chính xác, đầy đủ, kịp thời thông tin, tài liệu liên quan đến việc xác định nghĩa vụ thuế, số hiệu và nội dung giao dịch của tài khoản mở tại ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng khác; giải thích việc tính thuế, khai thuế, nộp thuế theo yêu cầu của cơ quan quản lý thuế; Chấp hành quyết định, thông báo, yêu cầu của cơ quan quản lý thuế, công chức quản lý thuế theo quy định của pháp luật; Chịu trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ thuế theo quy định của pháp luật trong trường hợp người đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền thay mặt người nộp thuế thực hiện thủ tục về thuế sai quy định[1].

Với chủ thể thứ hai, Nhà nước thông qua cơ quan quản lý thuế có trách nhiệm: Tổ chức thực hiện thu thuế theo quy định của pháp luật; Tuyên truyền, phổ biến, hướng dẫn pháp luật về thuế; công khai các thủ tục về thuế; Giải thích, cung cấp thông tin liên quan đến việc xác định nghĩa vụ thuế cho người nộp thuế; công khai mức thuế phải nộp của hộ gia đình, cá nhân kinh doanh trên địa bàn xã, phường, thị trấn; Giữ bí mật thông tin của người nộp thuế theo quy định của Luật này; Thực hiện việc miễn thuế, giảm thuế, xoá nợ tiền thuế, xóa nợ tiền phạt, hoàn thuế theo theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật về thuế; Xác nhận việc thực hiện nghĩa vụ thuế của người nộp thuế khi có đề nghị theo quy định của pháp luật; Giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến việc thực hiện pháp luật về thuế theo thẩm quyền; Giao kết luận, biên bản kiểm tra thuế, thanh tra thuế cho đối tượng kiểm tra thuế, thanh tra thuế và giải thích khi có yêu cầu; Bồi thường thiệt hại cho người nộp thuế theo quy định của Luật này; Giám định để xác định số thuế phải nộp của người nộp thuế theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền[2].

Cơ quan quản lý thu thuế có quyền:Yêu cầu người nộp thuế cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến việc xác định nghĩa vụ thuế, số hiệu, nội dung giao dịch của các tài khoản được mở tại ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng khác và giải thích việc tính thuế, khai thuế, nộp thuế; Yêu cầu tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến việc xác định nghĩa vụ thuế và phối hợp với cơ quan quản lý thuế để thực hiện pháp luật về thuế; Kiểm tra thuế, thanh tra thuế; Ấn định thuế; Cưỡng chế thi hành quyết định hành chính về thuế; Xử phạt vi phạm pháp luật về thuế theo thẩm quyền; công khai trên phương tiện thông tin đại chúng các trường hợp vi phạm pháp luật về thuế;Áp dụng biện pháp ngăn chặn và bảo đảm việc xử lý vi phạm pháp luật về thuế theo quy định của pháp luật; Ủy nhiệm cho cơ quan, tổ chức, cá nhân thu một số loại thuế vào ngân sách nhà nước theo quy định của Chính phủ[3].

Trong quan hệ giữa Nhà nước với Người nộp thuế, Nhà nước luôn là người có quyền và luôn là người nhận tiền; còn Người nộp thuế với tư cách cá nhân hoặc tổ chức phát sinh nghĩa vụ thuế có trách nhiệm nộp thuế theo luật định là người nộp tiền cho nhà nước. Người nộp thuế phải thực hiện một nghĩa vụ pháp lý, từ đó có thể xuất hiện quan hệ Người nộp thuế nợ thuế Nhà nước, do đến hạn nộp đã được cơ quan thuế thông báo nhưng vì nhiều lí do chưa nộp được cho Nhà nước.

Theo quy định hiện hành, tiền thuế nợ là các khoản tiền thuế; phí, lệ phí; các khoản thu từ đất; thu từ khai thác tài nguyên khoáng sản và các khoản thu khác thuộc NSNN do cơ quan thuế quản lý thu theo quy định của pháp luật (gọi chung là tiền thuế) nhưng đã hết thời hạn quy định mà NNT chưa nộp vào NSNN[4].

Để hạn chế nợ thuế và khi nợ thuế xuất hiện thì nhà nước có thể triển khai biện pháp thích hợp, kịp thời thu nợ thuế, giảm thiểu rủi ro cho Ngân sách nhà nước, cơ quan quản lý thu thuế phải tổ chức quản lý nợ thuế. Quản lý nợ thuế có thể hiểu là hoạt động của cơ quan thuế tác động đến sự tồn tại và vận động của nợ thuế theo những nguyên tắc, phương pháp và thông qua các công cụ nhất định nhằm đạt mục đích thu hồi nợ thuế, diễn ra trên các nội dung: ban hành quy định liên quan đến nợ thuế và thu hồi nợ thuế, xây dựng kế hoạch, chiến lược thu nợ thuế, tổ chức bộ máy và bố trí nhân sự thực hiện nhiệm vụ thu nợ thuế, tổ chức thu nợ thuế và kiểm tra, thanh tra công tác thu nợ thuế.

Khi Người nộp thuế không thực hiện nghĩa vụ nộp thuế cho nhà nước, cơ quan quản lý thu thuếcó thể thực hiện cưỡng chế thi hành quyết định hành chính về thuế (còn gọi là cưỡng chế nợ thuế). Cưỡng chế thi hành quyết định hành chính về thuế là việc áp dụng các biện pháp: Trích tiền từ tài khoản của đối tượng bị cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế tại Kho bạc Nhà nước, ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng khác; yêu cầu phong toả tài khoản; Khấu trừ một phần tiền lương hoặc thu nhập; Kê biên tài sản, bán đấu giá tài sản kê biên theo quy định của pháp luật để thu đủ tiền thuế, tiền phạt; Thu tiền, tài sản khác của đối tượng bị cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế do tổ chức, cá nhân khác đang nắm giữ; Dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa nhập khẩu; Thu hồi mã số thuế; đình chỉ việc sử dụng hoá đơn; Thu hồi giấy chứng nhận kinh doanh, giấy phép thành lập và hoạt động, giấy phép hành nghềvà các quy định khác của pháp luật có liên quan buộc người nộp thuế phải nộp đủ tiền thuế, tiền phạt vào ngân sách nhà nước.

Cưỡng chế nợ thuế được áp dụng trong các trường hợp: Người nộp thuế nợ tiền thuế, tiền phạt vi phạm pháp luật về thuế đã quá chín mươi ngày, kể từ ngày hết thời hạn nộp thuế, nộp tiền phạt vi phạm pháp luật về thuế theo quy định; Người nộp thuế nợ tiền thuế, tiền phạt vi phạm pháp luật về thuế khi đã hết thời hạn gia hạn nộp tiền thuế; Người nộp thuế còn nợ tiền thuế, tiền phạt có hành vi phát tán tài sản, bỏ trốn.

5.1.2. Quy trình quản lý nợ thuế và cưỡng chế thu hồi nợ thuế

Để quản lý nợ thuế và cưỡng chế thu hồi nợ thuế, Tổng cục thuế đã ban hành quy trình quản lý nợ thuế và quy trình cưỡng chế nợ thuế nhằm áp dụng thống nhất trong toàn ngành Thuế. Cụ thể:

5.1.2.1. Quy trình quản lý nợ thuế

Từ năm 2005 đến nay, Tổng cục Thuế đã ban hành nhiều quy trình quản lý nợ thuế kèm theo các quyết định: số 1123/QĐ-TCT ngày 24/10/2005, số 477/QĐ-TCT ngày 15/5/2008, số 752/QĐ-TCT ngày 14/5/2010, số 1395/QĐ-TCT ngày 14/10/2011, và mới đây nhất là Quy trình quản lý nợ thuế kèm theo Quyết định số: 2379/QĐ-TCT ngày 22/12/2014 bắt đầu có hiệu lực kể từ 1/4/2015 để áp dụng trong phạm vi Tổng cục Thuế, Cục Thuế, Chi cục Thuế; Vụ Quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế thuộc Tổng cục Thuế; Phòng quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế thuộc Cục Thuế; đội quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế và các bộ phận quản lý nợ thuộc các đội thuế thuộc Chi cục Thuế (sau đây viết tắt là bộ phận quản lý nợ); Các bộ phậntham gia thực hiện quy trình bao gồm: phòng/đội kiểm tra thuế; phòng/đội quản lý thuế thu nhập cá nhân; phòng quản lý đất đai (nếu có) hoặc bộ phận quản lý các khoản thu từ đất thuộc phòng/đội tổng hợp – nghiệp vụ – dự toán; phòng quản lý doanh nghiệp lớn (nếu có) hoặc bộ phận quản lý doanh nghiệp lớn thuộc các phòng/đội kiểm tra thuế; đội trước bạ và thu khác; đội thuế liên xã, phường, thị trấn. Phòng, đội có liên quan đến công tác quản lý nợ thuế như: kê khai và kế toán thuế, thanh tra, ấn chỉ, tin học, tuyên truyền – hỗ trợ;Công chức thuộc bộ phận quản lý nợ; công chức thuộc bộ phận tham gia thực hiện quy trìnhđể tổ chức quản lý nợ thuế. Nội dung cơ bản của quy trình quản lý nợ thuế như sau:

a) Xây dựng chỉ tiêu thu tiền thuế nợ

Bước 1: Xác định số tiền thuế nợ năm thực hiện căn cứ vào số liệu tại thời điểm 31/10 hằng năm.

Bước 2: Lập chỉ tiêu thu tiền thuế nợ năm kế hoạch

Bước 3: Báo cáo chỉ tiêu thu tiền thuế nợ đã lập trong năm kế hoạch cho cơ quan thuế cấp trên hàng năm

Bước 4: Phê duyệt chỉ tiêu thu tiền thuế nợ:

– Căn cứ vào kết quả tổng hợp của các Cục Thuế đã báo cáo, Tổng cục Thuế phê duyệt chỉ tiêu thu tiền thuế nợ giao cho các Cục Thuế chậm nhất là ngày 31/12 hàng năm;

– Căn cứ vào chỉ tiêu do Tổng cục Thuế giao và kết quả tổng hợp Báo cáo chỉ tiêu thu tiền thuế nợ đã lập trong năm kế hoạch, Cục Thuế giao chỉ tiêu thu tiền thuế nợ cho phòng quản lý nợ, các phòng tham gia thực hiện quy trình, các Chi cục Thuế chậm nhất là ngày 31/01 năm tiếp theo và báo cáo kết quả về Tổng cục Thuế.

– Căn cứ vào chỉ tiêu thu nợ do Cục Thuế giao, Các Chi cục Thuế giao chỉ tiêu thu tiền thuế nợ cho đội quản lý nợ, các đội tham gia thực hiện quy trình và báo cáo kết quả về Cục Thuế.

Bước 5: Triển khai thực hiện chỉ tiêu thu tiền thuế nợ trên cơ sở phê duyệt của cơ quan có thẩm quyền:

– Phòng quản lý nợ:

+ Xây dựng chỉ tiêu đối với toàn bộ số tiền thuế nợ do Cục Thuế quản lý;

+ Dự kiến, trình lãnh đạo Cục Thuế giao chỉ tiêu thu tiền thuế nợ cho phòng quản lý nợ, các phòng tham gia thực hiện quy trình và các Chi cục Thuế;

+ Giao nhiệm vụ thu tiền thuế nợ cho công chức thuộc phòng quản lý nợ.

– Các phòng tham gia thực hiện quy trình:

+ Tham gia xây dựng chỉ tiêu thu tiền thuế nợ;

+ Giao nhiệm vụ thu tiền thuế nợ cho công chức thuộc phòng quản lý.

– Đội quản lý nợ thuế tại các Chi cục:

+ Xây dựng chỉ tiêu thu tiền thuế nợ đối với toàn bộ số tiền thuế nợ do Chi cục Thuế quản lý;

+ Dự kiến, trình lãnh đạo Chi cục Thuế giao chỉ tiêu thu tiền thuế nợ cho đội quản lý nợ, các đội tham gia thực hiện quy trình;

+ Giao nhiệm vụ thu tiền thuế nợ cho công chức thuộc đội quản lý nợ.

– Các đội tham gia thực hiện quy trình tại các Chi cục:

+ Tham gia xây dựng chỉ tiêu thu tiền thuế nợ;

+ Giao nhiệm vụ thu tiền thuế nợ cho công chức thuộc đội quản lý.

b) Đôn đốc thu và xử lý tiền thuế nợ

Bước một: phân công quản lý nợ thuế:

– Phân công quản lý nợ thuế cho công chức quản lý nợ hoặc công chức tham gia thực hiện quy trình theo nguyên tắc như sau:

+ Đối với doanh nghiệp: Phân công quản lý nợ thuế cho công chức có kinh nghiệm thuộc bộ phận quản lý nợ hoặc bộ phận tham gia thực hiện quy trìnhtheo loại hình doanh nghiệp, sắc thuế, ngành nghề, địa bàn hành chính, địa bàn thu và theo các phương thức phù hợp khác.

+ Đối với hộ kinh doanh và cá nhân có nghĩa vụ nộp thuế vào NSNN: Phân công quản lý nợ thuế cho công chức quản lý nợ theo địa bàn thu như: phường, xã, thị trấn; bến tàu; bến xe; chợ…

+ Đối với các khoản tiền thuế do các đoàn thanh tra, kiểm tra ra quyết định truy thu, bộ phận thanh tra, kiểm tra đôn đốc đến 90 ngày kể từ ngày hết hạn nộp thuế, bộ phận quản lý nợ phối hợp với bộ phận thanh tra, kiểm tra đôn đốc các khoản tiền thuế truy thu.

– Hàng tháng, sau ngày khoá sổ thuế 01 ngày làm việc, trưởng phòng, đội trưởng đội quản lý nợ và trưởng phòng, đội trưởng đội tham gia thực hiện quy trình có trách nhiệm: Đôn đốc, nhắc nhở công chức quản lý nợ thực hiện quy trình; Đối với NNT mới phát sinh tiền thuế nợ, thực hiện phân công theo nguyên tắc nói trên. Nếu có thay đổi trong tháng về tình hình công chức (như nghỉ ốm, thuyên chuyển công tác hoặc thực hiện luân chuyển công việc) thực hiện phân công lại việc quản lý NNT: công chức quản lý nợ và công chức tham gia thực hiện quy trình phải bàn giao đầy đủ hồ sơ củaNNT đã được phân công cho công chức tiếp nhận. Việc bàn giao phải có biên bản xác nhận của lãnh đạo phòng hoặc đội.

Bước hai: Phân loại tiền thuế nợ

– Hàng tháng, ngay sau ngày kế tiếp ngày phân công công việc, công chức quản lý nợ và công chức tham gia thực hiện quy trình căn cứ tiêu thức phân loại tiền thuế nợ và hồ sơ, tài liệu liên quan đến NNT, danh sách NNT còn nợ thuế để phân loại theo từng khoản nợ, nhóm nợ.

– Về hồ sơ phân loại tiền thuế nợ: Công chức quản lý nợ và công chức tham gia thực hiện quy trình căn cứ vào trạng thái của NNT trên ứng dụng quản lý thuế để thực hiện phân loại tiền thuế nợ. Bộ phận kê khai và kế toán thuế có trách nhiệm cung cấp hồ sơ liên quan đến việc cập nhật trạng thái của NNT trên ứng dụng quản lý thuế để bộ phận quản lý nợ có cơ sở phân loại tiền thuế nợ; Hồ sơ để phân loại nợ đối với từng khoản nợ, nhóm nợ căn cứ vào quy định của pháp luật.

– Không thực hiện thanh toán, bù trừ tiền thuế, tiền phạt, tiền chậm nộp: Đối với khoản nợ đã được phân loại vào nhóm tiền thuế nợ đang xử lý, bộ phận quản lý nợ thông báo cho bộ phận kiểm tra, kê khai và kế toán thuế để không thực hiện thanh toán, bù trừ.

Bước ba: Thực hiện đôn đốc thu nộp

Căn cứ vào việc phân loại tiền thuế nợ, công chức quản lý nợ hoặc công chức tham gia thực hiện quy trình thực hiện như sau:

– Đối với khoản nợ từ 01 đến 30 ngày, kể từ ngày hết hạn nộp thuế: công chức quản lý nợ hoặc công chức tham gia thực hiện quy trình gọi điện thoại hoặc nhắn tin (SMS) hoặc gửi thư điện tử (Email) cho chủ doanh nghiệp hoặc người đại diện theo pháp luật của NNT thông báo về số tiền thuế nợ.

– Đối với khoản nợ từ ngày thứ 31 trở lên, kể từ ngày hết hạn nộp thuế, công chức quản lý nợ và công chức tham gia thực hiện quy trình thực hiện:

+ Lập thông báo tiền thuế nợ, tiền phạt và tiền chậm nộp theo mẫu số 07/QLN (ban hành kèm theo quy trình) trên hệ thống ứng dụng quản lý thuế; các khoản nợ thuế của NNT tại Thông báo 07/QLN bao gồm các khoản nợ mới phát sinh từ 01 ngày trở lên.

+ Trình lãnh đạo cơ quan thuế phê duyệt.

+ Sau khi lãnh đạo cơ quan thuế phê duyệt, bộ phận quản lý nợ hoặc bộ phận được giao nhiệm vụ quản lý nợgửi Thông báo 07/QLN cho NNT. Trường hợp NNT đề nghị thì gửi Thông báo 07/QLN kèm theo bảng kê qua thư điện tử (Email) cho NNT.

+ Hàng tháng, bộ phận quản lý nợ hoặc bộ phận được giao nhiệm vụ quản lý nợ lập danh sách tổng hợp Thông báo 07/QLN đã ban hành (theo mẫu số 14/QLN): bộ phận kê khai và kế toán thuế và các bộ phận có liên quan khác khi cần tra cứu các thông tin về Thông báo 07/QLN của NNT thực hiện khai thác, kết xuất trên ứng dụng quản lý thuế.

+ Sau khi phát hành Thông báo 07/QLN, nếu NNT phản ánh về số liệu tiền thuế nợ tại Thông báo 07/QLN không chính xác thì công chức quản lý nợ hoặc công chức tham gia thực hiện quy trình phối hợp với NNT để thực hiện: Đối chiếu số liệu; Ban hành lại Thông báo 07/QLN

– Đối với khoản tiền thuế nợ quá thời hạn nộp từ 61 ngày hoặc trước 30 ngày tính đến thời điểm hết thời gian gia hạn nộp thuế, thời gian không tính tiền chậm nộp: công chức thuộc bộ phận quản lý nợ thực hiện xác minh thông tin để thực hiện cưỡng chế nợ thuế theo quy định của pháp luật.

– Đối với khoản tiền thuế nợ trên 90 ngày kể từ ngày hết thời hạn nộp thuế; khoản tiền thuế nợ đã quá thời hạn gia hạn nộp thuế, thời hạn không tính tiền chậm nộp; NNT có hành vi bỏ địa chỉ kinh doanh, tẩu tán tài sản; NNT không chấp hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính về thuế: bộ phận quản lý nợ trình thủ trưởng cơ quan thuế ban hành quyết định cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế bằng biện pháp cưỡng chế phù hợp.

– Các trường hợp không ban hành Thông báo 07/QLN

+ Trường hợp được nộp dần tiền thuế nợ, cơ quan thuế không thực hiện cưỡng chế nợ thuế và không ban hành Thông báo 07/QLN, thực hiện đôn đốc thu nộp theo Quyết định nộp dần tiền thuế nợ.

+ Đối với tiền thuế đang chờ điều chỉnh cơ quan thuế không tính chậm nộp và không ban hành Thông báo 07/QLN. Trường hợp cần thiết mời NNT đến để đối chiếu, điều chỉnh tiền thuế nợ, cơ quan thuế lập Thông báo điều chỉnh tiền thuế nợ (mẫu

– Đối với tiền thuế nợ khó thu; tiền thuế nợ đang xử lý; hộ gia đình, cá nhân có số tiền thuế nhỏ: ở địa bàn có số lượng NNT lớn, biên chế công chức quản lý nợ, trang thiết bị làm việc chưa đảm bảo, cơ quan thuế có thể chưa ban hành Thông báo 07/QLN. Hàng năm, Cục trưởng Cục Thuế tỉnh, thành phố ban hành quy định về số tiền thuế nợ nhỏ chi tiết theo từng nhóm NNT (ngưỡng phải ban hành Thông báo 07/QLN), phù hợp với từng địa bàn quận/huyện để tạm thời chưa ban hành Thông báo 07/QLN. Trường hợp cần thiết phải ban hành Thông báo 07/QLN, cơ quan thuế có thể ban hành thông báo và gửi NNT theo quý hoặc 6 tháng một lần, đảm bảo thực hiện cưỡng chế nợ thuế. Đối với số tiền thuế nợ của hộ kinh doanh dưới ngưỡng phải ban hành Thông báo 07/QLN, bộ phận quản lý nợ lập danh sách tổng hợp tiền thuế nợ (theo mẫu số 15/QLN), trình lãnh đạo cơ quan thuế phê duyệt và chuyển đội thuế phường, xã để thông báo công khai.

Bước bốn: Xử lý các văn bản, hồ sơ đề nghị xóa nợ tiền thuế, gia hạn nộp thuế, nộp dần tiền thuế nợ, miễn tiền chậm nộp, hoàn kiêm bù trừ

Thứ nhất, xoá nợ tiền thuế:

– Lập và thẩm định hồ sơ đề nghị xoá nợ: Công chức quản lý nợ lập hồ sơ đề nghị xoá nợ tiền thuế đối với các trường hợp thuộc đối tượng được xoá nợ tiền thuế. Hồ sơ xoá nợ tiền thuế, tiền phạt được lập theo hướng dẫn tại các văn bản quy phạm pháp luật về thuế (mục XVI Phụ lục số 01 ban hành kèm theo quy trình). Trình lãnh đạo bộ phận quản lý nợ xem xét, sau đó chuyển hồ sơ sang bộ phận pháp chế (đối với các đơn vị có bộ phận pháp chế) hoặc bộ phận tổng hợp – nghiệp vụ – dự toán thẩm định (sau đây gọi tắt là bộ phận pháp chế). Trong thời gian 03 ngày làm việc, kể từ khi nhận được hồ sơ, bộ phận pháp chế phải có ý kiến thẩm định. Trong thời gian 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận được ý kiến tham gia của bộ phận pháp chế, bộ phận quản lý nợ tổng hợp và trình lãnh đạo cơ quan thuế phê duyệt, gửi cơ quan thuế cấp trên.

– Khi có quyết định xoá nợ của cơ quan có thẩm quyền, bộ phận quản lý nợ thực hiện: Gửi bản sao cho bộ phận kê khai và kế toán thuế để điều chỉnh giảm số tiền thuế nợ trên ứng dụng quản lý thuế;Đăng tải trên trang thông tin điện tử ngành thuế hoặc chuyển cho bộ phận quản trị trang thông tin điện tử ngành thuế để đăng tải chậm nhất là 03 ngày làm việc kể từ ngày ban hành quyết định hoặc ngày nhận được quyết định.

– Bộ phận quản lý nợ lưu toàn bộ hồ sơ liên quan đến xóa nợ thuế cho NNT, bao gồm: văn bản đề nghị xóa nợ, tài liệu liên quan đến việc đề nghị xoá nợ, phiếu tham gia ý kiến, quyết định xoá nợ.

Thứ hai, gia hạn nộp thuế:

– Nhận và thẩm địnhhồ sơ đề nghị gia hạn nộp thuế

– Khi có quyết định gia hạn nộp thuế của cơ quan có thẩm quyền, bộ phận quản lý nợ thực hiện: Gửi bản sao quyết định cho bộ phận kê khai và kế toán thuế để điều chỉnh lại hạn nộp cho khoản nợ thuế được gia hạn vào ứng dụng quản lý thuế; Đăng tải trên trang thông tin điện tử ngành thuế hoặc chuyển cho bộ phận quản trị trang thông tin điện tử ngành thuế để đăng tải chậm nhất là 03 ngày làm việc kể từ ngày ban hành quyết định.

– Bộ phận quản lý nợ lưu toàn bộ hồ sơ liên quan đến gia hạn nợ thuế của NNT, bao gồm: các văn bản đề nghị gia hạn của người nợ thuế; các văn bản bổ sung hồ sơ, không chấp thuận gia hạn, phiếu tham gia ý kiến, quyết địnhgia hạn của cơ quan thuế.

Thứ ba, nộp dần tiền thuế nợ:

– Nhận và thẩm định hồ sơ đề nghị nộp dần tiền thuế nợ

– Khi có quyết định nộp dần tiền thuế của cơ quan có thẩm quyền, bộ phận quản lý nợ thực hiện: Gửi bản sao quyết định cho bộ phận kê khai và kế toán thuế để điều chỉnh lại hạn nộp, tính tiền chậm nộp theo mức 0,05% mỗi ngày cho khoản nợ thuế được nộp dần vào ứng dụng quản lý thuế;Đăng tải trên trang thông tin điện tử ngành thuế hoặc chuyển cho bộ phận quản trị trang thông tin điện tử ngành thuế để đăng tải chậm nhất là 03 (ba) ngày làm việc kể từ ngày ban hành quyết định.

– Phòng, đội quản lý nợ lưu toàn bộ hồ sơ liên quan đến nộp dần tiền thuế nợ của NNT, bao gồm: văn bản đề nghị nộp dần của người nợ thuế; các văn bản bổ sung hồ sơ, không chấp thuận nộp dần, phiếu tham gia ý kiến, Quyết định nộp dần tiền thuế nợ của cơ quan thuế.

Thứ tư, miễn tiền chậm nộp:

– Nhận và thẩm định hồ sơ đề nghị miễn tiền chậm nộp

– Khi có quyết định miễn tiền chậm nộp của cơ quan có thẩm quyền, bộ phận quản lý nợ thực hiện: Gửi bản sao quyết định cho bộ phận kê khai và kế toán thuế để điều chỉnh lại tiền chậm nộp của NNT trên ứng dụng quản lý thuế; Đăng tải trên trang thông tin điện tử ngành thuế hoặc chuyển cho bộ phận quản trị trang thông tin điện tử ngành thuế để đăng tải chậm nhất là 03 (ba) ngày làm việc kể từ ngày ban hành quyết định.

– Bộ phận quản lý nợ lưu toàn bộ hồ sơ liên quan đến miễn tiền chậm nộp của NNT, bao gồm: các văn bản đề nghị miễn tiền chậm nộp của người nợ thuế; các văn bản bổ sung hồ sơ/không chấp thuận miễn tiền chậm nộp, phiếu tham gia ý kiến, Quyết định miễn tiền chậm nộp của cơ quan thuế.

Thứ năm, Thu tiền thuế nợ thông qua hoàn thuế kiêm bù trừ thu NSNN

Ngay trong ngày nhận được đề nghị của bộ phận giải quyết hồ sơ hoàn thuế về việc xác nhận tiền thuế nợ của NNT, bộ phận quản lý nợ hoặc bộ phận tham gia thực hiện quy trình thực hiện:

– Xác nhận tình trạng nợ thuế căn cứ vào số tiền thuế nợ đang theo dõi trên ứng dụng tại cơ quan thuế.

– Chuyển phiếu xác nhận tình trạng nợ thuế cho bộ phận giải quyết hồ sơ hoàn thuế để có cơ sở lập Quyết định hoàn trả kiêm bù trừ thu NSNN.

Bước năm: Xử lý tiền thuế đang chờ điều chỉnh; tiền thuế nợ khó thu (trừ trường hợp đã được xóa nợ tại bước 4) và một số nguyên nhân gây chênh lệch tiền thuế nợ.

Thứ nhất, Tiền thuế đang chờ điều chỉnh

– Đối với tiền thuế chờ điều chỉnh do sai sót:

+ Trường hợp NNT ghi sai các chỉ tiêu trên chứng từ nộp tiền và có đề nghị điều chỉnh tiền thuế nợ: Căn cứ đăng ký thuế, khai thuế và mục lục NSNN, bộ phận kê khai và kế toán thuế thực hiện điều chỉnh thu nộp NSNN theo quy định tại Quy trình quản lý khai thuế, nộp thuế và kế toán thuế.

+ Trường hợp có sai sót do KBNN, NHTM: Bộ phận quản lý nợ hoặc bộ phận tham gia thực hiện quy trình lập văn bản gửi bộ phận kê khai và kế toán thuế thực hiện: Đề nghị KBNN, NHTM thực hiện đúng quy định khi lập chứng từ thu NSNN hoặc chứng từ chuyển tiền thuế đã thu từ NHTM vào tài khoản thu NSNN của KBNN phải ghi đầy đủ các thông tin về mã số thuế, mục lục ngân sách, kỳ thuế, chi tiết theo từng khoản nộp, số và ngày Quyết định xử lý về thuế, xử phạt vi phạm hành chính qua thanh tra (kiểm tra) việc chấp hành pháp luật thuế và ngày nộp thuế;Yêu cầu KBNN ghi đầy đủ thông tin trên Bảng kê chứng từ nộp NSNN gửi cơ quan thuế như tên NNT, mã số thuế, số và ngày chứng từ, mục lục ngân sách, kỳ thuế số và ngày Quyết định xử lý về thuế …; Đề nghị KBNN và NHTM thực hiện điều chỉnh kịp thời các khoản tiền thuế đã nộp NSNN bị sai lệch.

+ Trường hợp có sai sót do cơ quan thuế: Đối với sai sót do nhập sai dữ liệu, nếu phát hiện sai sót, bộ phận quản lý nợ hoặc bộ phận tham gia thực hiện quy trình thông báo cho bộ phận kê khai và kế toán thuế thực hiện điều chỉnh.

– Đối với các khoản tiền thuế chờ điều chỉnh do chứng từ luân chuyển chậm hoặc thất lạc: bộ phận quản lý nợ hoặc bộ phận tham gia thực hiện quy trình thông báo cho bộ phận kê khai và kế toán thuế, bộ phận kiểm tra thuế để xác định chứng từ nộp thuế của NNT tại KBNN, NHTM để điều chỉnh giảm số tiền thuế nợ của NNT trên ứng dụng quản lý thuế.

– Đối với các khoản nộp được thực hiện bằng hình thức ghi thu – ghi chi qua ngân sách: bộ phận quản lý nợ hoặc bộ phận tham gia thực hiện quy trình đề nghị bộ phận kê khai và kế toán thuế, kiểm tra thuế xác định thời hạn nộp ngân sách, theo đó điều chỉnh lại thời hạn nộp thuế trên ứng dụng quản lý thuế.

– Đối với các nguyên nhân từ quá trình nâng cấp ứng dụng quản lý thuế: Bộ phận quản lý nợ hoặc bộ phận tham gia thực hiện quy trình phối hợp với bộ phận kê khai và kế toán thuế phát hiện các khoản nợ chênh lệch do nguyên nhân này, chuyển bộ phận tin học để tiến hành sửa lỗi ứng dụng kịp thời.

Thứ hai, Đối với tiền thuế nợ khó thu

– Tiền thuế nợ của NNT được pháp luật coi là đã chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự chưa có hồ sơ đề nghị xoá nợ, chưa được xóa nợ; bộ phận quản lý nợ hoặc bộ phận tham gia thực hiện quy trình thực hiện:

+ Báo cáo lãnh đạo cơ quan thuế chỉ đạo các bộ phận kiểm tra thuế; quản lý nợ; đội thuế liên xã, phường, thị trấn tiến hành xác minh về các trường hợp này.

+ Căn cứ kết quả xác minh, trình lãnh đạo cơ quan thuế phê duyệt biện pháp đôn đốc hoặc xử lý tiền thuế nợ: Nếu NNT vẫn sinh sống trên địa bàn, có tài sản thì đề xuất các biện pháp thu tiền thuế nợ theo quy định; Nếu NNT đã chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự thì thực hiện Xử lý tiền thuế đang chờ điều chỉnh

– Tiền thuế nợ của NNT có liên quan đến trách nhiệm hình sự:

+ Công chức quản lý nợ hoặc công chức tham gia thực hiện quy trình báo cáo lãnh đạo cơ quan thuế về tình trạng của NNT.

+ Bộ phận quản lý nợ hoặc bộ phận tham gia thực hiện quy trình gửi các cơ quan chức năng liên quan để thông báo về tình trạng tiền thuế nợ để được xử lý khi có kết luận của cơ quan pháp luật hoặc theo bản án của Toà án.

+ Khi có kết luận của cơ quan điều tra, quyết định của Toà án, nếu NNT chưa nộp vào NSNN thì công chức quản lý nợ hoặc công chức tham gia thực hiện quy trình thực hiện các biện pháp đôn đốc thu tiền thuế nợ.

– Tiền thuế nợ của NNT không còn hoạt động sản xuất kinh doanh tại địa điểm đăng ký kinh doanh; cơ quan thuế đã kiểm tra, xác định NNT không còn hoạt động kinh doanh và đã thông báo cơ sở kinh doanh không còn hoạt động tại địa chỉ đăng ký kinh doanh với cơ quan thuế, bộ phận quản lý nợ hoặc bộ phận tham gia thực hiện quy trình thực hiện:

+ Báo cáo lãnh đạo cơ quan thuế chỉ đạo bộ phận kiểm tra thuế để xác minh về NNT.

+ Căn cứ kết quả xác minh, trình lãnh đạo cơ quan thuế phê duyệt biện pháp đôn đốc hoặc xử lý tiền thuế nợ: Nếu NNT vẫn còn hoạt động sản xuất kinh doanh tại địa bàn thì giao bộ phận quản lý nợ hoặc bộ phận tham gia thực hiện quy trình tiến hành đôn đốc thu tiền thuế nợ; Nếu NNT không còn hoạt động sản xuất kinh doanh tại địa bàn thì chuyển bộ phận quản lý nợ; bộ phận tham gia thực hiện quy trình để tiếp tục theo dõi.

– Tiền thuế nợ của NNT chờ giải thể doanh nghiệp

+ Công chức quản lý nợ hoặc công chức tham gia thực hiện quy trình báo cáo lãnh đạo cơ quan thuế về tình hình nợ thuế của NNT.

+ Bộ phận quản lý nợ hoặc bộ phận tham gia thực hiện quy trình gửi chủ doanh nghiệp tư nhân, hội đồng thành viên hoặc chủ sở hữu công ty, hội đồng quản trị trực tiếp tổ chức thanh lý tài sản (nếu có), cơ quan đăng ký kinh doanh, người có quyền, nghĩa vụ và lợi ích liên quan thông báo về tình trạng tiền thuế nợ để có căn cứ xây dựng phương án giải quyết tiền thuế nợ.

+ Nếu NNT chưa nộp vào NSNN thì công chức quản lý nợ hoặc công chức tham gia thực hiện quy trình thực hiện các biện pháp đôn đốc thu tiền thuế nợ này.

– Tiền thuế nợ của NNT mất khả năng thanh toán:

+ Công chức quản lý nợ hoặc công chức tham gia thực hiện quy trình báo cáo lãnh đạo cơ quan thuế về tình trạng của NNT.

+ Bộ phận quản lý nợ hoặc bộ phận tham gia thực hiện quy trình gửi các cơ quan: toà án, đăng ký kinh doanh, các chủ nợ, người có quyền, nghĩa vụ và lợi ích liên quan thông báo về tình trạng tiền thuế nợ để được xử lý nợ theo quy định của Luật Doanh nghiệp, Luật Phá sản.

+ Khi có quyết định của Toà án thì bộ phận quản lý nợ hoặc bộ phận tham gia thực hiện quy trình thực hiện thủ tục thu hồi, xử lý tiền thuế nợ theo quyết định của Toà án.

– Tiền thuế nợ đã áp dụng hết các biện pháp cưỡng chế và đã trên 10 năm: công chức quản lý nợ lập hồ sơ đề nghị xoá nợ tiền thuế.

Bước sáu: Đôn đốc tiền thuế nợ đối với cơ sở sản xuất trực thuộc ở địa phương khác nơi cơ sở kinh doanh đóng trụ sở chính và đơn vị ủy nhiệm thu

Thứ nhất, Đối với khoản nợ của cơ sở sản xuất trực thuộc ở địa phương khác nơi cơ sở kinh doanh đóng trụ sở chính, sau khi phân loại tiền thuế nợ:

– Cơ quan thuế quản lý trực tiếp cơ sở sản xuất kinh doanh tại trụ sở chính thực hiện:

+ Bộ phận quản lý nợ đôn đốc và tính tiền chậm nộp đối với toàn bộ nghĩa vụ thuế của cơ sở sản xuất kinh doanh tại trụ sở chính, bao gồm nghĩa vụ thuế của cơ sở sản xuất kinh doanh tại trụ sở chính và nghĩa vụ thuế của cơ sở sản xuất trực thuộc tại địa bàn tỉnh/thành phố khác nơi đóng trụ sở chính.

+ Bộ phận kê khai và kế toán thuế hạch toán, trừ nợ kịp thời cho NNT khi NNT cung cấp chứng từ là bản chụp có đóng dấu xác nhận của NNT chứng minh đã nộp tiền thuế cho nghĩa vụ thuế của cơ sở sản xuất trực thuộc trong trường hợp cơ quan thuế quản lý trực tiếp cơ sở sản xuất kinh doanh chưa nhận được thông báo số thuế đã nộp của cơ quan thuế nơi có cơ sở sản xuất trực thuộc.

– Cơ quan thuế nơi cơ sở sản xuất trực thuộc thực hiện:

+ Bộ phận quản lý nợ phối hợp với bộ phận kê khai và kế toán thuế căn cứ số thuế phải nộp tại phụ lục của hồ sơ khai thuế do cơ sở sản xuất kinh doanh tại trụ sở chính gửi đến, theo dõi việc nộp tiền thuế vào NSNN đối với nghĩa vụ thuế của cơ sở sản xuất trực thuộc trên địa bàn; phối hợp với cơ quan thuế quản lý trực tiếp cơ sở sản xuất kinh doanh tại trụ sở chính để đôn đốc cơ sở sản xuất kinh doanh tại trụ sở chính trong việc kê khai thuế và nộp tiền thuế vào NSNN.

+ Bộ phận kê khai và kế toán thuế thực hiện luân chuyển kịp thời chứng từ nộp thuế của các cơ sở sản xuất trực thuộc về cơ quan thuế quản lý trực tiếp cơ sở sản xuất kinh doanh tại trụ sở chính theo quy định để hạch toán trừ nợ cho NNT.

Thứ hai, Đối với các đơn vị được ủy nhiệm thu

– Đội thuế liên xã, phường, đội thuế trước bạ (nếu là các khoản thu từ đất) căn cứ vào biên lai thuế do bên ủy nhiệm thu đã thu thuế và thanh toán với cơ quan thuế, căn cứ giấy nộp tiền vào ngân sách đã phát hành (có xác nhận của KBNN, NHTM), cơ quan thuế thực hiện kế toán thuế. Nếu phát hiện vẫn còn tiền thuế nợ, thì đề xuất biện pháp đôn đốc thu tiền thuế nợ này.

– Đội thuế liên xã, phường, thị trấn ngoài nhiệm vụ hướng dẫn, quản lý việc thực hiện các nghĩa vụ theo hợp đồng của ủy nhiệm thu thuế còn phải thực hiện kiểm tra, giám sát công tác đôn đốc thu tiền thuế nộp của ủy nhiệm thu và thực hiện đôn đốc, cưỡng chế nợ thuế đối với NNT nộp thuế qua ủy nhiệm thu.

Bước bảy: Lập nhật ký và sổ tổng hợp theo dõi tiền thuế nợ

Thứ nhất, Lập nhật ký

– Khi NNT phát sinh nợ thuế, công chức quản lý nợ hoặc công chức tham gia thực hiện quy trình lập và ghi nhật ký theo dõi tiền thuế nợ của NNT theo mẫu số 08/QLN ban hành kèm theo quy trình.

– Nhật ký theo dõi tiền thuế nợ được lập riêng cho từng NNT để theo dõi từng khoản tiền thuế nợ. Sau mỗi biện pháp đôn đốc, xử lý nợ thuế, công chức quản lý nợ hoặc công chức tham gia thực hiện quy trình thực hiện ghi nhật ký.

Thứ hai, Lập sổ tổng hợp

Hàng tháng, sau khi lập nhật ký, công chức quản lý nợ hoặc công chức tham gia thực hiện quy trình:

– Chuyển cho công chức được giao nhiệm vụ tổng hợp của bộ phận quản lý nợ hoặc bộ phận tham gia thực hiện quy trình tổng hợp theo mẫu số 09/QLN ban hành kèm theo quy trình.

– Công chức được giao nhiệm vụ tổng hợp của các bộ phận tham gia thực hiện quy trình chuyển phòng quản lý nợ hoặc đội quản lý nợ tổng hợp theo mẫu số 09/QLN trên địa bàn quản lý.

Đối với các đơn vị đã triển khai ứng dụng quản lý nợ thuế, công chức quản lý nợ phải nhập các dữ liệu kịp thời, theo dõi quá trình tự động lập và ghi nhật ký tại ứng dụng này.

Bước tám: Báo cáo kết quả thực hiện công tác quản lý nợ

Thứ nhất, Lập và gửi báo cáo

Định kỳ hàng tháng, cơ quan thuế cấp dưới lập và gửi báo cáo lên cơ quan thuế cấp trên 9 loại báo cáo như sau: Báo cáo tổng hợp phân loại nợ thuế theo sắc thuế và loại hình kinh tế (mẫu số 02/QLN); Báo cáo tổng hợp phân loại tiền thuế nợ theo ngành nghề kinh doanh (mẫu số 03/QLN); Báo cáo công tác quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế (mẫu số 04/QLN); Báo cáo kết quả thu tiền thuế nợ (mẫu số 05/QLN); Báo cáo tình hình ban hành Quyết định gia hạn nộp thuế, nộp dần tiền thuế, miễn tiền chậm nộp và xóa nợ (mẫu số 06/QLN); Báo cáo tiền thuế chờ điều chỉnh (mẫu số 10/QLN); Danh sách NNT có số tiền thuế nợ lớn (mẫu số 13/QLN);Báo cáo thống kê tình hình ban hành Thông báo 07/QLN và quyết định cưỡng chế nợ thuế (mẫu số 16/QLN); Báo cáo điều chỉnh số liệu theo kết luận của cơ quan kiểm toán, thanh tra và các cơ quan chức năng khác.

Thứ hai, Thời hạn gửi báo cáo hàng tháng

– Chi cục Thuế gửi báo cáo về Cục Thuế trước ngày 18 tháng sau; Cục Thuế gửi báo cáo về Tổng cục Thuế trước ngày 20 tháng sau. Trường hợp thời hạn gửi báo cáo trùng vào ngày nghỉ, ngày lễ thì ngày gửi báo cáo là ngày làm việc tiếp theo.

– Sau thời hạn gửi báo cáo như trên, nếu có sự thay đổi về phân loại tiền thuế nợ thì được cập nhật vào kỳ báo cáo tiếp theo.

Thứ ba, Hình thức gửi báo cáo

– Gửi qua thư điện tử (Email); Truyền qua hệ thống ứng dụng quản lý thuế.

– Riêng đối với báo cáo tháng 12 hàng năm: cơ quan thuế cấp dưới gửi lên cơ quan thuế cấp trên bằng ba hình thức: thư điện tử (Email), truyền qua hệ thống ứng dụng quản lý thuế và bằng văn bản (có ký tên, đóng dấu của thủ trưởng cơ quan thuế).

Bước chín: Lưu trữ tài liệu, dữ liệu về quản lý nợ

Thứ nhất, Báo cáo

– Báo cáo bằng văn bản: bộ phận quản lý nợ lưu trữ các báo cáo của cơ quan thuế đã gửi lên cơ quan thuế cấp trên.

– Báo cáo gửi bằng hình thức điện tử, nhật ký theo dõi tiền thuế nợ của NNT và sổ tổng hợp theo dõi tiền thuế nợ: lưu trên hệ thống ứng dụng quản lý thuế tại cơ quan thuế các cấp quản lý NNT.

Thứ hai, Hồ sơ

– Bộ phận ban hành văn bản (quản lý nợ/tham gia thực hiện quy trình) lưu trữ hồ sơ bao gồm: thông báo tiền thuế nợ và tiền chậm nộp, các quyết định, thông báo áp dụng các biện pháp đôn đốc thu tiền thuế nợ và xử lý nợ, quyết định xoá nợ, văn bản chấp thuận gia hạn nộp thuế, các giấy tờ, sổ sách, tài liệu khác liên quan đến tình hình nợ thuế của NNT.

– Hồ sơ được sắp xếp theo từng NNT.

– Việc lưu trữ hồ sơ thực hiện theo quy định về văn thư lưu trữ của nhà nước.

Thứ ba, Dữ liệu lịch sử về nợ thuế tại cơ quan thuế các cấp

Bộ phận tin học thực hiện lưu trữ, đảm bảo an toàn bảo mật đối với dữ liệu đã xử lý vào cơ sở dữ liệu trên hệ thống ứng dụng quản lý thuế bao gồm toàn bộ báo cáo, nhật ký, sổ tổng hợp, Thông báo 07/QLN.

5.1.2.2. Quy trình cưỡng chế thu hồi nợ thuế

Ngày 11/05/ 2009, Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế đã ban hành Quy trình cưỡng chế nợ thuế kèm theo Quyết định số 490/QĐ-TCT. Ngày 20/4/2015, Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế đã ban hành Quy trình cưỡng chế nợ thuế kèm theo Quyết định số: 751/QĐ-TCT để thay thế quy trình cưỡng chế nợ thuế ban hành kèm theo Quyết định số 490/QĐ-TCT ngày 11/5/2009, 490/QĐ-TCT, có hiệu lực từ ngày 20/4/2015, theo đó:

Thứ nhất, về biện pháp cưỡng chế nợ thuế

Quy trình cưỡng chế nợ thuế đưa ra các biện pháp cưỡng chế nợ thuế sau đây:

– Trích tiền từ tài khoản của đối tượng bị cưỡng chế tại kho bạc nhà nước, tổ chức tín dụng; yêu cầu phong tỏa tài khoản;

– Khấu trừ một phần tiền lương hoặc thu nhập;

– Thông báo hóa đơn không còn giá trị sử dụng;

– Kê biên tài sản, bán đấu giá tài sản kê biên;

– Thu tiền, tài sản của đối tượng bị cưỡng chế do tổ chức, cá nhân khắc nắm giữ

– Thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, giấy phép thành lập và hoạt động, giấy phép hành nghề

Thứ hai, Trình t từng biện pháp cưỡng chế thu hồi nợ

Quy trình cưỡng chế nợ thuế quy đinh mỗi biện pháp cưỡng chế nợ thuế đều phải thực hiện đầy đủ các bước sau đây:

Bước 1. Lập danh sách đối tượng phải xác minh thông tin

Bước 2. Thu thập và xác minh thông tin của đối tượng chuẩn bị cưỡng chế

Bước 3. Các trường hợp phải tổng hợp vào danh sách cưỡng chế bằng biện pháp tiếp theo

Bước 4. Ban hành quyết định cưỡng chế

Bước 5. Gửi quyết định cưỡng chế

Bước 6. Tổ chức thực hiện

Thứ ba, về nguyên tắc thực hiện khi áp dụng biện pháp cưỡng chế nợ thuế

Trường hợp đã ban hành quyết định cưỡng chế bằng biện pháp tiếp theo mà có thông tin, điều kiện để thực hiện biện pháp cưỡng chế trước thì chuyển các trường hợp này vào danh sách áp dụng biện pháp cưỡng chế trước.

Thứ tư, về trách nhiệm của cơ quan thuế

– Tổng cục Thuế: Hướng dẫn, chỉ đạo, kiểm tra cơ quan thuế các cấp, đảm bảo thực hiện đúng các quy định và hướng dẫn tại quy trình cưỡng chế;Phân tích, đánh giá tình hình thực hiện các biện pháp CCNT trên từng địa bàn và trên toàn quốc, từ đó, đề ra các biện pháp phối hợp xử phạt thu nợ thuế có hiệu quả; Tổ chức tổng kết, đánh giá công tác CCNT để bổ sung, sửa đổi quy trình phù hợp với thực tiễn; Thiết kế phần mềm ứng dụng nhằm triển khai thực hiện công tác CCNT trên toàn quốc khoa học, thuận lợi và hiệu quả.

– Cục Thuế: Chỉ đạo tổ chức, phân công công chức CCNT theo đúng chức năng, nhiệm vụ; Chỉ đạo các bộ phận chức năng liên quan trong cơ quan thuế phối hợp thực hiện công việc CCNT theo đúng quy định tại quy trình này; Hướng dẫn, chỉ đạo và kiểm tra các Chi cục Thuế thực hiện quy trình CCNT; Thực hiện báo cáo tình hình CCNT định kỳ theo quy định; Phân tích, đánh giá tình hình thực hiện các biện pháp CCNT trên địa bàn, theo đó: (i)Đề xuất các biện pháp phối hợp với các cơ quan thực hiện CCNT có hiệu quả; (ii) Hướng dẫn chi tiết, hoặc ban hành mẫu biểu thực hiện để xử phạt kịp thời những tình huống cụ thể trong quá trình CCNT; (iii)Kịp thời phản ánh những khó khăn, vướng mắc trong quá trình cưỡng chế; đề xuất những nội dung bổ sung, sửa đổi quy trình cưỡng chế về Tổng cục Thuế.

– Chi cục Thuế: Tổ chức, phân công công chức CCNT theo đúng chức năng, nhiệm vụ; Chỉ đạo các bộ phận chức năng liên quan trong cơ quan thuế phối hợp thực hiện các biện pháp CCNT theo đúng quy định tại quy trình này;Thực hiện báo cáo tình hình CCNT định kỳ theo quy định; Kịp thời phản ánh những khó khăn, vướng mắc trong quá trình cưỡng chế; đề xuất những nội dung bổ sung, sửa đổi quy trình cưỡng chế về Cục Thuế.

5.2. Tình hình quản lý nợ thuế và cưỡng chế nợ thuế năm 2014 và Nhiệm vụ, giải pháp thực hiện quản lý nợ thuế và cưỡng chế nợ thuế năm 2015

5.2.1. Tình hình quản lý nợ thuế và cưỡng chế nợ thuế năm 2014

Nợ thuế không phải là câu chuyện riêng có của năm 2014 mà là câu chuyện liên tục kéo dài và lũy kế trong nhiều năm và diễn ra trên diện rộng, gần như không có nơi nào có tổ chức thu thuế mà không có nợ thuế.

Tuy nhiên, xét tỷ lệ nợ thuế so với tổng thu từ thuế thì năm 2008 có tỷ lệ nợ thuế trên số thu nội địa trừ dầu cao nhất, ở mức 9,94%. Đây cũng là năm tăng vọt về tỷ lệ nợ thuế trên số thu so với hai năm trước đó (tỷ lệ nợ thuế trên tổng thu nội địa trừ dầu chỉ là 6,05% và 6,94%). Năm 2009 và 2010, tỷ lệ nợ thuế so với tổng thu nội địa trừ dầu giảm đáng kể so với năm 2008 nhưng vẫn ở mức cao, với các tỷ lệ tương ứng là 8,54% và 7,59%.

Năm 2006 với tỷ trọng nợ có khả năng thu thấp nhất là 55,7%, các năm còn lại, tỷ trọng nợ có khả năng thu khá cao, dao động khoảng từ 65% đến 72%. Nợ khó thu là loại nợ chiếm tỷ trọng thấp nhất trong 3 nhóm nợ với tỷ trọng dao động khoảng từ xấp xỉ 10% đến 13%, trừ năm 2006 với tỷ trọng cao hơn ở mức 24,4%. Nợ khó thu chủ yếu là của các đối tượng: doanh nghiệp (DN) lâm vào tình trạng phá sản, giải thể; người nộp thuế bỏ trốn, mất tích; DN đang chờ giải quyết theo Luật Phá sản; người nộp thuế ngừng và tạm ngừng hoạt động kinh doanh; người nộp thuế bị khởi tố. Với đặc điểm của đối tượng nợ thuế như trên, tỷ trọng khoảng trên 10% nói trên tuy là thấp so với hai loại nợ còn lại, song vẫn là một tỷ lệ đáng lo ngại, vì tuy mới xếp vào nhóm khó thu nhưng thực chất khả năng thu nợ thuế của những đối tượng này rất nhỏ, gần như là không thể thu được. Cần lưu ý rằng, trong số nợ thuế nói trên có một tỷ lệ không nhỏ nợ của DN bỏ trốn, mất tích. Đối với những trường hợp này, khả năng thu nợ hầu như không có.

Tính đến thời điểm 31/12/2014, toàn ngành đã thực hiện các biện pháp đôn đốc thu nợ thuế và cưỡng chế nợ thuế, thu được 50% tiền thuế nợ tại thời điểm 31/12/2013, trong đó bằng biện pháp quản lý nợ là 83%; bằng biện pháp cưỡng chế nợ thuế là 17%.Một số địa phương thu vượt chỉ tiêu các khoản tiền thuế nợ có khả năng thu tính đến thời điểm 31/12/2013 (trên 80%) như: Bạc Liêu, Cao Bằng, Quảng Ninh, Ninh Thuận, Kiên Giang, An Giang…. Tuy nhiên, theo báo cáo nhanh, dự kiến tổng số tiền thuế nợ của 63 Cục Thuế tính đến thời điểm 31/12/2014 tăng 14,9% so với thời điểm 31/12/2013, mức tăng cao hơn so với cùng kỳ (tổng số tiền thuế nợ đến đến 31/12/2013 tăng 11% so với 31/12/2012), cụ thể như sau:

– Nhóm nợ có khả năng thu (hay còn gọi là tiền thuế nợ đến 90 ngày và trên 90 ngày) tăng so với thời điểm 31/12/2013 là 7,8%,trong đó:

+ Các khoản thuế, phí tăng so với thời điểm 31/12/2013 là 2,8%.

+ Các khoản nợ về đất đai tăng so với thời điểm 31/12/2013 là 33,8%.

-Các khoản phạt và tiền chậm nộp tăng so với thời điểm 31/12/2013 là 77,5%.

– Nhóm nợ khó thu (chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự; liên quan đến trách nhiệm hình sự; đã giải thể, lâm vào tình trạng phá sản…) tăng so với thời điểm 31/12/2013 là 10,3%.

– Nhóm nợ chờ xử lý (trường hợp đang thẩm định để: xử lý miễn, giảm; xử lý gia hạn nộp thuế; xử lý xoá nợ; xử lý xoá nợ; xử lý bù trừ hoàn)giảm so với thời điểm 31/12/2013 là 21,2%.

Các khoản phạt và tiền chậm nộp có mức tăng cao nhất cả về số tương đối và số tuyệt đối. Nguyên nhân tăng chủ yếu là do mức tiền chậm nộp theo Luật Quản lý thuế tăng cao, lên 0,07/% mỗi ngày đối với khoản tiền thuế nợ quá 90 ngày. Số tiền phạt chậm nộp phát sinh trước 01/7/2013 chưa có cơ chế tháo gỡ.

Một số địa phương có số tiền thuế nợ tăng cao so với thời điểm năm 31/12/2013 như: Lai Châu (tăng 80%), Hậu Giang (57%), Tuyên Quang (52%),Hà Nội (29,6%), TP Hồ Chí Minh (23,9%) … Theo báo cáo của các Cục Thuế thì nhiều địa phương không đạt được chỉ tiêu thu nợ đã được Tổng cục Thuế giao từ đầu năm là tổng số tiền thuế nợ tại thời điểm 31/12/2014 không vượt quá 5% so với tổng số thu ngân sách nhà nước năm 2014. Các địa phương có tỷ lệ tổng nợ/tổng thu NSNN đạt dưới 5% là: Khánh Hoà (4,97%), Quảng Ngãi (1,57%), Vĩnh Phúc (3,49%), Bắc Ninh (3,65%), Ninh Thuận (4,7%), Lào Cai (4,9%), Thái Nguyên (4,97%).

5.2.2. Các biện pháp đã thực hiện để thu hồi nợ thuế trong năm 2014

Có thể nói, năm 2014, tình hình kinh tếtrong nước tiếp tục khó khăn, cộng đồng doanh nghiệp đang đứng trước nhiều thách thức mới. Ngay từ đầu năm, Chính phủ đã có Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 02/01/2014 về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu chỉ đạo điều hành thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2014; Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 11/CT-TTg ngày 21/5/2014 về giải quyết khó khăn, vướng mắc, kiến nghị, thúc đẩy phát triển sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội của đất nước đến năm 2015. Đến 25/8/2014 Chính phủ tiếp tục ban hành Nghị quyết số 63/NQ-CP về một số giải pháp về thuế tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, đẩy mạnh sự phát triển của doanh nghiệp. Trong đó đã đặt ra một số mục tiêu về công tác quản lý nợ thuế như: đẩy mạnh việc xử lý và thu hồi nợ thuế, giảm tỷ lệ nợ đọng thuế, giảm mức phạt chậm nộp thuế để tháo gỡ khó khăn cho người nộp thuế. Ngành thuế từ cấp Tổng cục Thuếđến cấp Cục Thuế cấp tỉnh và cấp Chi cục Thuế cấp huyệnđãxác định nhiệm vụ quản lý nợ thuế là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong công tác quản lý thu thuế và đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp quản lý nợ và cưỡng chế thu hồi nợ thuế.

5.2.2.1. Tại cấp Tổng cục

Vụ chức năng đã tham mưu cho Lãnh đạo tổng cục thực hiện đồng bộ các giải pháp lớn sau đây:

Thứ nhất, giao chỉ tiêu thu nợ thuế cho các Cục Thuế theo văn bản số 1038/TCT-QLN ngày 28/3/2014 với chỉ tiêu cơ bản là:

– Tổng số tiền thuế nợ tại thời điểm 31/12/2014 không vượt quá 5% so với tổng số thu ngân sách nhà nước năm 2014. Tổng số tiền thuế nợ để tính chỉ tiêu này không bao gồm các khoản: Nợ phát sinh từ các khoản thu không giao trong dự toán; tiền thuế đã nộp vào NSNN đang chờ điều chỉnh; tiền thuế nợ của các doanh nghiệp đóng tàu, vận tải biển, các đơn vị thuộc tập đoàn Vinashin, Vinaline và tiền thuế nợ của người nộp thuế hoạt động kinh doanh bất động sản mà trong năm 2014 cơ quan thuế đã thực hiện các biện pháp đôn đốc và áp dụng các biện pháp cưỡng chế theo quy định nhưng vẫn chưa thu hồi được nợ.

– Giảm 100% các khoản tiền thuế đã nộp vào NSNN đang chờ điều chỉnh tạithời điểm 31/12/2013.

– Giảm 100% các khoản tiền thuế nợ chờ xử lý tại thời điểm 31/12/2013.

– Thu tối thiểu 80% các khoản tiền thuế nợ đến 90 ngày và tiền thuế nợ trên 90 ngày thời điểm 31/12/2013 (khôngbao gồm tiền thuế nợ của các doanh nghiệp đóng tàu, vận tải biển, các đơn vị thuộc tập đoàn Vinashin, Vinaline; tiền thuế nợ của người nộp thuế hoạt động kinh doanh bất động sản mà trong năm 2014 cơ quan thuế đã thực hiện các biện pháp đôn đốc và áp dụng biện pháp cưỡng chế theo quy định nhưng vẫn chưa thu hồi được nợ).

Thứ hai, Ban hành các công văn chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra đôn đốc thu tiền thuế nợ đối với toàn ngành nhằm thực hiện được các chỉ tiêu thu tiền thuế nợ nêu trên như:

– Công văn số 1528/TCT-QLN ngày 5/5/2014 chỉ đạo tăng cường các biện pháp đôn đốc thu nợ và cưỡng chế nợ thuế đã hướng dẫn cụ thể:

+ Đối với các khoản tiền thuế nợ đến 90 ngày, thực hiện đôn đốc thu nộp bằng các biện pháp gọi điện thoại, nhắn tin, gửi thư điện tử, ban hành 100% thông báo tiền thuế nợ và tiền chậm nộp theo mẫu số 07/QLN của Quy trình quản lý nợ thuế. Đồng thời thực hiện các bước thu thập và xác minh thông tin theo hướng dẫn tại Thông tư số 215/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 của Bộ Tài chính để chuẩn bị cho việc thực hiện các biện pháp cưỡng chế được kịp thời, hiệu quả.

+ Đối với các khoản tiền thuế nợ trên 90 ngày: Kiên quyết thực hiện các biện pháp cưỡng chế nợ thuế theo quy định, đặc biệt đối với tổ chức cá nhân cố tình chây ỳ, dây dưa nợ đọng thuế, chiếm dụng tiền thuế.

+ Tập trung nhân lực để thực hiện các biện pháp đôn đốc thu nợ và cưỡng chế nợ thuế đối với người nộp thuế có số nợ thuế lớn trên địa bàn. Bộ phận quản lý nợ làm việc trực tiếp với từng người nộp thuế và yêu cầu người nộp thuế cam kết nộp tiền thuế nợ vào ngân sách nhà nước;

– Quý IV năm 2014, trước tình hình tiền thuế nợ ngày càng gia tăng, Vụ QLN đã tham mưu Tổng cục ban hành công văn số 4308/TCT-QLN ngày 3/10/2014 vừa chỉ đạo tăng cường công tác quản lý nợ thuế, đồng thời thực hiện mục tiêu cải cách thủ tục hành chính, tạo thuận lợi cho NNT. Trong đó,Tổng cục Thuế yêu cầu các Cục Thuế triển khai các biện pháp sau:

+ Hàng tháng, xây dựng kế hoạch thu tiền thuế nợ chi tiết đối với từng người nộp thuế, từng khoản thu, sắc thuế, từng địa bàn, khu vực kinh tế, đồng thời, đề ra các biện pháp thực hiện kế hoạch có hiệu quả để đạt được chỉ tiêu Tổng cục Thuế đã giao tại công văn số 1038/TCT-QLN.

+ Kịp thời đôn đốc các khoản tiền thuế nợ

+ Kịp thời xử lý số tiền thuế nợ còn chênh lệch giữa NNT và trên số sách theo dõi của cơ quan thuế:

+ Tích cực triển khai các biện pháp cưỡng chế nợ thuế theo qui định

+ Tích cực, chủ động tuyên truyền, hướng dẫn NNT hiểu biết về chính sách pháp luật thuế, đặc biệt là chính sách về xử lý nợ thuế để NNT biết được trình tự, thủ tục xử lý nợ thuế. Trường hợp NNT gửi hồ sơ đề nghị xử lý nợ thuế, cơ quan thuế phải giải quyết đúng thời gian qui định. Theo đó, hạn chế tình trạng NNT gửi hồ sơ đề nghị xử lý nợ thuế vượt cấp về Tổng cục Thuế, Bộ Tài chính.

+ Để đảm bảo quyền lợi cho người nộp thuế, cơ quan thuế không thực hiện thanh toán/bù trừ tự động vào các khoản tiền thuế mà NNT đã gửi hồ sơ đến cơ quan thuế, cơ quan thuế đã thẩm định và xác định đúng đối tượng được xóa nợ, gia hạn, đang trong thời gian chờ ban hành Quyết định xóa nợ, gia hạn.

Thứ ba, tích cực triển khai Nghị quyết của Chính phủ, Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ việc đẩy mạnh xử lý và thu hồi nợ thuế, rà soát, tổng hợp tình hình thực tế phục vụ việc đề xuất các giải pháp giảm mức phạt chậm nộp thuế.

Thứ tư, triển khai xây dựng Đề án quy trình sửa đổi, bổ sung quy trình 1395 về quản lý nợ thuế, đề án quy trình thay thế quy trình 490 về cưỡng chế nợ thuế. Đến ngày 22/22/2014 đã ban hành quyết định số 2379/QĐ-TCT ban hành quy trình quản lý nợ thuế.

Thứ năm, giải quyết xoá nợ thuế theo Thông tư số 179/2013/TT-BTC hướng dẫn xoá nợ tiền thuế, tiền phạt không có khả năng thu hồi phát sinh trước 01/7/2007 kịp thời, đúng quy định.

5.2.2.2. Tại các cục thuế cấp tỉnh

Hầu hết các Cục Thuế cấp tỉnh đã đẩy mạnh công tác quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế, thực hiện các giải pháp chủ yếu sau đây: xây dựng kế hoạch QLN; giao chỉ tiêu thu nợ đến từng Phòng, Chi cục, cán bộ thuế và gắn kết quả thu nợ làm căn cứ bình xét thi đua. Đến hết tháng 4/2014, 63 Cục Thuế các tỉnh, thành phố đã hoàn thành việc giao chỉ tiêu thu nợ thuế đối với các đơn vị trực thuộc. Về cơ bản, các Cục Thuế đều giao chỉ tiêu tổng tiền thuế nợ/tổng thu NSNN đến 31/12/2014 không vượt quá 5%. Tăng cường đôn đốc thu, đảm bảo thu đủ số thuế đã kê khai, không để nợ mới phát sinh, các khoản thuế được gia hạn đến hạn nộp, nhất là tiền sử dụng đất. Chỉ đạo các đơn vị tăng cường áp dụng các biện pháp đôn đốc thu nợ và CCN thuế theo đúng Luật quản lý thuế, Quy trình và quy chế phối hợp trong cơ quan Thuế cũng như ngoài ngành. Phân loại nợ thuế, phân tích, đánh giá rõ thực chất tình hình nợ thuế, xử lý các khoản nợ ảo, nợ chờ điều chỉnh như: tính chất, mức độ, nguyên nhân nợ thuế của từng NNT để có biện pháp đôn đốc thu nộp và xử lý các khoản nợ đọng thuế, đối chiếu, điều chỉnh ngay các khoản nợ sai sót, chủ yếu là nhầm mục, tiểu mục. Ban hành thông báo nợ và tiền nộp chậm đối 100% đối tượng nợ thuế; thực hiện các bước CCN thuế đối với NNT có số nợ lớn, nợ kéo dài và thông báo sẽ CCN, ra lệnh thu, trích tiền từ tài khoản…Phối hợp tốt với các cơ quan chức năng tăng cường CCN thuế theo đúng thủ tục, trình tự quy định đối với những trường hợp chây ỳ, cố tình chiếm dụng tiền thuế; đưa tin lên phương tiện thông tin đại chúng những NNT cố tình dây dưa nợ, nợ thuế, thời gian nợ thuế kéo dài.

5.2.2.3. Tại cấp Chi cục Thuế cấp huyện

Các Chi cục tham mưu Chính quyền địa phương chỉ đạo các ngành chức năng phối hợp với cơ quan Thuế triển khai từng giải pháp, kết hợp với quy trình QLN để đôn đốc thu hồi nợ đọng thuế và thực hiện các biện pháp CCN thuế phù hợp. Giải quyết tốt việc gia hạn nợ do đơn vị gặp khó khăn trong đầu tư xây dựng cơ bản mà NSNN còn nợ vốn chưa thanh toán, việc xóa nợ đối với doanh nghiệp Nhà nước thực hiện chuyển đổi trước ngày 01/7/2007, hộ gia đình, cá nhân gặp khó khăn không có khả năng trả nợ thuế không còn hoạt động SXKD, nợ thuế theo quy định của Bộ Tài chính. Xác định rõ trách nhiệm từng cán bộ thuế về nợ đọng của NNT nếu không thực hiện đầy đủ theo quy trình, quy chế phối hợp..

5.2.3. Nguyên nhân tăng nợ

5.2.3.1. Về kinh tế

Kinh tế trong nước tuy vẫn chịu tác động ảnh hưởng lớn của kinh tế thế giớ, song đã có dấu hiệu phục hồi nhưng tốc độ chậm, tăng trưởng tín dụng thấp, sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp còn nhiều khó khăn. Tuy số doanh nghiệp mới thành lập đi vào hoạt động có tăng nhưng số doanh nghiệp giải thể, phá sản, ngừng hoạt động cũng tăng cao. Trong năm 2014, cả nước có 74.842 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng vốn đăng ký là 432,2 nghìn tỷ đồng, giảm 2,7% về số doanh nghiệp và tăng 8,4% về số vốn đăng ký so với năm trước. Số vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới trong năm đạt 5,8 tỷ đồng, tăng 11,5% so với năm 2013. Số lao động dự kiến được tạo việc làm của các doanh nghiệp thành lập mới trong năm qua là 1091 nghìn người, tăng 2,8% so với năm trước. Như vậy, mặc dù vẫn chưa thực sự thoát khỏi bối cảnh khó khăn nhưng xét trên khía cạnh quy mô vốn, doanh nghiệp thành lập mới trong năm 2014 đã tăng hơn so với năm 2013. Trong 12 tháng, cả nước có 15.419 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 7,1% so với cùng kỳ năm 2013.

Trong năm nay, cả nước có 67823 doanh nghiệp gặp khó khăn buộc phải giải thể, hoặc đăng ký tạm ngừng hoạt động có thời hạn, hoặc ngừng hoạt động chờ đóng mã số doanh nghiệp hoặc không đăng ký, bao gồm 9501 doanh nghiệp đã hoàn thành thủ tục giải thể, giảm 3,2% so với năm trước, số lượng doanh nghiệp giải thể phần lớn là những doanh nghiệp có quy mô vốn dưới 10 tỷ đồng; 58322 doanh nghiệp khó khăn phải ngừng hoạt động, tăng 14,5% so với năm trước. Trong đó, 11723 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động có thời hạn; 46599 doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ đóng mã số doanh nghiệp hoặc không đăng ký[5]. Hầu hết các đơn vị này còn nợ tiền thuế và các khoản phải nộp ngân sách nhà nước.

Nhiều doanh nghiệp chiếm dụng vốn lẫn nhau, đặc biệt là doanh nghiệp kinh doanh nông sản, xây dựng… dẫn đến nợ tiền thuế. Bên cạnh đó, thị trường bất động sản, chứng khoán, xây dựng trầm lắng, tỷ lệ giao dịch thấp nên các doanh nghiệp hoạt động ở lĩnh vực này không có nguồn thanh toán tiền thuế nợ…

5.2.3.2. Về tính tuân thủ của người nộp thuế (NNT)

Một bộ phận NNT chưa nghiêm túc chấp hành chính sách, pháp luật thuế, để nợ thuế kéo dài.

5.2.3.3. Về cơ chế, chính sách

Cơ chế, chính sách vẫn còn những bất cập như: Luật Quản lý thuế sửa đổi, bổ sung cho phép người nộp thuế nộp dần tiền thuế nhưng phải được tổ chức tín dụng bảo lãnh nên hiếm trường hợp được nộp dần; Luật Doanh nghiệp không quy định trường hợp đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp bỏ địa điểm kinh doanh do nợ thuế thì không được phép thành lập doanh nghiệp khác nên một số người nộp thuế có số tiền thuế nợ đã lợi dụng bỏ địa điểm kinh doanh và thành lập doanh nghiệp khác hoặc góp vốn thành lập doanh nghiệp khác nhằm trốn tránh nghĩa vụ với ngân sách nhà nước; Cưỡng chế bằng biện pháp trích tài khoản ngân hàng gặp khó khăn do các tổ chức tín dụng chưa cung cấp thông tin kịp thời, chủ yếu chỉ cung cấp những số tài khoản không có số dư hoặc số dư nhỏ không đủ để thực hiện cưỡng chế. Việc thu thập thông tin tài khoản mất nhiều thời gian, nhân lực do người nợ thuế mở tài khoản tại nhiều ngân hàng đóng ở địa bàn khác nhau; Nhiều doanh nghiệp nợ thuế đã ngừng hoạt động, không còn tài sản hoặc tài sản đã thế chấp tại các tổ chức tín dụng nên cơ quan thuế không thể cưỡng chế nợ thuế.

Theo quy định tại Luật Quản lý thuế thì các trường hợp phá sản được xoá nợ thuế. Tuy nhiên, Luật Phá sản số 21/2004/QH11 thủ tục phức tạp, quá trình thực hiện thủ tục phá sản kéo dài nên một số doanh nghiệp trên thực tế đã rơi vào tình trạng phá sản có số tiền thuế nợ lớn nhưng không thực hiện thủ tục phá sản theo Luật. Do đó, không có quyết định phá sản thì không thể xoá nợ được. Luật Phá sản số 51/2014/QH13 đến 01/01/2015 mới có hiệu lực thi hành.

Cơ chế chính sách chưa đồng bộ cũng gây khó khăn cho công tác thu hồi nợ thuế như việc kê biên, bán đấu giá tài sản kê biên để thu hồi nợ thuế còn chậm trễ; tòa án chậm xét xử các vụ án liên quan đến nghĩa vụ thuế của NNT…

5.2.3.4. Về công tác quản lý, đôn đốc tiền thuế nợ của cơ quan thuế

Việc đôn đốc, bám sát người nộp thuế còn nợ thuế còn có những bất cập, tỷ lệ ban hành thông báo tiền thuế nợ và tiền chậm nộp còn thấp; sự phối hợp giữa cơ quan thuế với một số cơ quan liên quan trong công tác quản lý nợ thuế như Tài chính, Kho bạc, Ngân hàng, Công an, Toà án, Thi hành án, Kế hoạch và Đầu tư…. hiệu quả chưa cao.

Nguồn nhân lực làm công tác quản lý nợ thuế còn thiếu: Tổng số cán bộ làm công tác quản lý nợ chiếm khoảng 4,9% trên tổng số cán bộ toàn ngành thuế. Tại các thành phố lớn, bình quân một cán bộ làm công tác quản lý nợ phải quản lý khoảng 200 – 300 người nợ thuế (TP Hà Nội và TP Hồ Chí Minh). Áp lực công việc rất lớn, trong khi nguồn nhân lực lại hạn chế. Mục tiêu đề ra trong thời gian tới là tổng số cán bộ làm công tác quản lý nợ chiếm 6,5% trên số cán bộ toàn ngành thuế. Tuy nhiên, với số lượng khoảng 60% NNT có phát sinh nợ thuế thì mục tiêu 6,5% cũng không thể đảm đương được hết nhiệm vụ.

Cán bộ làm công tác quản lý nợ phải đôn đốc NNT hàng ngày, với số thu hàng ngàn tỷ đồng nhưng nguồn nhân lực lại hạn chế. Có nơi bộ phận quản lý nợ thuế chỉ có một công chức, lại kiêm nhiệm nhiều việc. Mặt khác, việc thường xuyên luân chuyển công chức dẫn đến cán bộ không chuyên sâu về nghiệp vụ và không thành thạo sử dụng ứng dụng công nghệ thông tin; ứng dụng quản lý nợ nâng cấp chưa được triển khai đến hầu hết các Chi cục Thuế cũng làm giảm hiệu quả của các biện pháp quản lý nợ thuế.

Về ứng dụng: các chương trình ứng dụng quản lý thuế (QLT), quản lý nợ (QTN): tốc độ xử lý đôi lúc bị chậm, bị lỗi nên người sử dụng mất thời gian chờ đợi để truy xuất dữ liệu phục vụ cho công tác chuyên môn; một số mẫu biểu báo cáo chưa được nâng cấp kịp thời nên công chức còn phải làm thủ công; số liệu tiền thuế nợ chưa tập trung ở một ứng dụng nên công việc tổng hợp mất nhiều thời gian.

5.2.4. Nhiệm vụ và các giải pháp thực hiện quản lý nợ thuế và cưỡng chế nợ thuế năm 2015

5.2.4.1. Nhiệm vụ năm 2015

Năm 2015, là năm cuối thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2011 – 2015, là năm tiến hành đại hội Đảng các cấp, tiến tới Đại hội Đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ XII. Quốc hội đã thông qua mục tiêu tổng quát của kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm 2015 là: Tăng cường ổn định kinh tế vĩ mô, tập trung tháo gỡ khó khăn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh. Thực hiện mạnh mẽ các đột phá chiến lược, tái cơ cấu nền kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng, nâng cao hiệu quả và năng lực cạnh tranh, phấn đấu tăng trưởng cao hơn năm 2014. Tiếp tục phát triển các lĩnh vực xã hội, văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ, bảo vệ môi trường, cải thiện đời sống nhân dân. Đẩy mạnh cải cách hành chính, cải cách tư pháp, phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia, bảo đảm an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội. Nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại, hội nhập và hợp tác quốc tế.

Quốc hội cũng đã thông qua nghị quyết số 78/2014/QH13 ngày 10/11/2014, giao dự toán Tổng số thu cân đối ngân sách nhà nước là 911.100 tỷ đồng, trong đó thu nội địa 638.600 tỷ đồng. Đây là một nhiệm vụ hết sức năng nề của cả hệ thống chính trị nói chung và của ngành Thuế nói riêng. Để thực hiện thắng lợi dự toán đó, Chính phủ chủ trương, tổ chức thực hiện tốt các Luật thuế và nhiệm vụ thu ngân sách nhà nước theo Nghị quyết của Quốc hội. Tăng cường công tác quản lý thu, khai thác nguồn thu, triển khai quyết liệt các biện pháp chống thất thu ngân sách, chuyển giá, trốn thuế; kiểm soát chặt chẽ việc hoàn thuế, đảm bảo hoàn thuế đúng đối tượng, chính sách pháp luật thuế của Nhà nước, tạo điều kiện thuận lợi cho người nộp thuế; xây dựng kế hoạch tăng cường kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, thu hồi nợ thuế, giảm nợ đọng thuế. Định kỳ công khai số thuế nợ đọng của từng địa phương, doanh nghiệp. Bám sát chủ trương đó, trong lĩnh vực quản lý và cưỡng chế nợ thuế, Tổng cục Thuế đặt ra mục tiêu cho cơ quan thuế các cấp là tập trung triển khai đầy đủ các biện pháp quản lý nợ, phấn đấu:

 – Tổng số tiền thuế nợ tại thời điểm 31/12/2015 không vượt quá 5% so với số thực hiện thu NSNN.

– Triển khai các biện pháp quản lý nợ thuế

+ Tổng hợp đầy đủ các khoản tiền thuế nợ, phân loại chính xác nợ thuế, phân tích, đánh giá kết quả thực hiện công tác quản lý nợ trong ngành.

+ Tổ chức thực hiện cưỡng chế nợ thuế theo đúng quy định tại Thông tư số 215/2013/TT-BTC về trình tự, thủ tục và linh hoạt các biện pháp cưỡng chế nợ thuế.

+ Tập trung bám sát các doanh nghiệp nợ thuế lớn, phân tích kịp thời tình hình nợ tiền thuế để xây dựng biện pháp xử lý nợ đọng và đôn đốc nộp kịp thời. Kiểm tra, đôn đốc thu các địa bàn có số nợ tăng lớn.

+ Thực hiện chế độ báo cáo kịp thời nhằm giúp UBND và cơ quan thuế cấp trên nắm được tình hình nợ tăng đột biến để có hướng dẫn, chỉ đạo sát với tình hình thực tế.

-Triển khai thực hiện các quy định của Luật sửa đổi bổ sung một số điều các Luật về thuế và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật.

-Tổ chức khảo sát chuyên đề quản lý nợ thuế tại một số cơ quan thuế. Các Cục Thuế chủ động xây dựng kế hoạch kiểm tra đối với các Chi cục Thuế, mỗi tháng cần kiểm tra được một Chi cục Thuế/phòng được giao nhiệm vụ quản lý nợ thuế. Nội dung kiểm tra chủ yếu là việc phân loại nợ thuế, việc tổng hợp đầy đủ các khoản tiền thuế nợ, việc ban hành thống báo 07 và quyết định cưỡng chế thuế,việc xử lý các hồ sơ gia hạn nộp thuế.

– Thực hiện hiện đại hoá CNTT trong cải cách thủ tục hành chính theo chỉ đạo của TTCP và BTC; triển khai nâng cấp, kết nối ứng dụng quản lý thuế tập trung (TMS).

– Tổ chức tập huấn quy trình quản lý nợ và qui trình cưỡng chế nợ thuế cho bộ phận quản lý nợ của 63 địa phương trên toàn quốc. Xây dựng tài liệu hướng dẫn sử dụng ứng dụng quản lý thuế phù hợp với nội dung của các qui trình.

-Cục Thuế chủ động dự thảo văn bản và trình UBND tỉnh, thành phốban hành nhằm chỉ đạo các cơ quan chức năng trên địa bàn phối hợp với cơ quan thuế trong việc đôn đốc thu nợ, đặc biệt là trong công tác cưỡng chế nợ thuế.

– Chỉ đạo địa phương rà soát lại tình hình nợ thuế theo hướng phản ánh đúng tiền thuế nợ, triệt để xử lý và loại trừ tình trạng nợ ảo.

5.2.4.2. Một số giải pháp

Ngoài các biện pháp tăng cường quản lý nợ thuế và cưỡng chế nợ thuế như năm 2014 và các năm trước đã áp dụng có hiệu quả cần tiếp tục phát huy, trong năm 2015 cần thực hiện bổ sung các giải pháp sau đây:

a) Tiếp tục nghiên cứu bổ sung, sửa đổi, hoàn thiện hệ thống pháp luật có liên quan đến hoạt động quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế

Cần quy định rõ trách nhiệm phối hợp giữa các cơ quan quản lý thuế và cơ quan cấp phép thành lập doanh nghiệp trong việc theo dõi, giám sát đối với các doanh nghiệp bị thu hồi giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, doanh nghiệp bỏ địa điểm kinh doanh đã đăng ký, có chế tài quy định không được phép thành lập hoặc tham gia thành lập doanh nghiệp mới đối với các thành viên, cổ đông sáng lập, người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp bỏ địa điểm kinh doanh đã đăng ký còn nợ tiền thuế và các khoản phải nộp ngân sách nhà nước;

b) Tiếp tục kiện toàn tổ chức bộ máy tổ chức và nhân sự quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế

Số lượng người nộp thuế ngày càng tăng nhưng công chức bộ phận quản lý nợ còn thiếu. Tổng số cán bộ làm công tác quản lý nợ chiếm 4,9% trên số cán bộ thuế toàn ngành. Cán bộ làm công tác quản lý nợ phải đôn đốc người nộp thuế hàng ngày, với số thu hàng ngàn tỷ đồng nhưng nguồn nhân lực lại hạn chế. Vì vậy, cần thiết phải tăng cường lực lượng cho bộ phận quản lý nợ, thậm chí có thể điều chuyển công chức từ bộ phận kiểm tra thuế về bộ phận quản lý nợ. Mục tiêu đề ra là tổng số cán bộ làm công tác quản lý nợ chiếm tối thiểu 6,5% trên số cán bộ thuế toàn ngành.

c) Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế

Do công tác luân phiên, luân chuyển cán bộ ở các địa phương diễn ra mạnh mẽ nên nhiều trường hợp cán bộ được luân phiên, luân chuyển từ các bộ phận khác về bộ phận quản lý nợ chưa được tập huấn kịp thời về nghiệp vụ và chưa ổn định về mặt tâm lý nên ảnh hưởng đến hiệu quả công việc. Đề nghị thường xuyên tổ chức bồi dưỡng, tập huấn kỹ năng về chuyên môn nghiệp vụ của các đối tượng này nhằm đảm bảo thực hiện tốt nhiệm vụ được giao.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

  1. Báo cáo công tác năm 2014 của Vụ Quản lý cưỡng chế Nợ tổng cục thuế;
  2. Khó khăn trong thu hồi nợ thuế, Thứ Hai, 07/07/2014,tác giả Thanh Nhân,báo Hải Phòng;
  3. Gian nan thu hồi nợ thuế, của tác giã Minh Đức, Thời báo tài chính (online) ngày 13/4/2015
  4. Tìm lời giải cho bài toán nợ thuế ở Việt Nam, của PGS,TS Lê Xuân Trường và Th.S Lê Minh Thắng, Tạp chí tài chính, thứ sáu, ngày 30/03/2012;
  5. Quy trình quản lý nợ thuế kèm theo Quyết định số: 2379/QĐ-TCT ngày 22/12/2014
  6. Quy chế cưỡng chế nợ thuế, ban hành kèm theo Quyết định số: 490/QĐ-TCT ngày 11 tháng 5 năm 2009 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế.
  7. Quy chế cưỡng chế nợ thuế, ban hành kèm theo Quyết định số: 751/QĐ-TCT ngày 20 tháng 4 năm 2015 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế.
  8. Luật quản lý thuế số 78/2006/QH11
  9. Chuẩn mực kế toán số 01
  10. Bách khoa toàn tư mở Wikipedia
  11. Tình hình chung về đăng ký kinh doanh hàng tháng, Cổng thông tin Đăng kí doanh nghiệp quốc gia.


[1] Điều 7 Luật quản lý thuế số 78/2006/QH11

[2] Điều 8 Luật quản lý thuế số 78/2006/QH11

[3] Điều 9 Luật quản lý thuế số 78/2006/QH11

[4] Quy trình quản lý nợ thuế ban hành kèm theo Quyết định số 2379/QĐ-TCT ngày 22 tháng 12 năm 2014 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế.

[5]Nguồn: Cục Quản lý đăng ký kinh doanh, Bộ Kế hoạch và Đầu tư- Tình hình chung về đăng ký doanh nghiệp tháng 12 và năm 2014

Bản in

 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *