Chuyên đề 5 HỆ THỐNG CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI VÀ GIẢM NGHÈO Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Chuyên đề 5: HỆ THỐNG CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI VÀ GIẢM NGHÈO Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

 ThS. Nguyễn Thị Lê Thu, Viện Chiến lược và Chính sách Tài chính – Bộ Tài chính

5.1. Tổng quan về hệ thống chính sách ASXH và giảm nghèo

Nghị quyết số 15-NQ/TW ngày 01/6/2012 của Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Khóa XI về một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012 – 2020 đặt ra mục tiêu: “Đến năm 2020, cơ bản bảo đảm ASXH toàn dân, bảo đảm mức tối thiểu về thu nhập, giáo dục, y tế, nhà ở, nước sạch và thông tin, truyền thông, góp phần từng bước nâng cao thu nhập, bảo đảm cuộc sống an toàn, bình đẳng và hạnh phúc của nhân dân”. Để thực hiện được mục tiêu tổng quát này, Nghị quyết 15-NQ/TW cũng đã đề ra các nhiệm vụ trên 04 trụ cột chính của ASXH, đó là:

(1) Các nhiệm vụ liên quan đến tạo việc làm, thúc đẩy sự gia tăng thu nhập và giảm nghèo, bao gồm chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất, tạo việc làm, học nghề, đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài, thực hiện chính sách giảm nghèo, chính sách hỗ trợ hộ cận nghèo để giảm nghèo bền vững…

(2) Các nhiệm vụ liên quan đến việc mở rộng độ bao phủ của hệ thống BHXH (bao gồm cả BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện), cơ chế quản lý quỹ BHXH để đảm bảo cân đối và tăng trưởng quỹ…

(3) Các nhiệm vụ liên quan đến trợ giúp xã hội đối với những người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn theo hướng mở rộng đối tượng thụ hưởng, tăng mức trợ cấp thường xuyên, khuyến khích sự tham gia của khu vực tư nhân vào việc cung cấp các dịch vụ bảo trợ xã hội…

(4) Bảo đảm mức tối thiểu về một số dịch vụ xã hội cơ bản cho người dân, đặc biệt là người nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn và đồng bào dân tộc thiểu số, bao gồm giáo dục tối thiểu, y tế tối thiểu, nhà ở tối thiểu, nước sạch, trợ giúp pháp lý…

Cụ thể các chính sách ASXH và giảm nghèo theo 4 nhóm trên như sau:

5.1.1. Nhóm chính sách tạo việc làm, tăng thu nhập, giảm nghèo

Chương trình mục tiêu quốc gia về xóa đói giảm nghèo được thực hiện từ năm 1998 theo Quyết định số 133/1998/QĐ-TTg ngày 23/7/1998 phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói giảm nghèo giai đoạn 1998-2000. Đến nay, chương trình này đã được thực hiện qua bốn giai đoạn (1998-2000, 2001-2005, 2006-2010, 2011-2015[1]) và hiện nay được thực hiện theo Quyết định số 1722/QĐ-TTg ngày 02/9/2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016-2020. Bên cạnh đó, Chính phủ cũng đã có nhiều chương trình khác liên quan đến giảm nghèo như Chương trình phát triển KTXH các xã đặc biệt khó khăn miền núi và vùng sâu, vùng xa (Chương trình 135) được phê duyệt theo Quyết định số 135/1998/QĐ-TTg ngày 31/7/1998 của Thủ tướng Chính phủ; Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo theo Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP ngày 27/12/2008[2]…, trong đó, Chương trình 135 được thực hiện theo 3 giai đoạn với giai đoạn I từ 1998 – 2005, giai đoạn II từ 2006 – 2010 và giai đoạn III từ 2012-2015. Ngoài ra, Chính phủ cũng ban nhiều chính sách, chương trình lồng ghép khác với mục tiêu giảm nghèo như chính sách BHYT, chính sách khám chữa bệnh cho người nghèo, chính sách miễn, giảm học phí, chính sách đào tạo nghề, tạo việc làm, chính sách hỗ trợ nhà ở, đất ở, đất sản xuất, chính sách tín dụng ưu đãi, hỗ trợ giống cây trồng, vật nuôi… Hiện nay, về cơ bản, các chính sách giảm nghèo có thể được chia thành 02 nhóm chính: Nhóm chính sách chung và nhóm chính sách đặc thù:

(1) Nhóm chính sách chung, gồm bảy nhóm chính sách cơ bản: tín dụng; hỗ trợ sản xuất, đất sản xuất và trồng rừng; dạy nghề và tạo việc làm; nhà ở và nước sinh hoạt; giáo dục – đào tạo; y tế và chăm sóc sức khỏe; trợ giúp pháp lý.

(2) Nhóm chính sách đặc thù, chủ yếu trong hai chương trình lớn tác động đến giảm nghèo đối với vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, nơi có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, đó là Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững và Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo (Chương trình 30a).

Cụ thể một số chính sách giảm nghèo hiện đang thực hiện ở Việt Nam như sau:

5.1.1.1. Nhóm chính sách chung

a) Chính sách tín dụng

Chính sách tín dụng đối với người nghèo chủ yếu được thực hiện theo quy định tại Nghị định số 78/2002/NĐ-CP ngày 04/10/2002 của Chính phủ về tín dụng đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác. Theo đó, người nghèo được vay vốn từ Ngân hàng Chính sách xã hội để: (i) Mua sắm vật tư, thiết bị; giống cây trồng, vật nuôi; thanh toán các dịch vụ phục vụ SXKD; (ii) Góp vốn thực hiện các dự án hợp tác sản xuất, kinh doanh được cấp có thẩm quyền phê duyệt; (iii) Giải quyết một phần nhu cầu thiết yếu về nhà ở, điện thắp sáng, nước sạch và học tập.

Lãi suất cho vay ưu đãi  đối với các đối tượng chính sách do Thủ tướng Chính phủ quy định cho từng thời kỳ theo đề nghị của Hội đồng quản trị Ngân hàng Chính sách xã hội và được áp dụng thống nhất trong cả nước. Hiện nay, theo Quyết định số 750/QĐ-TTg ngày 01/6/2015 của Thủ tướng Chính phủ, từ ngày 05/6/2015, lãi suất cho vay đối với hộ nghèo, cho vay học sinh sinh viên, cho vay đối tượng chính sách đi lao động có thời hạn ở nước ngoài, cho vay vốn Quỹ quốc gia về việc làm giảm từ 7,2%/năm xuống còn 6,6%/năm; lãi suất cho vay đối với chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn, cho vay hộ gia đình SXKD tại vùng khó khăn giảm từ 9,6%/năm xuống còn 9%/năm. Cùng với đó, lãi suất cho vay đối với một số đối tượng khác được tham chiếu đến lãi suất cho vay đối với hộ nghèo cũng giảm xuống tương ứng như lãi suất cho vay đối với hộ cận nghèo giảm từ 8,64%/năm xuống 7,92%/năm; đối với hộ nghèo tại 64 huyện nghèo theo Nghị quyết 30a giảm từ 3,6%/năm xuống 3,3%/năm… Bên cạnh đó, nhằm góp phần thúc đẩy tiến trình giảm nghèo bền vững, hạn chế tình trạng tái nghèo, Thủ tướng Chính phủ cũng ban hành Quyết định số 28/2015/QĐ-TTg ngày 21/7/2015 về tín dụng đối với hộ mới thoát nghèo. Theo đó, lãi suất cho vay đối với hộ mới thoát nghèo bằng 125% lãi suất cho vay đối với hộ nghèo (tương đương 8,25%/năm).

Về mức cho vay thì mức cho vay tối đa đối với hộ nghèo, hộ cận nghèo hiện nay là 50 triệu đồng/hộ[3]. Về thời hạn cho vay thì thời hạn cho vay ngắn hạn tối đa là 12 tháng, trung hạn tối đa là 60 tháng. Về phương thức cho vay thì Ngân hàng Chính sách xã hội thực hiện cho vay theo phương thức ủy thác cho vay qua các tổ chức chính trị – xã hội.

Ngoài chính sách tín dụng theo Nghị định 78/2002/NĐ-CP nêu trên, hộ nghèo còn là đối tượng thụ hưởng một số chính sách tín dụng ưu đãi khác như chính sách cho vay vốn phát triển sản xuất đối với hộ dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn giai đoạn 2012-2015 theo Quyết định số 54/2012/QĐ-TTg… Theo đó, hộ đồng bào dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn[4] có phương án sản xuất nhưng thiếu hoặc không có vốn sản xuất thì được vay không quá 8 triệu đồng/hộ, không phải dùng tài sản để đảm bảo tiền vay, được vay tối đa không quá 5 năm với mức lãi suất 1,2%/năm

b) Chính sách hỗ trợ đất sản xuất

Hộ đồng bào dân tộc thiểu số là hộ nghèo sinh sống bằng nghề nông, lâm nghiệp chưa có hoặc chưa đủ đất sản xuất được giao tối thiểu một hộ là 0,5 ha đất nương, rẫy hoặc 0,25 ha đất ruộng lúa nước một vụ hoặc 0,15 ha đất ruộng lúa nước hai vụ theo quy định tại Quyết định số 134/2004/QĐ-TTg ngày 20/7/2004.

Hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo thuộc 13 tỉnh đồng bằng sông Cửu Long[5] không có đất sản xuất được hỗ trợ theo Quyết định số 29/2013/QĐ-TTg ngày 20/5/2013 như sau: Các hộ trước đây đã chuyển nhượng, thế chấp đất sản xuất nếu có nhu cầu và được người nhận chuyển nhượng, thế chấp đồng ý cho chuộc lại đất với giá thấp thì được giải quyết cho vay vốn mức tối đa 30 triệu đồng/hộ, lãi suất cho vay 1,2%/năm.

c) Chính sách về đào tạo nghề và giải quyết việc làm

Chính sách đào tạo nghề và giải quyết việc làm được thực hiện theo Luật Việc làm và các quyết định số 71/2009/QĐ-TTg ngày 29/4/2009 phê duyệt Đề án hỗ trợ các huyện nghèo đẩy mạnh xuất khẩu lao động góp phần giảm nghèo bền vững giai đoạn 2009-2020, Quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009 phê duyệt Đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020.

– Luật Việc làm: Quy định doanh nghiệp nhỏ và vừa, HTX, tổ hợp tác, hộ kinh doanh, người lao động được vay vốn tín dụng ưu đãi từ Quỹ quốc gia về việc làm và các nguồn tín dụng khác để tạo việc làm, duy trì và mở rộng việc làm.

– Quyết định số 71/2009/QĐ-TTg quy định chính sách hỗ trợ các huyện nghèo xuất khẩu lao động thông qua các hình thức:

+ Hỗ trợ trực tiếp cho người lao động: hỗ trợ người lao động nâng cao trình độ văn hóa để tham gia xuất khẩu lao động[6]; hỗ trợ người lao động học nghề, ngoại ngữ, bồi dưỡng kiến thức cần thiết[7]; hỗ trợ chi phí khám sức khỏe; làm hộ chiếu, visa và lý lịch tư pháp để tham gia xuất khẩu lao động; hỗ trợ rủi ro[8].

+ Chính sách tín dụng: Thực hiện chính sách tín dụng ưu đãi đối với người lao động[9]; cơ sở dạy nghề cho lao động xuất khẩu[10].

– Quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009 phê duyệt Đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020 quy định chính sách hỗ trợ dưới các hình thức:

+ Hỗ trợ trực tiếp cho người học: Hỗ trợ chi phí học nghề ngắn hạn (trình độ sơ cấp nghề và dạy nghề dưới 3 tháng) đối với lao động nông thôn thuộc diện được hưởng chính sách ưu đãi người có công với cách mạng, hộ nghèo, người dân tộc thiểu số, người tàn tật, người bị thu hồi đất canh tác[11]; lao động nông thôn thuộc diện hộ có thu nhập tối đa bằng 150% thu nhập của hộ nghèo[12]; lao động nông thôn khác[13].

Lao động nông thôn là người dân tộc thiểu số thuộc diện được hưởng chính sách ưu đãi người có công với cách mạng, hộ nghèo và hộ có thu nhập tối đa bằng 150% thu nhập của hộ nghèo học các khóa học trình độ trung cấp nghề, cao đẳng nghề được hưởng chính sách dạy nghề đối với học sinh dân tộc thiểu số nội trú.

+ Hỗ trợ gián tiếp thông qua cho vay vốn từ Quỹ quốc gia về việc làm để tự tạo việc làm.

+ Thực hiện chế độ đối với giáo viên, giảng viên dạy nghề (chế độ phụ cấp lưu động, bố trí nhà công vụ), người dạy nghề (thù lao giảng dạy)…

+ Thực hiện chính sách đối với cơ sở đào tạo nghề cho lao động nông thôn (đầu tư cơ sở vật chất thiết bị dạy nghề, ký túc xá, nhà công vụ, nhà ăn, ô tô chở thiết bị dạy nghề, giáo viên…).

5.1.1.2. Nhóm chính sách đặc thù: Chương trình mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững

Tiền thân của Chương trình mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững là Chương trình mục tiêu quốc gia Xóa đói giảm nghèo được thực hiện từ năm 1998 theo quy định tại Quyết định số 133/1998/QĐ-TTg ngày 23/7/1998 phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia Xóa đói giảm nghèo trong giai đoạn 1998 – 2000. Tiếp đó, Chương trình được thực hiện qua các giai đoạn 2001 – 2005, 2006 – 2010, 2012 – 2015 và được đổi tên thành Chương trình mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững. Giai đoạn 2016-2020, Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững được thực hiện theo Quyết định số 1722/QĐ-TTg ngày 02/9/2016 của Thủ tướng Chính phủ.

Mục tiêu của Chương trình là giảm nghèo bền vững, hạn chế tái nghèo; góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế, đảm bảo ASXH, cải thiện đời sống, tăng thu nhập của người dân, đặc biệt là ở các địa bàn nghèo, tạo điều kiện cho người nghèo, hộ nghèo tiếp cận thuận lợi các dịch vụ xã hội cơ bản (y tế, giáo dục, nhà ở, nước sinh hoạt và vệ sinh, tiếp cận thông tin). Cụ thể là giảm tỷ lệ hộ nghèo cả nước bình quân 1% – 1,5%/năm (riêng các huyện nghèo, xã nghèo giảm 4%/năm; hộ nghèo dân tộc thiểu số giảm 3% – 4%/năm) theo chuẩn nghèo đa chiều; cải thiện sinh kế và nâng cao chất lượng cuộc sống của người nghèo, bảo đảm thu nhập bình quân đầu người của hộ nghèo cả nước cuối năm 2020 tăng lên 1,5 lần so với cuối năm 2015 (riêng hộ nghèo ở các huyện nghèo, xã nghèo, thôn, bản đặc biệt khó khăn, hộ nghèo dân tộc thiểu số tăng gấp 2 lần); cải thiện điều kiện sống và tăng khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản của người nghèo; cơ sở hạ tầng KTXH (hạ tầng thiết yếu như giao thông, trường học, trạm y tế, thủy lợi nhỏ, nước sinh hoạt) ở các huyện nghèo, xã nghèo, thôn, bản đặc biệt khó khăn được đầu tư đồng bộ theo tiêu chí nông thôn mới; tạo điều kiện để người dân tham gia thực hiện các hoạt động của Chương trình để tăng thu nhập thông qua tạo việc làm công nhằm phát huy hiệu quả các công trình cơ sở hạ tầng thiết yếu được đầu tư, góp phần giảm rủi ro thiên tai, thích ứng với biến đổi khí hậu, cải thiện tiếp cận thị trường. Tổng kinh phí thực hiện Chương trình là 48.397 tỷ đồng, trong đó NSTW là 41.449 tỷ đồng (vốn đầu tư: 29.698 tỷ đồng; vốn sự nghiệp: 11.751 tỷ đồng); NSĐP 4.848 tỷ đồng (vốn đầu tư: 3.452 tỷ đồng, vốn sự nghiệp: 1.396 tỷ đồng); vốn huy động hợp pháp khác 2.100 tỷ đồng.

Các dự án thành phần của Chương trình bao gồm:

– Dự án 1: Chương trình 30a, gồm 04 tiểu dự án: (1) Tiểu dự án 1: Hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng huyện nghèo; (2) Tiểu dự án 2: Hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng các xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển và hải đảo; (3) Tiểu dự án 3: Hỗ trợ phát triển sản xuất, đa dạng hóa sinh kế và nhân rộng mô hình giảm nghèo trên địa bàn huyện nghèo, xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển và hải đảo; (4) Tiểu dự án 4: Hỗ trợ cho lao động thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ đồng bào dân tộc thiểu số đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài.

– Dự án 2: Chương trình 135, bao gồm 03 tiểu dự án: (1) Tiểu dự án 1: Hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng cho các xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới, xã an toàn khu, các thôn, bản đặc biệt khó khăn; (2) Tiểu dự án 2: Hỗ trợ phát triển sản xuất, đa dạng hóa sinh kế và nhân rộng mô hình giảm nghèo các xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới, xã an toàn khu, các thôn, bản đặc biệt khó khăn; (3) Tiểu dự án 3: Nâng cao năng lực cho cộng đồng và cán bộ cơ sở các xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới, xã an toàn khu; thôn bản đặc biệt khó khăn.

– Dự án 3: Hỗ trợ phát triển sản xuất, đa dạng hóa sinh kế và nhân rộng mô hình giảm nghèo trên địa bàn các xã ngoài Chương trình 30a và Chương trình 135.

– Dự án 4: Truyền thông và giảm nghèo về thông tin.

– Dự án 5: Nâng cao năng lực và giám sát, đánh giá thực hiện Chương trình.

Trong 05 dự án thành phần của Chương trình thì Dự án 1 (Chương trình 30a) và Dự án 2 (Chương trình 135) là những dự án quan trọng nhất, có tác động trực tiếp và hiệu quả nhất đến tiến trình giảm nghèo ở Việt Nam. Trong đó, Chương trình 135 là Chương trình đã được thực hiện từ khi Việt Nam bắt đầu thực hiện các chính sách giảm nghèo và đến nay đã bước sang giai đoạn 4, đã mang lại nhiều kết quả tích cực trong công cuộc xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam.

a) Chương trình phát triển KTXH các xã đặc biệt khó khăn miền núi và vùng sâu, vùng xa (Chương trình 135)

Chương trình 135 được bắt đầu từ năm 1998 với Quyết định số 135/1998/QĐ-TTg ngày 31/7/1998 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chương trình phát triển KTXH các xã đặc biệt khó khăn miền núi và vùng sâu, vùng xa. Sau đó Chương trình được tiếp tục thực hiện qua các giai đoạn 2006 – 2010, 2012 – 2015. Giai đoạn 2016 – 2020, Chương trình được thực hiện theo quy định tại Quyết định số 551/QĐ-TTg ngày 04/4/2013 phê duyệt Chương trình 135 về hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng, hỗ trợ phát triển sản xuất cho các xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới, xã an toàn khu, các thôn, bản đặc biệt khó khăn. Mục tiêu của Chương trình trong giai đoạn 2012-2015 là tỷ lệ hộ nghèo giảm 4%/năm, đến năm 2015 thu nhập bình quân đầu người đạt 50% mức bình quân chung khu vực nông thôn của cả nước, 85% số thôn có đường cho xe cơ giới, 95% trung tâm xã và trên 60% thôn có điện, các công trình thủy lợi đáp ứng 50% nhu cầu tưới tiêu, trên 50% trạm y tế xã được chuẩn hóa…; giai đoạn 2016 – 2020, tăng cường cơ sở hạ tầng thiết yếu phục vụ cho SXKD và dân sinh ở các xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới, xã an toàn khu, các thôn, bản đặc biệt khó khăn; góp phần thúc đẩy phát triển KTXH, cải thiện đời sống của người dân, giảm nghèo nhanh và bền vững.

Các nội dung hỗ trợ của Chương trình bao gồm:

(1) Hỗ trợ phát triển sản xuất

– Bổ sung và nâng cao kiến thức phát triển kinh tế hộ gia đình, áp dụng các tiến bộ khoa học vào sản xuất, tiếp cận tín dụng, thông tin thị trường, sử dụng đất đai hiệu quả;

– Hỗ trợ giống, phân bón, vật tư phục vụ chuyển đổi cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế;

– Hỗ trợ làm chuồng trại chăn nuôi, cải tạo diện tích nuôi trồng thủy sản;

– Hỗ trợ vắc xin tiêm phòng các dịch bệnh nguy hiểm cho gia súc, gia cầm;

– Hỗ trợ xây dựng mô hình phát triển sản xuất, tạo điều kiện cho người dân tham quan, học tập, nhân rộng mô hình;

– Hỗ trợ nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ chỉ đạo hỗ trợ phát triển sản xuất, cán bộ khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư; dịch vụ bảo vệ thực vật, thú y; vệ sinh an toàn thực phẩm.

(2) Hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng

– Hoàn thiện hệ thống đường giao thông nông thôn phục vụ SXKD và dân sinh;

– Hoàn thiện hệ thống các công trình bảo đảm cung cấp điện phục vụ sinh hoạt và SXKD;

– Hoàn thiện hệ thống các công trình phục vụ nhu cầu về hoạt động văn hóa trên địa bàn xã gồm: Trạm chuyển tiếp phát thanh xã; nhà văn hóa, nhà sinh hoạt cộng đồng ở xã, thôn, bản;

– Hoàn thiện các công trình để bảo đảm chuẩn hóa trạm y tế xã;

– Hoàn thiện hệ thống các công trình để bảo đảm chuẩn hóa giáo dục trên địa bàn xã; xây dựng lớp tiểu học, mẫu giáo, nhà trẻ, nhà ở giáo viên, trang bị bàn ghế, điện, nước sinh hoạt, công trình phụ trên địa bàn thôn, bản;

– Cải tạo, xây mới hệ thống thủy lợi trên địa bàn xã, thôn, bản;

– Các công trình hạ tầng quy mô nhỏ khác do cộng đồng đề xuất phù hợp với phong tục, tập quán của đồng bào dân tộc thiểu số;

– Duy tu, bảo dưỡng các công trình hạ tầng cơ sở.

b) Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo (Chương trình 30a)

Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo được thực hiện từ năm 2009 theo Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP ngày 27/12/2008 của Chính phủ và giai đoạn 2012-2015 chuyển thành một dự án thành phần của Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững. Mục tiêu tổng quát của Chương trình 30a là tạo sự chuyển biến nhanh hơn về đời sống vật chất, tinh thần của người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số thuộc các huyện nghèo, bảo đảm đến năm 2020 ngang bằng các huyện khác trong khu vực. Mục tiêu cụ thể là đến năm 2010, giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống dưới 40%; cơ bản không còn hộ dân ở nhà tạm; cơ bản hoàn thành việc giao đất, giao rừng; trợ cấp lương thực cho người dân ở những nơi không có điều kiện tổ chức sản xuất, khu vực giáp biên giới để bảo đảm đời sống; đẩy mạnh sản xuất, nâng cao đời sống nhân dân… Đến năm 2020 giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống mức ngang bằng mức trung bình của khu vực; giải quyết cơ bản vấn đề sản xuất, việc làm, thu nhập để nâng cao đời sống dân cư ở các huyện nghèo gấp 5-6 lần so với hiện nay, lao động nông nghiệp còn khoảng 50% lao động xã hội, tỷ lệ lao động nông thôn qua đào tạo đạt trên 50%, số xã đạt tiêu chuẩn nông thôn mới khoảng 50%, phát triển hệ thống thủy lợi, giao thông…

Các cơ chế, chính sách đặc thù đối với các huyện nghèo bao gồm:

(1) Chính sách hỗ trợ sản xuất, tạo việc làm, tăng thu nhập

– Chính sách hỗ trợ thông qua khoán chăm sóc, bảo vệ rừng, giao rừng và giao đất để trồng rừng sản xuất: khoán chăm sóc, bảo vệ rừng 200.000 đồng/ha/năm; nếu được giao đất để trồng rừng sản xuất thì được hưởng toàn bộ sản phẩm làm ra, được hỗ trợ lần đầu giống cây lâm nghiệp từ 02-05 triệu đồng/ha. Đối với hộ nghèo nhận khoán và giao rừng còn được trợ cấp 15kg gạo/người/tháng trong thời gian chưa tự túc được lương thực, được hỗ trợ 05 triệu đồng/ha/hộ để tạo đất sản xuất lương thực, được NSNN hỗ trợ 50% lãi suất tiền vay tại ngân hàng thương mại để trồng rừng sản xuất.

– Chính sách hỗ trợ sản xuất: được hỗ trợ 10 triệu đồng/ha để khai hoang, 05 triệu đồng/ha để phục hóa và 10 triệu đồng/ha để tạo ruộng bậc thang để sản xuất nông nghiệp; được hỗ trợ một lần toàn bộ tiền mua giống, phân bón cho việc chuyển đổi cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế cao; được NSNN hỗ trợ 50% lãi suất tiền vay tại ngân hàng thương mại để phát triển sản xuất nông nghiệp, đầu tư cơ sở chế biến, bảo quản và tiêu thụ nông sản. Đối với hộ nghèo còn được vay vốn tối đa 05 triệu đồng/hộ với lãi suất 0% trong thời gian 02 năm để mua giống gia súc (trâu, bò, dê) hoặc gia cầm chăn nuôi tập trung hoặc giống thủy sản; hỗ trợ 1 lần 01 triệu đồng/hộ để làm chuồng trại chăn nuôi hoặc tạo diện tích nuôi trồng thủy sản và 02 triệu đồng/ha mua giống để trồng cỏ nếu chăn nuôi gia súc; được hỗ trợ 100% tiền vắc xin tiêm phòng các dịch bệnh nguy hiểm đối với gia súc, gia cầm; đối với hộ không có điều kiện chăn nuôi mà có nhu cầu phát triển ngành nghề tiểu, thủ công nghiệp được vay vốn tối đa 05 triệu đồng/hộ với lãi suất 0%.

– Hộ nghèo ở thôn, bản vùng giáp biên giới trong thời gian chưa tự túc được lương thực thì được hỗ trợ 15kg gạo/người/tháng.

– Tăng cường, hỗ trợ cán bộ khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư, dịch vụ bảo vệ thực vật, thú y, vệ sinh an toàn thực phẩm… Bố trí kinh phí khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư cao gấp 2 lần so với mức bình quân chung của các huyện khác; hỗ trợ 100% giống, vật tư cho xây dựng mô hình khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư; người dân tham gia đào tạo, huấn luyện được cấp tài liệu, hỗ trợ 100% tiền ăn ở, đi lại và 10.000 đồng/ngày/người.

– Khuyến khích, hỗ trợ các doanh nghiệp, hợp tác xã, trang trại đầu tư sản xuất, chế biến, kinh doanh trên địa bàn huyện nghèo (được hưởng các ưu đãi cao nhất, được NSNN hỗ trợ 50% lãi suất tiền vay tại ngân hàng thương mại nhà nước).

– Hỗ trợ mỗi huyện 100 triệu đồng/năm để xúc tiến thương mại, quảng bá, giới thiệu sản phẩm, thông tin thị trường cho nông dân.

– Chính sách xuất khẩu lao động: hỗ trợ đào tạo nghề, đào tạo ngoại ngữ, bồi dưỡng văn hóa (bao gồm cả ăn, ở, đi lại, trang cấp ban đầu, chi phí làm thủ tục và cho vay vốn ưu đãi…) để lao động các huyện nghèo tham gia xuất khẩu lao động…

(2) Chính sách giáo dục, đào tạo, dạy nghề, nâng cao dân trí

– Chính sách giáo dục, đào tạo: bố trí đủ giáo viên, hỗ trợ xây dựng nhà bán trú, nhà ở cho giáo viên, xây dựng trường dân tộc nội trú liên thông với các cấp học để đào tạo nguồn cán bộ tại chỗ; tăng cường chính sách đào tạo theo hình thức cử tuyển…

– Tăng cường dạy nghề gắn với tạo việc làm: đầu tư xây dựng mỗi huyện 01 cơ sở dạy nghề tổng hợp được hưởng các chính sách ưu đãi, có nhà ở nội trú cho học viên để tổ chức dạy nghề tại chỗ cho lao động nông thôn; dạy nghề tập trung để đưa lao động nông thôn đi làm việc tại các doanh nghiệp và xuất khẩu lao động…

– Tăng cường đào tạo cán bộ tại chỗ, nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ cấp cơ sở: đào tạo đội ngũ cán bộ chuyên môn, cán bộ y tế cơ sở tại các trường đào tạo của Bộ Quốc phòng; ưu tiên tuyển chọn quân nhân hoàn thành nghĩa vụ quân sự là người của địa phương để đào tạo, bổ sung cán bộ cho địa phương; tổ chức tập huấn, đào tạo ngắn hạn, dài hạn cho đội ngũ cán bộ cơ sở thôn, bản, xã, huyện…

(3) Chính sách đầu tư cơ sở hạ tầng

– Đối với cấp huyện: trường trung học phổ thông, trường dân tộc nội trú, cơ sở dạy nghề tổng hợp, bệnh viện huyện, bệnh viện khu vực, trung tâm y tế dự phòng, trung tâm dịch vụ tổng hợp về nông, lâm, ngư nghiệp, công trình thủy lợi cấp huyện, đường giao thông từ tỉnh đến huyện, từ trung tâm huyện tới xã, liên xã, trung tâm cụm xã…

– Đối với cấp xã và dưới xã: trường học, trạm y tế, đường giao thông liên thôn, bản, đường vào các khu kinh tế, sản xuất tập trung, hệ thống thủy lợi, điện, công trình nước sinh hoạt, chợ trung tâm xã, trạm chuyển tiếp phát thanh xã, nhà văn hóa xã, thôn, bản…

Ngoài ra, trong quá trình thực hiện Nghị quyết, theo đề nghị của các bộ, ngành, địa phương, Thủ tướng Chính phủ đã quyết định cho 30 huyện khác nằm ngoài Chương trình 30a nhưng có điều kiện KTXH khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo cao, có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống được hưởng cơ chế hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng bằng 70% huyện 30a.

5.1.2. Nhóm chính sách liên quan đến BHXH, BHTN

– Chính sách BHXH hiện hành được thực hiện theo Luật BHXH 2014. Theo đó, đối tượng tham gia BHXH là người lao động thuộc mọi thành phần kinh tế, bao gồm cả các đối tượng bắt buộc tham gia BHXH (gồm 9 nhóm) và các đối tượng tham gia BHXH tự nguyện. Để khuyến khích người dân tham gia BHXH tự nguyện, phương thức đóng BHXH tự nguyện được quy định linh hoạt (đóng hàng tháng, đóng 3 tháng/6 tháng/12 tháng một lần hoặc đóng một lần cho nhiều năm về sau, đóng một lần cho những năm còn thiếu…); mức đóng BHXH tự nguyện do người tham gia BHXH lựa chọn (thấp nhất bằng chuẩn hộ nghèo khu vực nông thôn). Đồng thời, Nhà nước cũng hỗ trợ mức đóng đối với người tham gia BHXH tự nguyện: bằng 30% đối với người thuộc hộ nghèo; bằng 25% đối với người thuộc hộ cận nghèo và bằng 10% đối với các đối tượng khác.

– Chính sách BHTN là chính sách bắt buộc, được thực hiện theo Luật Việc làm. Về cơ bản, đối tượng tham gia BHTN tương tự đối tượng tham gia BHXH. Nhà nước hỗ trợ 1% quỹ tiền lương tháng đóng BHTN của những người tham gia BHTN.

5.1.3. Nhóm chính sách về trợ giúp xã hội

Chính sách trợ giúp xã hội bao gồm chính sách trợ giúp thường xuyên và chính sách trợ giúp đột xuất. Chính sách trợ giúp xã hội được thực hiện theo quy định tại Nghị định số 136/2013/NĐ-CP quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội. Cụ thể:

5.1.3.1. Chính sách trợ giúp thường xuyên

Chính sách trợ giúp thường xuyên là các chính sách chăm sóc những người không tự lo được cuộc sống tại các cơ sở trợ giúp xã hội hoặc tại cộng đồng, hỗ trợ tiền mặt hàng tháng cho các đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. Hiện nay, chính sách trợ giúp thường xuyên bao gồm các chính sách sau:

a) Chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên tại cộng đồng

Chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên tại cộng đồng bao gồm chính sách trợ cấp hàng tháng; chính sách cấp thẻ BHYT miễn phí; chính sách miễn, giảm học phí, cấp sách vở, đồ dùng học tập; chính sách hỗ trợ mai táng phí.

 Đối tượng được hưởng chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên tại cộng đồng gồm trẻ em dưới 16 tuổi không có người nuôi dưỡng; người từ 16 tuổi đến 22 tuổi không có người nuôi dưỡng đang học phổ thông, học nghề, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học văn bằng thứ nhất; trẻ em bị nhiễm HIV thuộc hộ nghèo; người bị nhiễm HIV thuộc hộ nghèo không còn khả năng lao động mà không có lương hưu, trợ cấp hàng tháng; người đơn thân nghèo đang nuôi con; người cao tuổi nghèo không có người phụng dưỡng hoặc không có lương hưu, trợ cấp hàng tháng; trẻ em khuyết tật, người khuyết tật thuộc diện được hưởng trợ cấp xã hội.

Mức trợ cấp hàng tháng tính theo hệ số (từ 1,0 đến 3,0 tùy từng đối tượng) với mức chuẩn trợ cấp là 270.000 đồng/tháng.

Ngoài ra, người nhận chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em dưới 16 tuổi; người cao tuổi thuộc hộ nghèo không có người phụng dưỡng; người khuyết tật đặc biệt nặng, trẻ em khuyết tật đặc biệt nặng cũng được hưởng chế độ hỗ trợ kinh phí chăm sóc, nuôi dưỡng hệ số từ 1,5 đến 3,0 với mức chuẩn trợ cấp là 180.000 đồng/tháng.

b) Chính sách trợ giúp thường xuyên đối với đối tượng bảo trợ xã hội sống tại các cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội

Chính sách trợ giúp thường xuyên đối với đối tượng bảo trợ xã hội sống tại các cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội bao gồm chính sách chăm sóc, nuôi dưỡng; chính sách cấp thẻ BHYT miễn phí; chính sách cấp vật dụng phục vụ cho sinh hoạt hàng ngày; chính sách miễn, giảm học phí, hỗ trợ sách vở, đồ dùng học tập đối với đối tượng đang đi học; chính sách hỗ trợ mai táng phí.

Đối tượng thực hiện chính sách là một số đối tượng bảo trợ xã hội[14] thuộc diện khó khăn, không tự lo được cuộc sống, không có người nhận nuôi; người cao tuổi không có người phụng dưỡng, không có điều kiện sống ở cộng đồng; người khuyết tật đặc biệt nặng không nơi nương tựa, không tự lo được cuộc sống và một số đối tượng cần bảo vệ khẩn cấp (nạn nhân của bạo lực gia đình, nạn nhân bị buôn bán, cưỡng bức lao động; trẻ em, người lang thang xin ăn…) được chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội.  

Mức trợ cấp nuôi dưỡng tại các cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội được tính theo hệ số từ 3,0 đến 5,0 tùy đối tượng theo mức chuẩn trợ cấp là 270.000 đồng/tháng.

5.1.3.2. Chính sách trợ giúp đột xuất

Chính sách trợ giúp đột xuất là các chính sách hỗ trợ những người, hộ gia đình gặp khó khăn do hậu quả của thiên tai hoặc các lý do bất khả kháng khác nhằm giảm nhẹ hậu quả của thiên tai, mất mùa. Mức trợ giúp đối với hộ gia đình từ 1 triệu đồng/hộ đến 5 triệu đồng/hộ; mức trợ giúp đối với cá nhân có thể là hiện vật (15 kg gạo/người/tháng để cứu đói) hoặc tiền (1 triệu đồng/người gặp rủi ro…). Ngoài ra, hộ gia đình gặp khó khăn nêu trên còn được xem xét miễn, giảm học phí cho người đang học văn hóa, học nghề; được cấp thẻ BHYT hoặc khám chữa bệnh miễn phí; được vay vốn ưu đãi để phát triển sản xuất…

5.1.4. Nhóm chính sách về đảm bảo dịch vụ xã hội cơ bản

5.1.4.1. Chính sách hỗ trợ tiếp cận với dịch vụ giáo dục – đào tạo

Chính sách hỗ trợ người dân tiếp cận với dịch vụ giáo dục cơ bản bao gồm chính sách miễn, giảm học phí; chính sách hỗ trợ tiền ăn, tiền nhà ở đối với học sinh ở vùng khó khăn; chính sách hỗ trợ gạo đối với học sinh ở vùng khó khăn; chính sách hỗ trợ đối với trẻ mẫu giáo, mầm non… Cụ thể:

– Chính sách hỗ trợ trẻ mẫu giáo, mầm non thuộc hộ gia đình nghèo theo quy định tại Quyết định số 60/2011/QĐ-TTg ngày 26/10/2011 quy định một số chính sách phát triển giáo dục mầm non giai đoạn 2011-2015, chính sách hỗ trợ trẻ em 5 tuổi theo quy định tại Quyết định số 239/QĐ-TTg ngày 09/02/2010 phê duyệt Đề án phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi giai đoạn 2010-2015[15]. Theo đó, trẻ em mẫu giáo 3 và 4 tuổi, trẻ em 5 tuổi có cha mẹ thường trú tại các xã biên giới, núi cao, hải đảo, các xã và thôn bản đặc biệt khó khăn, hoặc cha mẹ thuộc diện hộ nghèo theo quy định hoặc mồ côi cả cha lẫn mẹ không nơi nương tựa hoặc bị tàn tật, khuyết tật có khó khăn về kinh tế, được NSNN hỗ trợ 120.000 đồng/tháng và được hưởng theo thời gian học thực tế, nhưng không quá 9 tháng/năm học để duy trì bữa ăn trưa tại trường.

– Chính sách miễn, giảm học phí và hỗ trợ chi phí học tập theo quy định tại Nghị định số 86/2015/NĐ-CP ngày 02/10/2015. Theo đó, trẻ em mẫu giáo và học sinh phổ thông có cha mẹ thuộc diện hộ nghèo; học sinh, sinh viên học tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học là người dân tộc thiểu số thuộc hộ nghèo và hộ cận nghèo; học sinh, sinh viên người dân tộc thiểu số rất ít người ở vùng có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn hoặc đặc biệt khó khăn được miễn học phí. Trẻ em học mẫu giáo và học sinh phổ thông có cha mẹ thuộc hộ cận nghèo được giảm 50% học phí. Ngoài ra, trẻ em học mẫu giáo và học sinh phổ thông có cha mẹ thuộc diện hộ nghèo còn được hỗ trợ chi phí học tập với mức 100.000 đồng/học sinh/tháng để mua sách, vở và các đồ dùng khác (tối đa 9 tháng/năm học).

– Chính sách hỗ trợ học sinh ở xã, thôn đặc biệt khó khăn theo Nghị định số 116/2016/NĐ-CP ngày 18/7/2016[16]. Theo đó, học sinh tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông ở xã, thôn đặc biệt khó khăn được hỗ trợ tiền ăn (bằng 40% mức lương cơ sở/tháng và hưởng không quá 9 tháng/năm học); tiền nhà ở (học sinh không được ở bán trú, phải tự túc chỗ ở được hỗ trợ bằng 10% mức lương cơ sở và hưởng không quá 9 tháng/năm học); gạo (15kg gạo/tháng và hưởng không quá 9 tháng/năm học). Các trường phổ thông dân tộc bán trú được Nhà nước đầu tư cơ sở vật chất và thiết bị, các dụng cụ thể dục thể thao, văn hóa, tủ thuốc, hỗ trợ kinh phí tổ chức nấu ăn tập trung cho học sinh…

– Chính sách học bổng, hỗ trợ mua đồ dùng cá nhân, tiền đi lại… đối với học sinh, sinh viên là người dân tộc thiểu số thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, người khuyết tật; người tốt nghiệp trường phổ thông dân tộc nội trú; người dân tộc Kinh thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo hoặc người khuyết tật có hộ khẩu thường trú tại vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc thiểu số, biên giới, hải đảo đang học cao đẳng, trung cấp tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp theo quy định tại Quyết định số 53/2015/QĐ-TTg ngày 20/10/2015 về chính sách nội trú đối với học sinh, sinh viên học cao đẳng, trung cấp. Theo đó, mức học bổng chính sách đối với học sinh, sinh viên người dân tộc thiểu số thuộc hộ nghèo, cận nghèo, người khuyết tật bằng 100% mức tiền lương cơ sở/tháng; đối với học sinh, sinh viên tốt nghiệp trường phổ thông dân tộc nội trú; học sinh, sinh viên người dân tộc Kinh là người khuyết tật có hộ khẩu thường trú tại vùng có điều kiện KTXH đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc thiểu số, biên giới, hải đảo bằng 80% mức tiền lương cơ sở/tháng; đối với học sinh, sinh viên người dân tộc Kinh thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo có hộ khẩu thường trú tại vùng có điều kiện KTXH đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc thiểu số, biên giới, hải đảo bằng 60% mức tiền lương cơ sở/tháng. Học bổng chính sách được cấp đủ 12 tháng cho 1 năm học. Ngoài học bổng, các đối tượng của chính sách còn được hỗ trợ một số khoản khác như tiền mua đồ dùng cá nhân (chăn, áo ấm, màn, chiếu, áo đi mưa, quần áo bảo hộ lao động…) 1.000.000 đồng/khóa; tiền hỗ trợ đối với học sinh, sinh viên ở lại trường trong dịp Tết Nguyên đán (150.000 đồng); tiền đi lại từ nơi học về gia đình và ngược lại (300.000 đồng/năm đối với học sinh, sinh viên ở vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn; 200.000 đồng/năm đối với các đối tượng còn lại).

– Chính sách hỗ trợ đào tạo trình độ sơ cấp, đào tạo dưới 03 tháng theo Quyết định số 46/2015/QĐ-TTg ngày 28/9/2015. Theo đó, người khuyết tật được hỗ trợ tối đa 6 triệu đồng/người/khóa học; người thuộc hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo; người thuộc hộ nghèo ở các xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn được hỗ trợ tối đa 4 triệu đồng/người/khóa học; người dân tộc thiểu số, người thuộc diện được hưởng chính sách ưu đãi người có công với cách mạng, người thuộc hộ nghèo, người thuộc hộ gia đình bị thu hồi đất nông nghiệp, đất kinh doanh, lao động nữ bị mất việc làm, ngư dân được hỗ trợ tối đa 3 triệu đồng/người/khóa học; người thuộc hộ cận nghèo được hỗ trợ tối đa 2,5 triệu đồng/người/khóa học. Ngoài ra, các đối tượng này còn được hỗ trợ tiền ăn 30.000 đồng/người/ngày thực học, tiền đi lại 200.000 đồng/người/khóa học nếu địa điểm đào tạo ở xa nơi cư trú từ 15km trở lên (riêng người khuyết tật và người học cư trú ở xã, thôn, bản thuộc vùng đặc biệt khó khăn được hỗ trợ 300.000 đồng/người/khóa học nếu địa điểm đào tạo ở xa nơi cư trú từ 5km trở lên).

5.1.4.2. Chính sách hỗ trợ tiếp cận với dịch vụ y tế và chăm sóc sức khỏe

Với chủ trương thực hiện BHYT toàn dân nhằm đảm bảo mọi công dân được tiếp cận với các dịch vụ y tế, pháp luật về BHYT đã quy định BHYT là hình thức bảo hiểm bắt buộc phải thực hiện đối với mọi nhóm đối tượng trong xã hội: nhóm do người lao động và người sử dụng lao động đóng; nhóm do tổ chức BHXH đóng; nhóm do NSNN đóng; nhóm được NSNN hỗ trợ mức đóng; nhóm tham gia BHYT theo hộ gia đình; nhóm đối tượng khác. Trong đó, để mọi người dân có thể tham gia BHYT, Luật BHYT quy định phạm vi đối tượng được NSNN đóng hoặc hỗ trợ đóng BHYT rất rộng, cụ thể:

– Hỗ trợ 100% mức đóng đối với trẻ em dưới 6 tuổi; người thuộc diện hưởng trợ cấp bảo trợ xã hội hằng tháng; người thuộc hộ gia đình nghèo; người dân tộc thiểu số đang sinh sống tại vùng có điều kiện KTXH khó khăn; người đang sinh sống tại vùng có điều kiện KTXH đặc biệt khó khăn; người đang sinh sống tại xã đảo, huyện đảo; thân nhân của người có công với cách mạng; người thuộc hộ gia đình cận nghèo mới thoát nghèo (thời gian hỗ trợ là 5 năm sau khi thoát nghèo); người thuộc hộ gia đình cận nghèo đang sinh sống tại các huyện nghèo theo Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP và các huyện nghèo có tỷ lệ hộ nghèo cao được áp dụng cơ chế, chính sách theo Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP.

– Hỗ trợ 70% mức đóng đối với người thuộc hộ gia đình cận nghèo còn lại.

– Hỗ trợ 30% mức đóng đối với học sinh, sinh viên; người thuộc hộ gia đình làm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và diêm nghiệp có mức sống trung bình.

Bên cạnh chính sách BHYT thì đối tượng là người nghèo còn được hưởng chính sách khám chữa bệnh theo quy định tại Quyết định số 139/2002/QĐ-TTg ngày 15/10/2002 về khám, chữa bệnh cho người nghèo và Quyết định số 14/2012/QĐ-TTg ngày 01/3/2012 sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 139/2002/QĐ-TTg. Theo đó, người được hưởng chế độ hỗ trợ khám, chữa bệnh gồm: (i) Người thuộc hộ nghèo; (ii) Đồng bào dân tộc thiểu số đang sinh sống ở xã, phường, thị trấn thuộc vùng khó khăn; (iii) Người thuộc diện được hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng, người đang được nuôi dưỡng tại các cơ sở bảo trợ xã hội của Nhà nước; (iv) Người mắc bệnh ung thư, chạy thận nhân tạo, mổ tim hoặc các bệnh khác gặp khó khăn do chi phí cao mà không đủ khả năng chi trả viện phí. Các chế độ hỗ trợ bao gồm:

– Hỗ trợ tiền ăn cho người thuộc hộ nghèo, người dân tộc thiểu số đang sinh sống ở xã, phường, thị trấn thuộc vùng khó khăn khi điều trị nội trú tại các cơ sở y tế của Nhà nước từ tuyến huyện trở lên với mức tối thiểu 3% mức lương cơ sở/người bệnh/ngày.

– Hỗ trợ tiền đi lại từ nhà đến bệnh viện, từ bệnh viện về nhà và chuyển bệnh viện cho người thuộc hộ nghèo, người dân tộc thiểu số đang sinh sống ở xã, phường, thị trấn thuộc vùng khó khăn khi điều trị nội trú tại các cơ sở y tế của Nhà nước từ tuyến huyện trở lên, các trường hợp cấp cứu, tử vong hoặc bệnh quá nặng và người nhà có nguyện vọng đưa về nhà nhưng không được BHYT hỗ trợ.

– Hỗ trợ một phần chi phí khám bệnh, chữa bệnh BHYT mà người thuộc hộ nghèo, người dân tộc thiểu số đang sinh sống ở xã, phường, thị trấn thuộc vùng khó khăn, người được hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng, người đang được nuôi dưỡng tại các cơ sở bảo trợ xã hội của Nhà nước phải đồng chi trả đối với phần người bệnh phải đồng chi trả từ 100.000 đồng trở lên. Tuy nhiên, hiện nay, theo quy định tại Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật BHYT, các đối tượng nêu trên đã được Quỹ BHYT chi trả 100% chi phí khám chữa bệnh kể từ ngày 01/01/2015.

– Hỗ trợ thanh toán một phần chi phí khám bệnh, chữa bệnh của người mắc bệnh ung thư, chạy thận nhân tạo, mổ tim… đối với phần người bệnh phải chi trả cho cơ sở y tế của Nhà nước từ 1 triệu đồng trở lên cho một đợt khám bệnh, chữa bệnh trong trường hợp không có BHYT; trường hợp có BHYT thì hỗ trợ một phần đối với phần người bệnh phải đồng chi trả từ 100.000 đồng trở lên.

5.1.4.3. Chính sách hỗ trợ nhà ở, đất ở, nước sinh hoạt

Chính sách hỗ trợ nhà ở đối với hộ nghèo hiện nay được thực hiện theo Quyết định số 33/2015/QĐ-TTg về chính sách hỗ trợ nhà ở đối với hộ nghèo theo chuẩn nghèo giai đoạn 2011 – 2015 với mục tiêu là thực hiện hỗ trợ nhà ở cho khoảng 311.000 hộ nghèo khu vực nông thôn, đảm bảo có nhà ở an toàn, ổn định, từng bước nâng cao mức sống, góp phần xóa đói, giảm nghèo bền vững. Theo Quyết định này, hộ nghèo đủ điều kiện có nhu cầu vay vốn được vay tối đa 25 triệu đồng/hộ từ Ngân hàng Chính sách Xã hội để xây dựng mới hoặc sửa chữa nhà ở với mức lãi suất 3%/năm, thời hạn vay 15 năm, trong đó thời gian ân hạn là 5 năm. Thời gian trả nợ tối đa là 10 năm bắt đầu từ năm thứ 6, mức trả nợ mỗi năm tối thiểu là 10% tổng số vốn đã vay. Dự kiến đến hết năm 2020 sẽ hoàn thành chính sách hỗ trợ này.

Đối với hộ nghèo tại 14 tỉnh khu vực miền Trung[17] được Nhà nước hỗ trợ xây dựng nhà ở phòng, tránh bão, lụt theo Quyết định số 48/2014/QĐ-TTg ngày 28/8/2014. Mức hỗ trợ là 12 triệu đồng/hộ, đối với các hộ nằm trong địa bàn khó khăn được hỗ trợ 14 triệu đồng/hộ, đối với các hộ nằm trong địa bàn đặc biệt khó khăn được hỗ trợ 16 triệu đồng/hộ. Về nguồn kinh phí hỗ trợ, đối với các tỉnh chưa tự cân đối được ngân sách thì ngân sách Trung ương hỗ trợ 100%; đối với các tỉnh đã tự cân đối được ngân sách thì ngân sách Trung ương hỗ trợ 50%, ngân sách địa phương hỗ trợ 50%. Đối với các hộ có nhu cầu vay vốn được vay tối đa 15 triệu đồng/hộ từ Ngân hàng Chính sách Xã hội với mức lãi suất 3%/năm, thời hạn vay 10 năm, trong đó thời gian ân hạn là 5 năm.

Đối với hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo thuộc 13 tỉnh đồng bằng sông Cửu Long[18] chưa có đất ở được Ngân sách Trung ương hỗ trợ tối đa 30 triệu đồng/hộ để mua đất ở theo Quyết định số 29/2013/QĐ-TTg ngày 20/5/2013. Bên cạnh đó, hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo được hỗ trợ về đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt theo quy định tại Quyết định số 134/2004/QĐ-TTg ngày 20/7/2004. Theo đó, hộ đồng bào dân tộc thiểu số là hộ nghèo sinh sống bằng nghề nông, lâm nghiệp chưa có hoặc chưa đủ đất sản xuất, đất ở và có khó khăn về nhà ở, nước sinh hoạt được hỗ trợ như sau:

– Đối với đất ở: Mức giao diện tích đất ở tối thiểu 200m2 cho mỗi hộ đồng bào sống ở nông thôn.

– Về nhà ở: Đối với các hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo chưa có nhà ở hoặc nhà ở quá tạm bợ, đã hư hỏng, dột nát được ngân sách Trung ương hỗ trợ 5 triệu đồng/hộ[19] để làm nhà ở và được NSĐP hỗ trợ thêm.

– Về nước sinh hoạt: Đối với hộ đồng bào dân tộc ở phân tán vùng cao, núi đá, khu vực khó khăn về nguồn nước sinh hoạt thì NSTW hỗ trợ 0,5 tấn xi măng/hộ để xây dựng bể chứa nước mưa hoặc hỗ trợ 300.000 đồng/hộ để đào giếng hoặc tạo nguồn nước sinh hoạt[20]. Đối với công trình cấp nước sinh hoạt tập trung thì NSTW hỗ trợ 100% cho các thôn, bản có từ 50% số hộ là đồng bào dân tộc thiểu số trở lên; hỗ trợ 50% đối với các thôn, bản có từ 20% đến dưới 50% số hộ đồng bào dân tộc thiểu số.

5.1.4.4. Chính sách trợ giúp pháp lý

Chính sách trợ giúp pháp lý cho người nghèo; người có công với cách mạng; người già cô đơn, người tàn tật và trẻ em không nơi nương tựa; người dân tộc thiểu số thường trú ở vùng có điều kiện KTXH đặc biệt khó khăn được thực hiện theo quy định tại Luật Trợ giúp pháp lý. Ngoài ra, người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số và người được trợ giúp pháp lý khác theo quy định của pháp luật về trợ giúp pháp lý tại các huyện nghèo; xã nghèo, thôn, bản đặc biệt khó khăn được trợ giúp pháp lý theo Quyết định số 32/2016/QĐ-TTg ngày 08/8/2016. Theo đó, các hoạt động trợ giúp pháp lý bao gồm:

– Hỗ trợ thực hiện vụ việc tham gia tố tụng có tính chất phức tạp hoặc điển hình.

– Hỗ trợ học phí cho viên chức của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tại các địa phương có huyện nghèo, xã nghèo, thôn, bản đặc biệt khó khăn đủ điều kiện tham gia khóa đào tạo nghề luật sư và cam kết làm việc trong lĩnh vực trợ giúp pháp lý tại địa phương ít nhất 02 năm kể từ khi đi đào tạo về; tăng cường năng lực cho người thực hiện trợ giúp pháp lý.

– Truyền thông về trợ giúp pháp lý tại các địa phương có huyện nghèo, xã nghèo, thôn, bản đặc biệt khó khăn:

+ Thiết lập đường dây nóng về trợ giúp pháp lý;

+ Xây dựng, phát chuyên trang, chuyên mục về trợ giúp pháp lý bằng tiếng Việt, tiếng dân tộc trên Đài Truyền thanh xã;

+ Tổ chức các đợt truyền thông về trợ giúp pháp lý ở cơ sở.

Ngoài những chính sách nêu trên, Nhà nước còn thực hiện một số chính sách khác như chính sách hỗ trợ trực tiếp cho người dân thuộc hộ nghèo ở vùng khó khăn[21], chính sách hỗ trợ tiền điện đối với hộ nghèo, hộ chính sách[22]…

5.2. Đánh giá về hệ thống chính sách ASXH và giảm nghèo hiện hành

Qua rà soát, nghiên cứu hệ thống chính sách ASXH và giảm nghèo hiện hành có thể thấy chính sách ASXH và giảm nghèo đã đạt được một số kết quả cũng như vẫn còn tồn tại một số hạn chế sau:

5.2.1. Các kết quả đạt được

Một là, thể chế, chính sách về ASXH và giảm nghèo đã được ban hành tương đối đầy đủ, tạo thành một lưới ASXH đồng bộ khi hỗ trợ người dân theo các tầng nấc khác nhau: những người không có khả năng lao động (trẻ em, người cao tuổi, người tàn tật…) được hưởng chính sách bảo trợ xã hội; những người có khả năng lao động nhưng có khó khăn về kinh tế hoặc khó khăn về tiếp cận (người dân tộc thiểu số, người nghèo, người cận nghèo…) được hỗ trợ học nghề, đất sản xuất, tư liệu sản xuất (vốn, giống cây trồng, vật nuôi…) để phát triển sản xuất, tạo ra thu nhập, đồng thời được hỗ trợ để tiếp cận với các dịch vụ cơ bản như y tế, giáo dục, nhà ở… Bên cạnh đó, trụ cột cơ bản của hệ thống ASXH là các chính sách bảo hiểm theo nguyên tắc đóng – hưởng (BHXH, BHYT, BHTN) ngày càng được hoàn thiện, diện bao phủ của hệ thống BHXH được mở rộng với sự ra đời của chính sách BHXH tự nguyện, tăng khả năng tiếp cận cho những đối tượng không thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc; diện bao phủ của BHYT ngày càng mở rộng với sự hỗ trợ của Nhà nước đối với các đối tượng chính sách.

Hai là, các chỉ tiêu liên quan đến ASXH và giảm nghèo như tỷ lệ hộ nghèo, chỉ số phát triển con người, tỷ lệ thất nghiệp, thu nhập bình quân đầu người… được cải thiện một cách cơ bản[23].

Ba là, hệ thống chính sách ASXH đã được từng bước phát triển theo hướng hiện đại, phù hợp với xu hướng chung của các nước trên thế giới. Đó là mô hình ASXH đa trụ cột với trụ cột chính là đảm bảo nhu cầu và mức sống tối thiểu của người dân do hệ thống BHXH và chính sách trợ giúp từ NSNN bảo đảm. Bên cạnh đó, các trụ cột khác mang tính tự nguyện nhằm đảm bảo nhu cầu và mức phúc lợi cao hơn cũng đã được Nhà nước khuyến khích như BHXH tự nguyện, bảo hiểm hưu trí tự nguyện, các chương trình bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm sức khỏe do các công ty bảo hiểm thực hiện…

Bốn là, mặc dù trong những năm gần đây nền kinh tế gặp nhiều khó khăn, thu NSNN bị ảnh hưởng nghiêm trọng dẫn đến chi NSNN cũng phải thu hẹp nhưng chính sách ASXH và giảm nghèo vẫn được Đảng và Nhà nước ưu tiên hàng đầu nhằm đảm bảo đời sống của nhân dân, đặc biệt là các đối tượng yếu thế, dễ bị tổn thương do tác động của toàn cầu hóa và suy thoái kinh tế[24].

Tóm lại, giai đoạn vừa qua, mặc dù nền kinh tế gặp nhiều khó khăn khiến thu NSNN bị hạn chế nhưng chính sách ASXH và giảm nghèo vẫn được thực hiện tốt, mang lại nhiều kết quả thiết thực nhằm cải thiện đời sống và cơ hội tiếp cận với các dịch vụ xã hội cơ bản cho nhân dân.

5.2.2. Những hạn chế, tồn tại

Tuy đã đạt được nhiều kết quả quan trọng trong việc đảm bảo ASXH và giảm nghèo nhưng hệ thống chính sách ASXH và giảm nghèo của Việt Nam cũng còn tồn tại một số bất cập, hạn chế cần phải khắc phục để chính sách ASXH và giảm nghèo đạt hiệu quả hơn, cụ thể:

Một là, trong những năm qua, các chính sách liên quan đến ASXH và giảm nghèo được ban hành rất nhiều và trong nhiều lĩnh vực dẫn đến số lượng các văn bản quy phạm pháp luật về ASXH và giảm nghèo quá nhiều, gây khó khăn cho công tác thực hiện. Theo thống kê của Ban Chỉ đạo Trung ương về giảm nghèo bền vững giai đoạn 2011-2020[25], tính đến đầu năm 2015, có tới 153 văn bản về giảm nghèo thuộc các nhóm chính sách: tín dụng; trợ giúp pháp lý; giáo dục đào tạo; hỗ trợ nhà ở; đầu tư cơ sở hạ tầng; y tế, khám chữa bệnh; đất ở, đất sản xuất; hỗ trợ SXKD; dạy nghề, tạo việc làm, xuất khẩu lao động. Hệ thống văn bản này bao gồm từ luật, nghị quyết của Quốc hội; nghị quyết, nghị định của Chính phủ; quyết định của Thủ tướng Chính phủ đến thông tư, quyết định của các bộ, ngành. Hệ thống văn bản quá lớn, lại do nhiều cơ quan ban hành một mặt gây khó khăn, phức tạp cho công tác tổ chức thực hiện, đặc biệt là ở cấp cơ sở do số lượng và trình độ của cán bộ còn hạn chế; mặt khác dễ dẫn đến việc chồng chéo, trùng lặp về chính sách, đồng thời làm hạn chế việc lồng ghép chính sách và cân đối nguồn lực chung.

Hai là, do có quá nhiều chính sách, chương trình liên quan đến ASXH, xóa đói giảm nghèo cùng được thực hiện nên xảy ra hiện tượng chồng lấn trong chính sách. Chẳng hạn, đối với chính sách cấp phát thẻ BHYT miễn phí, một cá nhân có thể là đối tượng của nhiều chính sách khác nhau như chính sách đối với hộ nghèo, chính sách đối với người dân tộc thiểu số, chính sách đối với người có công, chính sách đối với trẻ em dưới 6 tuổi… Nếu không có sự rà soát, quản lý, phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan có liên quan thì sẽ xảy ra tình trạng cấp trùng thẻ BHYT cho cùng một đối tượng, gây lãng phí cho NSNN. Trong thực tế tình trạng này đã xảy ra ở nhiều địa phương với số thẻ cấp trùng lên đến hàng triệu thẻ, tương đương số tiền hàng trăm tỷ đồng[26].

Ba là, các chính sách giảm nghèo hiện nay quá nhiều và dàn trải trong khi nguồn lực ngân sách có hạn dẫn đến ngân sách bố trí cho một số chính sách quá ít, không có tác dụng tạo nên sự thay đổi, làm giảm tác dụng của chính sách, thậm chí gây lãng phí nguồn lực và không hiệu quả. Hiện nay, chính sách giảm nghèo được thực hiện ở nhiều lĩnh vực, trong mỗi lĩnh vực đó lại có thể có nhiều chính sách khác nhau. Chẳng hạn đối với chính sách tín dụng thì có chính sách cho vay để sản xuất, cho vay để xây nhà, cho vay để học nghề, cho vay đi xuất khẩu lao động… Đối với chính sách hỗ trợ với việc tiếp cận giáo dục có chính sách hỗ trợ đối với học sinh phổ thông dân tộc nội trú, bán trú, học sinh hộ nghèo, học sinh người dân tộc thiểu số, học sinh ở vùng có điều kiện đặc biệt khó khăn… với nhiều hình thức hỗ trợ: cấp học bổng, miễn học phí, hỗ trợ gạo, tiền ăn, tiền ở… Đối với chính sách hỗ trợ trực tiếp cho người nghèo có hỗ trợ tiền điện, hỗ trợ trực tiếp bằng tiền mặt, hỗ trợ gạo… Chính vì có quá nhiều chính sách trong khi nguồn lực có hạn nên nguồn lực bị xé lẻ, phân tán, manh mún, không tạo được sự thay đổi dẫn đến hiệu quả của chính sách thấp, gây lãnh phí nguồn lực. Chẳng hạn, chính sách hỗ trợ bằng tiền mặt hoặc hiện vật tương đương 80.000 đồng/người/năm hoặc 100.000 đồng/người/năm đối với hộ nghèo ở vùng khó khăn (khu vực II, xã biên giới, bãi ngang, hải đảo hoặc khu vực III)[27]; chính sách hỗ trợ giống vật nuôi theo Nghị quyết 30a với định mức hỗ trợ thấp (9-10 triệu đồng/con bò giống)… Điều này còn chưa tính đến trường hợp các hộ gia đình thuộc diện được hưởng chính sách ở vùng sâu, vùng xa, điều kiện giao thông, đi lại khó khăn, số tiền hỗ trợ nhận được chỉ đủ để chi trả cho chi phí đi nhận hỗ trợ…

Bốn là, có quá nhiều chính sách hỗ trợ không điều kiện (chính sách cho không) đối với người nghèo, gây tâm lý ỷ lại, trông chờ vào sự hỗ trợ của Nhà nước, không muốn thoát nghèo của một bộ phận người nghèo. Hơn nữa, một số chính sách hỗ trợ dưới dạng cấp bằng tiền mặt chỉ mang lại tác động tức thời cho việc tiêu dùng mà không có tác dụng thúc đẩy sản xuất, tạo thu nhập để thoát nghèo bền vững.

Năm là, một số chính sách được ban hành mà không tính toán đến nguồn lực đảm bảo, không có nguồn để thực hiện, dẫn đến hiện tượng “nợ chính sách”. Chẳng hạn, ngày 21/10/2013, Chính phủ ban hành Nghị định 136/2013/NĐ-CP quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội thay thế các nghị định 67/2007/NĐ-CP và 13/2010/NĐ-CP và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2014. Tuy nhiên, do chưa bố trí được ngân sách nên năm 2014, Nghị định này tạm thời chưa được thực hiện. Từ ngày 01/01/2015 chỉ thực hiện mức trợ cấp theo quy định tại Nghị định số 136/2013/NĐ-CP đối với người đang hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng thuộc hộ nghèo, trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi không có nguồn nuôi dưỡng, đối tượng sống trong cơ sở bảo trợ xã hội theo quy định tại Khoản 1, Khoản 3 Điều 11 Thông tư liên tịch số 29/2014/TTLT-BLĐTBXH-BTC ngày 24/10/2014 (các đối tượng bảo trợ xã hội khác vẫn áp dụng mức hưởng theo các quy định trước khi ban hành Nghị định số 136/2013/NĐ-CP). Từ ngày 01/01/2016, Nghị định 136/2013/NĐ-CP đã được thực hiện đầy đủ theo quy định tại Thông tư liên tịch số 06/2016/TTLT-BLĐTBXH-BTC ngày 12/5/2016. Điều này dẫn đến: (i) Tính kém hiệu lực của chính sách; (ii) Sự không rõ ràng, minh bạch của chính sách; (iii) Sự bức xúc của dư luận và phản ứng của các đối tượng thụ hưởng, đặc biệt trong bối cảnh việc thực hiện chính sách xã hội ở một số địa phương chưa nghiêm thì điều này gây ra sự nghi ngờ của nhân dân vào các cán bộ thực hiện chính sách ở địa phương.

Sáu là, trong quá trình thực thi các chính sách ASXH và giảm nghèo đã phát sinh một số hiện tượng như chi không đúng chế độ, chính sách hỗ trợ của Nhà nước cho đối tượng chính sách; lập hồ sơ không đúng để hưởng chế độ, chính sách… đã dẫn đến việc mất lòng tin của nhân dân vào chính sách của Nhà nước, đồng thời làm giảm hiệu quả của chính sách ASXH và giảm nghèo và lãng phí nguồn lực xã hội.

Nguyên nhân của những hạn chế, tồn tại

Thứ nhất, trình độ phát triển cuả nền kinh tế còn thấp nên các đối tượng bảo trợ xã hội và người nghèo lớn. Trong khi đó nguồn lực NSNN còn hạn hẹp, đặc biệt trong giai đoạn vừa qua, Nhà nước phải thực hiện nhiều chính sách miễn, giảm thuế để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đồng thời vẫn tiếp tục củng cố hệ thống ASXH nên khả năng cân đối NSNN khó khăn.

Thứ hai, chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan có liên quan. Các cơ quan quản lý ngành, lĩnh vực luôn muốn đảm bảo được các mục tiêu của mình mà chưa hài hòa giữa mục tiêu của ngành với điều kiện chung dẫn đến việc các chính sách ban hành ra nhiều và chồng chéo, trùng lắp.

Thứ ba, kỷ luật tài khóa chưa nghiêm. Mặc dù trong giai đoạn vừa qua, trong các nghị quyết về kế hoạch phát triển KTXH hàng năm của Chính phủ đều đề ra nguyên tắc không ban hành chính sách làm tăng chi khi chưa bố trí được nguồn lực thực hiện. Tuy nhiên, một số chính sách vẫn được ban hành mà không tính toán đến nguồn lực, dẫn đến hiện tượng “nợ chính sách”. Bên cạnh đó, vấn đề công khai, minh bạch ngân sách và mức độ tín nhiệm của cơ quan quản lý tài chính – ngân sách cũng là vấn đề cần quan tâm, khi một số cơ quan quản lý ngành, lĩnh vực cho rằng cứ ban hành chính sách ra thì NSNN sẽ đảm bảo được.

Thứ tư, công tác xây dựng chính sách chưa dựa trên chiến lược và tầm nhìn dài hạn dẫn đến việc ban hành chính sách manh mún, phân tán. Công tác xây dựng chính sách chưa căn cứ trên các cơ sở khoa học và thực tiễn mà mang tính chủ quan, duy ý chí nên không phù hợp với thực tế, khó thực hiện và làm giảm hiệu quả của chính sách[28].

Thứ năm, đối với một số chính sách, công tác tổ chức thực hiện chưa được thực hiện chặt chẽ ảnh hưởng đến hiệu quả của chính sách. Chẳng hạn, do có quá nhiều cơ quan, ban ngành cùng tham gia vào quá trình rà soát để cấp thẻ BHYT (hội cựu chiến binh, ngành lao động – thương binh và xã hội, tổ dân phố, các đơn vị thuộc lực lượng vũ trang…) nhưng chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan này, dẫn đến việc lập trùng danh sách các đối tượng thuộc nhiều nhóm được hỗ trợ mua thẻ BHYT. Ví dụ: người vừa là thân nhân của lực lượng vũ trang vừa là cựu chiến binh; trẻ em dưới 6 tuổi đồng thời là thành viên của hộ nghèo… Hoặc đối với chính sách hỗ trợ học nghề, việc nhiều ban, ngành cùng tham gia thực hiện các chương trình dạy nghề (ngành lao động – thương binh và xã hội, hội phụ nữ, đoàn thanh niên…) dẫn đến việc phân tán nguồn lực, chồng chéo, trùng lắp về các chương trình và đối tượng thụ hưởng. Có đối tượng tham gia nhiều khóa đào tạo nghề, nhưng học xong vẫn không tìm được việc làm hoặc không tự tạo được việc làm tại chỗ do ngành nghề được đào tạo không phù hợp với nhu cầu xã hội…

5.2.3. Kiến nghị để hoàn thiện chính sách ASXH và giảm nghèo trong thời gian tới

5.2.3.1. Định hướng của Đảng, Nhà nước về chính sách ASXH và giảm nghèo giai đoạn 2016 – 2020

Nghị quyết 15-NQ/TW đã đặt ra định hướng về chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020 là “Chính sách ưu đãi người có công và an sinh xã hội phải phù hợp với trình độ phát triển kinh tế – xã hội và khả năng huy động, cân đối nguồn lực của đất nước trong từng thời kỳ; ưu tiên người có công, người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, người nghèo và đồng bào dân tộc thiểu số”. Để thực hiện được định hướng này, Nghị quyết cũng đưa ra một số giải pháp cụ thể, trong đó có việc “Đổi mới quản lý nhà nước đối với lĩnh vực ưu đãi người có công và an sinh xã hội. Rà soát, hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách bảo đảm tính hệ thống và đồng bộ, đơn giản và hiệu quả; vừa hỗ trợ, vừa khuyến khích nỗ lực vươn lên của các đối tượng thụ hưởng, khắc phục sự ỷ lại vào Nhà nước”.

 Tại Thông báo số 461/TB-VPCP ngày 28/12/2013 của Văn phòng Chính phủ, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam, Trưởng ban Chỉ đạo Trung ương thực hiện Nghị quyết số 70/NQ-CP của Chính phủ về chính sách xã hội cũng đã đưa ra định hướng tiếp tục triển khai Nghị quyết 70/NQ-CP, đó là: việc xây dựng chính sách cần đảm bảo tính khả thi; chú trọng lồng ghép các chính sách xã hội trong quá trình thực hiện bảo đảm thiết thực, hiệu quả; khi thiết kế, xây dựng chính sách, cần phân loại đối tượng theo nhóm ưu tiên, có lộ trình cụ thể; giảm dần các chính sách hỗ trợ trực tiếp “cho không”… Đồng thời giao nhiệm vụ tổng rà soát các chính sách xã hội nhằm xác định chính sách mới cần ban hành, chính sách trùng chéo cần ghép lại hoặc bãi bỏ; thống kê, tập hợp các chính sách xã hội để tạo điều kiện thuận lợi cho cấp cơ sở triển khai thực hiện…

5.2.3.2. Nguyên tắc xây dựng chính sách ASXH và giảm nghèo giai đoạn 2016 – 2020

Việc nghiên cứu, xây dựng chính sách ASXH và giảm nghèo giai đoạn 2016-2020 cần đảm bảo các nguyên tắc sau:

Một là, việc xây dựng chính sách phải tính đến tính khả thi về nguồn lực đảm bảo, tránh hiện tượng ban hành chính sách mà chưa tính toán nguồn lực dẫn đến “nợ chính sách”.

Hai là, chính sách được ban hành phải đảm bảo không chồng chéo, trùng lắp với các chính sách đã có.

Ba là, cần phân loại đối tượng thụ hưởng chính sách ASXH và giảm nghèo để có các giải pháp phù hợp, đảm bảo chính sách ASXH và giảm nghèo là lưới an toàn cho các đối tượng yếu thế, dễ bị tổn thương trong xã hội, đồng thời tạo động lực cho các đối tượng thụ hưởng vươn lên tự đảm bảo cuộc sống, tránh hiện tượng chây lười, ỷ lại vào hỗ trợ của Nhà nước.

Bốn là, hệ thống chính sách ASXH và giảm nghèo phải đơn giản, dễ thực hiện, tạo điều kiện cải cách thủ tục hành chính, giảm chi phí thực thi chính sách.

5.3. Một số đề xuất về chính sách ASXH và giảm nghèo trong thời gian tới

5.3.1. Về chính sách tạo việc làm, tăng thu nhập, giảm nghèo

Một là, rà soát lại hệ thống các chính sách ASXH và giảm nghèo hiện hành, loại bỏ những chính sách chồng chéo, trùng lắp hoặc không hiệu quả nhằm tiết kiệm nguồn lực, để dành nguồn lực cho các chính sách có hiệu quả hơn. Qua thực tế thực hiện, một số chính sách được phản ánh là không hiệu quả hoặc chồng chéo, trùng lặp gồm:

– Chính sách hỗ trợ tiền điện đối với hộ nghèo, hộ thuộc diện chính sách theo Quyết định số 28/2014/QĐ-TTg ngày 07/4/2014: Theo phản ánh của các địa phương thì mức hỗ trợ thấp (49.000 đồng/tháng), thủ tục để thực hiện phức tạp (vì phải chứng minh hàng tháng tiêu thụ dưới 50 KW điện, trong khi việc hỗ trợ được thực hiện theo quý). Hơn nữa, đối tượng được hỗ trợ là hộ nghèo, hộ chính sách ở nơi chưa có điện lưới, thường là vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo… việc đi lại rất khó khăn, đường sá xa xôi, nên việc đi nhận một số tiền hỗ trợ nhỏ với nhiều thủ tục phức tạp là không có hiệu quả.

– Chính sách hỗ trợ trực tiếp cho người dân thuộc hộ nghèo ở vùng khó khăn theo Quyết định số 102/2009/QĐ-TTg ngày 07/8/2009: Mức hỗ trợ thấp (80.000 đồng/người/năm đối với hộ nghèo ở xã khu vực II, xã biên giới, xã bãi ngang, hải đảo vùng khó khăn; 100.000 đồng/người/năm đối với hộ nghèo ở xã khu vực III vùng khó khăn) chỉ có tác dụng hỗ trợ chi tiêu cho sinh hoạt trước mắt mà không có tác dụng giảm nghèo, trong khi chi phí để chi trả và nhận hỗ trợ lớn.

Hai là, hạn chế các chính sách hỗ trợ trực tiếp không có điều kiện (hỗ trợ theo kiểu “cho không”) vì các chính sách này gây tâm lý ỷ lại của đối tượng được nhận hỗ trợ, không có tác dụng khuyến khích người nghèo vươn lên để thoát nghèo. Thay vào đó, tập trung vào các chính sách hỗ trợ người nghèo phát triển sản xuất, tạo thu nhập, vươn lên thoát nghèo bền vững như chính sách tín dụng, chính sách hỗ trợ đất sản xuất, hỗ trợ vốn và công cụ sản xuất. Đồng thời, trên cơ sở rà soát, loại bỏ các chính sách chồng chéo, trùng lặp, không hiệu quả nêu trên, cũng cần thu hẹp lại các chính sách hỗ trợ, chỉ tập trung ban hành và đầu tư vào một số chính sách lớn, có tác dụng làm đòn bẩy, tạo nên sự thay đổi đối với người nghèo. Theo đó, mức độ hỗ trợ cũng cần được thiết kế ở mức đủ lớn, đảm bảo người nghèo có đủ nguồn lực để phát triển sản xuất, đồng thời phát huy được hiệu quả của chính sách. Chẳng hạn, hiện nay mức hỗ trợ mua bò giống cho hộ nghèo theo Nghị quyết 30a ở các địa phương chủ yếu ở mức 10 triệu đồng/hộ, trong khi đó, giá trị một con bò giống khỏe mạnh, trưởng thành khoảng 15 triệu đồng/con. Vì vậy, một số địa phương đã thực hiện theo phương thức “đồng chi trả”, nghĩa là đề nghị hộ gia đình được nhận bò góp thêm tiền để mua bò, điều này dẫn đến thắc mắc của người dân về việc phải góp tiền mới được Nhà nước hỗ trợ bò. Hơn nữa, đối với người nghèo thì 5 triệu đồng là một số tiền lớn, thường họ lại phải đi vay mới có tiền để đóng góp. Ở một số địa phương, với mức hỗ trợ 10 triệu đồng/hộ và không đề nghị đối tượng nhận hỗ trợ góp thêm tiền thì chỉ mua được bò còn bé, chưa đủ độ trưởng thành, sau khi giao cho hộ dân nuôi thì không lớn được, thậm chí bị chết, hiệu quả của chính sách không đạt được và gây lãng phí về nguồn lực.

Ba là, cần nghiên cứu, xem xét để thay thế việc hỗ trợ triền miên, kéo dài như hiện nay sang thực hiện hỗ trợ có thời hạn. Điều này sẽ góp phần thúc đẩy hộ nghèo phải vươn lên thoát nghèo, xóa bỏ tư tưởng ỷ lại, trông chờ vào sự hỗ trợ triền miên của Nhà nước, đồng thời đảm bảo sự công bằng của chính sách.

Bốn là, cần phân loại các hộ nghèo theo nguyên nhân nghèo để có các chính sách phù hợp. Đối với người nghèo có sức khỏe nhưng không có tư liệu lao động (vốn, đất đai, công cụ sản xuất) hoặc không có kỹ thuật sản xuất thì Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ về tư liệu lao động và giúp đào tạo nghề, hướng dẫn về kỹ thuật sản xuất. Đối với người nghèo do không có khả năng lao động (người già, người tàn tật, người không có sức lao động…) thì xem xét đưa vào đối tượng hưởng chế độ bảo trợ xã hội vì dù có được hỗ trợ về vốn hay tư liệu sản xuất thì họ cũng không tận dụng được sự hỗ trợ đó để phát triển sản xuất, tăng thu nhập, giảm nghèo. Thậm chí, trong thực tế đã có những trường hợp lợi dụng chính sách như đứng ra vay vốn với mức lãi suất 0%  theo chính sách đối với hộ nghèo rồi cho vay lại để kiếm lời…, dẫn đến việc bóp méo chính sách và mục đích của chính sách không đạt được. Đối với người nghèo có sức lao động nhưng do lười lao động, ỷ lại, trông chờ vào sự hỗ trợ của Nhà nước, nếu đã được hỗ trợ trong một khoảng thời gian nhất định mà vẫn không thoát nghèo thì cũng không tiếp tục được hưởng chính sách hỗ trợ, nguồn lực này sẽ được chuyển cho các đối tượng khác để đảm bảo hiệu quả trong sử dụng nguồn lực.

Năm là, theo phản ánh của một số địa phương, mặc dù có chính sách khuyến khích, hỗ trợ người dân, đặc biệt là các đối tượng chính sách, học nghề nhằm nâng cao tay nghề, chuyển đổi nghề, tăng khả năng tìm được việc làm, nâng cao đời sống nhưng các chương trình dạy nghề chưa được thiết kế mang tính hệ thống và bài bản, chưa tính đến nhu cầu và tính phù hợp với thực tế sản xuất, tình hình kinh tế của địa phương nên hiệu quả đạt được thấp. Bên cạnh đó, việc nhiều ban, ngành cùng tham gia thực hiện các chương trình dạy nghề (ngành lao động – thương binh và xã hội, hội phụ nữ, đoàn thanh niên…) dẫn đến việc phân tán nguồn lực, chồng chéo, trùng lắp về các chương trình và đối tượng thụ hưởng. Có đối tượng tham gia nhiều khóa đào tạo nghề nhưng học xong vẫn không tìm được việc làm hoặc không tự tạo được việc làm tại chỗ do ngành nghề được đào tạo không phù hợp với nhu cầu xã hội. Vì vậy, bên cạnh việc hỗ trợ người học, các ban, ngành có liên quan cần nghiên cứu xây dựng các chương trình đào tạo nghề thiết thực, phù hợp với nhu cầu của xã hội để nâng cao khả nặng tìm việc hoặc tự tạo việc của các đối tượng tham gia học nghề, từ đó nâng cao thu nhập và đảm bảo ASXH cho người dân.

5.3.2. Về chính sách trợ giúp xã hội

Qua nghiên cứu cho thấy các chính sách trợ giúp xã hội hiện nay có phạm vi bao phủ và đối tượng tương đối rộng đến các nhóm và tầng lớp dân cư yếu thế cần có sự hỗ trợ của Nhà nước. Mặc dù vậy, nhiều ý kiến cho rằng mức hỗ trợ quá thấp, cần nâng mức hỗ trợ từ NSNN để đảm bảo mức sống cho đối tượng thụ hưởng. Tuy nhiên, trong điều kiện hiện nay, NSNN còn nhiều khó khăn thì việc nâng mức hỗ trợ từ NSNN đối với các đối tượng của chính sách trợ giúp xã hội cần phải có lộ trình phù hợp. Bên cạnh đó, cần nghiên cứu, xem xét một số vấn đề sau:

Thứ nhất, về lâu dài, cần có lộ trình nghiên cứu xây dựng chính sách trợ giúp xã hội theo cách tiếp cận đảm bảo nhu cầu sống tối thiểu của đối tượng thụ hưởng. Tuy nhiên, để thực hiện được yêu cầu này thì cần có sự rà soát, phân loại đối tượng, tránh tình trạng trợ giúp đồng loạt, mang tính cào bằng.

Thứ hai, trong điều kiện nguồn lực có hạn, cần hạn chế áp dụng các chính sách mang tính hỗ trợ đồng loạt mà nên tập trung vào các đối tượng thực sự cần sự hỗ trợ của Nhà nước. Hiện nay, các chính sách bảo trợ xã hội được áp dụng đối với tất cả các đối tượng yếu thế trong xã hội (người già, trẻ em, người tàn tật…), không phân biệt hoàn cảnh và điều kiện kinh tế của đối tượng thụ hưởng mặc dù các đối tượng nghèo, có điều kiện kinh tế khó khăn được ưu tiên hơn.

Nghiên cứu kinh nghiệm của các nước cho thấy, nhiều quốc gia cũng áp dụng chính sách hỗ trợ đối với các đối tượng yếu thế trong xã hội như người già, trẻ em… tuy nhiên hầu hết đều áp dụng đối với các đối tượng thuộc hộ nghèo hoặc không có thu nhập. Chẳng hạn về chính sách đối với người cao tuổi, một số nước như Phi-líp-pin, Thái Lan, Ma-lai-xi-a, Băng-la-đét… đều có chính sách trợ cấp cho người cao tuổi nghèo hoặc không có thu nhập hàng tháng, điều này khác với chính sách của Việt Nam là trợ cấp hàng tháng đối với người từ 60 tuổi trở lên nghèo không có người phụng dưỡng hoặc người từ 80 tuổi trở lên không có lương hưu, trợ cấp hàng tháng. Do đặc thù của Việt Nam là trước năm 1995, hệ thống BHXH chỉ thực hiện đối với người lao động thuộc khu vực nhà nước nên số người được hưởng lương hưu hoặc trợ cấp hàng tháng không nhiều[29], do đó số người cao tuổi sống dựa vào các nguồn thu nhập khác rất lớn. Nếu chỉ xét điều kiện không có lương hưu hàng tháng để áp dụng chính sách trợ cấp thì số đối tượng hưởng chính sách sẽ rất lớn và sẽ không phản ánh chính xác nhu cầu cần trợ giúp của đối tượng thụ hưởng chính sách vì ngoài lương hưu họ có thể còn có các nguồn thu nhập khác như lãi tiền gửi ngân hàng, tiền cho thuê nhà, tiền tiết kiệm, hỗ trợ từ con cháu… Vì vậy, để có điều kiện tập trung nguồn lực hỗ trợ các đối tượng thực sự cần sự trợ giúp của Nhà nước, đề nghị nghiên cứu xây dựng mức trợ cấp hàng tháng đủ đảm bảo chi phí sinh hoạt tối thiểu đối với các đối tượng thuộc hộ nghèo và cận nghèo, các đối tượng sống tại các cơ sở bảo trợ xã hội. Đối với người già, trẻ em, người tàn tật… nhưng không thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo thì mức trợ cấp chỉ nên mang tính chất động viên, khuyến khích hoặc chỉ áp dụng chính sách thăm hỏi, tặng quà…

5.3.3. Về các chính sách hỗ trợ người dân tiếp cận với các dịch vụ tối thiểu

5.3.3.1. Về chính sách hỗ trợ việc tiếp cận với dịch vụ giáo dục – đào tạo

Một là, rà soát, tích hợp các chính sách hỗ trợ người dân tiếp cận với dịch vụ giáo dục – đào tạo để tạo thuận lợi cho việc thực thi chính sách vì hiện nay các văn bản quy định về chính sách hỗ trợ trong lĩnh vực giáo dục quá nhiều, gây khó khăn cho việc tổ chức thực hiện, làm phân tán nguồn lực và dễ dẫn đến sự chồng chéo, trùng lắp.

Hai là, về phương thức hỗ trợ. Căn cứ vào điều kiện và đối tượng được hỗ trợ để có phương thức hỗ trợ phù hợp nhằm đạt được mục tiêu của chính sách. Hạn chế phương thức hỗ trợ bằng hiện vật vì làm phát sinh thêm các chi phí khác để thực hiện chính sách như chi phí kho bãi, vận chuyển, chi phí quản lý… Trong trường hợp hỗ trợ bằng hiện vật (chẳng hạn như hỗ trợ gạo) thì tùy điều kiện cơ sở hạ tầng ở từng địa phương mà thực hiện phương thức hỗ trợ phù hợp: nếu trường học tổ chức nấu ăn được cho học sinh thì thực hiện hỗ trợ cho trường để trường tổ chức nấu ăn cho học sinh; nếu trường học không có điều kiện để tổ chức nấu ăn cho học sinh (không có nhà bếp, không có biên chế phục vụ…) thì thực hiện hỗ trợ trực tiếp cho học sinh.

5.3.3.2. Về chính sách hỗ trợ việc tiếp cận với dịch vụ y tế

Về cơ bản, chính sách hỗ trợ người dân trong việc tiếp cận với dịch vụ y tế tương đối tốt. Tuy nhiên, theo phản ánh của một số địa phương thì quy định hỗ trợ 100% BHYT cho “người đang sinh sống tại xã đặc biệt khó khăn” theo Luật BHYT gây khó khăn cho địa phương trong quá trình triển khai thực hiện, gây mâu thuẫn trong nhân dân do người giàu, người rất giàu đang sinh sống tại xã đặc biệt khó khăn được hỗ trợ 100% thẻ BHYT, trong khi một bộ phận người thuộc hộ cận nghèo thuộc xã khác phải đóng 30% mệnh giá mua thẻ BHYT, hoặc người dân tộc thiểu số (tuy không thuộc hộ nghèo nhưng đời sống còn khó khăn) đang sinh sống tại miền núi nhưng không thuộc các xã khó khăn, đặc biệt khó khăn vẫn không được hỗ trợ thẻ BHYT. Vì vậy, đề nghị sửa đổi chính sách theo cách tiếp cận Nhà nước hỗ trợ mua thẻ BHYT căn cứ vào điều kiện kinh tế chứ không căn cứ vào địa bàn sinh sống của đối tượng thụ hưởng. Việc tăng cường khả năng tiếp cận với dịch vụ y tế ở các địa bàn khó khăn cần được thực hiện thông qua chính sách xây dựng và phát triển mạng lưới y tế cơ sở hơn là thông qua chính sách hỗ trợ mua thẻ BHYT.

Bên cạnh đó, cũng cần xem xét lại chính sách hỗ trợ 100% mức đóng BHYT cho hộ cận nghèo mới thoát nghèo theo quy định tại Quyết định số 705/QĐ-TTg ngày 08/5/2013. Theo quy định này thì hộ cận nghèo mới thoát nghèo được hỗ trợ 100% mức đóng BHYT trong khoảng thời gian 5 năm kể từ khi thoát nghèo. Xét trên thực tế thì quy định này sẽ dẫn đến việc các hộ cận nghèo sẽ liên tục được hưởng chính sách này vì hiện nay cứ định kỳ 5 năm Chính phủ lại nâng mức chuẩn nghèo và mức chuẩn nghèo mới thường cao hơn mức cũ rất nhiều[30] nên khả năng các hộ mới thoát nghèo tái nghèo lại rất cao. Vì vậy, việc quy định hỗ trợ trong 5 năm thực ra sẽ mang tính chất hỗ trợ liên tục và lâu dài. Bên cạnh đó, việc chia ra nhiều loại đối tượng (nghèo, cận nghèo, cận nghèo mới thoát nghèo…) gây khó khăn, phức tạp cho địa phương trong công tác thống kê, theo dõi đối tượng, đặc biệt đối với chuẩn nghèo đa chiều mới ban hành. Vì vậy, đề nghị cần xem xét lại hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội của chính sách này để xây dựng chính sách phù hợp.

Ngoài ra, trong thời gian qua, việc thực hiện chính sách BHYT cũng còn một số hạn chế, tồn tại như việc cấp trùng thẻ BHYT nhiều gây lãng phí tiền cho NSNN. Điều này xuất phát từ việc thiếu sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan ở địa phương trong việc lập danh sách đối tượng thuộc diện được mua thẻ BHYT và sự lạc hậu của hệ thống thông tin của ngành BHXH. Để khắc phục tồn tại này, đề nghị thực hiện một số việc sau:

– Thu hẹp các đầu mối thực hiện chính sách hỗ trợ mua thẻ BHYT. Việc rà soát, lập danh sách đối tượng được Nhà nước hỗ trợ mua thẻ BHYT, kể cả các đối tượng là thân nhân lực lượng vũ trang, nên giao cho các địa phương chủ trì thực hiện. Các cơ quan có liên quan (đơn vị thuộc lực lượng vũ trang…) lập danh sách đối tượng thuộc phạm vi quản lý của mình, gửi các địa phương tổng hợp để tránh trùng lắp đối tượng.

 – Cần có quy định về việc xử lý trách nhiệm vật chất đối với những cá nhân, tổ chức thiếu trách nhiệm, để xảy ra việc cấp trùng thẻ BHYT./.

 ———————TÀI LIỆU THAM KHẢO——————————————

  1. Vũ Nhữ Thăng (2013), “Chính sách An sinh xã hội ở Việt Nam – Những vấn đề đặt ra”.
  2. Ngân hàng Thế giới (2015), “Thực trạng hệ thống ASXH 2015”.
  3. Nguyễn Thị Lê Thu (2015), “Đánh giá tác động của chính sách giảm nghèo ở Việt Nam”, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Viện năm 2015.
  4. Viện CL&CSTC (2015), “Nghiên cứu khảo sát, đánh giá chính sách hỗ trợ trực tiếp từ NSNN để đảm bảo an sinh xã hội”, Chương trình nghiên cứu khoa học cấp Viện năm 2015.
  5. Chính phủ (2016), “Báo cáo kết quả 02 năm thực hiện Nghị quyết số 76/2014/QH13 của Quốc hội về đẩy mạnh thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững đến năm 2020”.
  6. Chính phủ (2016), “Báo cáo kết quả thực hiện công tác giảm nghèo 9 tháng đầu năm và ước thực hiện cả năm 2016 của Ban chỉ đạo Trung ương các chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2016-2020”.
  7. Các website: http://www.nhandan.com.vn    http://dantri.com.vn

 

 

 

 

 

Bản in

 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *