Chuyên đề 4: TÁI CƠ CẤU NỀN KINH TẾ VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA

Chuyên đề 4: TÁI CƠ CẤU NỀN KINH TẾ VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA

 

PGS. TS. Hoàng Trần Hậu,

Giám đốc Trường Bồi dưỡng cán bộ tài chính

PGS. TS. Vũ Sỹ Cường,

Học viện Tài chính

4.1. Tổng quan về Tái cơ cấu kinh tế

4.1.1.Quan niệm về tái cơ cấu kinh tế

4.1.1.1.Cơ cấu kinh tế là gì?

Theo C.Mác, cơ cấu kinh tế của xã hội là toàn bộ những quan hệ sản xuất phù hợp với quá trình phát triển nhất định của các lực lượng sản xuất vật chất. Mác đồng thời nhấn mạnh, khi phân tích cơ cấu, phải chú ý đến cả hai khía cạnh là chất lượng và số lượng, cơ cấu chính là sự phân chia về chất và tỉ lệ về số lượng của những quá trình sản xuất xã hội. Như vậy, cơ cấu kinh tế là tổng thể các ngành, lĩnh vực, bộ phận kinh tế với vị trí, tỉ trọng tương ứng của chúng và mối quan hệ hữu cơ tương đối ổn định hợp thành.

Khi phân tích cơ cấu kinh tế, người ta thường dựa trên hai phương diện, gồm:

+ Thứ nhất, khía cạnh vật chất kĩ thuật và kinh tế xã hộicủa cơ cấu. Về mặt vật chất xã hội, các yếu tố cụ thể bao gồm: Cơ cấu theo ngành nghề, lĩnh vực kinh tế phản ánh số lượng, vị trí, tỉ trọng các ngành, lĩnh vực, bộ phận cấu thành nền kinh tế; Cơ cấu theo quy mô, trình độ kĩ thuật, công nghệ của các loại hình tổ chức sản xuất phản ánh chất lượng các ngành, lĩnh vực, bộ phận cấu thành nền kinh tế; Cơ cấu kinh tế theo vùng lãnh thổ phản ánh khả năng kết hợp, khai thác tài nguyên, tiềm lực kinh tế-xã hội của các vùng phục vụ cho mục tiêu phát triển nền kinh tế quốc dân thống nhất.

+ Thứ hai, xét theo cơ cấu kinh tế về mặt kinh tế-xã hội, bao gồm: Cơ cấu theo các thành phần kinh tế phản ánh khả năng khai thác năng lực tổ chức sản xuất kinh doanh của mọi thành viên xã hội; Cơ cấu kinh tế theo trình độ phát triển của quan hệ hàng hoá tiền tệ. Nó phản ánh khả năng giải quyết mối quan hệ và sự tác động qua lại giữa các ngành, lĩnh vực và các bộ phận hợp thành nền kinh tế quốc dân thống nhất.

Từ những yếu tố trên, có thể thấy, một cơ cấu kinh tế hợp lý sẽ có khả năng tạo ra quá trình tái sản xuất mở rộng, đáp ứng các điều kiện: phù hợp các quy luật khách quan; phản ánh khả năng khai thác sử dụng nguồn lực kinh tế trong nước và đáp ứng yêu cầu hội nhập với quốc tế và khu vực, nhằm tạo ra sự cân đối, phát triển bền vững; phù hợp xu thế kinh tế, chính trị của khu vực và thế giới.

4.1.1.2.Yêu cầu đặt ra với tái cơ cấu kinh tế

Yêu cầu tái cơ cấu nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng được đặt ra trong Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội giai đoạn năm 2011 – 2020 mà Đại hội Đảng lần thứ XI thông qua, trong đó xác định rõ: thực hiện cơ cấu lại nền kinh tế, trọng tâm là cơ cấu lại các ngành sản xuất và dịch vụ phù hợp với các vùng; thúc đẩy cơ cấu lại doanh nghiệp và điều chỉnh chiến lược thị trường; tăng nhanh giá trị nội địa, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của sản phẩm, doanh nghiệp và của nền kinh tế; phát triển kinh tế trí thức. Gắn phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường phát triển kinh tế xanh. Chiến lược xác định: “Chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ chủ yếu phát triển theo chiều rộng sang phát triển hợp lý giữa chiều rộng và chiều sâu, vừa mở rộng quy mô vừa chú trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả, tính bền vững”.

Hai khái niệm “tái cơ cấu kinh tế” và “chuyển đổi mô hình tăng trưởng” đã được giới truyền thông, nghiên cứu kinh tế và hoạch định chính sách sử dụng phổ biến trong nhiều năm qua.

Hình 4.1. Chuyển đổi mô hình tăng trưởng

Nguồn: Kỷ yếu diễn đàn kinh tế mùa xuân (2012)-
Ủy ban Kinh tế của Quốc hội và UNDP tại Việt Nam

Theo quan điểm của Nguyễn Đình Cung(2012), chuyển đổi mô hình tăng trưởng hiện nay về bản chất là thay đổi động lực của tăng trưởng kinh tế; năng suất lao động, hiệu quả sử dụng các nguồn lực phải được cải thiện để dần thay thế số lượng đầu tư, lao động, tài nguyên thiên nhiên và trở thành động lực của tăng trưởng kinh tế.

Như vậy, cụ thể hơn, tái cơ cấu kinh tế là[1] quá trình phân bố lại nguồn lực (trước hết là vốn đầu tư) trên phạm vi quốc gia nhằm cải thiện và nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực nói riêng và của tòan bộ nền kinh tế nói chung (bao gồm hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bố). Để làm được điều đó, về chính sách, cần cải thiện và nâng cao chất lượng môi trường kinh doanh (ổn định kinh tế vĩ mô, phát triển hạ tầng, phát triển nguồn nhân lực và cải cách thể chế, v.v…) để cơ chế thị trường được vận hành tốt và phát huy đầy đủ hiệu lực trong huy động và phân bố nguồn lực. Khởi động của tái cơ cấu kinh tế phải là đổi mới hệ thống đòn bẩy khuyến khích, thúc đẩy nguồn lực phân bố đến những nơi sử dụng có hiệu quả cao hơn, đồng thời, buộc các doanh nghiệp, các nhà đầu tư phải đổi mới cách thức sử dụng nguồn lực, đổi mới cách thức quản lý, v.v… để nâng cao hiệu quả, năng cao năng suất và nâng cao năng lực cạnh tranh. Như vậy, thay đổi thể chế, thay đổi tạo lập hệ thống đòn bẩy phù hợp chính là khởi đầu của quá trình tái cơ cấu kinh tế.

Hình 4.2. Quá trình tái cơ cấu kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng

Nguồn: Kỷ yếu diễn đàn kinh tế mùa xuân (2012)-
Ủy ban Kinh tế của Quốc hội và UNDP tại Việt Nam

Đồng thời, tiến trình tái cơ cấu nền kinh tế diễn ra dưới tác động doanh nghiệp nào mất sức cạnh tranh thì phải tái cơ cấu lại mới có thể tạo lập sức cạnh tranh mới nhằm chiếm lĩnh thị trường và đảm bảo tăng động của: (1) sự chuyển dịch lợi thế so sánh, nhất là lợi thế so sánh động; (2) sự thay đổi của thị trường và; (3) sự thay đổi chi phí sản xuất giữa các quốc gia và doanh nghiệp, làm chuyển dịch sức cạnh tranh giữa các quốc gia cũng như giữa các doanh nghiệp. Nền kinh tế nào, doanh nghiệp nào tạo được lợi thế cạnh tranh mới thì chiếm lĩnh được thị trường đặc biệt là trong điều kiện hội nhập ngày càng sâu rộng. Như vậy, có 2 yếu tố quyết định, thúc đẩy quá trình tái cơ cấu là sự tiến bộ của công nghệ và sự thay đổi của thị trường làm thay đổi chi phí sản xuất trong phạm vi quốc gia cũng như trong từng doanh nghiệp.

4.1.2. Sự cần thiết phải tái cơ cấu kinh tế ở Việt Nam

Những báo cáo nghiên cứu, đánh giá diễn biến kinh tế Việt Nam 2001-2012, và thực trạng kinh tế Việt Nam hiện nay[2] đều thống nhất nhận định về mức độ khó khăn của nền kinh tế Việt Nam và những nguyên nhân của nó. Cụ thể là

Từ năm 2008 đến nay, nền kinh tế nước ta đã và đang trải qua thời kỳ khó khăn; và mức độ khó khăn của năm sau hình như luôn cao hơn năm trước. Năm 2012, tăng trưởng thấp nhất kể từ năm 2000; sản xuất suy giảm; đầu tư phải cắt giảm, năm 2012 chỉ còn 33,5% GDP[3]; lạm phát (tuy đã được kiềm chế) vẫn cao so với trước đây, so với tiêu chuẩn quốc tế; ổn định kinh tế vĩ mô vẫn mong manh; nợ xấu ngân hàng cao, và chưa có phương án xử lý đáng tin cậy; thị trường tín dụng ngưng trệ; thị trường BĐS đóng băng; TTCK suy giảm và đìu hiu; đời sống của dân cư giảm sút; sức khỏe của doanh nghiệp đang giảm sút; nguồn “năng lượng” tích trữ nhiều năm trước 2008 của không ít doanh nghiệp đang cạn dần, số doanh nghiệp giải thể, phá sản và tạm ngừng hoạt động đạt mức cao kỷ lục, niềm tin của nhà đầu tư giảm sút xuống mức thấp nhất kể từ năm 2005.

Bên cạnh nguyên nhân từ bên ngoài, thì theo đánh giá của Nguyễn Đình Cung (2013), thực trạng hiện nay của nền kinh tế nước ta do ba lớp nguyên nhân nội tại. Lớp nguyên nhân trực tiếp chính là chuyển trọng tâm chính sách, thực hiện kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô (thắt chặt tài khóa, thắt chặt tiền tệ và tín dụng, lãi suất cao, hạn chế, khống chế vốn tín dụng cho các ngành nhạy cảm, “phi sản xuất”… Lớp thứ hai chính là các yếu tố buộc chúng ta phải thay đổi trọng tâm chính sách bằng nghị quyết 11/NQ-CP ngày 24 tháng 2 năm 2011 và Kết luận số 02/KL-TW ngày 16 tháng 3 năm 2011…Cụ thể là từ năm 2006 dưới áp lực của đẩy mạnh tăng trưởng, chúng ta đã chú trọng gia tăng đầu tư. Chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ buộc phải mở rộng để hỗ trợ đầu tư và tăng trưởng. Điều đó kết hợp với dòng vốn vào quá mức từ bên ngoài đã làm cho cung tiền tệ trở nên quá mức, và nền kinh tế trở nên tăng trưởng nóng, lạm phát cao và bất ổn lớn về kinh tế vĩ mô.

Lớp nguyên nhân thứ ba, nguyên nhân cơ bản là yếu kém của cơ cấu và lạc hậu của mô hình tăng trưởng với hệ thống thể chế không còn phù hợp, hệ thống khuyến khích thiên về thúc đẩy hành vi “trục lợi địa tô” thay vì đầu tư tạo ra lợi nhuận, nâng cao giá trị gia tăng. Trong bối cảnh đó, đáng lẽ, ngay từ năm 2006-2007, chúng ta phải đổi mới mạnh hơn theo cơ chế thị trường, thay đổi cơ cấu, chuyển đổi mô hình tăng trưởng. Thay vì đổi mới mô hình tăng trưởng, chúng ta đã ưu tiên kích thích tăng trưởng theo mô hình đã không còn phù hợp. Chính điều đó đã làm cho phân bố nguồn lực lực vốn đã sai lệch, kém hiệu quả trở nên sai lệch và kém hiệu quả hơn.

Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới đã ảnh hưởng mạnh đến tăng trưởng ở nước ta. Năm 2007, tăng trưởng GDP của nước ta đạt 7,13%, đến năm 2008 giảm xuống 5,66%, và năm 2013 chỉ tăng tăng khoảng 5,42. Tuy nhiên, tăng trưởng kinh tế ở nước ta chủ yếu tăng do số lượng. Việc tăng trưởng do yếu tố đầu tư vốn chiếm khoảng 57,5%, do yếu tố tăng lao động khoảng 20%. Cả hai yếu tố chiếm khoảng 77,5%, còn yếu tố năng suất và hiệu quả chiếm 22,5%, trong lúc đó các nước trong khu vực, yếu tố năng suất và hiệu quả chiếm 36%-40%. TFP hiện nay còn không đáng kể, chỉ dưới 5%.

Tóm lại, khó khăn của nền kinh tế Việt Nam đã kéo dài nhiều năm; và nền kinh tế mới “cất cánh” không lâu, đã dần mất động lực để “bay” tiếp. Nguyên nhân cơ bản là những yếu kém và lạc hậu của cơ cấu kinh tế; và thể chế hiện hành về phân bố nguồn lực đang làm trầm trọng thêm những yếu kém đó của nền kinh tế. Vì vậy, không ít người lo ngại về khả năng kinh tế nước ta sẽ bước vào thời kỳ suy giảm. Với cách nhìn đó, thì giải pháp cho nền kinh tế nước ta không phải là những tính toán ngắn hạn hàng năm (như cung tiền, tín dụng, đầu tư năm nay là bao nhiêu), cũng không phải là những “gói” cứu một hay thậm chí một số ngành cụ thể,v.v… mà phải là đổi mới căn bản hệ thống động lực khuyến khích huy động và phân bố nguồn lực để nguồn lực được phân bố và sử dụng có hiệu quả hơn, tạo ra lợi nhuận và giá trị gia tăng ngày càng cao. Kinh nghiệm thành công của cải cách trong mấy thập kỷ qua cho thấy điều mong nuốn nói trên sẽ đạt được chỉ khi thị trường và cơ chế thị trường được mở rộng hơn và hoạt động tốt hơn, cạnh tranh thực sự và bình đẳng hơn, mở cửa nhiều hơn và thực chất hơn; cơ hội nhiều hơn cho khu vực tư nhân; doanh nghiệp nhà nước và đầu tư nhà nước giảm về quy mô nhường chỗ cho khu vực tư nhân, nhất là doanh nghiệp vừa và nhỏ; môi trường kinh doanh không nhằm bảo vệ cơ hội kinh doanh và lợi ích một nhóm doanh nghiệp hay một ngành cụ thể mà tạo cơ hội cho bất cứ ai có sáng kiến và dám chấp nhận rủi ro,.v.v…

Trước bối cảnh trên, quyết định tái cơ cấu kinh tế đã được đưa ra nhằm giúp nền kinh tế nước ta vượt qua được những khó khăn trước mắt; đồng thời, kịp thời điều chỉnh cơ cấu để thích ứng với những điều kiện nội tại và khách quan mới và vượt qua những thách thức có thể dự đoán trước trong tương lai để vươn lên vượt bẫy thu nhập trung bình thấp.

4.1.3. Mục tiêu, quan điểm, định hướng tái cơ cấu kinh tế

4.1.3.1. Mục tiêu tổng quát

Thực hiện tái cơ cấu kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo lộ trình và bước đi phù hợp để đến năm 2020 cơ bản hình thành mô hình tăng trưởng kinh tế theo chiều sâu, bảo đảm chất lượng tăng trưởng, nâng cao hiệu quả và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.

4.1.3.2. Mục tiêu cụ thể

a) Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tạo lập hệ thống đòn bẩy khuyến khích hợp lý, ổn định và dài hạn, nhất là ưu đãi về thuế và các biện pháp khuyến khích đầu tư khác, thúc đẩy phân bố và sử dụng nguồn lực xã hội chủ yếu theo cơ chế thị trường vào các ngành, sản phẩm có lợi thế cạnh tranh, nâng cao năng suất lao động, năng suất các yếu tố tổng hợp và năng lực cạnh tranh.

b) Hình thành và phát triển cơ cấu kinh tế hợp lý trên cơ sở cải thiện, nâng cấp trình độ phát triển các ngành, lĩnh vực, vùng kinh tế; phát triển các ngành, lĩnh vực sử dụng công nghệ cao, tạo ra giá trị gia tăng cao từng bước thay thế các ngành công nghệ thấp, giá trị gia tăng thấp để trở thành các ngành kinh tế chủ lực.

c) Từng bước củng cố nội lực của nền kinh tế, chủ động hội nhập quốc tế và củng cố vị thế quốc gia trên trường quốc tế, giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội.

4.1.3.3. Quan điểm tái cơ cấu kinh tế

a) Tiếp tục đổi mới tư duy, phân định rõ vai trò, chức năng của Nhà nước và của thị trường theo hướng giảm thiểu các rào cản, tạo động lực khuyến khích chuyển dịch, phân bổ và sử dụng các yếu tố sản xuất, nhất là vốn và nguồn nhân lực lao động theo tín hiệu của thị trường. Nâng cao năng lực và hiệu lực quản trị quốc gia, phát huy vai trò kiến tạo và hỗ trợ phát triển của Nhà nước thông qua các cơ chế, chính sách, đòn bẩy kinh tế, giảm thiểu sử dụng các biện pháp can thiệp hành chính.

b) Kết hợp hài hòa giữa giải quyết các vấn đề quan trọng, cấp bách với các vấn đề cơ bản, dài hạn, hướng đến mục tiêu phát triển bền vững; ưu tiên mục tiêu trung và dài hạn, chất lượng tăng trưởng; gắn tăng trưởng kinh tế với kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo tồn các giá trị văn hóa dân tộc truyền thống tiêu biểu, bảo vệ và thân thiện với môi trường, phát triển kinh tế xanh, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, củng cố an ninh, quốc phòng.

c) Thúc đẩy phát huy lợi thế cạnh tranh của các ngành, lĩnh vực, vùng kinh tế và của các địa phương; coi trọng và phát huy các lợi thế về nông nghiệp, phát triển mạnh kinh tế dịch vụ, du lịch; hướng đến xây dựng cơ cấu kinh tế với các ngành kinh tế chủ lực làm trọng tâm và phát triển đa dạng các loại hình và ngành, nghề kinh doanh, có khả năng thích ứng với sự thay đổi nhanh chóng của tình hình phát triển kinh tế, xã hội trong nước và ngoài nước theo mục tiêu tăng trưởng kinh tế xanh, ổn định và bền vững.

d) Thực hiện tái cơ cấu kinh tế gắn với cải cách hành chính, nâng cao chất lượng dịch vụ hành chính ở các ngành, các cấp, nhất là các cấp địa phương, cơ sở theo hướng bảo đảm sự chỉ đạo, tập trung, thống nhất, của Trung ương và phát huy sự chủ động, sáng tạo của các cấp địa phương, cơ sở.

đ) Tiếp tục mở cửa, tích cực và chủ động hội nhập quốc tế; thu hút sự hưởng ứng và tham gia tích cực của người dân và các thành phần kinh tế, nhất là khu vực tư nhân trong nước và nước ngoài để huy động tối đa và sử dụng ngày càng hiệu quả hơn các nguồn lực cho phát triển kinh tế – xã hội.

4.1.3.4. Định hướng tái cơ cấu một số lĩnh vực chủ yếu

a) Duy trì môi trường kinh tế vĩ mô thuận lợi, ổn định

– Thực hiện chính sách tiền tệ thận trọng, hiệu quả; sử dụng linh hoạt, hiệu quả các công cụ của chính sách tiền tệ; gắn kết chặt chẽ, đồng bộ với chính sách tài khóa nhằm bảo đảm thực hiện mục tiêu kiềm chế lạm phát, ổn định vĩ mô và bảo đảm tăng trưởng hợp lý, phù hợp với đặc điểm, điều kiện kinh tế – xã hội đất nước trong từng thời kỳ.

– Thực hiện chính sách tài khóa chặt chẽ, hiệu quả, triệt để tiết kiệm. Tập trung thực hiện đồng bộ, hiệu quả các giải pháp thu, chi ngân sách nhà nước theo hướng tăng tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình; bảo đảm cân đối ngân sách nhà nước theo kế hoạch ngân sách nhà nước trung hạn, phù hợp với tình hình kinh tế – xã hội đất nước; giảm dần bội chi ngân sách nhà nước, duy trì tỷ lệ nợ công ở mức hợp lý, bảo đảm lành mạnh hóa tài chính quốc gia.

– Đẩy mạnh xuất khẩu, kiểm soát chặt chẽ các mặt hàng nhập khẩu không khuyến khích, các mặt hàng trong nước đã sản xuất được. Đẩy mạnh phát triển công nghiệp hỗ trợ, công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng trong nước.

– Tăng cường huy động nguồn lực phục vụ cho mục tiêu đầu tư phát triển; các ngành, các cấp chủ động xây dựng, ban hành hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành các cơ chế, chính sách, giải pháp tạo môi trường thuận lợi để tăng cường thu hút và nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn vốn đầu tư.

– Tăng cường kiểm soát giá cả, thị trường; bảo đảm cân đối cung cầu các mặt hàng thiết yếu; theo dõi chặt chẽ diễn biến thị trường trong và ngoài nước, kịp thời áp dụng các biện pháp điều tiết cung cầu, bình ổn thị trường. Thực hiện nhất quán chủ trương quản lý giá theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước đối với điện, than, xăng dầu, dịch vụ công theo lộ trình với mức độ và thời gian điều chỉnh phù hợp để bảo đảm mục tiêu kiểm soát lạm phát.

b) Thực hiện quyết liệt, hiệu quả các trọng tâm tái cơ cấu kinh tế

– Về tái cơ cấu đầu tư, trọng tâm là đầu tư công:

+ Huy động hợp lý các nguồn lực cho đầu tư phát triển, bảo đảm tổng đầu tư xã hội khoảng 30% – 35% GDP, duy trì ở mức hợp lý các cân đối lớn của nền kinh tế như: tiết kiệm, đầu tư và tiêu dùng, ngân sách nhà nước, cán cân thương mại, cán cân thanh toán quốc tế, nợ công và nợ nước ngoài quốc gia,…

+ Duy trì tỷ trọng đầu tư nhà nước hợp lý, khoảng 35% – 40% tổng đầu tư xã hội; hàng năm tăng dần tiết kiệm từ ngân sách nhà nước cho đầu tư; dành khoảng 20% – 25% tổng chi ngân sách cho đầu tư phát triển. Đổi mới cơ bản cơ chế phân bố và quản lý sử dụng vốn, khắc phục tình trạng đầu tư dàn trải, phân tán và lãng phí, nâng cao hiệu quả đầu tư nhà nước.

+ Mở rộng tối đa phạm vi và cơ hội cho đầu tư tư nhân, nhất là tư nhân trong nước. Khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho đầu tư tư nhân vào phát triển hạ tầng, phát triển các ngành, các sản phẩm có lợi thế, có tiềm năng phát triển và các vùng kinh tế động lực.

– Về tái cơ cấu hệ thống tài chính – ngân hàng, trọng tâm là các tổ chức tín dụng

+ Trong giai đoạn 2013 – 2015, tập trung lành mạnh hóa tình trạng tài chính của các tổ chức tín dụng, trước hết tập trung xử lý nợ xấu của cả hệ thống các tổ chức tín dụng và từng tổ chức tín dụng, tập trung phát triển các hoạt động kinh doanh chính, bảo đảm khả năng thanh toán, chi trả và phát triển ổn định, bền vững, tập trung xử lý tình trạng sở hữu chéo và tăng tính minh bạch trong hoạt động của các tổ chức tín dụng.

+ Cơ cấu lại căn bản, triệt để và toàn diện hệ thống các tổ chức tín dụng để đến năm 2020 phát triển được hệ thống các tổ chức tín dụng đa năng theo hướng hiện đại, hoạt động an toàn, hiệu quả vững chắc với cấu trúc đa dạng về sở hữu, quy mô và loại hình, có khả năng cạnh tranh cao hơn và dựa trên nền tảng công nghệ, quản trị ngân hàng tiên tiến phù hợp với thông lệ, chuẩn mực quốc tế về hoạt động ngân hàng nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu về các dịch vụ tài chính, ngân hàng của nền kinh tế. Không để xảy ra đổ vỡ và mất an toàn hoạt động tín dụng, ngân hàng; đảm bảo chi trả đầy đủ và kịp thời cho người gửi tiền; giảm thiểu tổn thất, chi phí xử lý những vấn đề rủi ro phát sinh của hệ thống các tổ chức tín dụng.

+ Nâng cao vai trò, vị trí chi phối, dẫn dắt thị trường của các tổ chức tín dụng Việt Nam, bảo đảm các ngân hàng thương mại nhà nước và các ngân hàng thương mại có cổ phần chi phối của Nhà nước thực sự là lực lượng chủ lực, chủ đạo của hệ thống các tổ chức tín dụng. Phấn đấu đến cuối năm 2015 hình thành được ít nhất từ một đến hai ngân hàng thương mại nhà nước hoặc ngân hàng thương mại có cổ phần chi phối của Nhà nước chi phối đạt trình độ khu vực về quy mô, quản trị, công nghệ và năng lực cạnh tranh.

+ Rà soát, đánh giá, phân loại để có phương án xử lý thích hợp đối với các ngân hàng thương mại cổ phần, công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính và các tổ chức tín dụng khác, tập trung trước hết vào các tổ chức tín dụng yếu kém hoặc vi phạm nghiêm trọng quy định của pháp luật; giám sát chặt chẽ quá trình xây dựng và triển khai thực hiện phương án tái cơ cấu đã được phê duyệt tại các tổ chức tín dụng. Tăng cường các thiết chế an toàn; chấn chỉnh hoạt động quỹ tín dụng nhân dân và các tổ chức tín dụng vi mô, củng cố và xử lý các tổ chức yếu kém; tạo điều kiện thuận lợi để các tổ chức này hoạt động bình thường, tiếp tục phát triển về quy mô, năng lực quản trị điều hành và an toàn thanh khoản. Tạo điều kiện thuận lợi để các tổ chức tín dụng nước ngoài hoạt động và cạnh tranh bình đẳng tại Việt Nam; khuyến khích việc hợp tác, liên kết với các tổ chức tín dụng Việt Nam trong phát triển sản phẩm, đổi mới quản trị, hiện đại hóa ngân hàng và đặc biệt trong việc xử lý những vấn đề khó khăn của các tổ chức tín dụng Việt Nam trong quá trình tái cơ cấu.

– Về tái cơ cấu doanh nghiệp, trọng tâm là các tập đoàn, tổng công ty nhà nước

+ Thực hiện phân loại, sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước, tập trung vào các lĩnh vực chính gồm công nghiệp quốc phòng, các ngành, lĩnh vực công nghiệp độc quyền tự nhiên hoặc cung cấp hàng hóa, dịch vụ thiết yếu và một số ngành công nghiệp nền tảng, công nghệ cao có sức lan tỏa lớn; Đẩy mạnh cổ phần hóa, đa dạng hóa sở hữu các doanh nghiệp nhà nước mà Nhà nước không cần nắm giữ 100% sở hữu. Đối với từng tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước, thực hiện cơ cấu lại danh mục đầu tư và ngành nghề kinh doanh, tập trung vào các ngành nghề kinh doanh chính; đẩy nhanh thực hiện theo nguyên tắc thị trường việc thoái vốn nhà nước đã đầu tư vào các ngành không phải kinh doanh chính hoặc không trực tiếp liên quan đến ngành kinh doanh chính và vốn nhà nước ở các công ty cổ phần mà Nhà nước không cần nắm giữ cổ phần chi phối.

+ Đổi mới, phát triển và tiến tới áp dụng đầy đủ khung quản trị hiện đại theo thông lệ tốt của kinh tế thị trường đối với các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước. Thực hiện nghiêm pháp luật, kỷ cương hành chính nhà nước và kỷ luật thị trường, đổi mới hệ thống đòn bẩy khuyến khích bảo đảm doanh nghiệp nhà nước hoạt động theo cơ chế thị trường và cạnh tranh bình đẳng như các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác.

+ Tiếp tục đẩy mạnh tái cơ cấu, nâng cao chất lượng, hiệu quả, năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp tư nhân; khuyến khích hình thành và phát triển các tập đoàn kinh tế tư nhân có tiềm lực mạnh, có khả năng cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước.

c) Đẩy mạnh tái cơ cấu các ngành sản xuất, dịch vụ, điều chỉnh chiến lược thị trường, tăng nhanh giá trị nội địa, giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh của sản phẩm, của doanh nghiệp và của nền kinh tế

– Tiếp tục chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa; trong nội bộ từng ngành thực hiện chuyển dần từ tiểu ngành, sản phẩm hoặc công đoạn sản xuất sử dụng công nghệ thấp, năng suất thấp và giá trị gia tăng thấp sang tiểu ngành, sản phẩm hoặc công đoạn sản xuất có hàm lượng khoa học công nghệ cao, sử dụng công nghệ sạch, thân thiện với môi trường, có năng suất và giá trị gia tăng cao.

– Khai thác và tận dụng tốt lợi thế của nền nông nghiệp nhiệt đới; xây dựng và phát triển các vùng chuyên canh quy mô lớn theo hình thức trang trại, gia trại, khu nông nghiệp công nghệ cao đạt các tiêu chuẩn quốc tế phổ biến về an toàn vệ sinh thực phẩm; kết nối sản xuất nông nghiệp với công nghiệp chế biến, bảo quản và xuất khẩu, tiêu thụ sản phẩm trên thị trường, với chuỗi giá trị toàn cầu đối với các sản phẩm có lợi thế và khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới như: cà phê, cao su, lúa gạo, cá da trơn, tôm, hạt tiêu, hạt điều, các loại hải sản khác, các loại rau, quả nhiệt đới,… Duy trì quy mô và phương thức sản xuất đa dạng, phù hợp với điều kiện thực tế của từng vùng đối với các sản phẩm, nhóm sản phẩm có nhu cầu nội địa lớn nhưng khả năng cạnh tranh trung bình như các sản phẩm chăn nuôi, đường,…

– Thực hiện tái cơ cấu sản xuất công nghiệp cả theo ngành kinh tế kỹ thuật, vùng và giá trị mới, tăng hàm lượng khoa học công nghệ và tỷ trọng giá trị nội địa trong sản phẩm; chuyển mạnh từ gia công, lắp ráp là chủ yếu sang chế tạo và chế tác, kết nối với mạng sản xuất và chuỗi cung ứng giá trị toàn cầu đối với các ngành, sản phẩm hiện có lợi thế cạnh tranh như chế biến lương thực, thực phẩm, thủy và hải sản, nước giải khát, may mặc, giày da và các sản phẩm da,… Tập trung phát triển một số ngành ưu tiên và công nghiệp hỗ trợ như hóa dầu, điện tử và công nghiệp công nghệ thông tin, luyện kim, cơ khí chế tạo, công nghiệp xanh và năng lượng tái tạo, phụ tùng ô tô, máy nông nghiệp,… để cải thiện và nâng cấp trình độ phát triển của nền kinh tế.

– Đa dạng hóa loại hình dịch vụ và nâng cao trình độ phát triển của các ngành dịch vụ; tập trung phát triển các ngành, sản phẩm dịch vụ có lợi thế cạnh tranh như: dịch vụ thương mại, dịch vụ xây dựng, khách sạn, nhà hàng, du lịch, viễn thông, tài chính – ngân hàng, dịch vụ logistics, giáo dục và đào tạo, chăm sóc y tế, các loại dịch vụ sản xuất nông nghiệp; đồng thời, hình thành một số trung tâm dịch vụ du lịch với sản phẩm du lịch chất lượng cao, có thương hiệu, mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc, có năng lực cạnh tranh tầm khu vực và quốc tế.

– Tiếp tục đa dạng hóa thị trường tiêu thụ trong và ngoài nước; coi trọng và phát triển mạnh thị trường trong nước kết hợp với tăng cường xúc tiến thương mại, mở các thị trường mới (Ấn Độ, các nước Nam Á khác, châu Phi và Trung Đông, Mỹ La-tinh); ưu tiên khai thác và tận dụng tối đa các cơ hội từ các thị trường xuất khẩu trọng điểm, chiến lược (Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc, EU, ASEAN, Úc); tập trung khai thác hiệu quả các thị trường truyền thống (Nga, Đông Âu).

d) Tiếp tục tái cơ cấu, xây dựng và phát triển cơ cấu vùng kinh tế hợp lý

– Phát huy tiềm năng và lợi thế của từng vùng với tầm nhìn dài hạn để thực hiện phân bổ lại các ngành sản xuất, dịch vụ hợp lý, tạo sự khác biệt về cơ cấu kinh tế giữa các địa phương và giữa các vùng.

– Tăng cường phối hợp, bổ sung và kết nối giữa các địa phương trong vùng và giữa các vùng để cùng phát triển khắc phục tình trạng đầu tư trùng lặp, thiếu liên kết giữa các địa phương trong vùng.

– Tiếp tục ưu tiên phát triển vùng kinh tế trọng điểm, tạo động lực lôi kéo và lan tỏa phát triển đến các địa phương trong vùng, đến các vùng khác và cho cả nền kinh tế; lựa chọn và huy động nguồn lực để tập trung phát triển một số khu kinh tế, khu công nghiệp tạo thành các trung tâm kinh tế mạnh về kinh tế biển.

Tóm lại, ba khâu chủ yếu của Tái cơ cấu kinh tế đã được chỉ rõ là Tái cơ cấu đầu tư, trước hết là đầu tư công, Tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước, trước hết là các Tổng công ty và Tập đoàn kinh tế, Tái cơ cấu ngân hàng và các tổ chức tài chính, trước hết là các ngân hàng thương mại. Từng việc đã được giao cho một Bộ chủ trì xây dựng đề án.

4.2. Thực trạng tái cơ cấu nền kinh tế Việt Nam hiện nay

4.2.1.Chính sách liên quan đến tái cơ cấu kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng

Như trên đã nêu, chủ trương tái cơ cấu kinh tế được đưa ra từ tháng 10 năm 2011. Do đó, chuyên đề này tập trung tìm hiểu việc thực hiện tái cơ cấu kinh tế trong vòng một năm (2012 – 2013) kể từ khi bắt đầu triển khai tái cơ cấu kinh tế.

Có thể nói, tái cơ cấu kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng đã thu hút sự quan tâm không chỉ của Đảng, Quốc hội, Chính phủ, mà còn của hầu như tất cả các nhóm và tầng lớp dân cư trong xã hội.

Xét về văn bản chính sách, Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách cả ngắn và dài hạn nhằm định hướng và hỗ trợ việc thực thi tái cơ cấu kinh tế, gồm:

+Nghị quyết số 13/NQ-CP ngày 10 tháng 5 năm 2012 về một số giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường

Nhằm tháo gỡ khó khăn, tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất kinh doanh gắn với hỗ trợ phát triển thị trường nhưng vẫn nhất quán trong việc thực hiện mục tiêu kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội, từng bước thực hiện tái cơ cấu nền kinh tế theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 13/NQ-CP ngày 10/5/2012 về một số giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường.

Nghị quyết số 13/NQ-CP ngày 10/5/2012 của Chính phủ với nhiều giải pháp cụ thể nhằm tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường, như: Gia hạn nộp thuế giá trị gia tăng; Gia hạn nộp thuế thu nhập doanh nghiệp; Giảm tiền thuê đất; Giảm, miễn thuế thu nhập doanh nghiệp; Tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp vay được vốn; Đẩy nhanh thực hiện, giải ngân vốn đầu tư… Đây được coi là chìa khóa tháo gỡ những khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường, tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất kinh doanh phát triển.

Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 7 tháng 1 năm 2013 về những giải pháp chủ yếu chỉ đạo điều hành thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2013, và Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 7 tháng 1 năm 2013 về một số giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường, giải quyết nợ xấu.

Để triển khai Nghị quyết số 01/NQ-CP và Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 7 tháng 1 năm 2013, trong 5 tháng đầu năm 2013, Bộ Tài chính đã xây dựng, trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, ban hành Chỉ thị số 09/CT-TTg ngày 24/5/2013 về việc tăng cường chỉ đạo điều hành thực hiện nhiệm vụ tài chính – NSNN năm 2013, yêu cầu các Bộ, cơ quan Trung ương và địa phương triển khai thực hiện đồng bộ các giải pháp về phát triển kinh tế – xã hội; tăng cường quản lý thu, chống thất thu và xử lý nợ đọng thuế; tăng cường quản lý chi NSNN, bảo đảm chặt chẽ, tiết kiệm và hiệu quả; điều hành ngân sách chủ động, tích cực, bảo đảm cân đối ngân sách các cấp, giữ bội chi NSNN trong phạm vi Quốc hội quyết định. Chỉ thị cũng yêu cầu thực hiện tiết kiệm thêm 10% dự toán chi thường xuyên còn lại của những tháng cuối năm (không bao gồm các khoản chi tiền lương, phụ cấp theo lương, các khoản chi cho con người theo chế độ); tiết kiệm tối thiểu 20% chi phí điện, nước…., và tối thiểu 30% dự toán kinh phí đã phân bổ cho các nhiệm vụ chi tổ chức lễ hội, tiếp khách, đi công tác trong vào ngoài nước.

Tiếp tục triển khai tái cơ cấu thị trường chứng khoán và doanh nghiệp bảo hiểm;Tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách hướng dẫn thực hiện Nghị quyết 02/NQ-CP ngày 07/01/2013 của Chính phủ, trong đó: (i) đã trình Chính phủ ban hành

Nghị định số 54/2013/NĐ-CP ngày 22/5/2013 về bổ sung Nghị định số 75/2011/NĐCP ngày 30/8/2011 của Chính phủ về tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu của Nhà nước; (ii) các đề xuất về giảm thuế GTGT, thuế TNDN nêu trong Nghị quyết 02/NQCP ngày 07/01/2013 của Chính phủ đã được đưa vào dự thảo Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật thuế GTGT và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế TNDN để Quốc hội xem xét quyết định tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa XIII.

 Quyết định số 704/QĐ-TTg ngày 11 tháng 6 năm 2012 phê duyệt Đề án hoàn thiện quản trị doanh nghiệp theo thông lệ thị trường

Trong đó, có các nội dung về đổi mới công tác quản lý nhà nước, cải thiện quản trị doanh nghiệp; quy chế công bố thông tin về hoạt động của các công ty TNHH một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu, trọng tâm là công ty mẹ của các TĐ kinh tế, TCT nhà nước. Nhiệm vụ của Đề án là: Hoàn thiện cơ chế, chính sách và quy định pháp luật về quản trị doanh nghiệp; hướng tới áp dụng thông lệ quốc tế về quản trị doanh nghiệp trong điều kiện thực tế ở Việt Nam; cải thiện lòng tin của các nhà đầu tư; tăng cường bảo vệ lợi ích của các chủ sở hữu, nhà đầu tư và bên có liên quan, trong đó có chủ sở hữu nhà nước, nhà đầu tư nhỏ và người lao động trong doanh nghiệp.

Để thực hiện các mục tiêu và nhiệm vụ nêu trên, Đề án đưa ra 04 giải pháp cơ bản cần thực hiện: Thứ nhất, thống nhất nhận thức về quản trị doanh nghiệp; Giải pháp thứ hai là tiếp tục hoàn thiện cơ chế công bố thông tin về quản trị doanh nghiệp; Giải pháp tiếp theo là tiếp tục hoàn thiện khung pháp luật về quản trị doanh nghiệp; Giải pháp cuối cùng là tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế hỗ trợ cải thiện quản trị doanh nghiệp có hiệu quả.

Đồng thời, phân định rõ chức năng quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp và chức năng cung cấp dịch vụ công trong các cơ quan quản lý nhà nước ở trung ương và địa phương. Triển khai việc tách bạch bộ máy, nhân sự thực hiện nhiệm vụ cung cấp dịch vụ công cho doanh nghiệp để tiến tới hình thành các đơn vị sự nghiệp, dịch vụ tự chủ, tự chịu trách nhiệm.

Đặc biệt, nâng cao tính chuyên nghiệp của các nhà đầu tư, các chủ sở hữu, trước hết là chủ sở hữu nhà nước.Tách chức năng chủ sở hữu nhà nước với chức năng quản lý hành chính nhà nước của các cơ quan nhà nước. Tiếp tục nghiên cứu, đề xuất đổi mới mô hình tổ chức thực hiện quyền chủ sở hữu nhà nước theo thông lệ kinh tế thị trường phù hợp với đặc thù phát triển kinh tế, xã hội ở nước ta trên nguyên tắc xác định rõ cơ quan đầu mối thực hiện các quyền chủ sở hữu nhà nước và không thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nước đối với các doanh nghiệp.

Sớm hoàn chỉnh và thực hiện kế hoạch, lộ trình tái cơ cấu khu vực doanh nghiệp nhà nước; chuyển toàn bộ các doanh nghiệp nhà nước hoạt động kinh doanh thuần túy sang hình thức công ty cổ phần.

Quyết định số 929/QĐ-TTg ngày 17 tháng 7 năm 2012 phê duyệt Đề án tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước, trọng tâm là tập đoàn, tổng công ty nhà nước giai đoạn 2012-2015.

Theo Đề án, DN 100% vốn nhà nước sẽ được phân loại theo 3 nhóm cụ thể:

– Nhóm thứ nhất: DNNN nắm giữ 100% vốn điều lệ trong các lĩnh vực độc quyền nhà nước, quốc phòng, an ninh; xuất bản; thủy nông; bảo đảm an toàn giao thông; xổ số kiến thiết; sản xuất, phân phối điện quy mô lớn đa mục tiêu có ý nghĩa đặc biệt quan trọng về kinh tế – xã hội gắn với quốc phòng, an ninh; quản lý, khai thác hệ thống kết cấu hạ tầng đường sắt quốc gia, đô thị; các cảng hàng không; cảng biển loại I; in, đúc tiền.

– Nhóm thứ hai: DN cổ phần hóa mà Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ hoạt động trong các ngành, lĩnh vực theo quy định tại Quyết định số 14/2011/QĐ-TTg ngày 4/3/2011 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành tiêu chí, danh mục phân loại DNNN.

– Nhóm thứ ba: Các DNNN thua lỗ kéo dài, không có khả năng khắc phục sẽ thực hiện bán, chuyển nhượng doanh nghiệp; tái cơ cấu lại nợ để chuyển thành công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn nhiều thành viên; giải thể, phá sản.

Bên cạnh đó, Chính phủ cũng xác định việc sắp xếp, cổ phần DN là một nhiệm vụ trọng tâm trong giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2015. Một trong các giải pháp mà Đề án đưa ra là khẩn trương hoàn thành phê duyệt phương án sắp xếp, đổi mới DNNN đến năm 2015 của các Bộ, ngành, địa phương, tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước. Xác định số lượng, danh sách cụ thể các DNNN nắm giữ 100%, nắm giữ trên 75%, nắm giữ từ 65% đến 75%, nắm giữ từ trên 50% đến dưới 65% vốn điều lệ và các DN khác. Trong quá trình thực hiện, căn cứ tình hình thực tế, tiếp tục rà soát để đẩy mạnh cổ phần hóa. Đồng thời, hoàn thiện tiêu chí, danh mục phân loại DN theo hướng đẩy mạnh đa dạng hóa sở hữu; xác định rõ những ngành, lĩnh vực khi cổ phần hóa DNNN nằm giữ trên 75%, từ 65% đến 75%, dưới 65% vốn điều lệ hoặc không giữ cổ phần. Đẩy mạnh thực hiện cho được mục tiêu sắp xếp, cổ phần hóa DN theo các phương án đã được phê duyệt; coi đây là nhiệm vụ trọng tâm trong các năm 2012 – 2015.

Ngoài ra, Chính phủ cũng chỉ đạo chấm dứt đầu tư ra ngoài ngành trước năm 2015: Rà soát, xác định lại nhiệm vụ, ngành nghề kinh doanh chính; Xây dựng chiến lược phát triển đến năm 2015, tầm nhìn đến 2020 phù hợp chiến lược phát triển ngành, nhu cầu của thị trường, khả năng về vốn và năng lực trình độ quản lý; Xây dựng phương án tổ chức lại sản xuất kinh doanh, triển khai tái cơ cấu các doanh nghiệp,.. Xây dựng phương án tài chính để triển khai thực hiện nhiệm vụ chính được giao và xử lý các tồn tại về tài chính trong quá trình tái cơ cấu; Đẩy mạnh liên kết giữa các DN thành viên trong tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước; Áp dụng các nguyên tắc quản trị DN theo thông lệ quản trị DN quốc tế; hoàn thiện cơ chế kiểm soát, kiểm toán nội bộ; Tích cực triển khai nghiên cứu ứng dụng, đầu tư cho đổi mới công nghệ, đổi mới sản phẩm, dịch vụ, từng bước nâng cao giá trị gia tăng cho sản phẩm, dịch vụ; Thực hiện công khai, minh bạch trong đầu tư, quản lý tài chính, mua sắm, phân phối thu nhập, công tác cán bộ; Mặt khác, phải xây dựng phương án tài chính để triển khai thực hiện nhiệm vụ chính được giao và xử lý các tồn tại về tài chính trong quá trình tái cơ cấu… Kiên quyết sắp xếp, cơ cấu lại hoặc giải thể, phá sản những DN hoạt động không hiệu quả, thua lỗ kéo dài, mất khả năng thanh toán nợ đến hạn theo quy định.

Đề án cũng nhấn mạnh, các bộ, ngành, địa phương và từng DN tiếp tục quán triệt sâu sắc các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả DNNN theo các Nghị quyết của Trung ương Đảng và Kết luận của Bộ Chính trị, tạo sự nhất trí cao trong toàn hệ thống chính trị để nâng cao hơn nữa nhận thức và có hành động quyết liệt, cụ thể trong thực hiện.

Quyết định 339/QĐ-TTg ngày 19 tháng 2 năm 2013 Phê duyệt Đề án tổng thể tái cơ cấu kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh giai đoạn 2013-2020.

Đây là chủ trương của Đề án tổng thể cơ cấu kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh giai đoạn 2013 – 2020, được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 339/QĐTTg ngày 19/02/2013. Cụ thể, trong mục tiêu tái cơ cấu đầu tư, trọng tâm là đầu tư tư công, Đề án chủ trương mỗi năm dành khoảng 20% – 25% tổng chi ngân sách cho đầu tư phát triển; duy trì tỷ trọng đầu tư Nhà nước hợp lý, khoảng 35% – 40% tổng đầu tư xã hội; huy động hợp lý các nguồn lực cho đầu tư phát triển, bảo đảm tổng đầu tư xã hội khoảng 30% – 35% GDP; duy trì ở mức hợp lý các cân đối của nền kinh tế như: tiết kiệm, đầu tư và tiêu dùng, ngân sách Nhà nước… Mở rộng tối đa phạm vi và cơ hội cho đầu tư tư nhân, nhất là tư nhân trong nước, khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi đầu tư vào phát triển hạ tầng…

Bên cạnh đó, nhằm tái cơ cấu hệ thống tài chính – ngân hàng, Đề án đề ra mục tiêu đến cuối năm 2015 hình thành được ít nhất từ 1 – 2 ngân hàng thương mại Nhà nước hoặc ngân hàng thương mại có cổ phần chi phối của Nhà nước đạt trình độ khu vực về quy mô, quản trị, công nghệ và năng lực cạnh tranh. Đến năm, 2020, phát triển được hệ thống các tổ chức tín dụng đa năng theo hướng hiện đại, hoạt động an toàn, hiệu quả vững chắc với cấu trúc đa dạng…

Chỉ thị số 11/CT-TTg về một số nhiệm vụ triển khai trong ba năm 2013-2015 nhằm thực hiện Đề án tổng thể tái cơ cấu kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh giai đoạn 2013-2020

Tiếp theo những chủ trương, chính sách nêu trên, ngày 19/6/2013, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã ban hành Chỉ thị số 11/CT-TTg về một số nhiệm vụ triển khai trong ba năm 2013-2015 nhằm thực hiện Đề án tổng thể tái cơ cấu kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh giai đoạn 2013 – 2020.

Cùng với đề án tái cơ cấu, Thủ tướng cũng yêu cầu xây dựng dự thảo đề án thành lập cơ quan chuyên trách thực hiện quyền chủ sở hữu tại doanh nghiệp và đề án tách chức năng đại diện chủ sở hữu và chức năng quản lý nhà nước của các cơ quan quản lý nhà nước. Đến quý 4/2013, các bộ ngành, địa phương và các tập đoàn, tổng công ty nhà nước phải hoàn thành đề án tái cơ cấu ngành, lĩnh vực thuộc trách nhiệm của mình. Đó là một trong những nội dung của chỉ thị về triển khai đề án tái cơ cấu kinh tế, vừa được Thủ tướng Chính phủ ký ban hành. Theo đó, người đứng đầu Chính phủ phân công các bộ, ngành, địa phương, các tập đoàn, tổng công ty nhà nước triển khai một số nhiệm vụ trong ba năm 2013 – 2015 nhằm thực hiện đề án tổng thể tái cơ cấu kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh giai đoạn 2013 – 2020.

4.2.2. Kết quả và những vấn đề đặt ra trong quá trình tái cơ cấu kinh tế

Các nội dung và giải pháp tương ứng của tái cơ cấu kinh tế được ban hành, thực hiện ở các thời điểm khác nhau; và vì vậy, những kết quả đạt được cũng rất khác nhau. Cho đến nay, đánh giá và bàn thảo nói chung chủ yếu tập trung vào ba nhiệm vụ trọng tâm của tái cơ cấu kinh tế.

4.2.2.1. Tái cơ cấu đầu tư, trọng tâm là đầu tư công

Nội dung cơ bản của tái cơ cấu đầu tư giai đoạn 2013-2020 là huy động khoảng 30% – 35% GDP cho đầu tư phát triển, duy trì ở mức hợp lý các cân đối lớn của nền kinh tế[4]; đầu tư nhà nước chiểm khoảng 35% – 40% tổng đầu tư xã hội; tăng dần tiết kiệm từ ngân sách nhà nước, dành khoảng 20% – 25% tổng chi ngân sách cho đầu tư phát triển; đổi mới cơ bản cơ chế phân bố và quản lý sử dụng vốn, khắc phục tình trạng đầu tư dàn trải, phân tán và lãng phí, nâng cao hiệu quả đầu tư nhà nước; mở rộng tối đa phạm vi và cơ hội cho đầu tư tư nhân, nhất là tư nhân trong nước. Ý tưởng cơ bản là giảm đầu tư nhà nước, tăng đầu tư tư nhân, nâng cao hiệu quả đầu tư nói chung và đầu tư nhà nước nói riêng, đặt đầu tư xã hội trong mối quan hệ cân đối với các biến số cơ bản khác của nền kinh tế.

Kết quả đạt được khá rõ nét, theo đánh giá của Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH&ĐT), nếu như giai đoạn 2006 – 2010, vốn đầu tư toàn xã hội luôn ở mức cao (trung bình 39,2%) thì đến thời kỳ 2011 – 2013 con số này chỉ còn 30,6%. Nguyên nhân là do tác động của khủng hoảng kinh tế thế giới, kinh tế trong nước gặp khó khăn, Chính phủ phải cắt giảm đầu tư để đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô, nên tăng trưởng đầu tư toàn xã hội chậm lại và đã giảm từ 33,3% năm 2011 xuống còn 30,5% năm 2012 và 29,1%/GDP năm 2013.

Đồng thời, tín dụng ngân hàng cho nền kinh tế đã giảm từ 136% GDP năm 2010 xuống còn 121% năm 2011 và 108% năm 2012. Tính theo giá so sánh, số vốn đầu tư nhà nước không tăng trong ba năm gần đây; tỷ trọng đầu tư nhà nước trong tổng đầu tư xã hội giảm từ 51,8% thời kỳ 2001-2005, xuống còn khoảng 39% thời kỳ 2006-2010 , 37,4% trong 2 năm 2011-2012 và khoảng 37% trong 9 tháng đầu năm 2013. Đã đình hoãn, cắt giảm số lượng lớn dự án đầu tư; phân bố vốn nhờ đó cũng đã tập trung hơn; ý thức trách nhiệm và kỷ cương nhà nước trong trong quản lý đầu tư công bước đầu được cải thiện. Tóm lại, kết quả chủ yếu trong hai năm qua trong tái đầu tư là giảm tỷ trọng đầu tư/GDP; bước đầu đổi mới cơ chế quản lý vốn đầu tư nhà nước, nhờ đó, khắc phục một bước đầu tư dàn trải, phân tán, kém hiệu quả đã tồn tại từ nhiều năm.

Một số vấn đề trong tái cơ cấu đầu tư công

Việc tái cơ cấu đầu tư công trong mấy năm qua về cơ bản mang tính tình huống, ngắn hạn; chủ yếu xử lý thực trạng quyết định đầu tư vượt quá khả năng cân đối vốn, đầu tư dàn trải, phân tán, thiếu đồng bộ (đã tồn tại nhiều năm) hơn là thiết lập một thể chế mới để quản lý vốn đầu tư nhà nước và một hệ thống động lợi mới thúc đẩy các bộ, địa phương, các tổ chức, cá nhân có liên quan nâng cao hiệu quả trong quản lý và sử dụng vốn đầu tư nhà nước. Chỉ thỉ 1792/CT-TTg ngày 15 tháng 10 năm 2011 chủ yếu là để giải quyết các vấn đề của quá khứ hơn là tạo khung khổ pháp lý để nâng cao hiệu lực quản lý và hiệu quả sử dụng vốn đầu tư nhà nước trong tương lại.

Trong khi thể chế mới cho quản lý phân bố và sử dụng vốn đầu tư nhà nước chưa được thiết lập, thì có không ít dấu hiệu cho thấy nguy cơ nới lỏng chính sách tài khóa, gia tăng vốn đầu tư nhà nước và từng bước khôi phục lại đầu tư dàn trải, phân tán và kém hiệu quả là rất lớn. Các dấu hiệu đó là:

Hiện nay trước tình trạng suy giảm liên tục của nền kinh tế, trong hai năm vừa qua không ít ý kiến cho rằng cần mở rộng đầu tư nhà nước, tăng cầu khu vực nhà nước, thay thế cho cầu tư nhân đang suy yếu. Thực tế điều hành kinh tế vĩ mô của Chính phủ cỏ vẻ như đang có phần thiên về ý kiến loại này.

Thực hiện Chỉ thị 1792/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ, số vốn đầu tư nhà nước đã cắt giảm mạnh, hàng nghìn dự án đầu tư nhà nước đã bị đình hoãn hoặc hủy bỏ; trong đó, có nhiều trăm dự án dở dang. Có ý kiến cho rằng, cắt giảm đầu tư nhà nước quá mạnh đã gây “shock”cho nền kinh tế, là một trong các nguyên nhân làm suy giảm cầu, suy giảm kinh tế; hàng trăm dự án dở dang, không có vốn để hoàn thành gây nhiều lãng phí cho xã hội. Ý kiến loại này cũng gây nên áp lực cho chính phủ phải gia tăng chi tiêu đầu tư, ít nhất là để hoàn thành các dự án được coi là dở dang, nếu không hoàn thành sẽ gây lãng phí cho xã hội. Trên thực tế, một phần vốn trái phiếu chính phủ dự định phát hành thêm có thể sẽ phân bố để thực hiện các dự án dở dang loại này. Trên thực tế, phân bố vốn đầu tư từ ngân sách và vốn trái phiếu chính phủ theo khung khổ kế hoạch đầu tư trung hạn về cơ bản đã bị thay đổi.

Tính đến cuối năm 2013, ước các địa phương nợ xây dựng cơ bản đến khoảng 91 ngàn tỷ đồng; và có thể rồi Chính phủ trung ương sẽ phải chi trả, hoặc ít nhất sẽ cho phép chính quyền địa phương huy động trái phiếu để xử lý. Điều này có nghĩa là vốn huy động sẽ tiếp tục dàng để xử lý vấn đề quá khứ, thanh toán cho một phần không nhỏ các dự án còn dở dang, hoặc đẫ hoàn thành nhưng kém hiệu quả.

Cuối cùng, thể chế hành chính chia cắt, phân tán theo địa giới hành chính với mỗi tỉnh, thành phố như một nền kinh tế, thì nguy cơ tái diễn đầu tư phân tán, dàn trải và kém hiệu quả vẫn rất lớn. Hiện tượng đầu tư theo phong trào sẽ vẫn tiếp diễn. Ví dụ, ngay trong những năm suy giảm kinh tế, cắt giảm đầu tư công, tái cơ cấu kinh tế, thì vẫn có thêm hai sân bay “cấp tỉnh”được bổ sung vào quy hoạch hoặc khai trương hoạt động.

Tóm lại, trong khi cơ chế mới về quản lý đầu tư nhà nước chưa hình thành, thì thực tiễn quản lý kiểu cũ đang quay lại, có vẻ đang ngày mạnh thêm, nguy cơ gia tăng thêm đầu tư nhà nước, khôi phục lại tình trạng đầu tư dàn trải, phân tán, kém hiệu quả là rất lớn. Như vậy, quá trình tái cơ cấu đầu tư nói chung và đầu tư công nói riêng có nguy cơ bị ngưng trệ.

4.2.2.2. Tái cơ cấu DNNN, trọng tâm là tập đoàn, tổng công ty nhà nước

Về tái cơ cấu DNNN, trọng tâm là tổng công ty, tập đoàn kinh tế nhà nước, Đề án tổng thể đã xác định một số nội dung cơ bản, bao gồm:

  • Định vị lại vai trò và thu hẹp phạm vị kinh doanh của DNNN3.
  • Đẩy mạnh cổ phần hóa, đa dạng hóa sở hữu các doanh nghiệp nhà nước mà Nhà nước không cần nắm giữ 100% sở hữu. Đối với từng tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước, thực hiện cơ cấu lại danh mục đầu tư và ngành nghề kinh doanh, tập trung vào các ngành nghề kinh doanh chính; đẩy nhanh thực hiện theo nguyên tắc thị trường việc thoái vốn nhà nước đã đầu tư vào các ngành không phải kinh doanh chính hoặc không trực tiếp liên quan đến ngành kinh doanh chính và vốn nhà nước ở các công ty cổ phần mà Nhà nước không cần nắm giữ cổ phần chi phối.
  • Đổi mới, phát triển và tiến tới áp dụng đầy đủ khung quản trị hiện đại theo thông lệ tốt của kinh tế thị trường đối với các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước.
  • Thực hiện nghiêm pháp luật, kỷ cương hành chính nhà nước và kỷ luật thị trường, đổi mới hệ thống đòn bẩy khuyến khích bảo đảm doanh nghiệp nhà nước hoạt động theo cơ chế thị trường và cạnh tranh bình đẳng như các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác.

Trong giai đoạn qua, kết quả đạt được trong tái cơ cấu DNNN thường được nhắc đến bao gồm:

Chính phủ đã ban hành và triển khai thực hiện 05 Nghị địnhvề đổi mới cơ chế quản lý DNNN, trong đó, Nghị định số 99/2012/NĐ-CP về phân công, phân cấp thực hiện quyền, trách nhiệm, nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà nước đối với DNNN và vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp.

Đã phê duyệt được Đề án tái cơ cấu đối với (68) tập đoàn, tổng công ty; đã phê duyệt hầu như toàn bộ phương án sắp xếp đổi mới doanh nghiệp của các Bộ, ngành và địa phương. Tức là, về cơ bản đã hoàn thành phê duyệt phương án sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp giai đoạn 2011-2015 trên phạm vi toàn quốc. Phần lớn các tập đoàn, tổng công ty đã rà soát, phân loại và xác định danh mục ngành nghề, phạm vi kinh doanh chính, ngành nghề có liên quan và ngành nghề không liên quan. Trên cơ sở đó, đã xác định được các khoản mục đầu tư cần phải thoái vốn, kế hoạch thoái các khoản vốn đầu tư ngoài ngành; tiến hành phân loại các đơn vị trực thuộc, đơn vị thành viên[5]. Ngoài ra, một số tập đoàn, tổng công ty đã ban hành mới, bổ sung sửa đổi các quy chế quản lý nội bộ; cơ cấu lại tổ chức, bộ máy và sắp xếp lại cán bộ,.v.v…Thực hiện các nội dung tái cơ cấu DNNN, như xác định tại Đề án, là một quá trình lâu dài. Tuy vây, so sánh thực tế đạt được và định hướng tái cơ cấu nói trên, ta thấy các giải pháp đang thực hiện (được coi là kết quả của tái cơ cấu) chưa thật bám sát nội dung và yêu cầu của tái cơ cấu DNNN. Cụ thể là:

+ Tiến trình cổ phần hóa đang hết sức chậm; Từ năm 2011 đến hết năm 2013, cả nước đã sắp xếp được 180 doanh nghiệp, trong đó cổ phần hóa 99 doanh nghiệp và bằng các hình thức khác 81 doanh nghiệp. Kế hoạch năm 2014-2015 đề ra mục tiêu cổ phần hóa 432 doanh nghiệp. Năm 2014 đã tái cơ cấu được 167 doanh nghiệp, trong đó cổ phần hóa 143 doanh nghiệp. Đã thoái vốn được trên 6.000 tỷ đồng, gấp hơn 6 lần so với năm 2013.

+ Việc thoái vốn đầu tư ngoài ngành đang gặp nhiều khó khăn. Nếu không có thay đổi về tư duy, cách tiếp cận và có những giải pháp kỷ thuật phù hợp, tương ứng, thì khó hoàn thành trước năm 2015 như Nghị quyết TW3 đã xác định. Theo phản ánh của các tập đoàn, tổng công ty, thì bên cạnh những diễn biến bất lợi của thị trường vốn và thị trường bất động sản, thực tế nói trên còn do một số nguyên nhân sau đây:

+ Tư duy, tiêu chí và cách thức thực hiện bảo toàn và phát triển vốn chưa phù hợp với cơ chế thị trường.

+ Một số phương thức bảo toàn vốn theo quy định hiện hànhcòn hình thức và thiếu linh hoạt, làm tăng chi phí hoạt động của doanh nghiệp; chưa thật sự thúc đẩy doanh nghiệp đổi mới công nghệ, kinh doanh sáng tạo và cẩn trọng để bảo toàn vốn và phát triển vốn.

+ “Vốn” phải thoái của các DNNN là rất đa dạng; việc thoái vốn không chỉ là chuyển nhượng cổ phần, phần góp vốn, mà cả bán tài sản (thành phần và bán thành phẩm), chuyển nhượng quyền sử dụng đất, chuyển nhượng dự án,.v.v… Trong khi đó, các quy định hiện hành về thoái vốn nằm phân tán ở nhiều văn bản pháp luật khác nhau; nội dung của các quy định đó chưa bao quát hết sự đa dạng của các loại vốn cần thoái, và không còn phù hợp với điều kiện thị trường, yêu cầu của Quyết định 339/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Mặc dầu Thủ tướng Chính phủ đã tuyên bố từ nhiều năm nay, nhưng việc áp đặt đầy đủ nguyên tắc và kỷ luật thị trường đối với các tập đoàn, tổng công ty nhà nước hầu như chưa có chuyển biến, kể cả trong tư duy, quan niệm và hành động chính sách.

+ Quan niệm về vai trò và chức năng của DNNN nói chung và tập đoàn, tổng công ty nhà nước nói riêng vẫn không thay đổi. Cụ thể là, DNNN vẫn được sử dụng làm công cụ, là lực lượng vật chất để nhà nước điều tiết thị trường, điều tiết nền kinh tế. Quan niệm và cách làm này không phù hợp với vai trò nhà nước nói cung và doanh nghiệp nhà nước nói riêng trong nền kinh tế.

Nhà nước, thị trường và doanh nghiệp là ba “lực lượng chính” trong thể chế kinh tế thị trường. Về quan hệ ba bên nói trên, Nhà nước điều tiết doanh nghiệp trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua thị trường. động đến doanh nghiệp theo cơ chế thị trường thông qua giá cả và cạnh tranh thị trường. Đối với các trường hợp mà thị trường không phát huy tác dụng, thì nhà nước trực tiếp áp đặt các điều kiện vì lợi ích cộng đồng và trực tiếp thực hiện các biện pháp để thực thi các điều kiện đó. Bảo vệ môi trường, an toàn vệ sịnh thực phẩm,.v.v… là những trường hợp điển hình của quan hệ nhà nước và doanh nghiệp thuộc loại này.

Trong quan hệ giữa doanh nghiệp và thị trường, thì Nhà nước có trách nhiệm giám sát các doanh nghiệp độc quyền, thống lĩnh thị trường để các doanh nghiệp này không lạm dụng vị thế của họ làm hại đến cạnh tranh lành mạnh của thị trường mà trục lợi. Nói cách khác, nhà nước không sử dụng doanh nghiệp để điều tiết thị trường, mà ngược lại phải quản lý, giám sát và ngăn ngừa doanh nghiệp lạm dụng vị thế của mình để tác động, làm méo mó, sai lệch tín hiệu thị trường. Như vậy, việc nhà nước sử dụng doanh nghiệp nhà nước để điều tiết thị trường là không phù hợp với nguyên tắc thị trường. Trong trường hợp này, không phải thị trường áp đặt “luật chơi”cho doanh nghiệp, mà trái lại doanh nghiệp đang áp đặt “luật chơi”lên thị trường; gây méo mó và bất bình đẳng với các chủ thể khác của thị trường.

+ DNNN chưa áp dụng đầy đủ nguyên tắc và kỷ luật thị trường một phần do những rào cản thể chế, bảo vệ vị thế và lợi ích của DNNN và các bên có liên quan, ngăn cản gia nhập thị trường đối với các thành phần kinh tế khác. Về chủ trương phát triển kinh tế nhà nước, thì DNNN phải giữ vai trò chi phối trong các ngành, nghề quan trọng của nền kinh tế; và các tập đoàn, tổng công ty được thành lập là để hiện thực hóa chủ trương nói trên. Để thực hiện vai trò chi phối, các tập đoàn, tổng công ty ngành được tạo điều kiệnđể giữ độc quyền hoặc giữ vị trí thống lĩnh thị trường của ngành đó. Từ đó, phần lớn các cơ hội đầu tư, kinh doanh của trong ngành đều bị tổng công ty, tập đoàn có liên quan chi phối. Các tập đoàn, tổng công ty loại này luôn được chọn là người “tháng cuộc”, không phải đối mặt với cạnh tranh trên thị trường nội địa.

+ DNNN chưa áp dụng đầy đủ nguyên tắc và kỷ luật thị trường còn do cơ chế quản lý hiện hành của nhà nước đối với DNNN. Các cơ quan nhà nước còn tiếp tục can thiệp theo phương thức hành chính, phi thị trườngvào hoạt động kinh doanh và quản lý doanh nghiệp, từ quyết định đầu tư, tổ chức kinh doanh, lựa chọn cán bộ quản lý và tuyền dụng nhân công, tiền lương và tiền thưởng, thanh tra, giám sát và đánh giá,.v..v… Ngoài ra, các doanh nghiệp nhà nước còn được giao thực hiện nhiệm vụ chính trị, xã hội mà không được hạch toán riêng, hạch toán đầy đủ chi phí theo giá thị trường. Các quyết định loại này cũng đang thực sự cản trở DNNN hoạt động theo cơ chế thị trường; đang là lực cản lớn đối với việc phát huy tính tự chủ, năng động, sáng tạo của doanh nghiệp nhà nước. Đây là một bất lợi của DNNN so với các doanh nghiệp khác.

+ Chưa áp dụng đầy đủ nguyên tắc và thực tiễn quản trị tốt đối với DNNN, tập đoàn, tổng công ty nhà nước.

4.2.2.3. Tái cơ cấu hệ thống tài chính ngân hàng

Nhiệm vụ tái cơ cấu hệ thống tài chính, ngân hàng gồm 2 nội dung chính là (i) tái cơ cấu ngân hàng thương mại; (ii) tái cơ cấu thị trường chúng khoán và các công ty bảo hiểm trong đó trọng tâm là tái cơ cấu các ngân hàng thương mại.

Tái cơ cấu các ngân hàng thương mại được xác định và phân chia thành 3 giai đoạn chính, bao gồm tuần tự (i) tái cơ cấu các ngân hàng thương mại yếu kém, xử lý nợ xấu và tái cơ cấu toàn diện tất cả các ngân hàng thương mại. Đã đạt được một số kết quả như đảm bảo được thanh khoản, an toàn của hệ thống đã được kiểm soát; nguy cơ gây đổ vỡ, mất an toàn hệ thống đã được đẩy lùi; (ii) các ngân hàng yếu kém đang được tái cơ cấu theo phương án đã được phê duyệt; ( iii ) đề án xử lý nợ xấu đã được phê duyệt; nghị định về công ty quản lý tài sản đã được ban hành, công ty quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng (VAMC) đã được thành lập và chính thức đi vào hoạt động; đã bắt đầu khởi động việc mua lại nợ của các tổ chức tín dụng,.v.v…

Theo Thông tư số 36/2014/TT-NHNN có hiệu lực từ ngày 01/02/2015 quy định các ngân hàng phải thoái vốn về mức quy định sẽ thúc đẩy làn sóng mua lại và sáp nhập ngành ngân hàng trong năm 2015. NHNN cho biết, trong năm 2015, sẽ có khoảng 6 thương vụ sáp nhập, hợp nhất trong năm 2015 để thu hẹp hệ thống ngân hàng chỉ còn khoảng 20 NHTM. Các ngân hàng gặp khó khăn, không giải quyết được các vấn đề như sở hữu chéo sẽ bị bắt buộc bán lại cho NHNN thay vì sáp nhập vào các ngân hàng có tình hình hoạt động tốt.

Các thương vụ M&A này có thể bao gồm: BIDV – MHB, SouthernBank – Sacombank, NH Phát triển Mê Kông – NH Hàng Hải, GPBank – LienViet Postbank, Nam Á – Eximbank. Năm 2015, Ngân hàng nhà nước cũng đã thực hiện mua lại 0 đồng với GP Bank và ngân hàng Đại Dương (đây là một hình thức quốc hữu hóa) như Ngân hàng Xây dựng Việt Nam và giao cho các NHTM nhà nước tham gia quản lý, điều hành.

NHNN đã chấp thuận về việc chấp thuận NH Phát triển Mê Kông (có vốn điều lệ 3.700 tỷ VND) sáp nhập vào ngân hàng Hàng Hải Việt Nam (có vốn điều lệ 8.000 tỷ VND) từ ngày 18/03/2015 theo văn bản số 1607/NHNN – TTGSNH. Như vậy, sau khi sáp nhập, ngân hàng này sẽ nằm trong 10 NHTM lớn nhất Việt Nam về vốn điều lệ. Việc sáp nhập 2 ngân hàng này được cho là cần thiết vì sẽ giúp hai ngân hàng giải quyết vấn đề sở hữu chéo cũng như đẩy nhanh tiến trình hợp nhất ngành ngân hàng của NHNN. Trước khi sáp nhập, NH Hàng Hải Việt Nam sở hữu 10,2% cổ phần NH Phát triển Mê Kông. NHNN cũng đã xử lý triệt để vụ sáp nhập Ngân hàng Sacombank và Ngân hàng Phương Nam và thực hiện việc kiểm soát đặc biệt NH Đông A. Có thể sẽ còn những thương vụ mua bán và sáp nhập khác sẽ được thực hiện trong năm 2015-2016.

Việc xử lý nợ xấu của hệ thống ngân hàng có tín hiệu tích cực hơn, khi một mặt NHNN cấp hạn mức 80000 tỷ trái phiếu đặc biệt cho VAMC kỳ hạn 5 năm, để mua lại nợ xấu của TCTD. Đồng thời cơ quan này cũng đã trình Chính phủ phê duyệt những bổ sung, điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của VAMC để tạo điều kiện xử lý thuận lợi hơn khối nợ xấu mua được, nhằm đạt mục tiêu đưa nợ xấu xuống dưới 3% trong 2015.

Về tái cơ cấu thị trường chứng khoán và các công ty bảo hiểm, ngày 06/12/2012, Thủ tướng đã có Quyết định số 1826/QĐ-TTgphê duyệt đề án Tái cấu trúc thị trường chứng khoán và doanh nghiệp bảo hiểm.

 Theo đó, tái cấu trúc TTCK và doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH) trong thời gian qua đã đạt được một số kết quả cụ thể:

Tái cấu trúc cơ sở hàng hóa

Đã rà soát, hoàn thiện hệ thống các quy định về tiêu chuẩn phát hành, niêm yết theo hướng nâng cao chất lượng và đa dạng hóa các sản phẩm trên thị trường; Chú trọng các nội dung về công bố thông tin, quản trị công ty theo hướng tăng tính công khai, minh bạch của thị trường, từng bước tiếp cận các chuẩn mực quốc tế; Đẩy mạnh công tác thanh tra, giám sát và xử lý vi phạm đối với các hoạt động liên quan đến phát hành, niêm yết, công bố thông tin, quản trị công ty trên TTCK1. Đặc biệt, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Đề án phát triển TTCK phái sinh, dự thảo Nghị định về tổ chức và hoạt động của TTCK phái sinh, các thông tư về công bố thông tin, giao dịch, thanh tra, giám sát và xử lý các hành vi vi phạm đang được xây dựng để đưa TTCK phái sinh vào hoạt động. Ngoài ra, để tái cấu trúc và thúc đẩy thị trường trái phiếu phát triển đã đẩy mạnh và đa dạng hóa kỳ hạn phát hành TPCP.

Tái cấu trúc thị trường TPCP và trái phiếu doanh nghiệp

Thị trường trái phiếu đã được cơ cấu lại một bước như vận hành hệ thống giao dịch TPCP mới, công nhận 36 thành viên thị trường, phát hành trái phiếu có kỳ hạn đến 10 năm, 15 năm; củng cố hệ thống nhà đầu tư; hoàn thiện cơ chế và hệ thống giao dịch TPCP; xây dựng và phát triển các nhà tạo lập thị trường. Ngoài ra, Chính phủ đang xem xét ban hành Nghị định quy định về dịch vụ định mức tín nhiệm nhằm thúc đẩy phát triển thị trường vốn, thị trường trái phiếu, đặc biệt là trái phiếu doanh nghiệp.

Tái cấu trúc cơ sở nhà đầu tư

Đã hoàn thiện khung pháp lý cho phép hình thành các loại quỹ đầu tư chứng khoán, theo đó việc tái cấu trúc các quỹ đầu tư chứng khoán được thực hiện theo hướng thay thế dần các quỹ đóng bằng hệ thống các quỹ mở, các quỹ thành viên chuyển sang hệ thống các quỹ đại chúng (quỹ mở), tạo sự linh hoạt trong hoạt động, minh bạch của các quỹ. Ngoài ra, việc tiết giảm thủ tục hành chính, rà soát các chính sách tài chính nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước, thực hiện mở cửa thị trường dịch vụ chứng khoán theo cam kết WTO. Bên cạnh đó, thông tư quy định điều chỉnh tỷ lệ tham gia của nhà đầu tư nước ngoài tại doanh nghiệp Việt Nam cũng vừa được ban hành (tháng 8/2015), dự thảo Nghị định về Quỹ hưu trí tự nguyện theo mô hình ủy thác cũng đang được khẩn trương xây dựng và hoàn thiện nhằm thu hút vốn đầu tư cũng như thực hiện tái cấu trúc cơ sở nhà đầu tư.

Tái cấu trúc tổ chức kinh doanh chứng khoán

Căn cứ vào Đề án tái cấu trúc các công ty chứng khoán (CTCK), các quy định về an toàn tài chính, quản trị rủi ro, hoàn thiện hệ thống quản lý giám sát đối với các tổ chức kinh doanh chứng khoán theo tiêu chuẩn quốc tế đã được ban hành. Theo đó đã phân loại các CTCK thành 4 nhóm và có giải pháp xử lý và tái cơ cấu đối với từng nhóm. Kết quả đến hết tháng 6/2014, đã giải thể, chấm dứt hoạt động 8 CTCK, 2 công ty quản lý quỹ; rút nghiệp vụ của 15 CTCK; đình chỉ, tạm ngừng hoạt động 3 CTCK và 4 công ty quản lý quỹ; kiểm soát 15 CTCK và 1 công ty quản lý quỹ. Hiện có 83 CTCK và 41 công ty quản lý quỹ đang hoạt động. Nhìn chung tình hình tài chính các CTCK có sự cải thiện so với thời điểm năm 2011 – trước khi thực hiện tái cấu trúc; hiệu quả kinh doanh, năng lực quản trị và điều hành của các CTCK được cải thiện.

Tái cấu trúc thị trường giao dịch chứng khoán

Bộ Tài chính đã xây dựng Đề án hợp nhất 2 Sở giao dịch chứng khoán nhằm thống nhất theo chuẩn mực chung; nghiên cứu xây dựng Trung tâm thanh toán bù trừ theo mô hình đối tác trung tâm; hệ thống vay và cho vay chứng khoán (SBL) phục vụ thanh toán, bù trừ các sản phẩm phái sinh; phối hợp với NHNN xây dựng và triển khai đề án chuyển chức năng thanh toán TPCP từ NHTM sang NHNN.

Tái cấu trúc các DNBH đạt được một số kết quả khả quan

Trên cơ sở Chiến lược phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020 và Đề án tái cấu trúc TTCK và DNBH, các cơ chế, chính sách nhằm thúc đẩy hoạt động của thị trường bảo hiểm và tái cấu trúc các DNBH đã được ban hành. Trên cơ sở phân loại các DNBH, các giải pháp để tái cấu trúc các DNBH đã được thực hiện thông qua việc: i) Nâng cao mức độ an toàn tài chính và hiệu quả hoạt động đầu tư của các các DNBH DNBH; ii) Đẩy mạnh hoạt động kinh doanh bảo hiểm; iii) Tăng cường năng lực quản trị của DNBH thông qua việc củng cố và phát triển mô hình tổ chức và hoạt động của DNBH, tăng cường quản trị rủi ro DNBH, thực hiện công khai minh bạch hóa thông tin; iv) Mở rộng, phát triển và nâng cao chất lượng sản phẩm bảo hiểm. Việc thoái vốn đầu tư của các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước tại các DNBH cổ phần đang được triển khai thực hiện. Trong năm 2013, đã có 2/7 tập đoàn (Tập đoàn Điện lực, Tập đoàn Than – Khoáng sản) hoàn thành việc thoái vốn trong lĩnh vực bảo hiểm; việc thoái vốn được thực hiện theo quy định, không ảnh hưởng đến công tác quản trị DNBH.

Một số tồn tại trong hệ thống tài chính ngân hànghiện nay

Mặc dù đạt được những kết quả bước đầu, song vẫn còn những thách thức đặt tra trong tái cơ cấu hệ thống tài chính, ngân hàng, TTCK và DNBH.

Thứ nhất, tái cơ cấu hệ thống NHTM chưa góp phần mạnh mẽ vào việc lành mạnh hoá thị trường tài chính. Năng lực hoạt động của các NHTM vẫn là vấn đề cần phải chú trọng quan tâm và giải quyết. Việc xử lý nợ xấu mới ở giai đoạn bước đầu đòi hỏi cần phải tiến hành mạnh mẽ hơn nữa, đồng thời cần tăng cường kiểm soát vấn đề sở hữu chéo giữa các TCTD.

Thứ hai, việc cơ cấu lại TTCK còn chậm so với yêu cầu, tính hiệu quả và minh bạch chưa cao. Số lượng CTCK còn lớn so với quy mô thị trường, nhiều CTCK hoạt động kém hiệu quả[6], quản trị kinh doanh chưa hiện đại. TTCK chưa phát huy vai trò là một kênh huy động vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế, hàng hóa trên thị trường còn ít.

Thứ ba, thị trường bảo hiểm còn sơ khai, quy mô nhỏ, sản phẩm dịch vụ còn ít và chất lượng hạn chế. Tái cấu trúc các DNBH chưa đạt kết quả như yêu cầu; công tác quản

Riêng trong tái cơ cấu ngân hàng vẫn còn nhiều vấn đề cần tiếp tục được giải quyết.

 Vẫn có không ít ý kiến nghi ngại về sự thành công của cách thức “tái cơ cấu tự nguyện”đối với các ngân hàng thương mại yếu kém. Bởi vì, kinh nghiệm quốc tế cho thấy không thể sử dụng những con người “gây ra vấn đề” để xử lý các vấn đề mà họ gây ra.

Tình trạng sở hữu chéo dưới nhiều hình thức khác nhau[7]vẫn chưa được hạn chế, chưa được minh bạch hóa và chưa kiểm soát một cách có hiệu quả. Thực tế đó ở mức độ nhất định có thể làm giảm hiệu lực, thậm chí vô hiệu hóa các quy định về các tiêu chuẩn an toàn của từng tổ chức tài chính nói riêng và của toàn hệ thống tài chính nói chung. Việc bãi bỏ hạn mức trần lãi suất huy động vẫn chưa tiên liệu được.

Mặc dù Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thông báo, công bố tổng số nợ xấu của các tổ chức tín dụng; nhưng tổng số nợ xấu của các ngân hàng thương mại vẫn là vấn đề thu hút sự hoài nghi của nhiều bên có liên quan. Một số ước tính khác[8]cho thấy số nợ xấu thực sự của các tổ chức tín dụng có thể cao gấp 3 lần so công bố chính thức. Việc xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng mới chỉ ở giai đoạn khởi đầu; cách thức xử lý nợ xấu như hiện nay co thể chỉ là bỏ bớt nợ xấu ra khỏi các tổ chức tín dụng hoặc bằng biện pháp kế toán chuyển “nợ xấu”thành “chưa xấu”, hơn là loại bỏ nợ xấu ra khỏi nền kinh tế. Vì vậy, gánh nặng chi phí tài chính của các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp không thanh toán nợ đúng hạn vẫn chưa có dấu hiệu giảm bớt .v.v…Các doanh nghiệp thuộc loại này, dù có có hội kinh doanh, có dự án đầu tư hiệu quả, vẫn có thể không tiếp cận được tín dụng ngân hàng, hoặc tiếp cận được với chi phí cao hơn đáng kể so với bình thường. Vì vậy, thị trường tín dụng chưa hoạt động bình thường, chưa thực hiện được đầy đủ chức năng trung gian tài chính trong phân bố hợp lý và sử dụng hiệu quả nguồn vốn tín dụng của nền kinh tế. Thực tế nói trên là một trong các cản trở lớn đối với phân bố lại nguồn lực theo cơ chế thị trường, nâng cao chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế; làm cho việc tái cơ cấu kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng diễn biến chậm, chưa có được kết quả rõ nét.

4.2.3. Các yếu tố thúc đẩy tái cơ cấu kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng

Các yếu tố thúc đẩy và tạo điều kiện để tái cơ cấu, chuyển đổi mô hình tăng trưởng bao gồm ổn định kinh tế vĩ mô, phát triển nguồn nhân lực, phát triển kết cấu hạ tầng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường. Đại hội lần thứ XI của Đảng cũng đã xác định, lựa chọn phát triển hạ tầng, phát triển nguồn nhân lực và hoàn thiện thể chế là ba đột phá chiến lược cho giai đoạn 2011-2020.

Theo đánh giá của Diễn đàn kinh tế thế giới, thì chất lượng cả 4 yếu tố nói trên của nước ta không tiến bộ nhiều trong thời gian gần đây, thậm chí có yếu tố đang bị xấu đi. Cụ thể là chất lượng của kinh tế vĩ mô hiện nay có phần xấu hơn so với 2010[9]; năm 2010 chỉ số kinh tế vĩ mô của nước ta đạt 4.8/7 điểm và được xếp thứ 65/142 nền kinh tế; năm 2012 điểm số này giảm xuống còn 4,4 và xếp hạng 87/148 nền kinh tế. Tuy vậy, theo đánh giá của WEF kinh tế vĩ mô năm 2012 của nước ta đã có cải thiện được 0.2 điểm và tăng được 19 bậc trên bảng xếp hạng(từ hạng 106 tăng lên hạng 87/148). Trên thực tế, kinh tế vĩ mô của nước ta đã ổn định dần, liên tục được cải thiện, nhất là từ năm 2012 đến nay. Lạm phát liên tục giảm từ khoảng 18% năm 2011 và nay ổn định dần ở mức khoảng 6-7%/năm, tỷ giá ổn định, dự trữ ngoại tệ gia tăng; các cân đối vĩ mô cơ bản cũng được cải thiện. Kinh tế vĩ mô ổn định, niềm tin thị trường được khôi phục là yếu tố quan trọng không thể thiếu để tái cơ cấu kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng.

Phát triền nguồn nhân lực được đo bằng chất lượng giao dục học nghề và đại học cũng không có cải thiện nhiều; tăng thêm được 0.2 điểm (từ 3.5 điểm năm 2010 lên 3.7 điểm năm 2012, và tương ứng từ thứ hạng 103/142 tăng lên 95/148 nền kinh tế). Cũng tương tự như vậy đối với chất lượng cơ sở hạ tầng. Điều đáng nói thêm là, những tiến bộ về chất lượng hạ tầng chủ yếu nhờ phát triển mạng thông tin di động; còn chất lượng của tất cả các loại cơ sở hạ tầng khác như đường sắt, đường bộ, hàng không, cảng biển, cung cấp điện đều không được cải thiện hoặc xấu thêm theo mặt bằng quốc tế chung.

Bảng 4.1. Chất lượng và xếp hạng hệ thống hạ tầng Việt nam (theo WEF)

Trong các yếu tố thúc đẩy tái cơ cấu kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, thì thể chế là quan trong nhất. Bởi vì, thể chế phù hợp không chỉ thúc đẩy tái cơ cấu kinh tế mà cả phát triển hạ tầng, phát triển và sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực, và ổn định kinh tế vĩ mô vững. Giới chuyên gia và hoạch định chính sách trong nước cũng cho rằng thể chế là khâu quan trọng nhất, nhưng cũng là điểm yếu nhất của hệ thống kinh tế của chúng ta hiện nay. Tuy vậy, chất lượng thể chế của nước ta trong mấy năm gần đây không những không được cải thiện, mà trái lại đang có phần xấu đi. Cụ thể là, điểm số chất lượng thể chế năm 2008 là 3.9/7 đã liên tục giảm dần và đến năm 2013 giảm xuống còn 3.5 điểm. Tương ứng xếp hạng cũng giảm từ vị trí 63/133 giảm xuống vị trí 98/148 nền kinh tế xếp hạng. Tức là giảm 0,4 điểm và gần 35 thứ bậc trên bảng xếp hạng. So sánh năng lực cạnh tranh Việt nam với mức trung bình của nhóm các nền kinh tế ở giai đoạn 1 của quá trình phát triển.

Trước đây, chất lượng thể chế nước ta luôn cao hơn mức trung bình của các nước cùng giai đoạn, thì này giảm xuống ngang bằng với mức trung bình của chất lượng thể chế của các nước thuộc nhóm 1.

Như vậy, Việt nam chưa đạt được sự thay đổi đột phá trên 3 lĩnh vực đột phá chiến lược. Điều đó cho thấy những nổ lực cải cách và công việc đã làm trên các lĩnh vực nói trên là chưa phù hợp; hoặc chưa đủ rộng, đủ mạnh và đủ sâu để tạo nên sự khác biệt nhằm đạt kết quả như mong muốn.

Như đã nói trên, thể chế là khâu quan trọng nhất quyết định xu hướng, quy mô và tốc độ tái cơ cấu kinh tế, chuyên đổi mô hình tăng trưởng. Thể chế bao gồm ba nội dung chính; đó là “luật chơi”, “cách chơi” và “người chơi”. Trước hết, cách hình thành “luật chơi”và nội dung của “luật chơi” chưa có nhiều thay đổi.

“Luật chơi” vẫn tiếp tục phụ thuộc quá nhiều vào các văn bản hướng dẫn thi hành luật(nghị định, thông tư) và các quyết định điều hành mang tính hành chính của các cấp có thẩm quyền. Chỉ tính riêng Chính phủ trung ương, hàng năm có từ 3000 đến 4000 văn bản điều hành được ban hành(trung bình có gần 14 văn bản/mỗi ngày làm việc); và có khoảng 600-700 thông tư được ban hành,.v.v…Như vậy, hiệu lực pháp luật đang dựa nhiều vào giải thích và cách thức thực hiện của bộ, ngành và những người có thẩm quyền có liên quan. “Luật chơi”nói trên có thể đang quy định “cách chơi”theo lối “xin cho và ban phát”[10]. “Luật chơi” và “cách chơi” cũng sẽ quy định và lựa chọn “người chơi”; họ phải là những người có quyền “xin”và có thể xin được; và người người có quyền “cho”. Một phần không nhỏ lợi ích đã hình thành qua quan hệ “xin cho”cho các bên có liên quan, mà không phát sinh từ các hoạt động kinh tế tạo ra giá trị mới cho xã hội. Thể chế nói trên đang tạo ra động lực khuyến khích hình hành “khu vực kinh tế địa tô”, là khu vực kinh tế mà ở đó người ta thu lợi nhờ có quyền ban hành các quyết định hành chính để thực thi luật pháp, để phân bố nguồn lực và quyền kinh doanh, hay thu lợi nhờ độc quyền kinh doanh, chi phối quyền đầu tư kinh doanh trong các ngành, lĩnh vực có liên quan,.v.v… mà không cần phải bỏ ra một lượng lao động tương ứng. Thể chế nói trên có thể ngăn cản, thu hẹp phạm vi ảnh hưởng của các nguyên tắc “bao dung”, “bình đẳng”và “công bằng”; làm thui chột và xói mòn động lực đổi mới, sáng tạo công nghệ và cạnh tranh thị trường; làm sai lệch gía trị và động lực khuyên khích đẫn đến phân bố sai lệch và sử dụng nguồn lực kém hiệu quả; làm giảm tốc độ gia tăng phúc lợi xã hội,.v.v… Đột phá về thể chế phải là những cải cách mở rộng dự địa hoạt động và nâng cấp mức độ phát triển của kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế; khống chế, hạn chế và dần triệt tiêu cơ chế “xin – cho, ban-phát”, thu hẹp khu vực kinh tế địa tô; khuyến khích và không ngừng mở rộng khu vực kinh tế tạo lợi nhuận, tạo giá trị gia tăng thông qua đổi mới quản lý, đổi mới phương thức sản xuất, đổi mới và chuyển giao công nghệ, cạnh tranh bình đẳng theo cơ chế thị trường hiện đại.

4.3. Một số giải pháp nhằm tiếp tục thực hiện tái cơ cấu kinh tế

Có sự đồng thuận xã hội cho rằng tái cơ cấu kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng là tất yếu trong giai đoạn hiện nay; và hành động và kết quả tái cơ cấu kinh tế cho đến nay là chậm so với yêu cầu phục hồi tăng trưởng kinh tế. Tuy có sự đồng thuận nói trên, nhưng nhận thức, quan điểm và quan niệm về bản chất, nội dung của tái cơ cấu kinh tế là chưa giống nhau, ngay cả trong các cơ quan hoạch định và thực thi chính sách. Có quan niệm cho rằng tái cơ cấu chỉ là điều chỉnh, khắc phục một số sai lầm, yếu kém nhất thời của giai đoạn vừa qua; và như vậy, nền kinh tế sẽ từng bước phục hồi, trở lại quỹ đạo tăng trưởng cao như trước đây. Ý kiến khác[11] cho rằng tái cơ cấu chuyển đổi mô hình tăng trưởng về bản chất phải là cuộc cải cách lần hai; là quá trình thay đổi sâu rộng và nâng cấp thể chế kinh tế thị trường ở Việt nam, tạo hệ thống động lực khuyến khích mới theo chuẩn mực kinh tế thị trường phổ biến và hiện đai để thông qua đó thực hiện phân bố lại và sử dụng nguồn lực quốc gia có hiệu quả hơn. Và như vậy, đổi mới kinh tế phải đi cùng với đổi mới đồng bộ hệ thống chính trị.

4.3.1. Cải thiện môi trường kinh doanh, giảm và đơn giản hóa thủ tục, giảm chi phí tuân thủ

Trong bối cảnh hiện hiện, việc thiết lập một môi trường kinh doanh công bằng, bình đẳng là việc không dễ làm. Tuy vậy, có thể thực hiện cải cách, giảm thời gian và chi phí tuân thủ, giảm chi phí giao dịch và qua đó tăng thêm hiệu quả, giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh. Việt nam xếp thứ 99/185 nền kinh tế trong xếp hạng hàng năm của WB về năng lực cạnh tranh của môi trường kinh doanh. Trong mấy năm nay, Việt nam hầu như không có cải cách, không có tiến bộ trong cải thiện môi trường kinh doanh. Chúng ta có thể cải thiện được trên một số chỉ số và sẽ có tác động đáng kể trong việc tạo thuận lợi cho hoạt động kinh doanh, tăng thêm giá trị gia tăng cho nền kinh kinh tế. Các giải pháp đó là:

– Bỏ 4 thủ tục gia nhập thị trường sau đăng ký, gồm thủ tục đăng báo, thủ tục đăng ký lao động, đăng ký công đoàn và đăng ký bảo hiểm. Việc mở tài khoản ngân hàng có thể kết hợp và lồng với đăng ký kinh doanh.

– Bỏ yêu cầu đăng ký ngành nghề kinh doanh trong giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh;

– Thực hiện cải cách, đơn giản hóa thủ tục, rút ngắn thời gian và giảm chi phí xuất khẩu và nhập khẩu,..v.v..

Ngoài ra, còn có thể thực hiện hàng loạt các thay đổi khác như ban hành, thực hiện trình tự đặc biệt cho việc giải quyết tranh chấp và thực thi các tranh chấp hợp đồng có giá trị nhỏ; hay đơn giản hóa thủ tục để được cung cấp điện,.v.v..

Việc thực hiện các giải pháp nói trên cần có hành động cụ thể với một lộ trình hợp lý hơn là liên tục ban các nghị quyết của chính phủ. Những bài học về Tổ công tác thi hành Luật Doanh nghiệp trong các năm 2000-2003 có thể vẫn hữu ích cho việc thực hiện các giải pháp nói trên.

4.3.2. Về tái cơ cấu DNNN

Việc tái cơ cấu DNNN, trọng tâm là tập đoàn, tồng công ty nhà nước theo đúng yêu cầu của tái cơ cấu kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng[12]chưa thực hiện được đầy đủ. Bởi vì, việc tái cơ cấu như thế đòi hỏi phải có đổi mới tư duy về vai trò của nhà nước và thị trường, vai trò của nhà nước và DNNN trong nền kinh tế thị trường. Tuy vậy, có thể thực hiện được một số giải pháp làm cho thị trường hoạt động tốt hơn, và có thể nâng cao được hiệu quả sử dụng các nguồn lực hiện có.

a) Áp đặt một số nguyên tắc, kỷ luật thị trường đối với DNNN nói chung và tập đoàn, tổng công ty nói riêng.

Trong khi chưa đáp đặt được đầy đủ các nguyên tắc và kỷ luật thị trường, thì chúng ta vẫn có thể buộc các DNNN phải thuân thủ một số trong đó như: ( i ) áp đặt đầy đủ ràng buộc về chi phí vốn trong đầu tư và kinh doanh của DNNN; Nhà nước phải lấy lợi nhuận với mức ít nhất bằng giá thị trường của vốn; (ii) cho phép DNNN tự chủ hơn trong cơ cấu lại vốn và tài sản trong khuôn khổ mục tiêu và các chỉ tiêu đã định,.v.v… (iii) Người đại diện chủ sở hữu, cán bộ quản lý phải trực tiếp chịu trách nhiệm giải trình đối với kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

b) Áp dụng một số nguyên tắc quản trị hiện đại đối với tập đoàn, tổng công ty nhà nước.

Cũng tương tự như trình bày trên đây, trong khi chưa áp dụng đầy đủ và tất cả các nguyên tắc quản trị hiện đại, thì chúng ta vẫn có thể áp dụng được một số trong các nguyên tắc nói trên. Tuy vậy, điều này trước hết đòi hỏi phải có phải có quan niệm coi quản trị công ty nói chung và DNNN nhà nước nói riêng là một khung khổ với các yếu tố cấu thành của nó theo như đề án Tái cơ cấu DNNN, trọng tâm là TĐKT và TCT nhà nước đã nêu.

Đẩy nhanh hơn việc cổ phần hóa và thoái vốn đầu tư ngoài ngành cũng là giải pháp có thể thực hiện được ở mức độ nhất định. Tuy vậy, ngoài các giải pháp cụ thể đã được kiến nghị và thực hiện một phần trong nghị định 189/NĐ-2013, thì việc thay đổi quan niệm về vai trò và chức năng của cổ phần hóa, thoái vốn cũng không kém phần quan trọng. Cổ phần hóa không phải là để Nhà nước huy động vốn mà là giải pháp thay đổi căn bản hệ thống động lực nội sinh và tạo áp lực thị trường đầy đủ đối với DNNN, qua đó, tài sản quốc gia được quản lý và sử dụng có hiệu quả hơn, tạo thêm nhiều giá trị gia tăng hơn cho nền kinh tế. Tương tự như vậy, việc thoái vốn đầu tư ngoài ngành không phải chỉ là để cắt lỗ, giảm lỗ, mà là giải pháp sử dụng cơ chế thị trường để phân bố lại nguồn lực, làm sống lại một bộ phần nguồn lực hiện đang “chết”trong sự quản lý của các tập đoàn, tổng công ty, đưa chúng quay trở lại sản xuất; và đưa bộ phần còn lại đang thua lỗ hoặc sử dụng kém hiệu quả thành các tài sản được sử dụng có hiệu quả hơn. Đó mới chính là “thoái vốn” ngoài ngành theo đúng tinh thần và nội dung của tái cơ cấu kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng.

4.3.3. Về tái cơ cấu hệ thống ngân hàng

Về tái cơ cấu hệ thống các tổ chức tín dụng, thì tái cơ cấu các ngân hàng yếu kém, xử lý nợ xấu và khắc phục tình trạng sở hữu chéo vẫn tiếp tục là các nhiệm vụ trọng tâm trong một số năm tiếp theo. Đã có nhiều báo cáo nghiên cứu, kiến nghị vể đẩy nhanh tái cơ cấu hệ thống các tổ chức tín dụng. Tuy vậy, việc có một đánh giá độc lập, khách quan hơn về tiến trình, kết quả và vấn đề của tái cơ cấu hệ thống các tổ chức tín dụng vẫn rất cần thiết. Cần có trả lời khách quan và được xã hội tin cậy đối với các câu hỏi cơ bản như : (i) kết quả đạt được của tái cơ cấu 9 ngân hàng yếu kém đã đến mức nào? Số nợ xấu thực sự bao nhiêu theo chuẩn quốc tế, chuẩn việt nam và theo yêu cầu tái cơ cấu, cơ cấu nợ xấu theo ngành, theo con nợ,.,.v.v….và thực trạng sở hữu chéo hiện nay như thế nào, tác động có thể của nó đối với hiệu quả của chính sách tiền tệ, đến sự vận hành có hiệu quả của thị trường tài chính,.v.v.. Ngoài ra, cũng cần xem xét lại, nếu thấy cần thiết, một số quan điểm trong thực hiện tái cơ cấu các tổ chức tín dụng. Ví dụ, quan điểm về tái cơ cấu tự nguyện; kinh nghiệm quốc tế cho thấy giao cho những người gây ra vấn đề chịu trách nhiệm giải quyết vấn đề họ gây ra thường không thành công; và thay đổi quan điểm về không để đổ vở các tổ chức tín dụng bằng quan điểm “không để người gửi mất tiền”. Quan điểm như hiện nay có thể là không công bằng, vì những người gây ra mất mát cho xã hội, không bị trừng phạt về mặt kinh tế; họ không bị thua thiệt hoặc không bị thua thiệt với mức mà họ đáng phải chịu. Vì vậy, có thể họ chần chừ, dựa dẫm và chờ đợi nhà nước ra tay giải quyết các vấn đề do họ gây ra. Các giải pháp xử lý nợ xấu cùng cần được thực hiện đầy đủ và toàn diện hơn theo cơ chế thị trường, đảm bảo cân bằng hơn giữa lợi ích của ngân hàng và các doanh nghiệp con nợ.

4.3.4. Về tái cơ cấu đầu tư công

Luật Đầu tư công là một bước tiến đáng kể trong thiết lập thể chế phân bổ vốn đầu tư của ngân sách và vốn trái phiếu chính phủ theo nguyên tắc thị trường. Một số thay đổi khá nổi bật gồm: xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, các cấp có thẩm quyền trong quyết định, thẩm định, phê duyệt, phân bổ, quản lý và sử dụng vốn đầu tư nhà nước; xóa bỏ được cơ chế “xin-cho” tùy ý, tùy tiện phổ biến lâu nay trong phê duyệt dự án và phân bổ vốn đầu tư; về cân đối vốn, thì dự án đầu tư chỉ được phê duyệt khi cân đối được nguồn vốn v.v. Những thay đổi này sẽ góp phần hạn chế “cầu” của dự án và số vốn đầu tư; từ đó, vốn sẽ được phân bổ tập trung hơn; rút ngắn thời gian thực hiện dự án; giảm số dự án dở dang, tăng số dự án hoàn thành và đưa vào sử dụng… Tất cả những kết quả dự kiến nói trên sẽ góp phần cải thiện hiệu quả đầu tư nhà nước. Tuy vậy, về phân bổ vốn đầu tư nhà nước, còn cần thêm nhiều giải pháp khác; và xin kiến nghị một số như sau:

a. Đổi mới thể chế phân bổ vốn đầu tư nhà nước không thể tách rời khỏi đổi mới vai trò của nhà nước nói chung và vai trò, chức năng của từng cơ quan nhà nước nói riêng; không thể tách rời khỏi phân cấp, phân quyền giữa Trung ương và địa phương theo hướng thu hẹp vai trò và chức năng của nhà nước. Ví dụ, Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch không có chức năng và nhiệm vụ là chủ đầu tư xây dựng các nhà văn hóa, viện bảo tàng,v.v.; do đó, xây dựng đề án, kiến nghị nhà nước đầu tư nhiều chục ngàn tỷ đồng để xây một “hệ thống” các viện bảo tàng và nhà hát không phải là việc của Bộ trưởng, mà là công việc và quyết định của các tổ chức kinh doanh hay cung cấp các dịch vụ bảo tàng, dịch vụ biểu diễn.

b. Đổi mới động lực, tiêu chí và cách thức đánh giá kết quả hoạt động của chính quyền địa phương. Bỏ chỉ tiêu GDP và tăng trưởng GDP ở các cấp chính quyền địa phương; bỏ mục tiêu và chỉ tiêu về lượng (ví dụ như số giường bệnh/10000 dân), thay vào đó là các chỉ tiêu về chất lượng các loại dịch vụ công (số người đến thăm khám, điều trị, sự hài lòng của bệnh nhân, khách hàng…), các chỉ tiêu về chất lượng môi trường sống, chất lượng môi trường kinh doanh ở địa phương, chỉ tiêu về số lượng và chất lượng việc làm mới được tạo ra, v.v.

c. Phải xác định và thực hiện tuyệt đối nghiêm minh kỷ luật ngân sách (chế độ ngân sách cứng) ở tất cả các cấp, đối với tất cả các khoản chi, kể cả chi đầu tư phát triển,

d. Giảm và thắt chặt chi tiêu thường xuyên của các cơ quan nhà nước; giảm bội chi ngân sách xuống còn không quá 4% GDP; và tiếp tục giảm dần về trung và dài hạn; từng bước lập dự phòng tài chính quốc gia để có thể đối phó được với các “cú sốc” lớn từ bên ngoài. Thực hiện nguyên tắc vàng của tăng trưởng cân đối là (i) Sản xuất tăng trưởng với nhịp điệu lành mạnh; (ii) Tính trung bình nhiều năm tổng cầu không tăng nhanh hơn sản xuất; tiêu dùng trên đầu người không được tăng nhanh hơn sản xuất trên đầu người; lương thực tế không được tăng nhanh hơn so với năng suất lao động; (iii) Trong tổng cầu, tính trung bình nhiều năm tiêu dùng không tăng nhanh hơn đầu tư; sự tăng tiết kiệm trong nước không tụt lại sau sự tăng của các khoản đầu tư. Tức là tỉ lệ tài trợ bên ngoài không tăng, đất nước không rơi vào trạng thái nợ nần gia tăng; tốc độ tăng chi đầu tư không thấp hơn tốc độ tăng chi thường xuyên; tốc độ tăng chi không vượt quá tốc độ tăng thu; tổng thu ngân sách phải lớn hơn tổng chi thường xuyên và dành toàn bộ bội chi và vay nợ dài hạn để đầu tư.

e. Xác định và áp dụng nghiêm túc tiêu chí đánh giá hiệu quả kinh tế xã hội của dự án, trong đó, phải tính đầy đủ giá của vốn và chi phí cơ hội của đầu tư để lựa chọn nhiệm vụ và thứ tự ưu tiên của dự án; phải đánh giá lợi ích và chi phí của từng dự án và chỉ chọn và phê duyệt các dự án có hiệu quả kinh tế – xã hội cao nhất trong số các dự án được kiến nghị phù hợp với số vốn cân đối được trong kế hoạch đầu tư trung hạn.

f. Quy định mức tối thiểu của trị giá gói thầu và mức trị giá tối thiểu phải đủ lớn để tận dụng kinh tế quy mô, giảm chi phí quản lý;

g. Thiết lập hệ thống thông tin quản lý thống nhất trong cả nước về đầu tư công; công khai và minh bạch hóa thông tin về đầu tư nhà nước nói chung và từng dự án đầu tư nhà nước nói riêng.

Đề án tổng thể tái cơ cấu kinh tế đã xác định khung khổ tương đối rõ và chặt chẽ về cách thức triển khai tái cơ cấu kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng. Và kết quả tái cơ cấu kinh tế cho đến nay mới chỉ là bước đầu. Vẫn còn “ngổn ngang”và “bộn bề”trên nhiều mặt, từ nhận thức, quan điểm tư tưởng cho đến sự “lung túng”trong các giải pháp thực hiện. Đúng như Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã phát biểu tại phiên khai mạc kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóa XIII vừa qua là: “Nhận thức trên một số vấn đề về chủ trương, quan điểm đã được đề ra vẫn còn khác nhau dẫn đến đổi mới thể chế, chính sách còn ngập ngừng, thiếu nhất quán, nhất là về vai trò của nhà nước và kinh tế nhà nước trong kinh tế thị trường, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân, sở hữu và quyền sử dụng đất đai, giá cả một số mặt hàng và dịch vụ công thiết yếu… chưa tạo được đột phá để huy động mạnh mọi nguồn lực cho phát triển”. Tuy vậy, điều đó không có nghĩa là tất cả các giải pháp tái cơ cấu kinh tế đều bị bế tắc và không triển khai được. Chuyên đề đã cố gắng nêu lên một số giải pháp có thể thực hiện được và cách thức tổ chức thực hiện; và người viết bài này có niềm tin rằng nêú được thực hiện, các giải pháp này sẽ có tác động lớn trong việc cải thiện hiệu quả và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, đưa nền kinh tế quay trở lại quỹ đạo tăng trưởng nhanh như trước đây. Tuy nhiên, đổi mới nhận thức, tư duy vẫn là điều kiện không thể thiếu không chỉ đối với giới lãnh đạo mà cả giới chuyên gia hoạch định và tư vấn chính sách. Sự thay đổi cần thiết, đầu tiên là phải nhanh chóng chuyển trọng tâm chính sách phục hồi kinh tế từ chú trọng quản lý tổng cầu sang các giải pháp cải cách phía cung của nền kinh tế.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Nguyễn Đình Cung (2015), “Đổi mới tư duy và và tháo bỏ nút thắt thể chế để chuyển mạnh nước ta sang nền kinh thị trường”, Kỷ yếu Diễn đàn kinh tế mùa xuân – UBKT Quốc hội, tháng 4/2015.
  2. Nguyễn Đình Cung (2013), Tái cơ cấu kinh tế, một số quan sát và vấn đề Hội thảo 2013
  3. Cục phát triển doanh nghiệp – Bộ KHĐT (2013), Tình hình phê duyệt Phương án sắp xếp, đổi mới, tái cơ cấu DNNN, Báo cáo Hội thảo ngày 21/5/2013.
  4. Phạm Chi Lan (2013), 7 thách thức và 5 cơ hội, dddn.com.vn
  5. Ủy ban Kinh tế của Quốc hội và UNDP tại Việt Nam (2013), Kỷ yếu điễn đàn kinh tế mùa xuân, tháng 4/ 2013
  6. Nguyễn Quang Thái (2012), Tái cấu trúc kinh tế: Bắt đầu từ đâu và theo lộ trình nào, Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế, số 5/ 2012
  7. Võ Trí Thành (2012), Lời giải cho nhiệm vụ ổn định vĩ mô và tái cấu trúc nền kinh tế, Tạp chí Tia sáng, số 02/ 2012.
  8. Vũ Sỹ Cường và cộng sự (2014), Cơ chế phân bổ vốn đầu tư công : Thực trạng và giải pháp thể chế – Nghiên cứu của Nhóm tư vấn – Ủy ban kinh tế quốc hội


[1] TS. Nguyễn Đình Cung, K yếu din đàn kinh tế mùa xuân (2012)-y ban Kinh tế ca Quc hi và UNDP ti Vit Nam)

[2] Xem thêm Kỷ yếu Diễn đàn kinh tế Quốc hội các năm 2012,2013,2014

[3] . Tỷ lệ vốn đầu tư/GDP năm 2000: 34,2%; 2001: 35,4%; 2002: 37,4%; 2003: 39,0%; 2004: 40,7%; 2005: 40,9%; 2006: 41,5%; 2007: 46,5%; 2008: 41,5%; 2009: 42,7%; 2010: 41,9%; 2011: 36,4%.

[4] Tiết kiệm, đầu tư và tiêu dùng, ngân sách nhà nước, cán cân thương mại, cán cân thanh toán quốc tế, nợ công và nợ nước ngoài quốc gia,…

[5] Trong đó xác định các đơn vị thành viên tiếp tục duy trì 100% vốn tập đoàn, tổng công ty; danh mục các thành viên sẽ được cổ phần hóa với các tỷ lệ khác nhau như trên 75%, 65-75%, 51-65%; và số còn lại sẽ cổ phần hóa, cũng như kế hoạch dự kiến tiến hành cổ phần hóa; đã bước đầu sắp xếp, cơ cấu lại tổ chức trong nội bộ tập đoàn, tổng công ty.

[6] Trong 6 tháng đầu năm 2014 có 22 CTCK hoạt động bị lỗ với số lỗ là 113,8 tỷ đồng.

[7] . Sở hữu ngân hàng-ngân hàng; ngân hàng-doanh nghiệp, doanh nghiệp-ngân hàng, trong đó đặc biêt là có một số nhóm cổ đông lớn vừa sở hữu ngân hàng, vừa sở hữu doanh nghiệp, tạo thành một “mạng lưới” sở hữu chéo phức tạp, tinh vi và rất khó kiểm soát.

[8] . Nguyễn Xuân Thành và nhóm nghiên cứu Fullbrigtis ước tính nợ xấu có thể lên tới 15% tổng tín dụng của cả hệ thống.

[9] Thông tin được sử dụng để đánh giá, xếp hạng năng lực cạnh tranh toàn cầu của WEF thường chậm một năm, tức là họ lấy thông tin của năm 2010 xếp hạng và tính cho năm 2011.

[10] Dân gian hay gọi chung là “chạy”, như chạy dự án, chạy giấy phép, chạy quy hoạch, chạy vốn đầu tư, chạy quyền khai thác tài nguyên, chạy quyền sử dụng đất,.v.v…

[11] Xem Nguyễn Đình Cung (2015)

[12] . Yêu cầu đó là thay đổi hệ thống động lực thúc đẩy phân bố lại nguồn lực trong toàn bộ nền kinh tế theo cơ chế thị trường. Điều này đòi hỏi nguồn lực được phân bố lại trong chỉ trong nội bộ các doanh nghiệp nhà nước, mà quan trong hơn là dịch chuyển theo tín hiệu thị trường từ doanh nghiêp nhà nước sang khu vực kinh tế tư nhân, từ nơi sử dụng kém hiệu quả sang nơi sử dụng có hiệu quả hơn. 

Bản in

 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *