Chuyên đề 36: TÌNH HÌNH THỰC HIỆN PHÁP LUẬT PHÍ, LỆ PHÍ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Chuyên đề 36: TÌNH HÌNH THỰC HIỆN PHÁP LUẬT PHÍ, LỆ PHÍ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

ThS. GV. Ngô Thị Phương Ngơi, Trường Bồi dưỡng cán bộ tài chính – Bộ Tài chính.

36.1. Hệ thống văn bản pháp luật về phí, lệ phí hiện nay

Pháp lệnh phí và lệ phí được Uỷ ban thường vụ Quốc hội thông qua ngày 28 tháng 8 năm 2001, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2002 bao gồm 8 chương 36 điều quy định cụ thể về thẩm quyền quy định về phí, lệ phí; nguyên tắc xác định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí, lệ phí; trách nhiệm của cơ quan nhà nước về quản lý phí, lệ phí;… Đây được coi là văn bản pháp lý cao nhất trong hệ thống văn bản pháp luật quy định trong lĩnh vực phí, lệ phí ở nước ta hiện nay.

Pháp lệnh phí và lệ phí (sau đây gọi tắt là Pháp lệnh) quy định:

– Danh mục phí bao gồm 73 loại phí, được sắp sếp thành 12 nhóm theo tính chất công việc gắn với lĩnh vực, nhóm ngành có những đặc điểm về kinh tế kỹ thuật tương tự như nhau.

– Danh mục lệ phí gồm 42 loại lệ phí, được xếp thành 5 nhóm, phù hợp với nhóm các công việc quản lý hành chính nhà nước.

Cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản pháp luật hướng dẫn về phí, lệ phí bao gồm:

– Chính phủ:

+ Ban hành chi tiết Danh mục các loại phí, lệ phí kèm theo Pháp lệnh và quy định thẩm quyền ban hành văn bản quy định chi tiết từng khoản phí, lệ phí: Danh mục các loại phí, lệ phí kèm theo Pháp lệnh quy định chi tiết gồm 301 khoản phí và lệ phí, đồng thời quy định rõ ràng cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật đối với từng khoản phí, lệ phí cụ thể.

+ Nghị định số 57/2002/NĐ-CP ngày 03/6/2002 quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh phí lệ phí; Nghị định số 24/2006/NĐ-CP ngày 06/3/2006 sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 57/2002/NĐ-CP; Nghị định số 115/2011/NĐ-CP ngày 14/12/2011 sửa đổi, bổ sung NĐ 24/2006/NĐ-CP;

+ Nghị định số 109/NĐ-CP ngày 24/9/2013 quy định xử phạt VPHC trong lĩnh vực quản lý giá, phí, lệ phí, hóa đơn

Trong quá trình thực hiện Pháp lệnh và Nghị định số 57/2002/NĐ-CP, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 13/2002/CT-TTg này 11/6/2002, trong đó giao: Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thực hiện việc rà soát các khoản phí, lệ phí đang thu tại ngành, địa phương mình, đối chiếu với Danh mục chi tiết phí, lệ phí Ban hành kèm theo Nghị định số 57/2002/NĐ-CP để phân loại xử lý.

Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện Pháp lệnh vẫn tồn tại tình trạng chậm bãi bỏ các khoản phí, lệ phí không đúng quy định hoặc ban hành không đúng Danh mục phí, lệ phí ở một số địa phương. Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 24/2007/CT-TTg ngày 01/11/2007 về việc tăng cường chấn chỉnh việc thực hiện các quy định của pháp luật về phí, lệ phí đảm bảo thực hiện theo đúng quy định của Pháp lệnh; bãi bỏ ngay những khoản thu phí, lệ phí không có tên trong Danh mục ban hành kèm theo Nghị định số 24/2006/NĐ-CP của Chính phủ. Đồng thời, Thủ tướng Chính phủ đã quyết định miễn thu đối với một số những khoản phí, lệ phí như:

+ Miễn phí an ninh, trật tự đối với các tổ chức, cá nhân

+ Miễn phí phòng, chống thiên tai đối với các tổ chức, cá nhân.

+ Miễn lệ phí hộ tịch, hộ khẩu, chứng minh nhân dân khi đăng ký lần đầu, cấp mới, thay mới theo quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với: khai sinh; kết hôn; khai tử; thay đổi, cải chính hộ tịch cho người dười 14 tuổi, bổ sung hộ tịch; cấp sổ hộ khẩu gia đình; cấp giấy chứng nhận nhân khẩu tập thể; cấp giấy đăng ký tạm trú có thời hạn; cấp chứng minh nhân dân.

+ Miễn lệ phí địa chính khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với hộ gia đình, cá nhân ở nông thôn (hoặc sản xuất kinh doanh nông, lâm, ngư nghiệp), trừ hộ gia đình, cá nhân tại các quận thuộc thành phố trực thuộc Trung ương và các phường nội thành thuộc thành phố, thị xã trực thuộc tỉnh.

– Bộ Tài chính: đã ban hành theo thẩm quyền các văn bản quy định các khoản phí, lệ phí cụ thể dưới hình thức là Quyết định, Thông tư hoặc Thông tư liên tịch của Bộ Tài chính với các Bộ (có 280 khoản phí, lệ phí đã có văn bản hướng dẫn thực hiện)

– Hội đồng nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi tắt là Hội đồng nhân dân cấp tỉnh) được phân cấp theo Nghị định số 57/2002/NĐ-CP quy định đối với 20 khoản phí theo nguyên tắc: Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quy định đối với một số loại phí gắn với quản lý đất đai, tài nguyên thiên nhiên, gắn với chức năng quản lý hành chính nhà nước của chính quyền địa phương, trong quá trình thực hiện Chính phủ đã phân cấp thêm cho địa phương quyết định mức thu và quản lý sử dụng đối với các khoản phí như: Thủy lợi phí, học phí, viện phí, phí bảo vệ môi trường đối với nước thải sinh hoạt, lệ phí đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất. Theo đó, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh ban hành Nghị quyết thu phí, Ủy ban nhân cấp tỉnh ban hành Quyết định, Chỉ thị triển khai thực hiện Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh.

Ngày 30 tháng 6 năm 2004 Chính phủ ban hành Nghị quyết số 08/2004/NQ-CP về tiếp tục đẩy mạnh phân cấp quản lý nhà nướcgiữa Chính phủ và chính quyền tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, theo đó tại Nghị định số 24/2006/NĐ-CP Chính phủ tiếp tục phân cấp cho địa phương quy định thêm đối với 7 khoản phí và 11 khoản lệ phí. Căn cứ Nghị định số 24/2006/NĐ-CP, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 97/2006/TT-BTC (thay thế Thông tư 71/2003/TT-BTC) hướng dẫn cụ thể về phạm vi, đối tượng áp dụng, nguyên tắc xác định mức thu và quản lý, sử dụng tiền phí, lệ phí thu được đối với các khoản phí, lệ phí phân cấp cho địa phương quy định. Để phù hợp với tình hình phát triển kinh tế xã hội tại các địa phương Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 02/2014/TT-BTC ngày 02/01/2014 thay thế Thông tư số 97/2006/TT-BTC.

Có thể thấy rằng, hệ thống văn bản pháp luật về phí, lệ phí ở nước ta hiện nay được ban hành kịp thời, đồng bộ, đúng thẩm quyền. Bộ Tài chính đã phối hợp với các Bộ, ngành nghiên cứu trình Chính phủ ban hành và ban hành theo thẩm quyền các khoản phí, lệ phí cụ thể dưới hình thức: Nghị định của Chính phủ, Quyết định, Thông tư của Bộ Tài chính hoặc Thông tư liên tịch giữa Bộ Tài chính với các Bộ.

Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về phí, lệ phí được ban hành đã tạo ra khung pháp lý rõ ràng, góp phần lập lại trật tự kỷ cương trong việc ban hành, tổ chức thu, nộp, quản lý và sử dụng phí, lệ phí.

Hệ thống văn bản pháp luật phí và lệ phí được ban hành đã góp phần cải cách thủ tục hành chính, giảm chi phí đầu vào của sản xuất kinh doanh và phục vụ tốt quá trình hội nhập kinh tế thế giới.

36.2. Kết quả thực hiện thu NSNN từ phí, lệ phí và công tác quản lý, sử dụng các khoản phí, lệ phí trong thời gian qua

Sau 13 năm thực hiện đến nay, Pháp lệnh phí, lệ phí đã đạt được một số kết quả cụ thể như sau:

36.2.1. Kết quả thu phí, lệ phí:

Tổng hợp số thu NSNN từ phí, lệ phí từ năm 2011-2013, như sau:

– Năm 2011: 42.023 tỷ đồng (bằng 5,8% tổng thu NSNN);

– Năm 2012: 29.112 tỷ đồng (bằng 3,9% tổng thu NSNN);

– Năm 2013: 31.271 tỷ đồng (bằng 3,8% tổng thu NSNN).

Trong đó:

a) Số thu NSNN từ phí, lệ phí của các cơ quan Trung ương:

– Năm 2011: 2.476 tỷ đồng;

– Năm 2012: 2.080 tỷ đồng;

– Năm 2013: 1.871 tỷ đồng.

b) Số thu NSNN từ phí, lệ phí của các địa phương:

– Năm 2011: 37.775 tỷ đồng;

– Năm 2012: 25.150 tỷ đồng;

– Năm 2013: 27.554 tỷ đồng.

c) Phí do Doanh nghiệp thu (Phí hoa tiêu hàng hải; Phí bảo đảm ATHH, Phí điều hành bay qua bầu trời; phí sử dụng kết cấu hạ tầng đường sắt).

– Năm 2011: 1.772 tỷ đồng;

– Năm 2012: 1.882 tỷ đồng;

– Năm 2013: 1.846 tỷ đồng.

(Ghi chú: (i) Từ 01/01/2012, Luật thuế BVMT có hiệu lực, theo đó phí xăng dầu chuyển thành thuế BVMT đối với xăng dầu, do đó, số thu phí của các địa phương giảm mỗi năm khoảng trên 10.000 tỷ đồng; (ii) Số thu NSTW có xu hướng giảm do một số loại phí chuyển sang cơ chế giá (phí kiểm định, phí đấu thầu..).

d) Về tỷ lệ để lại: Thống kê số thu, số để lại và số nộp NSNN trong những năm gần đây như sau:

– Đối với các cơ quan hành chính, tỷ lệ để lại là 60%; Nộp NSNN 40%;

– Đối với các đơn vị sự nghiệp, tỷ lệ để lại là 90%; Nộp NSNN 10%.

36.2.2. Về công tác quản lý, sử dụng nguồn thu phí, lệ phí

Theo quy định hiện hành phí, lệ phí thuộc NSNN được quản lý, sử dụng như sau:

– Các tổ chức thu đã được NSNN bảo đảm kinh phí cho hoạt động thu phí, lệ phí thì phải nộp toàn bộ số tiền phí, lệ phí thu được vào NSNN

– Các tổ chức thu chưa được NSNN bảo đảm kinh phí cho hoạt động thu phí, lệ phí hoặc tổ chức thu được ủy quyền thu phí, lệ phí thì được để lại một phần trong số tiền phí, lệ phí thu được để trang trải chi phí thu phí, lệ phí; phần còn lại phải nộp vào NSNN

Qua theo dõi tình hình thu nộp, quản lý sử dụng phí, lệ phí cho một số kết quả cụ thể như sau:

* Các cơ quan, đơn vị đã thực hiện đúng quy định về thu, nộp, sử dụng đúng mục đích, hiệu quả số thu phí, lệ phí được để lại.

– Các khoản thu phí, lệ phí về cơ bản đã được nộp kịp thời vào NSNN và được quản lý, sử dụng theo đúng quy định của pháp luật.

– Phần phí, lệ phí để lại cho các đơn vị sử dụng được quản lý hạch toán và quyết toán theo quy định.

– Đối với những phí không thuộc NSNN, tổ chức, cá nhân thực hiện theo nguyên tắc hạch toán, tự chủ tài chính, tự chịu trách nhiệm về kết quả thu phí của đơn vị mình. Tiền phí thu được xác định là doanh thu của tổ chức, cá nhân thu phí. Tổ chức, cá nhân thu phí được quản lý, sử dụng số tiền thu phí sau khi đã nộp thuế theo quy định của pháp luật.

Qua theo dõi, các tổ chức, cá nhân thu phí đều thực hiện quyết toán thuế đối với số tiền phí thu được cùng với kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh khác (nếu có) với cơ quan thuế theo quy định của pháp luật về thuế hiện hành.

* Việc thu, nộp và quản lý sử dụng phí, lệ phí được thực hiện công khai, minh bạch

Công khai minh bạch thể hiện ở 2 mặt: (i) công khai với đối tượng nộp phí, lệ phí và (ii) công khai minh bạch trong cơ quan thu phí, lệ phí

Về cơ bản trong quá trình tổ chức thực hiện, các tổ chức cá nhân thu phí, lệ phí đã thực hiện nghiêm túc việc niêm yết hoặc thông báo công khai tại địa điểm thu về tên phí, lệ phí, mức thu, chứng từ thu, phương thức thu và cơ quan quy định thu, cơ quan thu (hoặc được ủy quyền thu) theo đúng quy định của pháp lệnh và các văn bản hướng dẫn thi hành. Đã tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân giám sát việc thực hiện các quy định của Nhà nước đồng thời phục vụ tốt hơn yêu cầu của tổ chức và nhân dân tại các địa điểm cung cấp các dịch vụ công cũng như trong các cơ quan hành hính nhà nước.

* Cơ chế quản lý phí, lệ phí được đổi mới theo hướng gắn với thực hiện xã hội hóa, tạo cơ chế chủ động, tự chủ cho các đơn vị quản lý thu, nộp và sử dụng phí, lệ phí.

Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 45/2006/TT- BTC hướng dẫn về phí, lệ phí đã có nhiều điểm mới liên quan công tác quản lý, sử dụng tiền phí, lệ phí để lại trên tinh thần của Nghị định 130/2005/NĐ-CP ngày 17/10/2005 quy định chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí quản lý hành chính đối với cơ quan nhà nước và Nghị định 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập. Đã góp phần đổi mới cơ chế quản lý phí, lệ phí được đổi mới theo hướng gắn với thực hiện xã hội hóa, tạo cơ chế chủ động, tự chủ cho các đơn vị quản lý thu, nộp và sử dụng phí, lệ phí.

36.3. Một số tồn tại, vướng mắc trong quá trình thực hiện pháp luật về phí, lệ phí

Sau hơn 13 năm thực hiện Pháp lệnh phí, lệ phí và các văn bản hướng dẫn thực hiện phí, lệ phí; tình hình thực hiện pháp luật phí, lệ phí ở Việt Nam đã có nhiều thay đổi, tuy nhiên trên thực tế vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế, vướng mắc.

36.3.1. Thẩm quyền quyết định về phí, lệ phí

Theo quy định tại Pháp lệnh phí, lệ phí 2001 thì Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành Danh mục về phí, lệ phí, đồng thời giao cho 03 cơ quan là Chính phủ, Bộ Tài chính và Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quy định cụ thể về phí, lệ phí theo thẩm quyền. Tuy nhiên, trên thực tế thẩm quyền quyết định về phí, lệ phí vẫn chưa có sự thống nhất, cụ thể:

– Đối với án phí và lệ phí tòa án

Theo quy định tại Nghị định 57/2002/NĐ-CP ngày 03/6/2002 thẩm quyền quy định là Chính phủ.

Trên thực tế khoản này do Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành.

– Đối với phí thi hành án

Theo quy định tại Nghị định 57/2002/NĐ-CP ngày 03/6/2002 thẩm quyền quy định cụ thể về phí thi hành án là Bộ Tài chính

Trên thực tế khoản này lại do Chính phủ quy định, thể hiện tại Nghị định số 58/2009/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thi hành án dân sự, trong đó có một số quy định về mức thu phí thi hành án dân sự.

– Đối với học phí

Theo quy định tại Nghị định 57/2002/NĐ-CP ngày 03/6/2002 thẩm quyền quy định là Chính phủ do đây là loại phí quan trọng liên quan đến sự nghiệp giáo dục và và các tầng lớp dân cư.

Tuy nhiên trên thực tế lại có thêm một số chủ thể khác, cụ thể:

+ Tại Điều 105, Luật Giáo dục ngoài Chính phủ, Bộ trưởng Tài chính, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh được quy định về học phí thì còn có thêm Cơ sở giáo dục dân lập, tư thục được giao quyền quy định học phí đối với cơ sở giáo dục dân lập, tư thục.

+ Tại Điều 12, Nghị định số 49/2010/NĐ-CP ngày 14/5/2010 quy định về cơ chế thu, sử dụng học phí đối với cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân từ năm 2010 – 2011 đến năm học 2014 – 2015 lại có thêm một số quy định khác: học phí học đối với sơ cấp nghề và dạy nghề thường xuyên được thu theo thỏa thuận; học phí đối với cơ sở giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học công lập chương trình đại trà do Giám đốc các đại học, hiệu trưởng và thủ trưởng các trường, các cơ sở đào tạo thuộc Trung ương quản lý, quy định;…..Như vậy, Bộ giáo dục và Đào tạo, Bộ Lao động – Thương binh và xã hội, Giám đốc các đại học, Hiệu trưởng và Thủ trưởng các trường, các cơ sở đào tạo thuộc Trung ương quản lý, có thẩm quyền quyết định về học phí.

36.3.2. Về quyết định miễn, giảm phí, lệ phí

Theo quy định tại Điều 2, Pháp lệnh: Chính phủ quy định việc miễn, giảm phí, lệ phí trong những trường hợp cần thiết như vậyviệc quyết định miễn, giảm phí, lệ phí thì chỉ có Chính phủ mới có thẩm quyền.

Tuy nhiên, trong thực tế với mục đích là phát huy quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho chính quyền địa phương, Chính phủ đã ban hành Nghị định 24/2006/NĐ-CP trong đó có 27 khoản phí và 11 khoản lệ, phí được giao cho Hội đồng nhân dân tỉnh quyết định dẫn tới thực trạng trong quá trình thực hiện một số khoản phí do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định nhưng lại không có quyền miễn, giảm dẫn tới sự chưa cân xứng về quyền quyết định và quyền miễn, giảm.

36.3.3. Về danh mục phí, lệ phí

* Có một số loại phí, lệ phí mới

Đã có nhiều khoản thu phí, lệ phí mới do Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành từ khi Pháp lệnh phí, lệ phí có hiệu lực cho đến nay. Các khoản phí, lệ phí được ban hành sau này được quy định tại văn bản chuyên ngành có hiệu lực pháp lý cao hơn hoặc do cùng một cấp ban hành. Cụ thể: phí bay qua vùng trời, phí chuyển nhượng khai thác tại Luật hàng không dân dụng Việt nam; phí công chức tại Luật công chức… lệ phí kháng cáo tại Pháp lệnh Trọng tài thương mại…

* Có một số loại phí đã chuyển thành giá dịch vụ hoặc đang có xu hướng chuyển sang thực hiện theo cơ chế giá

– Các loại phí đã chuyển thành giá dịch vụ: Mặc dù có tên trong Danh mục phí, lệ phí nhưng phí kiểm định nhà nước về chất lượng hàng hóa; phí thử nghiệp chất lượng sản phẩm, vật tư, nguyên vật liệu; Phí kiểm định phương tiện đo lường; đã chuyển sang cơ chế giá dịch vụ được quy định tại các Luật chuyên ngành. Ngoài ra, còn có những khoản thu phí khác chuyển sang cơ chế giá cụ thể như sau:

+ Phí đấu thầu, phí kiểm định kết quả đấu thầu đã được thay thế bằng chi phí đấu thầu (quy định tại Luật Đấu thầu)

+ Dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh (quy định tại Luật khám bệnh, chữa bệnh)

+ Phí giám định tư pháp được chuyển sang giá dịch vụ giám định tư pháp (quy định tại Luật Giám định tư pháp)

– Có một số loại phí đang có xu hướng chuyển thành khoản thu không thuộc NSNN hoặc giá dịch vụ như phí trong giữ xe đạp, xe máy, ô tô; phí vệ sinh, phí qua đò, phí chợ, phí bến bãi…nhằm đảm bảo thực hiện tốt chủ trương xã hội hóa của Đảng, Nhà nước đồng thời thúc đẩy thực hiện chủ trương đổi mới cơ chế hoạt động của khu vực sự nghiệp công.

– Có một số loại phí trùng với một số khoản thu khác: phí an ninh, trật tự và phí phòng, chống thiên tai là những khoản thu trùng với những khoản thu mang tính chất đóng góp tự nguyện tại các địa phương.

– Có khoản thu phí chưa thống nhất về tên gọi: phí dự thi tuyển sinh trùng với khoản lệ phí tuyển sinh (quy định tại Luật giáo dục)

– Có loại phí, lệ phí nhằm đơn giản hóa thủ tục hành chính không cần tiếp tục thu: một số khoản thu phí, lệ phí do cải cách quy trình cung cấp dịch vụ công; một số dịch vụ công do cùng cơ quan cung cấp nhưng được quy định thu 02 khoản (thu phí thẩm định bù đắp chi phí cho việc thẩm định và thu lệ phí cấp giấy phép) điều này làm tăng thủ tục hành chính, chi phí thu nộp của cả cơ quan thu và người nộp.

– Có một số khoản phí, lệ phí đã lạc hâu, cần rà soát bãi bỏ để phù hợp với quy định pháp luật chuyên ngành về cung cấp dịch vụ cũng như góp phần giảm thủ tục hành chính khuyến khích đầu tư cung cấp dịch vụ công:

+ Phí bảo vệ nguồn lợi thủy sản, phí giám định hàng hóa xuất, nhập khẩu là 02 khoản phí đã được quy định trong Danh mục ban hành kèm Pháp lệnh nhưng qua 13 năm chưa phát sinh.

+ Phí xây dựng; Phí an ninh trật tự; Phí phòng chống thiên tai; Phí niêm phong, kẹp chì hải quan; Phí chứng nhận xuất xứ hàng hóa (C/O) là những khoản phí đã dừng thu.

+ Lệ phí cấp giấy phép lắp đặt các công trình ngầm; lệ phí cấp giấy phép vận chuyển đặc biệt đối với động, thực vật rừng quý hiếm qua 13 năm thực hiện chưa phát sinh.

+ Ngoài ra còn một số lệ phí khác không còn phù hợp với thực tế như: lệ phí cấp giấy phép hạn ngạch xuất khẩu; lệ phí độc quyền hoạt động trong một số ngành, nghề; lệ phí công chứng, chứng thực; lệ phí bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp và lệ phí bảo hộ quyền tác giả.

36.4. Đề xuất, kiến nghị

36.4.1. Thẩm quyền quyết định về phí, lệ phí

Nhằm khắc phục tình trạng thẩm quyền quyết định về phí, lệ phí còn chưa thống nhất được thể hiện ở nhiều văn bản khác nhau trong hệ thống văn bản pháp luật quy định về lĩnh vực phí, lệ phí như đối với trường hợp án phí và lệ phí tòa án, phí thi hành án, học phí, các nhà làm chính sách cần nghiên cứu, rà soát, phân loại, sửa đổi, bổ sung những quy định mới về thẩm quyền quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng đối với một số khoản phí, lệ phí góp phần thống nhất hệ thống văn bản pháp luật về thẩm quyền quyết định phí, lệ phí.

36.4.2. Về miễn, giảm phí, lệ phí

Trước thực tế về quyền quyết định về phí, lệ phí chưa có sự cân xứng với quyền miễn, giảm phí, lệ phí, các nhà làm chính sách cần nghiên cứu kỹ và đưa ra chính sách về miễn, giảm phí, lệ phí phù hợp với tình hình thực tế tại các địa phương.

36.4.3. Về danh mục phí, lệ phí

– Đối với các loại phí, lệ phí mới được ban hành sau Danh mục chi tiết phí, lệ phí tuy đã được quy định tại các văn bản chuyên ngành có hiệu lực pháp lý cao hơn hoặc cùng một cấp ban hành song vì ban hành sau nên cần phải có văn bản hướng dẫn để thực hiện nhằm đảm bảo tính thống nhất của chính sách, đồng thời cần nghiên cứu và bổ sung vào Danh mục phí lệ phí

– Đối với các loại phí, lệ phí trên thực tế đã chuyển thành giá dịch vụ hoặc đang có xu hướng chuyển sang thực hiện theo cơ chế giá, hoặc đang có xu hướng chuyển thành các khoản thu không thuộc Ngân sách nhà nước, hoặc các loại phí trùng với một số khoản thu khác dẫn đến việc thu phí đã không còn phù hợp nữa, vì vậy các nhà làm chính sách cần rà soát, nghiên cứu để đưa ra khỏi Danh mục phí, lệ phí. Thực hiện theo hướng chỉ quy định thu phí đối với những dịch vụ công do cơ quan nhà nước cung cấp có tính độc quyền cung, những dịch vụ công gắn với chức năng quản lý nhà nước, gắn cung về dịch vụ nhà nước cung cấp và cầu dịch vụ ít hoặc không co giãn. Những dịch vụ công khác không có những tính chất này sẽ thực hiện theo cơ chế thị trường, người sử dụng dịch vụ phải trả tiền cho người cung cấp dịch vụ theo giá dịch vụ.

– Đối với các loại phí, lệ phí chưa thống nhất về tên gọi như phí dự thi dự tuyển với lệ phí tuyển sinh cần thống nhất tên gọi là phí hay lệ phí để có điều chỉnh phù hợp.

– Đối với các loại phí, lệ phí tuy vẫn có tên trong Danh mục phí, lệ phí nhưng trên thực tế đã không thu nhằm đơn giản hóa thủ tục hành chính hoặc những khoản phí tác động đến nhiều thành phần dân cư như học phí, viện phí,… hoặc những khoản phí, lệ phí đã lạc hậu không còn phù hợp cần rà soát và nghiên cứu bãi bỏ các khoản thu phí, lệ phí này.

36.4.4. Về cơ chế quản lý, sử dụng tiền phí thu được

– Phí thu được từ các dịch vụ do cơ quan nhà nước thực hiện là khoản thu NSNN và nộp toàn bộ vào NSNN. Trường hợp cơ quan nhà nước được khoán phí hoạt động từ nguồn thu phí thì được khấu trừ và tổng hợp vào dự toán hàng năm của cơ quan thu phí.

– Phí thu được từ hoạt động dịch vụ do đơn vị sự nghiệp công lập và doanh nghiệp nhà nước thực hiện là khoản thu Ngân sách nhà nước đơn vị thu được để lại một phần tiền phí thu được để trang trải chi phí cung cấp dịch vụ, thu phí; phần còn lại nộp NSNN theo quy định của pháp luật.

– Phí thu được từ các dịch vụ do tổ chức, cá nhân cung cấp hoặc do Nhà nước đầu tư nhưng đã chuyển giao cho tổ chức, cá nhân thực hiện theo nguyên tắc tự chủ tài chính, tự hạch toán kinh doanh là khoản thu không thuộc NSNN. Tổ chức, cá nhân thu phí có quyền quản lý, sử dụng số tiền thu được theo quy định của pháp luật sau khi thực hiện nghĩa vụ thuế.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Pháp lệnh phí, lệ phí năm 2001
  2. Nghị định số 57/2002/NĐ-CP ngày 03/6/2002 quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh phí lệ phí; Nghị định số 24/2006/NĐ-CP ngày 06/3/2006 sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 57/2002/NĐ-CP; Nghị định số 115/2011/NĐ-CP ngày 14/12/2011 sửa đổi, bổ sung NĐ 24/2006/NĐ-CP
  3. Các văn bản pháp luật khác quy định về phí, lệ phí.
  4. Bài viết “Cần hiểu đúng và tránh trá hình về phí, lệ phí” – Báo điện tử www.vietbao.vn – ngày 14/6/2007
  5. Bài viết “Giảm chồng chéo thu phí, lệ phí” –Báo điện tử www.nhandan.com.vn – ngày 21/11/2013
  6. Bài viết “Đánh giá tình hình thực hiện Pháp lệnh Phí và lệ phí và định hướng hoàn thiện” – www.mof.gov.vn – ngày 11/4/2014
  7. Bài viết “ Làm rõ phí, lệ phí để thu đúng” – Báo điện tử www.nhandan.com.vn – ngày 20/3/2014
  8. Bài viết “Băn khoăn gánh nặng phí, lệ phí” – Báo điện tử www.ktdt.vn – ngày 11/4/2015
  9. Bài viết “ Thực hiện phí, lệ phí – những vấn đề đặt ra” – Báo điện tử www.baomoi.com – ngày 26/3/2014
  10.   10.            Bài viết “ Khắc phục những tồn tại, vướng mắc của pháp luật phí, lệ phí hiện hành” – Báo điện tử nhân dân điện tử www.nhandan.org.vn – ngày 06/4/2015
  11. Bài viết “Phí, lệ phí và lãng phí” – Báo tuyên giáo điện tử www.tuyengiao.vn – ngày 09/4/2015
  12. Bài nghiên cứu “Tìm hiểu về phí, lệ phí” của tác giả Trần Vũ Hải trên báo điện tử https://luattaichinh.wordpress.com ngày 25/1/2013

 

 

Bản in

 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *