Chuyên đề 35: ĐIỀU HÀNH NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC NĂM 2014 NHIỆM VỤ, PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP ĐIỀU HÀNH NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC NĂM 2015

Chuyên đề 35: ĐIỀU HÀNH NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC NĂM 2014 NHIỆM VỤ, PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP ĐIỀU HÀNH NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC NĂM 2015

ThS. Nguyễn Thị Thu Trung, Trường Bồi dưỡng cán bộ tài chính – Bộ Tài chính

35.1. Hoạt động điều hành ngân sách năm 2014

35.1.1. Nhiệm vụ, giải pháp và kết quả điều hành ngân sách nhà nước năm 2014

a) Nhiệm vụ điều hành NSNN 2014

Năm 2013 là một năm khó khăn trong điều hành NSNN, tình hình kinh tế Thế giới phục hồi chậm hơn dự báo, kinh tế trong nước chậm phát triển làm ảnh hưởng đến sự ổn định của kinh tế vĩ mô. Đến hết Quý 2, tình hình thực hiện dự toán NSNN được Quốc Hội thông qua vẫn không đạt được như mong muốn, khả năng cuối năm không hoàn thành dự toán, công tác điều hành NSNN đặt trước nguy cơ không thành công, trước tình hình đó, cuối Quý II, đầu quý III, Chính Phủ đã ban hành một loạt giải pháp nhằm tăng thu, giảm chi tối đa, tạo điều kiện thuận lợi cho Doanh nghiệp, quyết định thu vào NSNN một số khoản mà trước đây không tiến hành thu: cổ tức được chia cho phần vốn nhà nước của các công ty cổ phần có vốn góp của nhà nước do Bộ, ngành, địa phương đại diện chủ sở hữu và phần lợi nhuận còn lại sau khi trích nộp các quỹ theo quy định của pháp luật của các Tập đoàn, Tổng công ty Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ; Miễn, giảm một số khoản thuế cho Doanh nghiệp… Quốc hội phải quyết định điều chỉnh bội chi NSNN từ 4,8% GDP lên 5,3% GDP …Nhờ những biện pháp kịp thời đó, đến cuối năm, tình hình thực hiện dự toán đặt ra từ đầu năm tương đối khả quan, thu vượt so với dự toán là 0,4% và chi đảm bảo như trong dự toán đặt ra.

Rút kinh nghiệm từ công tác điều hành NSNN 2013, trong hai năm 2014-2015, Quốc hội yêu cầu Chính phủ tập trung chỉ đạo, điều hành tăng tính ổn định vững chắc kinh tế vĩ mô, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế. Cuối năm 2013, Quốc Hội đã thông qua Nghị Quyết số:53/2013/QH13 ngày 11/11/2013, đề ra nhiệm vụ, mục tiêu tổng quát về KT-XH trong năm 2014 là: Tiếp tục ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát; tăng trưởng hợp lý và nâng cao chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế trên cơ sở đẩy mạnh thực hiện ba đột phá chiến lược gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, tái cơ cấu nền kinh tế. Bảo đảm an sinh xã hội và phúc lợi xã hội, cải thiện đời sống nhân dân. Sử dụng hợp lý và có hiệu quả tài nguyên, bảo vệ môi trường và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu. Đẩy mạnh cải cách hành chính và phòng, chống tham nhũng, lãng phí; cải thiện môi trường kinh doanh. Bảo đảm quốc phòng và an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Mở rộng và nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế.

Trên tinh thần Nghị quyết về KTXH, ngày 12/11/2013 Quốc hội đã thông qua Nghị quyết: NQ 57/2013/QH13 về dự toán NSNN năm 2014 với 3 chỉ tiêu quan trọng nhất, đó là:

Tổng thu NSNN 782.700 tỷ đồng, trong đó: Thu từ nội địa: 539.000 tỷ; Thu từ dầu thô: 85.200 tỷ; Thu từ xuất khẩu, nhập khẩu: 154.000 tỷ; Thu từ viện trợ không hoàn lại: 4.500 tỷ.

Tổng chi NSNN 1.006.700 tỷ đồng, trong đó: Chi đầu tư phát triển: 163.000 tỷ; Chi trả nợ và viện trợ: 120.000 tỷ; Chi phát triển các sự nghiệp KT-XH, quốc phòng, an ninh, quản lý tài chính: 704.400 tỷ; Không chi thực hiện cải cách tiền lương; Chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính: 100 tỷ; Chi dự phòng 19.200 tỷ Bội chi NSNN 224.000 tỷ đồng (tương đương với 5,3%GDP).

b) Giải pháp điều hành NSNN năm 2014.

Ngay từ đầu năm, căn cứ vào Nghị quyết về KTXH và dự toán NSNN năm 2014 đã được Quốc Hội thông qua từ cuối năm 2013; Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 02-01-2014 về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu chỉ đạo điều hành thực hiện kế hoạch phát triển KT-XH và dự toán ngân sách nhà nước năm 2014; Các bộ, ngành, địa phương theo chức năng, nhiệm vụ kịp thời ban hành chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 01/NQ-CP của Chính phủ.

Tại Nghị quyết số 01/NQ-CP, Chính phủ đưa ra các giải pháp cần phải tập trung thực hiện trong năm 2014, tóm tắt như sau:

Một là, tập trung tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, phục hồi tăng trưởng, tạo điều kiện cho sản xuất kinh doanh phát triển, từ đó tạo nguồn thu ngân sách; Tổ chức thực hiện tốt các luật sửa đổi, bổ sung về Quản lý thuế, Thuế thu nhập doanh nghiệp, Thuế thu nhập cá nhân, Thuế Giá trị gia tăng; Quản lý thu, điều hành thu, chống thất thu, chống buôn lậu.

+ Cải thiện môi trường kinh doanh, hỗ trợ đẩy mạnh cải cách, nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp.

+ Tổ chức triển khai thực hiện tốt các Luật thuế sửa đổi, bổ sung

 + Tăng cường theo dõi, kiểm tra, kiểm soát việc kê khai thuế của các tổ chức, cá nhân nhằm phát hiện và xử lý kịp thời các trường hợp kê khai không đúng, không đủ số thuế phải nộp;

Hai là, quản lý chi chặt chẽ, triệt để tiết kiệm, chống lãng phí; cơ cấu lại chi NSNN; Rà soát lại các Chương trình mục tiêu quốc gia và các chính sách chi ngân sách để đảm bảo thiết thực, hiệu quả, tránh dàn trải.

+ Tiếp tục thực hiện cơ cấu lại chi NSNN theo hướng ưu tiên đảm bảo các chính sách chế độ đã ban hành cho con người, chi an sinh xã hội; Ưu tiên bố trí đảm bảo đủ chi trả nợ nước ngoài (cả gốc và lãi), một phần chi trả nợ trong nước và kết hợp với phát hành đảo nợ;

+ Quản lý chi NSNN chặt chẽ, tiết kiệm và hiệu quả, hạn chế thành lập các Quỹ ngoài ngân sách mà nguồn kinh phí hoạt động chủ yếu từ NSNN; Hạn chế tối đa việc ban hành các chính sách, chế độ mới làm tăng chi ngân sách nhà nước; Tiếp tục rà soát hệ thống định mức kinh tế – kỹ thuật đảm bảo phù hợp với thực tế, khả năng của ngân sách nhà nước.

+ Tăng cường huy động các nguồn lực trong và ngoài nước cho đầu tư phát triển nền kinh tế.

+ Tiếp tục tăng cường quản lý đầu tư từ NSNN, trái phiếu Chính phủ và tín dụng ưu đãi, khắc phục tình trạng bố trí vốn phân tán, dàn trải, nâng cao hiệu quả đầu tư. Thực hiện theo đúng quy định tại Chỉ thị số 1792/CT-TTg ngày 15/10/2011 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường quản lý đầu tư từ vốn NSNN và vốn trái phiếu Chính phủ; Quyết liệt thực hiện xử lý nợ đọng xây dựng cơ bản theo Chỉ thị số 27/CT-TTg ngày 10/10/2012 của Thủ tướng Chính phủ;

+ Đổi mới cơ chế quản lý, điều hành thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia theo hướng lồng ghép và tăng quyền chủ động đối với địa phương trong việc sử dụng nguồn vốn NSNN

+ Đối với cho vay tín dụng ưu đãi, thực hiện soát xét theo hướng thu gọn các ngành nghề, lĩnh vực ưu tiên cho phù hợp với yêu cầu tái cấu trúc lại nền kinh tế, thực hiện các mục tiêu an sinh xã hội.

Ba là, kết hợp đồng bộ, chặt chẽ chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ.

+ Điều hành CSTT thận trọng, hiệu quả gắn kết chặt chẽ với chính sách tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô khác đảm bảo mục tiêu kiềm chế lạm phát, tăng cường ổn định kinh tế vĩ mô và bảo đảm tăng trưởng hợp lý.

+ Tăng cường quản lý NSNN, kiểm soát chặt chẽ nợ công, nợ xấu của Doanh nghiệp nhà nước. Kiểm soát nhập siêu ở mức hợp lý. Tiếp tục thực hiện hiệu quả các biện pháp khuyến khích, đẩy mạnh xuất khẩu

 + Tiếp tục thực hiện chính sách tài khoá chặt chẽ, quán triệt quan điểm triệt để tiết kiệm, chống lãng phí. Đảm bảo thực hiện các nhiệm vụ thu, chi theo dự toán đã được QH quyết định. Phấn đấu tăng thu, triệt để tiết kiệm chi để tạo nguồn xử lý các nhiệm vụ chi cấp thiết phát sinh, giữ bội chi NSNN không quá chỉ tiêu QH thông qua. Tạm dừng ban hành chính sách làm giảm thu hoặc làm tăng chi NSNN.

Bốn là,quản lý nợ công đảm bảo đúng cam kết trả nợ, đảm bảo an ninh tài chính quốc gia.

+ Tiếp tục triển khai các Đề án và giải pháp của Chiến lược nợ công và nợ nước ngoài của quốc gia; Chương trình quản lý nợ trung hạn 2013-2015. Thường xuyên theo dõi, tổng hợp và quản lý các chỉ tiêu về nợ, đảm bảo an toàn về nợ và an ninh tài chính quốc gia. Nâng cao hiệu quả hoạt động kinh tế đối ngoại. Tiếp tục tăng cường các biện pháp vận động tài trợ vốn ODA

Năm là,đổi mới cơ chế tài chính đơn vị sự nghiệp công, giá dịch vụ công.

+ Khẩn trương tổ chức triển khai thực hiện có hiệu quả Kết luận số 37-TB/TW ngày 26/5/2011 của Bộ Chính trị về đổi mới cơ chế hoạt động của đơn vị sự nghiệp công lập, đẩy mạnh xã hội hoá một số loại hình dịch vụ sự nghiệp; Nghị quyết số 40/NQ-CP ngày 09/8/2012.

Sáu là,tăng cường kỷ luật, kỷ cương tài chính, đẩy mạnh cải cách hành chính, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.

+ Các Bộ, cơ quan, địa phương thực hiện nghiêm kỷ luật tài chính – ngân sách nhà nước, tăng cường kiểm tra, giám sát và công khai, minh bạch việc sử dụng NSNN.

+ Rà soát, quản lý chặt chẽ các khoản chi, đảm bảo trong phạm vi dự toán đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt và theo đúng chế độ quy định;

+ Tiếp tục tổ chức thực hiện có hiệu quả Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 – 2020;

Trên cơ sở hệ thống giải pháp của Chính Phủ đưa ra, Bộ Tài chính cũng đã ban hành, cụ thể hóa các Nghị Quyết của Bộ chính trị, của Quốc Hội, phương hướng – nhiệm vụ phát triển KTXH của Chính Phủ trong năm 2014 vào điều kiện, hoạt động của ngành, từ đó đã đề ra hệ thống 6 giải pháp điều hành NSNN năm 2014 như sau:

(1) Về thu NSNN:Trên cơ sở kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm 2014 và dự báo bối cảnh kinh tế thế giới và trong nước, đồng thời xét đến yếu tố tác động do điều chỉnh chính sách thu, căn cứ dự toán NSNN năm 2014 đã được Quốc hội thông qua, Thủ tướng Chính phủ giao, các Bộ, cơ quan Trung ương và các địa phương triển khai giao nhiệm vụ thu ngân sách cho các đơn vị trực thuộc và chính quyền cấp dưới theo đúng quy định, đảm bảo không thấp hơn so với dự toán được giao.

(2) Về chi NSNN: Dự toán chi NSNN năm 2014 là 1.006.700 tỷ đồng, tăng 28.700 tỷ đồng (2,9%) so dự toán năm 2013, trong đó phải dành khoảng 54.000 tỷ đồng cho các nhiệm vụ tăng chi (chi trả nợ 15.000 tỷ đồng, chi tiền lương tăng thêm 20.000 tỷ đồng, chi quốc phòng, an ninh và một số chính sách và nhiệm vụ mới). Như vậy, thực chất dự toán chi NSNN năm 2014 giảm 25.300 tỷ đồng so với dự toán năm 2013, rất thấp so với nhu cầu chi của năm 2014, đòi hỏi phải bố trí chi hết sức chặt chẽ, tiết kiệm. Trong đó:

– Bố trí dự toán chi các chương trình mục tiêu quốc gia giảm 50% so năm 2013.

– Tiết kiệm 10% chi thường xuyên để thực hiện mức lương cơ sở 1,15 triệu đồng/tháng; ngoài ra, tiết kiệm (giảm) 10% chi thường xuyên ngoài lương của các cơ quan, đơn vị so với dự toán năm 2013; không bố trí mua xe công (trừ xe chuyên dùng theo qui định của pháp luật); đồng thời, yêu cầu các cơ quan, đơn vị triệt để tiết kiệm, không tăng biên chế, chỉ bố trí tối đa khoảng 70% so với năm 2013 đối với các khoản chi hội nghị, hội thảo, đoàn ra,…

– Đối với các địa phương, trong điều kiện thu 2014 thấp, số bổ sung từ NSTW không tăng, để đảm bảo các chế độ, chính sách trên địa bàn đòi hỏi các địa phương cũng phải quán triệt nguyên tắc triệt để tiết kiệm.

(3) Bội chi NSNN: Theo lộ trình, cần giảm dần bội chi để đạt mức 4,5% GDP vào năm 2015. Tuy nhiên, do khả năng cân đối NSNN năm 2014 rất khó khăn, trong khi vẫn phải bố trí tăng chi đảm bảo các nhiệm vụ quan trọng, thiết yếu nên vẫn để mức bội chi NSNN năm 2014 là 5,3%.

(4) Mức phát hành trái phiếu Chính phủ năm 2014 là 100.000 tỷ đồng, trong đó 60.000 tỷ đồng thuộc kế hoạch giai đoạn 2011-2015 và thêm 40.000 tỷ đồng thuộc giai đoạn 2014-2016.

(5) Rà soát, quản lý chặt chẽ các khoản chi trong phạm vi dự toán được giao và theo đúng chế độ quy định; chống thất thoát, lãng phí, tham nhũng. Chỉ đạo thực hiện nghiêm các kết luận thanh tra và việc xử lý sau thanh, kiểm tra, kiểm toán đối với những trường hợp vi phạm, gây lãng phí tiền, tài sản nhà nước, tài nguyên thiên nhiên.

(6) Tiếp tục tổ chức thực hiện có hiệu quả Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 – 2020; đẩy mạnh áp dụng cơ chế một cửa, một cửa liên thông và ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý. Đẩy mạnh xã hội hóa một số dịch vụ công gắn với tinh giản bộ máy tổ chức, biên chế, tái cấu trúc nền tài chính công.

c) Kết quả điều hành NSNN 2014.

Năm 2014, toàn ngành tài chính cũng như cả nước đã thực hiện nhiệm vụ tài chính – ngân sách nhà nước (NSNN) trong bối cảnh tình hình kinh tế vẫn còn nhiều khó khăn, nhất là tổng cầu tăng chậm, thiên tai, dịch bệnh và tình hình an ninh chính trị thế giới, khu vực diễn biến phức tạp, khó lường. Nhưng với sự nỗ lực, quyết liệt trong chỉ đạo, điều hành NSNN, cũng như sự đồng thuận, ủng hộ của nhân dân, của cộng đồng Doanh nghiệp, cuối năm đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Cụ thể, kết quả điều hành NSNN theo từng thời kỳ trong năm như sau:

(1)Kết thúc Quý I:

Kết quả thu: Thu NSNN đạt 195.070 tỷ đồng, bằng 24,9% dự toán, tăng 15,9% so với cùng kỳ năm 2013;

Kết quả chi NSNN: Các nhiệm vụ chi ngân sách được đảm bảo theo đúng dự toán, đáp ứng đủ theo tiến độ triển khai thực hiện của các chủ đầu tư, đơn vị sử dụng ngân sách, đảm bảo an sinh xã hội, kinh phí phục vụ sản xuất, khắc phục hậu quả thiên tai. Tổng chi lũy kế NSNN ước đạt 232.160 tỷ đồng, bằng 23,1% dự toán, tăng 5,4% so với cùng kỳ năm 2013.

Tình hình bội chi NSNN:bội chi NSNN ước 37.090 tỷ đồng, bằng 16,5% mức bội chi Quốc hội quyết định đầu năm. Số bội chi được bù đắp bằng vay trong nước và vay ngoài nước theo kế hoạch.

Tình hình huy động vốn: Đến hết quý I/2014, đã huy động được 83.014 tỷ đồng trái phiếu chính phủ, bằng 35,8% kế hoạch cả năm;

Thuận lợi:

Với kết quả thực hiện các nhiệm vụ điều hành NSNN trong quý I, cho thấy khả năng thực hiện dự toán thu, chi NSNN đạt khá, khả năng phục hồi của nền kinh tế ngày càng trở lên rõ nét và ổn định hơn bắt đầu từ cuối năm 2013.

Khó khăn:

– Doanh nghiệp vẫn còn gặp nhiều khó khăn trong sản xuất kinh doanh, gây ảnh hưởng không nhỏ đến tập trung nguồn thu vào cho NSNN, hiện tượng thất thu, nợ đọng thuế vẫn còn nhiều;

– Ý thức thực hành tiết kiệm, chống lãng phí chưa cao, chưa triệt để, chưa quyết liệt; Còn nhiều thủ tục hành chính gây rườm ra và nhũng nhiễu….

Giải pháp:

 – Cần phải tiếp tục nỗ lực phấn đấu phát triển sản xuất – kinh doanh, tháo gỡ kịp thời khó khăn cho doanh nghiệp,

– Quản lý chặt chẽ nguồn thu, tăng cường chống thất thu và xử lý nợ đọng;

– Chủ động điều hành chi ngân sách chặt chẽ, tiết kiệm, phù hợp với nguồn thu.

 (2) Kết thúc Quý II:

Kết quả thu: Thu NSNN ước đạt 52,8% dự toán, tăng 15,8% so với cùng kỳ năm 2013. Trong đó:

+ Thu nội địa: Ước đạt 280,65 nghìn tỷ đồng, bằng 52,1% dự toán, tăng 18% so với cùng kỳ năm 2013. Trong đó, thu từ dầu thô đạt 54,4 nghìn tỷ đồng, bằng 63,9% dự toán;

+ Thu cân đối từ hoạt động xuất nhập khẩu: đạt 77 nghìn tỷ đồng, bằng 50% dự toán, tăng 27% cùng kỳ năm 2013,;

Ước tính có 44/63 địa phương có số thu nội địa đạt tiến độ dự toán (trên 50%), 19/63 địa phương thu đạt dưới 50% dự toán. So với cùng kỳ năm 2013, có 49/63 địa phương thu cao hơn, 14 địa phương thu thấp hơn.

Kết quả chi: Chi NSNNước đạt 492,37 nghìn tỷ đồng, bằng 48,9% dự toán, tăng 8,8% so với cùng kỳ năm 2013, trong đó:

+ Chi Đầu tư phát triển: Ước đạt 77,8 nghìn tỷ đồng, bằng 47,7% dự toán.

+ Chi trả nợ: Ước đạt 60,9 nghìn tỷ đồng, bằng 50,7% dự toán, tăng 12,4% so với cùng kỳ năm 2013, đảm bảo thanh toán đầy đủ và kịp thời các khoản nợ đến hạn.

+ Chi thường xuyên: Ước đạt 353,7 nghìn tỷ đồng, bằng 50,3% dự toán, tăng 10,4% so với cùng kỳ năm 2013; đáp ứng kịp thời các nhiệm vụ chi.

– Về cân đối ngân sách, bội chi NSNN ước 78,81 nghìn tỷ đồng, bằng 35,2% mức bội chi Quốc hội quyết định đầu năm. Số bội chi được bù đắp bằng vay trong nước và vay ngoài nước theo kế hoạch.

– Tình hình huy động vốn: Đến hết ngày 30/6/2014 đã triển khai huy động được 196,5 nghìn tỷ đồng (vay trong nước 179,5 nghìn tỷ; vay ngoài nước 17 nghìn tỷ), bằng 60,6% yêu cầu nhiệm vụ huy động cả năm bù đắp bội chi NSNN và cho đầu tư phát triển;

Thuận lợi:

– Nền kinh tế có sự chuyển biến tích cực, hoạt động sản xuất – kinh doanh của các doanh nghiệp phục hồi và phát triển (Trong 5 tháng đầu năm, có khoảng 31,2 nghìn doanh nghiệp thành lập mới, tăng 0,7% về số doanh nghiệp, tăng 11% về vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2013), nhất là trong các lĩnh vực ngân hàng, viễn thông, ô tô, dầu khí,… làm tăng nguồn thu ngân sách.

– Sự chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, vào cuộc quyết tâm của các bộ, ngành và đặc biệt là của cấp ủy, chính quyền các địa phương trong việc tập trung tháo gỡ khó khăn cho sản xuất – kinh doanh, từ đó tạo điều kiện cho công tác thu NSNN.

– Cơ quan Thuế, Hải quan đã chủ động phối hợp với các cấp, các ngành triển khai quyết liệt các biện pháp quản lý thu NSNN, tổ chức theo dõi, bám sát tình hình, nắm chắc đối tượng, địa bàn; kiểm soát chặt chẽ công tác hoàn thuế, đôn đốc thu hồi nợ đọng thuế,…

Khó khăn, hạn chế:

Bên cạnh những kết quả tích cực đã đạt được, công tác thực hiện dự toán NSNN trong 6 tháng đầu năm vẫn còn hạn chế, khó khăn cần khắc phục:

– Các doanh nghiệp còn nhiều khó khăn; số doanh nghiệp giải thể, ngừng hoạt động còn cao, khó tiếp cận vốn, tăng trưởng tín dụng thấp;

– Thiên tai, dịch bệnh, biến đổi khí hậu diễn biến phức tạp.

– Trung Quốc đã hạ đặt trái phép giàn khoan HD 981 trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam, vi phạm nghiêm trọng luật pháp quốc tế, trái với tuyên bố ứng xử của các bên ở biển Đông (DOC) và thỏa thuận cấp cao giữa hai nước và ảnh hưởng nghiêm trọng đến KTXH trong nước, trong đó có thu, chi ngân sách nhà nước.

– Công tác quản lý thu có nơi, có lúc còn chưa chặt chẽ; việc xử lý nợ đọng thuế tuy đã đạt một số kết quả tích cực, nhưng số nợ đọng vẫn còn lớn và tiếp tục phát sinh; vẫn còn tình trạng cố ý trốn tránh nghĩa vụ về thuế, gian lận thuế, buôn lậu, gian lận thương mại v.v..

– Công tác phân bổ và giao dự toán có nơi còn chậm, vẫn còn tình trạng chưa phân bổ hết dự toán ngay từ đầu năm, hoặc bố trí vốn đầu tư cho các dự án chưa đủ điều kiện, phân bổ vốn không đúng với cơ cấu, chương trình hỗ trợ được giao, chưa sát với khả năng triển khai thực hiện…

Các giải pháp cần tiếp tục thực hiện trong 6 tháng cuối năm

Trước những khó khăn, hạn chế đó, để phấn đấu hoàn thành cao nhất nhiệm vụ điều hành NSNN, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội năm 2014, Ngoài những giải pháp đưa ra từ đầu năm cần tiếp tục thực hiện, Ngành Tài chính tiếp tục đưa ra một số giải pháp phù hợp với tình hình mới góp phần chủ động đáp ứng yêu cầu cấp thiết về quốc phòng, an ninh và bảo vệ chủ quyền biển đảo của đất nước, cụ thể:

– Ngành tài chính chủ động tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương xây dựng các phương án, giải pháp ứng phó với những tình huống phát sinh trong quan hệ với Trung Quốc;

– Trước tình hình Biển Đông diễn biến phức tạp, chủ động đánh giá sát khả năng thực hiện thu ngân sách nhà nước năm 2014. Bộ Tài chính tính toán, có phương án chủ động ứng phó, nhất là về thực hiện các nhiệm vụ tài chính, ngân sách nhà nước. Đồng thời tiếp tục thực hiện tốt các giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp, người lao động bị thiệt hại tại một số địa phương do ảnh hưởng của tình hình Biển Đông.

– Điều hành ngân sách nhà nước chủ động, tích cực, bảo đảm cân đối ngân sách các cấp. Tăng cường kiểm tra, giám sát chống thất thu, chống chuyển giá, nợ đọng thuế…, bảo đảm thu đúng, thu đủ, thu kịp thời vào ngân sách nhà nước. Trong điều hành 6 tháng cuối năm, dự phòng ngân sách trung ương không còn nhiều, cần phải tập trung cho các nhiệm vụ khắc phục hậu quả thiên tai, bão lũ, dịch bệnh, yêu cầu các địa phương cần chủ động điều hành dự phòng ngân sách cấp mình, bảo đảm đáp ứng kịp thời các nhiệm vụ chi cấp bách phát sinh trên địa bàn.

– Khuyến khích, tạo điều kiện để các doanh nghiệp tìm kiếm, mở rộng, đa dạng hóa thị trường, giảm sự tập trung quá lớn vào một thị trường, một đối tác.

– Tiếp tục tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra chấp hành pháp luật về tài chính, thu, chi ngân sách nhà nước, xử lý nghiêm những hành vi vi phạm; tạo điều kiện, khuyến khích để các doanh nghiệp phát triển

– Quản lý chặt chẽ nợ công, bảo đảm trong giới hạn an toàn cho phép; có giải pháp phù hợp để cơ cấu lại các khoản nợ, giảm chi phí vay nợ và rủi ro, tăng cường quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay.

– Đẩy mạnh cải cách hành chính, đặc biệt tạo thuận lợi tối đa cho người dân và doanh nghiệp theo Nghị quyết 19/NQ-CP ngày 18 tháng 3 năm 2014 của Chính phủ về cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh.

(3) Kết thúc Quý III

Kết quả thu:Tổng thu cân đối NSNN ước đạt 636 nghìn tỷ đồng, bằng 81,3% dự toán, tăng 17,2% so với cùng kỳ năm 2013, trong đó:

+ Thu nội địa: Ước đạt 427,89 nghìn tỷ đồng, bằng 79,4% dự toán, tăng 20,1% so với cùng kỳ năm 2013;

+ Thu từ dầu thô: Ước đạt 79,78 nghìn tỷ đồng, bằng 93,6% dự toán, tăng 1,3% so với cùng kỳ năm 2013

+ Thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất nhập khẩu: Ước đạt 125,1 nghìn tỷ đồng, bằng 81,2% dự toán, tăng 21,3% so với cùng kỳ năm 2013.

Tính đến tháng 9/2014, cơ quan Thuế đã tiến hành thanh tra, kiểm tra trên 39 nghìn doanh nghiệp, tăng 8,1% so với cùng kỳ năm 2013; với tổng số thuế tăng thu qua thanh tra, kiểm tra 7.440 tỷ đồng, tăng 13,4% so với cùng kỳ; số tiền thuế nộp vào ngân sách là 5.278 tỷ đồng, bằng 70,9% số thuế tăng thu qua thanh tra, kiểm tra và tăng 30,7 % so với cùng kỳ năm 2013.

Kết quả chi: Tổng chi ngân sách nhà nước ước đạt 768 nghìn tỷ đồng, đạt 76,3% dự toán, tăng 11,9% so với cùng kỳ năm 2013; trong đó:

+ Chi đầu tư phát triển:Ước đạt 128 nghìn tỷ đồng, bằng 78,6% dự toán, tăng 3,4% so với cùng kỳ năm 2013.

+ Chi trả nợ và viện trợ: Ước đạt 101,86 nghìn tỷ đồng, bằng 84,9% dự toán, tăng 30% so với cùng kỳ năm 2013, đảm bảo thanh toán đầy đủ và kịp thời các khoản nợ đến hạn.

+ Chi phát triển các sự nghiệp kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý hành chính: Ướcđạt 538,07 nghìn tỷ đồng, bằng 76,4% dự toán, tăng 11,2% so với cùng kỳ năm 2013.

Tính đến hết tháng 9/2014, tổng nguồn dự phòng NSTW năm 2014 đã sử dụng và dự kiến sử dụng khoảng 8.341 tỷ đồng, bằng 80,9% dự toán (10.300 tỷ đồng)

Kết quả cân đối ngân sách: Bội chi NSNN ước đạt 131,99 nghìn tỷ đồng, bằng 58,9% mức bội chi Quốc hội quyết định đầu năm.

Tình hình huy động vốn cho NSNN:Luỹ kế từ đầu năm đến hết ngày 25/9/2014, KBNN huy động được 210.198,3 tỷ đồng, đạt 90,6% kế hoạch Bộ giao năm 2014, bằng 145,0% so với cùng kỳ năm 2013.

Thuận lợi:

– Công tác thu NSNN kết thức quý III kết quả đạt khá. Cơ quan Thuế, Hải quan đã tập trung triển khai quyết liệt các biện pháp quản lý thu NSNN;

– Đẩy mạnh thực hiện quyết liệt cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực thuế, hải quan theo Chỉ thị số 24/CT-TTg ngày 5/8/2014 của Thủ tướng Chính phủ; quyết liệt thực hiện mục tiêu giảm số giờ kê khai nộp thuế, tăng số doanh nghiệp khai thuế điện tử và số địa phương nộp thuế điện tử, tạo thuận lợi ở mức cao nhất cho doanh nghiệp và người dân.

Khó khăn:

– Tổng cầu phục hồi chậm; sản xuất kinh doanh còn khó khăn; nợ xấu chưa được xử lý hiệu quả; vốn đối ứng thiếu; nợ công có xu hướng gia tăng. Năng suất lao động, hiệu quả sức cạnh tranh còn thấp. Việc làm, đời sống của một bộ phận dân cư, nhất là hộ nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số còn nhiều khó khăn. Thiên tai, dịch bệnh diễn ra phức tạp, khó lường, ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống nhân dân.

Giải pháp đặt ra cho những tháng cuối năm 2014

Tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 25/CT-TTg ngày 13/8/2014 của Thủ tướng Chính Phủ, tập trung những giải pháp cần thiết để điều hành NSNN những tháng cuối năm đó là:

– Phấn đấu vượt dự toán thu ngân sách khoảng 8-10%

+ Thực hiện các giải pháp giải quyết những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị của các doanh nghiệp; tập trung hỗ trợ các doanh nghiệp khắc phục thiệt hại sớm trở lại sản xuất kinh doanh; giảm dần số lượng doanh nghiệp ngừng hoạt động và giải thể;

+ Tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, nhất là trên các lĩnh vực gia nhập thị trường, xuất nhập khẩu, tiếp cận nguồn vốn, tín dụng, thuế và hải quan, đất đai, bất động sản, đầu tư, xây dựng, tài nguyên môi trường, lao động,… tạo điều kiện thuận lợi ở mức cao nhất cho doanh nghiệp hoạt động.

+ Hướng dẫn về ưu đãi, miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp;

+ Triển khai các giải pháp điều hành tín dụng phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô, mục tiêu kiểm soát lạm phát và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, đẩy mạnh xử lý nợ xấu;

– Tăng cường quản lý thu, chống thất thu và xử lý nợ đọng thuế

+ Rà soát, nắm chắc đối tượng, nguồn thu ngân sách trên địa bàn; kiểm soát việc kê khai thuế, quyết toán thuế của các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân để thu đúng, thu đủ, thu kịp thời các khoản thuế, phí, lệ phí và thu khác vào ngân sách nhà nước.

+ Đôn đốc thu đầy đủ, kịp thời số thuế và thu ngân sách được gia hạn trong năm 2013 đến hạn phải nộp vào ngân sách; Các khoản phải thu theo kết quả Kiểm toán, Thanh tra và các cơ quan bảo vệ pháp luật. Quản lý chặt chẽ công tác hoàn thuế.

+ Duy trì thường xuyên công tác kiểm tra, thanh tra thuế và phối hợp giữa cơ quan thu, cơ quan tài chính và các lực lượng chức năng trong công tác quản lý thu, chống thất thu và xử lý nợ đọng thuế.

 + Thực hiện thu hồi để bổ sung dự phòng ngân sách trung ương và ngân sách địa phương

– Hạn chế tối đa việc ứng vốn cho các công trình, dự án

+ Không kéo dài thời gian thực hiện các khoản vốn đầu tư thuộc kế hoạch năm 2014, các khoản ứng trước ngân sách nhà nước và trái phiếu Chính phủ, các khoản bổ sung kế hoạch sang năm 2015 (trừ một số trường hợp được cấp thẩm quyền cho phép kéo dài);

+ Chủ động cắt giảm hoặc lùi thời gian thực hiện đối với các khoản chi mua sắm để thay thế trang thiết bị, xe ô tô… tuy đã đến thời hạn thanh lý, thải loại nhưng vẫn có thể sử dụng được. Sau ngày 31/10/2014, sẽ ngừng thực hiện và hủy bỏ kinh phí mua sắm, sửa chữa đã bố trí trong dự toán của các đơn vị nhưng đến thời điểm đó vẫn chưa phê duyệt dự toán, chưa tổ chức đấu thầu.

+ Hạn chế tối đa việc tổ chức các lễ hội, lễ kỷ niệm, lễ khởi công, lễ khánh thành; kiên quyết cắt giảm, không tổ chức các hội nghị, hội thảo có nội dung không thiết thực.

+ Rà soát, quản lý chặt chẽ các khoản chi chuyển nguồn, chỉ thực hiện chuyển nguồn đối với một số khoản chi thật sự cần thiết theo đúng quy định của pháp luật.

+ Tập trung chỉ đạo quản lý chặt chẽ việc phân bổ, sử dụng nguồn dự phòng ngân sách đã bố trí dự toán ở các cấp ngân sách;

(4) Kết quả điều hành NSNN cuối năm 2014:

Cuối năm 2014, triển khai tích cực những giải pháp điều hành NSNN đưa ra từ đầu năm, cũng như trong từng thời kỳ và đạt được nhiều kết quả tổng thể đáng ghi nhận sau:

– Kết quả thu Ngân sách: Tổng thu cân đối NSNN(sau khi loại trừ hoàn thuế GTGT 80.007 tỷ đồng) ước khoảng 863.520 tỷ đồng, tăng 10,3% so với dự toán (tăng 80.820 tỷ đồng). Trong đó:

+ Thu nội địa đạt 583.630 tỷ đồng, tăng 8,3% so với dự toán (tăng 44.630 tỷ đồng), trong đó: các khoản thu từ hoạt động SX-KD đều vượt dự toán (thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 10,8%, thu từ khu vực công thương nghiệp NQD tăng 4,6%, thu từ khu vực DNNN tăng 1,9%); các khoản thu từ nhà, đất cũng đạt cao nhờ thị trường bất động sản và nhu cầu tiêu dùng của xã hội được cải thiện.

+ Thu từ dầu thô: đạt 100.080 tỷ đồng, tăng 14.880 tỷ đồng (17,5%) so dự toán, giá dầu bình quân đạt 107,7 USD/thùng, tăng 9,3 USD thùng so dự toán.

+ Thu cân đối từ hoạt động XNK: đạt 173.360 tỷ đồng, tăng 19.360 tỷ đồng (12,6%) so dự toán, nhờ kim ngạch XNK đạt khá, trong đó: kim ngạch xuất khẩu tăng 13,7%, kim ngạch nhập khẩu tăng 12,1% so với năm 2013.

+Thu viện trợ không hoàn lại: đạt 6.430 tỷ đồng, tăng 1.930 tỷ đồng (43%) so dự toán.

Hầu hết các địa phương đều thu đạt và vượt dự toán được giao (6 địa phương thu không đạt kế hoạch). Nguồn vượt thu NSNN dành 10 nghìn tỷ đồng chuyển nguồn sang 2015 thực hiện chính sách tiền lương; phần còn lại tập trung thanh toán nợ và tăng chi trả nợ của NSNN.

Năm 2014, ngành Tài chính đã thanh tra, kiểm tra hơn 67.000 DN; kiểm tra trên 3.000 hồ sơ sau hoàn thuế; thanh tra kiểm tra gần 3.000 DN lỗ, DN có dấu hiệu chuyển giá và DN có hoạt động giao dịch liên kết.

Công tác quản lý nợ thuế cũng được chú trọng thông qua việc tăng cường áp dụng các biện pháp đôn đốc thu nợ, cưỡng chế nợ thuế bằng nhiều hình thức phù hợp. Kết quả là năm 2014 đã thu 50% số nợ thuế tại thời điểm cuối năm 2013.

– Về chi NSNN: Tổng chi NSNN đạt 1.087.520 tỷ đồng, tăng 8% (80.820 tỷ đồng) so dự toán. Trong đó:

+ Chi đầu tư phát triển tăng 27,6% (45.000 tỷ đồng) so dự toán; chi trả nợ và viện trợ bằng dự toán;

+ Chi thường xuyên tăng 4% (28.100 tỷ đồng) so dự toán. Bên cạnh đó, đã xuất cấp trên 102.900 tấn gạo dự trữ quốc gia để cứu trợ cho nhân dân của địa phương ở những vùng bị thiếu đói, giáp hạt và hỗ trợ cho học sinh vùng khó khăn.

Công tác điều hành chi NSNN được thực hiện chủ động, tích cực; đảm bảo cân đối ngân sách các cấp; đáp ứng đầy đủ, kịp thời các nhiệm vụ chi về quốc phòng, an ninh, GD-ĐT, y tế, văn hóa, đảm bảo ASXH và xử lý kịp thời các nhiệm vụ quan trọng phát sinh (khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh, đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển đảo…)

Công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm soát chi NSNN được chú trọng và tăng cường. Ước tính năm 2014, hệ thống Kho bạc Nhà nước đã thực hiện kiểm soát chi đối với 944.833 tỷ đồng, bằng 93,8% dự toán, trong đó đã kiểm soát 679.165 tỷ đồng chi thường xuyên của NSNN (không bao gồm chi trả nợ, viện trợ, chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính, dự phòng), đạt 96,4% dự toán. Phát hiện khoảng 36.500 khoản chi chưa đủ thủ tục theo quy định, từ chối thanh toán 39 tỷ đồng và đối với kiểm soát thanh toán vốn đầu tư đã từ chối chi 65 tỷ đồng

– Về cân đối NSNN: Bội chi NSNN năm 2014 là 224 nghìn tỷ đồng, bằng dự toán, tương đương 5,3%GDP kế hoạch. Tính đến ngày 31/12/2014, dư nợ công bằng 59,6%GDP, dư nợ Chính phủ bằng 47,4%GDP, dư nợ ngoài nước bằng 40,3%GDP, trong giới hạn cho phép.

Xử lý những khó khăn trong cân đối ngân sách của một số địa phương do nguyên nhân khách quan (thay đối chính sách thu thuế GTGT; hoạt động SXKD suy giảm) đã tăng tiến độ bổ sung cân đối 3.68 tỷ đồng và tạm ứng NSTW 3.880 tỷ đồng cho một số địa phương giảm thu để hỗ trợ xử lý khó khăn trong cân đối ngân sách, đảm bảo các nhiệm vụ chi theo dự toán được giao.

– Công tác huy động vốn cho ngân sách nhà nước và cho đầu tư phát triển đạt kết quả cao: Năm 2014, Việt Nam đảo nợ khoảng 77.000 tỷ đồng thông qua việc sử dụng một phần vay mới để đảo nợ với kỳ hạn dài hơn, lãi suất thấp hơn, góp phần giảm áp lực trả nợ trong ngắn hạn và giảm chi phí vay vốn. Đợt phát hành 1 tỷ USD vốn trái phiếu chính phủ ra thị trường quốc tế đã hoán đổi được 54,4% giá trị gốc của trái phiếu quốc tế năm 2005 và 25,4% giá trị gốc của trái phiếu quốc tế năm 2010 góp phần tái cơ cấu nợ công theo hướng kéo dài thời hạn vay và giảm áp lực về nghĩa vụ trả nợ. Việc đảo nợ này không làm tăng nợ công và phù hợp với thông lệ quốc tế, qua đó tiết kiệm được chi phí, giãn áp lực bố trí nguồn trả nợ cho các năm 2015, 2016; đồng thời tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tiếp cận thị trường vốn quốc tế thuận lợi và chi phí thấp hơn. Tính đến cuối năm 2014, nợ công của Việt Nam ở mức 60,3% GDP, nợ Chính phủ là 46,9% GDP, nợ nước ngoài của quốc gia là 39,9% GDP, đảm bảo các chỉ tiêu nợ trong giới hạn cho phép, không tác động lớn đến kinh tế vĩ mô.

Tăng cường quản lý chặt chẽ đối với nợ của chính quyền địa phương. Khuyến khích, hướng dẫn và quản lý chặt chẽ việc địa phương phát hành trái phiếu chính quyền địa phương để tập trung nguồn lực đầu tư phát triển hạ tầng KT-XH ở địa phương. Đồng thời, xem xét, nâng mức trần dư nợ huy động vốn cho một số địa phương trọng điểm thu.

– Cân đối ngân sách tích cực, bội chi ngân sách nhà nước được đảm bảo trong giới hạn cho phép: Về nguyên tắc, khi thu NSNN tăng so với dự toán sẽ được sử dụng để giảm bội chi NSNN. Tuy nhiên, trong bối cảnh tình hình kinh tế trong và ngoài nước có nhiều biến động không thuận làm phát sinh nhu cầu chi, hơn thế nhu cầu tăng tổng cầu của nền kinh tế lớn nênbội chi NSNN năm 2014 được điều hành trong phạm vi Quốc hội quyết định là 5,3% GDP.

– Công tác quản lý giá, góp phần kiềm chế lạm phát: Quán triệt chủ trương quản lý giá theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước đối với các mặt hàng quan trọng, thiết yếu (điện, xăng dầu, sữa, dịch vụ công) theo lộ trình với mức độ và thời gian điều chỉnh phù hợp, đảm bảo mục tiêu kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô. Với những giải pháp đã triển khai, công tác quản lý, điều hành giá đã đảm bảo mục tiêu kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô. Chỉ số giá(CPI) tháng 12/014 tăng 1,84% so với cùng kỳ năm 2013. CPI bình quân năm 2014 tăng 4,09% so với bình quân năm 2013, mức tăng khá thấp trong 10 năm trở lại đây.

– Đảm bảo an sinh xã hội: Trong năm 2014, công tác tổ chức điều hành thực hiện nhiệm vụ đảm bảo ASXH và phúc lợi xã hội được triển khai tích cực, chủ động. NSNN luôn đảm bảo nguồn đáp ứng kịp thời các nhu cầu chi theo dự toán, bao gồm cả chi đảm bảo ASXH, phúc lợi xã hội và bổ sung kinh phí cho công tác phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh… và đảm bảo thực hiện nhiệm vụ an ninh, quốc phòng và làm nhiệm vụ quan hệ quốc tế.

– Về tái cơ cấu nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng: Tính đến tháng 11/2014, đã có 90/108 Tập đoàn, Tổng công ty nhà nước được cấp có thẩm quyền phê duyệt đề án tái cơ cấu. Trong 11 tháng năm 2014, cả nước đã sắp xếp được 177 doanh nghiệp (trong đó: cổ phần hóa 115 doanh nghiệp, sáp nhật 62 doanh nghiệp). Việc thoái vốn đầu tư vào các lĩnh vực nhạy cảm (chứng khoán, ngân hàng, tài chính, bảo hiểm, bất động sản, quỹ đầu tư) cũng đạt những kết quả khả quan, với tổng vốn đầu tư đã thoái trong 10 tháng năm 2014 là 2.415 tỷ đồng, tăng 2,5 lần so với cùng kỳ năm 2013. Tuy bước đầu đã đạt được kết quả nhất định, song tiến độ thoái vốn và cổ phần hóa vẫn chậm.

– Về cải cách thủ tục hành chính: Việc tăng cường công tác tuyên truyền và hỗ trợ người nộp thuế, đơn giản hóa quy trình, thủ tục, hồ sơ cũng như số lần khai nộp thuế, hiện đại hóa công tác thu nộp ngân sách đã giúp giảm 290 giờ nộp thuế của DN (từ 537 giờ/năm xuống còn 247 giờ/ năm, không tính thời gian nộp bảo hiểm). Ngoài ra, từ năm 2015, khi thực hiện Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các Luật về thuế số 71/2014/QH13 công tác này sẽ giảm thêm được 80 giờ (từ 247 giờ/ năm xuống còn 167 giờ/năm); Thời gian làm thủ tục bảo hiểm cũng chỉ còn một nửa so với trước; Hệ thống hải quan một cửa quốc gia đã đi vào hoạt động và có được hiệu quả thiết thực.

Từ đó tạo được môi trường thông thoáng, minh bạch cho đầu tư và sản xuất kinh doanh góp phần tiết giảm chi phí cho doanh nghiệp, nâng cao năng lực cạnh tranh của mỗi doanh nghiệp cũng như của cả nền kinh tế nước ta nói chung trước ngưỡng cửa hội nhập khu vực và thế giới ngày càng sâu rộng. 

Thuận lợi trong điều hành NSNN 2014:

– Năm 2014 kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát được kiểm soát, lãi suất huy động và cho vay giảm, tỷ giá, thị trường ngoại tệ ổn định, dự trữ ngoại tệ tăng cao, xuất khẩu duy trì đà tăng trưởng…

– Ngay từ đầu năm đã thực hiện các giải pháp như tập trung thực hiện tốt Nghị quyết của Quốc hội, Nghị quyết số 01/NQ-CP về tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp (DN), tạo điều kiện cho DN phát triển, tạo đà phát triển kinh tế.

– Bên cạnh đó, toàn ngành Tài chính đã tập trung quyết liệt thực hiện các giải pháp thu, chống thất thu, chống chuyển giá, đẩy mạnh công tác thu hồi nợ thuế đọng, chống buôn lậu gian lận thương mại tạo điều kiện cho cải thiện môi trường và tạo điều kiện cho tăng thu NSNN. Ngoài ra, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính trong ngành tài chính tạo điều kiện thuận lợi cho môi trường đầu tư để DN phát triển cũng là tạo điều kiện cho tăng trưởng kinh tế.

– Trong quá trình điều hành việc thực hiện chính sách tài khóa chặt chẽ triệt để tiết kiệm, Bộ Tài chính đã chủ động phối hợp nhịp nhàng chặt chẽ với các Bộ, ngành địa phương để quản lý thu và quản lý chi NSNN ngay từ đầu năm.

Có thể đánh giá, công tác điều hành thu NSNN năm 2014 đạt được kết quả nêu trên chính là nhờ sự chủ động, tích cực và đúng định hướng trong chỉ đạo, điều hành của Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, sự quyết tâm và nỗ lực của ngành tài chính, các Bộ, ngành các cấp có liên quan, sự vào cuộc thực sự của các cơ quan đơn vị, cộng đồng doanh nghiệp.

Tồn tại, bất cập trong hoạt động điều hành NSNN năm 2014.

– Chịu sự tác động của tình hình kinh tế – xã hội trong nước và thế giới

+ Nhiệm vụ điều hành NSNN năm 2014 được thực hiện trong bối cảnh tình hình kinh tế thế giới diễn biến rất phức tạp; Kinh tế toàn cầu phục hồi chậm hơn dự báo; Xung đột vũ trang xảy ra ở nhiều khu vực và vùng lãnh thổ. Giá dầu giảm sâu và nhanh đã tác động đến nguồn thu ngân sách;

+ Trong nước tình hình kinh tế xã hội mặc dù có dấu hiệu phục hồi, nhưng vẫn còn nhiều khó khăn; năng suất lao động, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp, tổng cầu tăng chậm;

+ Thiên tai dịch bệnh diễn biến phức tạp, khó lường, gây ra nhiều khó khăn trong công tác điều hành ngân sách;

+ Trung Quốc hạ đặt giàn khoan trái phép giàn khoan thăm dò dầu khí tại vùng đặc quyền kinh tế nước ta từ đầu tháng 5 đến giữa tháng 7 năm 2014 (Số liệu của việc TQ mở rộng đảo Trường Sa) đã đe dọa nghiêm trọng hòa bình, ổn định và ảnh hưởng không tốt môi trường đầu tư, KT-XH và NSNN;

– Số lượng Doanh nghiệp thành lập mới gần bằng số Doanh nghiệp giải thể phá sản và chờ làm thủ tục giải thể trong năm ảnh hưởng lớn đến tập trung nguồn thu vào NSNN:

+ Tuy số doanh nghiệp mới thành lập đi vào hoạt động có tăng nhưng số doanh nghiệp giải thể, phá sản, ngừng hoạt động cũng tăng cao. Trong năm 2014, cả nước có 74842 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, thì có 67823 doanh nghiệp gặp khó khăn buộc phải giải thể, hoặc đăng ký tạm ngừng hoạt động có thời hạn, hoặc ngừng hoạt động chờ đóng mã số doanh nghiệp hoặc không đăng ký, cụ thể: 9501 doanh nghiệp đã hoàn thành thủ tục giải thể; 58322 doanh nghiệp khó khăn phải ngừng hoạt động; 11723 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động có thời hạn; 46599 doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ đóng mã số doanh nghiệp hoặc không đăng ký. Hầu hết các đơn vị này còn nợ tiền thuế và các khoản phải nộp ngân sách nhà nước;

– Do thực hiện các chính sách để tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh: miễn, giảm, giãn thuế và một số chính sách thực hiện an sinh xã hội cũng đã làm giảm thu NSNN;

– Do tính ổn định trong cơ cấu thu NSNN còn hạn chế: Tổng thu NSNN năm 2014 vẫn chịu ảnh hưởng bởi những yếu tố bên ngoài, các khoản thu từ tài nguyên, các khoản thu đặc thù và các khoản thu phát sinh do yếu tố khách quan. Thu nội địa trừ đất mặc dù tăng 7,5% so với dự toán nhưng nếu loại đi khoản thu cổ tức và lợi nhuận còn lại theo Thông tư 187/2013/TT-BTC thì ước đạt 490.700 tỷ đồng, đạt 98% dự toán;

– Cơ cấu chi NSNN còn bất cập; phân bổ, quản lý và sử dụng nguồn lực NSNN còn hạn chế: Chi thường xuyên có xu hướng tăng nhanh và mạnh trong những năm gần đây. Trong chi thường xuyên, tỷ lệ chi cho con người cũng tăng mạnh. Nguyên nhân là do thực hiện các nghị quyết của Đảng, Nhà nước tập trung chi cho con người và an sinh xã hội. Trong khi đó, số người hưởng lương từ NSNN không có xu hướng giảm cùng với việc gia tăng ban hành các đề án, chính sách ở các bộ, ngành, địa phương cũng tác động làm chi ngân sách thường xuyên tăng cao.

– Trong phân bổ NSNN, còn tình trạng bố trí vốn cho các dự án chưa đủ thủ tục, phân bổ vốn không đúng với cơ cấu, chương trình hỗ trợ được giao.

 – Hiệu quả sử dụng nguồn lực tài chính NSNN trong khu vực sự nghiệp còn hạn chế do cơ chế tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp chưa được đổi mới, việc áp dụng và thực hiện lộ trình giá dịch vụ đối với các dịch vụ sự nghiệp công còn nhiều khó khăn, vướng mắc; Thực hiện xã hội hóa các loại hình dịch vụ công đạt thấp.

– Tổng số tiền nợ thuế còn lớn, tăng 14,9% so với cuối năm 2013. Trong đó nợ thế tăng cao so với năm trước ở một số địa phương như Lai Châu (tăng 80%), Hậu Giang (tăng 57%), Long An (51%), Vĩnh Long (tăng 32,4%)…

-Dư nợ công có xu hướng tăng cao (nợ công so GDP đã tăng từ 54,9% năm 2011 lên 60,3% năm 2014), cơ cấu nợ công chưa thật sự bền vững, việc quản lý, sử dụng vốn vay còn kém hiệu quả

35.1.2. Bài học kinh nghiệm trong hoạt động điều hành NSNN năm 2014.

Từ những thành công cũng như tồn tại, bất cập trong hoạt động điều hành NSNN năm 2014, chúng ta có thể rút ra bài học kinh nghiệm trong điều hành Ngân sách như sau:

– Điều hành NSNN bám sát vào tình hình KTXH, công tác dự báo phải sát sao, đảm bảo tính chủ động trước mọi biến động về chính trị, xã hội,…

-Tiếp tục tập trung tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ Doanh nghiệp phát triển, thúc đẩy phục hồi tăng trưởng, tạo nguồn thu vững chắc, ổn định cho NSNN, đồng thời hạn chế tối đa ban hành thêm các chính sách mới làm giảm thu NSNN, tăng cường công tác quản lý thu, chống thất thu, chống buôn lậu, gian lận thương mại, chuyển giá; Tập trung xử lý nợ đọng thuế; Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính thuế, hải quan;

Cơ cấu lại các khoản chi trên cơ sở rà soát tổng thể các chính sách an sinh xã hội, các chương trình mục tiêu quốc gia… để cắt giảm, lồng ghép chính sách, chương trình, áp dụng phù hợp cho giai đoạn 2016-2020; Hạn chế ban hành các chính sách làm tăng chi NSNN; Từng bước tinh giảm biên chế bộ máy; Giảm tối đa kinh phí tổ chức hội nghị, hội thảo, đi công tác nước ngoài; Phân bổ, sử dụng vốn đầu tư đảm bảo tập trung, có hiệu quả, ưu tiên vốn cho đầu tư kết cấu hạ tầng trọng điểm; Đẩy mạnh hình thức hợp tác công – tư (PPP) và các hình thức đầu tư không sử dụng vốn NSNN;

– Đẩy mạnh đổi mới cơ chế hoạt động, cơ chế tài chính và tiền lương gắn với kết quả hoạt động của đơn vị sự nghiệp công lập;

– Tăng cường kỷ luật tài khóa và đẩy mạnh cải cách hành chính trong các lĩnh vực tài chính, cải cách thủ tục hành chính theo hướng thống nhất quy trình, đảm bảo đơn giản rõ ràng, minh bạch về hồ sơ, chứng từ; hiện đại hóa công nghệ thông tin, và xây dựng chuẩn ISO để áp dụng trong hoạt động thu chi ngân sách

– Hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật; tăng cường hoạt động thanh tra, kiểm tra, kiểm toán đối với mọi hoạt động thu chi tài chính, ngân sách tại các đơn vị và các cấp hành chính trên phạm vi cả nước. Tăng cường kỷ luật tài chính, quyết liệt trong công tác thu hồi nợ đọng.

-Tiếp tục thực hiện cơ cấu lại nợ công theo hướng giảm các khoản nợ ngắn hạn, tăng các khoản nợ dài hạn có lãi suất phù hợp; tăng cường quản lý chặt chẽ nợ công, đảm bảo khả năng trả nợ.

– Đi đôi với đầu tư phát triển kinh tế thì phải thực hiện các chính sách đảm bảo an sinh xã hội: Đối với nước ta, bảo đảm ngày càng tốt hơn an sinh xã hội và phúc lợi xã hội luôn là một chủ trương, nhiệm vụ lớn của Đảng và Nhà nước, thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ ta và có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự ổn định chính trị – xã hội và phát triển bền vững của đất nước. Quyết tâm cao của Đảng và Nhà nước cùng với tiềm lực kinh tế của đất nước được nâng lên là cơ sở quan trọng để bảo đảm tốt hơn an sinh xã hội và phúc lợi xã hội. Đó cũng là cơ sở để đảm bảo được mục tiêu bền vững trong điều hành Ngân sách.

35.2. Nhiệm vụ, phương hướng và giải pháp điều hành NSNN năm 2015.

35.2.1. Mục tiêu, nhiệm vụ điều hành NSNN 2015

Theo dự báo của các tổ chức kinh tế lớn, kinh tế thế giới 2015 sẽ tăng trưởng cao hơn 2014. Kinh tế Việt Nam năm 2015 được dự báo sẽ tiếp tục đà phục hồi với mức tăng trưởng khá, cơ cấu kinh tế tiếp tục được dịch chuyển theo hướng tích cực, tăng trưởng kinh tế dự kiến khoảng 6.2%, lạm phát khoảng 5%…Tuy nhiên, vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức: SX-KD phục hồi chậm, các doanh nghiệp còn nhiều khó khăn; áp lực tham gia các hiệp định thương mại, tự do ảnh hưởng đến các ngành sản xuất trong nước diễn biến phức tạp, bất thường của thời tiết, thiên tai; nguy cơ dịch bệnh bùng phát…; đặc biệt rủi do giảm thu lớn do giá dầu thế giới giảm mạnh, sẽ tác động đến việc thực thi các chính sách kinh tế vĩ mô và cân đối thu, chi NSNN năm 2015. Đồng thời cũng là năm tổ chức Đại hội Đảng các cấp để tiến tới Đại hội Đảng toàn Quốc lần thứ XII và kỷ niệm nhiều ngày lễ lớn cấp quốc gia.

Trước tình hình đó, Quốc Hội đã thông qua Nghị quyết số 77/2014/QH13 ngày 10/11/2014 về nhiệm vụ, mục tiêu phát triển KTXH năm 2015, đề ra nhiệm vụ, mục tiêu tổng quát về KTXH trong năm 2015 là:Tăng cường ổn định kinh tế vĩ mô, tập trung tháo gỡ khó khăn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh. Thực hiện mạnh mẽ các đột phá chiến lược, tái cơ cấu nền kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng, nâng cao hiệu quả và năng lực cạnh tranh, phấn đấu tăng trưởng cao hơn năm 2014. Tiếp tục phát triển các lĩnh vực xã hội, văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ, bảo vệ môi trường, cải thiện đời sống nhân dân. Đẩy mạnh cải cách hành chính, cải cách tư pháp, phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia, bảo đảm an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội. Nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại, hội nhập và hợp tác quốc tế.

Trên tinh thần Nghị quyết về KTXH, ngày 10/11/2014 Quốc hội đã thông qua Nghị quyết số: 78/2014/QH13về dự toán NSNN năm 2015 với 3 chỉ tiêu quan trọng nhất, đó là:

Tổng thu cân đối NSNN là: 911.100 tỷ đồng (nếu tính cả 10.000 tỷ đồng chuyển nguồn từ năm 2014 chuyển sang năm 2015 thì tổng số thu cân đối là 921.100 tỷ đồng), trong đó: Thu từ nội địa: 638.600 tỷ đồng; Thu từ dầu thô: 93.000 tỷ đồng; Thu từ xuất khẩu, nhập khẩu: 175.000 tỷ đồng; Thu từ viện trợ không hoàn lại: 4.500 tỷ đồng.

So với tổng số thu thực hiện năm trước: 858.053 tỷ đồng (tăng 6.2%), đây là một số thu tích cực, tiên tiến, đặt ra yêu cầu cao nhưng cũng có khả năng thực hiện cao.

Tổng số chi cân đối NSNN là 1.147,1 nghìn tỷ đồng, trong đó: Chi đầu tư phát triển: 195.000 tỷ đồng; Chi trả nợ và viện trợ: 150.000 tỷ đồng; Chi phát triển các sự nghiệp KT-XH, quốc phòng, an ninh, quản lý tài chính: 767.000 tỷ đồng; chi thực hiện cải cách tiền lương: 10.000 tỷ đồng; Chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính: 100 tỷ đồng; Chi dự phòng 25.000 tỷ đồng.

So với tổng chi thực hiện năm trước (1.097.303 tỷ đồng) tăng xấp xỉ 4.5%

Mức bội chi NSNN năm 2015 là 226.000 tỷ đồng, tương đương 5,0% tổng sản phẩm trong nước (GDP).

So với mức bội chi năm trước giảm 0.3%, đây cũng là mức bội chi được Quốc Hội đặt ra có tính tiên tiến, bám sát kế hoạch trung hạn về kiểm soát bội chi từ 2010 – 2020.

35.2.2. Phương hướng, nhiệm vụ điều hành NSNN năm 2015.

Để đạt được mục tiêu và kế hoạch KTXH cũng như dự toán NSNN đã đặt ra, căn cứ vào dự báo tình hình KTXH trong nước, quốc tế và rút kinh nghiệm từ hoạt động điều hành NSNN năm 2014 Quốc Hội, Chính phủ, đã lãnh đạo, chỉ đạo các Bộ, Ngành, các địa phương thực hiện tốt và đồng bộ Nghị quyết của Quốc Hội, Nghị quyết số 01/NQ-CP của Chính phủ,…đề ra những giải pháp đồng bộ trên tinh thần kế thừa những giải pháp đã phát huy tác dụng trong những năm về trước, bên cạnh đó cũng bổ sung những giải pháp phù hợp với tình hình mới:

+ Nghiên cứu phương án cơ cấu lại ngân sách nhà nước theo hướng tăng tỷ trọng thu nội địa, bảo đảm tỷ lệ hợp lý giữa chi đầu tư, chi thường xuyên và trả nợ trong xây dựng kế hoạch tài chính và ngân sách nhà nước 5 năm 2016 – 2020.

+ Không mua xe công, trừ xe chuyên dụng theo quy định của pháp luật, xe ô tô phục vụ công tác chung của cơ quan, đơn vị mới thành lập mà không có xe để điều chuyển, xe ô tô bị hư hỏng do nguyên nhân bất khả kháng dẫn đến không còn xe phục vụ công tác và xe cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài đã đến hạn thay thế theo quy định.

+ Không ứng trước dự toán ngân sách nhà nước năm sau; trường hợp đặc biệt (thiên tai, bão, lũ, dịch bệnh, nhiệm vụ cấp thiết về quốc phòng, an ninh, nhiệm vụ quan trọng, cấp bách…), trình Thủ tướng Chính phủ báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định.

+ Dừng triển khai và thu hồi các khoản kinh phí chi thường xuyên đến ngày 30 tháng 6 năm 2015 chưa phân bổ hoặc đã phân bổ nhưng chưa triển khai thực hiện, chưa phê duyệt dự toán, chưa tổ chức đấu thầu để bổ sung dự phòng ngân sách trung ương và ngân sách địa phương, trừ một số trường hợp theo quy định của pháp luật và trường hợp đặc biệt do Thủ tướng Chính phủ quyết định.

+ Quản lý chặt chẽ nợ công; tiếp tục thực hiện đồng bộ các giải pháp quản lý nợ công, cơ cấu lại nợ công theo hướng kéo dài kỳ hạn, giảm chi phí vốn vay; bảo đảm nợ công trong giới hạn theo Nghị quyết của Quốc hội. Thường xuyên theo dõi, đánh giá về an toàn nợ công; định kỳ 6 tháng, hàng năm báo cáo Chính phủ hoặc báo cáo theo yêu cầu của Thủ tướng Chính phủ.

+ Từ năm 2015, thực hiện phát hành trái phiếu Chính phủ kỳ hạn từ 05 năm trở lên, không thực hiện các khoản vay có kỳ hạn ngắn cho bù đắp bội chi ngân sách nhà nước, giảm mức vay đảo nợ; trong tổ chức thực hiện nếu có vướng mắc kịp thời báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.

+ Tạm giữ lại tại Kho bạc Nhà nước 10% dự toán chi thường xuyên 8 tháng cuối năm 2015 của các đơn vị sử dụng ngân sách.

Trong trường hợp dự kiến thu ngân sách trung ương năm 2015 không đạt dự toán, căn cứ vào mức hụt thu cụ thể, sẽ cắt giảm các nguồn kinh phí tạm giữ lại cho đến khi bù đắp được số giảm thu, theo trật tự: 50% dự phòng ngân sách trung ương, 10% dự toán chi thường xuyên 8 tháng cuối năm.

+ Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Tài chính đến tháng 8.2015, trên cơ sở diễn biến tình hình kinh tế – ngân sách nhà nước và dự báo giá dầu thô cả năm, tính toán tác động của việc giá dầu giảm đến ngân sách nhà nước, báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định việc sử dụng các nguồn kinh phí tạm giữ lại trong quá trình điều hành NSNN năm 2015 nêu trên.

+ Triển khai có hiệu quả các Luật doanh nghiệp (sửa đổi), Luật đầu tư (sửa đổi) và các văn bản hướng dẫn thi hành. Tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng, tăng thêm cơ hội cho hoạt động đầu tư vào các cơ sở sản xuất trong nước và xuất khẩu, tạo thêm nhiều việc làm cho người dân.

+ Đẩy nhanh tiến độ xử lý nợ xấu, phấn đấu đến cuối năm 2015 đưa tỷ lệ nợ xấu dưới 3%.

+ Trong quý III năm 2015, tổ chức đánh giá việc thực hiện Chỉ thị số 24/CT-TTg ngày 05 tháng 8 năm 2014 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực thuế, hải quan, bảo hiểm xã hội, báo cáo Thủ tướng Chính phủ.

+ Trên cơ sở thành công của mô hình thí điểm chính quyền điện tử tại Đà Nẵng, tổ chức nhân rộng ra các địa phương và Bộ, cơ quan trong cả nước.

+ Tiếp tục chỉ đạo quyết liệt triển khai có hiệu quả, đúng tiến độ các giải pháp được nêu tại Nghị quyết số 19/NQ-CP ngày 18 tháng 3 năm 2014 của Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia; kịp thời đề xuất sửa đổi, bổ sung cho phù hợp yêu cầu thực tế

Căn cứ vào hệ thống giải pháp của Chính Phủ đưa ra, Bộ Tài chính cụ thể hóa trong điều kiện của Ngành, đưa ra những giải pháp điều hành Ngân sách Nhà nước năm 2015 cụ thể như sau:

Một là, thực hiện tái cơ cấu nền kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình phát triển, tăng cường tính tự chủ, độc lập của nền kinh tế, tránh sự phụ thuộc vào một thị trường; tập trung tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy phát triển sản xuất kinh doanh, phục hồi tăng trưởng, tạo nguồn thu ngân sách ổn định, bền vững.

– Thực hiện tái cơ cấu công nghiệp, tập trung phát triển các sản phẩm công nghiệp có lợi thế cạnh tranh.

– Tập trung nguồn lực phát triển nông nghiệp, nông thôn, thực hiện tái cơ cấu nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới, khuyến khích đưa khoa học công nghệ vào sản xuất, kinh doanh;

– Tập trung phát triển một số ngành dịch vụ có lợi thế, có giá trị gia tăng cao như du lịch, viễn thông, công nghệ thông tin và các dịch vụ hỗ trợ kinh doanh.

 – Thực hiện đồng bộ các giải pháp để xây dựng thương hiệu, củng cố, phát triển thị trường hiện có, mở rộng chuyển đổi thị trường, phát triển các thị trường mới. Đẩy mạnh xuất khẩu, kiểm soát chặt chẽ nhập khẩu đối với những mặt hàng không khuyến khích.

 – Hoàn thiện các quy định pháp luật để cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, tổ chức triển khai thực hiện tốt Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều tại các Luật về thuế sau khi được Quốc hội thông qua;

– Rà soát, sửa đổi bổ sung, triển khai thực hiện có hiệu quả các chính sách ưu đãi, khuyến khích phát triển sản xuất kinh doanh, nhất là ưu đãi về đất đai, tiếp cận vốn, tín dụng đầu tư, tín dụng xuất khẩu, thuế, hải quan.

Hai là, kết hợp đồng bộ, chặt chẽ chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa nhằm tiếp tục giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, đảm bảo nền kinh tế phát triển bền vững và tăng trưởng hợp lý, tạo đà vững chắc cho phát triển kinh tế – xã hội giai đoạn 2016-2020.

– Điều hành CSTT linh hoạt, hiệu quả gắn kết đồng bộ với chính sách tài khóa nhằm tiếp tục giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và hỗ trợ tăng trưởng hợp lý;

– Thực hiện các giải pháp mở rộng tín dụng gắn với kiểm soát, nâng cao chất lượng tín dụng; tập trung xử lý nợ xấu, trích lập dự phòng rủi ro, cơ cấu lại nợ, hạn chế nợ xấu gia tăng; tăng cường kiểm tra, giám sát, thanh tra và công khai, minh bạch hoạt động của các tổ chức tín dụng.

Ba là, tiếp tục quán triệt quan điểm triệt để tiết kiệm, chống lãng phí ngay từ khâu xác định nhiệm vụ quan trọng, trọng tâm cần thực hiện năm 2015. Xây dựng và triển khai dự toán NSNN gắn với chiến lược và định hướng phát triển trong từng thời kỳ, đảm bảo tính bền vững của NSNN, xác định được thứ tự ưu tiên trong phân bổ nguồn NSNN đối với từng ngành, lĩnh vực.

– Tổ chức triển khai thực hiện tốt các Luật thuế sửa đổi, bổ sung và nhiệm vụ thu NSNN theo Nghị quyết của Quốc hội.

– Tập trung thực hiện đồng bộ, hiệu quả các giải pháp về NSNN, đảm bảo thực hiện các nhiệm vụ thu, chi theo dự toán đã được Quốc hội quyết định. Phấn đấu tăng thu, triệt để tiết kiệm chi để tạo nguồn xử lý các nhiệm vụ chi cấp thiết phát sinh, phấn đấu tăng chi trả nợ cao hơn chỉ tiêu Quốc hội thông qua. Hạn chế tối đa việc ban hành các chính sách mới làm giảm thu NSNN..

– Quản lý chi NSNN chặt chẽ, tiết kiệm và hiệu quả, không thành lập các Quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách mà nguồn kinh phí hoạt động chủ yếu từ NSNN; tiếp tục rà soát hệ thống định mức kinh tế – kỹ thuật không phù hợp với thực tế, vượt quá khả năng đảm bảo của NSNN nhằm tăng cường hiệu lực quản lý và thúc đẩy chi tiêu công hiệu quả, tiết kiệm.

– Tăng cường huy động các nguồn lực trong và ngoài nước cho đầu tư phát triển nền kinh tế. Hoàn thiện cơ sở pháp lý để thu hút các nguồn vốn đầu tư, khuyến khích và tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế, kể cả đầu tư nước ngoài tham gia đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, nhất là khu vực nông nghiệp, nông thôn.

– Khẩn trương ban hành các văn bản hướng dẫn và triển khai thực hiện Luật Đầu tư công, Luật đấu thầu. Phân bổ dự toán chi đầu tư phát triển năm 2015 phải thực hiện theo các Chỉ thị: số 1792/CT-TTg ngày 15/10/2011, số 27/CT-TTg ngày 10/10/2012 và số 14/CT-TTg ngày 28/6/2013 của Thủ tướng Chính phủ;

Bốn là, quản lý giá theo nguyên tắc thị trường, thúc đẩy sự phát triển đồng bộ các loại hình thị trường.

– Theo dõi sát diễn biến cung cầu, giá cả thị trường trong nước và quốc tế, làm tốt công tác thu thập, phân tích và dự báo thông tin thị trường, kịp thời đề xuất các giải pháp bình ổn giá theo quy định của pháp luật.

– Tăng cường quản lý thị trường, giá cả, kiểm tra, giám sát các hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; kiểm soát giá đối với các mặt hàng thiết yếu; xử lý nghiêm việc điều chỉnh giá bất hợp lý.

– Thực hiện đồng bộ các giải pháp phát triển thị trường vốn, thị trường chứng khoán; nghiên cứu, hoàn thiện môi trường pháp lý nhằm thúc đẩy phát triển thị trường tài chính lành mạnh, an toàn.

Năm là, quản lý nợ công chặt chẽ, đảm bảo an ninh tài chính quốc gia.

– Thực hiện đồng bộ các giải pháp quản lý nợ công, nhất là quản lý sử dụng có hiệu quả vốn vay, quản lý tốt nợ trung hạn và quỹ tích lũy trả nợ, quản lý và xử lý kịp thời rủi ro; kiểm soát chặt chẽ việc cấp bảo lãnh Chính phủ, tăng cường cơ chế chia sẻ rủi ro đối với các khoản vay nước ngoài của Chính phủ về cho vay lại… đảm bảo kiểm soát mức dư nợ công, nợ Chính phủ, nợ nước ngoài của quốc gia trong giới hạn an toàn.

– Có biện pháp cơ cấu lại các khoản vay ngay trong năm 2015 và xây dựng lộ trình cụ thể cho giai đoạn tiếp theo để tăng cường huy động các khoản vay với kỳ hạn dài, giảm thiểu các khoản vay với kỳ hạn ngắn, giảm phát hành đảo nợ.

 Sáu là, tăng cường quản lý tài chính doanh nghiệp, đẩy mạnh tái cấu trúc, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước.

– Tiếp tục tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước theo đề án được duyệt.

– Đẩy mạnh cổ phần hóa, thoái vốn đầu tư ngoài ngành, giảm và bán toàn bộ vốn nhà nước ở các doanh nghiệp Nhà nước không cần nắm giữ cổ phần chi phối theo nguyên tắc thị trường và lộ trình đã được phê duyệt.

– Tăng cường quản lý, giám sát, kiểm tra hoạt động, tình hình tài chính, kết quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nhà nước, nhất là các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước.

Bảy là, đổi mới cơ chế tài chính đơn vị sự nghiệp công, giá dịch vụ công.

– Khẩn trương triển khai cơ chế hoạt động tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập gắn với lộ trình thực hiện tính giá dịch vụ sự nghiệp công.

Tám là, tăng cường kỷ luật, kỷ cương tài chính, đẩy mạnh cải cách hành chính, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.

– Các bộ, cơ quan, địa phương thực hiện nghiêm kỷ luật tài chính – NSNN, tăng cường kiểm tra, giám sát và công khai, minh bạch việc sử dụng NSNN, nhất là trong các lĩnh vực dễ phát sinh tham nhũng, lãng phí. Thực hiện nghiêm Chỉ thị số 21-CT/TW ngày 21/12/2012 của Ban Bí thư và Chỉ thị số 30/CT-TTg ngày 26/11/2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.

– Tiếp tục tổ chức thực hiện đồng bộ, hiệu quả Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 – 2020.

35.2.3. Kết quả bước đầu của những tháng đầu năm 2015 và định hướng cho những tháng còn lại.

Kinh tế – xã hội nước ta 3 tháng đầu năm 2015 diễn ra trong bối cảnh trong và ngoài nước có những yếu tố thuận lợi nhưng cũng không ít khó khăn, thách thức. Hầu hết các nền kinh tế mới nổi hy vọng sẽ đạt mức tăng trưởng khả quan hơn nhờ giá dầu giảm, thanh khoản toàn cầu tăng.

Ở trong nước, sản xuất kinh doanh nhìn chung thuận lợi do giá dầu giảm mạnh nên không chịu nhiều sức ép về chi phí đầu vào. Tuy nhiên, giá cả trên thị trường thế giới biến động mạnh, nhất là giá dầu gây áp lực lớn đến cân đối ngân sách Nhà nước. Trước tình hình đó, Đảng, Nhà nước, Quốc hội và Chính phủ đã lãnh đạo, chỉ đạo các ngành, các địa phương thực hiện tốt và đồng bộ Nghị quyết số 01/NQ-CP của Chính phủ ngày 03 tháng 01 năm 2015 về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu chỉ đạo điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2015 và Nghị quyết số 19/NQ-CP ngày 12 tháng 3 năm 2015 về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia 2 năm 2015 – 2016. Nhờ đó, hoạt động sản xuất kinh doanh quý I năm nay của hầu hết các ngành, lĩnh vực đạt kết quả khả quan.

Về thu ngân sách nhà nước: Thực hiện luỹ kế thu quý I đạt 226 nghìn tỷ đồng, bằng 24,8% dự toán, tăng 10,3% so cùng kỳ năm 2014, trong đó:

– Thu nội địa: Luỹ kế thu quý I ước đạt 173,19 nghìn tỷ đồng, bằng 27,1% dự toán, tăng 19,6% so cùng kỳ năm 2014 (không kể tiền sử dụng đất tăng 18%); đạt khá cả tiến độ thực hiện dự toán và mức tăng trưởng so cùng kỳ (Quý I/2012 đạt 22,7% dự toán; quý I/2013 đạt 20,9% dự toán; quý I/2014 đạt 24,8% dự toán).

– Thu về dầu thô: Luỹ kế thu quý I ước đạt 16,63 nghìn tỷ đồng, bằng 17,9% dự toán, giảm 35,9% so cùng kỳ năm 2014.

– Thu ngân sách từ hoạt động xuất nhập khẩu: Luỹ kế thu quý I đạt 35,4 nghìn tỷ đồng, bằng 20,2% dự toán, tăng 5,8% so cùng kỳ năm 2014

Ước tính có 48 địa phương thu đạt trên mức bình quân chung (25% dự toán). So cùng kỳ năm 2014, có 54 địa phương thu cao hơn.

 Về chi NSNN:Tổng chi NSNN luỹ kế chi quý I ước đạt 263,3 nghìn tỷ đồng, bằng 23% dự toán, tăng 12,3% so cùng kỳ năm 2014, trong đó:

– Chi đầu tư phát triển:Lluỹ kế chi quý I đạt 41 nghìn tỷ đồng, bằng 21% dự toán, tăng 14,5% cùng kỳ năm 2014;

– Chi trả nợ và viện trợ: Ước đạt 24,8% dự toán, tăng 27,5% so cùng kỳ năm 2014, đảm bảo thanh toán đầy đủ, kịp thời các khoản nợ đến hạn theo cam kết;

– Chi phát triển các sự nghiệp kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý hành chính: Ước đạt 24,1% dự toán, tăng 9,1% so cùng kỳ năm 2014.

Trong quý I/2015, các nhiệm vụ chi ngân sách được đảm bảo theo đúng dự toán và tiến độ triển khai thực hiện của các đơn vị sử dụng ngân sách; đáp ứng các nhiệm vụ đảm bảo an sinh xã hội, kinh phí phục vụ sản xuất, khắc phục hậu quả thiên tai, bình ổn giá trong dịp Tết Nguyên đán Ất Mùi… Ngoài ra, thực hiện các Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tài chính đã xuất cấp trên 49,3 nghìn tấn gạo dự trữ quốc gia để cứu trợ, cứu đói cho nhân dân trong dịp Tết Nguyên đán và giáp hạt đầu năm 2015.

Về cân đối NSNN: Bội chi NSNN ước đạt 37,3 nghìn tỷ đồng, bằng 16,5% dự toán năm.

Về tình hình huy động vốn cho NSNN:

Kết thúc quý I/2015 đã huy động được 55.992,5 tỷ đồng, đạt 22,4% kế hoạch cả năm, bằng 62,7% so với cùng kỳ năm 2014, trong đó: kỳ hạn 5 năm 36.913,5 tỷ đồng, bằng 66,0%, kỳ hạn 10 năm 6.030 tỷ đồng, bằng 10,7%, kỳ hạn 15 năm 13.049 tỷ đồng, bằng 23,3%. Ký kết 13 hiệp định vay với tổng số tiền ký kết là 1.728,52 triệu USD.

Kết quả điều hành NSNN trong Quý I đạt được những kết quả khả quan bước đầu là nhờ thực hiện các giải pháp tăng thu nội địa:

– Tình hình kinh tế vĩ mô ổn định; hoạt động sản xuất – kinh doanh trong nước duy trì được đà phục hồi tốt nhờ có những cải thiện đáng kể cả về tổng cầu và tổng cung;

– Cải cách hành chính, nhất là cải cách về thủ tục hành chính thuế thực hiện từ năm 2014 đã giúp doanh nghiệp thuận lợi hơn trong kê khai nộp thuế;

– Cơ quan Thuế đã triển khai quyết liệt các biện pháp quản lý thu NSNN ngay từ đầu năm

Mặc dù nền kinh tế đã có những chuyển biến tích cực, nhưng vẫn còn tiềm ẩn nhiều khó khăn, thách thức tác động đến việc thực hiện NSNN. Do vậy, cần tiếp tục theo dõi diễn biến và thực hiện điều hành dự toán thu, chi NSNN theo đúng mục tiêu và chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã đề ra; đảm bảo cân đối thu chi ngân sách; triển khai đồng bộ các giải pháp để phấn đấu tăng thu ngân sách, phải thu đúng, thu đủ, chống gian lận, trốn thuế, thất thoát và nợ đọng; quản lý chi ngân sách chặt chẽ, tiết kiệm và hiệu quả, cần hạn chế tối đa việc bổ sung ngoài dự toán; phấn đấu thu NSNN cả năm đạt và vượt dự toán giao. Quyết liệt trong cải cách thủ tục hành chính, tinh giản bộ máy nhân sự, tăng cường áp dụng công nghệ thông tin để đẩy nhanh tiến độ công việc, kiện toàn bộ máy, hệ thống Pháp luật, nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ Cần phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị, phối hợp chặt chẽ giữa Bộ Tài chính với các Bộ, ngành, địa phương;. Có như vậy, thì trước những khó khăn, thách thức chúng ta vẫn sẽ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ điều hành NSNN đặt ra từ đầu năm./.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Luật 01/2002/QH11 Ngân sách Nhà nước;
  2. Chỉ thị số 1792/CT-TTg ngày 15/10/2011 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường quản lý đầu tư từ vốn NSNN và vốn trái phiếu Chính phủ;
  3. Chỉ thị số 27/CT-TTg ngày 10/10/2012 của Thủ tướng Chính phủ Về những giải pháp chủ yếu khắc phục tình trạng nợ đọng xây dựng cơ bản tại các địa phương;
  4. Chỉ thị số 09/CT-TTg ngày 24/5/2013 của Thủ tướng về việc tăng cường chỉ đạo điều hành thực hiện nhiệm vụ tài chính – ngân sách nhà nước năm 2013;
  5. Chỉ thị số 14/CT-TTg ngày 28/6/2013 của Thủ Tướng về tăng cường quản lý đầu tư và xử lý nợ đọng xây dựng cơ bản từ nguồn ngân sách nhà nước, trái phiếu chính phủ;
  6. Nghị Quyết số:53/2013/QH13 ngày 11/11/2013 về kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm 2014;
  7. NQ 57/2013/QH13 ngày 12/11/2013 về dự toán NSNN năm 2014;
  8. Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 02-01-2014 về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu chỉ đạo điều hành thực hiện kế hoạch phát triển KT-XH và dự toán ngân sách nhà nước năm 2014;
  9. Nghị quyết 19/NQ-CP ngày 18 tháng 3 năm 2014 của Chính phủ về cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh.
  10. Chỉ thị số 24/CT-TTg ngày 5/8/2014 của Thủ tướng Chính phủ; quyết liệt thực hiện tăng cường quản lý và cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực thuế, hải quan;
  11. Chỉ thị số 25/CT-TTg ngày 13/8/2014 của Thủ tướng Chính phủ về việc điều hành thực hiện nhiệm vụ tài chính – NSNN những tháng cuối năm 2014; 
  12. Nghị quyết số 77/2014/QH13 ngày 10/11/2014 về nhiệm vụ, mục tiêu phát triển KTXH năm 2015;
  13. Nghị quyết Số: 78/2014/QH13 ngày 10/11/2014 về dự toán NSNN năm 2015
  14. Nghị quyết số 01/NQ-CP của Chính phủ ngày 03 tháng 01 năm 2015 về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu chỉ đạo điều hành thực hiện kế hoạch phát triển KT-XH và dự toán ngân sách nhà nước năm 2015;
  15. Số liệu công khai Dự toán, Quyết toán NSNN (nhiều năm) của Bộ Tài chính;
  16. Báo cáo tổng kết năm 2014 của Bộ Tài chính

 

 

Bản in

 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *