Chuyên đề 34: CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH THUẾ, HẢI QUAN

Chuyên đề 34: CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH THUẾ, HẢI QUAN

 Nguyễn Thu Thủy, Vụ Chính sách thuế – Bộ Tài chính

34.1. Sự cần thiết đẩy mạnh cải cách thủ tục hànhchính trong lĩnh vực thuế, hải quan

Trước bối cảnh nền kinh tế bộc lộ nhiều hạn chế, yếu kém và đứng trước nhiều khó khăn, thách thức; năng lực cạnh tranh quốc gia được các tổ chức quốc tế đánh giá và xếp hạng ở mức thấp hơn nhiều so với các nước trong khu vực, ở mức trung bình thấp so với các nước ASEAN, chậm được cải thiện, nhất là về thể chế, cơ sở hạ tầng và môi trường kinh doanh, trong đó đáng lưu ý là các vướng mắc liên quan tới thành lập doanh nghiệp, nộp thuế,… Để cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, vì vậy công tác cải cách hành chính (CCHC) trong thời gian qua luôn được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ quan tâm chỉ đạo thông qua việc ban hành các văn bản chỉ đạo để triển khai thực hiện. Mặt khác, theo tiến trình phát triển của nền kinh tế, đáp ứng mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và trước xu thế cạnh tranh, hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, Bộ Tài chính cũng luôn tự nhận thức yêu cầu phải cải cách ngành tài chính nói chung, đặc biệt là tập trung cải cách thủ tục hành chính (TTHC) trong lĩnh vực thuế, hải quan.

34.1.1. Đối với lĩnh vực thuế

34.1.1.1 Phương pháp xác định chỉ số Nộp thuế và xếp hạng của Việt Nam theo kết quả của Báo cáo Môi trường kinh doanh

Phương pháp xác định chỉ số Nộp thuế

Báo cáo Môi trường kinh doanh (Doing Business) là một báo cáo được WB-IFC thực hiện bắt đầu từ năm 2003 và được công bố hàng năm nhằm đánh giá về mức độ thuận lợi cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp tại các quốc gia và vùng lãnh thổ trên phạm vi toàn cầu. Báo cáo này được tạo lập trên cơ sở một hệ thống các chỉ số được xây dựng và thu thập từ việc nghiên cứu, phân tích khung chính sách và tổ chức điều tra, phỏng vấn các đối tượng có liên quan một cách độc lập; sau đó so sánh và xếp hạng về mức độ thuận lợi cho hoạt động kinh doanh theo từng lĩnh vực đánh giá (thành lập doanh nghiệp, cấp phép xây dựng, sử dụng lao động, vay vốn tín dụng, bảo vệ nhà đầu tư, nộp thuế, thương mại quốc tế, giải thể doanh nghiệp…) và xếp hạng chung của quốc gia. Các chỉ số này được thống nhất về phương pháp lượng hoá để có thể so sánh giữa các quốc gia, khu vực và có thể so sánh giữa các năm đối với cùng một quốc gia.

Đối với chỉ số “Nộp thuế”, theo cách đánh giá của Báo cáo Môi trường kinh doanh, khái niệm về thuế ở đây được hiểu theo cách nhìn của doanh nghiệp, bao gồm tất cả các loại thuế và các khoản đóng góp bắt buộc mà chủ doanh nghiệp phải thực hiện theo quy định của Chính phủ, làm ảnh hưởng tới kết quả thu nhập của doanh nghiệp. Việc tính tóan, xác định chi phí tuân thủ thuế được thực hiện đối với các khoản thuế thu thập (thuế TNDN/lợi tức), thuế GTGT/thuế bán hàng, thuế môn bài, phí xăng dầu, thuế chuyển nhượng quyền sử dụng đất và các khoản bảo hiểm bắt buộc mà doanh nghiệp sử dụng lao động phải nộp như: BHXH, BHYT, BHTN.

Để đo lường chỉ số “Nộp thuế” ở mức độ các khoản đóng góp của doanh nghiệp và mức độ phức tạp của hệ thống thuế ở một quốc gia và có thể so sánh giữa các nước, Ngân hàng thế giới (WB) xây dựng một mẫu doanh nghiệp giả định ở quy mô vừa và nhỏ, với các tình huống giao dịch kinh doanh được thực hiện trong một năm (Doanh thu bằng 1.050 lần thu nhập bình quân đầu người). Chuyên gia của từng nước sẽ thực hiện tính toán nghĩa vụ thuế theo những tình huống này căn cứ vào chính sách của từng quốc gia. Chỉ số Nộp thuế được đánh giá theo 3 tiêu chí là: Số lần nộp thuế; Thời gian thực hiện nghĩa vụ thuế; và Tổng mức thuế suất. Cụ thể như sau:

– Số lần nộp thuế: Chỉ số này đo tổng số các loại thuế, tần suất nộp thuế trong năm của doanh nghiệp. Nếu việc kê khai điện tử đã được phần lớn doanh nghiệp áp dụng, việc nộp thuế được tính là 1 lần trong năm cho 1 loại thuế. Trường hợp hai hoặc nhiều loại thuế áp dụng chung một mẫu tờ khai thì các loại thuế này được tính thành 1 lần.

– Thời gian thực hiện nghĩa vụ thuế: Thời gian được tính bằng số giờ/năm. Tiêu chí này đo lường thời gian dùng để chuẩn bị, kê khai và làm thủ tục nộp thuế cho ba loại thuế và các khoản đóng góp chính: Thuế giá trị gia tăng (GTGT)/thuế bán hàng, thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN)/thuế lợi tức và các khoản đóng góp bắt buộc cho lao động (BHXH, BHYT, BHTN). Thời gian chuẩn bị bao gồm thời gian thu thập thông tin cần thiết cho từng khoản thuế phải nộp; thời gian tính toán, lưu giữ sổ sách kế toán cho mục đích thuế do khác biệt về quy định của thuế so với kế toán; thời gian hoàn tất các mẫu biểu tờ khai và thời gian nộp thuế. Nếu việc nộp tờ khai và nộp thuế trực tiếp tại cơ quan thuế thì tính cả thời gian chờ đợi.

– Tổng mức thuế suất: Chỉ tiêu này đo lường (tỷ lệ %) giá trị các khoản thuế và đóng góp bắt buộc công ty phải nộp sau khi trừ đi các khoản miễn giảm trên tổng lợi nhuận kinh doanh của công ty trong năm. Chỉ tiêu này không tính các khoản thuế khấu trừ tại nguồn (như thuế GTGT/thuế bán hàng, thuế thu nhập cá nhân) mà doanh nghiệp không phải nộp. Các khoản thuế được tính bao gồm thuế doanh thu, thuế TNDN, các khoản đóng góp an sinh xã hội, các khoản mà chủ lao động phải đóng góp cho người lao động, thuế môn bài, phí xăng dầu, thuế chuyển nhượng quyền sử dụng đất.

Kết quả xác định chỉ số Nộp thuế của Việt Nam qua các năm

Theo kết quả đánh giá của Báo cáo môi trường kinh doanh qua các năm (từ 2006-2015), chỉ số Nộp thuế của Việt Nam như sau:

Việc tính toán và xếp hạng chỉ số Nộp thuế của một quốc gia sẽ được đánh giá dựa trên các tiêu chí thành phần (mỗi tiêu chí chiếm 33,33%) và tính điểm của các tiêu chí thành phần trên cơ sở so sánh thực tiễn của quốc gia đó với quốc gia có kết quả tốt nhất (Distance to frontier Scores – DTF).

Theo kết quả đánh giá của Báo cáo môi trường kinh doanh năm 2014, mức độ thuận lợi về thuế của Việt Nam đứng ở mức 149/189 nền kinh tế trên thế giới. Năm 2015, do WB-IFC thay đổi phương pháp đánh giá xếp hạng nên Việt Nam xếp thứ 173/189 quốc gia.

34.1.1.2. Phân định chi phí tuân thủ thuế và các khoản đóng góp bắt buộc

Khái niệm về thuế trong Báo cáo môi trường kinh doanh khác với khái niệm về thuế thông thường, bao gồm các khoản thuế (thuế TNDN, thuế GTGT) và các khoản đóng góp bắt buộc (BHXH, BHYT, BHTN mà chủ doanh nghiệp phải nộp cho người lao động. Do đó, chi phí tuân thủ “thuế” bao gồm cả chi phí do cơ quan thuế và cả các khoản bảo hiểm bắt buộc do cơ quan BHXH Việt Nam quản lý.

Theo số liệu tính toán của WB thì chi tiết chỉ số “Nộp thuế” của Việt Nam qua các năm như sau:

Thuế và các khoản phải nộp bắt buộc trong năm

Số lần nộp thuế (trong năm)

Thời gian thực hiện
nghĩa vụ thuế

Tổng mức thuế suất (%/lợi nhuận)

Năm 2009 – 2015

2009/

2010

2011/
2012

2013 – 2015

2009

2010

2011

2012

2013

2014

2015

BHXH

12

00

72

35

6.9

6.9

6.9

8

8

9.2

9.2

BHYT

0

 

 

 

2.3

2.3

2.3

3.4

3.4

3.4

3.4

BHTN

0

 

 

 

 

 

1.1

1.1

1.1

1.1

1.1

Thuế TNDN

5

350

233

217

19.2

19.2

11.6

16

10.3

10.1

15.7

Thuế chuyển nhượng QSDĐ

1

 

 

 

1.4

1.4

0.9

1.3

1.3

1.3

1.3

Thuế môn bài

1

 

 

 

0.2

0.2

0.2

0.2

0.2

0.2

0.1

Phí xăng dầu

1

 

 

 

0.2

0.2

0.2

0.2

0.2

(quá nhỏ)

(quá nhỏ)

Thuế GTGT

12

300

336

320

 

 

 

 

 

 

 

Tổng số

32

1050

941

872

40.1

40.1

33.1

40.1

34.5

35.2

40.8

 Nhìn vào bảng tính toán chi tiết nêu trên có thể thấy, chi phí tuân thủ để thực hiện các TTHC về BHXH chiếm tỷ trọng khá lớn. Như năm 2014, số giờ Nộp thuế của doanh nghiệp Việt Nam là 32 lần; Thời gian nộp thuế là 872 giờ và Tổng mức thuế suất là 35,2%, trong đó:

– Đối với lĩnh vực thuế: Số lần nộp là 20 lần; Thời gian là 537 giờ, Tổng mức thuế suất là 11,5%.

– Đối với lĩnh vực BHXH: Số lần nộp là 12 lần (chiếm 37,5%); Thời gian là 335 giờ (chiếm 38,42%); Tổng mức thuế suất là 23,7% (chiếm 67,33%).

34.1.1.3. So sánh số giờ nộp thuế của Việt Nam với các nước ASEAN6

STT

Các nước

 

Số giờ nộp thuế

2011

2012

2013

2014

2015

1

Brunei

144

96

96

96

93

2

Indonesia

266

266

259

259

254

3

Malaysia

145

133

133

133

133

4

Philippines

195

195

193

193

193

5

Singapore

84

84

82

82

82

6

Thái Lan

264

264

264

264

264

 

Thời gian trung bình ASEAN 6

183

173

171

171

171

 

Thời gian trung bình ASEAN 4

 

 

 

 

168

7

Việt Nam

941

941

872

872

872

 34.1.2. Đối với lĩnh vực Hải quan (chỉ số Giao dịch thương mại qua biên giới)

34.1.2.1 Phương pháp xác định

Đối với chỉ số Giao dịch thương mại qua biên giới, Báo cáo môi trường kinh doanh đo lường thời gian và chi phí (không bao gồm thuế xuất nhập khẩu và chi phí vận chuyển đường biển quốc tế) mà doanh nghiệp phải bỏ ra để thực hiện việc nhập khẩu và xuất khẩu hàng hoá bằng đường biển và số giấy tờ cần thiết để hoàn thành thủ tục xuất nhập khẩu.

Để đo lường chỉ số Giao dịch thương mại qua biên giới, Báo cáo môi trường kinh doanh cũng căn cứ vào 3 tiêu chí thành phần đối với từng hoạt động xuất khẩu/nhập khẩu, đó là: Chứng từ để xuất khẩu/nhập khẩu; Thời gian thông quan hàng hoá xuất khẩu/nhập khẩu; Chi phí xuất khẩu/nhập khẩu, cụ thể từng tiêu chí như sau:

– Chứng từ xuất khẩu/nhập khẩu: Chỉ số này được tính bằng số giấy tờ, bao gồm toàn bộ các chứng từ, hồ sơ mà doanh nghiệp phải nộp/xuất trình cho các cơ quan/đơn vị có liên quan trong quá trình làm thủ tục để nhận hoặc xuất một lô hàng. Các chứng từ, hồ sơ có thể là: giấy phép xuất khẩu/nhập khẩu hàng hoá; tờ khai hải quan; hoá đơn bán hàng/hoá đơn thương mại; vận tải đơn; bản kê chi tiết; C/O; D/O;… Các cơ quan có liên quan như: cơ quan cấp giấy phép, cơ quan hải quan, hãng tàu, công ty cảng/kho/bãi, tổ chức kiểm tra chất lượng,…

– Thời gian thông quan hàng hoá xuất khẩu/nhập khẩu: Thời gian được tính bằng số ngày/năm. Tiêu chí này bao gồm: thời gian xin giấy phép XNK; thời gian xin giấy chứng nhận hợp chuẩn; thời gian làm thủ tục nhận hàng/xuất hàng tính từ khi chuẩn bị hồ sơ hải quan đến khi hàng hoá được xuất/nhập khẩu (bao gồm cả thời gian chờ đợi; số lẻ tính tới ½ ngày), ví dụ như: thời gian khai hải quan gồm cả thời gian thu thập, chuẩn bị, kê khai và nộp tất cả các loại giấy tờ, hồ sơ theo quy định, thời gian kiểm tra và cấp phép của cơ quan hải quan, thời gian vận chuyển trong nội địa, thời gian làm các thủ tục ở cảng/kho/bãi; thời gian làm thủ tục với các hãng tàu. Không bao gồm thời gian vận chuyển hàng hoá trên biển. Trong chỉ tiêu Thời gian thông quan hàng hoá xuất khẩu/nhập khẩu này có phân chia tỷ lệ thời gian để thực hiện các thủ tục do cơ quan hải quan và các cơ quan khác quản lý, ví dụ như: đối với thủ tục nhập khẩu, doanh nghiệp phải thực hiện các thủ tục về kiểm tra chất lượng hàng hoá nhập khẩu của các cơ quan quản lý chuyên ngành/tổ chức giám định,…

– Chi phí xuất khẩu/nhập khẩu: Chỉ tiêu này được tính bằng đơn vị tiền tệ USD/1 container. Chỉ tiêu này đo lường toàn bộ các chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra để hoàn thành toàn bộ các giấy tờ, hồ sơ theo yêu cầu (ví dụ như giấy phép chứng nhận hợp chuẩn, phí kiểm định/kiểm tra chất lượng, giấy phép xuất nhập khẩu,…); chi phí vận chuyển và bốc xếp trong nội địa; chi phí kiểm tra và cấp phép của cơ quan hải quan; chi phí phải trả cho cảng/kho/bãi. Đây là các chi phí chính thức mà doanh nghiệp phải bỏ ra, không tính đến các chi phí không minh bạch như hối lộ.

34.1.2.2. Kết quả xác định chỉ số Giao dịch thương mại qua biên giới

Theo kết quả đánh giá của Báo cáo môi trường kinh doanh qua các năm (từ 2006-2015)[1], chỉ số Giao dịch thương mại qua biên giới của Việt Nam như sau:

Chỉ tiêu

Năm

2006

2007

2008

2009

2010

2011

2012

2013

2014

2015

Xếp hạng chung

 

 

63/178

67/181

74/183

63/183

68/183

74/185

74/189

75/189

Xuất khẩu

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Thời gian thông quan (ngày)

24

24

24

24

22

22

22

21

21

21

Tổng chi phí (USD/1 container)

468

468

468

533

555

555

580

610

610

610

Số chứng từ trong bộ hồ sơ

5

5

5

5

5

5

5

5

5

5

Nhập khẩu

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Thời gian thông quan (ngày/năm)

23

23

23

23

21

21

21

21

21

21

Tổng chi phí (USD/1 container)

586

586

586

606

645

645

670

600

600

600

Số chứng từ trong bộ hồ sơ

8

8

8

8

8

8

8

8

8

8

 Nhìn vào bảng trên có thể thấy thời gian làm các thủ tục xuất/nhập khẩu ở Việt Nam còn khá cao so với các nước trên thế giới và trong khu vực, ví dụ như thời gian xuất/nhập khẩu đối với một số nước trong nhóm ASEAN-6 cụ thể là: Malaysia là 11 và 8 ngày; Thái Lan là 14 và 13 ngày; Philippines là 15 và 14 ngày;…Trong thời gian vừa qua, Bộ Tài chính (Tổng cục Hải quan) đã triển khai rất nhiều giải pháp về chính sách và quản lý nhằm đơn giản hoá quy trình, thủ tục hành chính liên quan đến việc xuất nhập khẩu. Tuy nhiên, vướng mắc lớn nhất hiện nay trong thông quan hàng hóa xuất nhập khẩu là thủ tục quản lý chuyên ngành (chiếm 72% thời gian thông quan), gắn với trách nhiệm của nhiều bộ, cơ quan khác nhau. Do vậy, để cải cách TTHC, giảm thời gian thông quan hàng hoá xuất nhập khẩu thì bên cạnh sự nỗ lực của Bộ Tài chính, cần có sự vào cuộc của rất nhiều Bộ, ngành có liên quan để cùng phối hợp tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc cho doanh nghiệp.

34.2. Kết quả cải cách để giảm giờ tuân thủ và cải thiện chỉ số Nộp thuế

34.2.1. Mục tiêu giảm giờ theo Nghị quyết số 19/NQ-CP của Chính phủ

Báo cáo môi trường kinh doanh do IFC và WB công bố trên toàn cầu là một Báo cáo uy tín, cung cấp thông tin giúp cho các nhà đầu tư lựa chọn điểm đến đầu tư và là động lực thúc đẩy các quốc gia, tiến hành các biện pháp cải cách mạnh mẽ nhằm cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh. Ngày 18/3/2014, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 19/NQ-CP ngày 18/3/2014 về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và ngày 5/8/2014 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 24/CT-TTg về việc thực hiện các giải pháp giảm số giờ nộp thuế, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, trong đó giao cho Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan để rà soát, đánh giá và cải tiến quy trình, hồ sơ, thủ tục nộp thuế, phải cắt giảm số giờ Nộp thuế của Việt Nam đến hết năm 2015 xuống ngang bằng với mức trung bình của các nước ASEAN-6 là 171 giờ[2];đối với chỉ số Giao dịch thương mại qua biên giới thuộc trách nhiệm của cơ quan Hải quan, phải giảm thời gian thông quan hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu cho doanh nghiệp bằng mức trung bình nhóm nước ASEAN-6 đối với xuất khẩu là 14 ngày, nhập khẩu là 13 ngày[3] và triển khai có hiệu quả mô hình một cửa liên thông; Như vậy, để đạt được mục tiêu này thì cơ quan thuế phải giảm được 415,5 giờ, còn 121,5 giờ; cơ quan BHXH phải giảm được285,5 giờ, còn 49,5 giờ.

Thực hiện Nghị quyết số 19/NQ-CP, Bộ Tài chính đã chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan để rà soát, đánh giá và cải tiến quy trình, hồ sơ, thủ tục nộp thuế để cắt giảm số giờ Nộp thuế (bao gồm cả thuế và bảo hiểm xã hội), giảm thời gian thông quan hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu cho doanh nghiệp Việt Nam đến hết năm 2015 xuống ngang bằng với mức trung bình của các nước ASEAN-6 và triển khai có hiệu quả mô hình một cửa quốc gia (điện tử).

34.2.2. Nội dung sửa đổi, bổ sung chính sách thuế nhằm cải cách thủ tục hành chính

Song song với việc cắt giảm, rà soát thủ tục thuế, hải quan, để kiểm soát việc ban hành các quy định mới phát sinh mà không gây tốn kém thời gian, tiền bạc của doanh nghiệp, Bộ Tài chính đã thành lập Ban chỉ đạo tăng cường quản lý và cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực thuế, hải quan do đồng chí Lãnh đạo Bộ là trưởng ban chỉ đạo (Quyết định số 1983/QĐ-BTC ngày 13/8/2014 của Bộ trưởng Bộ Tài chính). Đây là bộ phận đầu mối chuyên trách để chỉ đạo, tổ chức triển khai, kiểm soát việc thực hiện các quy định mới đảm bảo tiết kiệm, hiệu quả, thuận lợi cho doanh nghiệp, kịp thời giải quyết vướng mắc và nghiên cứu sửa đổi những quy định còn chưa phù hợp, là rào cản trong việc tạo thuận lợi cho người nộp thuế.

Đặc biệt, với tính chất quan trọng của Đề án đánh giá sự hài lòng của người nộp thuế trong việc đánh giá hiệu quả và kiểm soát các biện pháp về cải cách TTHC tạo thuận lợi cho người nộp thuế, Bộ Tài chính đã, đang tổ chức thực hiện Đề án này đảm bảo đi vào thực chất. Cụ thể:

34.2.2.1. Đối với lĩnh vực thuế

a. Cải cách về thể chế chính sách

Những nội dung sửa đổi, bổ sung thuộc thẩm quyền của Quốc hội: Năm 2014 Bộ Tài chính đã trình Chính phủ trình Quốc hội ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các Luật thuế số 71/2014/QH13 ngày 26/11/2014[4] (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2015), trong đó có một số sửa đổi, bổ sung về các loại thuế có tác động làm giảm số giờ nộp thuế cho người nộp thuế như:

– Về hồ sơ khai thuế đối với loại phải kê khai theo tháng, quý: theo Điều 1 Luật số 21/2012/QH13 thì hồ sơ khai thuế đối với loại phải kê khai theo tháng, quý phải có Bảng kê hoá đơn hàng hoá, dịch vụ bán ra hoặc mua vào.

Thông lệ quản lý thuế GTGT tại đa số các quốc gia trên thế giới áp dụng chế độ thuế GTGT, trong đó nhiều quốc gia có trình độ phát triển tương đương Việt Nam, như: Thái Lan, Philipines, Campuchia, Lào… đều không đòi hỏi doanh nghiệp cung cấp toàn bộ thông tin về việc kê hóa đơn, chứng từ hàng hóa dịch vụ mua vào, bán ra trong việc khai thuế GTGT.

Việc doanh nghiệp phải kê và nộp định kỳ hóa đơn, chứng từ hàng hóa, dịch vụ mua vào bán ra là một trong các lý do dẫn đến số giờ khai thuế cao. Vì vậy, Chính phủ đã trình Quốc hội cho bỏ quy định doanh nghiệp phải gửi Bảng kê hoá đơn hàng hoá, dịch vụ bán ra hoặc mua vào khi lập hồ sơ khai thuế đối với loại phải kê khai theo tháng, quý để áp dụng từ ngày 01/7/2015. Doanh nghiệp chỉ phải hạch toán đầy đủ, kịp thời tại doanh nghiệp theo quy định của Luật kế toán để cơ quan thuế thực hiện công tác kiểm tra sau. Theo đó, sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 31 Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11 và khoản 8 Điều 1 Luật Quản lý thuế số 21/2012/QH13theo hướng từ ngày 01/7/2015, hồ sơ khai thuế đối với người nộp thuế thực hiện khai và nộp theo tháng, quý là tờ khai thuế tháng, quý.

– Về thuế TNDN: bỏ quy định khống chế khoản chi quảng cáo, tiếp thị, khuyến mại, hoa hồng môi giới, tiếp tân, khánh tiết, hội nghị, hỗ trợ tiếp thị, hỗ trợ chi phíliên quan trực tiếp đến hoạt động sản xuất, kinh doanh. Theo đó, doanh nghiệp thực hiện chi quảng cáo, khuyến mại nếu có đủ hóa đơn, chứng từ theo quy định thì được tính trừ khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN.

– Về thuế TNCN đối với hộ, cá nhân kinh doanh:

Theo quy định thì hộ, cá nhân kinh doanh ngoài việc phải chịu thuế gián thu còn phải chịu thuế TNCN. Thuế TNCN đối với hộ, cá nhân kinh doanh đang áp dụng quy trình tính thuế phức tạp như: trường hợp cá nhân kinh doanh chưa thực hiện được chế độ kế toán, không xác định được thu nhập chịu thuế thì cơ quan thuế ấn định thu nhập, sau đó lại xác định thu nhập tính thuế trên cơ sở tính giảm trừ gia cảnh để áp dụng biểu thuế luỹ tiến, cuối năm phải quyết toán thuế (theo thẩm quyền của Chính phủ cũng đã ban hành một số quy định bỏ phải quyết toán thuế đối với trường hợp cá nhân hoạt động đại lý bảo hiểm, đại lý xổ số, bán hàng đa cấp). Trên thực tế đại bộ phận hộ, cá nhân kinh doanh không thực hiện chế độ kế toán nên phải thực hiện ấn định thu nhập chịu thuế.

Thực tế cho thấy công tác quản lý thuế đối với hộ, cá nhân kinh doanh nói chung rất phức tạp, tiêu tốn nhân lực nhưng không hiệu quả. Tổng số thu từ nhóm hộ, cá nhân kinh doanh chỉ chiếm khoảng 2% tổng thu (trừ thu từ dầu thô) nhưng tổng số nhân lực ngành thuế để quản lý đối tượng này khoảng 60%. Mặc dù ngành thuế đã thực hiện việc công khai thông tin hộ khoán trước và sau khi ấn định thuế. Tuy nhiên, do chính sách thuế phức tạp nên cá nhân cũng không thể tự biết được việc tính thuế như thế nào để xác định số thuế mình phải nộp. Việc công khai minh bạch về chính sách thuế đối với cá nhân kinh doanh cũng không đạt hiệu quả.

Vì vậy, để tạo điều kiện thuận lợi cho người nộp thuế và cải cách thủ tục hành chính, hộ, cá nhân tự xác định được mức thuế của mình có như vậy mới tạo điều kiện cho người nộp thuế, người dân có điều kiện giám sát việc thực hiện của cơ quan thuế, Luật số 71/2014/QH13 đã sửa đổi quy định về thuế khoán đối với hộ, cá nhân kinh doanh theo hướng đơn giản để cá nhân có thể tự khai, tự nộp và giám sát được việc thu thuế của cơ quan thuế bằng nội dung Luật quy định nguyên tắc thu thuế khoán đối hộ, cá nhân kinh doanh, trong đó quy định mức thuế khoán cụ thể đối với từng lĩnh vực, ngành nghề sản xuất kinh doanh. Cụ thể, sửa đổi Điều 10. Thuế đối với cá nhân kinh doanh tại Luật thuế TNCN hiện hành như sau:

“Điều 10. Thuế đối với cá nhân kinh doanh

1. Cá nhân kinh doanh nộp thuế thu nhập cá nhân theo tỷ lệ trên doanh thu đối với từng lĩnh vực, ngành nghề sản xuất, kinh doanh.

2. Doanh thu là toàn bộ tiền bán hàng, tiền gia công, tiền hoa hồng, tiền cung ứng dịch vụ phát sinh trong kỳ tính thuế từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ.

Trường hợp cá nhân kinh doanh không xác định được doanh thu thì cơ quan thuế có thẩm quyền ấn định doanh thu theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.

3. Thuế suất:

a) Phân phối, cung cấp hàng hoá: 0,5%;

b) Dịch vụ, xây dựng không bao thầu nguyên vật liệu: 2%.

Riêng hoạt động cho thuê tài sản, đại lý bảo hiểm, đại lý xổ số, đại lý bán hàng đa cấp: 5%;

c) Sản xuất, vận tải, dịch vụ có gắn với hàng hoá, xây dựng có bao thầu nguyên vật liệu: 1,5%;

d) Hoạt động kinh doanh khác: 1%.”

– Về sửa đổi, bổ sung quy định thuế TNCN đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản và chuyển nhượng chứng khoán

Theo Luật thuế TNCN hiện hành thì:

+ Đối với chuyển nhượng bất động sản: Luật quy định 2 phương pháp thu thuế theo thuế suất 25% trên thu nhập (giá bán trừ giá vốn và các chi phí liên quan) và nộp thuế 2% trên giá bán nếu không xác định được giá vốn, các chi phí liên quan và có chứng từ chứng minh.

+ Đối với chuyển nhượng chứng khoán: Luật quy định 2 phương pháp thu thuế theo thuế suất 20% trên thu nhập năm (giá bán – giá mua và các chi phí liên quan), nếu không xác định được giá vốn, các chi phí liên quan và có chứng từ chứng minh thì nộp thuế 0,1% trên giá bán từng lần. Trường hợp cá nhân áp dụng kỳ tính thuế theo năm thì mỗi lần chuyển nhượng cá nhân tạm nộp thuế TNCN

0,1% trên giá bán chứng khoán từng lần, cuối năm quyết toán được trừ số thuế đã tạm nộp trong năm.

Căn cứ quy định của Luật thuế TNCN, Chính phủ đã quy định cá nhân nếu cung cấp được hồ sơ chứng minh được giá vốn và các chi phí liên quan thì được áp dụng thuế suất 25% trên thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản, nếu cá nhân không xác định hoặc không có hồ sơ để xác định giá vốn và chứng từ chứng minh các chi phí liên quan thì áp dụng thuế suất 2% trên giá bán. Đối với chuyển nhượng chứng khoán, đến cuối năm nếu cá nhân chuyển nhượng chứng khoán có yêu cầu quyết toán thuế theo thuế suất 20% trên thu nhập thì thực hiện khai quyết toán thuế trực tiếp với cơ quan thuế.

Tuy nhiên, để minh bạch về chính sách, tránh vướng mắc trong thực hiệnvà cải cách về thủ tục hành chính, Luật số 71/2014/QH13 đã sửa đổi, bổ sung quy định tại Điều 13, 14 Luật thuế TNCN hiện hành theo hướng cá nhân chuyển nhượng bất động sảnnộp thuế 2% trên giá bán từng lần chuyển nhượng và cá nhân chuyển nhượng chứng khoán nộp thuế 0,1% trên giá bán chứng khoán từng lần chuyển nhượng.

Theo tính toán của Bộ Tài chính (Tổng cục Thuế) với các nội dung sửa đổi, bổ sung tại Luật số 71/2014/QH13 này thì tổng số giờ nộp thuế giảm khoảng 80 giờ.

Những nội dung sửa đổi, bổ sung thuộc thẩm quyền của Chính phủ

Ngày 01/10/2014 Chính phủ ban hành Nghị định số 91/2014/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều tại 04 Nghị định quy định về thuế (có hiệu lực thi hành từ ngày 15/11/2014), trong đó sửa đổi, bổ sung một số nội dung về chính sách thuế và quản lý thuế hiện hành, qua đó có tác động làm giảm số giờ nộp thuế cho người nộp thuế như:

Về thuế GTGT: (i) nâng mức doanh thu khai thuế GTGT theo quý từ dưới 20 tỷ đồng/năm lên 50 tỷ đồng/năm, qua đó giảm số lần khai thuế, nộp thuế GTGT cho các doanh nghiệp từ 12 lần/năm xuống còn 04 lần/năm; (ii) Bổ sung quy định trường hợp chưa có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt do chưa đến thời điểm thanh toán theo hợp đồng thì cơ sở kinh doanh vẫn được kê khai, khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào. Theo đó bỏ quy định phải ghi thời hạn thanh toán theo hợp đồng vào cột Ghi chú của Bảng kê hoá đơn hàng hoá dịch vụ mua vào và khai điều chỉnh thuế GTGT đầu vào đến thời điểm thanh toán theo hợp đồng hoặc đến 31/12 hàng năm.

Thuế TNDN: (i) Bỏ quy định khai tạm tính thuế TNDN theo quý, theo đó giảm số lần khai thuế TNDN từ 5 lần/năm xuống còn 01 lần/năm (doanh nghiệp chỉ phải thực hiện khai quyết toán thuế TNDN 1 lần/năm và tạm nộp theo quý); (ii) Bổ sung quy định không thực hiện khai quyết toán thuế TNDN các trường hợp chuyển đổi mà bên tiếp nhận kế thừa toàn bộ nghĩa vụ về thuế của doanh nghiệp trước chuyển đổi; (iii) Bổ sung quy định về người nộp thuế thực hiện tạm nộp số thuế thu nhập doanh nghiệp của quý chậm nhất vào ngày thứ ba mươi của quý tiếp theo quý phát sinh nghĩa vụ thuế. Trường hợp tổng số bốn lần tạm nộp thấp hơn từ 20% trở lên so với số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp theo quyết toán thì doanh nghiệp phải nộp lãi chậm nộp đối với phần chênh lệch từ 20% trở lên giữa số tạm nộp với số quyết toán tính từ ngày 31 tháng 12 của năm khai thuế đến ngày thực nộp số thuế còn thiếu so với số quyết toán.

Về thuế TNCN: (i) Bổ sung quy định cho phép khoản lợi ích nhận được là nhà ở do doanh nghiệp xây dựng cho công nhân làm việc trong các khu kinh tế, khu CN được trừ khỏi thu nhập chịu thuế TNCN; (ii) Bổ sung quy định cho phép cá nhân, hộ kinh doanh có thu nhập từ kinh doanh đã thực hiện nộp thuế theo phương pháp khoán không phải quyết toán thuế TNCN; (iii) Bổ sung cho phép cá nhân là đại lý bảo hiểm, đại lý xổ số, bán hàng đa cấp không phải quyết toán thuế.

Tổng số giờ nộp thuế giảm được khi thực hiện các giải pháp của Nghị định số 91/2014/NĐ-CP là 88,36 giờ.

Những nội dung sửa đổi, bổ sung thuộc thẩm quyền của Bộ Tài chính

Căn cứ theo các quy định của Chính phủ tại Nghị định 91/2014/NĐ-CP, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư 151/2014/TT-BTC ngày 10/10/2014 (có hiệu lực thi hành từ ngày 15/11/2014) hướng dẫn thi hành Nghị định số 91/2014/NĐ-CP ngày 01/10/2014 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều tại các Nghị định quy định về thuế; Ngoài ra, theo thẩm quyền Bộ Tài chính cũng đã chủ động rà soát và ban hành Thông tư số 119/2014/TT-BTC ngày 25/8/2014 sửa đổi, bổ sung 7 Thông tư của Bộ Tài chính (có hiệu lực thi hành từ 1/9/2014). Những nội dung sửa đổi, bổ sung tại các Thông tư hướng dẫn đã có tác động làm giảm số giờ nộp thuế cho người nộp thuế, cụ thể:

Về thuế GTGT

– Đơn giản hoá mẫu Bảng kê hoá đơn, chứng từ hàng hoá, dịch vụ mua vào, bán ra (mẫu 01-1/GTGT và mẫu 01-2/GTGT) bằng cách bỏ một số chỉ tiêu như: ký hiệu mẫu hoá đơn, ký hiệu hoá đơn, mặt hàng) để phù hợp với quy định về sổ sách kế toán, do đó doanh nghiệp sẽ không phải thực hiện bước công việc là kiểm tra hoá đơn đầu vào, nhập các thông tin chưa có trên phần mềm kế toán, giảm bớt thời gian ghi chép, kê khai điều chỉnh của doanh nghiệp;

– Bỏ quy định phải tổng hợp và khai các hoá đơn GTGT đầu vào không đủ điều kiện khấu trừ, hoá đơn của hàng hoá dịch vụ không phải tính thuế GTGT trên các Bảng kê;

– Bỏ quy định phải ghi chú trên Bảng kê hoá đơn, chứng từ hàng hoá, dịch vụ mua vào về thời hạn thanh toán theo hợp đồng đối với hợp đồng thanh toán trả chậm;

– Đơn giản hóa mẫu biểu thủ tục nộp tiền vào ngân sách nhà nước, người nộp thuế chỉ cần ghi thông tin về tiền thuế phải nộp của mình, cơ quan thu (KBNN, cơ quan thuế) phải tự xác định và hạch toán vào mục lục ngân sách tương ứng.

Về thuế TNDN: Bỏ quy định phải ghi nhận doanh thu tính thuế và xuất hoá đơn trong trường hợp tiêu dùng nội bộ.

– Đồng thời với việc sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp quy, Bộ Tài chính đã ban hành 09 quyết định công bố TTHC trong lĩnh vực thuế, ban hành mới 64 thủ tục; sửa đổi, bổ sung 187 thủ tục và bãi bỏ 53 TTHC, đã cập nhật vào cơ sở dữ liệu quốc gia về TTHC. Tính đến ngày 31/12/2014, TTHC trong lĩnh vực thuế là 432 thủ tục (cấp Tổng cục 4 thủ tục, cấp Cục Thuế là 246 thủ tục, cấp Chi cục Thuế là 182 thủ tục);

Ngoài các giải pháp có tác động trực tiếp làm giảm số giờ Nộp thuế theo cách đánh giá của WB-IFC, trong các văn bản trên cũng có rất nhiều các sửa đổi, bổ sung về chính sách thuế khác. Mặc dù các cải cách này không có trong căn cứ tính toán số giờ nộp thuế của PwC trong Báo cáo môi trường kinh doanh, nhưng là những giải pháp tạo điều kiện thuận lợi cho người nộp thuế trong quá trình thực thi các thủ tục hành chính thuế, ví dụ như: bỏ quy định về mức khống chế 1 tỷ đồng về tài sản cố định, máy móc thiết bị đầu tư, mua sắm của doanh nghiệp, hợp tác xã mới thành lập để đăng ký tự nguyện áp dụng phương pháp khấu trừ thuế; bổ sung hướng dẫn về thay thế liên 1 hóa đơn bằng Bảng kê đối với một số ngành, lĩnh vực, như viễn thông, hóa đơn tiền điện, hóa đơn tiền nước, hóa đơn thu phí của các ngân hàng, vé vận tải hành khách của các đơn vị vận tải, các loại tem, vé, thẻ; không tính thuế TNDN đối với chênh lệch do đánh giá lại tài sản của doanh nghiệp nhà nước khi cổ phần hoá; cho phép doanh nghiệp được tính vào chi phí được trừ đối với các đối với khoản chi có tính chất phúc lợi, chi trực tiếp cho người lao động không quá 01 tháng lương thực tế thực hiện…

Như vậy, tổ chức thực hiện đúng những nội dung sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp quy đã được Quốc hội, Chính phủ, Bộ Tài chính ban hành đến 01/01/2015 thì số giờ nộp thuế của doanh nghiệp Việt Nam đã giảm được khoảng 370 giờ (Thông tư 119/2014/TT-BTC giảm được khoảng 201,5 giờ; Nghị định 91/2014/NĐ-CP giảm được khoảng 88,36 giờ; Luật số 71/2014/QH13 giảm được khoảng 80 giờ). Giảm được 8 lần khai và nộp thuế GTGT, giảm được 4 lần nộp tờ khai thuế TNDN tạm tính.

b. Thực hiện triển khai ứng dụng công nghệ thông tin

Bộ Tài chính đã chỉ đạo Tổng cục Thuế đã đẩy nhanh tiến độ triển khai Dự án khai thuế điện tử để tiết kiệm thời gian, chi phí nộp tờ khai thuế của doanh nghiệp, vừa hạn chế sự can thiệp, tiếp xúc trực tiếp giữa cán bộ thuế với doanh nghiệp trong quá trình khai thuế, tính thuế. Kết quả đến ngày 31/12/2014 đã có 97% số doanh nghiệp đang hoạt động khai thuế điện tử. Đồng thời triển khai dịch vụ nộp thuế điện tử, tính đến 27/02/2015 đã triển khai thí điểm tại 18/63 tỉnh/thành phố với hơn 24.000 doanh nghiệp đăng ký nộp thuế.

c. Thực hiện công khai minh bạch trong quản lý thuế và tăng cường quản lý thuế trên cơ sở đánh giá rủi ro

– Thực hiện công khai thông tin về thủ tục hành chính thuế trên Trang thông tin điện tử ngành thuế; tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính thuế theo cơ chế một cửa tại cơ quan thuế; thường xuyên tổ chức hội nghị đối thoại giữa cơ quan thuế với người nộp thuế; duy trì hệ thống tiếp nhận thông tin phản hồi của người nộp thuế thông qua hòm thư góp ý, tổ chức các đường dây nóng…;

– Xây dựng và triển khai đề án Đánh giá sự hài lòng của người nộp thuế, tiếp nhận các thông tin phản hồi của xã hội để cải cách, nâng cao chất lượng phục vụ của cơ quan thuế;

– Đổi mới và nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền hỗ trợ, tăng cường hỗ trợ để người nộp thuế hiểu và thực hiện đúng pháp luật thuế; đa dạng hóa công tác truyền thông về cải cách chính sách và thủ tục hành chính thuế trên các phương tiện thông tin đại chúng (báo đài, truyền hình, mạng internet…), lược bỏ các hình thức tuyên truyền không phù hợp;

– Tăng cường công tác luân phiên, luân chuyển, chuyển đổi vị trí công việc trong toàn bộ hệ thống thuế; ban hành cơ chế đánh giá trách nhiệm của người đứng đầu và nghiên cứu xây dựng chế độ trách nhiệm công vụ đối với công chức thuế trong việc thực hiện giải quyết các thủ tục hành chính thuế cho người dân và doanh nghiệp;

– Chấn chỉnh lề lối làm việc, thái độ, tác phong ứng xử của công chức thuế với người nộp thuế; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện kỷ cương kỷ luật trong nội ngành, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm kỷ luật, gây phiền hà cho người nộp thuế; đề cao trách nhiệm và tinh thần, thái độ phục vụ người dân và doanh nghiệp của cán bộ, công chức thuế;

– Trao đổi thông tin với các cơ quan quản lý nhà nước khác để quản lý thuế (các Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Tài nguyên môi trường, Công thương…); thực hiện chế độ hậu kiểm để đơn giản hóa thủ tục hành chính cho doanh nghiệp nhưng vẫn phòng ngừa, chống thất thu thuế, chống gian lận về khấu trừ, hoàn thuế.

Với các giải pháp đã được luật hoá tại các văn bản pháp quy do Quốc hội, Chính phủ, Bộ Tài chính ban hành và có hiệu lực trong năm 2014, theo như cách tính toán của Ngân hàng Thế giới và IFC thì tính đến 1/1/2015 số giờ nộp thuế của doanh nghiệp Việt Nam giảm được khoảng 370 giờ (Luật số 71/2014/QH13 giảm được 80 giờ; Nghị định số 91/2014/NĐ-CP giảm được 88,36 giờ; Thông tư 119/2014/TT-BTC giảm được 201,5 giờ), còn 167 giờ (thuế GTGT còn 60 giờ, thuế TNDN còn khoảng 107 giờ).

34.2.2.2. Kết quả cải cách TTHC trong lĩnh vực hải quan năm 2014

Để đạt được mục tiêu của Nghị quyết 19 của Chính phủ đặt ra[5] rút ngắn thời gian hoàn thành thủ tục xuất khẩu, nhập khẩu của doanh nghiệp bằng mức trung bình của nhóm nước ASEAN-6 (thời gian xuất khẩu là 14 ngày, thời gian nhập khẩu là 13 ngày) và triển khai có hiệu quả mô hình một cửa quốc gia, Bộ Tài chính đã chỉ đạo cơ quan Hải quan thực hiện các công việc sau:

a. Sửa đổi và thực hiện các quy định về chính sách

Ngày 23/6/2014, Quốc hội khóa XIII kỳ họp thứ 7 đã thông qua Luật Hải quan thay thế Luật Hải quan số 29/2001/QH10 năm 2001 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan số 42/2005/QH11 năm 2005. Luật Hải quan năm 2014 đã tạo cơ sở pháp lý cho việc hiện đại hóa toàn bộ hoạt động hải quan và phù hợp với các chuẩn mực quốc tế, đáp ứng yêu cầu quản lý hải quan hiện đại, tiên tiến.

b. Triển khai thực hiện khai ứng dụng công nghệ thông tin

– Triển khai hệ thống thông quan hàng hóa tự động (VNACCS/VCIS): Sau 2 năm đầu tư, chuẩn bị, Bộ Tài chính đã tổ chức lễ khánh thành và bàn giao hệ thống thông quan hàng hoá tự động (VNACCS/VCIS) giữa Nhật Bản và Việt Nam ngày 25/4/2014. Việc triển khai hệ thống VNACCS/VCIS đã tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp trong việc tiết kiệm thời gian thông quan, giải phóng hàng, giảm chi phí, nhân sự trong quá trình làm thủ tục…; Thay đổi nhận thức và phương pháp quản lý hải quan; Góp phần hoàn thành mục tiêu cải cách, hiện đại hoá của ngành. Đến ngày 30/9/2014, 171/171 Chi cục Hải quan, 34/34 Cục Hải quan; 96% số lô hàng đã được thực hiện thông quan tự động.

Kết quả đo thời gian giải phóng hàng tại Chi cục Hải quan cảng Sài Gòn Khu vực1 (đơn vị có khối lượng công việc lớn nhất tháng 10/2014) trên cơ sở dữ liệu thông tin của Hệ thống VNACCS/VCIS:

Thời gian đăng ký tờ khai hải quan khoảng 3 giây;

Thời gian trung bình từ khi tờ khai được đăng ký đến khi thông quan/giải phóng hàng:

+ Nhập khẩu: 34 giờ 32 phút 14 giây, giảm 7,6 giờ (tương đương với 18%) so với năm 2013 (42:07:40).

+ Xuất khẩu: 6 giờ 58 phút 55 giây, giảm 9,6 giờ (tương đương với 58%) so với năm 2013 (16 giờ 36 phút 10 giây), riêng đối với lô hàng phân luồng xanh, không thuế thì thời gian này chỉ tính bằng giây.

– Thanh toán thuế điện tử từ 01/11/2014 qua cổng thanh toán điện tử: Kết nối 34/34 Cục hải quan Tỉnh, thành phố với 17 Ngân hàng thương mại có ký thỏa thuận phối hợp thu với tần suất tức thời (online) và từ Kho bạc với tần suất 15 phút/lần; tự động hạch toán kế toán, thanh khoản nợ, thông quan hàng hóa cho doanh nghiệp xuất nhập khẩu với số thu chiếm 59% tổng thu ngân sách từ hoạt động xuất nhập khẩu.

c. Về triển khai Cơ chế Một cửa quốc gia và một cửa ASEAN

Ban Chỉ đạo quốc gia về Cơ chế một cửa ASEAN và Cơ chế một cửa quốc gia đã phê duyệt kế hoạch triển khai Cơ chế một cửa ASEAN, cơ chế một cửa quốc gia trong 06 tháng cuối năm 2014 và Quý I năm 2015. Về cơ bản, Bộ Tài chính và các Bộ, ngành liên quan đã triển khai thực hiện theo đúng tiến độ kế hoạch đã được phê duyệt, cụ thể:

– Từ 11/11/2014, Việt Nam đã chính thức triển khai Cơ chế một cửa quốc gia tại 12 cảng biển quốc tế[6], với sự tham gia của Bộ Tài chính (Tổng cục Hải quan), Bộ Giao thông vận tải, Bộ Công thương; Ngày 12/11/2014, Tổng cục Hải quan đã tổ chức lễ công bố triển khai chính thức cơ chế một cửa quốc gia tại cảng biển quốc tế.

Trên cơ sở đã kết nối các Bộ: Tài chính, Công Thương, Giao thông vận tải, từ 2015 sẽ mở rộng kết nối với Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Y tế, Tài nguyên và Môi trường, Quốc phòng. Đến năm 2016 sẽ mở rộng đến các Bộ, ngành còn lại. Việc thực hiện cơ chế một cửa quốc gia (NSW) sẽ mang lại rất nhiều lợi ích cho doanh nghiệp. Từ chỗ thông quan 1 lô hàng có thể phải xin giấy phép của nhiều Bộ, ngành khác nhau rất mất thời gian và phải chuẩn bị nhiều hồ sơ, chứng từ nhưng NSW cho phép doanh nghiệp chỉ phải nộp 1 bộ hồ sơ duy nhất. NSW là điểm trung chuyển hồ sơ đến những nơi yêu cầu và trả hồ sơ theo đúng thời hạn cố định. Theo tính toán dự kiến, NSW sẽ cắt giảm từ 10 đến 20% chi phí, 30% thời gian cho việc thông quan lô hàng xuất nhập khẩu. Đối với cơ chế một cửa ASEAN, Việt Nam đã tham gia cùng với cộng đồng ASEAN hoàn thành dự án cơ chế một cửa ASEAN rút gọn, đang trong quá trình đàm phán ký Nghị định thư về Khung pháp lý một cửa ASEAN và chuẩn bị triển khai mở rộng dự án cơ chế một cửa ASEAN vào năm 2015, tiến tới hình thành cộng đồng kinh tế ASEAN vào cuối tháng 12/2015.

– Đã kết nối chính thức thực hiện một số thủ tục hành chính (bao gồm thủ tục cấp C/O form D) theo đăng ký của Bộ Công thương vào ngày 25/12/2014.

Theo cam kết, Việt Nam đã công bố triển khai Cơ chế một cửa quốc gia và sẵn sàng về thông tin, dữ liệu để có thể cung cấp, trao đổi thông tin, dữ liệu theo yêu cầu của các nước ASEAN, trước mắt là thông tin về Giấy chứng nhận xuất xứ theo Hiệp định ATIGA (C/O form D).

d. Thực hiện ứng dụng CNTT và hiện đại hóa trang thiết bị

– Lắp đặt 11 hệ thống máy soi container tại các địa điểm kiểm tra hàng hóa tập trung, địa bàn trọng điểm. Đã soi chiếu 53.497 cont, chiếm 33,84% số lượng cont luồng đỏ, tỷ lệ phát hiện vi phạm là 0,44% tổng số cont soi chiếu (237/53497).

– Đã đưa vào sử dụng 97 máy soi hành lý, hàng hóa; 19 hệ thống camera giám sát, cùng các hệ thống, thiết bị an toàn phóng xạ và các trang thiết bị kiểm tra, giám sát (máy soi hành lý, hàng hóa, cân ô tô).

Với những kết quả trên, thời gian giao thương hàng hóa qua Biên giới theo yêu cầu Nghị quyết 19/NQ-CP đối với những hàng hóa đã được thực hiện thông quan điện tử, được kết nối 1 cửa quốc gia (Tài chính; Công thương; Giao thông vận tải) đã giảm được 25-30% về thời gian (còn 15-16 ngày).

34.2.2.3. Đối với lĩnh vực BHXH

Theo đánh giá của WB-IFC, doanh nghiệp Việt Nam nộp các khoản bảo hiểm bắt buộc (BHXH, BHYT, BHTN) một năm 12 lần và mất 335 giờ để thực hiện các thủ tục hành chính về BHXH. Trong thời gian qua, Bộ Tài chính (Tổng cục Thuế) đã phối hợp với Cơ quan BHXH đã rà soát lại các quy định về chính sách cũng như các quy trình thủ tục về các khoản bảo hiểm để đề xuất các cấp có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung các văn bản, chính sách có liên quan. Kết quả:

a. Kết quả thực hiện sửa đổi và thực hiện các quy định về chính sách

Ngày 10/10/2014 Cơ quan BHXH Việt Nam đã ban hành Quyết định số 1018/QĐ-BHXH về việc sửa đổi một số nội dung tại 05 Quyết định ban hành quy định quản lý thu, chi BHXH, BHYT, trong đó đơn giản hoá rất nhiều thủ tục, hồ sơ liên quan đến việc quản lý sổ BHXH, thẻ BHYT; quy định về hồ sơ và quy trình giải quyết các chế độ BHXH; quy định về quản lý chi trả chế độ BHXH; quy định về quy trình tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả giải quyết các TTHC về BHXH, BHYT,…, cụ thể một số nội dung như sau:

(i) Bỏ một số chỉ tiêu kê khai trùng lắp hoặc các chỉ tiêu có sẵn trong cơ sở dữ liệu của cơ quan BHXH tại một số tờ khai; bỏ một số tài liệu, giấy tờ kèm theo trong một số thủ tục về giải quyết chi trả chế độ cho người lao động để đơn giản hoá thủ tục hành chính cho doanh nghiệp và người lao động;

(ii) Chỉ yêu cầu 01 (một) bộ hồ sơ để giải quyết chế độ BHXH;

(iii) Sửa đổi quy định về việc chỉ cần nộp bản sao thay vì bản sao có công chứng đối với một số trường hợp để giảm chi phí cho doanh nghiệp và người lao động. Theo ước tính của cơ quan BHXH Việt Nam, với việc sửa đổi, bổ sung các quy định về quy trình, thủ tục, mẫu biểu hồ sơ như Quyết định số 1018/QĐ-BHXH nêu trên thì thời gian thực hiện các thủ tục BHXH sẽ giảm được khoảng 100 giờ.

b. Kết quả thực hiện triển khai ứng dụng công nghệ thông tin

Bên cạnh việc sửa đổi, bổ sung về chính sách, Cơ quan BHXH Việt Nam đã phối hợp với một số công ty phần mềm để xây dựng phần mềm kê khai hồ sơ đóng BHXH, BHYT qua mạng internet và cung cấp miễn phí cho doanh nghiệp, phần mềm này có chức năng hỗ trợ việc kê khai thủ tục BHXH trực tuyến và quản lý người lao động, quản lý hồ sơ BHXH đã kê khai. Đến cuối năm 2014, BHXH đã triển khai thí điểm phần mềm này tại 36 tỉnh/thành phố với hơn 30.000 doanh nghiệp sử dụng. Dự kiến, đến quý II/2015 sẽ hoàn thành việc thực hiện khai BHXH điện tử đối với doanh nghiệp. Ngoài ra, BHXH Việt Nam đã phối hợp với bưu điện để tiếp nhận và trả kết quả giải quyết TTHC, giảm thời gian đi lại của doanh nghiệp khi thực hiện các TTHC về BHXH, BHYT, BHTN.

c. Phối hợp giữa cơ quan thuế và cơ quan BHXH

Tổng cục Thuế và BHXH Việt Nam đã ký Quy chế phối hợp công tác giữa cơ quan thuế và cơ quan BHXH, trong đó hai bên sẽ trao đổi thông tin về tổ chức, cá nhân tham gia đóng BHXH, Tổng cục Thuế cấp mã số thuế đối với tổ chức trả thu nhập và trao đổi thông tin để cơ quan BHXH sử dụng trong quản lý. Tiến tới, hai cơ quan sẽ nghiên cứu, trình cấp có thẩm quyền để sử dụng chung mã số doanh nghiệp thay cho mã số quản lý của BHXH, góp phần làm giảm thời gian, chi phí hơn nữa cho doanh nghiệp.

Với những kết quả cải cách của cơ quan BHXH Việt Nam, dự kiến số giờ nộp các khoản bảo hiểm giảm được khoảng 100 giờ, còn 185,5 giờ.

Như vậy, với những giải pháp đã thực hiện như trên, dự kiến thời gian Nộp thuế trong báo cáo Môi trường kinh doanh đã giảm được 470 giờ. Bộ Tài chính đã mời chuyên gia của Nhóm nghiên cứu chỉ số Nộp thuế (cô Joanna Nars – đồng tác giả Báo cáo chỉ số Nộp thuế của WB) đến Việt Nam, làm việc với Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế và cơ quan BHXH Việt Nam trong thời gian từ 12-15/01/2015. Qua đợt làm việc này, chuyên gia đánh giá các kết quả cải cách đã thực hiện ở Việt Nam trong năm 2014 và dự kiến 2015 là đúng hướng và phù hợp với thông lệ quốc tế; các kết quả sẽ được ghi nhận trong Báo cáo Môi trường kinh doanh những năm sau.

34.3. Mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp năm 2015-2016

34.3.1. Mục tiêu và các chỉ tiêu chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh hai năm 2015-2016

Để tiếp tục cải cách TTHC cho người nộp thuế, đồng thời đáp ứng được các thay đổi về phương pháp luận trong tính toán chỉ số Nộp thuế của Ngân hàng Thế giới, ngày 12/3/2015 Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 19/NQ-CP về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia hai năm 2015-2016. Cụ thể:

34.3.1.1. Mục tiêu tổng quát

Tập trung thực hiện hiệu quả 3 đột phá chiến lược gắn với cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng và năng lực cạnh tranh, phấn đấu cải thiện điểm số và vị trí xếp hạng về môi trường kinh doanh (theo xếp hạng của WB) và năng lực cạnh tranh quốc gia (theo xếp hạng của Diễn đàn kinh tế thế giới).

Bảo đảm các loại thị trường hàng hóa, lao động, chứng khoán, bất động sản… vận hành đầy đủ, thông suốt và ngày càng trở thành yếu tố quyết định trong huy động và phân bố các nguồn lực cho phát triển.

Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong các ngành, lĩnh vực sản xuất kinh doanh và đời sống, coi đây là phương thức phát triển mới để đổi mới quy trình quản lý, sản xuất kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm, doanh nghiệp, của quốc gia.

34.3.1.2. Các chỉ tiêu chủ yếu

Trong hai năm 2015-2016 tập trung cải thiện môi trường kinh doanh, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, rút ngắn quy trình xử lý, giảm số lượng và đơn giản hóa nội dung hồ sơ, giảm thời gian và chi phí thực hiện thủ tục hành chính. Bảo đảm công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của các cơ quan hành chính nhà nước. Cải cách toàn diện các quy định về điều kiện kinh doanh, về quản lý chuyên ngành đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu, nhập khẩu, phù hợp với thông lệ quốc tế, chuyển mạnh sang hậu kiểm.

a) Năm 2015 phấn đấu các chỉ tiêu về môi trường kinh doanh đạt và vượt mức trung bình của các nước ASEAN 0:

– Rút ngắn thời gian nộp thuế còn không quá 121,5 giờ/năm, thời gian nộp BHXH không quá 49,5 giờ/năm; tỷ lệ doanh nghiệp kê khai thuế điện tử đạt trên 95%; tỷ lệ doanh nghiệp nộp thuế điện tử đạt tối thiểu 90%; xây dựng và công khai cơ sở dữ liệu về hoàn thuế, bảo đảm ít nhất 90% hoàn thuế theo đúng thời gian quy định

– Tiếp tục giảm mạnh thời gian thông quan hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu ngang bằng với các nước ASEAN-6, bảo đảm Hải quan Việt Nam đáp ứng tiêu chuẩn hải quan hiện đại; thời gian hàng hóa xuất nhập khẩu giao lưu qua biên giới đạt mức tối đa 13 ngày đối với hàng hóa xuất khẩu, 14 ngày đối với hàng hóa nhập khẩu. Cơ ban hoàn thành và vận hành hiệu quả Hải quan một cửa quốc gia, kết nối Bộ Tài chính (Tổng cục Hải quan) với các Bộ: Công thương, Giao thông vận tải, Quốc phòng (bộ đội biên phòng), Công an (Cục quản lý xuất nhập cảnh), nông nghiệp và phát triển nông thôn, y tế…

b) Năm 2016 phấn đấu chỉ số môi trường kinh doanh của Việt nam tối thiểu đạt mức trung bình của nhóm nước ASEAN-4 trên một số chỉ tiêu chủ yếu theo thông lệ quốc tế, cụ thể:

– Củng cố, duy trì các kết quả đạt được trong khởi sự kinh doanh, tiếp cận điện năng, bảo vệ nhà đầu tư, hải quan, nộp thuế và bảo hiểm bắt buộc. Trong đó thời gian nộp thuế và bảo hiểm bắt buộc không quá 168 giờ/năm.

– Đạt mức ASEAN-4 về cải cách hành chính thuế đối với 03 nhóm chỉ tiêu mới là kiểm tra trước hoàn thuế; thực hiện quản lý rủi ro trong thanh tra, kiểm tra thuế; thời gian và kết quả xử lý những khiếu nại về thuế.

– Quy định rõ danh mục hàng hóa, dịch vụ phải kiểm dịch, kiểm tra phù hợp tiêu chuẩn, chất lượng trước khi thông quan theo hướng hàng hóa, dịch vụ tiêu chuẩn, chất lượng hàng hóa tuân thủ các tiêu chuẩn, phương thức phù hợp với các cam kết, thông lệ quốc tế. Đơn giản quy trình, hồ sơ và thủ tục xuất nhập khẩu, hải quan. Nâng cao năng lực của các cơ quan, đơn vị quản lý nhà nước trong việc kiểm dịch, kiểm tra tiêu chuẩn, chất lượng hàng hóa, dịch vụ tại các cửa khẩu trọng yếu trên toàn quốc; thiết lập cơ chế phối hợp có hiệu quả giữa Hải quan và cơ quan quản lý nhà nước liên quan; giảm thời gian hoàn thành thủ tục xuất khẩu xuống còn dưới 10 ngày và thời gian nhập khẩu xuống còn dưới 12 ngày.

34.3.1.3. Nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu

a) Theo chức năng nhiệm vụ được giao, Bộ Tài chính:

– Tiếp tục chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện đúng và đầy đủ các quy định về nộp thuế; phát huy kết quả đã đạt được trong năm 2014 về cải cách hành chính trên lĩnh vực thuế và hải quan. Cải tiến quy trình, hồ sơ, thủ tục nộp thuế, rút ngắn thời gian hoàn thành thủ tục khai thuế, nộp thuế (bao gồm cả thuế GTGT, thuế TNDN) xuống còn dưới 119 giờ;

– Ban hành chế độ quản lý rủi ro đối với doanh nghiệp thuộc đối tượng thanh tran, kiểm tra về thuế (trước ngày 30/6/2015); xây dựng và công khai cơ sở dữ liệu về hoàn thuế, bảo đảm ít nhất 90% hoàn thuế theo đúng thời gian quy định và về giải quyết các khiếu nại của người nộp thuế, bảo đảm yêu cầu ít nhất 90% hồ sơ khiếu nại của người nộp thuế được giải quyết đúng thời gian theo quy định của pháp luật; ban hành quy định và hướng dẫn thực hiện việc tổ chức tư vấn (với các thành phần gồm đại diện cơ quan quản lý nhà nước có liên quan, đại diện hiệp hội doanh nghiệp, ngành nghề) để tư vấn cho cơ quan thuế khi thực hiện kết luận thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại của người nộp thuế theo quy định của pháp luật;

– Phối hợp với Bộ Kế hoạch và đầu tư xây dựng hệ thống cấp mã số thuế tự động cho doanh nghiệp, rút ngắn thời gian thành lập mới doanh nghiệp xuống còn 03 ngày theo quy định của pháp luật;

– Chỉ đạo đẩy mạnh triển khai cải cách hành chính trong lĩnh vực hải quan; hướng dẫn và chỉ đạo tổ chức thực hiện Luật hải quan 2014; quản lý, vận hành hiệu quả hệ thống hải quan điện tử (VNACCS/VCIS); tiếp tục thực hiện phương thức quản lý rủi ro trên cơ sở phân loại doanh nghiệp, phân loại người khai hải quan;

– Nghiên cứu ban hành quy định về áp dụng quản lý rủi rõ trong quản lý thuế đối với doanh nghiệp. Xây dựng và hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động của các tổ chức hành nghề đại lý thuế. Xây dựng cơ chế đánh giá của các tổ chức xã hội dân sự, của người nộp thuế về chính sách và các thủ tục hành chính thuế, đánh giá về chất lượng quản lý của cơ quan thuế và cán bộ thuế;

– Nghiên cứu trình Chính phủ ban hành quy chế thanh tra tại doanh nghiệp theo nguyên tắc không chồng chéo giữa các cơ quan quản lý nhà nước về thanh tra, kiểm tra; cho phép sử dụng kết quả thanh tra, kiểm tra của các cơ quan chức năng có thẩm quyền trong công tác quản lý thuế, hoàn thuế;

– Rà soát các quy định của Luật Quản lý thuế, các quy trình thanh tra giải quyết khiếu nại và hoàn thuế GTGT, bảo đảm tính rõ ràng, minh bạch, tối gian các thủ tục hành chính cho người nộp thuế, tăng cường tính hiệu lực, hiệu quả của các quy trình pháp lý liên quan đến các hoạt động này;

– Thực hiện ứng dụng công nghệ thông tin tối thiểu đạt 95% trong nộp tờ khai, nộp thuế, hoàn thuế;

– Rà soát, sửa đổi, bổ sung chính sách ưu đãi về thuế đối với doanh nghiệp phần mềm, sản phẩm, dịch vụ phần mềm, giao dịch mua bán doanh nghiệp công nghệ thông tin để khuyến khích mạnh mẽ, thu hút các nhà đầu tư phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin tại Việt Nam.

b) Bảo hiểm xã hội Việt Nam chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan, địa phương liên quan tiếp tục rà soát, đơn giản hồ sơ, quy trình và thủ tục kê khai thu và chi BHXH, BHYT; rút ngắn thời gian hoàn thành thủ tục nộp bảo hiểm bắt buộc đối với doanh nghiệp xuống còn 49 giờ. Triển khai ứng dụng phần mềm hỗ trợ kê khai hồ sơ tham gia BHXH, BHYT trên 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Nghiên cứu, đề xuất, triển khai áp dụng chữ ký số nộp thuế trong việc kê khai, nộp BHXH, BHYT qua mạng.

34.3.2 Mục tiêu và nhiệm vụ cụ thể trong lĩnh vực thuế, hải quan

34.3.2.1. Đối với lĩnh vực thuế

a. Mục tiêu

Trong năm 2015 để đạt được chỉ tiêu về số giờ Nộp thuế còn 121,5 giờ, bằng bình quân của các nước ASEAN- 6 như chỉ tiêu về số giờ Nộp thuế theo chỉ đạo của Chính phủ tại Nghị quyết số 19/NQ-CP, cơ quan Thuế và BHXH còn phải giảm tiếp 231 giờ (cơ quan thuế phải giảm 45,5 giờ, cơ quan BHXH Việt Nam phải giảm 185,5 giờ). Ngoài ra, phải nghiên cứu, cải cách chính sách và quy trình thủ tục liên quan đến hoàn thuế, thanh tra/kiểm tra thuế và giải quyết khiếu nại về thuế[7].

b. Giải pháp thực hiện

Theo thông báo của Ngân hàng Thế giới, từ Báo cáo môi trường kinh doanh 2016, Ngân hàng Thế giới sẽ có một số thay đổi trong phương pháp luận và cách tính chỉ số Nộp thuế, trong đó sẽ bổ sung thêm đánh giá về các thủ tục của quy trình sau kê khai như: hoàn thuế; thanh tra, kiểm tra thuế; và giải quyết khiếu nại về thuế.

Hiện Bộ Tài chính đã có Công văn số 1385/BTC-TCT ngày 28/1/2015 và số 3293/BTC-TCT ngày 16/3/2015 trình Thủ tướng Chính phủ báo cáo kết quả cải cách TTHC theo Nghị quyết số 19/NQ-CP ngày 18/3/2014 và đề xuất một số giải pháp thực hiện trong năm 2015, cụ thể:

(i) Bộ Tài chính ban hành chế độ quản lý rủi ro đối với doanh nghiệp thuộc đối tượng thanh tra/kiểm tra về thuế (trước 30/06/2015) để thực hiện thanh tra/kiểm tra đối với những doanh nghiệp có rủi ro cao về thuế, không thanh tra/kiểm tra đối với những doanh nghiệp chấp hành tốt chính sách để không gây khó khăn cho những doanh nghiệp này.

(ii) Thực hiện sửa đổi quy định về hồ sơ hoàn thuế; phần mềm hỗ trợ công tác tự động xây dựng báo cáo hồ sơ hoàn thuế; nộp hồ sơ hoàn thuế qua mạng; xây dựng cơ sở dữ liệu về quản lý công tác hoàn thuế và thực hiện công khai để người được hoàn thuế biết được thông tin về tình trạng giải quyết hồ sơ hoàn thuế; yêu cầu 90% hồ sơ hoàn thuế của người nộp thuế được hoàn đúng chế độ nhà nước và thời gian quy định.

(iii) Thực hiện xây dựng và công khai cơ sở dữ liệu về giải quyết các khiếu nại của người nộp thuế để người nộp thuế biết được tình trạng giải quyết khiếu nại của mình ở cơ quan thuế; yêu cầu 90% hồ sơ khiếu nại của người nộp thuế được giải quyết đúng thời gian và được giải quyết theo quy định của pháp luật.

(iv) Giao cho Bộ Tài chính ban hành Thông tư quy định, hướng dẫn thực hiện việc tổ chức tư vấn với các thành phần gồm đại diện cơ quan quản lý nhà nước có liên quan; đại diện hiệp hội doanh nghiệp ngành nghề để tư vấn cơ quan thuế khi thực hiện kết luận thanh tra, kiểm tra; xử lý khiếu nại của người nộp thuế theo đúng quy định của Luật Quản lý thuế.

(v) Bộ Tài chính giao cho Tổng cục Thuế tiếp tục thực hiện

– Triển khai ứng dụng công nghệ thông tin để số doanh nghiệp kê khai thuế điện tử đạt trên 95%, nộp thuế điện tử tối thiểu đạt 90% số doanh nghiệp để giảm thời gian, chi phí; triển khai các dịch vụ trao đổi thông tin giữa cơ quan thuế với các cơ quan quản lý nhà nước khác và người nộp thuế dựa trên nền tảng điện tử;

– Xây dựng và phát triển hệ thống dịch vụ hỗ trợ cho người nộp thuế; nghiên cứu xây dựng cơ chế đánh giá của các tổ chức xã hội, hiệp hội ngành nghề, duy trì hệ thống tiếp nhận thông tin phản hồi của người nộp thuế thông qua hòm thư góp ý, đường dây nóng, hội nghị đối thoại với người nộp thuế;

– Nghiên cứu, xây dựng quy định về phối hợp, trao đổi thông tin quản lý nhà nước với các bộ, ngành để phục vụ cho quản lý thuế, làm cơ sở đấu tranh chống chuyển giá, ngăn ngừa các hành vi gian lận, trốn thuế; xây dựng cơ sở dữ liệu để thực hiện thanh tra thuế dựa trên rủi ro;

– Đẩy mạnh thực hiện các quy định về kỷ cương, kỷ luật hành chính trong thực thi nhiệm vụ của cán bộ, công chức thuế; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện kỷ cương kỷ luật trong nội ngành, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm kỷ luật, gây phiền hà cho người nộp thuế; Tiếp tục thực hiện đề án Đánh giá sự hài lòng của người nộp thuế làm cơ sở đánh giá hiệu quả công tác cải cách thủ tục hành chính thuế và chất lượng phục vụ của cơ quan thuế;

(vi) Phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan thực hiện cải cách thủ tục hành chính, tạo thuận lợi cho người nộp thuế

– Phối hợp với Bộ kế hoạch đầu tư xây dựng cơ sở dữ liệu, kết nối, vận hành hệ thống cấp mã số doanh nghiệp tự động theo quy định của Luật Doanh nghiệp, rút ngắn thời gian cấp mã doanh nghiệp trong vòng 3 ngày và thực hiện theo phương thức điện tử.

– Phối hợp với Bộ Công an, Bộ Thông tin truyền thông nghiên cứu, xây dựng cơ sở pháp lý và giải pháp trao đổi kết nối thông tin về việc sử dụng mã số thuế với mã số công dân (từ năm 2015 đến hết năm 2019).

– Phối hợp với Bộ Tài nguyên Môi trường để trao đổi thông tin giữa cơ quan Thuế và cơ quan Tài nguyên môi trường trong việc tiếp nhận, xử lý nghĩa vụ tài chính của người sử dụng đất, rút ngắn thời gian thực hiện thủ tục hành chính của người sử dụng đất.

(vii) Bộ Tài chính đã chỉ đạo Tổng cục Thuế phối hợp với cơ quan BHXH Việt Nam tiếp tục rà soát, đơn giản hoá các hồ sơ, quy trình và thủ tục về thu/chi về bảo hiểm bắt buộc (BHXH, BHYT, BHTN) để giảm số giờ thực hiện các thủ tục bảo hiểm vào cuối năm 2015 còn 49,5 giờ theo chỉ đạo của Chính phủ tại Nghị quyết số 19/NQ-CP; Tiếp tục triển khai ứng dụng phần mềm hỗ trợ kê khai hồ sơ tham gia BHXH, BHYT trên 63 tỉnh, thành phố; nghiên cứu đề xuất các cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định về giao dịch điện tử trong tất cả các nội dung về BHXH, BHYT.

(viii)Những việc cần tiếp tục triển khai theo thẩm quyền của Bộ Tài chính: Triển khai ứng dụng công nghệ thông tin để số doanh nghiệp kê khai thuế điện tử đạt trên 95%, nộp thuế điện tử tối thiểu đạt 90% để giảm thời gian, chi phí; triển khai các dịch vụ trao đổi thông tin giữa cơ quan thuế với các cơ quan quản lý nhà nước khác và người nộp thuế dựa trên nền tảng điện tử; Xây dựng và phát triển hệ thống dịch vụ hỗ trợ cho người nộp thuế; nghiên cứu xây dựng cơ chế đánh giá của các tổ chức xã hội, hiệp hội ngành nghề, duy trì hệ thống tiếp nhận thông tin phản hồi của người nộp thuế thông qua hòm thư góp ý, đường dây nóng, hội nghị đối thoại với người nộp thuế; và Nghiên cứu, xây dựng các quy định về phối hợp, trao đổi thông tin quản lý nhà nước để ngăn ngừa các hành vi gian lận, trốn thuế; xây dựng cơ sở dữ liệu để thực hiện thanh tra thuế dựa trên rủi ro.

34.3.2.2. Đối với lĩnh vực hải quan

a. Mục tiêu

Tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính để giảm thời gian thông quan hàng hoá xuất nhập khẩu ngang bằng với các nước ASEAN-6, bảo đảm Hải quan Việt Nam đáp ứng tiêu chuẩn hải quan hiện đại với thời gian hàng hoá xuất nhập khẩu giao lưu qua biên giới đạt mức tối đa 13 ngày đối với hàng hoá xuất khẩu, 14 ngày đối với hàng hoá nhập khẩu.

b. Giải pháp thực hiện

* Triển khai Đề án “Nâng cao năng lực và hiệu quả của kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa xuất nhập khẩu”:

Bộ Tài chính đã xây dựng và lấy ý kiến các Bộ, ngành quản lý chuyên ngành về Dự thảo: (i) Đề án “Giải pháp nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa xuất nhập khẩu tại cửa khẩu” nhằm: sửa đổi, bổ sung hoàn thiện thể chế chính sách về quản lý nhà nước đối với hàng hoá XNK trong lĩnh vực cấp phép, kiểm dịch, kiểm tra tiêu chuẩn, chất lượng hàng hoá; đầu tư trang thiết bị và nguồn nhân lực để thực hiện nhanh và hiệu quả công tác kiểm dịch, kiểm tra tiêu chuẩn, chất lượng hàng hoá; xã hội hoá, huy động nguồn lực xã hội thực hiện nhiệm vụ kiểm tra tiêu chuẩn, chất lượng hàng hoá đối với những hàng hoá theo quy định pháp luật và phù hợp với thông lệ quốc tế tập trung ở 5 cảng, cửa khẩu quan trọng: thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Quảng Ninh, Lạng Sơn, Lào Cai; (ii) Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường quản lý nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa xuất nhập khẩu.

Hiện Bộ Tài chính đang hoàn thiện dự thảo Đề án, Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ, dự kiến báo cáo Thủ tướng Chính phủ trong tháng 3/2015.

* Trong năm 2015, kết nối Cơ chế một cửa quốc gia và sẵn sàng kết nối với Cơ chế một cửa ASEAN với những giải pháp cơ bản sau:

– Triển khai mở rộng đối với các Bộ đã chính thức triển khai cơ chế một cửa Quốc gia trong năm 2014 (Bộ Công thương, Bộ Giao thông vận tải).

– Bổ sung kết nối thủ tục biên phòng điện tử với Bộ Tư lệnh Bộ đội biên phòng và thủ tục cấp chứng nhận xuất xứ không ưu đãi do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam thực hiện.

– Mở rộng kết nối Giai đoạn 2 với các thủ tục hành chính của 03 Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Tài nguyên và Môi trường, Y tế vào tháng 06/2015.

– Hoàn thành thủ tục phê duyệt và ký kết Nghị định thư để thực hiện Cơ chế một cửa ASEAN.

– Kết nối Cơ chế một cửa ASEAN theo lộ trình của ASEAN (trước mắt kết nối trao đổi thông tin về chứng nhận xuất xứ ưu đãi trong ASEAN – Form D và các chỉ tiêu thông tin tờ khai hải quan ASEAN – ACDD).

* Tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng phương thức quản lý hải quan hiện đại

– Áp dụng quản lý rủi ro trong các hoạt động nghiệp vụ hải quan theo chuẩn mực của hải quan quốc tế, song song với triển khai toàn diện công cụ kiểm tra sau thông quan (hậu kiểm), kiểm soát hải quan (chống buôn lậu, gian lận thương mại) và giám sát hải quan trực tuyến (thiết lập Trung tâm chỉ huy trực tuyến cho công tác kiểm tra, kiểm soát hải quan) đều hướng đến mục tiêu nhiệm vụ tạo thuận lợi hải quan và đảm bảo yêu cầu quản lý hải quan theo quy định pháp luật.

– Công khai, minh bạch pháp luật hải quan và kết quả hoạt động hải quan: TCHQ đang hoàn thiện hệ thống chỉ số đánh giá hoạt động hải quan được xây dựng từ năm 2011, trong đó có chỉ số phục vụ cho kiểm soát, chỉ đạo điều hành nội bộ, có chỉ số được công bố phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có liên quan đến hoạt động xuất nhập khẩu như chỉ số thời gian trung bình giải phóng hàng, chỉ số về sự hài lòng của khách hàng đối với hoạt động hải quan.

Hoạt động đối thoại giữa Hải quan – Doanh nghiệp được tổ chức thường niên hàng năm; tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật được thực hiện thường xuyên, kịp thời.

* Đầu tư, lắp đặt 05 máy soi container, kết hợp với việc sửa đổi, bổ sung quy trình kiểm tra thực tế hàng hóa bằng máy soi, giảm chi phí, thời gian cho doanh nghiệp; Thực hiện giám sát trực tuyến và lưu hình ảnh soi chiếu tập trung tại Tổng cục Hải quan.

Phụ lục văn bản quy phạm pháp luật

(V/v sửa đổi, bổ sung chính sách thuế và về quản lý thuế, hải quan nhằmcải cách thủ tục hành chính thuế, hải quan)

  1. Chỉ thị số 24/CT-TTgngày 05 tháng 8 năm 2014 của Thủ tướng Chính phủ về việc thực hiện các giải pháp giảm số giờ nộp thuế, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia;
  2. Nghị định số 91/2014/NĐ-CP ngày 01 tháng 10 năm 2014 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều tại các Nghị định quy định về thuế;
  3. Nghị định số 12/2015/NĐ-CP ngày 12 tháng 02 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các Luật về thuế và sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định về thuế;
  4. Nghị quyết số 19/NQ-CP ngày 18 tháng 3 năm 2014 của Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia;
  5. Nghị quyết số 19/NQ-CP ngày 12 tháng 3 năm 2015 của Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia hai năm 2015-2016;
  6. Luật số 71/2014/QH13 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của các Luật về thuế;
  7. Thông tư số 119/2014/TT-BTC ngày 25 tháng 8 năm 2014 của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 156/2013/TT-BTC ngày 06/11/2013, Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013, Thông tư số 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013, Thông tư số 08/2013/TT-BTC ngày 10/01/2013, Thông tư số 85/2011/TT-BTC ngày 17/6/2011,­­ Thông tư số 39/2014/TT-BTC ngày 31/3/2014 và Thông tư số 78/2014/TT-BTC ngày 18/6/2014 của Bộ Tài chính để cải cách, đơn giản các thủ tục hành chính về thuế;
  8. Thông tư số 151/2014/TT-BTC ngày 10 tháng 10 năm 2014 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 91/2014/NĐ-CP ngày 01 tháng 10 năm 2014 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều tại các Nghị định quy định về thuế.

 

[1]Theo Báo cáo môi trường kinh doanh năm 2014 về chỉ số Giao dịch thương mại qua biên giới thì thời gian để hoàn thành thủ tục thông quan của doanh nghiệp Việt Nam đối với thủ tục xuất khẩu là 21 ngày, nhập khẩu là 21 ngày

 [2]Theo Báo cáo môi trường kinh doanh 2014 do WB-IFC đánh giá, số giờ Nộp thuế của doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏở Việt Nam là 872 giờ; trong đó thuế là 537 giờ (thuế GTGT, TNDN do cơ quan thuế thu) và các khoản bảo hiểm bắt buộc mà chủ doanh nghiệp phải nộp cho người lao động (BHXH, BHYT, BHTN do cơ quan BHXH thu) là 335 giờ.

[3] Theo Báo cáo môi trường kinh doanh 2014 vềchỉ số Giao dịch thương mại qua biên giới, thời gian để hoàn thành thủ tục thông quan của doanh nghiệp Việt Nam đối với thủ tục xuất khẩu là 21 ngày, nhập khẩu là 21ngày.

[4]Sửa đổi, bổ sung 4 Luật thuế và Luật quản lý thuế

[5]Nghị quyết 19/NQ-CP đặt ra mục tiêu đơn giản hóa quy trình, hồ sơ và thủ tục xuất khẩu, thủ tục hải quan và giảm thời gian thông quan hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; rút ngắn thời gian để doanh nghiệp hoàn thành thủ tục xuất khẩu là 14 ngày, thời gian nhập khẩu là 13 ngày, bằng mức trung bình của nhóm nước ASEAN-6

[6]Kết nối điện tử, trao đổi thông tin giữa các cơ quan quản lý nhà nước với nhau và với doanh nghiệp (giấy phép, giấy chứng nhận xuất xứ hàng hoá, giấy kiểm tra tiêu chuẩn chất lượng hàng hoá,…) bằng phương thức điện tử

[7]Năm 2016: giảm thời gian Nộp thuế (bao gồm cả hoàn thuế, thanh tra/kiểm tra thuế và giải quyết khiếu nại về thuế) ngang bằng với mức trung bình của các nước ASEAN-4

Bản in

 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *