Chuyên đề 33: NHỮNG ĐỔI MỚI VỀ CHÍNH SÁCH THUẾ NHẰM THÁO GỠ KHÓ KHĂN CHO DOANH NGHIỆP, GÓP PHẦN PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT KINH DOANH

MỤC LỤC

Chuyên đề 33: NHỮNG ĐỔI MỚI VỀ CHÍNH SÁCH THUẾ NHẰMTHÁO GỠ KHÓ KHĂN CHO DOANH NGHIỆP, GÓP PHẦN PHÁT TRIỂNSẢN XUẤT KINH DOANH

ThS. Dương Thị Ninh, Vụ Chính sách thuế – Bộ Tài chính

 Những năm qua, do tác động của khủng hoảng kinh tế thế giới, nền kinh tế nước ta và cộng đồng doanh nghiệp phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, thách thức. Nhờ thực hiện các giải pháp của Quốc hội, Chính phủ trong giai đoạn 2012-2014 nhằm hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, nền kinh tế đã xuất hiện một số dấu hiệu tích cực nhưng vẫn đang trong giai đoạn khó khăn, tiếp tục phải đối mặt với nhiều thách thức. Do đó, để doanh nghiệp có điều kiện ổn định và phát triển, Chính phủ đã ban hành một số giải pháp chính sách thuế để hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy sản xuất kinh doanh, có giải pháp được thực hiện ngay từ năm tài chính 2014 (giải pháp về Chính sách thuế TNDN – Nghị định 91/2014/NĐ-CP ngày 01/10/2014).

Để tiếp tục phục hồi đà tăng trưởng trong thời gian tới, thực hiện những chính sách hỗ trợ đối với nông nghiệp, nông thôn, tạo điều kiện cho doanh nghiệp Việt Nam trong hội nhập kinh tế quốc tế và cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực quản lý thuế, hải quan thì cần có những đổi mới về chính sách thuế để hỗ trợ doanh nghiệp và người lao động. Ngày 26/11/2014, Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 8 đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều tại các Luật về thuế (Luật số 71/2014/QH13).

Sau đây xin giới thiệu những nội dung mới về chính sách thuế mới được ban hành và áp dụng trong năm 2014 thuộc thẩm quyền của Chính phủ và Bộ Tài chính và những chính sách thuế mới được áp dụng kể từ 01/01/2015:

33.1. Những chính sách thuế mới được ban hành và áp dụng trong năm 2014

(Nghị định số 91/2014/NĐ-CP ngày 01/10/2014 sửa đổi, bổ sung 04 Nghị định của Chính phủ về thuế và được hướng dẫn tại Thông tư 151/2014/TT-BTC ngày 10/10/2014 của Bộ Tài chính):

33.1.1. Về thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN)

(một số nội dung sửa đổi, bổ sung Nghị định 218/2013/NĐ-CP, được hướng dẫn tại Thông tư 151/2014/TT-BTC áp dụng từ năm tài chính 2014):

33.1.1.1. Bổ sung quy định khoản chênh lệch do đánh giá lại tài sản đối với trường hợp cổ phần hóa, sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp 100% vốn nhà nước không thuộc diện đưa vào thu nhập khác (nếu chênh lệch tăng) để tính nộp thuế TNDN hoặc giảm trừ thu nhập khác (nếu chênh lệch giảm).

Trước đây (từ năm tài chính 2013), khoản chênh lệch do đánh giá lại tài sản theo quy định của pháp luật đối với trường hợp cổ phần hóa, sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp 100% vốn nhà nước được tính vào thu nhập khác hoặc giảm trừ thu nhập khác khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN.

33.1.1.2. Tăng thời gian được miễn thuế đối với thu nhập từ thực hiện hợp đồng nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, thu nhập từ bán sản phẩm thử nghiệm và thu nhập từ sản xuất sản phẩm làm ra từ công nghệ mới lần đầu tiên áp dụng tại Việt Nam để khuyến khích doanh nghiệp đầu tư, phát triển sản phẩm khoa học công nghệ, cụ thể như sau:

Thu nhập từ việc thực hiện hợp đồng nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ theo quy định của pháp luật về khoa học và công nghệ được miễn thuế trong thời gian thực hiện hợp đồng nhưng tối đa không quá 03 năm kể từ ngày bắt đầu có doanh thu từ thực hiện hợp đồng nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ;

Thu nhập từ bán sản phẩm làm ra từ công nghệ mới lần đầu tiên áp dụng ở Việt Nam theo quy định của pháp luật và hướng dẫn của Bộ Khoa học và Công nghệ được miễn thuế tối đa không quá 05 năm kể từ ngày có doanh thu từ bán sản phẩm;

Thu nhập từ bán sản phẩm sản xuất thử nghiệm trong thời gian sản xuất thử nghiệm theo quy định của pháp luật”.

Trước đây: Quy định thời gian miễn thuế được quy định tối đa không quá 01 năm, kể từ ngày bắt đầu có doanh thu bán sản phẩm đối với tất cả các loại hình nêu trên.

33.1.1.3. Bổ sung quy định doanh nghiệp được trích khấu hao tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập tính thuế TNDN đối với toàn bộ giá trị xe ô tô làm mẫu và lái thử có giá trị trên 1,6 tỷ đồng của cơ sở kinh doanh ô tô.

Trước đây: doanh nghiệp không được tính vào chi phí được trừ phần trích khấu hao tương ứng với phần nguyên giá vượt trên 1,6 tỷ đồng/xe đối với ô tô chở người từ 9 chỗ ngồi trở xuống (trừ ô tô chuyên kinh doanh vận tải hành khách, du lịch và khách sạn).

33.1.1.4. Bổ sung quy định doanh nghiệp được tính vào chi phí được trừ đối với khoản chi có tính chất phúc lợi chi trực tiếp cho người lao động như: chi đám hiếu, hỷ của bản thân và gia đình người lao động; chi nghỉ mát, chi hỗ trợ điều trị; chi hỗ trợ bổ sung kiến thức học tập tại cơ sở đào tạo; chi hỗ trợ gia đình người lao động bị ảnh hưởng bởi thiên tai, địch họa, tai nạn, ốm đau; chi khen thưởng con của người lao động có thành tích tốt trong học tập; chi hỗ trợ chi phí đi lại ngày lễ, tết cho người lao động và những khoản chi có tính chất phúc lợi khác. Tổng số chi có tính chất phúc lợi nêu trên không quá 01 tháng lương bình quân thực tế thực hiện trong năm tính thuế của doanh nghiệp.

Việc xác định 01 tháng lương bình quân thực tế thực hiện trong năm tính thuế của doanh nghiệp được xác định bằng quỹ lương thực hiện trong năm chia (:) 12 tháng.

Trước đây: Chưa có quy định này.

33.1.1.5. Sửa đổi, bổ sung vào diện thu nhập được miễn thuế đối với “quỹ khác của Nhà nước hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ quy định hoặc quyết định thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật”.

Trước đây: quy định thu nhập được miễn thuế chỉ đối với “quỹ khác của Nhà nước hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, quỹ này được thành lập và có cơ chế chính sách hoạt động theo quyết định của Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ”.

33.1.1.6. Bổ sung quy đinh và hướng dẫn xác định ưu đãi thuế đối với dự án phân kỳ đầu tư và dự án trang bị bổ sung máy móc thường xuyên, cụ thể như sau:

– Đối với dự án đầu tư được cấp phép đầu tư mà trong Hồ sơ đăng ký đầu tư lần đầu gửi cơ quan cấp phép đầu tư đã đăng ký số vốn đầu tư, phân kỳ đầu tư kèm tiến độ thực hiện đầu tư, trường hợp các giai đoạn tiếp theo thực tế có thực hiện được coi là dự án thành phần của dự án đầu tư đã được cấp phép lần đầu nếu thực hiện theo tiến độ (trừ trường hợp bất khả kháng, khó khăn do nguyên nhân khách quan trong khâu giải phóng mặt bằng, giải quyết thủ tục hành chính của cơ quan Nhà nước, do thiên tai, hỏa hoạn hoặc khó khăn, bất khả kháng khác) thì các dự án thành phần của dự án đầu tư lần đầu được hưởng ưu đãi thuế cho thời gian còn lại của dự án đầu tư lần đầu tính từ thời điểm dự án thành phần có thu nhập được hưởng ưu đãi.

 Đối với dự án đầu tư được cấp phép đầu tư trước ngày 01/01/2014 mà có thực hiện phân kỳ đầu tư như trường hợp nêu trên thì dự án thành phần được hưởng ưu đãi thuế theo mức ưu đãi đang áp dụng đối với dự án đầu tư lần đầu cho thời gian ưu đãi còn lại tính từ ngày 01/01/2014.

Thu nhập của các dự án thành phần của dự án đầu tư lần đầu trước ngày 01/01/2014 đã được hưởng ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật trước ngày 01/01/2014 thì không thực hiện điều chỉnh lại các ưu đãi thuế đã được hưởng trước ngày 01/01/2014.

Trong thời gian triển khai các dự án thành phần theo từng giai đoạn nêu trên nếu nhà đầu tư được cơ quan quản lý Nhà nước về đầu tư (quy định tại Luật Đầu tư số 59/2005/QH11 ngày 29/11/2005 và các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành) cho phép gia hạn thực hiện dự án và doanh nghiệp thực hiện theo đúng thời hạn đã được gia hạn thì cũng được hưởng ưu đãi thuế theo quy định nêu trên.

– Dự án đầu tư của doanh nghiệp đang được hưởng ưu đãi thuế mà giai đoạn 2009 – 2013 có đầu tư bổ sung máy móc, thiết bị thường xuyên trong quá trình sản xuất, kinh doanh không thuộc dự án đầu tư mới và dự án đầu tư mở rộng thì phần thu nhập tăng thêm do việc đầu tư bổ sung máy móc, thiết bị thường xuyên này cũng được hưởng ưu đãi thuế theo mức mà dự án đang áp dụng cho thời gian còn lại tính từ kỳ tính thuế năm 2014.

Khái niệm về Dự án đầu tư mới”, Dự án đầu tư mở rộng” được thực hiện theo quy định hiện hành tại Nghị định số 218/2013/NĐ-CP (Khoản 5 Điều 16) và hướng dẫn tại Thông tư số 78/2014/TT-BTC (điểm a Khoản 5 Điều 18).

Trước đây:chưa có hướng dẫn cụ thể về dự án có phân kỳ đầu tư, dự án thành phần cũng như chưa có hướng dẫn cụ thể về đầu tư bổ sung máy móc, thiết bị thường xuyên trong quá trình sản xuất, kinh doanh.

33.1.1.7. Sửa đổi, bổ sung quy định khu công nghiệp được hưởng ưu đãi thuế) bao gồm cả khu công nghiệp thuộc các quận của đô thị loại đặc biệt, đô thị loại I trực thuộc trung ương và các đô thị loại I trực thuộc tỉnh mới được thành lập từ huyện kể từ ngày 01/01/2009.

Trước đây: Các khu công nghiệp thuộc các địa bàn này được xếp vào diện khu công nghiệpthuộc địa bàn có điều kiện – kinh tế xã hội thuận lợi nên không được hưởng ưu đãi thuế TNDN.

33.1.1.8. Quy định rõ về chuyển tiếp ưu đãi thuế TNDN đối với doanh nghiệp dệt may được hưởng ưu đãi thuế theo điều kiện về tỷ lệ xuất khẩu bị ngừng ưu đãi thuế do thực hiện cam kết WTO và phải chuyển sang điều kiện ưu đãi khác theo thực tế doanh nghiệp đáp ứng, cụ thể:

Doanh nghiệp dệt may bị ngừng ưu đãi thuế do thực hiện cam kết WTOđược lựa chọn kết hợp không đồng thời, không đồng bộ ưu đãi về thuế suất và thời gian miễn, giảm thuế để tiếp tục được hưởng ưu đãi thuế TNDN cho thời gian còn lại kể từ năm 2007 tương ứng với các điều kiện ưu đãi thuế mà thực tế doanh nghiệp đáp ứng (ngoài điều kiện ưu đãi do đáp ứng điều kiện về tỷ lệ xuất khẩu) quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp có hiệu lực trong thời gian từ ngày doanh nghiệp được cấp Giấy phép thành lập đến trước ngày Nghị định số 24/2007/NĐ-CP ngày 14/02/2007 của Chính phủ có hiệu lực thi hành hoặc theo quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật về thuế TNDN tại thời điểm bị điều chỉnh ưu đãi thuế do thực hiện cam kết WTO.

Trường hợp doanh nghiệp đã lựa chọn phương án chuyển đổi theo văn bản pháp luật trước đây (không phân biệt trường hợp doanh nghiệp đã hoặc chưa được kiểm tra, thanh tra thuế), nếu việc chuyển đổi ưu đãi thuế theo hướng dẫn tại Thông tư này có lợi hơn thì doanh nghiệp được phép lựa chọn chuyển đổi lại theo hướng dẫn tại Thông tư này. Doanh nghiệp thực hiện khai điều chỉnh, bổ sung theo quy định tại Luật Quản lý thuế và các văn bản hướng dẫn thi hành về quản lý thuế và không bị xử lý vi phạm pháp luật về thuế đối với hành vi khai sai do điều chỉnh lại. Trường hợp sau khi khai điều chỉnh, bổ sung, doanh nghiệp có số tiền thuế đã nộp lớn hơn số thuế phải nộp thì được bù trừ với số thuế phải nộp của kỳ thuế tiếp theo hoặc được hoàn lại số đã nộp thừa theo quy định. Trường hợp doanh nghiệp đã thực hiện điều chỉnh theo cam kết WTO đối với hoạt động dệt may theo các văn bản trước đây nếu bị xử lý vi phạm pháp luật về thuế, tính tiền chậm nộp và doanh nghiệp đã thực hiện nộp tiền phạt và tiền chậm nộp thì không thực hiện điều chỉnh lại.

Trước đây: hướng dẫn doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dệt may do đáp ứng tỷ lệ xuất khẩu bị chấm dứt ưu đãi do thực hiện cam kết WTO được lựa chọn chuyển đổi ưu đãi thuế theo một trong 2 phương án sau đây, tính từ năm tài chính 2007:

(i) hưởng ưu đãi theo các điều kiện ưu đãi thuế mà thực tế doanh nghiệp đáp ứng (ngoài điều kiện ưu đãi do đáp ứng điều kiện về tỷ lệ xuất khẩu) theo quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật về thuế TNDN có hiệu lực tại thời điểm doanh nghiệp được cấp Giấy phép thành lập; hoặc

(ii) hưởng ưu đãi theo các điều kiện ưu đãi thuế mà thực tế doanh nghiệp đáp ứng (ngoài điều kiện ưu đãi do đáp ứng điều kiện về tỷ lệ xuất khẩu)theo quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật về thuế TNDN tại thời điểm bị điều chỉnh ưu đãi thuế do thực hiện cam kết WTO.

(theo hướng dẫn tại công văn số 2348/BTC-TCT ngày 3/3/2009 của Bộ Tài chính).

33.1.2. Về thuế Giá trị gia tăng (GTGT)

(một số nội dung sửa đổi, bổ sung Nghị định 209/2013/NĐ-CP về thuế GTGT và hướng dẫn tại Thông tư 151/2014/TT-BTC), được áp dụng từ 15/11/2014), cụ thể như sau:

33.1.2.1.Bổ sung hướng dẫn rõ đối tượng không chịu thuế GTGT đối với hoạt động bán tài sản đảm bảo tiền vay để xử lý nợ bao gồm cả trường hợp bên đi vay vốn tự bán tài sản bảo đảm tiền vay theo ủy quyền của bên cho vay để trả nợ khoản vay có bảo đảm, nếu đáp ứng điều kiện:

(i) Tài sản đảm bảo tiền vay được bán là tài sản thuộc giao dịch bảo đảm đã được đăng ký với cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về đăng ký giao dịch bảo đảm;

(ii) Việc xử lý tài sản đảm bảo tiền vay thực hiện theo quy định của pháp luật về giao dịch bảo đảm.

Trước đây: quy định Bên đi vay vốn tự bán tài sản bảo đảm theo ủy quyền của bên cho vay thực hiện kê khai, nộp thuế GTGT nếu tài sản đảm bảo bán thuộc đối tượng chịu thuế GTGT.

33.1.2.2. Bổ sung quy định thuế GTGT đầu vào của tài sản cố định là ô tô dùng để làm mẫu và lái thử phục vụ cho kinh doanh ô tô của cơ sở kinh doanh ô tô được khấu trừ toàn bộ (không bị khống chế nguyên giá theo mức 1,6 tỷ đồng).

Trước đây:quy định Doanh nghiệp không khấu trừ thuế GTGT đầu vào tương ứng với phần giá trị nguyên giá ô tô vượt trên 1,6 tỷ đồng/xe đối với ô tô chở người từ 9 chỗ ngồi trở xuống (trừ ô tô chuyên kinh doanh vận tải hành khách, du lịch và khách sạn).

33.1.2.3. Sửa đổi, bổ sung quy định về khấu trừ thuế GTGT đầu vào đối với hàng hoá, dịch vụ mua trả chậm, trả góp có giá trị mua từ hai mươi triệu đồng trở lên, cơ sở kinh doanh căn cứ vào hợp đồng mua hàng hoá, dịch vụ bằng văn bản, hoá đơn giá trị gia tăng và chứng từ thanh toán qua ngân hàng của hàng hoá, dịch vụ mua trả chậm, trả góp để kê khai, khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào.

Trường hợp chưa có chứng từ thanh toán qua ngân hàng do chưa đến thời điểm thanh toán theo hợp đồng thì cơ sở kinh doanh vẫn được kê khai, khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào.

Trường hợp khi thanh toán, cơ sở kinh doanh không có chứng từ thanh toán qua ngân hàng thì cơ sở kinh doanh phải kê khai, điều chỉnh giảm số thuế GTGT đã được khấu trừ đối với phần giá trị hàng hóa, dịch vụ không có chứng từ thanh toán qua ngân hàng vào kỳ tính thuế phát sinh việc thanh toán bằng tiền mặt (kể cả trong trường hợp cơ quan thuế và các cơ quan chức năng đã có quyết định thanh tra, kiểm tra kỳ tính thuế có phát sinh thuế GTGT đã kê khai,khấu trừ).

Trước đây: Đối với trường hợp mua hàng hóa, dịch vụ trả chậm, trả góp nếu chưa đến hạn thanh toán, cơ sở kinh doanh vẫn được kê khai khấu trừ, tuy nhiên đến ngày 31/12 hàng năm, cơ sở kinh doanh phải rà soát tất cả các hợp đồng mua trả chậm, trả góp trong năm để khai điều chỉnh giảm trong trường hợp chưa có chứng từ thanh toán qua ngân hàng.

33.1.3. Về thuế thu nhập cá nhân (TNCN)

(một số nội dung sửa đổi, bổ sung Nghị định 65/2013/NĐ-CP về thuế TNCN và hướng dẫn tại Thông tư 151/2014/TT-BTC), được áp dụng từ 15/11/2014), cụ thể như sau:

33.1.3.1. Bổ sung quy định được trừ khỏi thu nhập chịu thuế khi xác định thu nhập tính thuế TNCN đối với: khoản lợi ích về nhà ở do người sử dụng lao động xây dựng, cung cấp miễn phí cho người lao động làm việc tại khu công nghiệp; nhà ở do người sử dụng lao động xây dựng tại khu kinh tế, địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn, địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn cung cấp miễn phí cho người lao động.

Trước đây: Theo quy định tại NĐ 65/2013/NĐ-CP thì khoản lợi ích về tiền nhà ở, điện, nước và các dịch vụ kèm theo (nếu có) do người sử dụng lao động trả mà người nộp thuế được hưởng phải tính vào thu nhập chịu thuế TNCN.

33.1.3.2. Về các trường hợp không phải quyết toán thuế

Bổ sung vào diện không phải quyết toán thuế đối với các trường hợp:

– Cá nhân, hộ kinh doanh có thu nhập từ kinh doanh đã thực hiện nộp thuế theo phương pháp khoán.

– Cá nhân là đại lý bảo hiểm, đại lý xổ số, đại lý bán hàng đa cấp đã được tổ chức trả thu nhập khấu trừ thuế TNCN.

Trước đây: Chỉ cá nhân, hộ kinh doanh có duy nhất một nguồn thu nhập từ kinh doanh đã thực hiện nộp thuế theo phương pháp khoán thì mới không phải quyết toán thuế TNCN. Trường hợp cá nhân vừa có thu nhập từ kinh doanh theo phương pháp khoán vừa có thu nhập từ tiền lương, tiền công, thu nhập từ kinh doanh theo phương pháp kê khai thì vẫn phải tổng hợp thu nhập và quyết toán thuế theo quy định.

33.1.3.3. Về chuyển nhượng bất động sản

Bổ sung hướng dẫn về thuế TNCN đối với trường hợp người sử dụng bất động sản do nhận chuyển nhượng trước ngày 01 tháng 7 năm 1994, nếu từ ngày 01 tháng 01 năm 2009 nộp hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền chấp thuận thì không thu thuế thu nhập cá nhân.

Trước đây: chưa có hướng dẫn về thuế TNCN đối với trường hợp này.

33.1.4. Về quản lý thuế

(một số nội dung sửa đổi, bổ sung Nghị định 83/2013/NĐ-CP về quản lý thuế, được hướng dẫn tại Thông tư 151/2014/TT-BTC), được áp dụng từ 15/11/2014), cụ thể như sau:

33.1.4.1. Về thông báo tạm ngừng kinh doanh

Người nộp thuế chỉ phải thông báo với một cơ quan nhà nước (cơ quan đăng ký kinh doanh hoặc cơ quan thuế) tùy theo từng trường hợp, cụ thể:

– Người nộp thuế thực hiện thủ tục đăng ký kinh doanh tại cơ quan đăng ký kinh doanh phải thông báo bằng văn bản về việc tạm ngừng kinh doanh hoặc hoạt động kinh doanh trở lại với cơ quan đăng ký kinh doanh nơi người nộp thuế đã đăng ký theo quy định.

Đồng thời cũng quy định rõ cơ quan đăng ký kinh doanh và cơ quan thuế có trách nhiệm phối hợp, trao đổi thông tin do người nộp thuế đã thông báo.

– Người nộp thuế thuộc đối tượng đăng ký cấp mã số thuế trực tiếp tại cơ quan thuế trước khi tạm ngừng kinh doanh chậm nhất 15 (mười lăm) ngày phải có thông báo bằng văn bản gửi cơ quan thuế quản lý trực tiếp.

Trước đây:Người nộp thuế là doanh nghiệp, hộ kinh doanh khi tạm ngừng kinh doanh và hoạt động kinh doanh trở lại phải thông báo bằng văn bản cho cả cơ quan đăng ký kinh doanh nơi doanh nghiệp, hộ kinh doanh đã đăng ký và cơ quan thuế quản lý trực tiếp.

33.1.4.2. Về việc khai thuế GTGT theo quý

Người nộp thuế GTGT có tổng doanh thu bán hàng hoá và cung cấp dịch vụ của năm trước liền kề từ 50 tỷ đồng trở xuống (trước đây là 20 tỷ đồng/năm) thực hiện khai thuế GTGT theo quý và thời điểm kê khai theo quý áp dụng từ kỳ khai thuế GTGT quý IV năm 2014 (tháng 10, 11, 12 năm 2014).

– Bổ sung Mẫu số 07/GTGT – Thông báo chuyển đổi kỳ khai thuế GTGT từ Quý sang Tháng

Trước đây quy định:

– Người nộp thuế giá trị gia tăng có tổng doanh thu bán hàng hoá và cung cấp dịch vụ của năm trước liền kề từ 20 tỷ đồng trở xuống thì thực hiện khai thuế GTGT theo quý.

– Không có mẫu Thông báo chuyển đổi kỳ khai thuế GTGT từ quý sang tháng.

33.1.4.3. Bổ sung một số trường hợp doanh nghiệp không phải khai quyết toán thuế TNDN và cơ quan thuế không phải thực hiện kiểm tra quyết toán thuế, cụ thể:

Trường hợp doanh nghiệp có chuyển đổi loại hình doanh nghiệp mà bên tiếp nhận kế thừa toàn bộ nghĩa vụ về thuế của doanh nghiệp trước chuyển đổi (như chuyển đổi loại hình doanh nghiệp từ công ty TNHH sang công ty cổ phần hoặc ngược lại; chuyển đổi doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước thành Công ty cổ phần và các trường hợp khác theo quy định của pháp luật) thì không phải khai quyết toán thuế TNDN đến thời điểm có quyết định về việc chuyển đổi, doanh nghiệp chỉ khai quyết toán năm theo quy định.

Các trường hợp giải thể, chấm dứt hoạt động cơ quan thuế không phải thực hiện kiểm tra quyết toán thuế:

a) Doanh nghiệp, tổ chức thuộc diện nộp thuế thu nhập doanh nghiệp theo tỷ lệ % trên doanh thu bán hàng hóa dịch vụ theo quy định của pháp luật về thuế TNDN thực hiện giải thể, chấm dứt hoạt động.

b) Doanh nghiệp giải thể, chấm dứt hoạt động nhưng kể từ khi được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp đến thời điểm giải thể, chấm dứt hoạt động, doanh nghiệp không phát sinh doanh thu, chưa sử dụng hóa đơn.

c) Doanh nghiệp thuộc diện nộp thuế TNDN theo kê khai thực hiện giải thể, chấm dứt hoạt động, nếu đáp ứng đủ các điều kiện sau:

– Có doanh thu bình quân năm (tính từ năm chưa được quyết toán hoặc thanh tra, kiểm tra thuế đến thời điểm doanh nghiệp giải thể, chấm dứt hoạt động) không quá 1 tỷ đồng/năm.

– Kể từ năm doanh nghiệp chưa được quyết toán hoặc thanh tra, kiểm tra thuế đến thời điểm giải thể, chấm dứt hoạt động doanh nghiệp không bị xử phạt vi phạm pháp luật về hành vi trốn thuế.

– Số thuế TNDN đã nộp tính từ năm chưa được quyết toán hoặc thanh tra, kiểm tra thuế đến thời điểm giải thể, chấm dứt hoạt động cao hơn số thuế TNDN nếu tính theo tỷ lệ % trên doanh thu bán hàng hóa, dịch vụ.

Đối với các trường hợp nêu tại tiết a, b, c điểm này, chậm nhất năm ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ do người nộp thuế gửi (bao gồm quyết định giải thể, chấm dứt hoạt động; các tài liệu chứng minh người nộp thuế thuộc các trường hợp nêu trên và đã nộp đủ số thuế phải nộp) thì cơ quan thuế xác nhận việc doanh nghiệp đã hoàn thành nghĩa vụ thuế.

Trước đây: chưa có các quy định này.

33.1.4.4. Bỏ quy định doanh nghiệp phải khai thuế TNDN tạm tính hàng quý. Quy định doanh nghiệp thực hiện tạm nộp hàng quý và quyết toán thuế TNDN theo năm. Số thuế tạm nộp hàng quý được xác định căn cứ vào báo cáo tài chính quý (đối với doanh nghiệp phải nộp báo cáo tài chính quý) hoặc căn cứ vào dố thuế TNDN của năm trước và dự kiến kết quả sản xuất kinh doanh trong năm (đối với doanh nghiệp không phải nộp báo cáo tài chính quý) và thực hiện tạm nộp chậm nhất vào ngày thứ ba mươi của quý tiếp theo quý phát sinh nghĩa vụ thuế.

Đồng thời bổ sung quy định về việc xác tính tiền chậm nộp đối với phần chênh lệch từ 20% trở lên giữa số thuế tạm nộp với số thuế phải nộp theo quyết toán.

Trước đây quy định doanh nghiệp phải nộp tờ khai thuế TNDN tạm tính hàng quý và thực hiện tạm nộp thuế TNDN hàng quý theo kê khai, cuối năm, thực hiện kê khai quyết toán năm, trường hợp số thuế đã tạm nộp thấp hơn số thuế phải nộp theo quyết toán thì doanh nghiệp nộp bổ sung số thuế TNDN chênh lệch mà không phải tính tiền chậm nộp đối với phần chênh lệch từ 20% trở lên giữa số thuế tạm nộp với số thuế phải nộp theo quyết toán.

33.1.4.5. Bổ sung quy định về cơ chế cơ quan thuế đặt hàng và sử dụng kết quả của các công ty kiểm toán độc lập, tổ chức kinh doanh dịch vụ làm thủ tục về thuế để thực hiện kiểm tra quyết toán thuế của doanh nghiệp giải thể, chấm dứt hoạt động. Trong đó quy định cụ thể về quyền và trách nhiệm của công ty kiểm toán độc lập, tổ chức kinh doanh dịch vụ làm thủ tục về thuế; Quyền và trách nhiệm của cơ quan thuế quản lý trực tiếp người nộp thuế. Đồng thời quy định Tổng cục trưởng Tổng cục thuế ban hành quy chế hướng dẫn cơ quan thuế các cấp thực hiện thống nhất việc sử dụng kinh phí và nguồn kinh phí chi trả cho công ty kiểm toán độc lập, tổ chức kinh doanh dịch vụ làm thủ tục về thuế theo các hợp đồng dịch vụ để kiểm tra quyết toán thuế của doanh nghiệp giải thể, chấm dứt hoạt động.

Trước đây:chưa có quy định này

33.1.4.6. Về đơn giản thủ tục quyết toán thuế TNCN trong trường hợp doanh nghiệp giải thể, chấm dứt hoạt động

Bổ sung hướng dẫn trường hợp tổ chức, cá nhân trả thu nhập giải thể, chấm dứt hoạt động có phát sinh trả thu nhập nhưng không phát sinh việc khấu trừ thuế TNCN thì tổ chức, cá nhân trả thu nhập không thực hiện quyết toán thuế TNCN mà chỉ cần cung cấp cho cơ quan thuế danh sách cá nhân mà đơn vị đã chi trả thu nhập trong năm (nếu có) theo Mẫu 25/DS-TNCN ban hành kèm theo Thông tư 151/2014/TT-BTC chậm nhất là ngày thứ 45 (bốn mươi lăm) kể từ ngày có quyết định về việc giải thể, chấm dứt hoạt động.

Trước đây: Tổ chức, cá nhân trả thu nhập giải thể, chấm dứt hoạt động phải khai quyết toán thuế TNCN.

33.1.4.7. Bổ sung vào diện được áp dụng biện pháp ưu tiên trong quản lý thuế đối với hàng hóa xuất, nhập khẩu đối với doanh nghiệp có quy mô đầu tư lớn, dự án trọng điểm quốc gia, dự án đầu tư ưu tiên được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận trước khi cấp phép đầu tư

Trước đây: Chưa có quy định này

33.1.4.8. Về gia hạn nộp thuế

a) Bổ sung các trường hợp được coi là tai nạn bất ngờ, khó khăn đặc biệt khác được xem xét gia hạn nộp thuế, cụ thể:

– Những trường hợp được coi là tai nạn bất ngờ bao gồm: tai nạn giao thông; tai nạn lao động; mắc bệnh hiểm nghèo; bị dịch bệnh truyền nhiễm vào thời gian và tại những vùng mà cơ quan có thẩm quyền đã công bố có dịch bệnh truyền nhiễm; các trường hợp bất khả kháng khác.

– Khó khăn đặc biệt khác bao gồm: ngành nghề kinh doanh chính mà người nộp thuế đang hoạt động bị cấm hoặc bị ngừng, tạm thời ngừng kinh doanh theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền (không bao gồm trường hợp bị cấm hoặc ngừng, tạm thời ngừng kinh doanh do vi phạm pháp luật); đối tác hủy hoặc không thanh toán đúng hạn theo hợp đồng đã ký kết làm kết quả sản xuất, kinh doanh của người nộp thuế bị lỗ do đối tác thuộc một trong các trường hợp: phá sản, người quản lý doanh nghiệp theo quy định của Luật doanh nghiệp hoặc chủ hộ kinh doanh bị đột tử, người quản lý doanh nghiệp theo quy định của Luật doanh nghiệp hoặc chủ hộ kinh doanh bị mất tích.

Trước đây: tại Thông tư 156/2013/TT-BTC chỉ quy định chung về tai nạn bất ngờ, không hướng dẫn khó khăn đặc biệt khác dẫn đến gặp vướng mắc khi xác định các trường hợp được coi là tai nạn bất ngờ, khó khăn đặc biệt khác khi giải quyết gia hạn nộp thuế cho người nộp thuế.

b) Sửa đổi thời gian gia hạn nộp thuế tối đa không quá 02 năm (trước đây thời gian gia hạn nộp thuế đối với trường hợp này là 01 năm) đối với trường hợp doanh nghiệp chưa được thanh toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản đã được ghi trong dự toán ngân sách nhà nước.

Đồng thời hướng dẫn rõtrường hợp khoản tiền thuế nợ đã được cơ quan thuế ban hành quyết định gia hạn với thời hạn 01 năm theo quy định tại Thông tư số 156/2013/TT-BTC, nếu hết thời gian gia hạn mà người nộp thuế chưa được ngân sách nhà nước thanh toán và khoản tiền thuế nợ vẫn trong thời hạn 02 (hai) năm kể từ ngày hết thời hạn nộpthuế đến ngày đề nghị gia hạn thì tiếp tục được xem xét gia hạn cho đủ 02 năm, thủ tục gia hạn được đơn giản hoá, người nộp thuế chỉ cần gửi văn bản đề nghị gia hạn nộp thuế và văn bản xác nhận của chủ đầu tư về số vốn chủ đầu tư chưa thanh toán cho người nộp thuế tính đến thời điểm đề nghị gia hạn.

33.1.4.9. Tạm thời chưa thực hiện truy thu thuế TNDN

(bao gồm cả trường hợp đã ban hành Quyết định xử lý truy thu thuế TNDN hoặc doanh nghiệp đang trong thời gian xử lý khiếu nại) đối với các cơ sở thực hiện xã hội hóa trong lĩnh vực giáo dục – đào tạo, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường nhưng chưa đáp ứng theo Danh mục chi tiết các loại hình, tiêu chí quy mô, tiêu chuẩn của các cơ sở thực hiện xã hội hóa trong lĩnh vực giáo dục – đào tạo, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường do Thủ tướng Chính phủ quy định cho đến khi có hướng dẫn mới của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. 

33.1.4.10. Thay thế các mẫu biểu 02/TNDN, 03/TNDN, 03-5/TNDN, 04/TNDN ban hành kèm theo Thông tư số 156/2013/TT-BTC bằng các mẫu biểu mới tương ứng ban hành kèm theo Thông tư số 151/2014/TT-BTC.

33.2. Những điểm mới về chính sách thuế áp dụng từ 01/01/2015 theo Luật số 71/2014/QH13, Nghị định 12/2015/NĐ-CP và văn bản hướng dẫn

33.2.1. Về thuế TNDN

(Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 218/2013/NĐ-CP ngày 26 tháng 12 năm 2013 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế TNDN, Điều 1 Nghị định số 91/2014/NĐ-CP ngày 01 tháng 10 năm 2014 sửa đổi, bổ sung một số điều tại các Nghị định quy định về thuế)

33.2.1.1. Bổ sung quy định về đối tượng, khoản thu nhập được hưởng ưu đãi thuế TNDN trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn

– Miễn thuế TNDN đối với: Thu nhập từ trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng, chế biến nông sản, thủy sản, sản xuất muối của hợp tác xã; thu nhập của hợp tác xã hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp thực hiện ở địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn hoặc ở địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn; thu nhập của doanh nghiệp từ trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng, chế biến nông sản, thủy sản ở địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn; thu nhập từ hoạt động đánh bắt hải sản.

Hợp tác xã hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp được miễn thuế theo quy định này là hợp tác xã đáp ứng tỷ lệ về cung ứng sản phẩm, dịch vụ cho các thành viên là những cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân có hoạt động sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp theo quy định của Luật Hợp tác xã và các văn bản hướng dẫn.

Thu nhập từ chế biến nông sản, thủy sản được ưu đãi thuế trong các trường hợp như nêu trên phải đáp ứng đồng thời các điều kiện sau:

(i) Tỷ lệ giá trị nguyên vật liệu là nông sản, thủy sản trên chi phí sản xuất hàng hóa, sản phẩm đạt từ 30% trở lên; và

(ii) Sản phẩm, hàng hóa từ chế biến nông sản, thủy sản không thuộc diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt, trừ trường hợp do Thủ tướng Chính phủ quyết định theo đề xuất của Bộ Tài chính.

– Áp dụng thuế suất 10% đối với: Thu nhập từ hoạt động chế biến nông sản, thủy sản của hợp tác xã và của doanh nghiệp tại địa bàn khó khăn.

– Áp dụng thuế suất 15% đối với: thu nhập của doanh nghiệp trồng trọt, chăn nuôi, chế biến trong lĩnh vực nông nghiệp và thủy sản ở địa bàn không thuộc địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn hoặc địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn.

33.2.1.2. Bổ sung đối tượng được hưởng ưu đãi thuế TNDN ở mức cao nhất đối với dự án sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ

Áp dụng ưu đãi thuế suất 10% trong 15 năm, miễn thuế trong 04 năm kể từ khi có thu nhập chịu thuế và giảm 50% số thuế phải nộp trong 9 năm tiếp theo đối với: thu nhập từ dự án đầu tư mới sản xuất sản phẩm thuộc Danh mục sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ưu tiên phát triển đáp ứng một trong các tiêu chí sau:

– Sản phẩm công nghiệp hỗ trợ cho công nghệ cao theo quy định của Luật công nghệ cao;

– Sản phẩm công nghiệp hỗ trợ cho sản phẩm các ngành: dệt – may; da – giầy; điện tử – tin học; sản xuất lắp ráp ô tô; cơ khí chế tạo mà các sản phẩm này tính đến ngày 01 tháng 01 năm 2015 trong nước chưa sản xuất được hoặc sản xuất được nhưng phải đáp ứng được tiêu chuẩn kỹ thuật của Liên minh Châu Âu (EU) hoặc tương đương.

Danh mục sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ưu tiên phát triển được ưu đãi thuế thực hiện theo quy định của Chính phủ.

33.2.1.3. Bổ sung đối tượng được hưởng ưu đãi thuế TNDN ở mức cao nhất đối với dự án sản xuất có quy mô lớn

Để thu hút các dự án đầu tư có quy mô vốn lớn, tác động sâu, rộng đến kinh tế – xã hội của địa phương hoặc vùng kinh tế: áp dụng thuế suất ưu đãi 10% trong 15 năm, miễn thuế trong 4 năm kể từ khi có thu nhập chịu thuế và giảm 50% số thuế phải nộp trong 9 năm tiếp theo đối với Dự án đầu tư trong lĩnh vực sản xuất, trừ dự án mặt hàng chịu thuế TTĐB và dự án khai thác khoáng sản, có quy mô vốn đầu tư tối thiểu mười hai nghìn tỷ đồng, sử dụng công nghệ phải được thẩm định theo quy định của Luật công nghệ cao, Luật khoa học và công nghệ, thực hiện giải ngân tổng vốn đầu tư đăng ký không quá 5 năm kể từ ngày được cấp phép đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư.

Trường hợp dự án quy mô lớn nêu trên nếu đáp ứng thêm một trong các tiêu chí sau đây (về doanh thu hoặc số lao động sử dụng hoặc đầu tư thuộc lĩnh vực hạ tầng kinh tế kỹ thuật theo quy định của Luật) thì được kéo dài thêm thời gian áp dụng thuế suất ưu đãi 10%, thời gian kéo dài thêm không quá 15 năm và do Thủ tướng Chính phủ quyết định theo đề nghị của Bộ Tài chính.

Các tiêu chí để dự án đầu tư quy mô lớn được xem xét kéo dài thêm thời gian áp dụng thuế suất ưu đãi 10% là:

(i) Sản xuất sản phẩm hàng hóa có khả năng cạnh tranh toàn cầu, doanh thu đạt trên 20.000 tỷ đồng/năm chậm nhất sau năm năm kể từ khi có doanh thu từ dự án đầu tư;

(ii) Sử dụng thường xuyên trên 6.000 lao động được xác định theo quy định của pháp luật về lao động;

(iii) Dự án đầu tư thuộc lĩnh vực hạ tầng kinh tế kỹ thuật, bao gồm: Đầu tư phát triển nhà máy nước, nhà máy điện, hệ thống cấp thoát nước, cầu, đường bộ, đường sắt, cảng hàng không, cảng biển, cảng sông, sân bay, nhà ga, năng lượng mới, năng lượng sạch, công nghiệp tiết kiệm năng lượng, dự án lọc hóa dầu.

33.2.1.4. Bổ sung nguyên tắc áp dụng ưu đãi khi pháp luật về thuế TNDN có sự thay đổi

Doanh nghiệp có dự án đầu tư được hưởng ưu đãi thuế TNDN theo quy định của pháp các Luật về thuế tại thời điểm cấp phép hoặc cấp giấy chứng nhận đầu tư. Trường hợp pháp Luật về thuế TNDN có thay đổi mà doanh nghiệp đáp ứng điều kiện ưu đãi thuế theo quy định của pháp luật mới được sửa đổi, bổ sung thì doanh nghiệp được quyền lựa chọn hưởng ưu đãi về thuế suất và về thời gian miễn thuế, giảm thuế theo quy định của pháp luật tại thời điểm được phép đầu tư hoặc theo quy định của pháp luật mới được sửa đổi, bổ sung cho thời gian còn lại kể từ khi pháp luật thuế TNDN sửa đổi, bổ sung có hiệu lực thi hành. Cụ thể như sau:

(i) Doanh nghiệp có dự án đầu tư mà tính đến hết kỳ tính thuế năm 2013 còn đang trong thời gian hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp, kể cả trường hợp dự án đầu tư đã được cấp Giấy phép đầu tư, Giấy chứng nhận đầu tư hoặc Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp (đối với dự án đầu tư trong nước gắn với việc thành lập doanh nghiệp mới có vốn đầu tư dưới 15 tỷ đồng và không thuộc Danh mục lĩnh vực đầu tư có điều kiện) nhưng chưa được hưởng ưu đãi theo quy định của các văn bản quy phạm pháp luật về thuế TNDN trước thời điểm Nghị định 12/2005/NĐ-CP có hiệu lực thi hành thì được hưởng ưu đãi cho thời gian còn lại theo quy định của các văn bản quy phạm pháp luật đó. Trường hợp đang hưởng ưu đãi theo đầu tư mở rộng thì tiếp tục hưởng ưu đãi theo đầu tư mở rộng; trường hợp đang hưởng ưu đãi theo đầu tư mới thì tiếp tục hưởng ưu đãi theo đầu tư mới; trường hợp mức ưu đãi tại Nghị định này cao hơn mức ưu đãi đang hưởng (kể cả trường hợp thuộc diện nhưng chưa được hưởng) thì được chuyển sang áp dụng ưu đãi theo Nghị định này cho thời gian còn lại.

(ii) Doanh nghiệp có dự án đầu tư mở rộng đã được cơ quan có thẩm quyền cấp phép đầu tư hoặc đã thực hiện đầu tư trong giai đoạn 2009 – 2013, tính đến hết kỳ tính thuế năm 2014 đáp ứng điều kiện ưu đãi thuế theo quy định của Luật số 32/2013/QH13 thì được hưởng ưu đãi thuế đối với đầu tư mở rộng theo quy định của Nghị định 12/2015/NĐ-CP cho thời gian còn lại kể từ kỳ tính thuế năm 2015.

(iii) Doanh nghiệp thực hiện dự án đầu tư vào khu công nghiệp trong giai đoạn 2009 – 2013 thì được hưởng ưu đãi thuế theo quy định của Luật số 32/2013/QH13 cho thời gian còn lại kể từ kỳ tính thuế năm 2015.

(iv) Doanh nghiệp có dự án đầu tư vào địa bàn mà trước ngày 01 tháng 01 năm 2015 chưa thuộc địa bàn ưu đãi thuế (khu công nghiệp, khu kinh tế, khu công nghệ cao và các địa bàn ưu đãi khác) nay thuộc địa bàn ưu đãi thuế quy định tại Nghị định 12/2005/NĐ-CP thì được hưởng ưu đãi thuế cho thời gian còn lại kể từ kỳ tính thuế năm 2015.

(v) Doanh nghiệp có dự án đầu tư vào địa bàn được chuyển đổi thành địa bàn ưu đãi thuế sau ngày 01 tháng 01 năm 2015 thì được hưởng ưu đãi thuế cho thời gian còn lại kể từ khi chuyển đổi.

(vi) Tính đến hết kỳ tính thuế năm 2015 trường hợp doanh nghiệp có dự án đầu tư đang được áp dụng thuế suất ưu đãi 20% quy định tại Khoản 3 Điều 15 Nghị định 12/2005/NĐ-CP thì kể từ 01 tháng 01 năm 2016 được chuyển sang áp dụng thuế suất 17% cho thời gian còn lại.

Việc xác định thời gian còn lại để hưởng ưu đãi thuế kể từ khi thực hiện quy định về ưu đãi thuế tại các văn bản pháp luật về đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, về khuyến khích đầu tư trong nước và về thuế thu nhập doanh nghiệp ban hành trước ngày Nghị định 12/2005/NĐ-CP có hiệu lực thi hành thực hiện theo văn bản hướng dẫn của Bộ tài chính.”

33.2.1.5. Bổ sung nguyên tắc về thu thuế TNDN đối với trường hợp doanh nghiệp Việt Nam đầu tư ra nước ngoài

Để khuyến khích hợp lý doanh nghiệp Việt Nam đầu tư ra nước ngoài chuyển thu nhập về Việt Nam, tại Luật bổ sung quy định: đối với các nước đã ký Hiệp định tránh đánh thuế hai lần thì thực hiện theo quy định của Hiệp định; đối với các nước chưa ký Hiệp định tránh đánh thuế hai lần thì trường hợp thuế TNDN ở các nước mà doanh nghiệp đầu tư có thu nhập chuyển về nước có mức thuế suất thuế TNDN thấp hơn thì thu phần chênh lệch so với số thuế TNDN tính theo Luật thuế TNDN của Việt Nam; đối với các nước có thuế suất bằng hoặc cao hơn thì không thu thuế TNDN.

33.2.1.6. Sửa đổi, bổ sung một số quy định nhằm khắc phục bất cập của các quy định hiện hành

Bổ sung vào diện thu nhập miễn thuế đối với:

+ Quỹ phát triển khoa học và công nghệ quốc gia, Quỹ đổi mới công nghệ quốc gia, Quỹ phát triển khoa học và công nghệ của Bộ, ngành, địa phương được thành lập theo quy định của Luật Khoa học và Công nghệ, Quỹ trợ vốn cho người lao động nghèo tự tạo việc làm, thu nhập từ thực hiện nhiệm vụ Nhà nước giao của Quỹ phát triển đất và quỹ khác của Nhà nước hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ quy định hoặc quyết định được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật;

+ Thu nhập của văn phòng thừa phát lại trong thời gian thực hiện thí điểm theo quy định của pháp luật.

– Bổ sung vào diện khoản chi được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế đối với:

(i) Khoản chi cho thực hiện nhiệm vụ giáo dục quốc phòng và an ninh, huấn luyện, hoạt động của lực lượng dân quân tự vệ và phục vụ các nhiệm vụ quốc phòng, an ninh khác theo quy định của pháp luật; khoản chi hỗ trợ phục vụ cho hoạt động của tổ chức đảng, tổ chức chính trị-xã hội trong doanh nghiệp;

(ii) Khoản chi cho hoạt động giáo dục nghề nghiệp, đào tạo nghề nghiệp cho người lao động theo quy định của pháp luật;

Bãi bỏ quy định khống chế tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập tính thuế TNDN đối với chi phí quảng cáo, khuyến mại… của doanh nghiệp (trước đây khoản chi quảng cáo, tiếp thị, khuyến mại, hoa hồng môi giới, tiếp tân, khánh tiết, hội nghị, hỗ trợ tiếp thị được tính vào chi phí được trừ không quá 15% tổng chi phí được trừ chưa bao gồm chi phí quảng cáo).

– Bổ sung quy định về khoản chi không được trừ đối với các khoản: chi trả lãi tiền vay tương ứng với phần vốn điều lệ còn thiếu, theo tiến độ góp vốn ghi trong điều lệ của doanh nghiệp; lãi tiền vay trong quá trình đầu tư đã được ghi nhận vào giá trị đầu tư; lãi vay để triển khai thực hiện các hợp đồng tìm kiếm thăm dò và khai thác dầu khí.

Trường hợp doanh nghiệp đã góp đủ vốn điều lệ, trong quá trình kinh doanh có khoản chi trả lãi tiền vay để đầu tư vào doanh nghiệp khác thì khoản chi này được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế.

Sửa đổi quy định khoản chi mua bảo hiểm nhân thọ cho người lao động doanh nghiệp được tính toàn bộ vào chi phí được trừ mà không bị khống chế bởi mức 01 triệu đồng/tháng/người.

– Quy định rõ doanh nghiệp nước ngoài kinh doanh tại Việt Nam không theo Luật đầu tư, luật doanh nghiệp (nhà thầu nước ngoài) có thu nhập từ hoạt động chuyển nhượng vốn, dự án đầu tư, chuyển nhượng quyền góp vốn, quyền tham gia dự án đầu tư, chuyển nhượng quyền thăm dò quyền thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản tại Việt Nam là đối tượng nộp thuế TNDN, không phụ thuộc vào địa điểm tiến hành kinh doanh.

Quy định văn phòng công chứng thành lập tại các địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn, địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn được hưởng ưu đãi thuế như dự án đầu tư tại địa bàn ưu đãi thuế.

Quy định thu nhập của văn phòng giám định tư pháp được hưởng chính sách ưu đãi thuế TNDN như chính sách áp dụng đối với lĩnh vực xã hội hóa.

Quy định doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xã hội hóa được thành lập do chuyển đổi loại hình doanh nghiệp theo quy định của pháp luật đáp ứng tiêu chí về cơ sở xã hội hóa theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ mà doanh nghiệp trước khi chuyển đổi chưa được hưởng ưu đãi thuế TNDN theo lĩnh vực ưu đãi thuế thì được hưởng ưu đãi như dự án đầu tư mới kể từ khi chuyển đổi.”

Quy định doanh nghiệp có dự án đầu tư thuộc lĩnh vực kinh doanh thương mại, dịch vụ tại địa bàn ưu đãi thuế (khu kinh tế, khu công nghệ cao, khu công nghiệp và địa bàn ưu đãi thuế khác) không được hưởng ưu đãi đối với phần thu nhập phát sinh ngoài địa bàn ưu đãi thuế.

33.2.1.7. Đồng thời giữ nguyên các quy định đã được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định 91/2014NĐ-CP như đã nêu tại các điểm 1, 2,…đến điểm 8 của Mục I Phần A bài viết này.

33.2.2. Về thuế Giá trị gia tăng (GTGT)

(Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 209/2013/NĐ-CP ngày 18 tháng 12 năm 2013 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế GTGT, Điều 2 Nghị định số 91/2014/NĐ-CP ngày 01 tháng 10 năm 2014 sửa đổi, bổ sung một số điều tại các Nghị định quy định về thuế)

33.2.2.1. Bổ sung vào diện đối tượng không chịu thuế

đối với tàu đánh bắt xa bờ, chuyển 3 nhóm mặt hàng thuộc diện áp dụng thuế suất 5% sang đối tượng không chịu thuế là: Phân bón; Thức ăn gia súc, gia cầm và thức ăn cho vật nuôi khác; Máy móc, thiết bị chuyên dùng phục vụ cho sản xuất nông nghiệp (gồm máy cày; máy bừa; máy phay; máy rạch hàng; máy bạt gốc; thiết bị san phẳng đồng ruộng; máy gieo hạt; máy cấy; máy trồng mía; hệ thống máy sản xuất mạ thảm; máy xới, máy vun luống, máy vãi, rắc phân, bón phân; máy, bình phun thuốc bảo vệ thực vật; máy thu hoạch lúa, ngô, mía, cà phê, bông; máy thu hoạch củ, quả, rễ; máy đốn chè, máy hái chè; máy tuốt đập lúa; máy bóc bẹ tẽ hạt ngô; máy tẽ ngô; máy đập đậu tương; máy bóc vỏ lạc; xát vỏ cà phê; máy, thiết bị sơ chế cà phê, thóc ướt; máy sấy nông sản (lúa, ngô, cà phê, tiêu, điều…), thủy sản; máy thu gom, bốc mía, lúa, rơm rạ trên đồng; máy ấp, nở trứng gia cầm; máy thu hoạch cỏ, máy đóng kiện rơm, cỏ; máy vắt sữa và các loại máy chuyên dùng khác).

33.2.2.2. Bổ sung quy định về giá đất được trừ để tính thuế GTGT

đối với trường hợp cơ sở kinh doanh nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của các tổ chức, cá nhân: là giá đất tại thời điểm nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất bao gồm cả giá trị cơ sở hạ tầng (nếu có). Cơ sở kinh doanh không được kê khai, khấu trừ thuế GTGT đầu vào của cơ sở hạ tầng đã tính trong giá trị quyền sử dụng đất được trừ không chịu thuế GTGT. Nếu giá đất được trừ không bao gồm giá trị cơ sở hạ tầng thì cơ sở kinh doanh được kê khai, khấu trừ thuế GTGT đầu vào của cơ sở hạ tầng chưa tính trong giá trị quyền sử dụng đất được trừ không chịu thuế GTGT. Trường hợp không xác định được giá đất tại thời điểm nhận chuyển nhượng thì giá đất được trừ để tính thuế GTGT là giá đất do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định tại thời điểm ký hợp đồng nhận chuyển nhượng.

Trường hợp cơ sở kinh doanh nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất của tổ chức, cá nhân thì giá đất được trừ để tính thuế GTGT là giá ghi trong hợp đồng góp vốn. Trường hợp giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thấp hơn giá đất nhận góp vốn thì chỉ được trừ giá đất theo giá chuyển nhượng.

– Trường hợp cơ sở kinh doanh bất động sản thực hiện theo hình thức xây dựng – chuyển giao (BT) thanh toán bằng giá trị quyền sử dụng đất thì giá đất được trừ để tính thuế GTGT là giá tại thời điểm ký hợp đồng BT theo quy định của pháp luật; nếu tại thời điểm ký hợp đồng BT chưa xác định được giá thì giá đất được trừ là giá đất do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định để thanh toán công trình.

Trước đây: Nghị định số 209/2013/NĐ-CP quy định về nguyên tắc chung xác định giá tính thuế GTGT đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản là giá chuyển nhượng bất động sản trừ (-) giá đất được trừ để tính thuế GTGT. Đối với giá đất được trừ khi xác định giá tính thuế GTGT được phân biệt theo 4 trường hợp gồm: đất được nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất; đất được nhà nước cho thuê đất; đất trúng đấu giá và đất do nhận chuyển nhượng của cơ sở kinh doanh khác, trong đó 03 trường hợp đầu, giá đất được trừ là tiền sử dụng đất, tiền thuê đất nộp vào NSNN hoặc tiền trúng đấu giá, riêng đất nhận chuyển nhượng của cơ sở kinh doanh khác là giá nhận chuyển nhượng. Trong thực tế phát sinh trường hợp cơ sở kinh doanh chuyển nhượng bất động sản là phần góp vốn bằng quyền sử dụng đất của tổ chức, cá nhân khác, tuy nhiên quy định của pháp luật hiện hành chưa hướng dẫn rõ giá đất được trừ để tính thuế GTGT đối với trường hợp này. Quy định nêu trên cho phép đảm bảo tính toàn diện, đồng bộ quy định của pháp luật và đáp ứng yêu cầu thực tế, đảm bảo sự rõ ràng minh bạch của chính sách.

33.2.2.3. Bổ sung quy định không dụng mức thuế suất thuế GTGT 0% đối với thuốc lá, rượu, bia nhập khẩu sau đó xuất khẩu.

Quy định này góp phần ngăn chặn việc gian lận hoàn thuế đối với đối với thuốc lá, rượu, bia nhập khẩu sau xuất khẩu

33.2.2.4. Bổ sung quy định cơ sở kinh doanh trong giai đoạn đầu tư chưa đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhưng phải giải thể, phá sản hoặc chấm dứt hoạt động chưa phát sinh thuế GTGT đầu ra của hoạt động kinh doanh chính theo dự án đầu tư thì chưa phải điều chỉnh lại số thuế GTGT đã kê khai, khấu trừ hoặc đã được hoàn. Việc kê khai, tính nộp thuế trong trường hợp chuyển nhượng dự án đầu tư, bán tài sản của dự án đầu tư hoặc chuyển đổi mục đích sản xuất, kinh doanh của dự án đầu tư thực hiện theo hướng dẫn của Bộ Tài chính.

Trước đây: Theo Luật thuế GTGT thì cơ sở kinh doanh nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thuế được hoàn thuế GTGT khi chuyển đổi sở hữu, chuyển đổi doanh nghiệp, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, giải thể, phá sản, chấm dứt hoạt động có số thuế GTGT nộp thừa hoặc số thuế GTGT đầu vào chưa được khấu trừ hết. Thực tế phát sinh trường hợp cơ sở kinh doanh đang trong giai đoạn đầu tư chưa đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhưng vì nhiều lý do bất khả kháng phải giải thể, phá sản, chấm dứt hoạt động (như không tìm thấy mỏ dầu khí, khó khăn về tài chính,…). Cơ sở kinh doanh chưa có doanh thu nên chưa phát sinh thuế GTGT đầu ra của hoạt động kinh doanh chính theo dự án đầu tư nhưng đã kê khai, khấu trừ hoặc đã được hoàn thuế GTGT đầu vào của dự án đầu tư theo quy định. Để bảo đảm cơ sở pháp lý và tạo thuận lợi cho doanh nghiệp, Nghị định 12/2015/NĐ-CP đã quy định rõ trường hợp này cơ sở kinh doanh vẫn được khấu trừ, hoàn thuế theo quy định tại Luật thuế GTGT và chưa phải điều chỉnh lại số thuế GTGT đã kê khai, khấu trừ hoặc đã được hoàn.

33.2.2.5. Đồng thời giữ nguyên các quy định đã được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định 91/2014NĐ-CP như đã nêu tại các điểm 1, 2 và 3 của Mục II Phần A bài viết này.

33.2.3. Về thuế TNCN

(Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 65/2013/NĐ-CP ngày 27 tháng 6 năm 2013 quy định chi tiết một số điều của Luật Thuế TNCN và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế TNCN, Điều 3 Nghị định số 91/2014/NĐ-CP ngày 01 tháng 10 năm 2014 sửa đổi, bổ sung một số điều tại các Nghị định quy định về thuế)

33.2.3.1. Bổ sung thu nhập thuộc diện miễn thuế TNCN đối với

– Thu nhập từ tiền lương, tiền công của thuyền viên là người Việt Nam làm việc cho các hãng tàu nước ngoài hoặc các hãng tàu Việt Nam vận tải quốc tế.

– Thu nhập của cá nhân là chủ tàu, cá nhân có quyền sử dụng tàu và cá nhân làm việc trên tàu có được từ hoạt động cung cấp hàng hóa, dịch vụ trực tiếp phục vụ hoạt động khai thác, đánh bắt thủy sản xa bờ.

33.2.3.2. Quy định mới về thuế đối với cá nhân kinh doanh

a) Quy định cá nhân kinh doanh (trừ cá nhân kinh doanh có doanh thu từ 100 triệu đồng/năm trở xuống) nộp thuế TNCN theo tỷ lệ phần trăm (%) trên doanh thu tương ứng với từng lĩnh vực, ngành nghề sản xuất kinh doanh. Cụ thể:

– Phân phối, cung cấp hàng hóa: 0,5%.

– Dịch vụ, xây dựng không bao thầu nguyên vật liệu: 2%. Riêng hoạt động cho thuê tài sản, đại lý bảo hiểm, đại lý xổ số, bán hàng đa cấp: 5%.

– Sản xuất, vận tải, dịch vụ có gắn với hàng hóa, xây dựng có bao thầu nguyên vật liệu: 1,5%.

– Hoạt động kinh doanh khác: 1%.

Cá nhân kinh doanh nhiều lĩnh vực, ngành nghề thực hiện khai và tính thuế theo thuế suất áp dụng đối với từng lĩnh vực, ngành nghề kinh doanh.

Trường hợp cá nhân kinh doanh không khai hoặc khai không phù hợp với thực tế kinh doanh thì cơ quan thuế ấn định theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.

Trong đó:Doanh thu tính thuế từ kinh doanh là toàn bộ tiền bán hàng, tiền gia công, tiền hoa hồng, tiền cung ứng hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong kỳ tính thuế. Doanh thu tính thuế trong một số trường hợp được quy định như sau:

– Đối với hàng hóa bán theo phương thức trả góp, doanh thu tính thuế được xác định theo giá bán hàng hóa trả tiền một lần không bao gồm tiền lãi trả chậm;

– Đối với hàng hóa, dịch vụ dùng để trao đổi, biếu tặng, doanh thu tính thuế được xác định theo giá bán của sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ cùng loại hoặc tương đương tại thời điểm trao đổi, biếu tặng;

– Đối với hoạt động gia công hàng hóa, doanh thu tính thuế là tiền thu từ hoạt động gia công bao gồm cả tiền công, nhiên liệu, động lực, vật liệu phụ và chi phí khác phục vụ cho việc gia công hàng hóa;

– Đối với hoạt động cho thuê tài sản, doanh thu tính thuế là số tiền bên thuê trả từng kỳ theo hợp đồng thuê. Trường hợp bên thuê trả tiền thuê trước cho nhiều năm thì doanh thu để tính thu nhập chịu thuế xác định theo doanh thu trả tiền một lần;

– Đối với các trường hợp khác, doanh thu tính thuế theo hướng dẫn của Bộ Tài chính.

b) Quy định doanh thu tính thuế đối với cá nhân kinh doanh là mức doanh thu khoán được ổn định trong 01 năm. Trường hợp qua số liệu điều tra xác minh, kiểm tra, thanh tra có căn cứ xác định doanh thu tính thuế thay đổi từ 50% trở lên so với mức doanh thu khoán, cơ quan thuế xác định lại mức doanh thu khoán theo quy định của pháp luật về quản lý thuế để áp dụng cho thời gian còn lại của năm tính thuế.

Doanh thu tính thuế đối với cá nhân kinh doanh được xác định theo quy định của pháp luật về quản lý thuế trên cơ sở số liệu điều tra, khảo sát, kết quả kiểm tra, thanh tra về cá nhân kinh doanh và các khoản mục chi phí thực tế để tạo ra doanh thu của cá nhân kinh doanh.

c) Quy định cá nhân kinh doanh sử dụng thường xuyên từ 10 lao động trở lên phải thành lập doanh nghiệp theo quy định của Luật Doanh nghiệp, thực hiện chế độ hóa đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật về kế toán, kê khai, nộp thuế theo quy định của pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp. Trường hợp chưa thành lập doanh nghiệp, cơ quan thuế ấn định thuế theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.

Trước đây: Theo quy định của pháp luật thuế hiện hành thì hộ, cá nhân kinh doanh ngoài việc phải nộp các loại thuế gián thu còn phải nộp thuế TNCN. Theo Luật thuế TNCN số 04/2007/QH12, hộ, cá nhân kinh doanh đang áp dụng quy trình tính thuế phức tạp như: trường hợp cá nhân kinh doanh chưa thực hiện được chế độ kế toán, không xác định được thu nhập chịu thuế thì cơ quan thuế ấn định thu nhập, sau đó lại xác định thu nhập tính thuế trên cơ sở tính giảm trừ gia cảnh để áp dụng biểu thuế luỹ tiến, cuối năm phải quyết toán thuế (theo thẩm quyền của Chính phủ cũng đã ban hành một số quy định bỏ phải quyết toán thuế đối với trường hợp cá nhân hoạt động đại lý bảo hiểm, đại lý xổ số, bán hàng đa cấp). Trên thực tế đại bộ phận hộ, cá nhân kinh doanh không thực hiện chế độ kế toán nên phải thực hiện ấn định thu nhập chịu thuế.

Thực tế cho thấy công tác quản lý thuế đối với hộ, cá nhân kinh doanh nói chung là phức tạp, tiêu tốn nhân lực nhưng không hiệu quả. Tổng số thu từ nhóm hộ, cá nhân kinh doanh chỉ chiếm khoảng 2% trên tổng thu (trừ thu từ dầu thô) trong khi tổng số nhân lực ngành thuế để quản lý đối tượng này lên đến 60%. Mặc dù ngành thuế đã thực hiện việc công khai thông tin hộ khoán trước và sau khi ấn định thuế, tuy nhiên, do chính sách thuế phức tạp nên cá nhân cũng không thể tự biết được việc tính thuế như thế nào để xác định số thuế mình phải nộp. Việc công khai minh bạch về chính sách thuế đối với cá nhân kinh doanh cũng không đạt hiệu quả.

Vì vậy, để tạo điều kiện thuận lợi cho người nộp thuế và cải cách thủ tục hành chính, Luật số 71/2015/QH13 đã sửa đổi quy định về thuế đối với hộ, cá nhân kinh doanh, theo đó quy định cá nhân kinh doanh nộp thuế TNCN theo tỷ lệ phần trăm (%) trên doanh thu tương ứng với từng lĩnh vực, ngành nghề sản xuất kinh doanh và giao Chính phủ quy định chi tiết mức thuế (%) cụ thể đối với từng lĩnh vực, ngành nghề sản xuất kinh doanh. Quy định này đảm bảo đơn giản, minh bạch, đáp ứng yêu cầu thực tiễn, hộ, cá nhân kinh doanh tự xác định được mức thuế của mình, đồng thời cũng tạo điều kiện cho người nộp thuế, người dân có điều kiện giám sát việc thực hiện của cơ quan thuế.

33.2.3.3. Về thuế với chuyển nhượng chứng khoán của cá nhân

Quy định cá nhân chuyển nhượng chứng khoán nộp thuế theo mức 0,1% trên giá bán/chuyển nhượng chứng khoán và không thực hiện quyết toán thuế thu nhập cá nhân đối với hoạt động chuyển nhượng chứng khoán. Trong đó, giá bán/chuyển nhượng chứng khoán được xác định là giá thực hiện tại Sở Giao dịch chứng khoán (đối với chứng khoán của công ty đại chúng giao dịch tại Sở Giao dịch chứng khoán) hoặc là giá ghi trên hợp đồng chuyển nhượng hoặc giá thực tế chuyển nhượng hoặc giá theo sổ sách kế toán của đơn vị có chứng khoán chuyển nhượng tại thời điểm lập báo cáo tài chính gần nhất theo quy định của pháp luật về kế toán trước thời điểm chuyển nhượng (đối với chứng khoán không thuộc trường hợp nêu trên).

Trước đây: Luật thuế TNCN quy định 2 phương pháp thu thuế: nộp thuế theo thuế suất 20% trên thu nhập năm (giá bán – giá mua và các chi phí liên quan); và nộp thuế 0,1% trên giá bán từng lần nếu không xác định được giá vốn, các chi phí liên quan và có chứng từ chứng minh. Trường hợp cá nhân áp dụng kỳ tính thuế theo năm thì mỗi lần chuyển nhượng cá nhân tạm nộp thuế TNCN 0,1% trên giá bán chứng khoán từng lần, cuối năm quyết toán được trừ số thuế đã tạm nộp trong năm. Căn cứ quy định của Luật thuế TNCN, Chính phủ đã quy định cá nhân nếu cung cấp được hồ sơ chứng minh được giá vốn và các chi phí liên quan thì được áp dụng thuế suất 20% trên thu nhập từ chuyển nhượng chứng khoán, nếu cá nhân không xác định hoặc không có hồ sơ để xác định giá vốn và chứng từ chứng minh các chi phí liên quan thì áp dụng thuế suất 0,1% trên giá chuyển nhượng. Đến cuối năm nếu cá nhân chuyển nhượng chứng khoán có yêu cầu quyết toán thuế theo thuế suất 20% trên thu nhập thì thực hiện khai quyết toán thuế trực tiếp với cơ quan thuế.

Nay Luật số 71/2014/QH13 quy định đối với hoạt động chuyển nhượng chứng khoán, thu nhập chịu thuế được xác định là giá chuyển nhượng từng lần. Căn cứ quy định của Luật, Nghị định 12/2015/NĐ-CP đã sửa đổi, bổ sung nội dung về thuế đối với thu nhập từ chuyển nhượng chứng khoán, theo đó quy định cá nhân chuyển nhượng chứng khoán nộp thuế theo mức 0,1% trên giá bán chứng khoán từng lần. Quy định này cho phép đảm bảo minh bạch về chính sách, tránh vướng mắc trong thực hiện và cải cách về thủ tục hành chính.

33.2.3.4. Về thuế với chuyển nhượng bất động sản của cá nhân

a) Quy định cá nhân chuyển nhượng bất động sản nộp thuế theo mức 2% trên giá chuyển nhượng từng lần.

Trong đó, giá chuyển nhượng bất động sản là giá ghi trên hợp đồng chuyển nhượng tại thời điểm chuyển nhượng.

– Trường hợp trên hợp đồng chuyển nhượng không ghi giá đất hoặc giá đất trên hợp đồng chuyển nhượng thấp hơn giá do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định thì giá chuyển nhượng đất là giá do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định tại thời điểm chuyển nhượng theo quy định của pháp luật về đất đai.

– Trường hợp chuyển nhượng nhà gắn liền với đất thì phần giá trị nhà, kết cấu hạ tầng và công trình kiến trúc gắn liền với đất được xác định căn cứ theo giá tính lệ phí trước bạ nhà do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định. Trường hợp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh không có quy định giá tính lệ phí trước bạ nhà thì căn cứ vào quy định của Bộ Xây dựng về phân loại nhà, về tiêu chuẩn, định mức xây dựng cơ bản, về giá trị còn lại thực tế của công trình trên đất.

Đối với công trình xây dựng hình thành trong tương lai thì được xác định căn cứ vào tỷ lệ góp vốn trên tổng giá trị hợp đồng nhân (x) với giá tính lệ phí trước bạ công trình xây dựng do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định. Trường hợp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chưa có quy định về đơn giá thì áp dụng theo suất vốn đầu tư xây dựng công trình do Bộ Xây dựng công bố, đang áp dụng tại thời điểm chuyển nhượng.

– Trường hợp cho thuê lại mà đơn giá cho thuê lại trên hợp đồng thấp hơn giá do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định tại thời điểm cho thuê lại thì giá cho thuê lại được xác định căn cứ theo bảng giá do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định.

Trước đây: Luật thuế TNCN quy định 2 phương pháp thu thuế đối với chuyển nhượng bất động sản: nộp thuế theo thuế suất 25% trên thu nhập (giá bán trừ giá vốn và các chi phí liên quan); và nộp thuế 2% trên giá bán nếu không xác định được giá vốn, các chi phí liên quan và có chứng từ chứng minh.

Căn cứ quy định của Luật thuế TNCN, Chính phủ đã quy định cá nhân nếu cung cấp được hồ sơ chứng minh được giá vốn và các chi phí liên quan thì được áp dụng thuế suất 25% trên thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản, nếu cá nhân không xác định hoặc không có hồ sơ để xác định giá vốn và chứng từ chứng minh các chi phí liên quan thì áp dụng thuế suất 2% trên giá bán.

Nay Luật số 71/2014/QH13 quy định đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản, thu nhập chịu thuế được xác định là giá chuyển nhượng từng lần. Căn cứ quy định của Luật, Nghị định 12/2015/NĐ-CP đã sửa đổi, bổ sung nội dung về thuế đối với chuyển nhượng bất động sản, theo đó, quy định cá nhân chuyển nhượng bất động sảnnộp thuế 2% trên giá bán từng lần chuyển nhượng. Quy định này cho phép đảm bảo minh bạch về chính sách, tránh vướng mắc trong thực hiện và góp phần cải cách thủ tục hành chính.

b) Quy định thời điểm tính thuế từ chuyển nhượng bất động sản là thời điểm hợp đồng chuyển nhượng có hiệu lực theo quy định của pháp luật (nếu hợp đồng chuyển nhượng không có thỏa thuận bên mua là người nộp thuế thay cho bên bán) hoặc là thời điểm làm thủ tục đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng bất động sản (nếu trong hợp đồng chuyển nhượng có thỏa thuận bên mua là người nộp thuế thay cho bên bán)

Theo quy định của Luật thuế TNCN, việc chuyển nhượng bất động sản phát sinh nghĩa vụ thuế tại thời điểm chuyển nhượng, Nghị định 12/2015/NĐ-CP quy định chi tiết thời điểm tính thuế như nêu trên cho phép khắc phục được vướng mắc phát sinh trong trường hợp việc chuyển nhượng bất động sản diễn ra mà thời điểm chuyển nhượng với thời điểm làm thủ tục đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng bất động sản có khoảng cách xa về thời gian dẫn đến khả năng cá nhân là người mua bị phạt chậm nộp nếu phải tính thuế từ thời điểm chuyển nhượng.

33.2.3.5. Bãi bỏ thuế TNCN đối với thu nhập từ trúng thưởng trong casino tại Khoản 6 Điều 3 Luật số 04/2007/QH12.

Trước đây: Luật thuế TNCN số 04/2007/QH12 quy định thu nhập từ trúng thưởng hoặc hình thức cá cược, casino là thu nhập chịu thuế TNCN với thuế suất 10% trên phần thu nhập trúng thưởng vượt trên 10 triệu đồng. Thực hiện quy định này đã phát sinh vướng mắc là không thể xác định được mức thu nhập từ trúng thưởng của người chơi. Ngoài ra, do hình thức kinh doanh casino thuộc loại hình kinh doanh có điều kiện đặc biệt nên mức điều tiết về thuế TNDN, thuế TTĐB là cao hơn so với các ngành kinh doanh khác (thuế GTGT 10%, thuế TTĐB 30%[1], thuế TNDN 22%). So với các nước trong khu vực và trên thế giới thì Việt Nam đang là nước có mức động viên về thuế (tính chung các sắc thuế GTGT, thuế TTĐB, thuế TNDN) đối với hoạt động casino ở mức cao (Macao quy định tổng các khoản thu đối với casino khoảng 37% trên doanh thu, trong đó thu vào ngân sách là 35% và thu vào quỹ phúc lợi địa phương là 2%).

Kinh nghiệm của nhiều nước và vùng lãnh thổ cho thấy các nước không thu thuế TNCN đối với cá nhân trúng thưởng casino (Singapore, Philippin, Lào, Malaysia, Macao…). Đồng thời phương thức quản lý đối với đối tượng này cũng đảm bảo chặt chẽ, cơ quan thuế giám sát trực tiếp các hoạt động thu ngân bằng tiền mặt, các máy trò chơi nối mạng trực tuyến (online) với cơ quan thuế; thuế thu đối với doanh nghiệp kinh doanh casino được ấn định cụ thể bằng tỷ lệ % trên doanh thu do trên thực tế khó xác định thu nhập chịu thuế từ casino do không phân định được chi phí liên quan đến thu nhập chịu thuế của hoạt động casino và chi phí liên quan đến hoạt động chung của doanh nghiệp.

Để phản ánh đúng bản chất của thuế thu nhập, phù hợp với thông lệ quốc tế, Luật số 71/2014/QH13 đã bãi bỏ quy định thu thuế TNCN đối với cá nhân trúng thưởng trong casino, đồng thời điều chỉnh tăng mức thuế suất thuế TTĐB đối với kinh doanh casino tăng từ 30% hiện nay lên mức 35% quy định tại Luật thuế TTĐB số 70/2014/QH13, đồng thời giao Bộ Tài chính chỉ đạo cơ quan thuế giám sát, quản lý trực tiếp doanh số và quy định về tỷ lệ ấn định tỷ lệ thuế TNDN trên doanh thu.

33.2.3.6. Quy định một số nội dung nhằm khắc phục bất cập của chính sách hiện hành

a) Quy định thu nhập tính thuế TNCN đối với các loại tài sản nhận thừa kế, quà tặng là tài sản khác (không phải là chứng khoán, phần vốn trong các tổ chức kinh tế, bất động sản) thì căn cứ vào giá tính lệ phí trước bạ của tài sản đó hoặc tài sản cùng loại (nếu có). Trường hợp cá nhân nhận thừa kế, quà tặng là tài sản nhập khẩu mà đã phải nộp các loại thuế liên quan đến việc nhập khẩu tài sản thì giá trị tài sản làm căn cứ tính thuế là giá tính lệ phí trước bạ tại thời điểm đăng ký quyền sở hữu trừ các khoản thuế đã nộp ở khâu nhập khẩu.

Trước đây, Nghị định 65/2013/NĐ-CP quy định đối với tài sản nhận thừa kế, quà tặng là những tài sản phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng thì thu nhập tính thuế căn cứ vào giá tính lệ phí trước bạ (đối với các tài sản khác như chứng khoán, phần vốn trong tổ chức kinh tế, bất động sản có quy định riêng).

Thực hiện quy định này đã phát sinh vướng mắc đối với trường hợp cá nhân nhận thừa kế, quà tặng từ nước ngoài, khi nhập khẩu đã phải nộp thuế nhập khẩu, thuế TTĐB, thuế GTGT, việc xác định thu nhập tính thuế căn cứ vào giá tính lệ phí trước bạ mà giá này bao gồm cả thuế nhập khẩu, thuế TTĐB, thuế GTGT đã dẫn tới việc xác định thu nhập tính thuế từ quà tặng đã bao gồm cả các loại thuế cá nhân phải nộp ở khâu nhập khẩu. Quy định sửa đổi giá tính thuế là giá tính lệ phí trước bạ tại thời điểm đăng ký quyền sở hữu trừ các khoản thuế đã nộp ở khâu nhập khẩu như nêu trên đảm bảo thu thuế đúng với giá trị mà cá nhân được nhận thừa kế, quà tặng.

b) Quy định phần thu nhập sau khi đã nộp thuế thu nhập doanh nghiệp của chủ doanh nghiệp tư nhân và của chủ sở hữu công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do cá nhân làm chủ thuộc không thuộc thu nhập chịu thuế TNCN.

Trước đây: Chủ sở hữu công ty TNHH một thành viên, sau khi nộp thuế TNDN, nếu rút lợi nhuận thì theo Luật thuế TNCN phải nộp thuế TNCN đối với thu nhập từ đầu tư vốn theo mức thuế 5% trong khi thu nhập của chủ doanh nghiệp tư nhân sau khi đã nộp thuế TNDN thì không phải nộp thuế TNCN.

Để đảm bảo công bằng giữa chủ sở hữu công ty TNHH một thành viên và chủ doanh nghiệp tư nhân, đồng thời cũng khuyến khích cá nhân thành lập doanh nghiệp thực hiện chế độ sổ sách kế toán, hóa đơn chứng từ, Nghị định 12/2015/NĐ-CP đã sửa đổi, bổ sung quy định này, theo đó, quy định thu nhập sau khi đã nộp thuế TNDN của doanh nghiệp tư nhân và của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do cá nhân làm chủ thì không phải nộp thuế TNCN.

c) Quy định trường hợp doanh nghiệp, tổ chức kinh tế thuê nhà, thuê tài sản của cá nhân mà cá nhân cho thuê có tổng doanh thu từ kinh doanh trên 100 triệu đồng/năm trở lên nếu trong hợp đồng thuê có thỏa thuận bên đi thuê là người nộp thuế thì doanh nghiệp, tổ chức kinh tế thực hiện khấu trừ thuế 5% trên số tiền thuê trước khi trả tiền cho cá nhân và nộp tiền thuế vào ngân sách nhà nước.

Quy định này cho phép đơn giản thủ tục cho cá nhân và thuận tiện quản lý cho cơ quan thuế.

33.2.3.7. Đồng thời giữ nguyên các quy định đã được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định 91/2014NĐ-CP như đã nêu tại các điểm 1, 2 và 3 của Mục II Phần A bài viết này.

33.2.4. Về thuế tài nguyên

(Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 50/2010/NĐ-CP ngày 14 tháng 5 năm 2010 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế tài nguyên)

33.2.4.1. Bổ sung vào diện đối tượng không thu thuế tài nguyên đối với

– Nước thiên nhiên, bao gồm nước mặt và nước dưới đất, dùng cho nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp;

– Nước biển để làm mát máy (nếu đáp ứng điều kiện đảm bảo các yêu cầu về môi trường, về hiệu quả sử dụng nước tuần hoàn và điều kiện kinh tế kỹ thuật chuyên ngành);

– Yến sào do tổ chức, cá nhân thu được từ hoạt động đầu tư xây dựng nhà để dẫn dụ chim yến tự nhiên về nuôi và khai thác.

Trước đây: Về nước thiên nhiên dùng cho nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp, Luật thuế Tài nguyên số 45/2009/QH12 (có hiệu lực từ ngày 01/7/2010) quy định: Miễn thuế tài nguyên đối với nước thiên nhiên dùng cho nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp. Thực hiện quy định này không phát sinh vướng mắc, tuy nhiên, trong quan hệ thương mại với nước ngoài đã có tranh chấp về mặt pháp lý[2]. Để giải quyết vướng mắc trong quan hệ thương mại với các nước, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế, đồng thời đảm bảo cũng như ổn định đời sống người nông dân, khuyến khích tổ chức, cá nhân đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, Luật số 71/2014/QH13 đã sửa đổi, bổ sung quy định tại khoản 7 Điều 2, khoản 5 Điều 9 Luật thuế tài nguyên từ miễn thuế tài nguyên đối với nước thiên nhiên dùng cho nông, lâm, ngư, diêm nghiệp bằng quy định không thu thuế tài nguyên đối với nước thiên nhiên dùng cho nông, lâm, ngư, diêm nghiệp. Quy định chi tiết nội dung này, Nghị định 12/2015/NĐ-CP đã sửa đổi, bổ sung các quy định hiện hành cho phù hợp.

Về nước biển làm mát máy, thực tế cho thấy hiện nay nước biển sử dụng cho công nghiệp chủ yếu để làm mát hệ thống thiết bị. Đa số các nhà máy nhiệt điện đang và sắp khởi công xây dựng thường sử dụng nước biển để làm mát hệ thống thiết bị. Việc sử dụng nước biển vừa đảm bảo đủ nguồn cho hoạt động của nhà máy, vừa tiết kiệm nước ngọt. Chi phí đầu tư cho nhà máy nhiệt điện làm mát bằng nước biển thường đắt hơn so với nhà máy nhiệt điện làm mát bằng nước ngọt, do phải sử dụng các vật liệu chịu được độ ăn mòn cao. Đồng thời, khi sử dụng công nghệ làm mát bằng nước biển phải đầu tư thêm hệ thống xử lý nước mặn thành nước lợ với giá thành cao. Theo đó, nếu thu thuế tài nguyên đối với nước biển sẽ làm tăng giá thành sản xuất, ảnh hưởng đến giá bán điện.

Căn cứ thẩm quyền Chính phủ được giao quy định tại Luật thuế tài nguyên số 45/2009/QH12 và Luật tài nguyên nước số 17/2012/QH13 (Điều 70), để khuyến khích các nhà máy nhiệt điện sử dụng nước biển để làm mát máy, tiết kiệm nguồn nước ngọt, đảm bảo yêu cầu về môi trường, về kinh tế kỹ thuật chuyên ngành, đồng thời đảm bảo không ảnh hưởng đến giá bán điện, Nghị định 12/2015/NĐ-CP đã quy định nước biển để làm mát máy (nếu đáp ứng điều kiện đảm bảo các yêu cầu về môi trường, về hiệu quả sử dụng nước tuần hoàn và điều kiện kinh tế kỹ thuật chuyên ngành) thuộc diện không thu thuế tài nguyên.

Về tài nguyên yến sào, theo quy định của Luật thuế tài nguyên thì thu thuế tài nguyên đối với tài nguyên thiên nhiên, không thu đối với sản phẩm nuôi trồng nói chung và yến sào do nuôi và khai thác nói riêng. Trên thực tế, nhiều địa phương có vướng mắc trong việc thu thuế tài nguyên đối với yến sào thu được từ hoạt động đầu tư xây dựng nhà nuôi chim yến để dẫn dụ chim yến tự nhiên về nuôi và khai thác. Theo đó, yến sào do tổ chức, cá nhân thu được từ hoạt động đầu tư xây dựng nhà để dẫn dụ chim yến tự nhiên về nuôi và khai thác sẽ không phải nộp thuế tài nguyên. Vì vậy, để đảm bảo cơ sở pháp lý và thống nhất trong quá trình thực hiện, Nghị định 12/2015/NĐ-CP đã quy định rõ yến sào do tổ chức, cá nhân thu được từ hoạt động đầu tư xây dựng nhà để dẫn dụ chim yến tự nhiên về nuôi và khai thác không thuộc diện thu thuế tài nguyên như đã nêu trên.

33.2.4.2. Quy định về giá tính thuế tài nguyên đối với tài nguyên khai thác không tiêu thụ trong nước mà xuất khẩu là trị giá hải quan của tài nguyên khai thác xuất khẩu, không bao gồm thuế xuất khẩu.

Trường hợp tài nguyên khai thác vừa tiêu thụ nội địa và xuất khẩu thì: Đối với sản lượng tài nguyên tiêu thụ nội địa là giá bán đơn vị tài nguyên khai thác chưa bao gồm thuế GTGT; Đối với sản lượng tài nguyên xuất khẩu là trị giá hải quan của tài nguyên khai thác xuất khẩu, không bao gồm thuế xuất khẩu.

Trị giá hải quan của tài nguyên khai thác xuất khẩu thực hiện theo quy định về trị giá hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu tại Luật Hải quan và các văn bản hướng dẫn thi hành.

Trường hợp tài nguyên khai thác không bán ra mà phải qua sản xuất, chế biến mới bán ra (tiêu thụ trong nước hoặc xuất khẩu) thì giá tính thuế tài nguyên khai thác được xác định căn cứ vào trị giá hải quan của sản phẩm đã qua sản xuất, chế biến xuất khẩu hoặc giá bán sản phẩm đã qua sản xuất, chế biến trừ thuế xuất khẩu (nếu có) và các chi phí có liên quan từ khâu sản xuất, chế biến đến khâu xuất khẩu hoặc từ khâu sản xuất, chế biến đến khâu bán tại thị trường trong nước.

Căn cứ giá tính thuế tài nguyên đã xác định để áp dụng sản lượng tính thuế đối với đơn vị tài nguyên tương ứng. Giá tính thuế đối với tài nguyên khai thác được xác định ở khâu nào thì sản lượng tính thuế tài nguyên áp dụng tại khâu đó.

Trước đây: Nghị định số 50/2010/NĐ-CP quy định: Giá tính thuế tài nguyên đối với tài nguyên khai thác không tiêu thụ trong nước mà xuất khẩu là giá xuất khẩu đơn vị sản phẩm tài nguyên (FOB); trường hợp tài nguyên khai thác vừa tiêu thụ nội địa và xuất khẩu thì đối với phần tiêu thụ nội địa là giá bán đơn vị sản phẩm tài nguyên chưa bao gồm thuế GTGT, đối với phần xuất khẩu là giá xuất khẩu.

Theo bộ các quy tắc thương mại quốc tế-Incoterms 2010 (quy định về các nguyên tắc liên quan đến giá cả và trách nhiệm của các bên trong hoạt động thương mại quốc tế, được áp dụng từ ngày 01/01/2011) thì ngoài điều kiện giao hàng FOB – giao lên tàu (áp dụng đối với phương thức vận tải đường biển và đường thủy nội địa) còn có các điều kiện giao hàng khác, như: EXW, FCA, CPT, CIP, DAT, DAP, DDP, FAS, CFR, CIF. Như vậy, việc quy định giá tính thuế tài nguyên đối với tài nguyên khai thác để xuất khẩu theo giá FOB tại Nghị định số 50/2010/NĐ-CP không còn phù hợp.

Ngoài ra, theo Luật Hải quan số 54/2014/QH13 ngày 23/6/2014 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2015) thì không có khái niệm “giá xuất khẩu”, mà chỉ có khái niệm “trị giá hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu”. Cụ thể tại khoản 2 Điều 86 Luật Hải quan số 54/2014/QH13 quy định: “2. Trị giá hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu là giá bán của hàng hóa tính đến cửa khẩu xuất, không bao gồm phí bảo hiểm và phí vận tải quốc tế.

Do đó, để phù hợp với các điều kiện giao hàng và quy định của pháp luật về hải quan, Nghị định 12/2015/NĐ-CP đã sửa đổi quy định về giá tính thuế tài nguyên như đã nêu ở trên.

33.2.4.3. Bổ sung nguyên tắc để UBND cấp tỉnh xác định giá tính thuế tài nguyên

Trước đây: Luật thuế tài nguyên quy định giá tính thuế tài nguyên được xác định theo một trong những căn cứ: Giá bán thực tế trên thị trường khu vực của đơn vị sản phẩm tài nguyên cùng loại hoặc giá bán đơn vị của từng chất và hàm lượng của từng chất trong tài nguyên khai thác đối với trường hợp tài nguyên khai thác có chứa nhiều chất khác nhau (nhưng không thấp hơn giá tính thuế do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quy định). Đồng thời Luật giao Chính phủ quy định chi tiết nội dung này. Tuy nhiên, Nghị định số 50/2010/NĐ-CP cũng chỉ dẫn chiếu lại quy định của Luật.

Vấn đề xác định giá tính thuế tài nguyên là nội dung vướng mắc nhiều trong thời gian vừa qua, nhất là đối với các trường hợp tài nguyên khai thác không bán ra mà phải qua quá trình sản xuất, chế biến mới bán ra nên chưa xác định được giá bán tài nguyên khai thác. Thực tế, có sự chưa nhất quán trong việc xác định giá tính thuế tài nguyên đối với trường hợp tài nguyên khai thác bán ra sau quá trình sản xuất, chế biến (chưa xác định được giá bán tài nguyên khai thác) giữa các địa phương (UBND cấp tỉnh): Có UBND cấp tỉnh ban hành giá tính thuế đối với tài nguyên nguyên khai; có UBND cấp tỉnh ban hành giá tính thuế đối với tài nguyên đã qua đập, nghiền, sàng tuyển, phân loại; có UBND cấp tỉnh ban hành giá tính thuế đối với sản phẩm đã qua sản xuất, chế biến; có UBND cấp tỉnh còn xác định giá tính thuế tài nguyên đối với tài nguyên khai thác xuất khẩu là giá xuất khẩu của sản phẩm đã qua sản xuất, chế biến thành sản phẩm khác.

Để đảm bảo tính thống nhất trong việc ban hành giá tính thuế tài nguyên của các địa phương, phù hợp với bản chất của thuế tài nguyên là đánh vào tài nguyên khai thác và đảm bảo tính khả thi trong thực hiện, Nghị định 12/2015/NĐ-CP đã bổ sung quy địnhnguyên tắc để UBND cấp tỉnh xác định giá tính thuế tài nguyên, theo đó quy định: “… Trường hợp tài nguyên khai thác không bán ra mà phải qua sản xuất, chế biến mới bán ra (tiêu thụ trong nước hoặc xuất khẩu) thì giá tính thuế tài nguyên khai thác được xác định căn cứ vào trị giá hải quan của sản phẩm đã qua sản xuất, chế biến xuất khẩu hoặc giá bán sản phẩm đã qua sản xuất, chế biến trừ thuế xuất khẩu (nếu có) và các chi phí có liên quan từ khâu sản xuất, chế biến đến khâu xuất khẩu hoặc từ khâu sản xuất, chế biến đến khâu bán tại thị trường trong nước.

Căn cứ giá tính thuế tài nguyên đã xác định để áp dụng sản lượng tính thuế đối với đơn vị tài nguyên tương ứng. Giá tính thuế đối với tài nguyên khai thác được xác định ở khâu nào thì sản lượng tính thuế tài nguyên áp dụng tại khâu đó.”

33.2.5. Về quản lý thuế

(Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 83/2013/NĐ-CP ngày 22 tháng 7 năm 2013 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Quản lý thuế và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế, Điều 4 Nghị định số 91/2014/NĐ-CP ngày 01 tháng 10 năm 2014 sửa đổi, bổ sung một số điều tại các Nghị định quy định về thuế)

33.2.5.1. Bổ sung quy định người nộp thuế không phải nộp các chứng từ trong hồ sơ khai, nộp thuế, hồ sơ hoàn thuế và các hồ sơ thuế khác mà cơ quan quản lý nhà nước đã có.

33.2.5.2. Quy định Hồ sơ khai các loại thuế của doanh nghiệp (thuế GTGT, thuế TTĐB, thuế tài nguyên,…) chỉ gồm Tờ khai thuế.

33.2.5.3. Bổ sung quy định về tỷ giá tính thuế khi chuyển đổi đồng tiền nộp thuế từ ngoại tệ sang đồng Việt Nam

Trước đây: Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, Luật thuế GTGT, Luật thuế TTĐB, Luật thuế TNDN, thuế TNCN đều quy định doanh thu tính thuế, chi phí tính thuế, giá tính thuế, thu nhập chịu thuế, đồng tiền nộp thuế được xác định bằng đồng Việt Nam. Trường hợp bằng ngoại tệ thì phải quy đổi ra đồng Việt Nam theo tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm phát sinh.

Theo quy định của pháp luật hiện hành tỷ giá liên ngân hàng do Ngân hàng Nhà nước công bố hàng ngày là công cụ quản lý, điều hành chính sách tỷ giá của Nhà nước; căn cứ tỷ giá này, các ngân hàng thương mại thực hiện mua, bán ngoại tệ với các doanh nghiệp theo một biên độ do Nhà nước cho phép. Thực hiện quy định của Luật thuế hiện hành, doanh nghiệp luôn phải điều chỉnh sổ sách kế toán theo tỷ giá giao dịch liên ngân hàng, gây khó khăn, phức tạp không cần thiết cho doanh nghiệp trong việc xác định doanh thu, chi phí, giá tính thuế, tăng thời gian kê khai, nộp thuế của doanh nghiệp…. Do đó, Luật số 71/2014/QH13 có hiệu lực từ 01/01/2015 đã quy định: người nộp thuế xác định doanh thu, chi phí, giá tính thuế và các khoản thuế nộp ngân sách nhà nước bằng đồng Việt Nam (trừ trường hợp nộp thuế bằng ngoại tệ theo quy định của Chính phủ); trường hợp phát sinh doanh thu, chi phí, giá tính thuế bằng ngoại tệ hoặc người nộp thuế có nghĩa vụ phải nộp bằng ngoại tệ nhưng được cơ quan có thẩm quyền cho phép nộp thuế bằng đồng Việt Nam thì phải quy đổi ngoại tệ ra đồng Việt Nam theo tỷ giá giao dịch thực tế tại thời điểm phát sinh.

Hướng dẫn quy định của Luật 71/2015/QH13, Nghị định 12/2015/NĐ-CP đã quy định chi tiết về đồng tiền và tỷ giá tính thuế đối với các loại thuế, trong đó quy định rõ người nộp thuế thực hiện nộp thuế và các khoản nộp ngân sách nhà nước bằng đồng Việt Nam, trừ trường hợp được nộp thuế bằng ngoại tệ theo quy định của pháp luật. Đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, tỷ giá tính thuế được thực hiện theo quy định tại Khoản 3 Điều 21 Nghị định số 08/2015/NĐ-CP ngày 21 tháng 01 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Hải quan về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát, kiểm soát hải quan.

Việc quy định tỷ giá giao dịch thực tế tại thời điểm phát sinhnhư nêu trên đảm bảo phù hợp với thực tiễn, khắc phục những khó khăn vướng mắc, tạo điều kiện cho người nộp thuế giảm chi phí quản lý vàkhông ảnh hưởng tới thu ngân sách nhà nước.

33.2.5.4. Quy định xử lý đối với việc chậm nộp tiền thuế,

trong đó quy định rõ người nộp thuế chậm nộp tiền thuế so với thời hạn quy định, thời hạn gia hạn nộp thuế, thời hạn ghi trong thông báo của cơ quan quản lý thuế, thời hạn trong quyết định xử lý của cơ quan quản lý thuế thì phải nộp đủ tiền thuế và tiền chậm nộp theo mức 0,05%/ngày tính trên số tiền thuế chậm nộp. Số thuế thiếu phát hiện qua thanh tra, kiểm tra hoặc do người nộp thuế tự phát hiện từ ngày 01 tháng 01 năm 2015 tiền chậm nộp được áp dụng theo mức 0,05%/ngày tính trên số tiền thuế chậm nộp. Trường hợp người nộp thuế cung ứng hàng hoá, dịch vụ được thanh toán bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước nhưng chưa được thanh toán nên không nộp thuế đúng thời hạn dẫn đến nợ thuế thì không thực hiện cưỡng chế thuế và không phải nộp tiền chậm nộp tính trên số tiền thuế còn nợ nhưng không vượt quá số tiền ngân sách nhà nước chưa thanh toán phát sinh trong thời gian ngân sách nhà nước chưa thanh toán. Đồng thời bãi bỏ mức phạt chậm nộp 0,07% hiện hành.

Trước đây:

Luật số 71/2014/QH13 có hiệu lực từ 01/01/2015 đã sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 106 Luật Quản lý thuế hiện hành, theo đó đã bỏ mức phạt chậm nộp 0,07% hiện hành và bổ sung quy định trường hợp người nộp thuế cung ứng hàng hoá, dịch vụ được thanh toán bằng vốn ngân sách nhà nước hoặc có nguồn từ ngân sách nhà nước nhưng chưa được thanh toán nên không có nguồn nộp kịp thời các khoản thuế dẫn đến nợ thuế thì không phải nộp tiền chậm nộp tính trên số tiền thuế còn nợ nhưng không vượt quá số tiền ngân sách nhà nước chưa thanh toán phát sinh trong thời gian ngân sách nhà nước chưa thanh toán.

Quy định chi tiết nội dung này, Nghị định 12/2015/NĐ-CP đã sửa đổi, bổ sung các điều khoản liên quan tại Nghị định 83/2013/NĐ-CP (bổ sung Điều 28a, sửa đổi, bổ sung Điều 31) để quy định về xử lý đối với việc chậm nộp tiền thuế như đã nêu trên.

33.2.5.5. Bổ sung quy định về kéo dài gia hạn nộp thuế không quá 02 năm kể từ ngày hết thời hạn nộp thuế đối với hàng hóa nhập khẩu để sản xuất hàng xuất khẩu có chu kỳ sản xuất, dự trữ dài hơn 275 ngày hoặc do phía khách hàng hủy hợp đồng hoặc kéo dài thời gian giao hàng không có khả năng nộp thuế đúng hạn.

Trước đây: Theo Điều 49 Luật Quản lý thuế (đã được sửa đổi, bổ sung tại khoản 14 Điều 1 Luật số 21/2013/QH13) và Điều 31 Nghị định 83/2013/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung tại khoản 7 Điều 4 Nghị định 91/2014/NĐ-CP) thì các trường hợp (a) bị thiệt hại vật chất, gây ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất, kinh doanh do gặp thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn bất ngờ; (b) phải ngừng hoạt động do di dời cơ sở sản xuất, kinh doanh theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền làm ảnh hưởng đến kết quả sản xuất, kinh doanh; (c) chưa được thanh toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản đã được ghi trong dự toán ngân sách nhà nước; hoặc (d) không có khả năng nộp thuế đúng hạn do gặp khó khăn đặc biệt khác theo quy định của Chính phủ được xem xét việc gia hạn nộp thuế. Trong đó, thời gian gia hạn nộp thuế tối đa không quá 02 (hai) năm, kể từ ngày hết thời hạn nộp thuế đối với trường hợp a và b tối đa không quá 01 năm, kể từ ngày hết thời hạn nộp thuế đối với trường hợp b, c, d.

Theo quy định này, cơ quan hải quan đã thực hiện việc gia hạn nộp thuế tối đa 01 năm đối với trường hợp nguyên liệu, vật tư nhập khẩu để sản xuất hàng xuất khẩu có chu kỳ sản xuất dài như đóng tàu, hạt điều,…nhưng thực tế rất nhiều doanh nghiệp thuộc các ngành nghề: đóng tàu, thủy sản, dệt may, da giày (chiếm tỷ trọng trong sản xuất xuất khẩu chủ yếu) gặp khó khăn không có khả năng nộp thuế đúng hạn (do khủng hoảng tài chính thế giới, khách hàng hủy hợp đồng hoặc kéo dài thời gian giao hàng) cần được tiếp tục kéo dài thời hạn nộp thuế. Mặt khác, xét bản chất nguyên liệu, vật tư nhập khẩu sản xuất xuất khẩu thuộc đối tượng không phải nộp thuế trong thời hạn 275 ngày, nếu phải nộp thuế sau khi xuất khẩu sản phẩm lại hoàn thuế sẽ dẫn đến phức tạp về thủ tục vừa tăng chi phí cho doanh nghiệp, làm giảm khả năng cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam trên thị trường thế giới.

Để tạo thuận lợi cho doanh nghiệp, Nghị định 12/2015/NĐ-CP đã bổ sung vào diện được gia hạn thời hạn nộp thuế tối đa 02 năm theo quy định của Luật Quản lý thuế đối với nguyên liệu, vật tư nhập khẩu để sản xuất hàng xuất khẩu nhưng gặp khó khăn, không thể nộp thuế đúng hạn như nêu trên.

33.2.5.6. Quy định về trách nhiệm của cơ quan quản lý thuế trong việc xác nhận hoàn thành nghĩa vụ nộp thuếbằng văn bản khi người nộp thuế có yêu cầu.

Trước đây: Theo Điều 40 Nghị định 83/2013/NĐ-CP quy định người Việt Nam khi xuất cảnh để định cư ở nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài trước khi xuất cảnh từ Việt Nam phải hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế và phải có xác nhận của cơ quan quản lý thuế về việc hoàn thành nghĩa vụ thuế trước khi xuất cảnh.

Thực tế thực hiện phát sinh các trường hợp cá nhân không xuất cảnh nhưng có nhu cầu đề nghị cơ quan nhà nước xác nhận để thực hiện các hoạt động như thế chấp tài sản hoặc đấu thầu thì chưa có quy định nên không được cơ quan nhà nước xác nhận. Vì vậy, để tạo thuận lợi cho người nộp thuế, Nghị định 12/2015/NĐ-CP đã quy định cơ quan quản lý thuế có trách nhiệm xác nhận hoàn thành nghĩa vụ thuế bằng văn bản khi người nộp thuế có yêu cầu.

33.2.5.7. Quy định về trách nhiệm của người khai thuế và nộp thuế điện tử, theo đó, người nộp thuế là tổ chức kinh doanh phải sử dụng các dịch vụ điện tử do cơ quan thuế cung cấp (Đăng ký thuế, khai, nộp thuế, tra cứu và gửi thông tin về thuế) trừ trường hợp đặc biệt theo quy định của Bộ Tài chính.

Người nộp thuế kinh doanh trong lĩnh vực nhà hàng, khách sạn, siêu thị và một số dịch vụ khác có sử dụng hệ thống máy tính tiền, hệ thống cài đặt phần mềm bán hàng để thanh toán thì phải thực hiện kết nối với cơ quan thuế để gửi thông tin cho cơ quan thuế theo lộ trình triển khai của cơ quan thuế.

Người nộp thuế thuộc trường hợp cơ quan thuế cần quản lý doanh thu, phải lập hóa đơn điện tử và gửi thông tin trên hóa đơn bằng phương thức điện tử cho cơ quan thuế để nhận mã xác thực hóa đơn từ cơ quan thuế. Bộ Tài chính quy định cụ thể các trường hợp phải sử dụng hóa đơn điện tử có mã xác thực của cơ quan thuế.

Trước đây: Nghị định 83/2013/NĐ-CP đã có quy định: Người nộp thuế là tổ chức kinh doanh tại địa bàn có cơ sở hạ tầng về công nghệ thông tin phải khai thuế, nộp thuế, giao dịch với cơ quan quản lý thuế thông qua phương tiện điện tử theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử. Khi thực hiện giao dịch điện tử với cơ quan quản lý thuế, người nộp thuế được quyền lựa chọn các thiết bị và dịch vụ giao dịch điện tử của các đơn vị cung cấp dịch vụ hợp pháp.

Tại Chỉ thị số 24/CT-TTg ngày 05/8/2014 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường quản lý và cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực thuế, hải quan đã chỉ đạo về việc kê khai thuế qua mạng và nộp thuế điện tử. Vì vậy, để tăng cường việc khai thuế, nộp thuế, giao dịch với cơ quan quản lý thuế thông qua phương tiện điện tử theo yêu cầu của Thủ tướng Chính phủ, Nghị định 12/2015/NĐ-CP đã bổ sung quy định về trách nhiệm của người khai thuế và nộp thuế điện tử như nêu trên.

33.2.5.8. Đồng thời giữ nguyên các quy định đã được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định 91/2014NĐ-CP như đã nêu tại các điểm 1, 2,…đến điểm 8 của Mục IV của Phần A bài viết này.

 TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Luật thuế TNDN số 14/2008/QH12 ngày 03/06/2008;
  2. Luật số 32/2013/QH13 ngày 19/06/2013 sửa đổi, bổ sung một số Điều của Luật thuế TNDN số 14/2008/QH12;
  3. Luật số 71/2014/QH13 ngày 26/11/2014 sửa đổi, bổ sung một số Điều của các luật về thuế (sửa đổi, bổ sung 05 Luật thuế);
  4. Nghị định số 218/2013/NĐ-CP ngày 26/11/2013 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật thuế TNDN;
  5. Nghị định số 91/2014/NĐ-CP ngày 01/10/2013 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung các Nghị định quy định về thuế;
  6. Nghị định số 12/2015/NĐ-CP ngày 12/02/2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của các luật về thuế;
  7. Thông tư 78/2014/TT-BTC ngày 18/06/2014 hướng dẫn thi hành Nghị định số 218/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số Điều của Luật thuế TNDN;
  8. Thông tư số 151/2014/TT-BTC ngày 10/10/2014 hướng dẫn thi hành Nghị định số 91/2014/NĐ-CP ngày 01/10/2013 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung các Nghị định quy định về thuế;
  9. Thông tư hướng dẫn về thuế TNDN tại Nghị định số 12/2015/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của các luật về thuế.
  10. Luật thuế GTGT số 13/2008/QH12 ngày 03/06/2008;
  11. Luật số 31/2013/QH13 ngày 19/06/2013 sửa đổi, bổ sung một số Điều của Luật thuế GTGT số 13/2008/QH12;
  12. Luật số 71/2014/QH13 ngày 26/11/2014 sửa đổi, bổ sung một số Điều của các luật về thuế (sửa đổi, bổ sung 05 Luật thuế);
  13. Nghị định số 209/2013/NĐ-CP ngày 18/12/2013 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số Điều của Luật thuế GTGT;
  14. Nghị định số 91/2014/NĐ-CP ngày 01/10/2013 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung các Nghị định quy định về thuế;
  15. Nghị định số 12/2015/NĐ-CP ngày 12/02/2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của các luật về thuế;
  16. Thông tư 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 hướng dẫn Luật thuế GTGT và Nghị định số 209/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số Điều của Luật thuế GTGT;
  17. Thông tư số 151/2014/TT-BTC ngày 10/10/2014 hướng dẫn thi hành Nghị định số 91/2014/NĐ-CP ngày 01/10/2013 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung các Nghị định quy định về thuế;
  18. Thông tư 26/2015/TT-BTC hướng dẫn về thuế GTGT và về quản lý thuế tại Nghị định số 12/2015/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của các luật về thuế.
  19. Luật thuế TNCN số 04/2007/QH12 ngày 21/11/2007;
  20. Luật số 26/2012/QH13 ngày 22/11/2012 sửa đổi, bổ sung một số Điều của Luật thuế TNCN số 04/2007/QH12;
  21. Luật số 71/2014/QH13 ngày 26/11/2014 sửa đổi, bổ sung một số Điều của các luật về thuế (sửa đổi, bổ sung 05 Luật thuế);
  22. Nghị định số 65/2013/NĐ-CP ngày 27/06/2013 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật thuế TNCN và Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của Luật thuế TNCN;
  23. Nghị định số 91/2014/NĐ-CP ngày 01/10/2013 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung các Nghị định quy định về thuế;
  24. Nghị định số 12/2015/NĐ-CP ngày 12/02/2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của các luật về thuế;
  25. Thông tư 111/2013/TT-BTC ngày 15/08/2013 hướng dẫn thi hành Luật thuế TNCN và Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của Luật thuế TNCN và Nghị định số 65/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật thuế TNCN và Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của Luật thuế TNCN;
  26. Thông tư số 151/2014/TT-BTC ngày 10/10/2014 hướng dẫn thi hành Nghị định số 91/2014/NĐ-CP ngày 01/10/2013 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung các Nghị định quy định về thuế;

27. Thông tư hướng dẫn về thuế TNCN tại Nghị định số 12/2015/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của các luật về thuế.

28. Luật thuế tài nguyên ngày 25/11/2009;

29. Nghị định số 50/2010/NĐ-CP ngày 14/05/2010 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số Điều của Luật thuế tài nguyên; Nghị định số 12/2015/NĐ-CP ngày 12/02/2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của các luật về thuế;

30. Thông tư 105/2010/TT-BTC hướng dẫn thi hành một số Điều của luật thuế tài nguyên và Nghị định số 50/2010/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số Điều của Luật thuế tài nguyên;

31. Thông tư hướng dẫn về thuế tài nguyên tại Nghị định số 12/2015/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của các luật về thuế.

32. Luật Quản lý thuế ngày 29 tháng 11 năm 2006 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế ngày 20 tháng 11 năm 2012;

33. Luật số 71/2014/QH13 ngày 26/11/2014 sửa đổi, bổ sung một số Điều của các luật về thuế (sửa đổi, bổ sung 05 Luật thuế);

34. Nghị định số 83/2013/NĐ-CP ngày 22 tháng 7 năm 2013 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Quản lý thuế và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế;

35. Nghị định số 91/2014/NĐ-CP ngày 01 tháng 10 năm 2014 sửa đổi, bổ sung một số điều tại các Nghị định quy định về thuế;

36. Nghị định số 12/2015/NĐ-CP ngày 12/02/2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của các luật về thuế;

37. Thông tư số 156/2013/TT-BTC ngày 16/11/2013 hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Quản lý thuế và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế và Nghị định số 83/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Quản lý thuế và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế;

38. Thông tư số 151/2014/TT-BTC ngày 10/10/2014 hướng dẫn thi hành Nghị định số 91/2014/NĐ-CP ngày 01/10/2013 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung các Nghị định quy định về thuế;

39. Thông tư 26/2015/TT-BTC hướng dẫn về thuế GTGT và về quản lý thuế tại Nghị định số 12/2015/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của các luật về thuế.

 

[1] Hiện dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế tiêu thụ đặc biệt đã đề nghị tăng thêm 5% (từ 30% lên 35%)

[2] Hoa Kỳ cho rằng việc quy định miễn thuế tài nguyên đối với nước thiên nhiên dùng cho nông, lâm, ngư, diêm nghiệp là một trong những hình thức trợ cấp của Chính phủ cho các tổ chức, cá nhân sản xuất hàng xuất khẩu đây là hình thức trợ cấp bị cấm theo nguyên tắc của Tổ chức thương mại thế giới (WTO); phía Hoa Kỳ cũng cho rằng nếu Luật pháp Việt Nam không thu thuế tài nguyên đối với nước thiên nhiên dùng cho nông, lâm, ngư, diêm nghiệp như một số nước khác thì sẽ không bị coi là hình thức trợ cấp

Bản in

 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *