Chuyên đề 32: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TÀI CHÍNH TOÀN DIỆN

Chuyên đề 32: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TÀI CHÍNH TOÀN DIỆN

 Nguyễn Phương Linh – Nguyễn Mai Hảo, Vụ Hợp tác quốc tế – Bộ Tài chính

32.1.Các vấn đề chung về Tài chính toàn diện

32.1.1. Khái niệm về Tài chính toàn diện

Định nghĩa về tài chính toàn diện đa dạng theo từng quốc gia phụ thuộc vào mục tiêu của từng nước đối với tài chính toàn diện. Tuy nhiên, theo cách hiểu chung thì tài chính toàn diện là phương tiện cung cấp dịch vụ tài chính tới những đối tượng thiếu tiếp cận dịch vụ tài chính và bao hàm ba yếu tố cấu thành cốt lõi là “tiếp cận”, “sử dụng” và “chất lượng dịch vụ tài chính”.

Có thể xem xét một số định nghĩa như sau:

– Theo Trung tâm tài chính toàn diện Accion (Accion là một tổ chức phi chính phủ hoạt động với mục tiêu xây dựng một thế giới có nền tài chính toàn diện):

Tài chính toàn diện là một trạng thái mà tất cả mọi người có khả năng sử dụng dịch vụ này được tiếp cận đầy đủ các dịch vụ tài chính chất lượng cao được cung cấp ở mức giá hợp lý theo cách thức thuận tiện cùng với sự tôn trọng khách hàng.

Chủ thể cung cấp dịch vụ tài chính khá đa dạng nhưng phần lớn nhà cung cấp dịch vụ tài chính là khu vực tư nhân, tiếp cận những người có khả năng sử dụng dịch vụ, bao gồm người khuyết tật, người nghèo, những người sống ở khu vực nông thôn, những người sống ở khu vực miền núi.

Đây là khái niệm được nhiều chuyên gia, cơ quan chính phủ, cộng đồng tài trợ quốc tế chấp nhận sử dụng.

Theo Liên hợp quốc, mục tiêu của tài chính toàn diện bao gồm:

+ Tiếp cận ở mức chi phí hợp lý của tất cả các hộ gia đình trong nhiều loại dịch vụ tài chính, bao gồm dịch vụ tiết kiệm hoặc gửi tiền, dịch vụ thanh toán và chuyển tiền, tín dụng và bảo hiểm.

+ Các tổ chức kinh doanh an toàn và hiệu quả, được quản lý bởi hành lang pháp lý và những tiêu chuẩn hoạt động ngành rõ ràng

+ Bền vững thể chế và tài chính, đảm bảo tính liên tục và chắc chắn của hoạt động đầu tư

+ Cạnh tranh giúp mở rộng sự lựa chọn và đáp ứng khả năng chi trả

Theo Tổ chức Hợp tác toàn cầu về Tài chính toàn diện (GPFI), tài chính toàn diện là một trạng thái theo đó tất cả các người ở độ tuổi lao động có thể tiếp cận hiệu quả tới dịch vụ tín dụng, tiết kiệm, thanh toán và bảo hiểm từ các nhà cung cấp dịch vụ chính thống. Tài chính toàn diện giúp bộ phận xã hội chưa tiếp cận dịch vụ ngân hàng hoặc đã tiếp cận nhưng không chính thống được tham gia hệ thống tài chính chính thống, qua đó giúp đẩy nhanh quá trình xóa đói giảm nghèo, an ninh việc làm, cải thiện đời sống và phúc lợi xã hội.

Hình 32.1. Quá trình phát triển của Tài chính toàn diện                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                     

 

 

32.1.2.Vai trò của tài chính toàn diện đối với quá trình thúc đẩy tăng trưởng đồng đều

Có nhiều bằng chứng cho thấy rằng phát triển khu vực tài chính toàn diện và đồng đều sẽ có tác động tới nền kinh tế theo hướng góp phần giảm nghèo đói và sự không đồng đều. Thứ nhất, sự phát triển tài chính toàn diện sẽ hỗ trợ tăng trưởng, và đây sẽ là môi trường dẫn xuất để giảm nghèo đói và bất bình đẳng. Thứ hai, việc sẵn có các dịch vụ tài chính phù hợp và có giá cả hợp lý sẽ dẫn đến sự cải thiện tích cực trong phúc lợi cho người nghèo bằng việc cho phép họ có thể tiết kiệm và sử dụng tiền hiệu quả hơn. Điều này sẽ tiếp tục giúp cho khu vực tài chính phát triển hơn và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế thông qua huy động nguồn tiết kiệm và đầu tư vào tăng trưởng ở các khu vực có hiểu quả. Cơ sở hạ tầng thể chế của hệ thống tài chính cũng góp phần vào giảm các chi phí giao dịch và tiếp tục thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Nghiên cứu cho thấy, ở những nước có hệ thống trung gian tài chính phát triển, thu nhập của những người nghèo nhất tăng trưởng nhanh hơn mức thu nhập bình quân đầu người, sự bất bình đẳng trong thu nhập giảm nhanh hơn, tỷ lệ trẻ em nhập học các trường tiểu học tăng hơn. Nội dung tài chính toàn diện toàn cầu nhận thức được vai trò và lợi ích quan trọng của tài chính toàn diện cũng như thực tế cần tập trung hơn vào việc tạo khung pháp lý toàn diện, cơ sở hạ tầng đủ điều kiện và hệ thống các nhà cung cấp dịch vụ đa dạng.

Có thể thấy 6 vai trò của tài chính toàn diện đối với tăng trưởng như sau:

– Tăng cường sự đóng góp của những đơn vị kinh tế nhỏ nhất đối với tiết kiệm và đầu tư quốc gia

Tài chính toàn diện là một công cụ cho phép những thành phần kinh tế nhỏ nhất đóng góp vào tiết kiệm và đầu tư quốc gia. Ví dụ, tại Myanmar, một nửa dịch vụ tín dụng là không chính thống. Các khoản tiền này không được gửi tại các hệ thống tài chính chính thức, và do nên không đóng góp nhiều cho đầu tư ở cấp độ quốc gia. Ngược lại, Thái Lan đã thành lập Quỹ địa phương/quỹ làng xã (Village Funds) liên kết với Tổ chức tài chính quốc gia (SFIs) nhằm huy động các khoản tài chính rất nhỏ ở địa phương cho nguồn tiết kiệm quốc gia. Hiện nay, 5,3 triệu người (chiếm ½ số lượng khách hàng gửi tiết kiệm) đang đóng góp cho Quỹ này với tổng số tiền huy động từ Quỹ là 9 tỷ Bạt Thái, tương ứng với 9% tiết kiệm quốc gia. Giá trị trung bình của các khoản tiền gửi hàng tháng này bằng gần một nửa giá trị trung bình của quốc gia, cho thấy vai trò to lớn của Quỹ địa phương/làng xã đối với việc huy động nguồn vốn tiết kiệm rất nhỏ ở cấp địa phương.

Tăng thu nhập và tiêu dùng để thoát khỏi tình trạng dễ bị tổn thương

Thông qua việc giúp những hộ gia đình nghèo và vừa vượt ngưỡng nghèo quản lý rủi ro liên quan đến tiêu dùng, giá cả, sức khỏe, thảm họa thiên nhiên với mức chi phí thấp hơn những phương thức phi truyền thống như cho vay không chính thức, tài chính toàn diện góp phần tăng thu nhập và tiêu dùng của hộ nghèo, giảm tình trạng dễ bị tổn thương

 Ngoài lợi ích về chi phí thấp, tài chính toàn diện sẽ mang lại nhiều cơ hội khác. Thông qua đa dạng các dịch vụ tài chính, tài chính toàn diện sẽ cung cấp cho người nghèo nhiều dịch vụ tài chính tương ứng với nhu cầu cụ thể của họ. Theo điều tra của Dự án Tạo lập khả năng tiếp cận (Making access possible – MAP) tại Myanmar, hơn ¾ số người sử dụng các dịch vụ tài chính có quản lý chỉ sử dụng duy nhất 1 loại dịch vụ tài chính. Mặc dù chính sách tài chính toàn diện của Myanmar mới bước đầu tập trung vào tín dụng và giảm thiểu rủi ro thông qua bảo hiểm và tiết kiệm khiến cho mức độ hiệu quả của việc tăng cường tín dụng bị hạn chế.

Cụ thể, 21% doanh nghiệp khu vực chính thức của Myanmar báo cáo rằng họ chỉ sử dụng một trong hai dịch vụ là tiết kiệm hoặc tín dụng để giảm thiểu rủi ro thay vì dịch vụ bảo hiểm. 48% nông dân Myanmar chịu cảnh mùa màng thất bát, vì không có bảo hiểm nên khi 42% nông dân gặp rủi ro nông nghiệp hiện đang dựa vào tín dụng, 10% dựa vào tiết kiệm và 22% dựa vào bán tài sản hoặc giảm chi tiêu khi rủi ro nông nghiệp xảy ra.

Liên quan đến rủi ro về sức khỏe, 31% người trưởng thành (từ 25 tuổi trở lên) ở Myanmar gặp rủi ro về sức khỏe trong năm 2014, trong đó, 47,7% số người dựa vào tín dụng, 27% dựa vào bán tài sản hoặc giảm chi tiêu và 22% dựa vào tiết kiệm.

Xây dựng nguồn nhân lực:

Trên cơ sở tăng vị thế của người tiêu dùng, giảm tính dễ tổn thương, tài chính toàn diện giúp người nghèo có cơ hội đầu tư dài hạn vào giáo dục và y tế, từ đó nâng cao kỹ năng và năng suất lao động. Tài chính toàn diện khác với những công cụ thông thường về xóa đói giảm nghèo và những công cụ bảo vệ xã hội như chuyển tiền, trợ cấp hàng hóa, tín dụng vi mô vì những công cụ này chỉ tập trung vào việc đưa người nghèo vượt qua ngưỡng nghèo quốc gia.

Chính phủ Thái Lan và Myanmar đã đưa lĩnh vực giáo dục và y tế vào mục tiêu chính sách tài chính toàn diện quốc gia. Tuy nhiên trước thực trạng nhu cầu chi tiêu của người dân trên hai lĩnh vực này đều cao mà năng lực tài chính có hạn, Nhà nước có thể hỗ trợ cung cấp dịch vụ giáo dục và y tế thông qua triển khai dịch vụ tài chính.

Trên thực tế, tại Myanmar, vì không được mua bảo hiểm nên 69% người trưởng thành khi ốm dựa vào tín dụng và tiết kiệm. Đối với lĩnh vực giáo dục, theo điều tra của MAP, các hộ gia đình ở Thái Lan và Myanmar luôn dành phần lớn ngân sách cho giáo dục. Do vậy, có thể dự đoán nhu cầu sử dụng các dịch vụ tiết kiệm, bảo hiểm và tín dụng để chi tiêu cho giáo dục và y tế của Myanmar và Thái Lan sẽ tiếp tục tăng. Do vậy, tài chính toàn diện sẽ giúp nhà nước mở rộng hơn việc cung cấp các dịch vụ phù hợp.

Như vậy, tài chính toàn diện đóng một vai trò bổ sung đối với chính sách công trong việc hỗ trợ các hộ gia đình có tư duy dài hạn hơn khi đầu tư vốn vào giáo dục và sức khỏe, qua đó góp phần làm tăng kỹ năng và năng suất lao động. Tài chính toàn diện do đó là một công cụ chính sách bổ sung các công cụ chính sách về tăng trưởng và phúc lợi xã hội.

Góp phần ổn định xã hội

Tài chính toàn diện có vai trò tiềm năng để hỗ trợ các doanh nghiệp mới thành lập và giúp phát triển của doanh nghiệp vừa, nhỏ và siêu nhỏ (SMMEs). Để xây dựng được những chính sách thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp và ổn định xã hội, Chính phủ cần xác định địa điểm kinh doanh của các doanh nghiệp khác nhau, hiểu được hành vi, đặc điểm nhân khẩu học và hiện trạng sử dụng dịch vụ tài chính của doanh nghiệp. Điều này sẽ giúp đưa ra các khung chính sách thúc đẩy phát triển doanh nghiệp và huy động xã hội.

Thúc đẩy dòng tiền phục vụ cho tăng trưởng, phát triển nông thôn và tái phân phối

Tài chính toàn diện giúp phát huy tiềm lực của dòng chuyển tiền với vai trò là một công cụ tái phân phối của cải trong nước cũng như giữa các nền kinh tế giàu – nghèo trong khu vực ASEAN.

Đối với phân phối thu nhập giữa các nước trong khu vực, Thái Lan có GDP gấp 5 lần so với Myanmar, Lào, Campuchia và thu nhận phần lớn người lao động nhập cư từ các nước này đến làm việc tại Thái Lan. Việc chuyển thu nhập đến những nước kém phát triển thông qua chuyển tiền và đầu tư tại doanh nghiệp cũng như chuyển tiền tiết kiệm của lao động từ nước ngoài là tiền đề quan trọng để thúc đẩy tăng trưởng đồng đều về tiêu dùng và đầu tư trong khu vực. Cụ thể, theo Báo cáo của FinScope Myanmar (2014), giá trị của dòng chuyển tiền bên ngoài vào Myanmar là 2,91 triệu USD, trong đó 29% xuất phát từ Thái Lan. Trong khi đó ước tính khoảng 2,5 triệu người nhập cư vào Thái Lan hiện chưa được đưa vào thống kê và chưa được tiếp cận các dịch vụ tài chính chính thức. Vì vậy, các quốc gia cần tạo lập khung chính sách về tăng cường cung cấp các dịch vụ tài chính chính thức xuyên biên giới cho những người nhập cư chưa được thống kê.

Chuyển hóa hành lang cơ sở hạ tầng sang hành lang kinh tế

Xét tầm quan trọng của mối quan hệ giữa kinh tế và địa lý, việc thúc đẩy xây dựng vùng kinh tế trọng điểm, trung tâm phát triển đô thị, vấn đề đặt ra đối với chính sách hiện nay là phải tìm ra phương thức rút ngắn khoảng thời gian giữa đầu tư cơ sở hạ tầng và hoạt động kinh tế phụ trợ.

Trong bối cảnh kết nối ASEAN, Tài chính toàn diện sẽ giúp giảm thời gian chuyển hóa các hành lang cơ sở hạ tầng thành hành lang kinh tế vì tài chính toàn diện tạo điều kiện cho doanh nghiệp siêu nhỏ và nhỏ có thể tham gia đầu tư cơ sở hạ tầng và chuỗi cung ứng mới.

32.1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến tài chính toàn diện

– Vai trò của Nhà nước

Khi xét trên quan điểm của kinh tế học vĩ mô, vấn đề người nghèo không tiếp cận được các dịch vụ tài chính vì họ thiếu năng lực tài chính và kinh tế là một biểu hiện của thất nghiệp, đói nghèo và bất bình đẳng.

Trước tình hình đó, Chính phủ cần can thiệp vào thị trường để đảm bảo tất cả mọi người đều có đủ năng lực kinh tế – tài chính. Các chương trình chính sách mà Chính phủ có thể triển khai gồm: chương trình xóa đói giảm nghèo và an ninh xã hội (trợ giúp xã hội theo từng hộ gia đình, phát triển trên nền tảng cộng đồng dân cư, phát triển các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ).

Những chương trình chính sách trên cần có định hướng và chiến lược thực thi rõ ràng và mạnh mẽ để có thể giải quyết được hai thách thức chính gồm: (i) Năng lực tài khóa và quản lý tài khóa; (ii) Xây dựng cơ sở hạ tầng phân phối và chính sách chuyển giao từ Chính phủ đến người dân (G2P) một cách hợp lý.

Tại Indonesia, để giải quyết vấn đề về hạn chế tiếp cận dịch vụ tài chính, Chính phủ đã lập chương trình chính sách bao gồm Chiến lược quốc gia về tài chính toàn diện gồm sáu trụ cột là: (i) Giáo dục tài chính; (ii) Cơ chế tài chính công; (iii) Cách tổ chức, sắp xếp thông tin tài chính; (iv) Quy định về hỗ trợ; (v) Cơ chế trung gian và các kênh phân phôi; (vi) Bảo vệ người tiêu dùng.

– Sự phát triển của thị trường chuyển tiền

Về cơ bản, chuyển tiền là hoạt động thanh toán những khoản có giá trị thấp giữa các thể nhân xuyên biên giới. Chuyển tiền có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế và tài chính toàn diện trong điều kiện mối liên kết giữa chuyển tiền và tài chính toàn diện đủ mạnh.

Mối quan hệ giữa chuyển tiền và tài chính toàn diện là chủ đề đang được nhiều nhà hoạch định chính sách quan tâm. Để thúc đẩy dòng tiền lưu chuyển, thị trường chuyển tiền phải có tính minh bạch, bảo vệ người tiêu dùng, khung pháp lý điều tiết hợp lý và đảm bảo những tiêu chuẩn liên quan đến cơ sở hệ thống thanh toán, điều kiện thị trường, cạnh tranh và quản lý rủi ro. Những nguyên tắc để tạo lập một thị trường chuyển tiền hiệu quả hiện đang được quy định tại Nguyên tắc chung của Ngân hàng thế giới trong dịch vụ chuyển tiền quốc tế CPSS.

Chuyển tiền tác động đến tài chính toàn diện theo nhiều phương thức. Về mặt chi phí, khi chi phí chuyển tiền giảm sẽ giúp tăng cường nhu cầu và lượng chuyển tiền, từ đó thúc đẩy tăng trưởng và giảm nghèo đói. Tác động của chuyển tiền đối với phát triển kinh tế sẽ mạnh hơn khi có những nhân tố xúc tác như quyền lợi người tiêu dùng được đảm bảo, nhận thức đầy đủ về dịch vụ tài chính của người gửi tiền và nhận tiền, thông tin về chuyển tiền với mục đích cho vay, mức độ tiếp cận cao các dịch vụ tài chính của người gửi và người nhận tiền. Ngoài ra, tăng lượng tiền gửi tiết kiệm cũng giúp tăng đầu tư và chi tiêu của các hộ gia đình. Hướng tới phát triển quy mô của thị trường chuyển tiền, Báo cáo của Ngân hàng thế giới cho G20 đưa ra một số khuyến nghị về nâng cao ý thức tiết kiệm của người nhận tiền như: ưu đãi khi mở tài khoản tiền gửi tiết kiệm, hiện đại hóa dịch vụ chuyển tiền và hệ thống thanh toán bán lẻ và hệ thống quản lý chuyển tiền.

– Sự phát triển của các công cụ tài chính phòng tránh rủi ro

Rủi ro và tính dễ bị tổn thương là những yếu tố kìm hãm sự phát triển của con người và nền kinh tế. Một số cú sốc như thảm họa thiên tai, suy thoái kinh tế, tình hình thời tiết xấu, bệnh tật, bi kịch cá nhân sẽ tác động xấu đến sinh kế con người và cản trở việc cung cấp các dịch vụ dinh dưỡng, giáo dục và y tế. Những cú sốc này sẽ có ảnh hưởng lớn nhất đối với người nghèo là những người có ít tài sản vật chất và có mức độ tiếp cận các dịch vụ tài chính chính thức còn thấp.

Bên cạnh những công cụ hỗ trợ như mạng lưới tiết kiệm công, hệ thống tương trợ tài chính, có một số giải pháp tương đối mới giúp cho người lao động nghèo quản lý rủi ro là tăng cường mức độ tiếp cận các dịch vụ bảo hiểm và giải pháp về phát triển thị trường vốn.

+ Bảo hiểm vi mô

Bảo hiểm vi mô mang lại mức độ bảo vệ cao hơn so với tiết kiệm và tín dụng vì tín dụng và tiết kiệm chỉ giới hạn trong số tiền mà hộ gia đình tiết kiệm, chưa kể đến chi phí thời gian và chi phí giao dịch phát sinh trong quá trình rà soát hồ sơ khách hàng khi cho vay, đặc biệt là khi vay vốn với mục đích sản xuất kinh doanh.

Trong khi đó,bảo hiểm giúp phân bố rủi ro trên nhiều người ở một mức đóng phí bảo hiểm thấp trên một đầu người. So sánh với số tiền mà hộ gia đình phải chi trả khi rủi ro xảy ra, mức đóng phí bảo hiểm là khá thấp và chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ trong ngân sách của hộ gia đình. Các hình thức bảo hiểm khác nhau phụ thuộc vào đặc tính của rủi ro là cá biệt (những cú sốc ở cấp độ hộ gia đình như chết, tổn thương hoặc thất nghiệp) hay rủi ro cơ bản hay cú sốc có tính hiệp biến (rủi ro xuất phát từ sự tác động tương hỗ thuộc về mặt kinh tế, chính trị, xã hội như thảm họa thiên tai). Rủi ro cá biệt thường có tác động ít đến tiêu dùng, trong khi rủi ro cơ bản thường khiến cho tiêu dùng giảm. Các sản phẩm bảo hiểm vi mô phổ biến được liệt kê trong Biểu 32.2

Bảng 32.1. Các sản phẩm bảo hiểm vi mô phổ biến

Sản phẩm

Phạm vi bảo hiểm

Lợi ích

Bảo hiểm y tế

Chi phí khám chữa bệnh, chăm sóc cơ bản và bệnh tật nghiêm trọng

Khám chữa bệnh khi ốm đau, bệnh tật

Phát an tín dụng (Credit life)

Bảo hiểm nhân thọ kèm theo tín dụng vi mô

Bảo vệ người cho vay khi người vay tử vong hay thương tật toàn bộ vĩnh viễn

Bảo hiểm nhân thọ

Bảo hiểm hỗn hợp, Bảo hiểm sinh kỳ, Bảo hiểm tử kỳ, Bảo hiểm tàn tật

Chi trả tiền khi người được bảo hiểm gặp rủi ro tử vong hoặc mất thu nhập

Hưu trí

Trong giới hạn mức đầu tư hoặc mức đóng góp

Nhận niên kim

Bảo hiểm phi nhân thọ

Tai nạn hoặc tàn tật

Bảo hiểm nhà cửa

Chi trả tiền khi gặp tai nạn, tàn tật.

Chi trả tiền khi mất tài sản

Doanh nghiệp vừa, nhỏ và siêu nhỏ

Tài sản doanh nghiệp, kho hàng; Đình trệ kinh doanh

Bồi thường khi mất tài sản

Nông nghiệp

Mất mùa màng do thời tiết, vật nuôi chết.

Bồi thường thiệt hại về lợi tức, bệnh dịch, thiên tai

+ Sự áp dụng các sản phẩm tài chính tiên tiến

Sự phát triển của các công cụ tài chính đang trong những năm gần đây có thể áp dụng triển khai đối với quản lý rủi ro cho các hộ gia đình, ví dụ như bảo hiểm chỉ số để phòng vệ rủi ro thời tiết, giá cả và các rủi ro liên quan đến nông nghiệp khác.

Ngoài ra có thể khai thác những sản phẩm trong tài chính nông thôn như tiết kiệm nông thôn, tín dụng, tài trợ vốn chủ sở hữu, tài trợ chuỗi giá trị, đầu tư trên cơ sở chuyển tiền.

+ Bảo vệ xã hội

Bên cạnh các công cụ tài chính nêu trên, hệ thống bảo vệ xã hội quốc gia cũng đóng vai trò quan trọng đối với thúc đẩy tài chính toàn diện. Nhiều nước đã lập chương trình quốc gia nhằm giảm thiểu tính dễ tổn thương của người nghèo và hộ gia đình thu nhập thấp, đặc biệt trong nền kinh tế không chính thức. Hệ thống bảo vệ xã hội giúp giảm ảnh hưởng của những biến động giá và là một công cụ chính sách bảo vệ người nghèo trong ngắn hạn. Ngoài ra, những khoản chuyển tiền có điều kiện để phục vụ cho tiêm chủng hoặc đào tạo của hộ gia đình rất nghèo không chỉ có tác động trong ngắn hạn mà trong dài hạn sẽ giúp phá vỡ hiện trạng đói nghèo liên thế hệ.

+ Bảo hiểm cho cộng đồng

Bảo hiểm cho cộng đồng là công cụ cho thấy những tác động tích cực tiềm năng đối với xóa nghèo đói. Trong đó, Đề án về bảo hiểm y tế cộng đồng (Community – Based Health Insurance – CHBI) do các quỹ tương hỗ và hợp tác xã điều phối. Bảo hiểm y tế cộng đồng giúp tiết kiệm chi phí hơn so với mua bảo hiểm y tế cho từng cá nhân và giảm thiểu sự lựa chọn đối nghịch vì mức độ rủi ro được phân chia vào từng nhóm.

+ Tài trợ rủi ro thiên tai

Tổn thất kinh tế và mức bồi thường bảo hiểm do thiên tai và thảm họa tự nhiên quá lớn nên việc Nhà nước tham gia hỗ trợ có thể tạo gánh nặng cho ngân sách và ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế. Do vậy, Công cụ tài trợ rủi ro thiên tai DRF (ex ante and ex post finance disaster risk financing) có thể đảm bảo các nguồn lực cần thiết giúp cho Chính phủ, doanh nghiệp và cá nhân quản lý được hậu quả xấu của thiên tai, từ đó ổn định tài chính và kinh tế quốc gia.

Công cụ DRF giảm thiểu mất mát tài chính do rủi ro được chuyển giao theo cơ chế tài chính đặc biệt. Công cụ Ex ante DRF bao gồm lập quỹ dự trữ, tín dụng tương lai (contingent credit), sản phẩm chuyển giao rủi ro, tái bảo hiểm và bảo hiểm thông số (parametric insurance) cùng với trái phiếu thảm họa (catastrophe bonds). Công cụ Ex post DRF bao gồm tái phân bổ ngân sách vốn, tín dụng trong nước và nước ngoài, tài trợ.

Bảng 32.2. Cơ chế tài trợ tổn thất đối với rủi ro thiên tai

Chuyển giao tài trợ thiệt hại

– Bảo hiểm/ Tái bảo hiểm thảm họa

– Trái phiếu thảm họa

– Công cụ giao dịch

– Phái sinh thời tiết

– Nhóm thảm họa

Bảo hiểm truyền thống

– Cho vay khẩn cấp từ các tổ chức đa phương hoặc cơ quan chuyên trách

– Cho vay tái thiết

Tài trợ ngăn ngừa

– Quỹ ngăn ngừa và giảm thiểu

– Quỹ phát triển: đô thị, xã hội

– Vay vốn giảm thiểu rủi ro

– Vay vốn ngăn chặn rủi ro

– Hỗ trợ quốc tế

Tài trợ thiệt hại

– Tự tài trợ

– Quỹ thiên tai: quỹ dự trữ

– Chuyển giao ngân sách Chính phủ

– Tái cơ cấu các khoản vay hiện tại

– Tài trợ quốc tế

– Tín dụng tương lai

+ Đối tác công tư

Đối tác bảo hiểm công tư (PPPs) có vai trò quan trọng đối với tài trợ thiên tai, rủi ro về sức khỏe và nông nghiệp. Chính phủ sẽ sử dụng PPPs (gồm các giải pháp về bảo hiểm/ tái bảo hiểm và thị trường vốn) để xác định, đánh giá, giảm thiểu, chuyển giao và tài trợ trong trường hợp xảy ra rủi ro, từ đó các bên liên quan sẽ nhận thức được hậu quả khi rủi ro xảy ra (Bảng 1.2)

– Mức độ tiếp cận các dịch vụ tài chính của doanh nghiệp vừa và nhỏ

Tài chính toàn diện là một công cụ mang lại lợi ích cho mọi cá nhân, doanh nghiệp siêu nhỏ cũng như doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs)cũng như khu vực tài chính chính thức. Là một trong những chủ thể tiếp nhận tài chính toàn diện, SMEs không chỉ cần hỗ trợ về tài chính mà còn cần được đào tạo kỹ năng kinh doanh, được tiếp cận dịch vụ marketing để họ có thể mở rộng doanh nghiệp trên thị trường trong nước và quốc tế.

Hiện nay, các nhà nghiên cứu chưa thể định lượng được tác động của tài chính vi mô – một cấu phần của tài chính toàn diện – đối với tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm và xóa đói giảm nghèo. Tuy nhiên, trên thực tế tình hình hoạt động của SMEs tốt hơn sẽ ảnh hưởng tích cực lên tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm và hoạt động xóa nghèo đói. Điều đó phần nào khẳng định vai trò của SMEs là một trong những động lực của tăng trưởng kinh tế.

SMEs là nhóm chủ thể không đồng nhất, có từ 50 đến 300 nhân viên, với giá trị tài sản và doanh thu hàng năm đạt từ 3 triệu đến 15 triệu USD. Nhu cầu vốn của SMEs khá đa dạng bao gồm tín dụng dài hạn và ngắn hạn, các sản phẩm tiền gửi và tiết kiệm, chủ yếu được đáp ứng bởi khu vực ngân hàng và các thể chế tài chính vi mô. Tuy nhiên ngân hàng và các tổ chức tài chính này chưa đáp ứng đủ nhu cầu của SMEs, khoảng cách giữa cung và cầu vốn của SMEs tại các thị trường mới nổi lên tới 750 tỷ USD. Nguyên nhân của tình trạng này là do các ngân hàng đưa SMEs vào nhóm đối tượng quá nguy hiểm và không tạo ra lợi nhuận.

32.2. Một số nét về thực trạng áp dụng tài chính toàn diện

32.2.1. Thực trạng triển khai tài chính toàn diện ở cấp độ khu vực ASEAN

32.2.1.1. Toàn cảnh chung:

Nhìn chung, mức độ triển khai tài chính toàn diện trong khu vực ASEAN có sự khác nhau rõ rệt giữa các quốc gia.

Cụ thể, mối liên kết giữa tài chính toàn diện và chuyển tiền tại khu vực ASEAN có sự phân hóa. Theo Cơ sở dữ liệu Tài chính toàn diện toàn cầu, phần đông những người trưởng thành ở Malaysia (66,17%), Singapore (98,22%) và Thái Lan (72,66%) có tài khoản ngân hàng tại các tổ chức tài chính. Những nước ASEAN còn lại, tỷ lệ người trưởng thành có tài khoản ngân hàng khá thấp. Xét về mức độ sử dụng tài khoản, trung bình 15% người trưởng thành sử dụng tài khoản ngân hàng để nhận tiền, tỷ lệ này ở Philippines, Thái Lan tương ứng là 13,5% và 17%. Tuy nhiên, tại nhiều nước ASEAN như Campuchia (5%), tỷ lệ sử dụng tài khoản chuyển tiền rất thấp.

Do có sự phân hóa về mức độ triển khai tài chính toàn diện, chính sách về tài chính toàn diện tại mỗi quốc gia trong ASEAN cũng khá đa dạng. Biểu 2.1 mô tả mức độ gắn kết của chính sách tài chính toàn diện với hiện trạng phát triển của ba nhóm quốc gia. Hoạt động triển khai chính sách tài chính toàn diện tương ứng với ba nhóm nước là:

– Tập trung vào tài chính vi mô

Trong khu vực ASEAN, Myanmar, Campuchia và Việt Nam có tổng tín dụng cao hơn các khoản tiết kiệm trong nước, Lào có mức tín dụng toàn quốc tương đương tiết kiệm. Do vậy, các quốc gia này đang tập trung vào tài chính vi mô và phát triển hành lang pháp lý cho tăng cường tín dụng.

Cụ thể, Việt Nam đang tái cơ cấu Quỹ tín dụng nhân dân (PCF), mở rộng hoạt động của quỹ này đến khu vực nông thôn, xây dựng hệ thống tài chính vi mô bền vững hướng đến hộ gia đình thu nhập thấp và các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ. Chính phủ Campuchia đã ban hành Chiến lược tài chính toàn diện trước tình hình tăng trưởng nhanh của khu vực tài chính vi mô từ những năm 1990.

Myanmar đã chú trọng triển khai tài chính vi mô bằng việc bổ nhiệm Cơ quan giám sát tài chính vi mô và Luật thương mại tài chính vi mô 2011. Tại Lào, hoạt động xóa nghèo đói đang được đề cao trong Chiến lược xóa nghèo đói và phát triển quốc gia. Chiến lược này giúp tạo động lực cho cải cách cung ứng dịch vụ tài chính vi mô.

– Xây dựng nền tảng tài chính toàn diện quốc gia

Chiến lược tổng thể về tài chính toàn diện của Thái Lan bao gồm ba trụ cột gồm: (i) cải thiện cung cấp dịch vụ thanh toán, tín dụng, tiết kiệm và bảo hiểm; (ii) tăng nhu cầu thông qua giáo dục tài chính và (iii) cải thiện chất lượng cơ sở hạ tầng quản lý tài chính trên cơ sở cải thiện hệ thống dữ liệu và cơ cấu lại cách thức quản lý.

Indonesia xây dựng Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia hướng đến ba mục tiêu là phát triển đồng đều, xóa đói giảm nghèo và ổn định hệ thống tài chính. Đồng thời cam kết sẽ tạo lập văn hóa tiết kiệm trong Indonesia.

Philippines mặc dù chưa xây dựng khung pháp lý cụ thể về kế hoạch tài chính toàn diện, nhưng đã phát triển khung pháp lý về bảo hiểm vi mô và tài chính vi mô và là một trong những nước dẫn đầu khu vực về dịch vụ thanh toán điện tử.

Malaysia đã đưa nội dung tài chính toàn diện vào Kế hoạch tổng thể khu vực tài chính 2011-2012. Trong cam kết tuyên bố Maya, Ngân hàng trung ương Malaysia đặt mục tiêu 90% tổng số 837 quận với 2 nghìn người trưởng thành được tiếp cận với ít nhất một điểm cung cấp dịch vụ tài chính trước năm 2014 và 95% số người trưởng thành tiếp cận được dịch vụ ngân hàng.

– Xây dựng thị trường vững mạnh về dịch vụ tài chính bán lẻ

Singapore và Brunei chiếm 1/3 nhóm các thị trường mạnh về dịch vụ tài chính bán lẻ, trong đó hầu hết các hộ gia đình sử dụng nhiều loại dịch vụ tài chính khác nhau.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Biểu đồ 32.1. Mối liên hệ giữa định hướng chính sách và
mức độ phát triển của thị trường trong khu vực ASEAN

32.2.1.2 Xét riêng về thị trường chuyển tiền đến các nước đang phát triển và các nước trong ASEAN

Trong bối cảnh dòng chuyển tiền toàn cầu tăng trưởng đều đặn, dòng chuyển tiền chính thức đến các nước đang phát triển ước đạt 435 tỷ USD trong năm 2014 và tăng đến 454 tỷ USD trong năm 2015. Quy mô chuyển tiền gấp hơn hơn 3 lần so với tổng tài trợ phát triển chính thức. Chi phí chuyển tiền trung bình (200 USD) cho thấy mức độ an toàn và hiệu quả của dịch vụ chuyển tiền quốc tế, đã giảm từ 10% xuống 8% trong năm 2009.

Khu vực ASEAN với hơn 625 triệu dân có tốc độ tăng trưởng kinh tế khá ấn tượng trong một thập kỷ qua. Trong năm 2013, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của khu vực đạt 2,4 nghìn tỷ USD, tăng 5,1% so với năm 2012. Theo thống kê của Ngân hàng thế giới, tổng giá trị chuyển tiền đến các nước ASEAN lên đến 52 triệu USD vào năm 2013. Philippines, Việt Nam và Indonesia là 3 nước nhận chuyển tiền lớn nhất về mặt giá trị. Xét về tỷ trọng giá trị chuyển tiền trên GDP, Philippines và Việt Nam cũng đứng trong nhóm hai nước nhận chuyển tiền nhiều nhất với tỷ lệ tương ứng là 10% và 6%.

Bảng 32.3. Dòng chuyển tiền vào khu vực ASEAN từ năm 2010 – 2014 (triệu USD)

 

Thời gian

Quốc gia

2010

2011

2012

2013

2014

(số liệu ước tính)

Tỷ lệ chuyển tiền/ GDP (%)

Brunei

N/A

N/A

N/A

N/A

N/A

N/A

Campuchia

153

160

172

176

176,1

0,2%

Indonesia

6.916

6.924

7.212

7.615

8.353

0,9%

Lào

42

110,5

9

59,5

9

0,5%

Malaysia

1.103

1.211

1.320

1.396

1.590

0,4%

Myanmar

115

127,5

66

566

566

N/A

Philippines

21.557

23.054

24.610

26.700

28.382

9,8%

Singapore

N/A

N/A

N/A

N/A

N/A

N/A

Thái Lan

3.580

4.554

4.713

5.690

5.935

1,5%

Việt Nam

8.260,8

600

10.000

11.000

11.403,6

4%

TỔNG

41.725

44.741

48.651

53.201

56.463

 

 Nhìn chung, thị trường chuyển tiền trong khu vực ASEAN chưa phát triển cao. Khảo sát Hệ thống thanh toán toàn cầu của Ngân hàng thế giới năm 2010 cho thấy rằng chỉ có 2 quốc gia trong khu vực (nổi bật là Philippines) có chế độ bảo vệ cho người sử dụng dịch vụ tài chính. Về mức độ minh bạch, có bốn nước đã luật hóa quy định thông báo về phí chuyển tiền, năm nước đã yêu cầu các nhà cung cấp dịch vụ chuyển tiền công khai tỷ giá hối đoái. Những thỏa thuận đặc biệt với các nhà cung cấp dịch vụ khác được cho phép ở mọi quốc gia trừ Indonesia.

ASEAN có hạ tầng cơ sở hệ thống thanh toán phát triển ở các cấp độ khác nhau. Hệ thống thanh toán là một cấu phần quan trọng để xây dựng thị trường chuyển tiền an toàn và hiệu quả. Nhóm ASEAN-5 (gồm Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore và Thái Lan) có hệ thống thanh toán quốc gia khá phát triển, ngược lại với nhóm BCLMV vẫn đang trong giai đoạn hiện đại hóa cơ sở hệ thống thanh toán. Trong năm 2006, Mạng lưới thanh toán châu Á được hình thành với mục tiêu tăng cường giao dịch thanh toán xuyên biên giới. Một vài nhà cung cấp dịch vụ chuyển tiền đã sử dụng mạng lưới này phục vụ cho các giao dịch xuyên biên giới. Các ngân hàng trung ương khu vực ASEAN đang tìm kiếm phương thức tích hợp các hệ thống thanh toán khu vực. Tuy nhiên, hầu hết các khoản tiền được gửi vẫn dưới dạng tiền mặt.

Mức độ phát triển của dịch vụ chuyển tiền quốc tế cũng khá khác biệt giữa các quốc gia trong ASEAN. Thị trường chuyển tiền của Malaysia và Singapore có tính cạnh tranh cao vì chi phí chuyển tiền khá thấp. Những nhà cung cấp dịch vụ chuyển tiền (Remittance Service Providers) tại hai quốc gia trên có thể là ngân hàng hoặc tổ chức tài chính phi ngân hàng, bên cạnh nhà điều phối chuyển tiền quốc tế (International money transfer operators – MTOs) như Western Union và MoneyGram. Thị trường chuyển tiền Indonesia đang thay đổi nhanh chóng vì tất cả các nhà cung cấp dịch vụ chuyển tiền phi ngân hàng phải hợp nhất và được cấp phép hoạt động. Trong khi đó, Campuchia, Lào và Myanmar chỉ cho phép ngân hàng được tiến hành chuyển tiền. Ngân hàng tại các nước này đóng vai trò là đối tác của các MTO. Chi nhánh của ngân hàng rất ít ỏi, thỏa thuận đặc biệt giữa MTO với các ngân hàng trong nước có tác động tiêu cực đối với mức độ cạnh tranh của thị trường chuyển tiền trong nước.

32.2.1.3 Về tình hình triển khai tài chính vi mô trong ASEAN

Tiếp cận với các dịch vụ tài chính của doanh nghiệp vừa và nhỏ bị hạn chế vì các ngân hàng tỏ ra thận trọng trong việc rà soát kế hoạch kinh doanh, báo cáo tài chính đã kiểm toán, tính minh bạch của báo cáo tài chính. Ngân hàng hành động thận trọng như vậy để giảm bớt sự bất cân xứng thông tin và để dễ dàng xác định mức độ tín nhiệm của doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Dữ liệu về tài chính toàn diện cho doanh nghiệp vừa, nhỏ và siêu nhỏ hiện chưa được thống kê đầy đủ. Tuy nhiên nhiều thông tin không chính thức công bố rằng doanh nghiệp vừa, nhỏ và siêu nhỏ tại các nước đang phát triển, vẫn dựa vào nguồn tài trợ của gia đình, bạn bè, tiết kiệm cá nhân và các chủ nợ khác. Nguồn tài trợ không chính thức này thường tạo ra chi phí cao cho doanh nghiệp khi vay vốn.

Chính phủ đang dần nhận thức được vai trò quan trọng của doanh nghiệp vừa và nhỏ trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm. Tại nhiều nước đang phát triển, doanh nghiệp vừa và nhỏ đang đóng góp 90% tổng sản phẩm quốc nội và thu hút tỷ trọng cao nguồn nhân lực của quốc gia. Đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ, việc tiếp cận nguồn vốn từ khu vực tài chính sẽ giúp quản lý rủi ro, tránh trường hợp phải cắt giảm chi tiêu để tài trợ cho xây dựng mới và vận hành hoạt động sản xuất, kinh doanh.

32.2.2. Thực trạng triển khai tài chính toàn diện tại Malaysia

Trong ASEAN, Malaysia là một nước thành công trong việc thiết lập và triển khai các sáng kiến và chính sách tài chính toàn diện dựa trên cơ sở về dữ liệu cung và cầu. Đồng thời, Malaysia cũng được thiết lập khung khổ giám sát hệ thống triển khai tài chính toàn diện.

– Dịch vụ tài chính đa dạng

Tại Malaysia có rất nhiều các tổ chức cung cấp dịch vụ tài chính. Chiến lược trọng tâm của tài chính toàn diện là tăng cường năng lực của các thể chế tài chính do Ngân hàng trung ương Malaysia quản lý (gồm ngân hàng thương mại, Ngân hàng Islamic, Thể chế tài chính phát triển, công ty bảo hiểm, cơ quan điều phối hệ thống thanh toán. Trong khi đó, nhóm các trung gian tài chính phi ngân hàng do các Bộ, Ngành trong Chính phủ quản lý (Quỹ hưu trí, Tổ chức tài chính vi mô, Quỹ hội đồng người hành lễ, Tổ chức tín dụng bất động sản, chủ nợ, môi giới). Nhiều sáng kiến được Malaysia triển khai trong hơn một thập kỷ qua trong đó Malaysia đã quản lý tốt dữ liệu triển khai tài chính toàn diện và tiến hành các phương pháp đo lường phù hợp.

– Thu thập dữ liệu về cung và cầu dịch vụ

Vụ Dịch vụ thống kê thuộc Ngân hàng trung ương Malaysia (BNM) là đầu mối thu thập, biên soạn, phổ biến dữ liệu từ các định chế ngân hàng, địn chế tài chính phát triển, cơ quan điều phối thanh toán và các công ty bảo hiểm. Dữ liệu về cung – cầu dịch vụ tạo ra một công cụ định lượng trong hoạch định và đánh giá chính sách. Khảo sát cung-cầu về tài chính toàn diện đầu tiên mà Malaysia thực hiện vào năm 2011 đã đo lường được mức độ tài chính toàn diện ở Malaysia. Trong bản Khảo sát thứ hai vào cuối năm 2014, Malaysia đã đo lường được mức độ hiệu quả của các sáng kiến thực thi khi so sánh với bản Khảo sát năm 2011.

– Thông tin về tín dụng

Một trong những cản trở việc tiếp cận tín dụng là thiếu thông tin về lịch sử tín dụng đáng tin cậy. Để giải quyết vấn đề này, BNM đã phát triển trung tâm thông tin tín dụng giúp tăng cường tiếp cận tín dụng của người đi vay. Hệ thống thông tin tham chiếu tín dụng trung ương (CCRIS) đã thành lập vào năm 2011 với mục tiêu thu thập thông tin tín dụng từ tất cả các tổ chức tài chính do BNM quản lý. Cơ sở dữ liệu này giúp cho các định chế tài chính đánh giá đúng khi cho vay, ngân hàng trung ương quản lý hiệu quả hơn rủi ro tín dụng trong hệ thống tài chính và hướng người sử dụng tới việc xây dựng lịch sử tín dụng tích cực.

Trung tâm thông tin tín dụng Malaysia thành lập vào năm 2008 đang hỗ trợ SMEs xây dựng thông tin lịch sử tín dụng uy tín từ các giao dịch với nhà cung cấp, chủ thuê đất, công ty dịch vụ công ích. Trung tâm thông tin tín dụng cũng áp dụng phương pháp ghi điểm tín dụng toàn diện để giúp các thể chế tài chính nắm được mức độ tín nhiệm của các khách hàng tiềm năng. Ngoài ra Trung tâm thông tin tín dụng Malaysia cũng là cơ quan đào tạo doanh nghiệp vừa và nhỏ về cách tính toán điểm tín dụng, cách thức người đi vay cải thiện hoạt động sản xuất kinh doanh và giao dịch nhằm tăng điểm tín dụng. Tính đến cuối năm 2013, Trung tâm thông tin tín dụng Malaysia đã tiếp nhận bản kê khai từ 28.435 doanh nghiệp vừa và nhỏ, trên cơ sở đó Trung tâm đã lập được 1,4 triệu bản đánh giá từ các bản kê khai này.

– Khung khổ điều hành ngân hàng đối tác

Là một trong những sáng kiến quan trọng trong Lộ trình ổn định tài chính giai đoạn 2011-2020, BNM đã đưa ra Khung khổ Ngân hàng đối tác vào năm 2012 để tăng cường sự tiếp cận với dịch vụ tài chính có chất lượng và chi phí hợp lý, đặc biệt là tiếp cận của những người ở khu vực hẻo lánh. Ngân hàng đối tác là cách thức cung câp dịch vụ ngân hàng của các định chế tài chính thông qua đối tác thứ ba như văn phòng bán lẻ hoặc bưu điện. Sáng kiến ngân hàng đối tác hiện đang phát huy nhiều kết quả tích cực. Ba định chế tài chính là Malayan Banking Berhad, RHB Bank Berhad và Bank Simpanan Nasional đang tạo lập được mạng lưới gồm 4.120 đối tác tính đến cuối tháng 12/2012, bao gồm cả văn phòng bán lẻ, bưu điện và trạm xăng.

Khung khổ Ngân hàng đối tác chỉ sau một năm triển khai đã có tác động lớn đến hoạt động cung cấp dịch vụ tài chính cho nền kinh tế Malaysia. Số lượng các tiểu quận nhận được dịch vụ tài chính tăng lên 92,5% (từ mức 46,4% vào năm 2011), vượt qua mục tiêu là 90% tính đến cuối năm 2014.

– Chỉ số tài chính toàn diện

BNM đã đưa ra chỉ số tài chính toàn diện vào năm 2012 để đo lường tính hiệu quả khi triển khai Lộ trình ổn định tài chính giai đoạn 2011-2020. Chỉ số này được xây dựng trên bốn khía cạnh của tài chính toàn diện bao gồm sự tiếp cận tiện lợi, tỷ lệ tiếp nhận tài chính toàn diện, mức độ sử dụng và mức độ hài lòng. Bốn nhân tố này có vai trò ngang nhau khi xác định chỉ số tài chính toàn diện. Sau khi thu thập dữ liệu về chỉ số tài chính toàn diện trên toàn quốc, dữ liệu tiếp tục được đưa vào tính toán chỉ số, kết quả sẽ nằm trong khoảng từ 0 (chưa được tiếp cận dịch vụ tài chính) đến 1 (tiếp cận toàn diện).

– Khung khổ tiết kiệm vi mô theo hợp đồng dài hạn

Ngoài ra, phát triển đa dạng các sản phẩm và dịch vụ phục vụ cho nhu cầu của mọi người dân là một trong những chiến lược trọng tâm trong Lộ trình ổn định tài chính 2011. Trong đó bao gồm tăng cường cung cấp các sản phẩm tiết kiệm vi mô theo hợp đồng dài hạn với các khoản tiết kiệm cam kết định kỳ thấp và mức lợi suất hợp lý cho các hộ gia đình thu nhập thấp. Khi triển khai các sản phẩm này cũng đồng thời tạo thói quen tiết kiệm để đạt được những mục tiêu dài hạn về giáo dục, mua nhà, xây dựng cơ sở sản xuất, kinh doanh.

Trong Bản khảo sát nhu cầu tài chính toàn diện năm 2011 của Malaysia, 68% dân số Malaysia thực hành tiết kiệm. Bản khảo sát nhận thức tài chính trắng cho OECD nhận định rằng 76% người thu nhập thấp chỉ giữ được khoản tiết kiệm trong thời gian tối đa là 1 tháng. Do vậy, Chính phủ Malaysia cần xây dựng một cơ chế hợp lý để tăng cường tiết kiệm của người nghèo như Khung khổ tiết kiệm vi mô theo hợp đồng dài hạn.

Đánh giá chung về triển khai Tài chính toàn diện tại Malaysia:

Để đạt được mục tiêu tài chính toàn diện, quốc gia cần lập những mục tiêu cụ thể. Để đo lường được những mục tiêu này, cần xây dựng một hệ thống dữ liệu cập nhật và đáng tin cậy. Từ đó, Nhà nước có thể phân tích tình hình tài chính toàn diện, xác định khoảng cách giữa cung và cầu, xây dựng khung chính sách hiệu qủa, so sánh được kết quả triển khai với các quốc gia khác, giám sát tiến độ và đo lường tác động của những chính sách này. Đồng thời hoạt động thu thập dữ liệu cũng tăng cường sự phối hợp giữa Nhà nước và các bên liên quan cũng đồng thời là người sử dụng dữ liệu.

32.2.3. Thực trạng triển khai tài chính toàn diện tại Việt Nam

Việt Nam hiện chưa có chiến lược chung để phát triển Tài chính toàn diện. Việt Nam mới chỉ dừng ở giai đoạn đầu là tập trung phát triển tài chính vi mô thông qua Đề án xây dựng và phát triển hệ thống tài chính vi mô tại Việt Nam đến năm 2020 theo Quyết định số 2195/QĐ-TTg ngày 6/12/201. Theo đó Việt Nam xác định mục tiêu xây dựng và phát triển hệ thống tổ chức tài chính vi mô (TCVM) an toàn, bền vững, hướng tới phục vụ người nghèo, người có thu nhập thấp, các doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ, góp phần thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về đảm bảo an sinh xã hội.

Việt Nam hiện có 2 tổ chức TCVM được Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cấp phép và 75 chương trình, dự án TCVM tại 23 tỉnh, thành phố của các tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, Qũy từ thiện, Qũy xã hội (các tổ chức phi chính phủ). Ngoài ra còn có Ngân hàng Chính sách xã hội và Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam là hai tổ chức tín dụng của Nhà nước cung cấp chương trình tín dụng hộ nghèo.

 Hoạt động TCVM với đặc điểm là các dịch vụ tiết kiệm hoặc khoản vay tín dụng nhỏ, không cần tài sản thế chấp và dịch vụ cung cấp phục vụ tận thôn xóm, thủ tục nhanh gọn, kịp thời phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương, tổ chức đoàn thể (đặc biệt là Hội Phụ nữ). Dịch vụ chủ yếu cung cấp cho những người dân nghèo, cận nghèo, người có thu nhập thấp và có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn ở các vùng còn nghèo của đất nước để phát triển kinh tế gia đình. TCVM tại Việt Nam đã tiếp cận được nhóm đối tượng không thể tiếp cận nguồn tín dụng khác.

Việt Nam đang tiếp nhận hai hỗ trợ kỹ thuật (HTKT) của ADB về phát triển tài chính vi mô và WB về hỗ trợ xây dựng khung về Tài chính toàn diện do NHNN chủ trì. Trong đó, ADB đã phê duyệt Chương trình Phát triển tài chính vi mô theo hướng tiếp cận chương trình với khoản vay dựa trên chính sách để triển khai tiểu chương trình 1 với khoản vay trị giá 40 triệu USD và hỗ trợ kỹ thuật 0,5 triệu USD đi kèm.

Chương trình đã xác định 4 yêu cầu chính Việt Nam còn thiếu và cần được giải quyết như sau:

(i) Môi trường chính sách và pháp lý thuận lợi. Để phát triển ngành tài chính vi mô phổ cập và bền vững cần có một môi trường chính sách và pháp lý thuận lợi, bao gồm các chính sách phát triển quan trọng và các quy định của ngành ngân hàng nhằm thúc đẩy phát triển ngành tài chính vi mô.

(ii) Tăng cường năng lực giám sát để đảm bảo công tác quản lý và giám sát hoạt động TCVM hiệu quả. Để nâng cao chất lượng các dịch vụ tài chính, năng lực giám sát cần được tăng cường. Điều này có thể được thực hiện thông qua việc đào tạo về kỹ năng và quy trình giám sát, đảm bảo đủ số lượng cán bộ giám sát;

(iii) Tăng cường năng lực của các tổ chức tài chính tham gia hoạt động tài chính vi mô. Ngành tài chính vi mô sẽ phát triển vững mạnh khi củng cố 3 loại hình tổ chức tài chính đang hoạt động tài chính vi mô, bao gồm NHCSXH đang hướng tới hoạt động tự vững, hệ thống Quỹ Tín dụng nhân dân với sự hỗ trợ của một tổ chức đỉnh và các tổ chức TCVM đang nỗ lực tăng cường năng lực hoạt động.

(iv) Cơ sở hạ tầng tài chính hỗ trợ phát triển TCVM. Để phát triển một ngành TCVM vững mạnh cần có cơ sở hạ tầng tài chính thuận lợi, bao gồm trung tâm đào tạo nâng cao năng lực cho toàn ngành, một hệ thống trao đổi thông tin tín dụng vi mô để đảm bảo chất lượng danh mục khoản vay, và chương trình giáo dục tài chính nhằm nâng cao nhận thức về tài chính vi mô và bảo vệ khách hàng.

Tiểu chương trình 2, được xây dựng tiếp nối tiểu chương trình 1 theo phương thức tiếp cận chương trình sẽ tiếp tục hỗ trợ Chính phủ thực hiện cải cách toàn diện ngành TCVM tập trung vào 4 lĩnh vực nêu trên, nhằm đạt mục tiêu hoạt động TCVM bền vững và nâng cao dịch vụ tài chính, hướng tới tăng cường phổ cập tài chính và đẩy mạnh tài chính chuyên sâu.

Việc thực hiện cáchành động chính sáchcủa Tiểu chươngtrình 2 đã đem lại các kết quả dưới đây:

+ Kết quả 1: Xây dựng một môi trường chính sách và pháp lý thuận lợi cho một ngành tài chính vi mô mở rộng, phát triển bền vững và theo định hướng thị trường.

Các quy định chi tiết về cấp phép và bảo đảm an toàn hoạt động cho tổ chức TCVM là rất cần thiết nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng nhiều của các tổ chức TCVM bán chính thức muốn phát triển trở thành một tổ chức tài chính vững mạnh theo các tiêu chuẩn về bảo đảm an toàn của NHNN. Điều này sẽ giúp các tổ chức phát huy tối đa tiềm năng của mình trong việc cung cấp cho khách hàng các dịch vụ tài chính chính thức đa dạng, bao gồm cả các sản phẩm tiết kiệm. Sau khi Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 được ban hành và Chiến lược phát triển tài chính vi mô Việt Nam giai đoạn 2011-2020 được xây dựng trong khuôn khổ Tiểu chương trình 1, cơ quan thanh tra giám sát NHNN đã xây dựng các quy định về hoạt động tài chính vi mô an toàn, cấu trúc quản trị, bảo vệ người tiêu dùng. NHNN đã ban hành Thông tư quy định về Quỹ TDND12 để hướng dẫn các Quỹ TDND thực hiện hoạt động tài chính vi mô an toàn cho khách hàng thuộc khu vực thu nhập thấp với các dịch vụ tài chính chất lượng và đáp ứng nhu cầu trong khuôn khổ thực hiện tiểu chương trình 2. Bên cạnh đó, Thông tư của NHNN liên quan đến cấp phép, sở hữu, quản trị của tổ chức TCVM và Thông tư về các yêu cầu bảo đảm an toàn đối với tổ chức TCVM cũng đã được xây dựng và tham vấn ý kiến đóng góp của các cơ quan liên quan trước khi được thông qua và ban hành.

Chính phủ cũng đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về dịch vụ bảo hiểm phù hợp và dễ tiếp cận người có thu nhập thấp thông qua phương pháp hai bước nhằm thiết lập khuôn khổ pháp lý cho bảo hiểm vi mô. Trong quá trình xây dựng khung pháp lý cho bảo hiểm vi mô để ban hành và triển khai thực hiện vào năm 2015, Cục Quản lý giám sát bảo hiểm – Bộ Tài chính cũng đã ban hành quy định về triển khai thí điểm bảo hiểm vi mô, hướng dẫn triển khai thực hiện các dự án thí điểm bảo hiểm vi mô được phê duyệt. Quy định trong giai đoạn chuyển tiếp này nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng đối với dịch bảo hiểm vi mô bán chính thức hiện nay, đồng thời vẫn đảm bảo độ tin cậy về mặt pháp lý cho đến khi khung pháp lý chính thức cho bảo hiểm vi mô có hiệu lực. Hỗ trợ kỹ thuật (HTKT) Chính sách và Tư vấn (PATA) đi kèm khoản vay Tiểu chương trình 1 đã cung cấp và hỗ trợ tư vấn chính sách cho chính phủ để xây dựng khuôn khổ pháp lý chung cho bảo hiểm vi mô.

+ Kết quả 2: Tăng cường năng lực quản lý và giám sát của các cơ quan quản lý ngành tài chính vi mô.

Năng lực giám sát của NHNN và Bộ Tài chính đối với hoạt động TCVM cần được tăng cường thông qua việc đào tạo cho các cán bộ quản lý giám sát trên cơ sở các quy định mới ban hành về TCVM. Trong Tiểu chương trình 2, HTKT nâng cao năng lực (CDTA) đã tổ chức các khóa đào tạo hỗ trợ nâng cao năng lực thể chế của các cơ quan quản lý giám sát nhằm triển khai một đội ngũ cán bộ giám sát có trình độ và kinh nghiệm trong hoạt động tài chính vi mô. Hỗ trợ của ADB đượcphối hợp với những hỗ trợ của Cơ quan Phát triển Pháp (AFD) và Ngân hàng Thế giới (WB) về tăng cường quy định của NHNN đối với các tổ chức tài chính có hoạt động tài chính vi mô, đặc biệt là hệ thống Quỹ TDND và các tổ chức TCVM. Ngoài ra, Chương trình này của ADB cũng bổ trợ cho dự án hỗ trợ kỹ thuật của Cơ quan Phát triển Quốc tế Canada (CIDA) về cải thiện các quy định pháp lý về toàn ngành ngân hàng của NHNN. ADB cũng phối hợp chặt chẽ với Tổ chức Tài chính Quốc tế (IFC) trong việc thực hiện một nghiên cứu đánh giá về tài chính có trách nhiệm tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu sẽ làm cơ sở để HTKT CDTA xây dựng giáo trình đào tạo phù hợp.

Do các tổ chức TCVM và Quỹ TDND được phép huy động tiền gửi, các quy định bảo đảm an toàn dựa trên các tiêu chuẩn giám sát ngân hàng quốc tế cần được áp dụng để đảm bảo sự ổn định của các tổ chức tài chính này và bảo vệ khách hàng gửi tiền. Đồng thời, xét đến đặc thù riêng của tài chính vi mô, hoạt động và quy trình giám sát phải được thiết kế riêng phù hợp với các đặc tính đó nhằm đảm bảo giảm thiểu chi phí cho các tổ chức được giám sát vì yếu tố chi phí ảnh hưởng lớn tới hiệu quả của hoạt động tài chính vi mô do đặc thù mất nhiều công lao động để quản lý rất nhiều các tài khoản nhỏ của TCVM. Tiểu chương trình 2, thông qua HTKT PATA, khuyến khích các Cơ quan giám sát cũng như tổ chức thực hành tài chính vi mô ứng dụng hệ thống giám sát khoản vay được chấp nhận chung để lập báo cáophục vụ mục đích giám sát và tuân thủ. Chương trình đào tạo do HTKT CDTA thực hiện bao gồm nội dung về áp dụng hệ thống giám sát khoản vay đề xuất trên nhằm giúp tăng cường giám sát và hoạt động TCVM.

+ Kết quả 3:Tăng cường năng lực cho tổ chức tín dụng có hoạt động tài chính vi mô giúp cung cấp dịch vụ giá cả phù hợp và bền vững cho người nghèo.

Tiểu chương trình 2 tăng cường năng lực cho 3 loại hình tổ chức tài chính cung cấp tài chính vi mô lớn nhất tại Việt Nam: Ngân hàng chính sách xã hội (NHCSXH), Quỹ Tín dụng nhân dân (TDND), tổ chức tài chính vi mô (TCVM).

a. Cải cách NHCSXH

Tuy là tổ chức cung cấp tín dụng vi mô lớn nhất, việc NHCSXH quá phụ thuộc vào nguồn lực của chính phủ và tập trung nhiều vào cho vay chính sách xã hội đã dẫn đến những tác động bất lợi sau:

– Gánh nặng ngân sách nhà nước ngày càng tăng do chính phủ phải cấp vốn hoạt động cho NHCSXH, do đó tạo ra mối đe dọa nghiêm trọng đến tính bền vững hoạt động của NHCSXH trong tương lai;

– Thường tập trungvào cung cấp tín dụng mà bỏ qua cung cấp các dịch vụ tài chính khác phục vụ nhu cầu khách hàng như dịch vụ tiết kiệm, dịch vụ này có thể hỗ trợ hoạt động cho vay và tăng tính bền vững của NHCSXH;

– Sân chơi không bình đẳng do trợ cấp của chính phủ cho NHCSXH làm ngăn cản sự tham gia của các thành phần khác không được trợ cấp và cản trở cạnh tranh lành mạnh.

Trong bối cảnh này, tiểu chương trình 2 kêu gọi và xác định hai hành động chính sách chủ chốt, đó là: (i) Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển của NHCSXH đến năm 2020 với mục tiêu chuyển đổi NHCSXH thành một tổ chức tài chính tự vững hơn; và (ii) tăng cường năng lực của NHCSXH và các tổ tín dụng tiết kiệm hoạt động trên cơ sở thị trường thông qua giáo dục đào tạo với hỗ trợ tài chính từ chương trình và HTKT đi kèm của ADB. Lãi suất cho vay bình quân của NHCSXH đã sát hơn với mức thị trường, tăng từ 40% lên 80% so với giá thị trường trong giai đoạn thực hiện Tiểu chương trình 2. Định hướng trung hạn của chương trình hướng tới giám sát chặt chẽ quy trình đánh giá về vai trò của chính phủ trong việc cung cấp tín dụng vi mô; việc chuyển đổi hoạt động của NHCSXH theo hướng tự vững theo định hướng thị trường thông qua đẩy mạnh huy động tiền gửi, tăng cường các giải pháp công nghệ thông tin và đa dạng hóa các dịch vụ tài chính.

b. Phát triển hệ thống Quỹ TDND

Động lực chính thúc đẩy việc củng cố hệ thống QTDND là việc thiết lập một tổ chức đỉnh hỗ trợ cấp vốn và phát triển năng lực của các QTDND thành viên. Trong Tiểu chương trình 2, vai trò truyền thống của Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương được tăng cường với nhiệm vụ rõ ràng và quyền hạn lớn hơn dành cho Ngân hàng Hợp tác – tổ chức kế nhiệm của Quỹ TDNDTW. Ngân hàng Hợp tác chuyển đổi từ Quỹ TDNDTW được trao quyền giám sát các Quỹ TDND và có nhiệm vụ tăng cường năng lực của hệ thống Quỹ TDND thông qua hỗ trợ kỹ thuật và tài chính. Hỗ trợ tài chính dưới hình thức cấp bổ sung vốn 948 tỷ đồng (tương đương 45 triệu đô) cho Ngân hàng Hợp tác, cùng với hoạt động đào tạo do HTKT CDTA của ADB thực hiện, đã hỗ trợ hệ thống Quỹ TDND phát triển trở thành các hợp tác xã tài chính quy mô xã hiệu quả. c. Các tổ chức tài chính vi mô đang nổi lên

Tính đến tháng 12/2013, số khách hàng của các tổ chức TCVM được cấp phép và chưa được cấp phép chỉ chiếm 7% số khách hàng tài chính vi mô. Tuy nhiên, hoạt động của các TCTCVM đã được phát triển nhanh chóng với sự hỗ trợ của chính phủ và hỗ trợ của ADB trong những năm gần đây. 5 tổ chức TCVM lớn được ADB hỗ trợ trước đây đã có lượng khách hàng tăng 92%, cho vay tín dụng tăng 180%, và huy động tiết kiệm tăng 364 % trong 2 năm thực hiện dự án từ 2010-2012. Các tổ chức TCVM khác tham gia dự án có số khách hàng tăng bình quân 20%trong cùng kỳ. Tiềm năng tăng trưởng rõ ràng của các TCTCVM thuộc khu vực tư nhân cần được thúc đẩy bằng cách tạo nền tảng cho chính thức hóa dựa trên các quy định về bảo đảm an toàn của NHNN. Trong Tiểu chương 1, 2 tổ chức TCVM đã được chính thức hóa hoạt động và được cấp phép bởi NHNN theo quy định về cấp phép trước đây, sau này được thay thế bằng các quy định mới xây dựng trong quá trình thực hiện Tiểu chương trình 2. Tác động của việc chính thức hóa bao gồm: (i) đa dạng hóa nguồn vốn gồm tiền gửi huy động từ công chúng và nguồn tài trợ; (ii) tăng cường năng lực hoạt động với đội ngũ nhân viên có trình độ gắn bó với tổ chức chính thức; (iii) đa dạng hóa các sản phẩm tiết kiệm phục vụ khách hàng; và (iv) mở rộng tiếp cận tới khách hàng. Số lượng TCTCVM được cấp phép dự kiến ​​sẽ tăng lên trong thời gian tới với khuôn khổ phát triển được xây dựng trong Tiểu chương trình 2.

Bảng 32.6 cho thấy kết quả hoạt động cho vay tài chính vi mô Việt Nam theo loại hình tổ chức tài chính năm 2010 và năm 2013. Có thể thấy trong Bảng, cả 3 định chế tài chính liên quan trong Chương trình bao gồm NHCSXH,Quỹ TDND và tổ chức TCVM đã ghi nhận sự tăng trưởng ổn định về danh mục vốn vay, sự chiếm lĩnh thị phần hoạt động tài chính vi mô của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn – một ngân hàng thương mại nhà nước.

Bảng 32.4. Hoạt động cho vay tài chính vi mô* tại Việt Nam
theo loại hình tổ chức tài chính

Tổ chức tài chính

Số khách hàng vay (triệu)

Dư nợ
(triệu đô)

Mức vay
bình quân (đô)

 

2010

2013

2010

2013

2010

2013

NHCSXH

7.8**

7.0

4,398

5,350

 564

 764

NHNN&PTNT

3.2

1.5

3,500

1,390

1,094

 927

Quỹ TDND

1.0

1.1

1,006

1,294

1,006

1,176

TCTCVM***

0.6

0.8

 122

 189

 203

 236

 Nguồn: Ngân hàng Chính sách xã hộiViệt Nam, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương, Đánh giá ngành tài chính vi mô Việt Nam của HTKT ADB 8108.

*Dựa theo định nghĩa của NHNN về khoản vay TCVM với mức vay tối đa 30 triệu VND ($1,423).

**Số khách hàng vay là khách hàng vay cá nhân của NHCSXH. Trong năm 2010, NHCSXH báo cáo số liệu khách hàng vay là khách hàng cá nhân. Năm 2012, NHCSXH chuyển sang báo cáo số lượng khách hàng vay theo hộ gia đình. Một hộ gia đình có nhiều thành viên vay vốn từ NHCSXH. Việc hợp nhất theo hộ này dẫn đến số lượng khách hàng vay của NHCSXH suy giảm.

*** Các tổ chức TCVM bao gồm các tổ chức chính thức (được cấp phép) và bán chính thức (không có giấy phép) tham gia vào hoạt động tài chính vi mô.

+ Kết quả 4: Hỗ trợphát triểncơ sở hạ tầngcho khu vựctài chính vi mô.

Với kết quả đầu vàocủa các hỗ trợ kỹ thuậtliên quan, Chương trình đã giúp phát triểncơ sở hạ tầngtài chínhhỗ trợ chotài chính vi mô trong khuôn khổ Tiểu chương trình 2.

Tiểu chương trình 2 đã hỗ trợ 3 sáng kiến phát triển cơ sở hạ tầng tài chính, bao gồm việc thành lập Trung tâm Tài chính vi mô với mục đích cung cấp dịch vụ đào tạo nâng cao năng lực cho các đơn vị thực hành TCVM trong cả nước. Sau khi Luật Tổ chức tín dụng 2010 có hiệu lực trong thời gian thực hiện tiểu chương trình 1, hệ thống trao đổi thông tin tín dụng vi mô theo tiểu chương trình 2 đã được xây dựng để hỗ trợ thực hiện báo cáo và trao đổi thông tin tín dụng vi mô theo quy định tại Luật Tổ chức tín dụng về hệ thống quản lý tín dụng với chi phí hiệu quả. Các chương trình giáo dục tài chính đã được xây dựng và triển khai thực hiện nhằm nâng cao nhận thức của khách hàng và nhà cung cấp dịch vụ về thông lệ thực hành TCVM tốt nhất và phát huy tối đa việc sử dụng dịch vụ tài chính của khách hàng có nhu cầu.

a. Trung tâm tài chính vi mô

Trong Tiểu chương trình 2, Trung tâm Tài chính vi mô được thành lập tại Học viện Ngân hàng thông qua Quyết định của Ngân hàng Nhà nước. Việc phân bổ ngân sách hoạt động trong năm 2013 và năm 2014 cho Trung tâm này đã được thực hiện. Đây là cơ sở đào tạo hàng đầu về ngành tài chính vi mô,cùng liên kết với các cơ sở đào tạo khác như bộ phận đào tạo của NHCSXH, Ngân hàng Hợp tác, Nhóm Công tác Tài chính vi mô Việt Nam cũng như các tổ chức TCVM. Hợp tác với các đối tác này, Trung tâm Tài chính vi mô đã đáp ứng được nhu cầu về các dịch vụ nâng cao năng lực bao gồm đào tạo, nghiên cứu và đánh giá nhu cầu đào tạo trên cơ sở thu phí. Hỗ trợ kỹ thuật xây dựng năng lực của ADB đang hợp tác với Trung tâm Tài chính vi mô trong việc tăng cường năng lực hoạt động và giám sát ngành tài chính vi mô, nghiên cứu việc xây dựng một hệ thống chứng nhận trên toàn quốc về đào tạo tài chính vi mô chính thức, hỗ trợ chia sẻ kiến ​​thức quốc tế về tài chính vi mô. Về trung hạn, Trung tâm Tài chính vi mô được kỳ vọng sẽ đóng vai trò trung tâm đầu mối trong việc tăng cường năng lực tổng thể cho các thành phần có liên quan đến tài chính vi mô, từ các nhà hoạch định chính sách cho đến các nhà thực hành tài chính vi mô để triển khai thực hành các thông lệ tốt nhất trong TCVM.

b. Hệ thống trao đổi thông tin tín dụng vi mô

NHNN đã ban hành Thông tư số 03/2013/TT-NHNN ngày 28/1/2013 yêu cầu tất cả các tổ chức tín dụng phải báo cáo thông tin tín dụng cho Trung tâm Thông tin tín dụng (CIC) thuộc Ngân hàng Nhà nước. Trước khi Thông tư này được ban hành, chỉ có các khoản vay từ 50 triệu trở lên mới cần được báo cáo, do đó tổ chức tín dụng tham gia tài chính vi mô không nằm trong đối tượng báo cáo của hệ thống CIC. Theo hành động chính sách này, một hệ thống trao đổi thông tin tín dụng vi mô đã được thành lập tại CIC. Hệ thống mới bao gồm mọi tổ chức tài chính có hoạt động tài chính vi mô. Các tổ chức này sẽ cung cấp và truy cập thông tin tín dụng trong hệ thống của CIC một cách hiệu quả với chi phí thấp, giúp đảm bảo chất lượng danh mục vốn vay nhờ lựa chọn khách hàng đúng đắn.

c. Xây dựng và thực hiện các chương trình giáo dục tài chính

Chính phủ, cùng với Hỗ trợ kỹ thuật xây dựng năng lựccủa ADB, đã phân bổ ngân sách cho NHCSXH và Ngân hàng Hợp tác thực hiện các chương trình vận động và giáo dục tài chính về chuyên đề tài chính vi mô bền vững và bảo vệ khách hàng cho các khách hàng, đội ngũ quản lý và nhân viên, các nhóm tín dụng và tiết kiệm, các cơ quan quản lý có liên quan. Sáng kiến ​​này giúp tăng cường sự hiểu biết của các bên liên quan về tầm quan trọng của tài chính vi mô bền vững, những chính sách và quy định có liên quan, thực hành bảo vệ người tiêu dùng bao gồm minh bạch trong định giá và quy trình giải quyết khiếu nại. Điều này giúp trao quyền cho khách hàng có những thông tin để lựa chọn tiếp cận các dịch vụ TCVM hữu ích và bảo vệ khách hàng trước các giao dịch không thích hợp. Về trung hạn, các chương trình giáo dục tài chính trong Tiểu chương trình 2 cần tiếp tục được phát triển thành chương trình quy mô toàn quốc, nhằm mục tiêu thiết lập một tầm nhìn thống nhất và hiểu biết chung về các nguyên tắc cơ bản và thực hành tốt nhất trong một ngành tài chính vi mô lớn mạnh, bền vững dựa trên thị trường và đáp ứng nhu cầu khách hàng.

32.3. Một số định hướng để triển khai Tài chính toàn diện trong khuôn khổ hội nhập tài chính ASEAN

Tại Hội nghị tài chính toàn diện ASEAN lần thứ ba tại Yangon, Myanmar từ ngày 29-30/10/2014 do Bộ trưởng Bộ Tài chính Myanmar và Chủ tịch Hội nghị Bộ trưởng tài chính ASEAN lần thứ 18 chủ trì với sự hợp tác của Quỹ phát triển vốn Liên hợp quốc và các đối tác phát triển khác, các nước ASEAN đã ghi nhận những nội dung sau:

– Phát triển kinh tế đồng đều là một trong những trụ cột của Kế hoạch tổng thể Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC), đồng thời là trọng tâm của Chương trình nghị sự sau năm 2015 của Liên hợp quốc.

– Hội nhập tài chính đóng vai trò quan trọng trong thúc đẩy tăng trưởng khu vực ASEAN và việc bổ sung chương trình tài chính toàn diện sẽ giúp củng cố tăng trưởng và tiềm năng ổn định.

– Tài chính toàn diện là công cụ hỗ trợ tăng trưởng toàn diện để mở rộng dịch vụ tài chính đến những hộ gia đình và người nghèo chưa có tài khoản ngân hàng, các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Ngoài ra, thông qua nhiều dịch vụ như tiết kiệm, cho vay, bảo hiểm, họ có thể quản lý rủi ro liên quan nông nghiệp, thiên tai, tăng giá lương thực, sức khỏe.

– Tăng cường tài chính toàn diện có thể thúc đẩy năng suất lao động. Cụ thể, các hộ gia đình có cơ hội đầu tư vào giáo dục và kỹ năng, cải thiện tình trạng sức khỏe khi sử dụng các sản phẩm phòng tránh rủi ro, tín dụng và tiết kiệm. Khi chuyển từ dịch vụ tài chính không chính thức sang dịch vụ chính thức, không gian tài chính được mở rộng, hoạt động sản xuất của doanh nghiệp mới thành lập được tăng cường.

– Tài chính toàn diện phản ánh chức năng quan trọng chương trình bảo vệ xã hội trong việc giúp hộ gia đình nghèo và hộ gia đình gần trên ngưỡng nghèo ổn định thu nhập và chi tiêu, quản lý tốt rủi ro.

32.3.1. Một số định hướng cho Việt Nam để triển khai chính sách tài chính toàn diện:

– Đa dạng hóa các dịch vụ tài chính đồng thời khuyến khích sự đổi mới và quản lý rủi ro.

– Đảm bảo các dịch vụ thanh toán, tiết kiệm, tín dụng và bảo hiểm đáp ứng đủ yêu cầu của hộ gia đình và các doanh nghiệp nhỏ

– Phát triển cơ sở hạ tầng và mạng lưới phân phối của khu vực tài chính (bao gồm thanh toán điện tử và ngân hàng đại lý) để tăng cường mức độ tiếp cận dịch vụ tài chính cho nhiều người dân.

– Tiến hành các biện pháp đặc biệt nhằm đảm bảo phụ nữ được tiếp cận với dịch vụ tài chính.

– Đảm bảo rằng dịch vụ tài chính cung cấp giá trị cho hộ gia đình và doanh nghiệp nhỏ bằng phương thức minh bạch, có tính trách nhiệm đồng thời có các biện pháp bảo vệ người tiêu dùng.

– Tích hợp tài chính toàn diện là một trụ cột chính trong chính sách phát triển chung của quốc gia

– Xây dựng chính sách tài chính toàn diện có tính bao phủ rộng

– Chủ trương tăng cường nhận thức về thị trường để cung cấp các dịch vụ phù hợp.

32.3.2. Một số định hướng ở cấp độ khu vực để triển khai chính sách tài chính toàn diện:

– Tăng cường quản lý và giám sát nhằm tạo thuận lợi cho hoạt động chuyển tiền xuyên biên giới, trong trường hợp cần thiết sẽ ký kết các hiệp định song phương. Trong đó, bao gồm triển khai các biện pháp phòng chống rửa tiền và chống khủng bố.

– Xây dựng năng lực cho các chuyên gia giám sát và nhà cung ứng dịch vụ tài chính trong lĩnh vực tài chính toàn diện.

– Xây dựng các phương pháp đo lường mức độ tiếp cận, sử dụng và giá trị tài chính nhằm đánh giá kết quả của các chính sách khác nhau.

– Tăng cường đối thoại và hỗ trợ giữa các nước ASEAN ở các cấp độ khác nhau về tài chính toàn diện.

– Tăng cường nhận thức và thúc đẩy dòng chuyển tiền xuyên biên giới ở cấp độ hộ gia đình

– Tăng cường nhận thức và thúc đẩy dòng chuyển tiền xuyên biên giới ở cấp độ thể chế và doanh nghiệp

– Xây dựng phương pháp đo lường và các chỉ số chung để đánh giá, so sánh hiệu quả của các chính sách khác nhau.

– Hỗ trợ giữa các quốc gia đặc biệt là từ những quốc gia có kinh nghiệm và chuyên môn về triển khai tài chính toàn diện.

32.3.3. Một số giải pháp để thúc đẩy tài chính toàn diện

Nâng cao hiệu quả của thị trường chuyển tiền

Hiện nay tính cạnh tranh của thị trường chuyển tiền của một số nước khu vực ASEAN còn bị hạn chế bởi các thỏa thuận đặc biệt giữa Cơ quan điều phối chuyển tiền quốc tế và nhà cung cấp dịch vụ chuyển tiền quôc gia. Để xây dựng thị trường chuyển tiền an toàn và hiệu quả và tăng cường mối liên kết giữa tài chính toàn diện và hoạt động chuyển tiền, Nhà nước cần triển khai các giải pháp sau:

– Lập bản đánh giá về thị trường chuyển tiền quốc gia trong tương quan với Nguyên tắc chung về dịch vụ chuyển tiền quốc tế của World Bank (General Principles for International Remittance Services). Bản đánh giá này cần xác định những thách thức và khuyến nghị chính sách cho cơ quan quản lý cũng như các nhà cung cấp dịch vụ chuyển tiền. Từ đó, bản đánh giá sẽ có vai trò quan trọng trong việc cải cách quy định chuyển quốc gia, hài hòa với quy định trong khu vực.

– Nhà nước cần hỗ trợ và cùng với các ngân hàng và các nhà cung cấp dịch vụ chuyển tiền phi ngân hàng trong việc mở và sử dụng tài khoản giao dịch, tài khoản tiết kiệm cho người nhận và chuyển tiền.

– Tăng cường nhận thức tài chính giữa người nhận và người chuyển tiền. Khi hiểu biết về các dịch vụ tài chính, người gửi tiền sẽ có nhiều lựa chọn về sản phẩm và phương thức chuyển tiền.

– Đổi mới hệ thống dịch vụ bán lẻ để khắc phục những khiếm khuyết của dịch vụ chuyển tiền, đặc biệt là ở khu vực nông thôn nơi còn thiếu nhiều nhà cung cấp dịch vụ chuyển tiền truyền thống.

Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ

– Nhà nước cần xác định các mục tiêu rõ ràng và các chỉ số đo lường để điều phối tài trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ vì doanh nghiệp vừa và nhỏ là một động lực quan trọng để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm và xóa nghèo đói.

– Nhà nước cần đi đầu trong việc hướng dẫn và điều phối triển khai tài trợ cho doanh nghiệp vừa và nhỏ.

– Nhà nước cần tôn trọng chức năng kết nối cung và cầu về tài trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ của thị trường. Trong khi Chính phủ giúp tạo lập điều kiện thị trường và khắc phục những thất bại thị trường, chỉ có thị trường tài chính mới có thể tự động điều chỉnh nhu cầu tài trợ của doanh nghiệp vừa và nhỏ. Do vậy Nhà nước không nên can thiệp một cách trực tiếp vào việc thu hẹp khoảng cách cung và cầu mà chỉ cần tạo ra động lực và lợi ích cho các chủ thể tham gia giao dịch trên thị trường.

 TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. ADB (2014), “Report and Recommendation of the President to the Board of Directors – Proposed Policy-Based Loan for Subprogram 2- Socialist Republic of Viet Nam: Microfinance Development Program”
  2. Eduardo Cabral Jimenez (2014), “Role of smart policies and regulation in financial inclusion”, Alliance for Financial Inclusion (AFI), Bangkok, Thailand.
  3. Isaku Endo (2014), “Remittance markets and financial inclusion in ASEAN”, Payment Systems Development Group, The World Bank, USA.
  4. Kamisah Abd Kadir, Andrew Fan Chiah Howe, Zarina Abd Rahman (2014), “Use of data in supporting the development of enabling conditions for greater financial inclusion”, Financial Inclusion & SME Financing / Development Finance & Enterprise Department, Bank Negara Malaysia, Malaysia.
  5. Parjiono (2014), “The role of State to increase the people capacity to access and use of formal financial services for alleviating poverty”, Center for Regional and Bilateral Policy – Ministry of Finance, Indonesia.
  6. Satish Mishra & Feisal Hussain, Hennie Bester, Jeremy Gray, David Saunders & Christine Housgaard (2014), “Financial inclusion as cornerstone for equitable and inclusive growth in post 2015 ASEAN”, UN Capital Development Fund – Bangkok, Centri – South Africa.
  7. Stein, Goland and Schiff, (2010), “One trillion and Counting – Assessing the credit gap for micro, small and medium-size enterprises in the developing world”, International Finance Corporation and McKinsey&Company.
  8. The Secretariat of the Third ASEAN Financial Inclusion Conference (2014), “Yangon Outcomes for Financial Inclusion in ASEAN”
  9. Thomas Foerch (2014), “Financial Inclusion: Don’t miss out on small and medium sized enterprises”, Project Finance Sector Development, Deutsche Gesellchat fur International Zusammenarbeit (GIZ) GmbH, Myanmar.

 

Bản in

 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *