Chuyên đề 31: TRỢ CẤP VÀ CÁC BIỆN PHÁP CHỐNG TRỢ CẤP ĐỐI VỚI HÀNG XUẤT KHẨU VIỆT NAM

MỤC LỤC

Chuyên đề 31: TRỢ CẤP VÀ CÁC BIỆN PHÁP CHỐNG TRỢ CẤP ĐỐI VỚI HÀNG XUẤT KHẨU VIỆT NAM

 ThS. Nguyễn Thu Giang, Vụ Hợp tác quốc tế, Bộ Tài chính

31.1. Trợ cấp và các biện pháp chống trợ cấp – khái niệm chung

31.1.1. Trợ cấp

Trong WTO, trợ cấp được hiểu là bất kỳ hỗ trợ tài chính nào của Nhà nước hoặc một tổ chức công (trung ương hoặc địa phương) dưới một trong các hình thức sau mang lại lợi ích cho doanh nghiệp/ngành sản xuất:

– Hỗ trợ trực tiếp bằng tiền chuyển ngay (ví dụ cấp vốn, cho vay, góp cổ phần) hoặc hứa chuyển (ví dụ bảo lãnh cho các khoản vay);

– Miễn hoặc cho qua những khoản thu lẽ ra phải đóng (ví dụ ưu đãi thuế, tín dụng);

– Mua hàng, cung cấp các dịch vụ hoặc hàng hoá (trừ cơ sở hạ tầng chung); Thanh toán tiền cho một nhà tài trợ hoặc giao cho một đơn vị tư nhân tiến hành các hoạt động nêu trên theo cách thức mà Chính phủ vẫn làm.

Các khoản hỗ trợ này được hiểu là mang lại lợi ích cho đối tượng được hưởng hỗ trợ nếu nó được thực hiện theo cách mà một nhà đầu tư tư nhân, một ngân hàng thương mại…bình thường sẽ không khi nào làm như vậy (vì đi ngược lại những tính toán thương mại thông thường). Tuy nhiên không phải loại trợ cấp nào cũng là đối tượng có thể bị điều tra và áp dụng biện pháp chống trợ cấp. Theo quy định của WTO và được ghi nhận lại trong Hiệp định về trợ cấp và thuế đối kháng (SCM), một chương trình bị xem là “trợ cấp có thể đối kháng” phải có đầy đủ 03 yếu tố sau:

– Yếu tố đóng góp tài chính: Có sự đóng góp tài chính của Nhà nước hoặc một chủ thể công. Sự “đóng góp tài chính” của Nhà nước trong một chương trình trợ cấp bao gồm (nhưng không giới hạn ở) các hình thức sau:

+ Hỗ trợ trực tiếp bằng tiền chuyển ngay (ví dụ cấp vốn, cho vay, góp cổ phần) hoặc hứa chuyển (ví dụ bảo lãnh cho các khoản vay);

+ Miễn hoặc cho qua những khoản thu lẽ ra phải đóng (ví dụ ưu đãi thuế, tín dụng);

+ Mua hoặc cung cấp các dịch vụ hoặc hàng hoá (trừ cơ sở hạ tầng chung);

+ Thanh toán tiền cho một nhà tài trợ hoặc giao cho một đơn vị tư nhân tiến hành các hoạt động nêu trên theo cách thức mà Chính phủ vẫn làm.

Ba hình thức đầu tiên là “đóng góp tài chính” trực tiếp từ Chính phủ còn hình thức cuối cùng là “đóng góp tài chính gián tiếp” từ Chính phủ. Một vài ví dụ về “đóng góp tài chính” của Chính phủ như: Chính phủ cung cấp một khoản hỗ trợ có trị giá 10% giá trị FOB của mỗi sản phẩm xuất khẩu; Chính phủ miễn thuế cho phần thu nhập từ việc bán hàng xuất khẩu của doanh nghiệp; Chính phủ lệnh cho các ngân hàng thương mại tư nhân phải cung cấp tín dụng cho xuất khẩu với mức lãi suất thấp hơn lãi suất thị trường

– Yếu tố lợi ích: Sự đóng góp tài chính đó phải mang lại một lợi ích cho người nhận. Theo quy định của WTO, nếu chỉ Chính phủ nước xuất khẩu quy định hoặc triển khai các hình thức trợ cấp cho doanh nghiệp thì chưa đủ để nói rằng có tồn tại một biện pháp trợ cấp có thể đối kháng. Cần thiết phải chứng minh rằng các doanh nghiệp nhận được một lợi ích nhất định từ hình thức trợ cấp đó.Lợi ích mà doanh nghiệp nhận được từ một khoản hỗ trợ của Chính phủ được xác định là mức chênh lệch (theo hướng có lợi cho doanh nghiệp) giữa việc thực hiện giao dịch liên quan trong điều kiện thương mại bình thường (không có chương trình trợ cấp) và việc thực hiện giao dịch đó trong điều kiện có chương trình trợ cấp, ví dụ:

+ Nếu trợ cấp mua cổ phần: Lợi ích tồn tại nếu việc chuyển đổi được thực hiện theo cách mà các nhà đầu tư tư nhân thông thường sẽ không làm;

+ Nếu trợ cấp khoản vay: Lợi ích tồn tại nếu lãi suất hay chi phí để được vay thấp hơn mức thông thường trên thị trường;

+ Nếu trợ cấp bằng khoản đảm bảo cho vay: Lợi ích tồn tại nếu chi phí để có được một khoản vay với sự bảo đảm của chính phủ thấp hơn chi phí cho khoản vay thương mại tương tự nhưng không có bảo đảm của chính phủ;

+ Nếu trợ cấp bằng việc Chính phủ cung cấp hoặc mua hàng hóa hoặc dịch vụ: Lợi ích tồn tại nếu khoản tiền thanh toán cho chính phủ khi chính phủ cung cấp hàng/dịch vụ thấp hơn bình thường hoặc khoản tiền chính phủ thanh toán khi mua hàng/dịch vụ cao hơn bình thường;

+ Nếu trợ cấp bằng việc miễn, giảm thuế: Khoản lợi ích được xác định là phần thuế được miễn hoặc giảm (vì vậy, nếu nhà sản xuất không phải chịu loại thuế liên quan thì coi như họ không thu được khoản lợi ích nào từ việc miễn/giảm thuế này).

Trên thực tế việc cân nhắc, tính toán trị giá khoản lợi ích này không đơn giản, phương pháp thực hiện cũng như kết quả tính được rất khác nhau giữa các loại trợ cấp khác nhau, trong những tình huống khác nhau.

– Yếu tố riêng biệt: Sự đóng góp tài chính đó phải được thực hiện cho một doanh nghiệp, một nhóm doanh nghiệp hoặc một ngành, một khu vực cụ thể chứ không phải là trợ cấp chung cho tất cả các đối tượng.

Một khoản trợ cấp của Chính phủ nước xuất khẩu mang lại lợi ích cho doanh nghiệp sẽ không bị khiếu kiện nếu nó là khoản trợ cấp chung cho tất cả các đối tượng nếu đáp ứng đủ các điều kiện khách quan mà Chính phủ nước xuất khẩu đưa ra. Chính vì vậy, tính “riêng biệt” của khoản trợ cấp là một trong những tiêu chí quan trọng và đây cũng là yếu tố gây nhiều tranh cãi trong các vụ điều tra chống trợ cấp. Trong thực tế điều tra, bên điều tra thường xem xét vấn đề này trước khi xem xét tiêu chí “lợi ích” bởi nếu khoản trợ cấp không phải là riêng biệt thì bên điều tra có thể đi đến kết luận “không có trợ cấp” luôn mà không phải mất công cho việc tính toán rất phức tạp về mức “lợi ích”.

Một khoản trợ cấp được xem là “riêng biệt” nếu là trợ cấp dành cho một nhóm đối tượng riêng biệt

Cụ thể, khoản trợ cấp “riêng biệt” là trợ cấp được dành cho (và mang lại lợi ích) cho chỉ một doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp, ngành sản xuất nhất định mà các đối tượng khác dù có hoàn cảnh tương tự nhưng không thể tiếp cận được.

  1. Riêng biệt “theo pháp luật” (de jure): Điều kiện để được nhận khoản trợ cấp được pháp luật (bằng quy định cụ thể) giới hạn ở một nhóm nhất định các đối tượng mà thôi;
  2. Riêng biệt “thực tế” (de facto): Là những hình thức trợ cấp mà điều kiện được hưởng có vẻ là khách quan và không giới hạn nhưng trên thực tế thì chỉ một nhóm hạn chế các doanh nghiệp có thể tiếp cận các trợ cấp này.

Trên thực tế, việc xác định các trợ cấp riêng biệt (đặc biệt là dạng “de facto”) là rất phức tạp, phụ thuộc nhiều vào hoàn cảnh cụ thể (dù bên điều tra có các chuẩn pháp lý để xem xét). Một trợ cấp có thể bị bên điều tra xem là riêng biệt “de facto” nếu rơi vào một trong các trường hợp sau (mặc dù trợ cấp đó theo pháp luật vẫn là trợ cấp chung/không phân biệt ngành nghề, đối tượng):

+ Trên thực tế chỉ có một số lượng doanh nghiệp nhất định nhận được trợ cấp;

+ Trên thực tế chỉ có một số loại doanh nghiệp nhất định nhận được trợ cấp;

+ Trên thực tế một phần cơ bản của chương trình trợ cấp chỉ dành cho một số doanh nghiệp nhất định;

+ Khả năng tùy ý trong việc quyết định có cho hưởng trợ cấp hay không dẫn tới việc chỉ một/một số doanh nghiệp hay một ngành được hưởng trợ cấp.

Trên thực tế, việc xác định khi nào số lượng đối tượng hưởng lợi bị xem là “hạn chế” không đơn giản, ví dụ:

Nếu lĩnh vực sản xuất được hưởng trợ cấp có quy mô quá nhỏ so với nền kinh tế nước xuất khẩu thì chương trình trợ cấp có thể bị xem là riêng biệt dù tất cả các doanh nghiệp trong lĩnh vực đó đều có thể tiếp cận khoản trợ cấp;

Nếu có nhiều lĩnh vực sản xuất (nhiều lĩnh vực) được nhận trợ cấp nhưng giữa chúng không có gì tương tự nhau trừ thực tế tất cả đều được nhận trợ cấp thì rất có thể chương trình trợ cấp đó bị xem là riêng biệt.

Trong các hình thức trợ cấp, trợ cấp xuất khẩu và trợ cấp ưu tiên sử dụng hàng nội địa được coi là đương nhiên “mang tính riêng biệt” mà không cần phải chứng minh rằng chúng chỉ hướng đến một doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp hay một ngành. Đây là các trợ cấp mà theo quy định hoặc trên thực tế mang lại tác động tích cực cho việc xuất khẩu (a subsidy that “contigent on export performance”) hoặc cho việc sử dụng hàng nội địa thay thế cho hàng xuất khẩu (a subsidy that “contigent on the use of domestic goods over imported goods”). Cứ được xác định là trợ cấp xuất khẩu hay trợ cấp ưu tiên sử dụng hàng nội địa thì xem như trợ cấp đó là “riêng biệt”.Trên thực tế, việc xác định thế nào là một trợ cấp xuất khẩu hay ưu tiên sử dụng hàng nội địa không dễ dàng (dù Phụ lục I Hiệp định về trợ cấp và biện pháp chống trợ cấp của WTO đã đưa ra một danh sách minh họa các loại trợ cấp xuất khẩu):

– Ví dụ về trợ cấp xuất khẩu: Hỗ trợ dựa trên kết quả xuất khẩu; các hình thức miễn hoặc giảm thuế dựa trên tỷ lệ xuất khẩu, các chương trình thưởng xuất khẩu; hỗ trợ vận chuyển hoặc chi phí vận chuyển thấp hơn cho vận chuyển hàng xuất khẩu so với vận chuyển hàng tiêu dùng nội địa; miễn hoặc hoàn phí, lệ phí nhập khẩu đối với nguyên liệu nhập khẩu phục vụ sản xuất hàng xuất khẩu…

– Ví dụ về trợ cấp ưu tiên hàng nội địa: Bù đắp khoản chênh lệch giá giữa hàng nhập khẩu và hàng nội địa cùng loại cho doanh nghiệp nếu doanh nghiệp lựa chọn hàng nội địa; cung cấp nguyên liệu nội địa cho doanh nghiệp với giá thấp hơn giá thị trường…

31.1.2. Biện pháp chống trợ cấp

Biện pháp chống trợ cấp là một trong những biện pháp phòng vệ thương mại. Trong thương mại quốc tế, “biện pháp phòng vệ thương mại” là cụm từ chung để chỉ nhóm các biện pháp được sử dụng với mục tiêu bảo vệ sản xuất nội địa trước hàng hóa nhập khẩu từ nước ngoài, bao gồm:

– Biện pháp chống bán phá giá: phòng vệ chống lại hiện tượng hàng hóa nước ngoài nhập khẩu bán phá giá gây thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất nội địa nước nhập khẩu;

– Biện pháp chống trợ cấp: phòng vệ chống lại hiện tượng hàng hóa nước ngoài nhập khẩu được trợ cấp gây thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất nội địa nước nhập khẩu;

– Biện pháp tự vệ: phòng vệ chống lại hiện tượng hàng hóa nhập khẩu tăng đột biến gây thiệt hại nghiêm trọng cho ngành sản xuất nội địa nước nhập khẩu.

Các Hiệp định của WTO về chống trợ cấp (SCM) quy định các nguyên tắc thống nhất bắt buộc đối với tất cả các nước thành viên khi xây dựng pháp luật và áp dụng trong thực tiễn các biện pháp phòng vệ này. WTO có các Hiệp định quy định các nguyên tắc cơ bản về các biện pháp phòng vệ thương mại, bao gồm:

– Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT 1994): Hiệp định về thương mại hàng hóa này có chứa một số điều khoản về các biện pháp phòng vệ thương mại;

– Hiệp định về trợ cấp và thuế đối kháng (Subsidy and Countervailing Measures Agreement – SCM): Một phần quan trọng của Hiệp định này quy định về biện pháp chống trợ cấp;

Các quy định tại các Hiệp định này là bắt buộc đối với tất cả các nước thành viên WTO. Nói cách khác, mỗi quốc gia thành viên WTO có quyền ban hành và áp dụng pháp luật về phòng vệ thương mại riêng của nước mình nhưng phải tuân thủ đầy đủ các qui định mang tính bắt buộc về nội dung cũng như thủ tục trong các Hiệp định có liên quan của WTO.

31.2. Quy định của Hoa Kỳ về biện pháp chống trợ cấp

Các biện pháp chống trợ cấp về nguyên tắc được sử dụng để chống lại hành vi cạnh tranh không lành mạnh của nhà sản xuất, xuất khẩu nước ngoài khi nhập khẩu hàng vào Hoa Kỳ. Tất cả các biện pháp này chỉ được áp dụng sau khi cơ quan có thẩm quyền của Hoa Kỳ tiến hành điều tra theo thủ tục và điều kiện quy định.

31.2.1. Điều kiện áp dụng các biện pháp chống trợ cấp và các mức “không đáng kể” trong điều tra chống trợ cấp

a. Điều kiện áp dụng các biện pháp chống trợ cấp:

–          Có hiện tượng hàng nhập khẩu được trợ cấp;

–          Gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đáng kể (đối với ngành sản xuất nội địa);

–          Mối quan hệ nhân quả giữa việc trợ cấp và thiệt hại;

–          Có hiện tượng hàng nhập khẩu ồ ạt, tăng đột biến về số lượng;

–          Có thiệt hại nghiêm trọng (đối với ngành sản xuất nội địa Hoa Kỳ sản xuất mặt hàng tương tự hoặc cạnh tranh trực tiếp);

–          Mối quan hệ nhân quả giữa việc nhập khẩu ồ ạt và thiệt hại

b. Các mức “không đáng kể” trong điều tra chống trợ cấp

– Trợ cấp “không đáng kể”

Theo pháp luật WTO và Hoa Kỳ, không phải mọi trợ cấp (ở tất cả các mức độ) đều bị trừng phạt bằng thuế chống trợ cấp. Thuế chống trợ cấp chỉ được sử dụng để đáp trả và khắc phục thiệt hại do hành vi trợ cấp ở mức đáng kể, được xác định là từ 1% giá trị xuất khẩu của sản phẩm được trợ cấp trở lên đối với trường hợp nước xuất khẩu là nước phát triển và 2% nếu nước xuất khẩu là nước đang phát triển. Biên độ trợ cấp dưới 1% còn được gọi là biên độ trợ cấp không đáng kể, “de minimis”.

Nói cách khác, nếu kết quả tính toán của Bộ Thương mại Hoa Kỳ cho một doanh nghiệp bị đơn cho thấy biên độ trợ cấp dưới 1% thì doanh nghiệp bị đơn này sẽ không phải nộp thuế chống trợ cấp.

– Lượng nhập khẩu “không đáng kể”

Nếu nước xuất khẩu là nước đang phát triển và có lượng nhập khẩu sản phẩm liên quan ít hơn 4% tổng nhập khẩu hàng hoá tương tự vào Hoa Kỳ thì được coi là lượng nhập khẩu “không đáng kể” và vì vậy vụ điều tra sẽ chấm dứt đối với nước xuất khẩu đó. Tuy nhiên, quy định này sẽ không được áp dụng nếu tổng lượng nhập khẩu từ tất cả các nước xuất khẩu có hoàn cảnh tương tự chiếm trên 9% tổng lượng nhập khẩu hàng hoá tương tự vào nước nhập khẩu.

31.2.2. Cơ quan có thẩm quyền điều tra và áp dụng biện pháp chống trợ cấp

Theo quy định của pháp luật Hoa Kỳ, có nhiều cơ quan có thẩm quyền liên quan đến việc điều tra và áp dụng các biện pháp phòng vệ ở hai cấp độ:

a. Các cơ quan có thẩm quyền trực tiếp trong điều tra và áp dụng biện pháp phòng vệ bao gồm:

– Bộ Thương mại Hoa Kỳ (Department of Commerce – DOC) (cụ thể là Cục Quản lý Thương mại quốc tế – International Trade Administration, ITA):

Bộ Thương mại Hoa Kỳ là một cơ quan hành chính (Bộ) trực thuộc Chính phủ Hoa Kỳ (cơ quan hành pháp) và do đó được suy đoán ít nhiều bị ảnh hưởng bởi chính sách chung của Chính phủ.

Bộ Thương mại Hoa Kỳ chịu trách nhiệm:

+ Điều tra, xem xét liệu hàng hóa nước ngoài nhập khẩu vào thị trường Hoa Kỳ có bán phá giá/trợ cấp hay không và nếu có thì biên độ phá giá/trợ cấp là bao nhiêu;

+ Ban hành lệnh áp dụng các biện pháp phòng vệ tạm thời và chính thức;

+ Rà soát hành chính hàng năm;

+ Thực hiện điều tra về bán phá giá/trợ cấp/nhập khẩu ồ ạt đột biến trong các rà soát do có sự thay đổi hoàn cảnh, rà soát hoàng hôn/cuối kỳ (sunset reviews).

– Ủy ban Thương mại Quốc tế Hoa Kỳ (Internatinal Trade Commission – ITC)

Ủy ban Thương mại Quốc tế Hoa Kỳgồm 6 Ủy viên, bao gồm 3 Ủy viên từĐảng Dân chủ và 3 từ Đảng Cộng hòa hoạt động độc lập với các Đảng phái – Nghị viện – Chính phủ và chỉ tuân thủ pháp luật. Vì vậy, các quyết định của Ủy ban này được xem là tương đối khách quan.

Ủy ban Thương mại Quốc tế Hoa Kỳ chịu trách nhiệm:

+ Điều tra thiệt hại và mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại và trợ cấp/phá giá/nhập khẩu ồ ạt (tùy tính chất vụ việc);

+ Tham gia vào quá trình điều tra thiệt hại trong thủ tục rà soát lại do thay đổi hoàn cảnh và rà soát hoàng hôn (sunset reviews)

b. Các cơ quan có thẩm quyền liên quan đến quá trình điều tra và áp dụng biện pháp phòng vệ, bao gồm:

– Hải quan Hoa Kỳ: là cơ quan hành chính thuần túy thực thi các biện pháp phòng vệ (tạm thời, chính thức) theo cách thức, mức độ như đã được DOC quyết định. Không có chuyện vận động hay yêu cầu gì liên quan đến các biện pháp phòng vệ đối với Cơ quan này.

– Toà án Thương mại Quốc tế Hoa Kỳ (US Court of International Trade – CIT): là cơ quan tư pháp, độc lập với các cơ quan khác trong hệ thống các cơ quan Hoa Kỳ nói chung và các cơ quan điều tra, áp dụng, thực thi các biện pháp phòng vệ nói riêng.

Toà án Thương mại Quốc tế Hoa Kỳ có trách nhiệm xét xử đơn kháng kiện của các bên liên quan đến vụ việc phòng vệ thương mại về:

+ Các quyết định của các cơ quan liên quan trong vụ việc phòng vệ;

+ Các hành vi hành chính khác của các cơ quan liên quan trong vụ việc phòng vệ.

Nếu một hoặc các bên không đồng ý với Phán quyết của Toà án Thương mại Quốc tế Hoa Kỳ về các vấn đề liên quan thì còn có thể kháng nghị Phán quyết này đến Toà Phúc thẩm liên bang Hoa Kỳ.

– Văn phòng Đại diện Thương mại Hoa Kỳ (The Office of the US Trade Representative – USTR) là cơ quan thuộc Chính phủ Hoa Kỳ, có trách nhiệm:

+ Tham gia đàm phán các Hiệp định thương mại quốc tế (trong đó có các hiệp định liên quan đến chống bán phá giá, chống trợ cấp, tự vệ)

+ Đại diện cho chính phủ Hoa Kỳ tham gia vào các tranh chấp theo Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO (trong đó có các tranh chấp liên quan đến các biện pháp phòng vệ thương mại).

31.2.3. Các thời hạn trong điều tra chống trợ cấp

Một vụ điều tra chống trợ cấp nhìn chung được thực hiện với các thời hạn ngắn hơn so với điều tra chống bán phá giá mặc dù có các giai đoạn điều tra tương tự. Thời hạn cụ thể cho từng giai đoạn điều tra như sau:

– Ngày nộp đơn: ngày 0

– Ngày khởi xướng điều tra: ngày thứ 20

– Kết luận sơ bộ về thiệt hại: ngày thứ 45

– Kết luận sơ bộ về trợ cấp: ngày thứ 85-150

– Kết luận cuối cùng về trợ cấp: ngày thứ 160-225

– Kết luận cuối cùng về thiệt hại: ngày thứ 205-270

31.2.4. Khởi xướng điều tra chống trợ cấp

Các vụ điều tra chống trợ cấp ở Hoa Kỳ phần lớn bắt đầu trên cơ sở Đơn kiện của ngành sản xuất nội địa hoặc một số ít theo quyết định của Bộ Thương mại Hoa Kỳ. Khi nhận được Đơn kiện, ộ Thương mại Hoa Kỳ sẽ phải cân nhắc để ra quyết định có khởi xướng điều tra hay không (xem xét Đơn kiện có đủ các nội dung cơ bản và Nguyên đơn có đủ tư cách đại diện cho ngành để khởi kiện hay không).

Tuy nhiên, ngay cả khi quyết định khởi xướng điều tra, việc điều tra sẽ không được tiến hành tự động đối với tất cả các chương trình trợ cấp bị cáo buộc trong Đơn kiện. Trên thực tế, đối với từng chương trình trợ cấp bị cáo buộc, Bộ Thương mại Hoa Kỳ sẽ xem xét:

– Có đủ bằng chứng để xác định đó là một hình thức trợ cấp hay không; hoặc

– Chương trình trợ cấp đó có thực sự đến với doanh nghiệp hay không.

Nếu không có đủ bằng chứng về các vấn đề nói trên đối với một chương trình bị cáo buộc là trợ cấp, Bộ Thương mại Hoa Kỳ sẽ không tiến hành khởi xướng điều tra đối với chương trình đó (trong khi vẫn có thể tiến hành điều tra chống trợ cấp cho vụ việc đó nhưng là đối với một hoặc một số chương trình bị cáo buộc là trợ cấp khác và được Bộ Thương mại Hoa Kỳ cho là có đủ bằng chứng).

31.2.5. Bảng câu hỏi điều tra chống trợ cấp của Bộ Thương mại Hoa Kỳ

Việc thu thập thông tin qua việc gửi Bảng câu hỏi là thủ tục điều tra cơ bản của Bộ Thương mại Hoa Kỳ. Bảng câu hỏi sẽ được gửi đến các bên liên quan, đặc biệt là các doanh nghiệp xuất khẩu bị đơn.

Tuy nhiên, đối với điều tra chống trợ cấp, bên cạnh việc gửi Bảng câu hỏi đến các bên liên quan, Bộ Thương mại Hoa Kỳ còn bắt buộc phải gửi Bảng câu hỏi điều tra về trợ cấp đến Chính phủ nước xuất khẩu bị điều tra. Như vậy, kết quả điều tra chống trợ cấp sẽ không chỉ phụ thuộc vào nỗ lực của doanh nghiệp trong việc chứng minh mà còn phụ thuộc vào hành động của Chính phủ nước xuất khẩu cũng như các cơ quan liên quan đến chương trình trợ cấp bị cáo buộc.

Thời hạn cho việc trả lời Bảng câu hỏi điều tra chống trợ cấp thường ngắn hơn thời hạn cho hoạt động tương tự trong điều tra chống bán phá giá (khoảng 30-45 ngày) và khả năng xin gia hạn khó khăn hơn nhiều.

31.2.6. Các loại trợ cấp phải khai báo trong Bảng câu hỏi điều tra chống trợ cấp

Bảng câu hỏi điều tra chống trợ cấp có mục đích xác định các khoản/loại trợ cấp mà Chính phủ nước xuất khẩu cung cấp và doanh nghiệp xuất khẩu bị đơn được thụ hưởng. Các loại trợ cấp được hỏi chi tiết có thể bao gồm:

–          Các hình thức ưu đãi thuế;

–          Các hình thức miễn thuế;

–          Miễn thuế thu nhập doanh nghiệp;

–          Giảm thuế và thuế giá trị gia tăng;

–          Các hình thức trợ cấp tồn tại trên thị trường nội địa;

–          Các hoạt động tái cơ cấu nợ của các doanh nghiệp cụ thể;

–          Nợ và Bảo lãnh nợ từ ngân hàng Nhà nước (hoặc chịu sự kiểm soát của Nhà nước);

–          Các chương trình khuyến khích xuất khẩu;

–          Các chương trình tài chính khác được tài trợ bởi Chính phủ;

–          Bất kỳ chương trình hỗ trợ nào khác trên thị trường nội địa nước xuất khẩu trong giai đoạn điều tra.

31.2.7. Thẩm tra thực địa trong điều tra chống trợ cấp

Sau khi nhận được các thông tin từ Bản trả lời Bảng câu hỏi điều tra của các bên liên quan và các hình thức bổ sung thông tin khác, Bộ Thương mại Hoa Kỳ sẽ tiến hành thẩm tra thực địa tính xác thực và căn cứ của các thông tin trả lời thông qua việc điều tra tại thực địa. Thẩm tra thực địa trong một vụ chống trợ cấp bao gồm cả việc điều tra các bảng trả lời của Chính phủ nước xuất khẩu.

31.2.8. Nội dung điều tra chống trợ cấp

Việc điều tra chống trợ cấp được thực hiện với hai nội dung, bao gồm:

– Điều tra về trợ cấp và biên độ trợ cấp: Bộ Thương mại Hoa Kỳ tiến hành;

– Điều tra về thiệt hại và mối quan hệ nhân quả: Ủy ban Thương mại Quốc tế Hoa Kỳ tiến hành

Điều tra về thiệt hại gây ra đối với ngành sản xuất nội địa Hoa Kỳ và mối quan hệ của nó với việc nhập khẩu hàng hóa nước ngoài bị điều tra do Ủy ban Thương mại Quốc tế Hoa Kỳ thực hiện có nội dung tương tự như phương pháp điều tra mà ITC tiến hành trong điều tra chống bán phá giá.

Điều tra về trợ cấp và biên độ trợ cấp do Bộ Thương mại Hoa Kỳ thực hiện sử dụng các phương pháp có rất nhiều khác biệt trong tính toán trong khi vẫn sử dụng các phương pháp thu thập và xác minh thông tin như điều tra chống bán phá giá.

Trong WTO cũng như pháp luật Hoa Kỳ, không phải mọi hình thức trợ cấp của các Chính phủ nước ngoài đều có thể áp dụng biện pháp chống trợ cấp. Để có thể áp dụng biện pháp chống trợ cấp, loại trợ cấp liên quan phải nằm trong diện “có thể áp dụng biện pháp chống trợ cấp – trợ cấp có thể bị đối kháng” và mức độ trợ cấp phải ở mức “đáng kể”. Vì vậy, mục tiêu điều tra chống trợ cấp mà DOC tiến hành là nhằm xác định xem có đủ điều kiện để áp dụng biện pháp chống trợ cấp với loại trợ cấp bị cáo buộc hay không.

Vì vậy, quá trình điều tra chống trợ cấp của Bộ Thương mại Hoa Kỳ bao gồm việc xác định 02 nội dung sau:

– Có tồn tại chương trình trợ cấp bị cáo buộc không ? (chương trình đó có đáp ứng đầy đủ các tiêu chí để bị xem là trợ cấp hay không); và

– Mức độ trợ cấp (biên độ trợ cấp) là bao nhiêu?

Lưu ý là khi xem xét một khoản trợ cấp có phải là “trợ cấp xuất khẩu” hoặc “trợ cấp ưu tiên sử dụng hàng nội địa” hay không, Bộ Thương mại Hoa Kỳ quan tâm rất nhiều đến tình huống, hoàn cảnh cụ thể của từng trường hợp. Ví dụ, Bộ Thương mại Hoa Kỳ sẽ xem xét cả các vấn đề sau khi xác định “trợ cấp xuất khẩu”:

– Có phải thị trường nội địa của nước xuất khẩu quá nhỏ đến nỗi doanh nghiệp phải xuất khẩu để đảm bảo sản xuất có lãi không hay là vì lý do nào khác?

– Doanh nghiệp bị đơn xuất khẩu phần lớn hay chỉ một phần sản phẩm của mình?

– Có hiện tượng các doanh nghiệp bị đơn chỉ tập trung xuất khẩu những loại sản phẩm đủ điều kiện để hưởng ưu đãi trong khi trên thực tế họ sản xuất hoặc có khả năng sản xuất rất nhiều loại sản phẩm khác?

31.2.9. Tính toán mức thuế chống trợ cấp

Trong điều tra chống trợ cấp, Bộ Thương mại Hoa Kỳ sẽ tiến hành tính toán biên độ trợ cấp để từ đó xác định mức thuế chống trợ cấp tương ứng.

Bộ Thương mại Hoa Kỳ sẽ tính toán biên độ trợ cấp theo từng chương trình trợ cấp cụ thể bằng cách chia giá trị phần lợi ích mà chương trình trợ cấp đó mang lại trong khoảng thời gian điều tra cho trị giá của các lô hàng được xem là nhận trợ cấp trong khoảng thời gian đó. Phương pháp này đòi hỏi Bộ Thương mại Hoa Kỳ phải thực hiện 02 bước:

Bước 1: Xác định “tử số” và “mẫu số”

“Tử số”: Lợi ích mà chương trình trợ cấp mang lại trong khoảng thời gian điều tra

Việc tính toán này không đơn giản vì thường thì một chương trình trợ cấp được thực hiện trong khoảng thời gian dài, với tác động đến nhiều mặt và do đó rất khó để xác định lợi ích nó mang lại cho sản phẩm bị điều tra chỉ một khoảng thời gian nhất định.

“Mẫu số”: Trị giá của các sản phẩm được nhận trợ cấp

Việc tính toán “mẫu số” này khó khăn là thực tế có nhiều loại hàng hóa (tính theo lô hàng) khác nhau. Lợi ích phân bổ cho mỗi loại phụ thuộc vào tính chất của chương trình trợ cấp đang xem xét.

Bước 2: Xác định biên độ trợ cấp của chương trình trợ cấp liên quan bằng cách lấy tử số chia cho mẫu số (ví dụ cụ thể tại Phụ lục)

31.3.Quy định của Ủy ban Châu Âu về biện pháp chống trợ cấp.

Văn bản pháp luật của EU về chống bán phá giá tương đối đơn giản so với pháp luật của Hoa Kỳ về vấn đề này.Về cơ bản các quy định của EU về các biện pháp phòng vệ thương mại trong đó có biện pháp chống bán phá giá đều được xây dựng dựa trên các nguyên tắc liên quan của WTO trong Hiệp định về trợ cấp và biện pháp đối kháng (SCM). Vì vậy chúng có nội dung chính gần tương tự như quy định về các biện pháp phòng vệ thương mại của các nước thành viên WTO khác. Tuy nhiên, ngoài các nguyên tắc cơ bản đã nêu trong các Hiệp định liên quan của WTO, mỗi nước có quyền đưa ra các quy định chi tiết hóa hoặc bổ sung các quy định khác không trái với các nguyên tắc này. Trên cơ sở này, pháp luật EU về các biện pháp phòng vệ thương mại có một số điểm đặc trưng riêng.

31.3.1. Điều kiện áp dụng biện pháp chống trợ cấp và yêu cầu về tính đại diện ngành sản xuất nội địa.

Trợ cấp là mục tiêu của các vụ kiện chống trợ cấp tại EU là những trợ cấp khiến cho giá bán sang EU của sản phẩm được trợ cấp thấp hơn bình thường, khiến các sản phẩm này có lợi thế cạnh tranh trên thị trường EU, gây thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất nội địa liên quan của khối này. Trợ cấp ở đây được hiểu là các khoản hỗ trợ về tài chính hoặc tương tự, mang tính riêng biệt, do chính phủ nước xuất khẩu hoặc đơn vị được chính phủ ủy nhiệm thực hiện đem lại lợi ích cho doanh nghiệp xuất khẩu. Đây được xem là hành vi cạnh tranh không lành mạnh bởi nó khiến hàng hóa của doanh nghiệp khi xuất vào EU có giá thấp, không phản ảnh đúng trị giá, mang lại lợi thế cạnh tranh cho hàng hóa xuất khẩu so với hàng hóa do ngành sản xuất nội địa EU sản xuất ra.

a. Các điều kiện cần có để áp dụng biện pháp chống trợ cấp ở EU:

–          Hàng hóa nhập khẩu liên quan vào EU được trợ cấp;

–          Ngành sản xuất sản phẩm liên quan nội địa chịu thiệt hại đáng kể (hoặc bị đe dọa thiệt hại đáng kể);

–          Tồn tại mối quan hệ nhân quả giữa việc hàng nhập khẩu hàng được trợ cấp và thiệt hại của ngành sản xuất nội địa;

–          Việc áp dụng biện pháp chống trợ cấp là phù hợp với lợi ích của Cộng đồng.

So với các điều kiện áp thuế trong WTO thì các điều kiện áp thuế của EU bổ sung thêm một điều kiện bắt buộc theo đó việc áp dụng biện pháp phòng vệ “phải phù hợp với lợi ích của Cộng đồng”. Như vậy, việc áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại tại EU về nguyên tắc là khó hơn, và do đó có lợi hơn cho doanh nghiệp xuất khẩu nước ngoài.

b. Yêu cầu về tính đại diện của ngành sản xuất nội địa

Một vụ kiện chống bán phá giá/chống trợ cấp ở EU có thể được bắt đầu bằng đơn kiện của đại diện ngành sản xuất nội địa EU hoặc bằng quyết định của chính Ủy ban châu Âu. Pháp luật EU quy định đơn kiện (của đại diện ngành sản xuất nội địa) hoặc quyết định tự khởi xướng vụ kiện (của Ủy ban châu Âu) phải tập hợp đủ những thông tin ban đầu chứng minh có việc bán phá giá/trợ cấp của hàng nhập khẩu gây thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất nội địa.

Trên thực tế, hầu hết các vụ điều tra chống bán phá giá/chống trợ cấp ở EU đều xuất phát từ Đơn kiện của ngành sản xuất nội địa. Ủy ban châu Âu rất hiếm khi tự mình khởi xướng vụ điều tra.

Theo pháp luật EU, một (nhóm) tổ chức, cá nhân bất kỳ có thể nộp Đơn kiện chống bán phá giá/chống trợ cấp nếu tổ chức, cá nhân đó đại diện cho ngành sản xuất nội địa, tức là phải đảm bảo được rằng các nhà sản xuất ủng hộ đơn kiện phải:

– Chiếm không dưới 50% tổng sản lượng sản phẩm tương tự (với sản phẩm bị điều tra) sản xuất bởi các nhà sản xuất có ý kiến về đơn kiện (ủng hộ hoặc phản đối đơn kiện); và

– Chiếm không dưới 25% tổng sản lượng sản phẩm tương tự (với sản phẩm bị điều tra) sản xuất ra bởi tất cả các nhà sản xuất nội địa EU (bao gồm cả những người phản đối, ủng hộ hoặc không có ý kiến gì).

Khi nhận được Đơn kiện, Ủy ban châu Âu bắt buộc phải kiểm tra “tính đại diện cho ngành” của các chủ thể đứng đơn kiện. Thông thường Ủy ban sẽ tiến hành điều tra các nhà sản xuất EU để xác định sản lượng, số lượng bán và ý kiến của họ về đơn kiện. Nếu số nhà sản xuất ủng hộ đơn kiện không đáp ứng được một trong hai điều kiện nêu trên thì đơn kiện sẽ bị bác. Hoặc ngay cả khi đã áp thuế thì thuế cũng vô hiệu

31.3.2. Cơ quan có thẩm quyền

Các cơ quan chính của EU cũng đồng thời là các cơ quan có thẩm quyền liên quan đến điều tra và áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại. Quá trình điều tra được thực hiện hoàn toàn bởi Ủy ban châu Âu (European Commission), sau đó với tư vấn của Ủy ban tư vấn (Advisory Committee) về các biện pháp phòng vệ thương mại, Ủy ban châu Âu sẽ đệ trình đề xuất lên Hội đồng châu Âu (European Council) để cơ quan đó ra quyết định cuối cùng.

a. Uỷ ban Châu Âu (European Commission):

Ủy ban Châu Âu có thẩm quyền:

Ra các quyết định:

+ Khởi xướng điều tra

+ Ban hành biện pháp tạm thời

+ Đề xuất biện pháp chính thức

+ Chấm dứt điều tra

+ Chấp nhận cam kết giá

–          Tổ chức điều tra chống bán phá giá (bao gồm cả điều tra về việc bán phá giá và điều tra về thiệt hại) – đảm bảo các quyền tố tụng của các bên trong quá trình điều tra;

–          Đưa ra các đề xuất trình Hội đồng châu Âu quyết định áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại chính thức.

b. Đơn vị cụ thể của Ủy ban châu âu phụ trách vấn đề kiện phòng vệ thương mại: Vụ H – Tổng Vụ Thương mại – Ủy ban châu Âu (European Commission Directorate General for Trade Directorate H)

Vụ H sẽ chỉ định 2 nhóm khác nhau tiến hành điều tra trong một vụ việc:

–          Một nhóm điều tra về cáo buộc “bán phá giá/trợ cấp”;

–          Một nhóm còn lại điều tra về cáo buộc “thiệt hại mà việc bán phá giá/bán hàng được trợ cấp gây ra cho ngành sản xuất nội địa EU”.

Việc điều tra của mỗi nhóm sẽ bao gồm:

–          Phân tích các câu trả lời Bảng câu hỏi và các văn bản mà các bên liên quan đệ trình;

–          Tiến hành điều tra xác minh thực địa;

–          Soạn thảo các văn bản/quyết định/khuyến nghị liên quan.

c. Ủy ban Tư vấn về Chống bán phá giá và Chống trợ cấp (Advisory Committee)

Ủy ban Tư vấn về Chống bán phá giá và Chống trợ cấp gồm các đại diện của các nước thành viên EU, mỗi quốc gia có 1 đến 2 đại diện tham gia và một đại diện của Uỷ ban Châu Âu đóng vai trò là chủ tịch Uỷ ban Tư vấn. Ủy ban tư vấn mỗi tháng họp khoảng +/- 1 lần, một năm có khoảng 15 cuộc họp;

 Uỷ ban Tư vấn có chức năng đưa ra ý kiến tham vấn/góp ý (khi được yêu cầu hoặc khi pháp luật quy định việc tham vấn bắt buộc) cho Ủy ban châu Âu về các kết luận điều tra và các đề xuất áp thuế/không áp thuế chống bán phá giá/chống trợ cấp. Ý kiến này không có giá trị bắt buộc nhưng cơ quan có thẩm quyền ra quyết định liên quan phải tính đến ý kiến của Uỷ ban khi ban hành quyết định.

d. Hội đồng Châu Âu (European Council):

Hội đồng Châu Âu, bao gồm 27 thành viên (là các Bộ trưởng trong lĩnh vực liên quan), mỗi thành viên là đại diện chính thức cho một quốc gia thành viên (lá phiếu của thành viên đó được xem là lá phiếu của nước liên quan)

Hội đồng châu Âu có quyền quyết định trong các vấn đề sau:

– Quyết định áp đặt biện pháp phòng vệ thương mại chính thức;

– Quyết định về kết quả các lần rà soát giữa kỳ và rà soát cuối kỳ (rà soát hoàng hôn)

Quyết định áp dụng biện pháp chống bán phá giá (quyết định chính thức sau điều tra ban đầu, rà soát giữa kỳ hoặc rà soát cuối kỳ) của Hội đồng Châu Âu được xem là tự động (theo đề xuất của Ủy ban Châu Âu) trừ khi có đa số thành viên Hội đồng (tức là ít nhất 14/27 nước thành viên) bác bỏ đề xuất áp dụng biện pháp phòng vệ trong vòng 1 tháng kể từ ngày Ủy ban châu Âu đệ trình đề xuất (trong cuộc họp của Hội đồng được tổ chức trong thời gian đó).

e. Tòa án châu Âu

Các tổ chức, cá nhân có thể kháng kiện quyết định áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại ra Tòa án Sơ thẩm châu Âu (Court of First Instance – CIC) và sau đó, nếu tiếp tục kháng án, ra Tòa án Công bằng châu Âu (European Court of Justice ECJ) (là cấp tòa tối cao của EU).

f. Các cơ quan có thẩm quyền của các quốc gia thành viên:

Các nước thành viên tuy không được chủ động tham gia vào quá trình điều tra và áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại của EU như các cơ quan của EU nói trên nhưng cơ quan có thẩm quyền của các nước này có trách nhiệm:

– Phối hợp với Uỷ ban châu Âu trong hoạt động điều tra của cơ quan này;

– Thực thi các quyết định áp đặt thuế chống bán phá giá (chính thức hoặc tạm thời);

– Thực hiện một số quyền yêu cầu liên quan đến các thủ tục rà soát sau khi áp dụng biện pháp chính thức (ví dụ yêu cầu rà soát giữa kỳ, rà soát hoàng hôn…)

* Ảnh hưởng của “cơ chế liên minh” trong Eu đối với việc áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại: Trong thương mại quốc tế, EU là một liên minh thuế quan thống nhất (như một quốc gia trong quan hệ thương mại với các quốc gia khác không phải thành viên EU). Vì vậy các quy định về biện pháp phòng vệ thương mại và việc thực thi, áp dụng các biện pháp đó được thực hiện thống nhất và chung cho tất cả các nước thành viên EU. Điều này có nghĩa là nếu EU điều tra và ra quyết định áp thuế chống bán phá giá đối với mặt hàng X của nước A thì mặt hàng X sẽ phải chịu thuế này khi nhập khẩu vào bất kỳ nước nào thuộc EU.

31.3.3. Các bước và thời hạn cơ bản trong vụ điều tra

Điều tra chống bán phá giá và điều tra chống trợ cấp ở EU có trình tự thủ tục gần tương tự nhau (khác nhau ở thời hạn) với các bước điều tra cơ bản sau:

–          Đơn kiện;

–          Khởi xướng điều tra (trường hợp điều tra chống trợ cấp thì có thêm bước tham vấn với Chính phủ nước xuất khẩu trước khi ra quyết định khởi xướng điều tra)

–          Điều tra sơ bộ;

–          Điều tra cuối cùng;

–          Quyết định áp dụng biện pháp chống bán phá giá/chống trợ cấp;

–          Rà soát hàng năm;

–          Rà soát hoàng hôn.

Trong số các thủ tục này, thủ tục điều tra sơ bộ và cuối cùng (về cả bán phá giá/ trợ cấp và thiệt hại) là công việc phức tạp nhất và đòi hỏi nhiều công sức nhất đối với các doanh nghiệp. Những thời hạn mà doanh nghiệp phải tuân thủ cũng chủ yếu tập trung ở các thủ tục này, cụ thể:

–          Thời hạn trình trả lời Bảng câu hỏi: Tối thiểu là 37 ngày lịch kể từ ngày khởi xướng vụ điều tra (có thể được gia hạn);

–          Thời hạn điều tra xác minh tại EU: Khoảng 2 tháng kể từ ngày khởi xướng vụ điều tra;

–          Thời hạn điều tra thực địa tại nước xuất khẩu: Khoảng 2-3 tháng kể từ ngày khởi xướng vụ điều tra;

–          Thời hạn ra quyết định áp dụng biện pháp tạm thời (nếu có): Ít nhất 9 tháng kể từ ngày khởi xướng vụ điều tra;

–          Thời hạn ra quyết định áp dụng thuế chống bán phá giá/chống trợ cấp chính thức: Khoảng 11-15 tháng (đối với điều tra chống bán phá giá) hoặc 13 tháng đối với trợ cấp kể từ ngày khởi xướng điều tra.

31.3.4. Áp dụng các biện pháp tạm thời

Biện pháp tạm thời là biện pháp được áp dụng để tạm thời đối phó với hành vi bán phá giá/trợ cấp gây thiệt hại, được thực hiện dưới hình thức thuế tạm thời đánh vào các sản phẩm bị điều tra nhập khẩu vào EU sau thời điểm quyết định áp dụng biện pháp tạm thời có hiệu lực.

Ủy ban châu Âu là cơ quan có thẩm quyền đánh giá xem các điều kiện để áp dụng biện pháp tạm thời đã thoả mãn chưa và ra quyết định về việc áp dụng biện pháp này (mức, thời hạn, cách thức áp dụng). UBCA phải thông báo mọi quyết định về vấn đề này cho Hội đồng châu Âu và tất cả các quốc gia thành viên.

+ Điều kiện áp dụng

+ Điều kiện về nội dung: Các biện pháp tạm thời được áp dụng chủ yếu để ngăn chặn nguy cơ những hành vi bán phá giá gây thêm những thiệt hại mới cho ngành sản xuất nội địa của EU. Vì vậy, để có thể áp dụng các biện pháp này, nguy cơ đó phải có thật, có nghĩa là ít nhất phải có kết luận sơ bộ của cơ quan có thẩm quyền khẳng định có việc bán phá giá gây thiệt hại. Ngoài ra, để áp dụng các biện pháp này, cần chứng minh rằng quyền lợi của Cộng đồng đòi hỏi như vậy;

+ Điều kiện về thời gian: Các biện pháp tạm thời chỉ có thể được áp dụng sau ít nhất là 60 ngày và không được muộn hơn 9 tháng kể từ ngày khởi xướng điều tra.

+ Hình thức áp dụng: Chủ hàng phải nộp một khoản tiền bảo đảm (bảo đảm thanh toán thuế chống bán phá giá) khi nhập khẩu sản phẩm thuộc diện bị điều tra vào lãnh thổ EU.

+ Mức áp dụng: Khoản tiền bảo đảm này được ấn định ở mức không cao hơn biên độ phá giá được xác định trong kết luận sơ bộ. Pháp luật EU cũng qui định rõ mức bảo đảm nên thấp hơn biên độ phá giá nếu mức này đã đủ để loại bỏ thiệt hại đối với ngành sản xuất của EU.

+ Thời hạn áp dụng biện pháp tạm thời

Có hai khả năng:

+ Thông thường biện pháp tạm thời sẽ được áp dụng trong 6 tháng (có thể gia hạn thêm 3 tháng) hoặc

+ Trường hợp đặc biệt, biện pháp tạm thời có thể áp dụng trong 9 tháng. Tuy nhiên, việc gia hạn biện pháp tạm thời (nếu biện pháp được áp dụng 6 tháng) hoặc áp dụng thời hạn 9 tháng chỉ được thực hiện nếu có yêu cầu của các nhà xuất khẩu chiếm tỷ trọng lớn về thương mại hàng hoá liên quan hoặc nếu những người này không có phản đối khi Ủy ban châu Âu thông báo về việc này.thì được xem là có bán phá giá/trợ cấp. Khi đó kết luận về phá giá/trợ cấp là “kết luận khẳng định” (affirmative determination).

– Kết quả điều tra sơ bộ về thiệt hại: Xác định ngành sản xuất nội địa EU có bị thiệt hại đáng kể hay không. Kết luận sơ bộ trong vụ điều tra về thiệt hại là mốc quan trọng đối với doanh nghiệp bởi:

+ Nếu kết luận khẳng định: Biện pháp tạm thời bắt đầu được áp dụng (dưới dạng thuế tạm thời) và cuộc điều tra được tiếp tục (giai đoạn điều tra cuối cùng);

+ Nếu kết luận phủ định: Vụ điều tra chấm dứt hoàn toàn.

31.3.5. Các hoạt động điều tra trong giai đoạn điều tra cuối cùng

Hoạt động điều tra cuối cùng trong vụ điều tra chống bán phá giá/chống trợ cấp ở EU chủ yếu là việc xem xét, phân tích và đánh giá lại các thông tin đã thu thập trong giai đoạn điều tra sơ bộ. Cũng trong giai đoạn này, cơ quan điều tra có thể thực hiện việc thu thập thông tin bổ sung, điều tra thực địa bổ sung, nếu cần.Giai đoạn này cũng có thể có các phiên điều trần nếu các bên có yêu cầu (tuy nhiên, việc yêu cầu phải thực hiện đúng hạn, từ giai đoạn đầu của vụ điều tra).Trên thực tế, khác với giai đoạn điều tra sơ bộ (giai đoạn bao gồm hầu hết các hoạt động điều tra quan trọng và có liên quan đến doanh nghiệp), giai đoạn điều tra cuối cùng chủ yếu được thực hiện bởi các cán bộ điều tra và ít có các hoạt động liên quan trực tiếp các bên trong vụ điều tra (khác với Hoa Kỳ nơi giai đoạn điều tra cuối cùng thường khá căng thẳng với hoạt động điều tra thực địa, phiên điều trần và các điều tra chặt chẽ về thiệt hại).

31.3.6. Áp dụng các biện pháp chống trợ cấp

Sau khi kết thúc việc điều tra lần cuối về phá giá/trợ cấp và thiệt hại (giai đoạn điều tra cuối cùng) cũng như tiến hành xem xét các lợi ích Cộng đồng (ảnh hưởng của quyết định áp thuế, nếu có, đối với các nước thành viên, nhà nhập khẩu, người tiêu dùng, các đơn vị sử dụng và các đơn vị khác), các cán bộ điều tra sẽ tiến hành tập hợp, tóm tắt tài liệu và báo cáo về kết quả điều tra cho Ủy ban châu Âu.

Việc ra kết luận cuối cùng của cuộc điều tra (đồng thời là quyết định áp thuế, nếu có) được thực hiện theo một quy trình tương đối phức tạp, bao gồm:

Bước 1: Ủy ban châu Âu lấy ý kiến tư vấn của Ủy ban tư vấn về chống bán phá giá-chống trợ cấp đối với kết luận cuối cùng cũng như việc áp dụng biện pháp chống bán phá giá/chống trợ cấp;

Bước 2: Ủy ban châu Âu lập đề xuất chính thức về kết quả điều tra và biện pháp chống bán phá giá/chống trợ cấp liên quan:

– Nếu kết luận của Ủy ban châu Âu là không áp thuế: Vụ điều tra chấm dứt luôn, kết luận của Ủy ban châu Âu đồng thời là quyết định chấm dứt điều tra chính thức;

– Nếu kết luận của Ủy ban là có đủ điều kiện áp thuế và đề xuất áp thuế: Quy trình tiếp tục theo Bước 3

Bước 3: Quyết định áp dụng biện pháp chống bán phá giá/chống trợ cấp

– Nếu trong vòng 1 tháng kể từ ngày Ủy ban châu Âu gửi đề xuất áp thuế đến cho Hội đồng châu Âu mà Hội đồng châu Âu không phản đối đề xuất này (bằng đa số phiếu quá bán) thì đề xuất trở thành quyết định áp thuế chính thức;

– Nếu trong vòng 1 tháng kể từ ngày Ủy ban châu Âu gửi đề xuất áp thuế đến cho Hội đồng châu Âu mà đa số quá bán (14/27) nước thành viên EU phản đối thì đề xuất không có hiệu lực và quyết định cuối cùng sẽ là không áp thuế (việc bỏ phiếu của Hội đồng châu Âu thường được thực hiện trong khuôn khổ một phiên họp toàn thể nào đó của Hội đồng được tiến hành trong tháng liền sau thời điểm nhận đề xuất của Ủy ban).

Thuế chống bán phá giá/chống trợ cấp chỉ có thể được áp đặt nếu có đủ các điều kiện sau:

– Kết luận điều tra cuối cùng khẳng định:

+ Có hành vi bán phá giá trên mức “không đáng kể” (biên độ phá giá từ 2% trở lên) hoặc có hành vi trợ cấp trên mức “không đáng kể” (biên độ trợ cấp từ 1% trở lên);

+ Ngành sản xuất nội địa của EU phải chịu thiệt hại đáng kể; và

+ Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trợ cấp và thiệt hại nói trên.

– Lợi ích của Cộng đồng đòi hỏi cần áp đặt thuế chống trợ cấp

Nguyên tắc áp dụng:

+ Thuế chống bán phá giá/chống trợ cấp được đặc định hóa cho từng nhà nhập khẩu (về mức thuế, loại thuế, sản phẩm chịu thuế, xuất xứ sản phẩm, tên nhà xuất khẩu nước ngoài);

+ Thuế chống bán phá giá/chống trợ cấp phải được áp dụng theo mức phù hợp cho mỗi vụ việc, trên cơ sở không phân biệt đối xử đối với hàng hoá nhập khẩu từ tất cả các nguồn khác nhau bị kết luận là có bán phá giá/trợ cấp gây thiệt hại.

Ngoại lệ của nguyên tắc này là những cam kết về giá đang có hiệu lực: đối với những trường hợp này, thuế chống bán phá giá/chống trợ cấp không được áp dụng cho những nhà xuất khẩu liên quan mặc dù các điều kiện khác đã thoả mãn đầy đủ (do cam kết về giá được xem là biện pháp chống bán phá giá/chống trợ cấp thay thế cho thuế chống bán phá giá, chống trợ cấp).

+ Thuế chống bán phá giá/chống trợ cấp có thể có giá trị hồi tố theo những điều kiện nhất định (tức là thuế này được áp dụng cho hàng hoá nhập khẩu vào EU vào thời điểm trước khi có quyết định áp đặt thuế chống bán phá giá/chống trợ cấp).

+ Thuế chống bán phá giá/chống trợ cấp được thu riêng, độc lập với việc thu các loại thuế, phí hải quan khác áp dụng đối với hàng nhập khẩu nói chung.

31.3.7. Các loại thuế chống trợ cấp

Thuế chống trợ cấp là thuế bổ sung (bên cạnh thuế nhập khẩu) đánh vào hàng nhập khẩu liên quan; được áp dụng sau khi có kết luận chính thức khẳng định có việc bán phá giá/trợ cấp gây thiệt hại; Thuế chống trợ cấp chỉ được áp dụng khi có kết luận chính thức khẳng định có việc trợ cấp gây thiệt hại và việc áp thuế phù hợp với lợi ích Cộng đồng và doanh nghiệp không có cam kết về giá với Ủy ban châu Âu. Mức độ áp thuế chống trợ cấp được thực hiện theo biên độ trợ cấp hoặc biên độ thiệt hại, tùy thuộc vào biên độ nào thấp hơn.

Thuế chống trợ cấp chính thức có thể được thực hiện dưới các hình thức sau:

– Thuế phần trăm trên trị giá hàng hóa (% của mức giá tại biên giới EU): Đây là hình thức thuế được áp dụng phổ biến nhất

– Thuế tuyệt đối (một mức cố định)

– Hình thức khác, dựa trên giá tối thiểu (phần chênh lệch giữa giá tối thiểu và giá net tại biên giới EU)

– Kết hợp các loại trên

31.3.8. Tính toán mức trợ cấp

Để xác định hàng hóa nhập khẩu có được trợ cấp hay không, cơ quan điều tra nước nhập khẩu sẽ tiến hành tính toán mức trợ cấp của hàng hoá đó. Phương pháp tính toán chi tiết tuân thủ pháp luật của nước điều tra về vấn đề này, nhưng về cơ bản theo các hướng dẫn sau:

– Nếu Nhà nước cho doanh nghiệp vay một khoản với mức lãi suất thấp hơn mức lãi suất thương mại bình thường cho khoản vay tương tự: Mức trợ cấp được tính là phần chênh lệch giữa 2 mức lãi suất này;

– Nếu Nhà nước bảo lãnh vay với phí bảo lãnh thấp hơn chi phí mà doanh nghiệp phải trả cho khoản vay thương mại tương tự nếu không có bảo lãnh của Nhà nước: Mức trợ cấp sẽ được tính là phần chênh lệch giữa 2 mức này;

– Nếu Nhà nước mua hoặc cung cấp hàng hoá, dịch vụ với giá mua cao hơn mức hợp lý hoặc giá cung cấp thấp hơn mức hợp lý (xác định theo các điều kiện thị trường của hàng hoá/dịch vụ liên quan): mức trợ cấp là mức chênh lệnh giá.

Biên độ trợ cấp được tính theo phần trăm mức trợ cấp trên trị giá hàng hoá. Thuế chống trợ cấp là loại thuế bổ sung ngoài thuế nhập khẩu thông thường với mức thuế bằng hoặc thấp hơn biên độ trợ cấp được xác định.

31.3.9. Hiệu lực hồi tố trong áp dụng thuế chống trợ cấp?

Theo quy định của EU, có các trường hợp áp dụng hồi tố của thuế chống trợ cấp gồm:

Trường hợp 1: Thuế chống bán phá giá/trợ cấp chính thức có hiệu lực hồi tố đối với khoảng thời gian áp dụng biện pháp tạm thời

– Trường hợp đã áp dụng biện pháp tạm thời mà sau đó kết luận cuối cùng cho thấy có việc trợ cấp gây thiệt hại, Hội đồng Châu Âu sẽ quyết định phần nào của thuế chống bán phá giá áp dụng tạm thời sẽ được thu chính thức. Việc thu chính thức này được thực hiện không phụ thuộc vào việc sau đó cơ quan này có quyết định áp đặt thuế chống bán phá giá/chống trợ cấp hay không (ví dụ vì lợi ích Cộng đồng mà thuế chống bán phá giá/chống trợ cấp không được áp đặt).

– Sau khi đã tiến hành thu chính thức phần thuế này, nếu sau đó Quyết định áp đặt thuế chính thức được ban hành và mức thuế chính thức nêu trong Quyết định cao hơn mức thuế đã thu thì phần chênh lệch được bỏ qua. Ngược lại nếu thuế chính thức thấp hơn thì phần chênh lệch sẽ được tính toán để hoàn trả lại cho các chủ thể liên quan.

Trường hợp 2: Thuế chống bán phá giá/chống trợ cấp chính thức có hiệu lực hồi tố đối với khoảng thời gian trước và trong khi áp dụng biện pháp tạm thời:

Thuế chống bán phá giá/chống trợ cấp chính thức có thể được áp dụng hồi tố đối với hàng hoá nhập khẩu vào EU không sớm hơn 90 ngày trước ngày có quyết định áp dụng biện pháp tạm thời nhưng phải sau ngày bắt đầu điều tra với điều kiện là:

– Hàng hoá liên quan đã có lịch sử bán phá giá trong một thời gian tương đối dài hoặc nhà nhập khẩu đã hoặc buộc phải biết về việc bán phá giá/trợ cấp này (về qui mô của việc bán phá giá và những hệ quả thiệt hại); và

– Có sự tăng đột biến về số lượng nhập khẩu vào những thời điểm và hoàn cảnh nhất định có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến hiệu quả của thuế chống bán phá giá/chống trợ cấp chính thức.

31.3.10. Thời gian áp dụng thuế chống bán phá giá/chống trợ cấp chính thức?

Về nguyên tắc, biện pháp chống bán phá giá/chống trợ cấp (thuế) sẽ có hiệu lực cho đến khi và ở mức độ cần thiết để loại bỏ việc bán phá giá gây thiệt hại.

Cụ thể, pháp luật EU qui định như sau:

– Thuế chống bán phá giá/chống trợ cấp chính thức sẽ hết hiệu lực toàn bộ sau 5 năm kể từ ngày áp đặt hoặc 5 năm kể từ ngày tiến hành rà soát lại tổng thể (rà soát đối với cả bán phá giá/trợ cấp và thiệt hại) trừ khi kết luận rà soát lại cho thấy việc chấm dứt hiệu lực của thuế này sẽ dẫn tới sự tiếp diễn hoặc tái diễn hiện tượng bán phá giá/trợ cấp và thiệt hại;

– Thuế chống bán phá giá/chống trợ cấp có thể hết hiệu lực (toàn bộ hoặc đối với một số đối tượng cụ thể) căn cứ vào kết luận rà soát lại do cơ quan có thẩm quyền tiến hành trên cơ sở yêu cầu của các chủ thể nhất định.

Phụ lục A

THỐNG KÊ CÁC VỤ KIỆN TRỢ CẤP ĐỐI VỚI
HÀNG VIỆT NAM XUẤT KHẨU

 I. Túi nhựa PE đựng hàng bán lẻ

Ngày 21/04/2009, Bộ Thương mại Hoa Kỳ khởi xướng điều tra chống bán phá giá và chống trợ cấp .

Ngày 31/08/2009, Bộ Thương mại Hoa Kỳ ra kết luận sơ bộ khẳng định có trợ cấp với biên độ trợ cấp: 0.20% – 4.24%.

Ngày 26/03/2010, Bộ Thương mại Hoa Kỳ ra kết luận cuối cùng về biện độ trợ cấp:

Công ty Advance Polybag: 52.56%

Công ty Chin Sheng: 0.44%

Công ty Fotai Vietnam: 5.28%

Tất cả các công ty khác: 5.28%

Ngày 15/04/2010, Ủy ban Thương mại Quốc tế Hoa Kỳ đã đưa ra kết luận chính thức khẳng định có thiệt hại đáng kể đối với ngành sản xuất nội địa do bán phá giá và trợ cấp.

Ngày 04/05/2010, Bộ Thương mại Hoa Kỳ đã chính thức ban hành lệnh áp thuế chống trợ cấp đối với túi nhựa PE Việt Nam trong 5 năm.

II. Ống thép hàn các bon

Ngày 26/10/2011, 4 công ty sản xuất ống thép cacbon Hoa Kỳ đã đệ đơn lên Bộ Thương mại Hoa Kỳ yêu cầu cơ quan này khởi xướng điều tra chống bán phá giá và chống trợ cấp đối với các sản phẩm ống thép nhập khẩu từ Việt Nam, Ấn Độ, Oman và Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập.

Ngày 15/11/2011, Bộ Thương mại Hoa Kỳ đã ra quyết định khởi xướng điều tra chống bán phá giá, chống trợ cấp đối với các sản phẩm ống thép nhập khẩu từ Việt Nam, Ấn Độ, Oman và Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập.

Một số thông tin liên quan đến vụ việc:

1. Bên khởi kiện: Công ty Allied Tube and Conduit (IL), JMC Steel Group (IL), Wheatland Tube (PA), và Công ty thép Hoa Kỳ (PA)

2. Sản phẩm bị điều tra:

Sản phẩm thuộc đối tượng của cuộc điều tra này bao gồm ống và ống dẫn thép hàn bằng cacbon (“circular welded carbon-quality steel pipe”), có mã HS như sau: 7306.19.1010, 7306.19.1050, 7306.19.5110, 7306.19.5150, 7306.30.1000, 7306.30.5025, 7306.30.5032, 7306.30.5040, 7306.30.5055, 7306.30.5085, 7306.30.5090, 7306.50.1000, 7306.50.5050, và 7306.50.5070.

3. Kết luận về điều tra phá giá và trợ cấp của Bộ Thương mại Hoa Kỳ:

– Điều tra về trợ cấp:

Ngày 26/03/2012, Bộ Thương mại Hoa Kỳ đã đưa ra kết luận sơ bộ khẳng định có trợ cấp đối với sản phẩm ống thép Việt Nam xuất khẩu sang Hoa Kỳ. Ngày 16/10/2012, DOC ra kết luận cuối cùng phủ định có trợ cấp đối với sản phẩm này nhập khẩu từ Việt Nam. Cụ thể:

Tên Doanh nghiệp

Biên độ trợ cấpsơ bộ

Biên độ trợ cấp cuối cùng

Công ty SeAH Steel VINA

0,04% (de minimis)

0,00%

Công ty chế tạo máy Hồng Nguyên

8,06%

0,00%

Các công ty khác

8,06%

0,00%

– Điều tra về phá giá:

Ngày 01/06/2012, Bộ Thương mại Hoa Kỳ đưa ra kết luận sơ bộ khẳng định có hành vi phá giá đối với sản phẩm ống thép nhập khẩu từ Việt Nam. Ngày 16/10/2012, DOC kết luận cuối cùng khẳng định có phá giá đối với sản phẩm ống thép Việt Nam xuất sang Hoa Kỳ. Biên độ phá giá cụ thể như sau: 

Tên Công ty

Biên độ phá giá sơ bộ (%)

Biên độ phá giá cuối cùng (%)

Công ty SeAH Steel VINA

0.00

3.96

Công ty Vietnam Haiphong Hongyuan Machinery Manufactory Co., Ltd

0.00

5.17

Công ty Sun Steel Joint Stock Company

9.32

4.57

Công ty Huu Lien Asia Corporation

9.32

4.57

Công ty Thép Hòa Phát

9.32

4.57

Các Doanh nghiệp Việt Nam khác

27.96

27.96

4. Kết luận về điều tra thiệt hại của Ủy ban Thương mại Quốc tế Hoa Kỳ:

Ngày 15/11/2012: Ủy ban Thương mại Quốc tế Hoa Kỳ (ITC) ra kết luận cuối cùng không có thiệt hại do hành vi phá gia hay trợ cấp gây ra đối với ngành sản xuất nội địa Hoa Kỳ, do vậy, Bộ Thương mại Hoa Kỳ (DOC) không áp thuế chống bán phá giá và chống trợ cấp đối với sản phẩm ống thép của Việt Nam, Oman, Ấn Độ và Ả Rập.

III. Mắc áo bằng thép

Ngày 18/01/2012, Bộ Thương mại Hoa Kỳ (DOC) chính thức ra quyết định khởi xướng điều tra chống bán phá giá và chống trợ cấp đối với sản phẩm mắc áo bằng thép (steel wire garment hangers) nhập khẩu từ Việt Nam và điều tra chống bán phá giá đối với hàng mắc áo bằng thép có xuất xứ từ Đài Loan căn cứ vào đơn kiện được đệ trình ngày 29/12/2011 trước đó.

Một số thông tin liên quan đến vụ việc:

i. Bên đệ đơn: M&B Metal Products Company, Inc; Innovative Fabrication LLC/Indy Hanger; và US hanger company, LLC

ii. Sản phẩm bị điều tra: Sản phẩm mắc áo bằng thép có mã HS: 7326.20.0020 và 7323.99.9080

Diễn tiến vụ việc:

1. Điều tra về phá giá và trợ cấp của DOC:

Điều tra về phá giá:

Ngày 27/07/2012, Bộ Thương mại Hoa Kỳ ra kết luận sơ bộ khẳng định có phá giá đối với mắc áo thép nhập khẩu từ Việt Nam.

Ngày 24/12/2012, DOC ra kết luận cuối cùng khẳng định có phá giá đối với mắc áo thép nhập khẩu từ Việt Nam.

Biên độ phá giá cụ thể như sau:

Tên Công ty

Biên độ phá giá sơ bộ(%)

Biên độ phá giá cuối cùng (%)

TJ Group

135.81

220.68

CTN Limited Company

135.81

157.00

Ju Fu Co., Ltd.

135.81

157.00

Triloan Hangers, Inc.

135.81

157.00

Các Doanh nghiệp Việt Nam khác

187.51

220.68

Điều tra về trợ cấp:

Ngày 30/05/2012, DOC ra kết luận sơ bộ khẳng định có trợ cấp đối với mắc áo thép nhập khẩu từ Việt Nam.

Ngày 24/12/2012, DOC ra kết luận cuối cùng khẳng định có trợ cấp đối với mắc áo thép nhập khẩu từ Việt Nam.

Biên độ trợ cấp cụ thể như sau:

Tên Công ty

Biên độ trợ cấp sơ bộ (%)

Biên độ trợ cấp cuối cùng (%)

South East Asia Hamico Export Joint Stock Company (SEA Hamico), Nam A Hamico Export Joint Stock Company (Nam A), and Linh Sa Hamico Company Limited (Linh Sa)

21.25

31.58

Infinite Industrial Hanger Limited (Infinite) and Supreme Hanger Company Limited (Supreme)

11.03

90.42

Các Doanh nghiệp Việt Nam khác

16.14

31.58

2. Điều tra về thiệt hại của ITC:

Ngày 10/02/2012, Ủy ban Thương mại Quốc tế Hoa Kỳ (ITC) ra kết luận sơ bộ khẳng định có thiệt hại đáng kể đối với ngành sản xuất mắc áo thép nội địa Hoa Kỳ do mắc áo thép nhập khẩu từ Việt Nam được trợ cấp và bán phá giá.

Ngày 01/02/2013, ITC ra kết luận cuối cùng khẳng định có thiệt hại đáng kể đối với ngành sản xuất nội địa Hoa Kỳ do mắc áo thép Việt Nam được trợ cấp và bán phá giá.

3. Quyết định áp thuế chính thức:

Căn cứ vào kết quả điều tra về phá giá và trợ cấp của DOC và kết quả điều tra về thiệt hại của ITC, Bộ Thương mại Hoa Kỳ ra quyết định áp thuế chống bán phá giá và chống trợ cấp đối với mắc áo thép nhập khẩu từ Việt Nam với mức thuế chống bán phá giá bằng biên độ phá giá cuối cùng (nêu trên) và mức thuế chống trợ cấp bằng biên độ trợ cấp cuối cùng (nêu trên).

Lệnh áp thuế chống bán phá giá và chống trợ cấp cùng có hiệu lực từ ngày 05/02/2013.

IV. Tôm nước ấm đông lạnh

Ngày 17/01/2013, Bộ Thương mại Hoa Kỳ (DOC) đã chính thức khởi xướng điều tra chống trợ cấp đối với sản phẩm tôm nước ấm đông lạnh nhập khẩu từ Việt Nam, Trung Quốc, Equado, Ấn Độ, Indonesia, Malaysia và Thái Lan.

Dưới đây là một số thông tin liên quan đến vụ việc:

1.Bên đệ đơn: Liên minh Công nghiệp Tôm vùng Vịnh (The Coalition of Gulf Shrimp Industries)

2. Sản phẩm bị điều tra:

Sản phẩm tôm nước ấm đông lạnh (Frozen Warmwater Shrimp) có mã HS: 0306.17.00.03; 0306.17.00.06; 0306.17.00.09; 0306.17.00.12; 0306.17.00.15; 0306.17.00.18; 0306.17.00.21; 0306.17.00.24; 0306.17.00.27; 0306.17.00.40; 1605.21.10.30 và 1605.29.10.10

(Chú ý: Mô tả sản phẩm chính xác bằng tiếng Anh có trong Tập đính kèm dưới đây)

3. Quyết định sơ bộ về thiệt hại của ITC

Ngày 07 tháng 2 năm 2013, Ủy ban Thương mại Quốc tế Hoa Kỳ (USITC) đã ra kết luận sơ bộ khẳng định có thiệt hại đối với ngành sản xuất nội địa Hoa Kỳ do tôm nhập khẩu từ Việt Nam được trợ cấp.

4. Quyết định sơ bộ về trợ cấp của DOC

Ngày 29/05/2013, Bộ Thương mại Hoa Kỳ (DOC) đã ra quyết định sơ bộ khẳng định có trợ cấp đối với tôm nước ấm đông lạnh nhập khẩu từ Việt Nam, Ấn Độ, Malaysia, Thái Lan và Trung Quốc; không có trợ cấp với tôm nước ấm đông lạnh nhập khẩu từ Equado và Indonesia (dưới mức tối thiểu). Theo đó, biên độ trợ cấp sơ bộ như sau:

Quốc gia

Các nhà sản xuất, xuất khẩu

Biên độ trợ cấp sơ bộ

Việt Nam

Minh Qui Seafoods Co. Ltd.

5.08%

Nha Trang Seaproduct Company

7.05%

Các Doanh nghiệp khác

6.07%

Ấn Độ

Devi Fisheries Limited

10.41%

Devi Seafoods Ltd.

11.32%

Các Doanh nghiệp Ấn Độ khác

10.87%

Malaysia

Asia Aquaculture (M) Sdn. Bhd.

10.80%

Kian Huat Aquaculture Sdn. Bhd.

62.74%

Các Doanh nghiệp Malaysia khác

62.74%

Thái Lan

Marine Gold Products Limited

1.75% (de minimis)

Thai Union Frozen Products Public Co. Ltd (and its affiliate Thai Union Seafood Co., Ltd)

2.09%

Các Doanh nghiệp Thái Lan khác

2.09%

Trung Quốc

Zhanjiang Guolian Aquatic Products Co., Ltd. (Guolian) and its cross-owed affiliates (collectively, the Guolian Companies)

5.76%

Các Doanh nghiệp Trung Quốc khác

5.76%

Theo dự kiến, DOC sẽ đưa ra quyết định cuối cùng về trợ cấp vào tháng 08/2013.

5. Quyết định cuối cùng của DOC

Ngày 12/8/2013, Bộ Thương mại Hoa Kỳ (DOC) đã ra Quyết định cuối cùng vụ kiện chống trợ cấp (CVD) tôm nước ấm từ Việt Nam. Theo thông báo gửi đăng Công báo Liên bang do ông Paul Piquado, Trợ lý Bộ trưởng, phụ trách Cục quản lý nhập khẩu DOC ký ngày 12/8/2013, Bộ Thương mại Hoa Kỳ đã quyết định áp mức thuế chống trợ cấp lên các doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu tôm của Việt Nam, cụ thể như sau:

i. Mức thuế suất CVD đối với 02 bị đơn bắt buộc:

– Công ty Thủy sản Minh Quí (Minh Qui Seafoods Co. Ltd) 7,88%

– Công ty Thủy sản Nha Trang (Nha Trang Seaproduct Co.) 1,15%

ii.Mức thuế suất CVD toàn quốc cho tất cả các công ty khác: 4,52%

6.Quyết định cuối cùng về thiệt hại của ITC

Sáng 21/9/2013, theo giờ Việt Nam, Ủy ban Thương mại Quốc tế Hoa Kỳ đã ra quyết định cuối cùng khẳng định tôm nước ấm nhập khẩu từ Việt Nam và 4 quốc gia khác, cho dù có được chính phủ các nước này trợ cấp hay không, đều không gây thiệt hại về vật chất hoặc đe dọa gây thiệt hại về vật chất đối với ngành công nghiệp tôm, do đó không áp thuế chống trợ cấp với tôm Việt Nam.

V. Sợi Polyester

Ngày 19 tháng 12 năm 2013, Ủy ban Châu Âu (EC) đã đăng công báo chính thức khởi xướng điều tra chống trợ cấp đối với sản phẩm sợi Polyester nhập khẩu từ Trung Quốc, Ấn Độ và Việt Nam.

Dưới đây là một số thông tin liên quan đến vụ việc:

1. Bên đệ đơn: Hiệp hội các công ty sản xuất sợi nhân tạo Châu Âu (CIRFS: European Man-made Fibres Association)

2. Sản phẩm bị điều tra: sản phẩm sợi Polyester (polyester staple fibres- PSF) có mã CN code 5503 20 00

Ngày 17/12/2014, Ủy ban Châu Âu (EC) đã ra quyết định chấm dứt điều tra do biên độ trợ cấp dưới mức tối thiểu.

VI. Đinh thép

Ngày 19/06/2014, Bộ Thương mại Hoa Kỳ đã ra quyết định khởi xướng điều tra áp dụng biện pháp chống bán phá giá và chống trợ cấp đối với sản phẩm đinh thép (Steel Nails) nhập khẩu từ Ấn Độ, Hàn Quốc, Oman, Malaysia, Đài Loan, Thổ Nhĩ Kỳ và Việt Nam.

Căn cứ trên đơn kiện do Công ty Mid Continent Steel & Wire, Inc., một nhà sản xuất sản phẩm đinh thép của Hoa Kỳ (nguyên đơn) đã đệ trình ngày 29/05/2014 lên Bộ Thương mại Hoa Kỳ (DOC) yêu cầu cơ quan này khởi xướng điều tra áp dụng biện pháp chống bán phá giá (AD) và chống trợ cấp (CVD) đối với sản phẩm đinh thép (steel nails) nhập khẩu từ 07 quốc gia: Ấn Độ, Hàn Quốc, Ô-man, Malaysia, Đài Loan, Thổ Nhĩ Kỳ và Việt Nam.

Sản phẩm bị điều tra: là đinh thép có chiều dài trục không quá 12 inch, các loại đinh thép này bao gồm, nhưng không giới hạn bởi, các loại đinh được làm từ dây thép (round wire) và đinh được cắt từ tấm (plate), có mã HS là: 7317.00.55, 7317.00.65 và 7317.00.75.

Giai đoạn điều tra: 01/01/2013-30/12/2013

Ngày 28/10/2014, DOC đã công bố kết luận sơ bộ của vụ kiện. Theo đó, USDOC xác định Hàn Quốc, Malaysia, Oman và Đài Loan đều có biên độ trợ cấp dưới mức tối thiểu (de minimis – 2%), riêng Việt Nam chịu mức biên độ trợ cấp là 8.35% (trừ công ty United Nail ở mức 0.17%).

DOC dự kiến sẽ đưa ra kết luận cuối cùng vào tháng 3 năm 2015.

VII. Ống dẫn dầu

Đây là vụ kiện chống bán phá giá và chống trợ cấp do Cơ quan Biên mậu Canada (Canada Border Services Agency) khởi xướng ngày 21/07/2014 đối với sản phẩm ống dẫn dầu nhập khẩu từ Việt Nam và một số quốc gia khác căn cứ vào đơn kiện mà cơ quan điều tra nhận được ngày 29/04/2014 trước đó.

Các quốc gia cùng là bị kiện gồm có: Ấn Độ, Indonesia, Hàn Quốc, Philippines, Thái Lan, Thổ Nhĩ Kỳ, Ukraina, Việt Nam và Đài Loan (riêng Đài Loan không bị kiện chống trợ cấp trong vụ việc này).

Một số thông tin về vụ việc:

1. Nguyên đơn:Tenaris Canada (Calgary, Alberta) và Evraz North America Inc. (Regina, Saskatchewan)

2. Hàng hóa bị điều tra:Ống thép dẫn dầu (OCTG) có mãHS như sau:

7304.29.00.11; 7304.29.00.19; 7304.29.00.21; 7304.29.00.29; 7304.29.00.31; 7304.29.00.39; 7304.29.00.41; 7304.29.00.49; 7304.29.00.51; 7304.29.00.59; 7304.29.00.61; 7304.29.00.69; 7304.29.00.71; 7304.29.00.79;7304.39.00.10; 7304.59.00.10; 7306.29.00.11; 7306.29.00.19; 7306.29.00.21; 7306.29.00.29; 7306.29.00.31; 7306.29.00.39; 7306.29.00.41; 7306.29.00.49; 7306.30.00.29; 7306.30.00.39; 7306.50.00.90; 7306.90.00.10; 7306.90.00.20

Ngày 03/12/2014, Cơ quan Biên mậu Canada (CSBA) đã công bố quyết định sơ bộ về hành vi bán phá giá và trợ cấp đối với các quốc gia bị kiện. Theo đó, sản phẩm ống thép dẫn dầu của tất cả các công ty Việt Nam đều chịu mức thuế như nhau, với mức thuế chống bán phá giá tạm thời là 53.2% và thuế chống trợ cấp tạm thời là 19%.

Dự kiến, CSBA sẽ đưa ra kết luận cuối cùng về phá giá, trợ cấp vào ngày 03/03/2015 và Tòa án Thương mại Quốc tế Canada (CITT) sẽ công bố kết luận cuối cùng về thiệt hại vào ngày 02/04/2015,

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Hiệp định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng của WTO (Agreement on Subsidies and Countervailing Measures)
  2. Các Bảng câu hỏi điều tra của Hoa Kỳ và EU trong các vụ kiện chống trợ cấp đối với sản phẩm nhập khẩu vào Hoa Kỳ và EU từ Việt Nam từ năm 2009 đến năm 2014.
  3. Các kết luận và phán quyết của Hoa Kỳ và EU trong các vụ kiện chống trợ cấp đối với sản phẩm nhập khẩu vào Hoa Kỳ và EU từ Việt Nam từ năm 2009 đến năm 2014.

Bản in

 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *