Chuyên đề 30: VẤN ĐỀ KINH TẾ PHI THỊ TRƯỜNG VÀ TRƯỜNG HỢP CỦA VIỆT NAM

Chuyên đề 30: VẤN ĐỀ KINH TẾ PHI THỊ TRƯỜNG VÀ TRƯỜNG HỢP CỦA VIỆT NAM

 ThS. Nguyễn Hải Vân,

Phó Trưởng phòng, Vụ Hợp tác quốc tế

 Năm 1994, Việt Nam đối mặt với vụ kiện chống bán phá giá đầu tiên. Từ đó đến hết năm 2014, Việt Nam đã phải đối mặt với khoảng 40 vụ kiện phòng vệ thương mại khác nhau từ khắp các quốc gia trên thế giới. Trong số đó, có những vụ chỉ liên quan đến một vài doanh nghiệp sản xuất nhỏ nhưng cũng có những vụ có ảnh hưởng rất tiêu cực đến cả ngành sản xuất, xuất khẩu của Việt Nam như các vụ kiện chống bán phá giá đối với tôm đông lạnh, cá tra-basa vào thị trường Hoa Kỳ, vụ giày mũ da vào thị trường Liên minh Châu Âu (EU)…

 Trong quá trình xử lý những vụ việc này, Việt Nam đã gặp phải rất nhiều khó khăn. Ngoài những vấn đề như thiếu kinh nghiệm trong lĩnh vực mới, nguồn nhân lực hạn chế về chuyên môn và trình độ dành cho công tác kháng kiện, còn có một khó khăn mang tính thể chế và luật định rất khó vượt qua, đó là sự phân biệt đối xử đối với một nền kinh tế phi thị trường (NME).

Vấn đề kinh tế phi thị trường bắt nguồn từ một chú thích tại Điều VI (quy định về chống bán phá giá) của Hiệp định chung về Thuế Quan và Thương mại 1947 (GATT 1947) và được duy trì cho đến khi Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) thành lập năm 1995. Kể cả thời gian sau đó, các thành viên quan trọng của WTO như EU và Hoa Kỳ đã “tận dụng” việc diễn giải Điều XII.1 của Hiệp định Marrakesh về thành lập WTO và sự không rõ ràng trong các quy định của WTO để áp đặt lên các thành viên mới gia nhập WTO sau 1995, có nền kinh tế đang chuyển đổi phải chấp nhận sự phân biệt đối xử kinh tế phi thị trường. Điều này có nghĩa là các thành viên khác của WTO có quyền công nhận hay không công nhận nền kinh tế của một nước thành viên mới là nền kinh tế thị trường trong các vụ việc chống bán phá giá. Chính vì vậy, trong quá trình đàm phán gia nhập WTO, các nước đàm phán gia nhập, đặc biệt là các nước đang phát triển, phải chịu một sức ép rất lớn về vấn đề này. Điển hình là Trung Quốc và Việt Nam, hai nước trước đây thực hiện đường lối phát triển kinh tế theo mô hình kế hoạch – tập trung.

Đối với Việt Nam, khi đàm phán gia nhập WTO, Việt Nam đã buộc phải cam kết để các nước thành viên WTO có thể đối xử Việt Nam là một nước có nền kinh tế phi thị trường trong các vụ điều tra chống bán phá giá và chống trợ cấp đối với các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam tại đoạn 255 của Báo cáo của Ban Công tác về việc Việt Nam gia nhập WTO. Như vậy, Việt Nam đã phải chấp nhận để các nước thành viên có thể đối xử với Việt Nam như là một nước có nền kinh tế phi thị trường trong vòng 12 năm (đến hết ngày 31/12/2018). Đây là một rào cản không nhỏ đối với các doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam trong quá trình hội nhập khi các nước nhập khẩu sử dụng biện pháp chống bán phá giá, chống trợ cấp nhằm bảo hộ ngành sản xuất trong nước.

Theo như cam kết, để các nước công nhận Việt Nam có nền kinh tế thị trường, Việt Nam cần phải đáp ứng được các tiêu chí xác định nền kinh tế thị trường do các thành viên đặt ra. Điều đáng nói ở đây là trong cam kết không nêu rõ thế nào là một nền kinh tế thị trường và các ràng buộc đối với các thành viên khi đặt ra các tiêu chí xác định nền kinh tế thị trường. Do đó, để tất cả hoặc chí ít là những thành viên có tiếng nói quan trọng tại WTO công nhận Việt Nam có nền kinh tế thị trường sớm hơn thời điểm 31/12/2008, Việt Nam phải chứng minh với các thành viên là nền kinh tế Việt Nam đáp ứng được các tiêu chí mà thành viên đó đặt ra trong luật định của mình.

Chuyên đề sẽ phân tích chi tiết về vấn đề quy chế kinh tế phi thị trường và các tiêu chí mà các nước thành viên WTO sử dụng để công nhận hay không công nhận một nước khác có nền kinh tế thị trường. Trên cơ sở phân tích, đánh giá các tiêu chí được các nước thành viên WTO lâu đời và có tiếng nói quan trọng như Hoa Kỳ, EU, Canada, Australia và một số thành viên khác sử dụng, Chuyên đề sẽ phân tích nền kinh tế của Việt Nam dưới góc độ của các tiêu chí như vậy, qua đó cho thấy mức độ thị trường hóa của các yếu tố trong nền kinh tế Việt Nam hiện nay.

Chính phủ Việt Nam đã nỗ lực thúc đẩy quá trình này qua nhiều kênh như: ngoại giao, hợp tác song phương… trong đó tập trung vào các đối tác lớn về thương mại của ta, hay sử dụng các biện pháp phòng vệ thương mại đối với hàng xuất khẩu của các nước khác như: Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản. Cho đến nay, Hoa Kỳ và EU vẫn đang trong quá trình hợp tác với Việt Nam về việc giải trình công nhận nền kinh tế thị trường. Chuyên đề này sẽ tập trung phân tích về hai đối tác Hoa Kỳ và EU với các nội dung như: tiêu chí về nền kinh tế thị trường, quá trình hợp tác, một số vụ kiện liên quan…

Với mục đích đó, Chuyên đề tập trung giới thiệu tổng quan về vấn đề kinh tế phi thị trường (non-market economy – NME) và quy chế kinh tế thị trường (market economy status – MES), đi sâu phân tích về lịch sử của vấn đề kinh tế phi thị trường, vấn đề kinh tế phi trị trường trong các vụ kiện chống bán phá giá, chống trợ cấp, các tiêu chí sử dụng để đánh giá một nước có nền kinh tế thị trường hay phi thị trường của một số nước, đồng thời cũng phân tích những cam kết của Việt Nam liên quan đến vấn đề này khi gia nhập WTO.

Chuyên đề cũng đưa ra đánh giá về mức độ thị trường hóa của nền kinh tế Việt Nam một cách độc lập trên cơ sở tham khảo các đánh giá khách quan của các Tổ chức kinh tế quốc tế như Ngân hàng thế giới (WB), Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) và một số tổ chức khác. Để giúp hiểu rõ hơn về cách thức và nội dung giải trình, Chuyên đề cũng đưa ra một số minh họa về một số giải trình của Việt Nam về một số nội dung như đất đai, cụ thể là Luật Đất đai sửa đổi năm 2013.

30.1. Lịch sử vấn đề kinh tế phi thị trường.

Năm 1947, Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT) được 23 thành viên đầu tiên ký kết, là nền tảng hình thành hệ thống thương mại đa phương lớn nhất thế giới. Trong hệ thống quy định của GATT, điều VI của Hiệp định GATT quy định về việc áp dụng biện pháp chống bán phá giá đối với hàng hóa nhập khẩu vào các nước thành viên tham gia hiệp định. Đầu những năm 50, do sự khác biệt về thể chế kinh tế, các bên tham gia Hiệp định GATT cho rằng khái niệm bán phá giá được diễn giải trong Điều VI của Hiệp định GATT không áp dụng đối với các nước thuộc khối Xô viết[1], những nước được cho là xây dựng nền kinh tế kế hoạch – tập trung (phi thị trường). Mặc dù vậy, trong bối cảnh thế giới phân chia làm hai cực trong chiến tranh lạnh, các quy định về nền kinh tế phi thị trường (non-market economy – NME) đã không gây ra quan ngại tại thời điểm đó vì phần lớn các nước là đối tượng của hình thức đối xử này lại không phải là thành viên của hệ thống thương mại đa phương hình thành trên cơ sở của GATT.

Đến năm 1955, để xử lý những vấn đề thương mại phát sinh giữa hai khối, nhóm làm việc của Hiệp định GATT đã thông qua điểm bổ sung thứ 2, đoạn 1, Điều VI của Hiệp định GATT: “Thừa nhận rằng, trong trường hợp nhập khẩu từ một nước có độc quyền hoàn toàn hoặc gần như hoàn toàn về thương mại và ở nước đó tất cả giá cả trong nước đều do Nhà nước ấn định, có thể tồn tại những khó khăn đặc biệt trong việc xác định mức độ tương thích của giá cả để phục vụ mục đích của đoạn 1, và trong những trường hợp đó, các nước nhập khẩu tham gia Hiệp định này thấy cần phải tính tới khả năng là việc so sánh chặt chẽ với giá cả nội địa ở một nước như vậy có lẽ không phải lúc nào cũng phù hợp[2]. Đây có thể được xem là khởi đầu của sự phân biệt đối xử giữa việc áp dụng biện pháp chống bán phá giá của một nước thành viên GATT đối với một nước có nền kinh tế thị trường hay phi thị trường.

Xét trên khía cạnh thương mại, việc áp dụng điều khoản nền kinh tế phi thị trường đã vượt ra ngoài quy định của GATT trong bối cảnh đối nghịch Đông – Tây về chính trị. Sự phân biệt đối xử này vẫn tiếp tục tồn tại khi WTO được thành lập năm 1994, mặc dù khi đó thế giới đã bước sang thời kỳ hậu chiến tranh lạnh (các đoạn bổ sung điều VI của GATT 1947 vẫn được giữ nguyên). Các quy định pháp luật về các tiêu chí công nhận một nước khác có hay không có nền kinh tế thị trường của các nước phương Tây (đại diện là Liên minh Châu Âu và Hoa Kỳ) vẫn chưa thoát khỏi ảnh hưởng của cuộc chiến tranh lạnh.

Sau khi WTO được thành lập, một số thành viên chủ chốt của WTO như EC và Hoa Kỳ đã tận dụng lợi thế của cách suy luận rộng về Điều XII.1[3] của Hiệp định Marrakesh thành lập WTO và quy định lỏng lẻo của WTO về đối xử NME nhằm đặt lên vai các thành viên mới gia nhập thuộc nền kinh tế chuyển đổi những nhiệm vụ nặng nề hơn so với nhiều thành viên khác của WTO. Trong vấn đề kinh tế phi thị trường, các nước thành viên WTO (tiêu biểu là Hoa Kỳ, EU) đã đặt ra các yêu cầu đàm phán đối với các nước đàm phán gia nhập có nền kinh tế đang chuyển đổi là chấp nhận chính thức hóa quy định này trong văn kiện gia nhập. Một khi vấn đề này đã được chính thức hóa trong văn kiện gia nhập, theo quy định về nguyên tắc đối xử tối huệ quốc (MFN), các thành viên khác đều có thể đối xử một cách phân biệt tương tự như Hoa Kỳ, EU đối với các nước mới gia nhập.

Do đó, đối xử nền kinh tế phi thị trường là một mối lo ngại lớn đối với hầu hết các nước thành viên mới cũng như các nước đăng ký xin gia nhập vào WTO. WTO quy định các phương pháp tính toán biên độ bán phá giá chung được áp dụng cho tất cả các nước thuộc diện điều tra, tuy nhiên, hiện nay lại có một phương pháp riêng để xác định giá trong nước (giá trị thông thường – Normal value) chỉ dùng cho những nước bị coi là nền kinh tế phi thị trường. Cách tiếp cận nước thay thế lấy giá cả ở một nền kinh tế thị trường được chọn để đại diện cho giá cả ở nền kinh tế phi thị trường. Quá trình này thường dẫn tới kết luận khẳng định bán phá giá và phóng đại biên độ phá giá. Vấn đề này trở thành một minh chứng cho thấy sự khác biệt của nền kinh tế phi thị trường là một vấn đề mang tính hệ thống, nó bắt rễ trong địa chính trị cụ thể và bị tác động bởi hệ tư tưởng của giai đoạn chiến tranh lạnh và điều đó mở ra thập kỷ của các thông lệ hành chính áp dụng trong các vụ việc chống bán phá giá.

Những nỗ lực để giải quyết câu hỏi nền kinh tế phi thị trường ở tầm liên chính phủ đã được Trung Quốc – nước bị kiện chống bán phá giá nhiều nhất thế giới – đưa ra trong bản đệ trình của mình cho Nhóm Đàm phán về Quy tắc tại vòng đàm phán Doha. Sau khi cáo buộc phương thức tính toán giá trị thông thường cho các nước nền kinh tế phi thị trường được một thành viên của WTO chấp nhận tạo ra các biên độ phá giá không đúng, Trung Quốc kết luận “Không nền kinh tế nào có thể gia nhập WTO lại là một nước có độc quyền hoàn toàn hoặc gần như hoàn toàn về thương mại và ở nước đó tất cả giá cả trong nước đều do nhà nước ấn định”, điều khoản này đã được thiết lập cách đây một vài thập kỷ khi nền kinh tế thị trường không thịnh hành. Sau 50 năm phát triển, những hoàn cảnh cho việc sử dụng điều khoản này không còn nữa. Và nó đã bị một vài thành viên WTO lạm dụng để đưa ra việc bảo hộ không công bằng cho các ngành công nghiệp nội địa của họ. Vì vậy, điều khoản “nền kinh tế phi thị trường” mâu thuẫn với tình hình thực tế của các thành viên WTO và nên bị huỷ bỏ[4].

Mặc dù trong quá trình áp dụng điểm bổ sung thứ 2, đoạn I của Điều VI Hiệp định GATT 1994, một vấn đề cần phải lưu tâm là việc áp dụng “cần phải có sự cân đối thích hợp giữa các quy tắc của Hiệp định GATT, luật quốc gia và sự tùy ý diễn giải của mỗi quốc gia”[5], tuy nhiên, sự cân đối này đã bị phá bỏ trong suốt những năm chiến tranh lạnh do ý tưởng muốn áp dụng một biện pháp khác biệt giữa các nước có nền kinh tế thị trường và những quốc gia theo mô hình thương mại nhà nước trong những vụ kiện chống bán phá giá đã được thừa nhận ở cấp độ đa phương. Hơn nữa, do điểm bổ sung thứ 2, Đoạn I, Điều VI phụ lục I Hiệp định GATT 1994, đã không nêu rõ sự diễn giải quy định cũng như không quy định rõ cách thức áp dụng, nên các quốc gia thành viên đã rất tùy tiện trong việc dự thảo quy định luật pháp của mình ở cấp độ pháp luật quốc gia.

Ngoài ra, quá trình nội luật hóa quy định về NME của các quốc gia thành viên WTO đã bị tác động mạnh mẽ bởi thông lệ áp dụng đã được phát triển tại Hoa Kỳ và EC. Vì thế, trong quá trình bổ sung thêm các quy định vào khoảng trống pháp luật đó, các nước thành viên đã có sự tuỳ ý đáng kể ở hai khía cạnh:

Trước hết, không có bất kỳ một định nghĩa hay một tiêu chí pháp lý nào đối với các nước có nền kinh tế phi thị trường, các cơ quan điều tra có thể thiết lập những hệ thống khác nhau cũng như các quyết định khác nhau về nước có nền kinh tế phi thị trường trong từng vụ việc cụ thể; và đưa ra những danh sách do luật pháp quy định liệt kê những nước có nền kinh tế phi thị trường.

Thứ hai, các cơ quan điều tra được tự do thiết lập các phương pháp thay thế lựa chọn để xác định giá trị thông thường cho những nước NME. Những phương pháp này được phát triển dựa trên sự tùy ý rộng rãi của cơ quan áp dụng và sau đó đã được thể chế hóa thành các quy định pháp luật áp dụng trong suốt những thập kỷ qua. Điển hình là tại EU, từ 1/7/1968, khi Luật thuế quan chung có hiệu lực, Ủy ban Châu Âu (EC) trở thành cơ quan chung tiến hành các vụ điều tra chống bán phá giá và vấn đề đối xử NME được áp dụng vào thực tiễn chống bán phá giá của Châu Âu mặc dù trước đó các nước thành viên như Pháp, Đức, Italia không có quy định về vấn đề này trong nội luật của mình (Quy định cơ bản EEC 459/68). Quy định này đã lặp lại Điều khoản bổ sung thứ 2 vào đoạn I Điều VI phụ lục I Hiệp định GATT 1994: “Trong trường hợp hàng hóa nhập khẩu từ các nước mà thương mại bị độc quyền hoặc gần như là bị độc quyền hoặc giá cả trong nước do Nhà nước ấn định thì một thực tế cần xem xét đó là sự so sánh chính xác giữa giá xuất khẩu của một sản phẩm nhập khẩu vào EC với giá nội địa của sản phẩm tại nước xuất khẩu là không thích hợp vì trong những trường hợp như vậy sẽ có rất nhiều khó khăn trong việc xác định sự so sánh về giá[6]. Điều đáng lưu ý là, quy định của Hội đồng Châu Âu (EEC) 459/68, khi đó, đang thực hiện Bộ luật Chống bán phá giá của Vòng đàm phán Kenedy mà EC tham gia ký kết[7] đã không quy định phương pháp tính toán giá trị thông thường trong những trường hợp như vậy. Tuy nhiên do tác động bởi các hoạt động vận động hành lang của Hoa Kỳ trong suốt giai đoạn dự thảo Quy định, EC đã đi theo cách thức thực thi của Bộ Ngân khố Hoa Kỳ và chấp nhận áp dụng phương pháp nước thay thế vào trong thủ tục hành chính điều tra vụ việc chống bán phá giá đối với các nước thuộc khối Xô viết.[8] Do vậy, đến cuối những năm 60 phương pháp nước thay thế áp dụng đối với các nước có nền kinh tế phi thị trường đã trở thành một phương pháp không thể thiếu trong thực tiễn điều tra chống bán phá giá của cả Hoa Kỳ và EC[9].

Như vậy, từ một chú thích bổ sung đối với điều VI của GATT 1947, vấn đề kinh tế phi thị trường đã dần trở thành sự phân biệt đối xử rõ ràng giữa các quốc gia thành viên GATT (sau này là WTO) đối với những nước có con đường phát triển kinh tế theo kiểu Xô-viết. Sự phân biệt đối xử này tiếp tục được duy trì kể cả khi những nước đó đã thực hiện việc chuyển đổi nền kinh tế từ kế hoạch – tập trung sang nền kinh tế theo định hướng của thị trường. Tiêu biểu cho những nước bị phân biệt đối xử trong trường hợp này là Việt Nam và Trung Quốc, hai nước đã tiến hành chuyển đổi nền kinh tế theo định hướng thị trường một cách sâu sắc những vẫn giữ nguyên định hướng phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa.

30.2. Quy định về kinh tế phi thị trường trong các hiệp định của WTO và cam kết của Việt Nam

Như đã phân tích ở trên, lịch sử vấn đề NME tạo điều kiện dễ dàng cho các nước khác phân biệt đối xử chống lại sản phẩm của Việt Nam (ví dụ, từ năm 2003 Hoa Kỳ, EC, Hàn Quốc, Canada cùng một số nước khác đã áp dụng quy chế kinh tế phi thị trường trong các cuộc điều tra chống bán phá giá đối với Việt Nam).

Lý do của cách tiếp cận này chỉ có thể được tìm thấy từ sự khác biệt giữa các nguyên tắc cơ bản của GATT 1947 (Hiệp định tiền thân của WTO) và đặc điểm của một nước có nền kinh tế phi thị trường và nhu cầu cần có các quy tắc chung để cho phép phát triển thương mại quốc tế giữa các nước thuộc hai khối khác nhau kể từ khi chiến tranh thế giới thứ hai tới cuối thời kỳ chiến tranh lạnh. GATT được thiết kế bởi các nền kinh tế thị trường và cho các nền kinh tế thị trường trong khi các hoạt động của các nước có nền kinh tế phi thị trường trong chiến tranh lạnh lại được điều chỉnh bởi các quy tắc phi thị trường, tức là Chính phủ Trung ương kiểm soát nền kinh tế, nơi mà giá cả không thực hiện chức năng cung cấp tín hiệu thị trường cho việc đưa ra các quyết định kinh tế.

Trong thời kỳ chiến tranh lạnh, GATT chỉ có rất ít các Thành viên là các nền kinh tế phi thị trường với quy mô thương mại nhỏ. Do đó vấn đề quy chế kinh tế phi thị trường trong các thủ tục chống bán phá giá không được coi là một vấn đề lớn. Tình hình đã thay đổi sau khi chiến tranh lạnh kết thúc. Nhiều nước chuyển đổi từ cơ chế phi thị trường sang kinh tế thị trường đã xuất hiện trên vũ đài thương mại quốc tế, đi đầu là Trung Quốc. Và cùng với quá trình này, vấn đề kinh tế phi thị trường trong các thủ tục chống bán phá giá đã nổi lên. Rõ ràng định nghĩa tại đoạn 1 của Điều VI trong Phụ lục I của GATT 1994 đã trở nên lạc hậu nếu so với đặc điểm của các nước có nền kinh tế chuyển đổi, cụ thể là điều khoản quy định “Nhà nước độc quyền toàn bộ hoặc độc quyền đáng kể các hoạt động thương mại”. Chỉ có rất ít nước, hay hầu như không có nước nào mà Nhà nước độc quyền toàn bộ hoặc đáng kể đối với các hoạt động thương mại của mình và toàn bộ giá cả lại do Nhà nước ấn định. Tuy nhiên, các yếu tố khác vẫn có thể bóp méo việc hình thành giá cả ở một nước, ví dụ như đồng tiền không chuyển đổi được trong giao dịch quốc tế, nhiều doanh nghiệp nhà nước được hưởng đặc quyền, thiếu cơ chế kiểm soát giá và quan điểm của Chính phủ khi dành trợ cấp cho các doanh nghiệp cụ thể.

Do đó, kể từ khi Trung Quốc gia nhập WTO, các Thành viên WTO đã đàm phán với một nước đang gia nhập một định nghĩa tạm thời về “nền kinh tế phi thị trường” để đưa vào Báo cáo của Ban công tác, một phụ lục của Nghị định thư gia nhập. Điều khoản này nhằm tạo cơ sở pháp lý cho việc phân biệt đối xử áp dụng trong các vụ chống bán phá giá đối với các nền kinh tế đang chuyển đổi mới gia nhập, những nền kinh tế mà giá cả trong nước vẫn bị tác động bởi hoạt động của chính quyền trung ương. Tuy nhiên, như được giải thích rõ ở phần dưới, các điều khoản này được đưa ra một cách rất chung chung và không có giới hạn cụ thể để hạn chế thẩm quyền của nước nhập khẩu. Do đó, khi các nước nhập khẩu có nhiều quyền trong việc đưa ra các tiêu chí liên quan tới phương pháp thay thế để tính toán giá áp dụng đối với hàng hóa xuất xứ từ các nền kinh tế phi thị trường, chỉ có thể phân tích từng quy định cụ thể, trong từng trường hợp mới có thể xác định được tác động của chúng tới doanh nghiệp và cơ quan quản lý tại nước xuất khẩu.

Trong trường hợp Việt Nam, Hoa Kỳ là Thành viên trực tiếp đưa ra yêu cầu nhằm đưa một phương pháp thay thế vào nội dung cam kết gia nhập để tính toán giá trị thông thường trong thủ tục chống bán phá giá có liên quan tới các nhà xuất khẩu Việt Nam. Mặc dù tranh cãi rất nhiều trong quá trình đàm phán, nhưng cuối cùng Việt Nam phải chấp nhận cam kết tương tự như Trung Quốc với thời gian bị phân biệt đối xử ngắn hơn (12 năm so với 15 năm của Trung Quốc). Cam kết này được quy định chi tiết tại đoạn 255 của Báo cáo của Ban Công tác về việc Việt Nam gia nhập WTO. Đoạn 255 viết:

“Đại diện của Việt Nam xác nhận rằng ngay sau khi gia nhập WTO, Điều VI của GATT 1994, Hiệp định Thực hiện Điều VI của GATT 1994 (Hiệp định chống bán phá giá) và Hiệp định về Trợ cấp và các Biện pháp Chống trợ cấp (SCM) sẽ được áp dụng trong các vụ kiện liên quan đến xuất khẩu hàng hoá từ Việt Nam sang một Thành viên WTO phù hợp với các điểm sau:

(a) Khi tiến hành so sánh giá theo Điều VI của GATT 1994 và Hiệp định chống bán phá giá, Thành viên WTO là nước nhập khẩu phải sử dụng hoặc là giá hoặc chi phí ở Việt Nam đối với ngành hàng đang được điều tra hoặc là một phương pháp không dựa trên sự so sánh chặt chẽ với chi phí hoặc giá cả ở Việt Nam. Quy tắc để lựa chọn phương pháp phù hợp là:

(i) Nếu các nhà sản xuất trong diện điều tra có thể chỉ ra rõ ràng rằng các điều kiện của nền kinh tế thị trường đang tồn tại trong ngành sản xuất mặt hàng tương tự liên quan đến sản xuất và bán mặt hàng đó, nước nhập khẩu là Thành viên WTO khi xác định tương quan giá cả phải sử dụng giá và chi phí ở Việt Nam cho ngành sản xuất trong diện điều tra.

(ii) Nước nhập khẩu là Thành viên WTO có thể sử dụng một phương pháp không dựa trên sự so sánh chặt chẽ với giá cả và chi phí ở Việt Nam nếu các nhà sản xuất trong diện điều tra không thể chỉ ra rõ ràng rằng các điều kiện của nền kinh tế thị trường đang tồn tại trong ngành sản xuất mặt hàng tương tự liên quan đến sản xuất và bán mặt hàng đó.

(b) Trong các vụ kiện tiến hành theo phần II, III và V của Hiệp định SCM, khi xử lý vấn đề trợ cấp, các quy định của Hiệp định SCM sẽ được áp dụng. Tuy nhiên, nếu có những khó khăn đặc biệt cản trở việc áp dụng các quy định đó, nước nhập khẩu là Thành viên WTO có thể sử dụng các phương pháp khác nhằm xác định và đo lường tác động của trợ cấp, có cân nhắc đến khả năng các điều kiện đang tồn tại phổ biến ở Việt Nam có thể không phải là những cơ sở đối chiếu phù hợp.

(c) Nước nhập khẩu là Thành viên WTO phải thông báo phương pháp được sử dụng theo tiểu mục (a) trên đây cho Ủy ban về bán phá giá và thông báo phương pháp được sử dụng theo tiểu mục (b) cho Uỷ ban về trợ cấp và các biện pháp chống trợ cấp.

(d) Một khi Việt Nam khẳng định được rằng nền kinh tế nước mình là kinh tế thị trường chiểu theo luật quốc gia của nước nhập khẩu là Thành viên WTO, các quy định tại tiểu mục (a) sẽ hết hiệu lực với điều kiện luật quốc gia của nước Thành viên có quy định các tiêu chí về kinh tế thị trường tại thời điểm gia nhập. Trong mọi trường hợp, các quy định trong tiểu mục (a)(ii) sẽ hết hiệu lực vào ngày 31/12/2018. Ngoài ra, nếu Việt Nam khẳng định được rằng các điều kiện của kinh tế thị trường đã tồn tại tại một ngành cụ thể chiểu theo luật quốc gia của nước nhập khẩu là Thành viên WTO, các quy định trong tiểu mục (a) liên quan tới kinh tế phi thị trường sẽ không còn được áp dụng cho ngành đó.”

30.3. Các tiêu chí công nhận quy chế kinh tế thị trường của Hoa Kỳ

30.3.1. Tiêu chí xác định nước có nền kinh tế thị trường.

Theo Đạo luật Chống bán phá giá của Hoa Kỳ, các nước mặc nhiên được coi là nền kinh tế thị trường trừ khi Hoa Kỳ chính thức coi nước đó có nền kinh tế phi thị trường. Để được Hoa Kỳ công nhận là một nước có nền kinh tế thị trường, một nước bị coi là có nền kinh tế phi thị trường phải chứng minh là nền kinh tế đó đáp ứng được sáu tiêu chí quy định tại tại phần 771(18)(B) của Đạo luật chống bán phá giá (Đạo luật). Phần 771(18)(B) của Đạo luật quy định rằng Bộ Thương mại Hoa Kỳ (DOC) phải xem xét các yếu tố sau đây khi xác định liệu một nước có bị coi là có nền kinh tế phi thị trường hay không:

(1) mức độ mà đồng tiền của nước ngoài đó có thể được chuyển đổi sang đồng tiền của các nước khác,

(2) mức độ mà các mức tiền công lao động được xác định bởi sự thương lượng tự do giữa người lao động và người sử dụng lao động,

(3) mức độ mà các liên doanh hoặc các dạng đầu tư khác của các doanh nghiệp từ các nước khác được phép hoạt động trên lãnh thổ nước sở tại,

(4) mức độ sở hữu hoặc kiểm soát của chính phủ đối với các phương tiện sản xuất

(5) mức độ kiểm soát của chính phủ đối với việc phân bổ các nguồn lực và đối với các quyết định về giá cả và sản lượng của doanh nghiệp

(6) những yếu tố khác mà cơ quan tiến hành điều tra cảm thấy phù hợp

Về mặt lý thuyết, dường như quyết định của Bộ Thương mại Hoa Kỳ chỉ dựa trên các yếu tố kỹ thuật (đặc biệt liên quan tới năm tiêu chí đầu tiên trong quá trình điều tra). Tuy nhiên, trên thực tế quyết định dành quy chế kinh tế thị trường cho một nước cũng chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác trong đó có yếu tố chính trị. Điều này đã được thể hiện rõ trong nhiều trường hợp Bộ Thương mại Hoa Kỳ xem xét tiêu chí cuối cùng (các yếu tố khác).

30.3.2. Tiêu chí xác định ngành theo định hướng thị trường (MOI)

Khi một nước bị coi là một nền kinh tế “phi thị trường” thì Bộ Thương mại Hoa Kỳ cũng có thể sử dụng phương pháp kinh tế thị trường để xác định giá trị thông thường của sản phẩm bị điều tra nếu như ngành sản xuất, xuất khẩu sản phẩm bị điều tra chứng minh được rằng ngành đó là một ngành hoạt động “theo định hướng thị trường” (market-oriented industry – MOI) trên cơ sở các tiêu chí do Bộ Thương mại Hoa Kỳ đưa ra.

Một ngành được công nhận là hoạt động “theo định hướng thị trường” khi ngành đó đáp ứng được các tiêu chí sau đây:

(1) Đối với hàng hóa bị điều tra hoặc rà soát, Chính phủ hầu như không can thiệp vào việc xác định giá hoặc sản lượng. Ví dụ, việc Nhà nước đặt ra một mức sản lượng nào đó hoặc đứng ra phân bổ sản xuất mặt hàng đó, dù là để xuất khẩu hay tiêu dùng nội địa tại nước có nền kinh tế phi thị trường, sẽ là một rào cản gần như không thể vượt qua trong việc chứng minh một ngành hoạt động “theo định hướng thị trường”;

(2) Ngành sản xuất hàng hóa bị điều tra hoặc rà soát phải có đặc điểm là do tư nhân sở hữu hoặc đồng sở hữu. Có thể có doanh nghiệp nhà nước trong ngành nhưng nếu sở hữu Nhà nước chiếm đa số thì đó sẽ là một yếu tố để Hoa Kỳ không thể công nhận ngành đó hoạt động “theo định hướng thị trường”;

(3) Hầu hết đầu vào quan trọng, dù là nguyên vật liệu hay không phải nguyên vật liệu (ví dụ chi phí lao động và chi phí quản lý chung) và hầu hết đầu vào quyết định giá trị của hàng hóa đang bị điều tra hoặc rà soát phải có giá do thị trường quyết định. Ví dụ, giá của một loại đầu vào sẽ không được coi là do thị trường quyết định nếu như các nhà sản xuất hàng hóa đang bị điều tra hoặc rà soát thanh toán giá do Nhà nước quy định đối với đầu vào này hoặc nếu như đầu vào được cung cấp cho các nhà sản xuất theo định hướng của Chính phủ[10].

Hơn nữa, nếu như việc sản xuất đầu vào là do Nhà nước yêu cầu, tỷ trọng của của đầu vào do Nhà nước yêu cầu phải không đáng kể. Cho tới nay, trong các vụ kiện chống bán phá giá đối với hàng xuất khẩu của Trung Quốc, chưa ngành nào đáp ứng được toàn bộ các tiêu chí này.

Các nhà xuất khẩu từ các nước có nền kinh tế phi thị trường bị áp một trong ba mức thuế chống bán phá giá: “thuế riêng”, “thuế phần A” hoặc “thuế toàn quốc”[11]. Để được hưởng thuế riêng hoặc thuế phần A cần phải đáp ứng các tiêu chí giống nhau: các nhà xuất khẩu phải chứng mình được trên thực tế hoặc theo quy định pháp luật Chính phủ không kiểm soát các hoạt động xuất khẩu. Bảng 1.1 liệt kê các tiêu chí phải đáp ứng để có thể chứng minh Chính phủ không kiểm soát, cả trên thực tế và theo quy định pháp luật, các hoạt động xuất khẩu:

Bảng 30.1 Định nghĩa của Hoa Kỳ về kiểm soát Chính phủ

Chính phủ không kiểm soát
 theo văn bản pháp luật

Chính phủ không kiểm soát
trên thực tế

– Không có quy định hạn chế liên quan

tới giấy phép xuất khẩu và hoạt động kinh doanh của các nhà xuất khẩu;

– Giá xuất khẩu không do Chính phủ đặt ra hoặc không phải được cơ quan chính phủ chấp thuận;

– Không có bất kỳ văn bản pháp luật nào phân quyền quản lý các công ty; hoặc

– Doanh nghiệp có quyền đàm phán và ký hợp đồng cũng như các thỏa thuận khác;

– Không có bất kỳ biện pháp nào của Chính phủ phân quyền việc kiểm soát các công ty.

– Doanh nghiệp có toàn quyền, độc lập trong việc đưa ra quyết định liên quan tới việc bầu Ban Giám đốc;

 

– Doanh nghiệp được giữ lại lợi nhuận từ xuất khẩu và phải được tự do đưa ra quyết định độc lập liên quan tới việc sử dụng lợi nhuận hoặc bù lỗ.

 30.4. Các tiêu chí công nhận quy chế kinh tế thị trường của Liên minh Châu Âu (EU)

30.4.1. Các tiêu chí xác định nền kinh tế thị trường.

Liên minh châu Âu liệt kê các nước bị coi là nền kinh tế phi thị trường mà không đưa ra tiêu chí nào cho việc phân loại này. Theo quy định số 384/9672 của EC, có 15 nước bị coi là các nền kinh tế phi thị trường, gồm có: Albania, Amernia, Azerbajian, Belarus, Georgia, Kazakstan, Bắc Triều Tiên, Kyrgyzstan, Moldova, Mông Cổ, Tajikistan, Turkmenistan, Ukraine, Uzbekistan, Việt Nam. Tuy nhiên, trong số này có một số nước như Ukraine… đã được công nhận là có nền kinh tế thị trường.

Tương tự như Hoa Kỳ, để được EU công nhận là nước có nền kinh tế thị trường, nước đó phải đáp ứng được 5 tiêu chí luật định của EU. Các tiêu chí đó như sau:

Bảng 30.2. Các tiêu chí về “Kinh tế thị trường” của EU

Các tiêu chí xác định
“kinh tế thị trường”

Các ví dụ về việc
không đáp ứng tiêu chí

Các quyết định của doanh nghiệp về giá, chi phí, đầu vào, kể cả nguyên liệu thô, chi phí công nghệ và nhân công, sản lượng, doanh số bán và đầu tư, được thực hiện theo cung cầu của thị trường, không có sự can thiệp rõ rệt của Nhà nước; giá của các nguyên liệu đầu vào chính, về cơ bản, thể hiện giá thị trường.

– Các doanh nghiệp có nghĩa vụ xuất khẩu toàn bộ hoặc phần lớn sản lượng của mình.

– Các doanh nghiệp hoàn toàn do “Nhà nước sở hữu” trong đó việc quản lý trực tiếp gắn với Nhà nước.

Các doanh nghiệp có hệ thống sổ sách kế toán độc lập, phù hợp tiêu chuẩn quốc tế, được dùng cho mọi mục đích.

 

 

– Sổ sách kế toán của doanh nghiệp không được kiểm toán hoặc doanh nghiệp không công bố báo cáo tài chính của mình.

– Sổ sách kế toán không phù hợp với “Tiêu chuẩn Kế toán quốc tế”.

– Việc thẩm định do các kiểm toán viên thực hiện rất không đầy đủ, không thể đảm bảo độ tin cậy của các tài khoản.

Chi phí sản xuất và tài chính doanh nghiệp không bị bóp méo do hậu quả của hệ thống kinh tế phi thị trường trước đây, đặc biệt là đối với việc khấu hao tài sản cố định, xoá nợ, thương mại hàng đổi hàng hoặc thanh toán thông qua bù nợ.

 

– Quyền sử dụng đất không tương thích với các điều kiện kinh tế thị trường mà do cơ quan có thẩm quyền quyết định một cách tập trung, đặc biệt liên quan tới việc xác định giá và rà soát giá.

– Việc định giá tài sản của các công ty không minh bạch và không phù hợp với các tiêu chí kinh tế thị trường.

Doanh nghiệp bị điều tra chịu sự điều chỉnh của luật sở hữu và phá sản nhằm đảm bảo sự ổn định và chắc chắn về mặt pháp lý đối với hoạt động của doanh nghiệp

– Nước này chưa ban hành luật phá sản.

 

Tỷ giá được xác định theo giá thị trường.

 

 30.4.2. Tiêu chí xác định quy chế kinh tế thị trường đối với một doanh nghiệp

Khi một doanh nghiệp được hưởng quy chế “kinh tế thị trường”, việc tính toán “giá trị thông thường” dựa trên số liệu do các doanh nghiệp xuất khẩu cung cấp. Do đó, biên độ phá giá là mức khác biệt giữa giá xuất khẩu và giá trị thông thường, tính tới số liệu của bản thân nhà xuất khẩu. Tuy nhiên, như đã chỉ ra, sau khi áp dụng cách tiếp cận tự do đối với điều khoản này trong một số năm đầu[12], trong các vụ kiện giày mũi da nhập khẩu từ Việt Nam và Trung Quốc gần đây, EC đã từ chối toàn bộ, chỉ chấp nhận một trong số 176 đề nghị được hưởng quy chế kinh tế thị trường từ các nhà xuất khẩu Trung Quốc[13].

Nếu như việc kiểm tra quy chế “kinh tế thị trường” đối với một doanh nghiệp không thành công, còn có một cơ hội cuối cùng để tránh việc tính toán biên độ phá giá dựa trên so sánh giữa giá trị thông thường (tính toán theo phương pháp áp dụng đối với nền kinh tế phi thị trường) và giá xuất khẩu bình quân của tất cả các nhà xuất khẩu. Các nhà xuất khẩu tại các nước có nền kinh tế phi thị trường xuất khẩu sang EC có thể yêu cầu được tính toán riêng rẽ với điều kiện họ đáp ứng các yêu cầu liệt kê tại Bảng 1.3 (nhắc lại Điều 9.5 trong quy định 384/96 của EC).

Bảng 30.3. Các tiêu chí đối xử riêng từng công ty không được hưởng MES

Trong trường hợp các doanh nghiệp do nước ngoài sở hữu toàn bộ hoặc sở hữu một phần, các liên doanh thì các nhà xuất khẩu được tự do chuyển ra nước ngoài vốn và lợi nhuận.

Giá cả và số lượng hàng xuất khẩu, điều kiện bán hàng được quyết định một cách tự do.

Phần lớn cổ phần thuộc về khu vực tư nhân. Các quan chức nhà nước tham gia Ban Giám đốc hoặc giữ các vị trí quản lý chủ chốt sẽ chỉ ở mức thiểu số hoặc phải chứng minh được rằng doanh nghiệp vẫn độc lập với sự can thiệp của Nhà nước.

Tỷ giá chuyển đổi theo giá thị trường

Can thiệp của Nhà nước không tạo điều kiện cho các nhà xuất khẩu riêng rẽ có thể trốn tránh việc bị áp dụng các mức thuế khác nhau.

 Các nhà xuất khẩu có giá trị thông thường được thiết lập theo phương thức sử dụng nước tương tự thứ ba sẽ được hưởng mức thuế riêng rẽ tính toán thông qua việc so sánh giá trị thông thường với giá xuất khẩu của từng nhà xuất khẩu đó, thay vì giá bình quân gia quyền của tất cả các giao dịch xuất khẩu sang EU. Tuy nhiên, khi số lượng các nhà xuất khẩu là rất lớn, cơ quan điều tra có thể phải sử dụng việc chọn mẫu: có nghĩa là mức thuế đối với các nhà xuất khẩu không nằm trong mẫu (và đáp ứng các điều kiện nói trên về đối xử riêng rẽ) sẽ dựa trên thuế bình quân gia quyền của các nhà xuất khẩu nằm trong mẫu đáp ứng điều kiện được đối xử riêng rẽ.

Bảng 30.4. Tác động của việc dành MES hoặc
đối xử riêng từng doanh nghiệp

Quy chế

Tính toán giá trị thông thường

Tính toán giá xuất khẩu

Biên độ phá giá

Doanh nghiệp tại các nước được coi là “kinh tế thị trường”.

Giá trị được tính toán có tính tới số liệu tại thị trường xuất khẩu (thông thường số liệu do doanh nghiệp bị điều tra cung cấp).

 

Giá phản ánh giá xuất khẩu thực tế của từng doanh nghiệp.

 

Dựa trên số liệu thực tế.

 

Doanh nghiệp tại các nền “kinh tế phi thị trường” được hưởng quy chế “kinh tế thị trường”.

Doanh nghiệp tại các nền “kinh tế phi thị trường” được hưởng đối xử riêng rẽ.

Giá trị được tính toán căn cứ vào số liệu thu thập tại nước tương tự.

Giá phản ánh giá xuất khẩu thực tế của từng doanh nghiệp.

Biên độ phá giá bị thổi phồng, tuỳ thuộc vào chi phí của nước tương tự.

Doanh nghiệp tại các nền “kinh tế phi thị trường” không được hưởng quy chế kinh tế thị trường và đối xử riêng rẽ.

 

Giá xuất khẩu phản ánh giá xuất khẩu bình quân của ngành.

Biên độ phá giá có thể bị thổi phồng, tuỳ thuộc vào chi phí của nước tương tự và tùy thuộc vào việc giá xuất khẩu phản ánh giá xuất khẩu bình quân của ngành.

30.4.3. Việc lựa chọn “nước tương tự” để tính toán “giá trị thông thường”

Các nước nhập khẩu có nhiều quyền trong việc lựa chọn “nước tương tự” trong điều tra các sản phẩm nhập khẩu từ một nước có nền kinh tế phi thị trường. EC sẽ lựa chọn một nước có năng lực và phương thức sản xuất gần giống với nước bị điều tra. Mục tiêu là cho phép các nhà điều tra mô phỏng chi phí sản xuất tại nước bị điều tra với giả định nước này hoạt động theo các điều kiện kinh tế thị trường. Một điều quan trọng cần nhấn mạnh là mục tiêu không phải là lựa chọn một nước có điều kiện sản xuất giống hệt điều kiện sản xuất tại nước bị điều tra do theo định nghĩa thì các điều kiện này là không được biết, hay đã bị bóp méo do các điều kiện kinh tế thị trường không hoạt động. Nước tương tự cho phép các nhà điều tra mô phỏng để xem các chi phí này sẽ như thế nào nếu như tồn tại các điều kiện kinh tế thị trường. Hai tiêu chí chính trong việc lựa chọn một nước tương tự phù hợp là có thị trường cạnh tranh tự do và có doanh số bán trong nước đại diện của sản phẩm tương tự.

30.5. So sánh các tiêu chí xác định nền kinh tế thị trường của Hoa Kỳ, EU và một số nước khác.

Không chỉ có Hoa Kỳ và EU đưa ra các tiêu chí xác định nền kinh tế thị trường. Nhiều nước phát triển và đang phát triển phân loại các quốc gia khác là phi thị trường phục vụ cho những tranh chấp thương mại, một vài nước thì dựa vào một loạt những tiêu chí, những nước khác thì dựa trên thực tế rằng một thành viên khác của WTO đã xếp loại như vậy, và một số nước khác thì dựa vào những quy trình đưa ra kết luận mơ hồ và bí ẩn. Polouetov liệt kê một số nước đã đưa ra sự phân loại nền kinh tế phi thị trường. Bảng 1.5 dưới đây so sánh những tiêu chí được 4 cơ quan lập pháp tại Mỹ, EC, Mexico và Malaysia sử dụng trong việc đưa ra quyết định liên quan đến phân loại các nền kinh tế vào danh sách thị trường hay phi thị trường.

Dựa trên sự tương đương giữa những tiêu chí khác nhau trong bảng 1 và xác định gần đây của DOC liên quan đến Việt Nam, dưới đây sẽ tập trung chủ yếu vào những tiêu chí của Mỹ, EC (và Mexico), tuy nhiên, đặc biệt nhấn mạnh vào hệ thống kế toán và những yêu cầu báo cáo tài chính. EC cũng nhấn mạnh đến sự cần thiết phải có luật phá sản và luật tịch biên tài sản được thực thi một cách có hiệu quả.

Những tiêu chuẩn kế toán, bao gồm cách xử lý việc hạ giá, định giá tài sản, quá trình kiểm toán, đều cần thiết đối với việc định giá thực của các công ty và chi phí sản xuất. Đây là những quan tâm chủ chốt đối với những vụ việc chống bán phá giá, và đây có thể là lý do khiến EC tính đến những tiêu chí này, nhưng chúng lại ít liên quan đến việc xem xét thị trường có bị bóp méo ở mức độ lớn hay không. Thị trường vẫn có thể có tính cạnh tranh bất kể hệ thống kế toán hay chế độ luật sở hữu yếu kém, nhưng chúng cũng có thể kém hiệu quả nếu chi phí giao dịch tăng và tình trạng trốn thuế trở nên phổ biến. Đối với việc xem xét kinh tế phi thị trường, DOC bỏ qua vấn đề kế toán ở cấp độ doanh nghiệp mà thay vào đó tập trung vào vấn đề rộng hơn liên quan đến cả ngành như rào cản để tham gia và rút khỏi thị trường, và những thị trường đặc biệt thiếu tính cạnh tranh. Khi thiếu vắng cạnh tranh, luôn luôn xuất hiện cơ chế xin – cho đối với cơ hội tiếp cận với nguồn lực đất đai hoặc tín dụng.

Bảng 30.5. So sánh những tiêu chí trong một vài hệ thống luật pháp để một nước được đánh giá là có nền kinh tế thị trường

USA

EC

Mexico

Malaysia

(1) mức độ mà đồng tiền của nước ngoài đó có thể được chuyển đổi sang đồng tiền của các nước khác

Việc chuyển đổi tỷ giá hối đoái được tiến hành theo tỷ giá trên thị trường

Đồng tiền của nước đang bị điều tra phảichuyển đổi được một cách bình thường trên thị trường tiền tệ quốc tế

Không có điều khoản tương đương

(2) mức độ sở hữu hoặc kiểm soát của chính phủ đối với các phương tiện sản xuất

 

Các quyết định của doanh nghiệp liên quan đến giá cả, chi phí và đầu vào, bao gồm công nghệ và lao động, đầu ra, lượng bán ra và đầu tư, được đưa ra để đáp ứng các dấu hiệu của thị trường phản ánh cung và cầu, không có sự can dự đáng kể của nhà nước, và chi phí của phần lớn các đầu vào phản ánh đúng giá trị của thị trường

Các quyết định liên quan tới giá cả, chi phí và nguồn cung đầu vào, bao gồm nguyên liệu thô, công nghệ, việc sản xuất, lượng bán ra và đầu tư, trong ngành công nghiệp đang bị điều tra, phải được đưa ra để đáp ứng các dấu hiệu của thị trường mà không có sự can thiệp đáng kể của nhà nước

Mức độ của đầu tư tư nhân, cụ thể là các công ty tư nhân có chiếm tỷ trọng lớn không, các cơ quan nhà nước có nắm quyền lãnh đạo hoặc giữ vị trí quản lý quan trọng hay không.

(3) mức độ kiểm soát của chính phủ đối với việc phân bổ các nguồn lực và đối với các quyết định về giá cả và sản lượng của doanh nghiệp

Như trên

Như trên

Công ty kiểm soát việc khai thác tìm kiếm nguyên liệu thô và các yếu tố đầu vào.

Tự do quyết định giá cả và số lượng hàng xuất khẩu

(4) mức độ mà các mức tiền công lao động được xác định bởi sự thương lượng tự do giữa người lao động và người sử dụng lao động

Không có điều khoản tương đương

Lương ở những nước nói trên phải được thiết lập thông qua thương lượng giữa công nhân và người chủ.

Tự do thuê và sa thải công nhân và quyết định lương của họ.

(5) mức độ mà các liên doanh hoặc các dạng đầu tư khác của các doanh nghiệp từ các nước khác được phép hoạt động,

Không có điều khoản tương đương

Không có điều khoản tương đương

Không có điều khoản tương đương

(6) Không có điều khoản tương đương

Các công ty có một hệ thống ghi chép kế toán cơ bản rõ ràng và những ghi chép này được kiểm toán độc lập theo tiêu chuẩn kiểm toán quốc tế và được áp dụng đối với tất cả các mục đích.

Ngành công nghiệp đang bị điều tra phải có duy nhất một hệ thống ghi chép kế toán được sử dụng trong mọi trường hợp và được kiểm toán dựa vào những tiêu chí kế toán đã được chấp nhận rộng rãi

Không có điều khoản tương đương

(7) Không có điều khoản tương đương

Chi phí sản xuất và tình hình tài chính của các công ty không phải chịu các hành vi bóp méo đáng kể được tiến hành bởi hệ thống kinh tế phi thị trường cũ, cụ thể là trong quan hệ đánh giá thấp đi giá trị tài sản, những hành vi xóa nợ khác và trả nợ thông qua đền bù

Chi phí sản xuất và tình hình tài chính của ngành công nghiệp đang bị điều tra không bị bóp méo trong quan hệ đánh giá thấp đi giá trị tài sản, nợ xấu, thương mại đổi chác và đền bù nợ hoặc những yếu tố khác được coi là có liên quan

Không có điều khoản tương đương

(8) Không có điều khoản tương đương

Những công ty đang xem xét phải tuân theo luật phá sản và luật sở hữu tài sản, những bộ luật đảm bảo cho sự chắc chắn và ổn định hợp pháp đối với hoạt động của công ty

Không có điều khoản tương đương

Không có điều khoản tương đương

(9) những yếu tố khác mà chính quyền điều hành cảm thấy phù hợp

Không có điều khoản tương đương

Không có điều khoản tương đương

Không có điều khoản tương đương

 30.6. Tổng hợp các tiêu chí công nhận một nền kinh tế là nền kinh tế thị trường

Việc công nhận một nước khác có nền kinh tế thị trường được phân tích và đánh giá trên cơ sở hệ thống các tiêu chí của các nước khác nhau là khác nhau. Ngay trong cùng một hệ thống được coi là cùng phát triển kinh tế thị trường như Liên minh Châu Âu hay Hoa Kỳ cũng có những khác biệt nhất định. Mặc dù vậy, các nước vẫn dựa trên một số chỉ số nhất định để đánh giá một nước có nền kinh tế thị trường hay phi thị trường. Có thể tổng kết những chỉ số được Liên minh Châu Âu, Hoa Kỳ và Canada sử dụng trong các tiêu chí như sau:

30.6.1. Vai trò của Nhà nước trong quản lý nền kinh tế và kiểm soát việc phân bổ nguồn lực quốc gia.

Các nước Châu Âu và Hoa Kỳ rất quan tâm đến những vấn đề như: sở hữu của nhà nước, sự phân bổ và kiểm soát các nguồn lực tự nhiên, vốn và nguồn nhân lực; quyền và sự kiểm soát của nhà nước đối với việc quản lý nền kinh tế; sự kiểm soát của nhà nước đối với sản xuất, trong đó sự kiểm soát ở đây được đánh giá dưới góc độ sở hữu tài sản của doanh nghiệp, sự phân bổ lợi nhuận và cơ chế phá sản; kiểm soát của nhà nước đối với thương mại quốc tế và thương mại nội địa; kiểm soát của nhà nước đối với các tổ chức trung gian như các hiệp hội, các phòng thương mại. Tóm lại, tất cả những vấn đề nêu trên chính là vai trò của nhà nước trong việc điều hành nền kinh tế thị trường, hay nói cách khác chính là vai trò của nhà nước trong mối quan hệ giữa nhà nước và doanh nghiệp.

30.6.2. Môi trường kinh doanh và sự tự do của doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất kinh doanh (từ việc thành lập doanh nghiệp, lựa chọn ngành nghề kinh doanh, tự do quyết định giá cả sản phẩm và các điều kiện giao dịch thương mại).

Hoa Kỳ quan tâm đến các vấn đề như liệu có tồn tại sự can thiệp của Nhà nước vào các quyết định của doanh nghiệp liên quan đến sản lượng, giá cả của sản phẩm hay không; liệu doanh nghiệp có thực sự được độc lập trong hoạt động xuất nhập khẩu của mình hay không; liệu doanh nghiệp có sự tự do trong việc lựa chọn ban lãnh đạo doanh nghiệp và phân bổ lợi nhuận trong doanh nghiệp hay không; liệu doanh nghiệp có quyền tự quyết định trong việc đàm phán và ký kết các hiệp định thương mại và hoạt động xuất nhập khẩu hay không. Trong khi đó, Liên minh Châu Âu lại quan tâm đến các khía cạnh như liệu doanh nghiệp có quyền ra quyết định giá cả và khối lượng xuất khẩu hay không; liệu sổ sách kế toán có mà các doanh nghiệp sử dụng trong công việc quản trị có phù hợp với tiêu chuẩn kế toán quốc tế hay không; liệu doanh nghiệp nước ngoài hoạt động trên lãnh thổ của nước đó có được quyền chuyển lợi nhuận của mình ra nước ngoài hay không và họ có quyền tự quyết đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của mình hay không.

Trong trường hợp của Canada, cơ quan điều tra của Canada ngoài việc quan tâm đến các vấn đề nêu trên thì họ cũng quan tâm đến hình thức sở hữu của doanh nghiệp tham gia xuất khẩu và sự chuyển đổi hình thức sở hữu của các doanh nghiệp nhà nước. Như vậy, về bản chất, vấn đề quan trọng đối với nhóm tiêu chí này là hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp có được thực hiện dựa trên các định hướng thị trường và quản trị doanh nghiệp theo tiêu chuẩn quốc tế hay không, hay nói cách khác là doanh nghiệp có được tự do trong việc thực hiện các quyền và hành vi của mình hay không.

30.6.3. Chi phí và giá cả của các yếu tố trong quá trình sản xuất

Hoa Kỳ quan tâm đến sự kiểm soát của nhà nước trong việc phân bổ các nguồn lực và các yếu tố đầu vào của sản phẩm có được định giá trên cơ sở thị trường hay không. Liên minh Châu Âu thì quan tâm đến liệu thị trường có thể quyết định giá cả của các yếu tố đầu vào và sự đáng tin cậy trong việc tính toán chi phí của doanh nghiệp. Trong khi đó, Canada lại quan tâm đến các quyết định của doanh nghiệp liên quan đến giá cả của các yếu tố đầu vào như nguyên liệu thô, năng lượng, chi phí nhân công. Như vậy, các nước này đều quan tâm đến liệu các yếu tố đầu vào có được định giá trên cơ sở thị trường hay không. Việc đánh giá mức độ thị trường hóa của các yếu tố này có thể được xác định thông qua phân tích quá trình hình thành và phát triển của một số thị trường cơ bản trong nền kinh tế như thị trường lao động, thị trường vốn, thị trường đất đai…

30.6.4. Các vấn đề về thương mại

Châu Âu và Hoa Kỳ đều quan tâm đến các hoạt động thương mại của doanh nghiệp, cả nội thương lẫn ngoại thương. Liệu các giao dịch thương mại có được tự do thỏa thuận và tiến hành hay không. Các cơ sở hạ tầng về mặt thị trường cho hoạt động thương mại có được hình thành và phát triển hay không? Liệu các tổ chức trong gian có vai trò gì trong hoạt động thương mại của doanh nghiệp? Các doanh nghiệp có quyền tự do trong quyết định chính sách thương mại của công ty mình hay không? Tất cả những yếu tố này có thể tóm gọn lại trong khái niệm sự bình đẳng của môi trường thương mại

30.6.5. Chính sách tài chính và tiền tệ

Tất cả các nước có quy định về các tiêu chí xác định nền kinh tế thị trường đều rất quan tâm đến lãi suất và tỉ giá hối đoái của nước bị điều tra chống bán phá giá có được quyết định trên cơ sở thị trường hay không. Liệu đồng tiền của nước bị điều tra có thể chuyển đổi được hay không và được chuyển đổi ở mức độ nào? Có tồn tại sự khác biệt trong lãi suất dành cho doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp nước ngoài hay không? Tình hình tài chính của doanh nghiệp có bị hệ thống phi thị trường cũ bóp méo hay không? Các doanh nghiệp có được tự do hoán đổi và đặt cọc tỉ giá hối đoái hay không? Tóm lại là thị trường tài chính – tiền tệ có thực sự lành mạnh trong thực tiễn hay không được đánh giá thông qua sự hoạt động của hai công cụ tài chính là lãi suất và tỉ giá hối đoái.

Có thể nói các tiêu chí nói trên là những là những cơ sở ban đầu để hiểu và đánh giá một nền kinh tế có phải là nền kinh tế thị trường hay không. Mặc dù vậy, các quốc gia và trường phái khác nhau đều có những quan điểm khác nhau về các tiêu chí đánh giá một nền kinh tế thị trường. Tuy nhiên, với mục đích để các cơ quan điều tra của các nước thành viên WTO hiểu và có đánh giá hợp lý và thực chất đối với những tiến bộ trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế của Việt nam sang nền kinh tế thị trường trong hơn 20 năm qua, những thành viên tham gia xây dựng Báo cáo chủ yếu sử dụng các tiêu chí do Liên minh Châu Âu, Hoa Kỳ và một số nước thành viên WTO khác làm cơ sở để xây dựng các nội dung cụ thể.

30.7. Đánh giá mức độ thị trường hóa của nền kinh tế Việt Nam

Kể từ khi bắt đầu đổi mới năm 1986, Việt Nam đã có những tiến bộ vượt bậc trong việc chuyển đổi nền kinh tế sang nền kinh tế thị trường. Cho đến nay, có thể thấy nền kinh tế Việt Nam thể hiện những đặc điểm sau đây:

Thứ nhất, cũng như bất kì quốc gia nào, vai trò của nhà nước trong quản lý vĩ mô là rất quan trọng nhưng Nhà nước không còn can thiệp trực tiếp vào công việc kinh doanh của doanh nghiệp, ngay cả đối với doanh nghiệp thuộc sở hữu của mình, nhà nước cũng tôn trọng quyền tự chủ kinh doanh của doanh nghiệp. Điều này đã được khẳng định trong luật pháp và trên thực tế đang được thực hiệnngày càng đầy đủ. Trong nền kinh tế thị trường của Việt Nam, vai trò của Nhà nước là nhằm đảm bảo ổn định vĩ mô, tạo lập và duy trì môi trường kinh doanh bình đẳng cho hoạt động của doanh nghiệp.

Việc phân bổ nguồn lực của nền kinh tế là do quy luật cung cầu quyết định. Trừ một số rất ít trường hợp ngoại lệ ở đây do điều kiện lịch sử còn tồn tại tình trạng độc quyền hoặc độc quyền tự nhiên nhà nước mới phải kiểm soát giá độc quyền còn tuyệt đại bộ phận giá cả là không bị Chính phủ kiểm soát; đấu thầu, đấu giá nhằm đạt được mức giá tốt hơn là rất phổ biến. Việt Nam đã và đang thực hiện những cải cách kinh tế quan trọng, trong đó có việc Chính phủ không kiểm soát việc phân bổ các nguồn lực hoặc áp đặt giá cả và sản lượng cho các doanh nghiệp. Các quyết định về đầu tư, mua nguyên liệu đầu vào, sản lượng và giá cả không còn theo cơ chế tập trung nữa mà do thị trường quyết định. Không còn tình trạng Nhà nước chi trả cho các hoạt động của doanh nghiệp quốc doanh. Thuế hoá đã thay thế cơ chế “lãi thu lỗ bù” trước đây trong khu vực kinh tế nhà nước.

Tình trạng phân biệt đối xử đã được khắc phục một cách căn bản với việc ban hành Luật doanh nghiệp chung 2005, Luật đầu tư chung 2005 và Luật thương mại sửa đổi 2005. Điều quan trọng là việc tham gia kinh doanh đã trở nên dễ dàng đối với khu vực kinh tế tư nhân, kể cả đối với đầu tư nước ngoài và danh mục các lĩnh vực kinh doanh chỉ dành cho doanh nghiệp nhà nước không còn nhiều. Thương mại phi thị trường đã hoàn toàn bị xóa bỏ và chế độ hàng đổi hàng không còn tồn tại.

Nhà nước đã thừa nhận các thành phần kinh tế khác nhau và khẳng định sự bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ trong chế độ thuế, th­ương mại hoặc tiền tệ. Trong hầu hết các ngành nghề, tiền công hoàn toàn được xác định trên cơ sở cung cầu của thị trường lao động. Người sử dụng lao động có toàn quyền quyết định mức tiền công không thấp hơn mức tiền công tối thiểu, công nhân có quyền tự do tìm kiếm việc làm theo nguyện vọng tuỳ thuộc vào mức lương và các điều kiện lao động cụ thể. Nói cách khác, trên thực tế Việt Nam đã tồn tại thị trường lao động tự do. Bên cạnh đó, Nhà nước cũng đã trao quyền kiểm soát phương tiện sản xuất cho các doanh nghiệp và cá nhân. Đặc điểm về đất đai của nền kinh tế Việt Nam và việc quyền sử dụng đất được qui định đầy đủ cho thấy việc kiểm soát phương tiện sản xuất đã được trao từ Nhà nước về cá nhân và doanh nghiệp của Việt Nam. Ngoài ra, các doanh nghiệp tư nhân trong các lĩnh vực khác nhau cũng đang ngày càng trở nên quan trọng.

Thứ hai, quá trình cải cách DNNN đang diễn ra với quy mô ngày càng sâu và rộng. Việc cải cách chủ yếu được thực hiện theo phương pháp của kinh tế thị trường là tạo môi trường cạnh tranh, xoá bỏ độc quyền của DNNN. Bên cạnh cổ phần hoá còn có các hình thức chuyển đổi sở hữu khác như bán, khoán, cho thuê DNNN. Tốc độ cổ phần hoá ngày càng được thúc đẩy nhanh hơn. Việt Nam đã cổ phần hoá một số lượng đáng kể doanh nghiệp nhà nước; số lượng doanh nghiệp nhà nước đã và sẽ tiếp tục giảm. Sau khi đã cổ phần hoá, nhà nước hầu như không can thiệp vào hoạt động tác nghiệp của doanh nghiệp, chỉ trừ trường hợp giải quyết vấn đề lao động dôi dư. Việc nhà nước quy định hạn chế thải hồi lao động và có chính sách đền bù cho những người nghỉ việc khi cổ phần hoá doanh nghiệp là nhằm tránh tình trạng thất nghiệp diễn ra với quy mô lớn gây bất ổn xã hội, đảm bảo cải cách phải đi đôi với phát triển.

Thứ ba, môi trường đầu tư thông thoáng và bình đẳng. Với việc ban hành luật đầu tư chung 2005, sự phân biệt đối xử giữa đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài đã hoàn toàn bị xóa bỏ. Thủ tục thành lập doanh nghiệp và tiến hành đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam đã được đơn giản hóa và rút ngắn một cách đáng kể. Thậm chí, một số ý kiến của doanh nghiệp trong nước còn cho rằng, hiện nay, cơ chế chính sách của Việt Nam còn ưu đãi doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hơn so với doanh nghiệp trong nước.

Thứ tư, Việt Nam đã ban hành một hệ thống luật công ty minh bạch, bao gồm luật doanh nghiệp, luật đầu tư nước ngoài, luật DNNN, luật hợp tác xã. Đặc biệt Việt Nam đã ban hành các văn bản tạo khuôn khổ pháp lý thuận lợi cho sự phát triển mạnh mẽ của khu vực kinh tế tư nhân, bảo vệ quyền lợi của cổ đông: quyền biểu quyết được xác định dựa trên quyền biểu quyết theo số vốn góp. Ngoài ra cổ đông còn được quyền giám sát thông qua ban giám sát, kiểm toán nội bộ và được cung cấp thông tin và được quyền chuyển nhượng cổ phần khi muốn rút khỏi kinh doanh. Ngay trong các liên doanh, chỉ có hai trường hợp biểu quyết yêu cầu nhất trí là đầu tư và giải thể, thay đổi điều lệ hoạt động. Luật doanh nghiệp năm 2005 áp dụng chung cho tất cả các doanh nghiệp Việt Nam không phân biệt chế độ sở hữu sẽ tạo ra cơ sở pháp lý chung cho các doanh nghiệp thuộc các hình thức sở hữu trong hoạt động kinh doanh và trước pháp luật. Luật kế toán xác định khuôn khổ pháp lý cho hoạt động kế toán của công ty phù hợp với các tiêu chuẩn của quốc tế. Như vậy, khung pháp lý cho khu vực tư nhân đã được hình thành và có những bước tiến đáng kể trong việc thực thi, thể hiện qua số lượng doanh nghiệp tư nhân được thành lập tăng rất nhanh trong vài năm gần đây.

Thứ năm, từ chỗ hầu như chỉ có một khung pháp luật rất đơn giản trong thời kỳ kế hoạch hoá tập trung, hiện nay ở Việt Nam đã hình thành một khung pháp luật khá đầy đủ cho sự vận hành của nền kinh tế thị trường. Việt Nam đã ban hành hàng loạt các văn bản pháp luật thống nhất và minh bạch để đảm bảo việc tôn trọng các quyền về sở hữu tư nhân bao gồm quyền sở hữu tài sản và quyền sở hữu trí tuệ. Mặc dù còn cần phải tiếp tục hoàn thiện nhưng hệ thống pháp luật của Việt Nam về cơ bản là thích hợp với kinh tế thị trường mà trước hết đó là sự khẳng định quyền sở hữu tài sản của tư nhân. Quyền sở hữu tài sản đã được thừa nhận trong trong Hiến pháp Việt Nam và được cụ thể hóa trong các đạo luật khác nhau. Trên thực tế quyền tài sản được tôn trọng. Các tranh chấp về tài sản phần nhiều liên quan đến đất đai và do lịch sử để lại, là hậu quả của hai cuộc chiến tranh. Chỉ trong những trường hợp đặc biệt vì lợi ích quốc gia, vì lý do an ninh quốc phòng, nhà nước có thể trưng thu, trưng dụng tài sản tư nhân nhưng đảm bảo sẽ đền bù thoả đáng.

Bên cạnh đó, Việt Nam đã có một hệ thống luật pháp đảm bảo sự vận hành của qui chế phá sản.

Việt Nam rất tích cực trong việc tham gia các công ước quốc tế về sở hữu trí tuệ. Việt Nam đã hình thành hệ thống luật pháp về sở hữu trí tuệ và việc thực thi đang ngày càng nghiêm túc, kể trên thị trường trong nước và ở các cửa khẩu. Nhiều trường hợp vi phạm đã được xử lý theo pháp luật. Việt Nam cũng đã ban hành và áp dụng hệ thống pháp luật đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế.

Thứ sáu, hệ thống ngân hàng đang được cải cách và dần hoàn thiện. Lĩnh vực tài chính đã và đang được cải cách mạnh mẽ theo hướng tự do hoá phù hợp với các chuẩn mực quốc tế. Hoạt động tín dụng được thực hiện trên cơ sở thoả thuận giữa các tổ chức tín dụng và nhà đầu tư vì lợi ích kinh tế cụ thể thay vì theo sự chỉ đạo của nhà nước.

Tương tự như các tổ chức kinh doanh khác, các ngân hàng, kể cả ngân hàng quốc doanh đều có quyền tự chủ trong kinh doanh. Các ngân hàng được tự quyết định lựa chọn khách hàng cho vay, không phân biệt đó là doanh nghiệp quốc doanh hay tư nhân, tuỳ theo mức độ tín nhiệm trong thanh toán của khách hàng và/hoặc quy mô kinh doanh của doanh nghiệp. Trên thực tế không có sự đối xử khác nhau giữa các doanh nghiệp Nhà nước và tư nhân trong lĩnh vực tài chính. Các ngân hàng còn được quyền cho vay không cần thế chấp. Việc tự do hoá lãi suất ngoại tệ và nhất là lãi suất tiền VND đánh dấu một bước quan trọng trong việc mở rộng quyền tự chủ kinh doanh của các ngân hàng. Về cơ bản các ngân hàng hoạt động theo nguyên tắc thị trường, các khoản vay ưu đãi để thực hiện chính sách của nhà nước được chuyển sang cho ngân hàng chính sách xã hội.

Ngân hàng nhà nước mặc dù hoạt động không độc lập hoàn toàn nhưng đã chuyển sang thực hiện các chức năng điều chỉnh cân đối tiền tệ, ổn định đồng tiền bằng các công cụ thị trường và đã đạt được kết quả khả quan trên thực tế. Trong những năm 2003-2008, mặc dù giá cả một số mặt hàng quan trọng trên thế giới tăng lên đáng kể và Việt Nam đã mở cửa thông thương với thế giới, nhưng kinh tế vĩ mô vẫn giữ tương đối ổn định, kể cả chỉ số lạm phát và tỷ giá hối đoái.

Việt Nam là nước định hướng phát triển thương mại với một đồng tiền có khả năng chuyển đổi trong giao dịch vãng lai và do đó, giá cả của thế giới có thể thâm nhập vào thị trường nội địa.

Cuối cùng, tiến bộ trong tự do hoá thương mại đãgóp phần quan trọng thúc đẩyhình thành cơ chế thị trường ở Việt Nam. Từ năm 1986, Việt Nam ngày càng tham gia sâu rộng hơn vào hệ thống thương mại toàn cầu thông qua các hiệp định thương mại song phương và đa phương. Thông qua tiến trình đổi mới được bắt đầu thực hiện một cách mạnh mẽ từ năm 1986 và được tăng cường một cách đáng kể từ năm 1991 cho đến nay và đặc biệt là từ sau năm 2001, Việt Nam đã xây dựng được nền móng cơ bản cho cơ chế thị trường và đã đưa các nguyên tắc kinh tế thị trường hợp lý vào tận các doanh nghiệp và các cá nhân, chính những thay đổi này sẽ là động lực thúc đẩy sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế. Mặc dù phải thừa nhận là tiến trình cải cách không thể không trải qua giai đoạn khó khăn ban đầu nhưng các hạn chế của cơ chế tập trung nhà nước đã được loại bỏ và Việt Nam đã chuyển hướng một cách căn bản để gia nhập cộng đồng thế giới theo các nguyên tắc thương mại tự do và bình đẳng. Việc trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại thế giới cho thấy Việt Nam đã hoàn toàn hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu.

Tóm lại trong những năm vừa qua, Việt Nam đã có những bước tiến dài trong tự do hoá thương mại và đầu tư và đã chủ động hội nhập nền kinh tế năng động của mình vào hệ thống toàn cầu. Trong một khoảng thời gian tương đối ngắn, Việt Nam đã sửa đổi một cách tích cực các chính sách, luật pháp không phù hợp với kinh tế thị trường, xoá bỏ những điểm bất cập ngăn cản các doanh nghiệp đưa ra những quyết định kinh doanh độc lập theo nguyên tắc thị trường. Hơn thế nữa, Việt Nam còn thiết lập thêm một số thể chế mới của kinh tế thị trường trước đây chưa từng tồn tại ở Việt Nam.

Với những nỗ lực như vậy, trong quá trình đàm phán giải trình nền kinh tế thị trường của Việt Nam với 3 đối tác quan trọng nhất là Nhật Bản, Hoa Kỳ và EU đã có những bước tiến đáng kể như: năm 2012 Nhật Bản đã công nhận Việt Nam là nền kinh tế thị trường theo các tiêu chí đánh giá của Nhật Bản; EU đã công nhận Việt Nam đạt được 01 tiêu chí về giá cả trong số 05 tiêu chí của EU, và hiện hai bên đang tiếp tục nỗ lực trao đổi quan điểm thông qua các Phiên họp Nhóm giải trình KTTT; Việt Nam và Hoa Kỳ cũng đã thành lập Nhóm công tác về KTTT để trao đổi quan điểm về vấn đề này, qua đó Hoa Kỳ cũng đã ghi nhận những đổi mới của Việt Nam trong thời gian gần đây trong nhiều lĩnh vực. Ngoài ra, có khoảng 30 quốc gia và vùng lãnh thổ đã công nhận nền KTTT Việt Nam phục vụ cho mục đích phòng vệ thương mại.

Để hiểu rõ hơn về cách thức giải trình và lượng thông tin mà Việt Nam đưa ra trong các cuộc họp, thảo luận về nền KTTT Việt Nam với các nước đối tác (đặc biệt là Hoa Kỳ và EU), có thể tham khảo các Phụ lục 1, 2 của Chuyên đề.

 TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Hiệp định Marakesh thành lập Tổ chức thương mại thế giới WTO
  2. Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT 1947 và GATT 1994)
  3. Hiệp định thực thi Điều VI của Hiệp định chung về thuế quan và thương mại 1994
  4. Hiệp định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng
  5. Văn kiện gia nhập Tổ chức thương mại thế giới của Việt Nam
  6. Báo cáo giải trình về nền kinh tế thị trường Việt Nam năm 2010
  7. Bản giải trình về nền kinh tế thị trường của Việt Nam với EC năm 2012
  8. Bản giải trình về nền kinh tế thị trường của Việt Nam với Hoa Kỳ năm 2014


[1]Francis Snyder, “The Orgin of the non-market economy:Ideas, Pluralism and Power in the EC anti-dumping laws about China”, European Journal of Law, Vol 7, 2001.

[2]GATT 1994, Điểm bổ sung thứ hai của Đoạn 1 của Điều VI trong Phụ lục I của GATT 1994.

[3] Điều XII.1 quy định: Bất kỳ một quốc gia hay vùng lãnh thổ thuế quan riêng biệt nào hoàn toàn tự chủ trong việc điểu chỉnh các mối quan hệ ngoại thương và các vấn đề khác quy định trong Hiệp định này và các Hiệp định Thương mại đa biên đều có thể gia nhập Hiệp định này theo các điều khoản đã thỏa thuận giữa quốc gia hay vùng lãnh thổ thuế quan đó với WTO. Việc gia nhập đó cũng sẽ áp dụng cho Hiệp định này và các Hiệp định Thương mại đa biên kèm theo

[4] WTO, đề xuất của Trung Quốc cho đàm phán về chống bán phá giá, 06.03.2003, TN/RL/W/66

[5] Snyder,đã dẫn n.1, 383

[6] Quy định cơ bản của Hội đồng (EEC) 459/68 ngày 05/4/1968 về biện pháp bảo vệ chống lại bán phá giá hoặc việc cấp phát tiền thưởng hoặc trợ cấp của các nước không phải là thành viên của Cộng đồng kinh tế Châu Âu, Công báo L 93, 1, art. 3(6).

[7] EC không phải là thành viên của GATT, nhưng được thay thế cho các nước thành viên trong phạm vi chính sách thương mại như là một phần của thầm quyền đặc quyền, Điều. 113 (Hiện này là Điều133). Xem đã dẫn n.1, 398–399.

[8] EC không phải là thành viên của GATT, nhưng được thay thế cho các nước thành viên trong phạm vi chính sách thương mại như là một phần của thầm quyền đặc quyền, Điều. 113 (Hiện này là Điều133). Xem đã dẫn n.1, 398–399.

[9] Snyder, đã dẫn n.1, 397

[10]Xem sổ tay về chống bán phá giá của Bộ Thương mại Hoa Kỳ, Chương 8, phần XVI, http://www.ia.ita.doc.gov/pcp/pcp-admanual-ch8-sec-xvi.pdf, 1998.

[11]Xem D. Ikenson, Nonmarket Nonsense, Chính sách chống bán phá giá của Hoa Kỳ đối với Trung Quốc, Tài liệu giới thiệu thương mại, Viện Cato, ngày 7 tháng 3 năm 2005, trang 6.

[12]Xem J. Cornelis, op. cit., trang 107.

[13]Xem Thông tin của EC số 553/2006 ngày 23 tháng 3 năm 2006 áp dụng thuế chống bán phá giá tạm thời đối với một số loại giày mũi da nhập xuất xứ tại Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Việt Nam, OJ, L 98/3.

Bản in

 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *