Chuyên đề 3 TỔNG QUAN KINH TẾ, TÀI CHÍNH VĨ MÔ VIỆT NAM NĂM 2016 VÀ DỰ BÁO NĂM 2017

MỤC LỤC

Chuyên đề 3: TỔNG QUAN KINH TẾ, TÀI CHÍNH VĨ MÔ VIỆT NAM NĂM 2016 VÀ DỰ BÁO NĂM 2017 

ThS. Dương Hoàng Linh – ThS. Trần Thu Thủy, Viện Chiến lược và Chính sách Tài chính – Bộ Tài chính

 3.1. Tình hình kinh tế, tài chính vĩ mô Việt Nam năm 2016

Kinh tế Việt Nam năm 2016 diễn ra trong bối cảnh thị trường quốc tế có những diễn biến phức tạp, khó lường và tình trạng biến đổi khí hậu cũng như các vấn đề về môi trường trong nước ảnh hưởng tiêu cực tới hoạt động sản xuất và xuất nhập khẩu. Tuy nhiên, nền kinh tế vẫn có những kết quả tích cực trong ổn định kinh tế vĩ mô và đầu tư toàn xã hội. Đến những tháng cuối năm, sản xuất nông nghiệp – lâm nghiệp – thủy sản và xuất nhập khẩu của cả nước đang dần cải thiện, tăng trưởng kinh tế quý sau cao hơn quý trước. Kinh tế Việt Nam năm 2017 mặc dù vẫn còn phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức nhưng cũng còn những yếu tố thúc đẩy tăng trưởng trong cả ngắn và dài hạn.

Bảng 3.1. Một số chỉ tiêu kinh tế cơ bản 2011– 2016


2011

2012

2013

2014

2015

BQ 2011-2015

KH 2016

2016

Tăng trưởng, % tăng GDP

6,24

5,25

5,42

5,98

6,68

5,91

6,7

6,21

Tốc độ tăng IIP (%)

5,8

5,9

7,6

9,8

7,28*

7,4

Bán lẻ hàng hóa và dịch vụ1

4,7

6,2

5,5

8,1

8,4

6,58*

7,8

Tổng vốn đầu tư toàn XH, % GDP

33,3

31,1

30,5

31

32,6

31,68

31

33

Lạm phát2,

18,1

6,81

6,04

1,84

0,6

6,68*

<5

4,74

Cán cân thương mại, tỷ USD

-9,84

0,75

0,0003

2,37

-3,55

1,97

1,78

Xuất khẩu, % tăng kim ngạch

34,2

18,2

15,3

13,8

7,9

17,9

10

9

Nhập khẩu, % tăng kim ngạch

25,8

6,6

16,0

12,0

12,0

14,48

13

5,6

Bội chi NSNN, % GDP

4,4

5,36

6,6

6,33

6,11

5,7

4,95**

5,64

Nợ công (%GDP)

50,1

50,8

54,2

58

62,2

64,73

Nguồn: Tổng cục Thống kê; Bộ Tài chính 

Chú thích: (1) Tốc độ tăng (đã loại trừ yếu tố giá) so với cùng kì năm trước; (2) % tăng CPI so tháng 12 năm; (*) Tính toán trên số liệu 2011-2015; (**) Đây là bội chi tính theo GDP kế hoạch.

3.1.1. Tăng trưởng và sản xuất của nền kinh tế

Tăng trưởng kinh tế năm 2016 mặc dù không được như kỳ vọng nhưng có xu hướng cải thiện. GDP năm 2016 ước tính tăng 6,21% so với năm 2015, thấp hơn mức 6,68% của năm 2015 và không đạt mục tiêu đề ra (6,75%). Tuy nhiên, tăng trưởng từng quý có xu hướng đi lên với quý I tăng 5,48%; quý II tăng 5,78%; quý III tăng 6,56%; quý IV tăng 6,68%.

Bảng 3.2. Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước các năm 2013-2016 

 

Tốc độ tăng so cùng kỳ năm trước (%)

Đóng góp vào tăng trưởng 2016

(Điểm %)

2013

2014

2015

2016

 

Tổng số

5,42

5,98

6,68

6,21

6,21

Nông, lâm nghiệp và thuỷ sản

2,63

3,44

2,41

1,36

0,22

Công nghiệp và xây dựng

5,08

6,42

9,64

7,57

2,59

Dịch vụ

6,72

6,16

6,33

6,98

2,67

Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm

6,42

7,93

5,54

6,38

0,73

Nguồn: Tổng cục Thống kê. 

Đóng góp lớn nhất vào tăng trưởng của cả nước đến từ khu vực dịch vụ. Trong khi đó, nông nghiệp tăng trưởng thấp nhất kể từ năm 2011 trở lại đây, khu vực công nghiệp cũng tăng trưởng chậm hơn so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 1,36%[1], đóng góp 0,22 điểm phần trăm vào mức tăng chung; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 7,57%, thấp hơn mức tăng 9,64% của năm trước, đóng góp 2,59 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ tăng 6,98%, đóng góp 2,67 điểm phần trăm.

Hình 3.1. GDP, GDP hiệu chỉnh yếu tố mùa vụ, và xu hướng các quý giai đoạn 2011 – 2016

Nguồn: Tính toán dựa trên số liệu của Tổng cục Thống kê

Loại trừ yếu tố mùa vụ trong tăng trưởng GDP hàng quý cho thấy năng lực sản xuất của toàn nền kinh tế đang có xu hướng chậm lại trong năm 2016. Điều này thể hiện ở tăng trưởng GDP hiệu chỉnh yếu tố mùa vụ giảm trong quý I, quý IV năm 2016 và nằm dưới đường xu hướng dài hạn.

Kinh tế năm 2016 chịu nhiều tác động bất lợi từ nhiều yếu tố của cả trong và ngoài nước: (i) Về yếu tố trong nước, đó là tình hình thời tiết không thuận lợi; hạn hán và xâm nhập mặn nghiêm trọng tại Tây Nguyên, Nam Trung Bộ, Đồng bằng sông Cửu Long, lũ lụt tại các tỉnh miền Trung…; sự cố môi trường biển tại một số tỉnh miền Trung; (ii) Về các yếu tố bên ngoài, kinh tế toàn cầu năm 2016 đã trải qua nhiều biến động: tăng trưởng kinh tế thế giới vẫn phục hồi chậm chạp và đối mặt với nhiều rủi ro; đầu tư và thương mại toàn cầu giảm sút; giá dầu vẫn giảm sâu nhưng sau đó tăng mạnh trong những tháng cuối năm, bất ổn địa chính trị tại nhiều nơi như vấn đề người nhập cư ở Châu Âu, sự kiện Brexit, Hoa Kỳ bầu cử tổng thống mới… Những yếu tố này không chỉ ảnh hưởng đến hoạt động thương mại, thu hút đầu tư của Việt Nam mà còn tác động đáng kể lên sản xuất trong nước, cụ thể:

Chỉ số sản xuất công nghiệp 12 tháng/2016 tăng 7,5% so với cùng kỳ, thấp hơn nhiều so với mức tăng 9,8% của năm 2015, chủ yếu do sự sụt giảm của ngành nghiệp khai khoáng (giảm 5,9%). Sản lượng dầu thô khai thác tiếp tục giảm do giá dầu ở mức thấp, sản xuất than gặp nhiều khó khăn trong sản xuất và tiêu thụ dẫn tới công nghiệp khai khoáng tăng trưởng âm.

Hình 3.2. Tốc độ tăng chỉ số sản xuất công nghiệp toàn ngành, khai khoáng và công nghiệp chế biến, chế tạo từ năm 2015 đến nay, lũy kế, so cùng kỳ

Nguồn: Tổng cục Thống kê

Tuy nhiên, cơ cấu sản xuất công nghiệp đang có sự chuyển dịch tích cực. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo lại có mức tăng 11,2%, cao hơn so với mức tăng của cùng kỳ năm trước (tăng 10,5%). Điều này cho thấy công nghiệp trong nước đang có xu hướng tập trung vào lĩnh vực chế biến, chế tạo, giảm sự phụ thuộc vào khai thác tài nguyên, khoáng sản. Đây là điều cần thiết vì Việt Nam đang hướng tới phát triển bền vững hơn, chế biến, chế tạo những sản phẩm có giá trị gia tăng cao hơn.

Bên cạnh đó, theo khảo sát của Markit-Nikkei thì số lượng đơn đặt hàng mới tăng mạnh đã làm cải thiện mạnh mẽ các điều kiện kinh doanh ở các công ty sản xuất Việt Nam trong tháng 11 khi mà sản lượng đã tăng trở lại từ mức thấp của tháng trước. Khối lượng công việc nhiều hơn đã làm các công ty phải tăng nhanh hơn việc tuyển dụng nhân công và hoạt động mua hàng hóa đầu vào. Chi phí đầu vào cũng tăng nhanh hơn, và kết quả là các công ty đã phải tăng giá bán hàng mạnh nhất trong năm năm rưỡi. Chỉ số Nhà quản trị Mua hàng Purchasing Managers’ Index™ (PMI)™ – một chỉ số tổng hợp về tình trạng ngành sản xuất – đã tăng từ 51,7 điểm trong tháng 10 lên 54 điểm trong tháng 11, cho thấy sự cải thiện mạnh mẽ của sức khỏe lĩnh vực sản xuất, và đây là mức cải thiện mạnh nhất trong một năm rưỡi. Các điều kiện đã cải thiện trong suốt một năm qua.

Hình 3.3. Chỉ số PMI của ngành sản xuất giai đoạn 2012-2016

Nguồn: Nikkei, Markit

Sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản năm 2016 tăng trưởng thấp, thậm chí còn sụt giảm trong những tháng đầu năm do ảnh hưởng bởi điều kiện khí hậu biến đổi bất thường và ô nhiễm biển miền Trung. Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản năm 2016 theo giá so sánh 2010 ước tính đạt 870,7 nghìn tỷ đồng, tăng 1,44% so với năm 2015, bao gồm: Nông nghiệp đạt 642,5 nghìn tỷ đồng, tăng 0,79%; lâm nghiệp đạt 28,2 nghìn tỷ đồng, tăng 6,17%; thủy sản đạt 200 nghìn tỷ đồng, tăng 2,91%. Nhờ của những nỗ lực trong việc chủ động ứng phó và kịp thời xử lý những tác động do điều kiện thời tiết không thuận lợi và các vấn đề về môi trường, sản xuất nông – lâm nghiệp – thủy sản đã dần cải thiện và tăng trưởng trở lại trong những tháng cuối năm. Tuy nhiên, điều này cũng đặt ra vấn đề cần phải chủ động và tập trung nguồn lực hơn nữa cho việc ứng phó với biến đổi khí hậu và bảo vệ môi trường của nước ta.

Bảng 3.3. Giá trị sản xuất nông nghiệp – lâm nghiệp – thủy sản năm 2016 

 

Giá so sánh 2010 ( nghìn tỷ đồng)

Tốc độ tăng so với cùng kỳ (%)

 

3 tháng

6 tháng

9 tháng

Cả năm

3 tháng

6 tháng

9 tháng

Cả năm

TỔNG SỐ

178,80

397,37

594,10

870,74

-1,32

-0,08

0,70

1,44

Nông nghiệp

137,03

297,19

433,52

642,51

-2,55

-0,73

0,08

0,79

Trồng trọt

87,04

203,32

299,55

459,82

-6,01

-3,00

-1,94

-0,88

Chăn nuôi

47,34

88,71

126,44

172,44

4,20

4,66

5,05

5,42

Dịch vụ

2,65

5,17

7,53

10,25

2,79

2,83

2,84

2,96

Lâm nghiệp

6,39

13,30

20,64

28,20

6,32

5,83

6,27

6,17

Thủy sản

35,37

86,89

139,94

200,03

2,34

1,33

1,86

2,91

Nuôi trồng

16,93

47,16

80,75

121,72

0,85

-0,35

1,03

2,80

Khai thác

18,44

39,73

59,19

78,32

3,75

3,40

3,01

3,09

Nguồn: Tổng cục Thống kê

Riêng khu vực dịch vụ đạt tốc độ tăng trưởng cao trong năm 2016 (ở mức 6,98%) nhờ tốc độ tăng tích cực của một số ngành có tỷ trọng lớn như: bán buôn, bán lẻ (tăng 8,28% – đóng góp 0,77 điểm % vào mức tăng chung); dịch vụ lưu trú và ăn uống (tăng 6,7% – đóng góp 0,25 điểm %); hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm (tăng 7,79% – đóng góp 0,43 điểm %); hoạt động kinh doanh bất động sản tiếp tục được cải thiện (đạt mức tăng 4% – cao hơn mức tăng 2,96% của cùng kỳ năm trước, đóng góp 0,21 điểm %).

3.1.2. Tình hình việc làm

Kinh tế không thuận lợi đã hạn chế khả năng tạo việc làm mới của nền kinh tế, nhất là với nhóm lao động mới ra nhập thị trường (lao động từ 15-24 tuổi). Sản xuất nông nghiệp thời gian qua gặp nhiều khó khăn trong khi lao động trong nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu lao động của nước ta[2] đã góp phần làm tăng tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực nông thôn trong năm 2017. Cụ thể, tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi năm 2016 ở mức 2,3%, giảm không đáng kể so với năm 2015 và cao hơn so với năm 2014 và có xu hướng tăng trong 2 quý cuối năm. Trong đó, tỷ lệ thất nghiệp của khu vực nông thôn là 1,86% (cao hơn so với năm 2014-2015); tỷ lệ thất nghiệp của khu vực thành thị là 3,18% (thấp hơn so với năm 2014-2015). Bên cạnh đó, số người có việc làm giảm dần so với cùng kỳ năm trước trong những tháng cuối năm[3], tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên (từ 15-24 tuổi) năm 2016 cũng tăng lên mức 7,34% (năm 2015 là 7,03%), chủ yếu tập trung ở khu vực thành thị[4].

Bảng 3.4. Tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi lao động (%)

Năm 2014

Năm 2015

Năm 2016

(ước tính)

Cả nước

2,1

2,33

2,3

Thành thị

3,4

3,37

3,18

Nông thôn

1,49

1,82

1,86

Nguồn: Tổng cục Thống kê

3.1.3. Tổng cầu

Tổng mức hàng hóa bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng cả năm 2016 ước tính đạt 3.568,1 nghìn tỷ đồng, tăng 10,7% so với năm trước (Năm 2015 tăng 9,8%)[5]. Tuy nhiên, sau khi loại trừ yếu tố giá, tốc độ tăng là 7,8%, thấp hơn mức tăng 8,5% của cùng kỳ năm 2015 do sức mua năm nay không có biến động lớn, trong khi giá tiêu dùng năm nay tăng cao hơn so với năm 2015.

Bảng 3.5. Tổng mức hàng hóa bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 12 tháng năm 2012-2016, % tăng (loại trừ yếu tố giá) so cùng kì năm trước 

 

2012

2013

2014

2015

2016

Tổng bán lẻ

6,20

5,50

8,10

8,50

7,80

Thương nghiệp

5,99

5,60

21

9,97

7,54

Khách sạn, nhà hàng

7,99

8,60

3,31

4,57

8,04

Du lịch

18,89

3,10

11,21

8,87

9,34

Dịch vụ

10,39

6,70

5,31

6,37

6,64

Nguồn: Tính toán từ số liệu của Tổng cục Thống kê

Đầu tư toàn xã hội năm 2016 đạt 33% GDP, vượt kế hoạch đề ra (31% GDP). Tổng vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện năm 2016 theo giá hiện hành ước đạt 1.485,1 nghìn tỷ đồng, tăng 8,7% so với năm 2015. Trong đó, vốn khu vực Nhà nước chiếm 37,6% tổng vốn và tăng 7,2%; vốn khu vực ngoài Nhà nước chiếm 39% và tăng 9,7%; vốn khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài chiếm 23,4% và tăng 9,4%.

Bảng 3.6. Tăng trưởng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội các năm 2013-2016 so với năm trước (Theo giá hiện hành)

                                                                                                Đơn vị: %

  

Năm 2013

Năm 2014

Năm 2015

Năm 2016

Tổng số

8,4

11,5

11,9

8,7

Khu vực Nhà nước

8,7

10,2

6,8

7,2

Khu vực ngoài Nhà nước

7,1

13,6

12,8

9,7

Khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

9,9

10,5

19,9

9,4

Nguồn: Tổng cục Thống kê 

Tăng trưởng vốn đầu tư toàn xã hội năm 2016 thấp hơn năm 2015 chủ yếu do khu vực ngoài Nhà nước và khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Trong bối cảnh kinh tế năm 2016 gặp nhiều khó khăn, sản xuất và xuất khẩu của Việt Nam đều tăng trưởng thấp thì tốc độ tăng như vậy của đầu tư toàn xã hội vẫn là mức khá. Đóng góp vào thu hút đầu tư của nước ta cũng nhờ sự cải thiện của môi trường đầu tư, những nỗ lực trong hoàn thiện thể chế và ổn định kinh tế vĩ mô.

Về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, vốn FDI đăng ký vào Việt Nam năm 2016 giảm so với năm 2015 trong khi vốn giải ngân vẫn tăng trưởng tích cực. Tính đến 26/12/2016, vốn đăng ký cấp mới và bổ sung đạt 20,95 tỷ USD, giảm 8% so với năm 2015[6] nhưng không phải là điều đáng lo ngại[7]. Hơn thế nữa, trong năm 2016 có 2.547 doanh nghiệp, tổ chức kinh tế có nhà đầu tư nước ngoài góp vốn mua cổ phần (với tỷ lệ vốn lớn hơn 50% vốn điều lệ hoặc thuộc lĩnh vực đầu tư có điều kiện) với tổng vốn đầu tư là 3.425,3 triệu USD. Như vậy, tính chung tổng vốn đăng ký của các dự án cấp mới, cấp vốn bổ sung và đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần trong năm 2016 đạt 24.372,7 triệu USD, tăng 7,1% so với năm trước. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện năm 2016 ước tính đạt 15,8 tỷ USD, tăng 9% so với năm 2015, đạt mức giải ngân vốn FDI cao nhất từ trước đến nay. Lượng đầu tư thực sự đóng góp cho nền kinh tế là vốn giải ngân vẫn tăng tích cực, thể hiện niềm tin của nhà đầu tư với kinh tế Việt Nam.

Tình hình xuất nhập khẩu năm 2016 không thuận lợi, tăng trưởng nhập khẩu thấp nhất trong vòng 5 năm trở lại đây, tăng trưởng xuất khẩu vẫn chưa thực sự hồi phục kể từ năm 2014. Tuy nhiên trong những tháng cuối năm cả xuất khẩu và nhập khẩu đều có dấu hiệu tăng tốc.

Bảng 3.7. Xuất nhập khẩu năm 2012-2016 (Tỷ USD)

 

2012

2013

2014

2015

2016

Xuất khẩu

114,5

132,0

150,2

162,02

176,58

So cùng kì năm trước, % tăng

18,2

15,3

13,8

7,9

9

Nhập khẩu

113,8

132,0

147,8

165,57

174,8

So cùng kì năm trước, % tăng

6,6

16,0

12,0

12,0

5,6

Cán cân thương mại

0,71

0,00

2,35

-3,55

1,78

So kim ngạch xuất khẩu, %

0,6

0,0

1,6

-2,2

1

Nguồn: Tổng hợp

 Xuất khẩu trong những tháng đầu năm 2016 tăng trưởng chậm tuy nhiên trong những tháng cuối năm xuất khẩu có dấu hiệu tăng tốc[8] chủ yếu nhờ xuất khẩu các mặt hàng chủ lực như điện tử, điện thoại được cải thiện. Xuất khẩu cả năm 2016 tăng trưởng ở mức 9% (cao hơn so với mức 7,9% của năm 2015). Tuy nhiên, tốc độ này tương đối thấp nếu so với các mức 13% tới 15% trong các năm 2013 và năm 2014. Nguyên nhân là do xuất khẩu chịu các ảnh hưởng tiêu cực do giá cả hàng hóa xuất khẩu giảm[9] đặc biệt ở mặt hàng nhiên liệu, dầu thô; kinh tế của một số đối tác quan trọng như Nhật Bản, EU còn nhiều vấn đề bất ổn; các mặt hàng chủ lực như điện thoại, điện tử sau năm 2015 tăng trưởng đột biến đã chững lại; xuất khẩu nông sản, thủy sản vẫn gập nhiều khó khăn.

Nhập khẩu của cả nước năm 2016 tăng 5,6%, thấp hơn nhiều so với tốc độ tăng 12% của năm 2015 và cũng là mức tăng thấp nhất trong 5 năm gần đây. Nguyên nhân là do giá cả hàng hóa nhập khẩu có xu hướng giảm[10], trong đó giá nguyên liệu (dầu thô, than đá) giảm mạnh, nhu cầu nhập khẩu ở nhiều nhóm hàng lớn (hàng hóa máy móc thiết bị phụ tùng, phương tiện vận tải) có dấu hiệu chững lại và giảm nhẹ sau nhiều năm liên tục tăng trưởng nhanh. Nhập khẩu chủ yếu chỉ tăng ở các mặt hàng điện tử, linh kiện điện tử, nguyên phụ liệu dệt may.

 Tuy nhiên nhập khẩu có dấu hiệu tăng tốc trong những tháng cuối năm[11] do giá cả hàng hóa thế giới (nông sản, khoáng sản và năng lượng) phục hồi nhẹ và tăng so với đầu năm cũng như tăng trưởng kinh tế trong nước được duy trì ổn định.

Cán cân thương mại: Do tăng trưởng nhập khẩu giảm tương đối mạnh trong khi xuất khẩu vẫn duy trì tốc độ tăng trưởng ổn định nên cán cân thương mại được cải thiện và thặng dư khoảng 1,78 tỷ USD trong năm 2016.

3.1.4. Lạm phát – lãi suất – tỷ giá

Lạm phát: Bình quân năm 2016, chỉ số giá tiêu dùng tăng 2,66% so với năm 2015. Trong đó, tăng nhiều nhất là các nhóm: hàng ăn – dịch vụ ăn uống (tăng 2,36%, đóng góp 0,85 điểm % vào mức tăng CPI), nhà ở – vật liệu xây dựng (tăng 2,5%, đóng góp 0,39% điểm % vào mức tăng CPI), thuốc – dịch vụ y tế (tăng 28,52%, đóng góp 1,44 điểm % vào mức tăng CPI), giáo dục (tăng 6,31%, đóng góp 0,378 điểm % vào mức tăng CPI), riêng nhóm hàng giao thông giảm 7,31% (góp phần làm CPI giảm 0,685 điểm %).

So với tháng 12 năm trước, chỉ số giá tiêu dùng tháng 12/2016 tăng 4,74%, mặc dù cao hơn năm trước vẫn nằm trong ngưỡng đề ra của Chính phủ (dưới 5%) nhờ công tác điều hành giá và kiểm soát lạm phát được ban hành đồng bộ, chủ động, cụ thể: (i) Chính phủ đã giữ ổn định thị trường hàng hóa, chọn thời điểm điều chỉnh giá các mặt hàng nên hạn chế tác động tới CPI; (ii) Nguồn hàng và cân đối cung cầu hàng hóa trên thị trường được đảm bảo, tránh hiện tượng tăng giá cục bộ, đặc biệt là trong mùa mưa lũ.

Lãi suất cho vay và lãi suất huy động ổn định, trong khi lãi suất liên ngân hàng có xu hướng giảm: Trong năm 2016, lãi suất huy động mặc dù trải qua đợt tăng lãi suất nhẹ trong tháng 9 từ các ngân hàng nhỏ[12], và đợt giảm lãi suất nhẹ từ các ngân hàng lớn trong tháng 10[13], và có tăng nhẹ trở lại trong tháng 12 tập trung ở các kỳ hạn dưới 12 tháng nhưng nhìn chung, mặt bằng lãi suất huy động vẫn được giữ ổn định ở mức 6,5% cho kỳ hạn 1 năm và 7,2% cho kỳ hạn trên 1 năm. Bên cạnh đó, mặt bằng lãi suất cho vay đã hạ vào tháng 5/2016[14], giảm từ 8,15% xuống 8,02%/năm cho các khoản vay ngắn hạn, và giảm từ 10,2% xuống 10,1% bình quân cho các khoản vay trung và dài hạn, sau đó tiếp tục được duy trì ổn định đến hết tháng 12/2016.

Đối với lãi suất liên ngân hàng, mặt bằng lãi suất trong năm 2016 nhìn chung thấp hơn nhiều so với mặt bằng của năm 2015, phản ánh nhu cầu sử dụng vốn thấp hơn so với năm trước. Mặt bằng lãi suất liên ngân hàng giảm mạnh kể từ tháng 4/2016 (từ mức 4,13%) và chỉ đến tháng 11 mới có xu hướng tăng trở lại, từ mức 1,18% lên mức 3,42% trong tháng 12, do nhu cầu vay vốn trong nền kinh tế thường tăng cao vào dịp cuối năm.

Tỷ giá: Nhìn chung tỷ giá VND/USD tương đối ổn định trong những tháng đầu năm và chỉ tăng mạnh vào hai tháng cuối năm do những tác động của yếu tố trên thị trường quốc tế.

Trên thị trường ngoại hối chính thức, tỷ giá điều hành sau khi áp dụng cơ chế tỷ giá trung tâm (từ ngày 04/01/2016) đến nay có mức biến động không lớn, Đến ngày 30/12/2016, tỷ giá trung tâm được giữ ở mức 22.159 VND/USD chỉ tăng 1,2% so với thời điểm bắt đầu áp dụng cơ chế tỷ giá mới[15]; tỷ giá bình quân của NHTM giữ ở mức 22.749 VND/USD, tăng 1,03% so với tháng trước và 1,1% so với cùng kỳ năm 2015.

Trên thị trường ngoại hối tự do, tỷ giá VND/USD có xu hướng tăng mạnh hơn trên thị trường ngoại hối chính thức. Tính đến 30/12, tỷ giá VND/USD trên thị trường tự do giữ ở mức 23.196 VND/USD tăng 2,61% với tháng trước và tăng 2,4% so với cùng kỳ năm 2015. Nguyên nhân: (i) Đồng USD liên tục tăng giá trên thị trường quốc tế; (ii) Cục Dữ trữ Liên bang Mỹ (FED) nâng lãi suất và tiếp tục đưa ra thông điệp về việc có thể nâng lãi suất thêm 3 lần nữa trong năm 2017; (iii) Kết quả cuộc bầu cử tổng thống Mỹ giúp đồng USD tăng giá.

Thị trường vàng: Giá vàng trong nước có nhiều biến động[16] và theo xu hướng tăng trong năm 2016. Tính đến 31/12, mức giá bình quân mua vào (35 triệu đồng/lượng) và giá bình quân bán ra (36,45 triệu đồng/lượng) lần lượt tăng 8,4% và 10% so với thời điểm cuối năm 2015.

3.1.5. Thị trường tài sản

Thị trường cổ phiếu: Năm 2016 ghi nhận sự tăng trưởng tích cực của thị trường chứng khoán Việt Nam kể từ năm 2008, có thời điểm đạt 683,95 điểm (ngày 07/10/2016). Tính đến ngày 30/12/2016, chỉ số VnIndex đạt 664,87 điểm, tăng 85,84 điểm so với cuối năm 2015, tương ứng tăng 14,8%. Thanh khoản thị trường tăng khá mạnh, khối lượng giao dịch trung bình trên hai Sở giao dịch chứng khoán năm 2016 đạt khoảng 175 triệu cổ phiếu/phiên, tăng gần 10% so với cuối năm 2015.

Diễn biến tích cực trên thị trường chứng khoán được hỗ trợ bởi các yếu tố như: (i) Giá dầu thế giới năm 2016 tăng khoảng 40% so với cuối năm 2015 đã khuyến khích nhu cầu nắm giữ các cổ phiếu trong lĩnh vực xăng dầu; (ii) Tình hình sản xuất kinh doanh của nhiều doanh nghiệp tương đối khả quan[17], nhiều doanh nghiệp có giá trị vốn hóa lớn đã niêm yết hoặc đăng ký giao dịch trên trên thị trường chứng khoán như Sabeco, Habeco, Vinatex, Petrolimex, Vietnam Airlines…[18]; (iii) Nhiều thị trường chứng khoán lớn trên thế giới cũng có xu hướng tăng điểm Dow Jones tăng 13,4%, FTSE 100 tăng 14,4%, DAX tăng 7,96% (tính đến 30/12/2016); (iv) Nhiều chính sách về chứng khoán đã được ban hành trong năm 2016[19]

Tuy nhiên, thị trường chứng khoán năm 2016 vẫn còn tồn tại một số hạn chế, tiềm ẩn nhiều rủi ro cho thị trường: Nhà đầu tư nước ngoài bán ròng mạnh trong năm 2016, đặc biệt là vào cuối năm; Vẫn còn hiện tượng thao túng, làm giá, chuyển vốn nội bộ tiềm ẩn nhiều rủi ro cho thị trường; Nhiều doanh nghiệp vi phạm về công bố thông tin như công bố thông tin không chính xác, không đúng hạn, không công bố thông tin quan trọng.

Thị trường trái phiếu

Thị trường sơ cấp: Về trái phiếu chính phủ, trong năm 2016, đã tổ chức 138 phiên đấu thầu TPCP qua SGDCK Hà Nội (tính đến ngày 31/12/2016), với tổng giá trị gọi thầu là 352.500 tỷ đồng ở các kỳ hạn 3- 5-7-10-15-20-30 năm và huy động được 281.750 tỷ đồng, đạt 100% kế hoạch.

Thị trường thứ cấp: Thanh khoản thị trường trái phiếu năm 2016 tăng mạnh. Tổng giá trị giao dịch thông thường (outright) trong năm 2016 đạt 1.982,46 nghìn tỷ đồng, giá trị giao dịch trung bình đạt 8,2 nghìn tỷ đồng/phiên, tăng 53,3% so với giá trị giao dịch trung bình năm 2015. Tổng giá trị giao dịch mua bán lại (repos) năm 2016 khoảng 1.033,65 nghìn tỷ đồng, giá trị giao dịch trung bình đạt 4,3 nghìn tỷ đồng/phiên, tăng 61,5% so với giá trị giao dịch trung bình năm 2015. Trong đó, TPCP chiếm tỷ trọng trên 80%, trái phiếu Chính phủ bảo lãnh và trái phiếu chính quyền địa phương chiếm 20%.

Trái phiếu doanh nghiệp: Theo Hiệp hội thị trường trái phiếu Việt Nam, trong năm 2016 có 8.200 tỷ đồng trái phiếu doanh nghiệp được phát hành trong nước thành công bởi các doanh nghiệp như Vingroup, NHTMCP ACB, NHTMCP Vietcombank, NHTMCP BIDV, Bắc Á Bank và 40 triệu USD được phát hành thành công bởi CTCP đầu tư hạ tầng kỹ thuật TP. HCM. Trong năm 2016, cũng có 9.179 tỷ đồng trái phiếu doanh nghiệp được dự kiến phát hành[20]. Có thể thấy kênh huy động vốn qua trái phiếu doanh nghiệp còn chưa được các doanh nghiệp chú ý, khối lượng phát hành thành công chủ yếu tập trung vào các tập đoàn lớn, ngân hàng thương mại có mức độ tín nhiệm cao.

Thị trường bất động sản: Năm 2015, thị trường bất động sản ghi nhận nhiều dấu hiệu tăng trưởng tích cực như thanh khoản được cải thiện, giá trị hàng tồn kho bất động sản tiếp tục giảm, giá nhà được duy trì tương đối ổn định, tăng nhẹ tại một số phân khúc. Sự phát triển tích cực của thị trường bất động sản trong năm 2016 được hỗ trợ từ: (i) đầu tư của các dự án FDI vào thị trường bất động sản[21]; (ii) tín dụng bất động sản liên tục có sự tăng trưởng[22]; (iii) lãi suất ngân hàng ở mức tương đối thấp và có xu hướng giảm dần[23]; (iv) những chính sách thay đổi được thực thi vào tháng 7/2015 đã tạo điều kiện cho người nước ngoài sở hữu bất động sản tại Việt Nam, thúc đẩy lượng giao dịch nhà ở tăng.

3.1.6. Tình hình doanh nghiệp đăng ký

Số lượng doanh nghiêp thành lập mới có nhiều cải thiện trong năm 2016. Những nỗ lực trong hoàn thiện thể chế, cải thiện môi trường kinh doanh và hỗ trợ cho doanh nghiệp thời gian qua cũng đã góp phần giúp doanh nghiệp tìm thấy các cơ hội kinh doanh, nâng cao kỳ vọng vào sự khôi phục của nền kinh tế và niềm tin vào thị trường, qua đó tác động tích cực đến tình hình hoạt động của doanh nghiệp. Số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới năm 2016 đạt mức kỷ lục với 110,1 nghìn doanh nghiệp, tăng 16,2% so với năm 2015; tổng vốn đăng ký là 891,1 nghìn tỷ đồng, tăng 48,1%[24]; số vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới năm 2016 đạt 8,1 tỷ đồng, tăng 27,5% so với năm 2015. Bên cạnh đó, trong năm 2016 số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động tăng 24,1% so với năm trước. Số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể trong năm 2016 mặc dù tăng 31,8% so với năm trước nhưng phần lớn là những doanh nghiệp có quy mô vốn nhỏ (dưới 10 tỷ đồng, chiếm 93,1%). Số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động trong năm 2016 cũng giảm 15,2% so với năm trước.

3.2. Chính sách tài khóa và tiền tệ

Chính sách tài khoá năm 2016 được điều hành chặt chẽ, linh hoạt tập trung thực hiện hỗ trợ và thúc đẩy phát triển sản xuất, ổn định và đảm bảo an sinh xã hội; chú trọng công tác huy động nguồn lực cho đầu tư phát triển; tăng cường công tác quản lý và điều hành thu và chi NSNN. Đến ngày 31/12/2016, thu cân đối NSNN đạt khoảng 1.094 nghìn tỷ đồng (vượt 79,6 nghìn tỷ đồng so với dự toán, tương đương 7,8%; và tăng thêm 55 nghìn tỷ đồng so báo cáo Quốc hội), trong đó, thu NSĐP đạt 118,6% dự toán, thu NSTW cơ bản đạt dự toán; chi NSNN đạt khoảng 94,6% dự toán. Ước bội chi NSNN đảm bảo mức Quốc hội quyết định là 4,95% GDP (so với GDP kế hoạch)[25].

Chính sách tiền tệ năm 2016 được điều hành theo hướng nới lỏng thận trọng nhằm hỗ trợ tăng trưởng kinh tế và kiểm soát lạm phát. Lãi suất tái chiết khấu và lãi suất tái cấp vốn được NHNN duy trì lần lượt ở các mức là 4,5% và 6,5% kể từ tháng 3/2014. Theo đó, tổng phương tiện thanh toán và tăng trưởng huy động đã lần lượt tăng 17,88% và 18,38% (tính đến 30/12/2016). Tăng trưởng tín dụng ở mức 18,71% so với cuối năm 2015, đạt mục tiêu tăng trưởng 18-20% của năm 2016. Về cơ cấu, tín dụng vẫn đang hướng mạnh vào sản xuất – kinh doanh, đặc biệt là nông nghiệp, nông thôn, cùng các lĩnh vực ưu tiên của nền kinh tế[26]. 

Bảng 3.8. Các chỉ tiêu chính sách tiền tệ trong năm 2016

Đơn vị: % tăng so với năm trước


T1

T2

T3

T4

T5

T6

T7

T8

T9

T10

T11

T12

1.  Tổng phương tiện TT

1,47

1,98

4,13

4,54

6,75

8,07

9,45

10,50

11,76

13,51

14,92

16,47

2.  Tăng trưởng tín dụng

-0,02

0,65

3,04

3,69

5,48

8,16

8,54

9,64

11,74

11,81

15,8

16,46

3. Tăng trưởng huy động

N/A

0,34

2,26

4,50

7,01

8,23

9,94

11,00

12,02

13,96

15,28

16,88

4.  Lãi suất chính sách

– Lãi suất cơ bản

9

9

9

9

9

9

9

9

9

9

9

9

– Lãi suất tái cấp vốn

6,5

6,5

6,5

6,5

6,5

6,5

6,5

6,5

6,5

6,5

6,5

6,5

– Lãi suất tái chiết khấu

4,5

4,5

4,5

4,5

4,5

4,5

4,5

4,5

4,5

4,5

4,5

4,5

Nguồn: Ngân hàng Nhà nước

Chú thích: Các chỉ tiêu tăng trưởng tính đến ngày 20/12/2016; Các mức lãi suất chủ đạo tính đến 25/12/2016

3.3. Triển vọng kinh tế năm 2017

Theo Nghị quyết số 23/2016/QH14, Quốc hội đưa ra mục tiêu tổng quát năm 2017 là đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô, tạo chuyển biến rõ rệt trong thực hiện 3 đột phá chiến lược, tái cơ cấu gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng; tăng cường sức cạnh tranh của nền kinh tế và khuyến khích khởi nghiệp, phát triển doanh nghiệp, nâng cao tính tự chủ nền kinh tế. Trong đó mục tiêu cụ thể là độ tăng GDP năm 2017 cần đạt khoảng 6,7%; xuất khẩu tăng 6-7%; nhập siêu khoảng 3,5%; lạm phát 4%; tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội bằng 31,5% GDP.

Tuy nhiên trong năm 2017, bên cạn những yếu tố tích cực hỗ trợ cho tăng trưởng, kinh tế Việt Nam sẽ vẫn phải đối mặt với những thách thức đáng kể khiến việc thực hiện mục tiêu quốc hội đặt ra đòi hỏi có sự nỗ lực lớn của toàn bộ nền kinh tế, của tất cả các bộ, ngành.

3.3.1. Tăng trưởng kinh tế

Việt Nam vẫn sẽ phải đối mặt với nhiều thách thức ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế trong năm 2017 như: (i) tình hình kinh tế thế giới (tăng trưởng kinh tế toàn cầu chậm phục hồi, thương mại tăng chậm, bất ổn địa chính trị tại nhiều nơi…[27]) dự báo sẽ tác động đến đầu tư và xuất nhập khẩu của Việt Nam; (ii) biến đổi khí hậu tiếp tục ảnh hưởng đến sản xuất của nền kinh tế; (iii) không gian can thiệp của các chính sách tài khóa và tiền tệ hiện đang bị hạn chế bởi vấn đề thâm hụt ngân sách, nợ công và nợ xấu; (iv) các vấn đề quyết định chất lượng tăng trưởng như khả năng cạnh tranh, hiệu quả huy động và sử dụng các nguồn lực, năng suất lao động chưa thể cải thiện ngay trong ngắn hạn.

Mặc dù vậy, cũng có nhiều yếu tố thúc đẩy tăng trưởng đó là: (i) ổn định kinh tế vĩ mô được duy trì; (ii) môi trường đầu tư – kinh doanh tiếp tục được cải thiện; (iii) triển vọng đến từ các hiệp định thương mại tự do mà Việt Nam đã và sẽ ký kết; (iv) kinh tế toàn cầu cũng được dự báo tăng trưởng cao hơn so với năm 2016 cùng với sự phục hồi của cầu thế giới. Những yếu tố này sẽ giúp thúc đẩy sản xuất, thu hút đầu tư và tăng cường xuất khẩu, đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế. Bên cạnh đó, xét trong trung và dài hạn, những nỗ lực cải cách như đẩy mạnh tái cơ cấu nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, tập trung nguồn lực thực hiện các đột phá chiến lược và cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh… sẽ góp phần nâng cao chất lượng tăng trưởng, sức cạnh tranh của nền kinh tế, qua đó đem lại tốc độ tăng trưởng cao và bền vững cho Việt Nam.  

Mục tiêu về tăng trưởng GDP của Việt Nam năm 2017 là 6,7%. Mặc dù mức này chỉ tương đương với mục tiêu đề ra cho năm 2016 nhưng vẫn cao hơn so với dự báo của một số tổ chức quốc tế[28]. Với những yếu tố tích cực và tiêu cực ảnh hưởng đến tăng trưởng của Việt Nam như trên đã chỉ ra, để đạt được mục tiêu 6,7% thì cần phải đẩy mạnh triển khai thực hiện các giải pháp nhằm khuyến khích phát triển sản xuất, kinh doanh và đẩy mạnh xuất khẩu ngay từ những tháng đầu năm.

Bảng 3.9. Dự báo kinh tế Việt Nam năm 2017 của một số tổ chức quốc tế

 

ADB

(ADOS 12/2016)

ANZ (11/2016)

IMF

(WEO 10/2016)

WB (10/2016)

Mục tiêu theo Nghị quyết số 23/2016/QH14

Tăng trưởng

6,3%

6,4%

6,2%

6,3%

6,7%

Lạm phát

5%

3,2%

3,8%

4,5%

4%

Nguồn: Tổng hợp

3.3.2. Lạm phát

Lạm phát năm 2017 chịu nhiều áp lực tăng. Điều này một phần xuất phát từ điều kiện khí hậu không thuận lợi sẽ đẩy giá lương thực tăng. Đồng thời, giá dịch vụ, y tế, giáo dục tiếp tục tăng theo lộ trình là một trong những yếu tố chính gây áp lực lên mặt bằng giá trong nước. Bên cạnh đó, nhiều khả năng giá xăng dầu sẽ hồi phục và cao hơn so với năm 2016. Tuy nhiên, công tác điều hành giá năm 2017 được định hướng thực hiện một cách chặt chẽ và phối hợp bài bản giữa các Bộ, ngành, địa phương ngay từ đầu năm, bám sát diễn biến giá xăng dầu thế giới, tính toán hợp lý thời điểm điều chỉnh giá các mặt hàng như điện, dịch vụ y tế, giáo dục… để hạn chế sức ép lên giá cả. Đồng thời, định hướng chính sách tài khóa vẫn được điều hành chặt chẽ, hỗ trợ cho sản xuất; chính sách tiền tệ được điều hành theo hướng ổn định mặt bằng lãi suất, linh hoạt tỷ giá. Những nỗ lực này sẽ giúp kiểm soát lạm phát, dự báo lạm phát năm 2017 khoảng 4 – 5%.

3.3.3. Xuất nhập khẩu

Tăng trưởng kinh tế thế giới phục hồi chậm, kinh tế EU còn nhiều bất ổn, kinh tế Nhật Bản vẫn trong tình trạng trì trệ, trong khi đó kinh tế các nước đang phát triển (Nga, Brazil… ) gặp nhiều khó khăn, kinh tế Trung Quốc có xu thế chững lại, sẽ làm giảm nhu cầu hàng hóa trên thế giới, ảnh hưởng tiêu cực tới xuất khẩu của các quốc gia, trong đó có Việt Nam. Mặc dù vậy, sự phục hồi của giá dầu và giá hàng hóa thế giới thời gian tới sẽ hỗ trợ cho xuất khẩu của Việt Nam. Bên cạnh đó, xuất khẩu của Việt Nam đang có xu hướng tăng tốc từ những tháng cuối năm 2016 nhờ xuất khẩu các mặt hàng chủ lực như điện tử, điện thoại được cải thiện. Nhờ vậy, triển vọng về xuất khẩu của Việt Nam là tương đối tích cực trong ngắn hạn nhưng cũng cần lưu ý trong trung hạn, đẩy mạnh tự do thương mại có thể sẽ trở nên khó khăn hơn do tình trạng bảo hộ mậu dịch có xu hướng quay trở lại ở nhiều quốc gia.

Nhập khẩu của Việt Nam hiện nay chủ yếu phục vụ sản xuất với trên 90% kim ngạch nhập khẩu là nhập khẩu máy móc thiết bị, phụ tùng và nguyên, nhiên vật liệu. Trong khi đó, tăng trưởng và sản xuất của nền kinh tế được dự báo tích cực hơn nhờ sự đổi mới trong quản lý, điều hành nền kinh tế; sự cải thiện mạnh về môi trường kinh doanh; tác động tích cực của quá trình tái cơ cấu nền kinh tế, từ đó làm tăng nhu cầu tăng trưởng nhập khẩu. Dự báo tình hình nhập khẩu trong năm 2017 sẽ tăng trưởng cao hơn so với năm 2016. Nhập khẩu các mặt hàng máy móc thiết bị phụ tùng, phương tiện vận tải sẽ phục hồi, nhập khẩu linh kiện điện thoại, điện tử tiếp tục tăng cao.

————————–TÀI LIỆU THAM KHẢO——————————–

  1. Tổng cục Thống kê (2016), Tình hình kinh tế – xã hội năm 2016.
  2. Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia (2016), Tình hình kinh tế năm 2016 và dự báo năm 2017.
  3. ADB (2016), ASEAN Development Outlook Supplement: ASIA’s Economies Steady Despite Global Uncertainty, (December, 2016).
  4. ANZ (2016), ANZ Asia Macro Strategy Weekly: How Far Will the Trump Trade go?, (November, 2016).
  5. IMF (2016), World Economic Outlook: Subdued Demand – Symptoms and Remedies, (October, 2016).
  6. http://www.nhandan.com.vn/kinhte/item/31743702-muc-tieu-tang-truong-tin-dung-nam-2017-dat-18.html.

[1]Mức tăng so với năm trước của khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản một số năm: Năm 2011 tăng 4,23%; năm 2012 tăng 2,92%; năm 2013 tăng 2,63%; năm 2014 tăng 3,44%; năm 2015 tăng 2,41%.

[2] Theo tính toán từ số liệu của TCTK, tỷ trọng lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc trong ngành nông nghiệp – lâm nghiệp – thủy sản chiếm khoảng 46,6% trong giai đoạn 2011-2015

[3] Năm 2016, số người có việc làm trong quý I ước tính là 53,3 triệu người (tăng 861,8 nghìn người so với cùng kỳ năm trước); quý II là 53,2 triệu người (tăng 708,7 nghìn người); quý III là 53,3 triệu người, (tăng 104,6 nghìn người); quý IV là 53,4 triệu người (giảm 96,2 nghìn người)

[4] Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên năm 2016 ở khu vực thành thị là 11,30%; khu vực nông thôn là 5,74%

[5] Trong đó, kinh doanh thương nghiệp 2.676,5 nghìn tỷ đồng, chiếm 75,9% tổng mức, tăng 10,2% so với cùng kỳ năm trước; khách sạn nhà hàng đạt 413,4 nghìn tỷ đồng chiếm 11,7% và tăng 10,7%; du lịch đạt 34,1 nghìn tỷ đồng, chiếm 1% và tăng 12%; dịch vụ khác đạt 403,4 nghìn tỷ đồng, chiếm 11,4% và tăng 9,3%.

[6] Trong đó, vốn đăng ký mới đạt 15.182,3 triệu USD (giảm 2,5% so với cùng kỳ năm 2015); vốn tăng thêm đạt 5.765,1 triệu USD (giảm 19,7%)

[7] Vốn FDI đăng ký giảm một phần là do Mỹ có thể sẽ rút khỏi TPP, một phần là do việc thu hút đầu tư nước ngoài của Việt Nam những năm gần đây cũng có xu hướng ưu tiên chất lượng hơn (nhất là sau sự cố về môi trường biển miền Trung giữa năm 2016, các địa phương cũng thận trọng hơn trong việc xem xét các dự án đầu tư).

[8] Xuất khẩu tháng 12/2016 tăng 19,8%, tháng 11 tăng 12,4%, tháng 10/2016 tăng 7,6% so với cùng kỳ 2015.

[9] Chỉ số giá hàng hóa xuất khẩu 3 quý đầu năm 2016 giảm 1,7% so với cùng kỳ 2015.

[10] Chỉ số giá hàng hóa nhập khẩu 3 quý đầu năm 2016 giảm 5,8% so với cùng kỳ 2015.

[11] Nhập khẩu kì 12/2016 tăng 16,7%, tháng 11/2016 tăng 16,9%, tháng 10/2016 tăng 14,4% so với cùng kỳ năm trước.

[12] NHTMCP Bản Việt, NHTMCP Việt Á, NHTMCP Phương Đông, NHTMCP Quốc dân

[13] VPBank, Vietcombank

[14] Trong tháng 5, một số ngân hàng lớn đã bắt đầu giảm lãi suất cho vay từ 0,5 – 1%, NHTM cổ phần nhỏ cũng giảm lãi suất cho vay ngắn hạn xuống 0,5%/năm đối với các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực ưu tiên và áp dụng lãi suất ưu đãi tối đa 10%/năm đối với các khoản vay trung và dài hạn thuộc các lĩnh vực này

[15] Với biên độ +/-3% tỷ giá trần các ngân hàng thương mại được phép giao dịch có thể lên 22.824 VND/USD và tỷ giá sàn là 22.152 VND/USD

[16] Giá vàng trong nước biến động mạnh nhất trong tháng 7/2016, do tác động của sự kiện Brexit khiến giá vàng thế giới tăng mạnh, đã tạo động lực kéo giá vàng trong nước lên sát ngưỡng 40 triệu đồng/lượng (ngày 6/7). Tuy nhiên, ngay sau khi những tác động ban đầu của sự kiện Brexit kết thúc, giá vàng trong nước đã giảm xuống dao động quanh ngưỡng 37 triệu đồng/lượng, và quay trở lại đà tăng trong hai tháng cuối năm.

[17] 6 tháng đầu năm, 90% DNNY báo cáo lãi, theo số liệu của SSI Retail Reseach cho thấy trong nhóm VN30 có 29 doanh nghiệp có lãi chỉ có mã PPC báo lỗ do lỗ tỷ giá, trong khi đó HNX30 thì có 28 doanh nghiệp có lãi và 2 doanh nghiệp thuộc nhóm dầu khí PVB và PVC lỗ. Còn trong quý III, cũng có nhiều doanh nghiệp kinh doanh khả quan như HAX, PVX, HAT, VSN,…

[18] Tổng mức vốn hóa của các doanh nghiệp này ước tính khoảng 360 nghìn tỷ đồng, tương đương 20% vốn hóa TTCK

[19] Nghị định 88/2016/NĐ-CP ngày 1/7/2016 về chương trình hưu trí bổ sung tự nguyện; tạo hành lang pháp lý cho hoạt động đầu tư gián tiếp nước ngoài của tổ chức kinh doanh chứng khoán (Thông tư 105/2016/TT-BTC), tăng thanh khoản thị trường, giảm cung cầu ảo, giảm khó khăn khi tính toán giá đóng cửa (Quyết định số 529/QĐ-SGDHN ngày 25/8/2016 của SGDCK Hà Nội và quyết định số 342/QĐ-SGDHCM ngày 22/8/2016 của SGDCK TP. Hồ Chí Minh quy định về biên độ giao động giá, hủy lệnh và sửa lệnh trong phiên khớp lệnh định kỳ xác định giá đóng cửa ATC); tạo tiền đề cho thị trường chứng khoán phái sinh hoạt động (Thông tư số 11/2016/TT-BTC ngày 19/01/2016 của Bộ Tài chính hướng dẫn một số điều của Nghị định số 42/2015/NĐ-CP ngày 05/5/2015 của Chính phủ về chứng khoán phái sinh và thị trường chứng khoán phái sinh)

[20] CTCK Ngân hàng Công thương Việt Nam (500 tỷ đồng), CTCP Transimex-Saigon (TMS) (500 tỷ đồng), CTCP Chứng khoán Sài Gòn – Hà Nội (300 tỷ đồng), CPCP Chứng khoán Rồng Việt (300 tỷ đồng), VNDirect (600),CTCP đầu tư và sản xuất Thống Nhất (800 tỷ đồng),….

[21] Theo báo cáo của Bộ Kế hoạch – Đầu tư, trong 11 tháng của năm 2016, vốn FDI vào lĩnh vực bất động sản tiếp tục đứng ở vị trí thứ hai, với 49 dự án cấp mới, tổng vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm là 740,93 triệu USD (chiếm 4,1% tổng vốn đăng ký). Mặc dù giá trị này chưa bằng một nửa so với mức 2,39 tỷ USD của năm 2015 nhưng chủ yếu là do vì năm nay không có nhiều dự án quy mô lớn như năm trước, không phải vì Việt Nam trở nên kém hấp dẫn hơn so với các địa điểm đầu tư khác trong khu vực.

[22] Theo báo cáo của Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia, tính đến hết tháng 9/2016 tín dụng đầu tư và kinh doanh bất động sản đã tăng 5,3% so với cuối năm 2015, như vậy đã có khoảng 379.080 tỷ đồng đầu tư vào BĐS, chiếm 8,5% tổng tín dụng. Đây là kết quả của việc các ngân hàng thương mại từng bước đẩy mạnh vốn cho vay tiêu dùng cá nhân (tính đến hết tháng 9/2016 tín dụng tiêu dùng tăng 31,2% so với cuối năm 2015), trong khi chủ yếu sử dụng cho mục đích sửa chữa và mua nhà, đất để ở (chiếm khoảng 49,7%).

[23] Sau chỉ đạo của Thống đốc NHNN về cân đối nguồn vốn, tiết kiệm chi phí và giảm lãi suất cho vay, nhiều ngân hàng đã hạ lãi suất cho vay từ 1 đến 2%. Lãi suất đang ở mức thấp đã tạo thuận lợi cho việc tăng cầu trên thị trường bất động sản.

[24] Nếu tính cả 1.629,8 nghìn tỷ đồng vốn đăng ký tăng thêm của các doanh nghiệp đang hoạt động thì tổng số vốn đăng ký và bổ sung thêm vào nền kinh tế trong năm 2016 là 2.520,9 nghìn tỷ đồng

[25] Bội chi so với GDP thực tế thực hiện thì ở mức 5,64%

[26] Dư nợ tín dụng đối với nông – lâm nghiệp – thủy sản đạt hơn 522,6 nghìn tỷ đồng, tăng gần 12,3% so với cuối năm 2015; công nghiệp – xây dựng đạt hơn 1,65 triệu tỷ đồng, tăng 7,34%; hoạt động thương mại, vận tải và viễn thông đạt gần 1,1 triệu tỷ đồng, tăng 12,25%; các hoạt động khác đạt hơn 1,92 triệu tỷ đồng, tăng 15,07%. Tín dụng đối với vận tải và viễn thông tăng mạnh tới 21,71%. Tín dụng đốivới lĩnh vực xây dựng tăng thấp nhất khi đạt 6,19%.

[27] Kinh tế thế giới và khu vực dự báo tiếp tục tăng trưởng ở mức thấp trong những năm tới; giá hàng hóa, nguyên liệu trên thị trường thế giới tiếp tục có nhiều biến động và bị chi phối bởi những yếu tố ngoài kinh tế (như tranh giành ảnh hưởng, tranh chấp chủ quyền biển, đảo, tài nguyên,…). Việc Anh rời khỏi Liên minh châu Âu (EU); những chính sách của tân Tổng thống Hoa Kỳ có thể tác động đến kinh tế của Anh, Mỹ, kinh tế các nước trong khối EU và qua đó ảnh hưởng đến kinh tế toàn cầu, chủ yếu thông qua kênh thương mại (xu hướng bảo hộ thương mại gia tăng) và đầu tư, trong đó có Việt Nam

[28] Tăng trưởng GDP của Việt Nam năm 2017 theo dự báo của IMF (tháng 10/2016) là 6,2%, WB (tháng 10/2016) và ADB (tháng 9/2016) đều là 6,3%, ANZ (tháng 11/2016) dự báo 6,4%.

Bản in

 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *