Chuyên đề 3: TÀI CHÍNH NGÂN SÁCH GIAI ĐOẠN 2011-2015 VÀ ĐỊNH HƯỚNG GIAI ĐOẠN 2016-2020

Chuyên đề 3: TÀI CHÍNH NGÂN SÁCH GIAI ĐOẠN 2011-2015
VÀ ĐỊNH HƯỚNG GIAI ĐOẠN 2016-2020

TS. Vũ Nhữ Thăng

Viện trưởng Viện Chiến lược và chính sách tài chính

3.1. Một số nội dung chính về tài chính ngân sách giai đoạn 2011-2015

Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2011-2015 được thực hiện trong bối cảnh nền kinh tế còn nhiều khó khăn do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 và khủng hoảng nợ công ở châu Âu: tăng trưởng kinh tế chậm lại, từ 6,32%/năm giai đoạn 2006-2010 xuống còn 5,78%/năm giai đoạn 2011-2015, trong đó tốc độ tăng trưởng bình quân khu vực nông, lâm, thủy sản giảm từ 3,53%/năm xuống 3,12%/năm, khu vực công nghiệp, xây dựng từ 6,39%/năm xuống 6,22%/năm, khu vực dịch vụ từ 7,64%/năm xuống 6,5%/năm; tốc độ tăng của kim ngạch xuất khẩu giảm từ 18,27%/năm bình quân giai đoạn 2006-2010 xuống 17,94%/năm giai đoạn 2011-2015, tốc độ tăng của kim ngạch nhập khẩu cũng giảm từ 19,7%/năm xuống 15%/năm… Bên cạnh đó, từ nửa cuối năm 2014, giá dầu thế giới giảm mạnh đã đặt ra những khó khăn cho ngành tài chính trong việc đạt được các mục tiêu tài chính – ngân sách đặt ra trong Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2011-2015[1]. Chính sách tài khóa giai đoạn 2011-2015 tập trung vào việc giảm tỷ lệ động viên vào NSNN nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, hỗ trợ thị trường; bên cạnh đó tăng chi cho con người, chi đảm bảo an sinh xã hội để khắc phục những ảnh hưởng tiêu cực từ suy thoái kinh tế toàn cầu.

Diễn biến điều hành chính sách tài chính ngân sách giai đoạn 2011-2015 có thể tóm tắt như sau:

Về thu NSNN

Trong 5 năm qua, để thúc đẩy tăng trưởng, tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp, hỗ trợ thị trường, Quốc hội, Chính phủ đã nhiều lần thực hiện điều chỉnh chính sách thuế theo hướng miễn, giảm, hoãn, giãn tiến độ nộp thuế và các khoản thu NSNN đối với các tổ chức, cá nhân và doanh nghiệp; đồng thời đẩy nhanh lộ trình giảm mức điều tiết thu đối với một số sắc thuế lớn như thuế TNDN, TNCN, GTGT[2]… Theo đó, đã giảm mức thuế suất thuế TNDN phổ thông từ 25% xuống 22% áp dụng từ ngày 01/01/2014[3], bổ sung ưu đãi thuế đối với đầu tư mở rộng thuộc lĩnh vực, ngành nghề, địa bàn ưu đãi; nâng mức giảm trừ gia cảnh đối với cá nhân người nộp thuế và người phụ thuộc từ ngày 01/7/2013[4]; bổ sung nhiều nhóm hàng hóa, dịch vụ không chịu thuế GTGT từ ngày 01/01/2014 và giảm mức thuế suất đối với nhóm hàng hóa, dịch vụ liên quan đến nhà ở xã hội và nhà ở thương mại giá rẻ từ ngày 01/7/2013[5]; miễn, giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp, thủy lợi phí… Đồng thời, đã thực hiện gia hạn thời gian nộp thuế TNDN, thuế GTGT đối với một số doanh nghiệp[6]; giảm 30% số thuế TNDN phải nộp năm 2012 đối với một số doanh nghiệp[7]; miễn thuế khoán (thuế GTGT, thuế TNCN) và thuế TNDN năm 2012 đối với một số đối tượng[8]; miễn thuế TNCN từ ngày 01/7/2012 đến hết ngày 31/12/2012 đối với một số đối tượng[9]; giảm, gia hạn nộp tiền sử dụng đất, tiền thuê đất; miễn thuế môn bài năm 2012 đối với hộ đánh bắt hải sản và hộ sản xuất muối… Gần đây, để tiếp tục hỗ trợ doanh nghiệp, cá nhân và đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực thuế, Quốc hội đã ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật về thuế, trong đó mở rộng ưu đãi thuế TNDN, miễn/điều chỉnh phương thức xác định một số khoản thuế TNCN, thuế GTGT… theo hướng tạo thuận lợi cho người nộp thuế. Ước tính tổng số thuế hỗ trợ cá nhân, doanh nghiệp năm 2015 khoảng 3.900 – 4.000 tỷ đồng và mỗi năm tăng chi khoảng 1.300 tỷ đồng từ Quỹ hoàn thuế để thực hiện hoàn thuế GTGT. Dự kiến cả giai đoạn 2011-2015, tổng các khoản giảm thu ngân sách do các chính sách miễn, giảm, gia hạn thuế khoảng 85.000 tỷ đồng. Xét về bản chất, đây chính là việc bổ sung vốn (đối với trường hợp miễn, giảm thuế) và cho các doanh nghiệp sử dụng vốn trong thời gian nhất định không tính lãi (đối với trường hợp gia hạn thời hạn nộp thuế)[10], qua đó giảm bớt một phần khó khăn về vốn và tạo điều kiện giúp các doanh nghiệp từng bước phục hồi và phát triển sản xuất – kinh doanh.

Kết quả thực hiện các chính sách trên đã làm giảm tỷ lệ động viên vào NSNN so với GDP từ 26% bình quân giai đoạn 2006-2010 xuống còn 23% bình quân giai đoạn 2011-2015, trong đó tỷ lệ huy động từ thuế, phí đạt khoảng 21% GDP, thấp hơn giai đoạn 2006-2010 (24,8% GDP) và thấp hơn so với mục tiêu đặt ra (22%-23% GDP). Điều này lý giải cho việc chính sách tài khóa đã chuyển từ trực tiếp sử dụng NSNN để đầu tư vào nền kinh tế sang gián tiếp thúc đẩy đầu tư của khu vực doanh nghiệp thông qua các biện pháp giảm tỷ lệ động viên vào ngân sách, qua đó tăng tiết kiệm và đầu tư của khu vực tư nhân.

Cơ cấu thu ngân sách đã có nhiều chuyển biến tích cực theo hướng bền vững hơn. Tỷ trọng thu nội địa (không kể thu từ dầu thô) tăng từ 58% giai đoạn 2006-2010 lên 67% giai đoạn 2011-2015, thu từ dầu thô giảm từ 20% xuống còn 14%, thu cân đối từ hoạt động xuất nhập khẩu giảm từ 20% xuống 18% trong cùng thời kỳ. Trong cơ cấu thu nội địa thì nguồn thu từ sản xuất kinh doanh tăng trưởng ở mức cao và trở thành nguồn thu quan trọng của NSNN, đặc biệt tỷ trọng thu từ khu vực công thương nghiệp và dịch vụ ngoài quốc doanh trong tổng thu nội địa tăng từ 17,3% giai đoạn 2006-2010 lên 19,4% giai đoạn 2011-2015; tỷ trọng thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) tăng từ 17,8% lên khoảng 20% trong cùng thời kỳ. Tuy nhiên, nhìn vào cơ cấu thu ngân sách có thể thấy rằng, mặc dù các khoản thu dựa vào tài nguyên không tái tạo và mang tính chất một lần có xu hướng giảm mạnh (thu từ dầu thô giảm từ 20% xuống 14%; thu từ tiền thuê đất, tiền sử dụng đất, thu bán nhà thuộc sở hữu nhà nước nhà đất giảm từ 15% xuống 10% tổng thu ngân sách) nhưng các khoản thu này vẫn chiếm tỷ trọng tương đối lớn trong tổng thu NSNN (tổng số thu từ dầu thô và thu từ đất chiếm 24% tổng thu ngân sách).

Về công tác thu NSNN, giai đoạn 2011-2015 đã tập trung vào việc tăng cường công tác quản lý thu NSNN, chống thất thu, đẩy mạnh công tác đôn đốc, thu hồi các khoản nợ đọng thuế, công tác thanh tra, kiểm tra, chống chuyển giá, hoàn thuế GTGT. Đồng thời, đẩy mạnh công tác cải cách thủ tục hành chính, đơn giản hóa thủ tục hành chính, tăng cường ứng dụng CNTT trong quản lý hành chính thuế, phấn đấu giảm số giờ nộp thuế xuống mức trung bình của các nước ASEAN-6.

Về chi NSNN

Giai đoạn 2011-2015, chính sách chi NSNN được thực hiện theo hướng chặt chẽ, triệt để tiết kiệm, tăng chi cho con người, chi đảm bảo an sinh xã hội. Định hướng này được thể hiện trong các nghị quyết về những giải pháp chủ yếu chỉ đạo điều hành thực hiện kế hoạchphát triển kinh tế – xã hội và dự toán NSNN hàng năm của Chính phủ. Đồng thời, thực hiện chủ trương tái cơ cấu đầu tư mà trọng tâm là đầu tư công, chi đầu tư phát triển từ nguồn NSNN cũng được kiểm soát chặt chẽ. Kết quả, tổng chi NSNN giai đoạn 2011-2015 đạt mức bình quân 28,4% GDP, đảm bảo các chính sách chi theo các nghị quyết của Bộ Chính trị, Quốc hội, cụ thể là ưu tiên bố trí tăng chi cho quốc phòng, an ninh để đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới; chi cho giáo dục, đào tạo, khoa học công nghệ và môi trường đạt tỷ lệ theo các nghị quyết của Đảng và Quốc hội. Theo đó, cơ cấu chi ngân sách thay đổi theo hướng tỷ trọng chi thường xuyên tăng nhanh, tỷ trọng chi trả nợ sau khi giảm vào năm 2012-2013 đang có xu hướng tăng trở lại, tỷ trọng chi đầu tư phát triển giảm. Cụ thể:

– Chi thường xuyên giai đoạn 2011-2015 bình quân ở mức 64,8% tổng chi NSNN, tăng xấp xỉ 10% so với giai đoạn 2006-2010. Nhìn chung, chi thường xuyên từ NSNN về cơ bản đảm bảo đáp ứng được các nhiệm vụ đề ra cũng như các nhiệm vụ đột xuất, cấp bách phát sinh. Việc tiếp tục thực hiện điều chỉnh chính sách tiền lương, chế độ phụ cấp công vụ và ban hành nhiều chính sách an sinh xã hội đã tác động đến cơ cấu chi NSNN giai đoạn 2011-2015, đưa tỷ trọng chi cho con người trong tổng chi thường xuyên tăng từ mức bình quân 62,2% giai đoạn 2006-2010 lên mức bình quân 68,2% giai đoạn 2011-2015. Đây cũng chính là yếu tố tác động chính làm tăng tỷ trọng chi thường xuyên trong tổng chi NSNN.

Giai đoạn 2011-2015, Nhà nước đã 03 lần thực hiện điều chỉnh mức lương cơ sở[11]và thực hiện chế độ phụ cấp công vụ đối với cán bộ, công chức và lực lượng vũ trang[12] với tổng kinh phí khoảng 463.000 tỷ đồng. Điều này làm tăng quy mô quỹ tiền lương trong tổng chi NSNN từ 30,3% giai đoạn 2006-2010 lên 34,6% giai đoạn 2011-2015. Trong giai đoạn này, chi NSNN cho an sinh xã hội tiếp tục được ưu tiên với việc điều chỉnh tăng mức hỗ trợ hoặc ban hành mới một số chính sách như chính sách miễn, giảm học phí; chính sách trợ cấp một lần đối với người tham gia kháng chiến, bảo vệ tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tế sau ngày 30/4/1975; nâng mức đóng BHXH theo Luật BHXH; mở rộng đối tượng được Nhà nước hỗ trợ tham gia BHYT theo Luật BHYT; mở rộng đối tượng và nâng mức hỗ trợ đối với đối tượng bảo trợ xã hội… Kết quả là, quy mô chi NSNN cho an sinh xã hội giai đoạn 2011-2015 tăng bình quân khoảng 18%/năm, cao hơn tốc độ tăng thu NSNN (bình quân khoảng 9%-10%/năm) và tốc độ tăng chi NSNN (bình quân khoảng 12%/năm).

Ngoài ra, giai đoạn vừa qua Nhà nước cũng thực hiện nhiều chính sách hỗ trợ cho sản xuất nông nghiệp như hỗ trợ người sản xuất lúa (riêng trong 3 năm 2011-2013 hỗ trợ trên 11.000 tỷ đồng); cấp bù kinh phí, miễn thủy lợi phí (trên 13.000 tỷ đồng); hỗ trợ kinh phí giảm tổn thất trong nông nghiệp (trên 1.200 tỷ đồng)… Nhờ đó đã góp phần tháo gỡ khó khăn cho bà con nông dân, thúc đẩy phát triển nông nghiệp, nông thôn theo các định hướng của Đảng và Nhà nước.

– Chi đầu tư phát triển: Giai đoạn 2011-2015, do nền kinh tế trong nước và trên thế giới gặp nhiều khó khăn đã ảnh hưởng đến thu NSNN. Trong khi đó, chi thường xuyên tăng nhanh đồng thời với nhu cầu chi trả nợ cũng có xu hướng tăng, đồng thời với chủ trương tái cơ cấu đầu tư công nên tỷ trọng chi đầu tư phát triển trong tổng chi NSNN giảm từ mức bình quân 28,6% giai đoạn 2006-2010 xuống còn 21,7% giai đoạn 2011-2015.

– Chi trả nợ và viện trợ: Chi trả nợ sau khi giảm từ bình quân 14,1% tổng chi NSNN giai đoạn 2006-2010 xuống còn trên 10% năm 2012-2013 thì bắt đầu tăng lên 11,2% năm 2014 và dự kiến 13,2% năm 2015. Trong những năm qua, do nền kinh tế gặp nhiều khó khăn ảnh hưởng đến thu NSNN dẫn đến bội chi NSNN ở mức cao, khả năng huy động các nguồn vốn vay ưu đãi giảm dần do Việt Nam đã trở thành nước có thu nhập trung bình thấp nên Nhà nước đã phải tăng phát hành trái phiếu Chính phủ cho đầu tư phát triển với các kỳ hạn ngắn và lãi suất cao. Điều này làm tăng áp lực trả nợ trong ngắn hạn và cùng với việc nhiều khoản vay ngoài nước sẽ đến kỳ trả nợ trong năm 2015-2016, áp lực trả nợ giai đoạn 2015-2016 sẽ rất lớn.

Về cân đối NSNN và nợ công

Trong bối cảnh nền kinh tế gặp nhiều khó khăn, tăng trưởng thấp hơn dự kiến, ảnh hưởng đến thu NSNN; tích lũy của nền kinh tế còn thấp, khả năng huy động đầu tư từ các nguồn vốn ngoài NSNN còn hạn chế nên những năm qua Chính phủ đã chủ động điều hành bội chi NSNN theo hướng linh hoạt, chấp nhận bội chi cao ở một số thời điểm để có thêm nguồn lực đầu tư cho phát triển. Mức bội chi tăng từ 4,4% GDP năm 2011 lên 6,6% GDP năm 2013. Năm 2015, căn cứ tình hình kinh tế vĩ mô có dấu hiệu khả quan, Quốc hội đã thông qua dự toán ngân sách năm 2015 với mức bội chi giảm xuống còn 5% GDP, tuy có cao hơn so với mục tiêu đặt ra trong kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2011-2015 (4,5% GDP) nhưng đã thể hiện xu hướng giảm so với 2 năm trước đó.

Hình 3.1. Tỷ lệ thu – chi NSNN và bội chi NSNN so GDP (%)

Nguồn: Bộ Tài chính

Nguồn thu giảm nhưng nhu cầu chi không ngừng tăng lên khiến thâm hụt ngân sách vẫn tiếp diễn trong thời gian qua dẫn đến nhu cầu vay nợ để bù đắp bội chi ngày càng lớn. Bên cạnh đó, ngoài mục đích bù đắp bội chi, phát hành TPCP còn để đầu tư các công trình giao thông, thủy lợi, y tế, giáo dục…nhưng không đưa vào cân đối ngân sách. Tuy nhiên, các khoản nợ từ phát hành TPCP cho đầu tư này vẫn được tính vào mức dư nợ Chính phủ và vì thế, việc phát hành TPCP tăng nhanh trong giai đoạn 2011-2014 đã tác động đến mức dư nợ Chính phủ và đặt ra vấn đề về an toàn nợ công.

Trong cơ cấu nợ công thì nợ Chính phủ đang chiếm tỷ trọng lớn nhất và có tỷ lệ tương đối cao so với một số nước trong khu vực[13] với tỷ trọng dư nợ Chính phủ trong tổng nợ công giai đoạn 2011-2015 khoảng 78%. Trong những năm gần đây, tỷ lệ nợ công so GDP tăng nhanh, từ 51,7% GDP năm 2010 lên 59,3% GDP năm 2014. Tốc độ tăng nợ công trung bình giai đoạn 2011-2014 là 21%/năm, trong khi tốc độ tăng thu NSNN trung bình cùng kỳ là 9,7%/năm. Với các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô và dự toán NSNN năm 2015 đã được Quốc hội thông qua thì dự kiến nợ công đến cuối năm 2015 khoảng 2.869 nghìn tỷ đồng, bằng 64% GDP; dư nợ Chính phủ khoảng 48,9% GDP và dư nợ nước ngoài của quốc gia khoảng 42,6% GDP. Tuy mức nợ công vẫn trong giới hạn Quốc hội cho phép[14] nhưng là mức tương đối cao so với một số nước đang phát triển và mới nổi[15]. Bên cạnh đó, nghĩa vụ trả nợ Chính phủ hàng năm tăng mạnh trong khi việc sử dụng nguồn vốn vay kém hiệu quả đã và đang đặt ra vấn đề về cân đối nguồn để trả nợ, từ đó ảnh hưởng đến an toàn nợ công và an ninh tài chính quốc gia.

Hình 3.2. Tổng thu – chi NSNN và nợ công so GDP giai đoạn 2010-2015 (%)

3.2. Định hướng tài chính ngân sách giai đoạn 2016-2020

Giai đoạn 2016-2020 NSNN cũng sẽ đối mặt với một số thách thức như tăng trưởng kinh tế còn khó khăn, giá dầu biến động khó lường, các khoản thu có tính chất một lần (như thu tiền sử dụng đất) giảm mạnh, nghĩa vụ trả nợ tăng, cân đối ngân sách khó khăn trong khi áp lực tăng chi ngân sách vẫn có xu hướng tăng, nhất là đối với yêu cầu chi đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, chi cho đảm bảo an sinh xã hội và giảm nghèo…Để giải quyết những tồn tại nêu trên góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ tài chính – ngân sách đề ra trong Chiến lược tài chính đến năm 2020, chính sách tài chính ngân sách giai đoạn 2016-2020 cần tập trung cơ cấu lại NSNN, trong đó chú ý một số vấn đề sau:

Về chính sách thu NSNN

– Huy động từ thuế và phí ở mức hợp lý, kết hợp với điều chỉnh chính sách thu nội địa tăng lên ở mức phù hợp nhằm tạo điều kiện cho doanh nghiệp tăng tích lũy và nâng cao khả năng cạnh tranh, đồng thời bù đắp được số giảm thu từ hoạt động xuất nhập khẩu do tác động từ việc cắt giảm thuế quan theo các cam kết hội nhập quốc tế và giảm thu từ dầu thô. Cụ thể, phấn đấu tỷ lệ huy động vào NSNN bình quân khoảng 20%-21% GDP, trong đó tỷ lệ huy động từ thuế, phí khoảng 19%-20% GDP; xây dựng hệ thống thuế đồng bộ, hiện đại, tăng tỷ trọng thu nội địa lên 80% tổng thu NSNN đến năm 2020.

– Hoàn thiện việc sửa đổi, bổ sung các luật thuế theo lộ trình, trong đó nghiên cứu xây dựng Luật Thuế bất động sản theo hướng đối tượng chịu thuế bao gồm tất cả các loại đất và công trình xây dựng ở mọi nơi, đối với mọi mục đích sử dụng và không có ngoại lệ. Tiếp tục rà soát, sửa đổi, bổ sung chính sách động viên tài chính từ đất đai, đảm bảo thống nhất, phù hợp với nội dung của Luật Đất đai 2013, góp phần hình thành thị trường bất động sản có tổ chức, quản lý hiệu quả.

– Sửa đổi, bổ sung chính sách thu NSNN liên quan đến hoạt động thăm dò, khai thác và sử dụng tài nguyên, điều tiết hợp lý việc khai thác, sử dụng tài nguyên không tái tạo.

– Nghiên cứu sửa đổi thuế GTGT theo hướng thu hẹp hàng hóa, dịch vụ thuộc đối tượng không chịu thuế; giảm bớt nhóm hàng hóa, dịch vụ chịu thuế suất 5%; bổ sung quy định để xác định đúng cơ chế thu đối với một số loại hàng hóa, dịch vụ mới phát sinh theo sự phát triển của kinh tế thị trường; nghiên cứu đến năm 2020 áp dụng cơ bản một mức thuế suất…

Về chính sách chi NSNN

– Tiếp tục thực hiện chính sách tài khóa thắt chặt, tiết kiệm chi tiêu, cơ cấu lại các khoản chi bao gồm cả chi đầu tư và chi thường xuyên; không ban hành các chính sách mới làm tăng chi hoặc giảm thu ngân sách.

– Phân bổ, sử dụng vốn đầu tư đảm bảo tập trung, có hiệu quả, ưu tiên vốn cho đầu tư kết cấu hạ tầng trọng điểm. Đẩy mạnh hình thức hợp tác công – tư và các hình thức đầu tư không sử dụng vốn NSNN để tăng nguồn lực đầu tư toàn xã hội, giảm áp lực bố trí từ NSNN.

– Thực hiện Kế hoạch tài chính – ngân sách trung hạn để phân bổ NSNN theo thứ tự ưu tiên, có tính dự báo được và góp phần thực hiện kỷ luật tài khóa. Thực hiện rà soát tổng thể các chính sách chi để cơ cấu lại và cắt giảm các khoản chi NSNN không hiệu quả. Trong đó, rà soát tổng thể các chính sách an sinh xã hội, các chương trình mục tiêu quốc gia và các chương trình, dự án đang triển khai giai đoạn 2011-2015 để cắt giảm, lồng ghép chính sách, chương trình, áp dụng phù hợp cho giai đoạn 2016-2020.

– Tiếp tục ưu tiên chi cho các lĩnh vực quan trọng song cần rà soát, đánh giá lại các yêu cầu cứng về đảm bảo tỷ lệ chi NSNN tối thiểu cho một số lĩnh vực như giáo dục, đào tạo; khoa học công nghệ; môi trường… để có các điều chỉnh trong trường hợp cần thiết, nhất là khi chuyển sang thực hiện Kế hoạch tài chính – ngân sách trung hạn.

– Tổ chức thực hiện quyết liệt, đồng bộ các cơ chế, chính sách liên quan đến việc cơ cấu lại các đơn vị sự nghiệp công; thực hiện tính đủ giá dịch vụ công theo lộ trình, đảm bảo công khai, minh bạch các yếu tố hình thành giá; chuyển một số loại phí, lệ phí sang giá dịch vụ phù hợp với cơ chế thị trường; chuyển từ cơ chế cấp phát sang đặt hàng và từ cung cấp kinh phí cho các đơn vị cung ứng sang hỗ trợ trực tiếp đối tượng thụ hưởng.

– Đánh giá lại việc quản lý và sử dụng các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách để đảm bảo việc sử dụng các nguồn lực, trong đó có nguồn lực NSNN được sử dụng hiệu quả.

Về quản lý nợ công

– Quản lý chặt chẽ nợ công, đảm bảo trong giới hạn cho phép, thực hiện nguyên tắc nợ công chỉ sử dụng cho đầu tư phát triển, xây dựng các công trình kinh tế xã hội quan trọng, thiết yếu. Quy định việc đánh giá tác động lên nợ công là một yêu cầu bắt buộc khi phê duyệt chủ trương đầu tư bằng nguồn vốn vay của các chương trình, dự án sử dụng vốn vay của Chính phủ, vốn vay được Chính phủ bảo lãnh và vốn vay của chính quyền địa phương.

– Tăng cường kiểm tra, giám sát việc sử dụng vốn vay, bảo đảm hiệu quả đầu tư, chất lượng công trình.

-Cơ cấu lại nợ công theo hướng tăng tỷ trọng vốn vay dài hạn để giảm áp lực trả nợ trong ngắn hạn. Đẩy mạnh triển khai các nghiệp vụ quản lý và xử lý rủi ro đối với danh mục nợ công (bao gồm các loại rủi ro về tỷ giá, lãi suất, thanh khoản, tái cấp vốn và tín dụng). Tăng tính thanh khoản và thúc đẩy phát triển thị trường trái phiếu Chính phủ.

– Quản lý chặt chẽ các khoản vay có bảo lãnh của Chính phủ theo hướng siết chặt điều kiện cấp bảo lãnh, không mở rộng diện, chọn lọc có mục tiêu ưu tiên, tiến tới thu hẹp bảo lãnh Chính phủ và kiểm soát việc bảo đảm trả nợ đối với các khoản vay được Chính phủ bảo lãnh; đối với cho vay lại theo hướng tăng dần tỷ lệ cho vay lại, giảm dần tỷ lệ cấp phát và thu hồi nợ đối với các khoản Chính phủ vay về cho vay lại.

– Tăng cường quản lý nợ nước ngoài của quốc gia, nhất là việc vay ngắn hạn của doanh nghiệp, tổ chức tín dụng để đảm bảo các tiêu chí nợ nước ngoài của quốc gia trong giới hạn cho phép (nợ nước ngoài của quốc gia không quá 50% GDP và nghĩa vụ trả nợ nước ngoài của quốc gia hàng năm so với tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ dưới 25%).

– Rà soát thể chế, xây dựng chính sách, văn bản pháp luật có liên quan đến quản lý nợ công, từ khâu quyết định chủ trương vay, tổ chức huy động vốn vay, sử dụng vốn, thu hồi vốn vay, trả nợ và giám sát tình hình thực hiện, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội bền vững.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Bộ Tài chính, Quyết toán ngân sách các năm. Truy cập từ www.mof.gov.vn
  2. Bộ Tài chính, Báo cáo hội nghị tổng kết ngành các năm.
  3. Chiến lược cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011-2020.
  4. Chính phủ (2014), Tờ trình số 423/TTr-CP ngày 17/10/2014 về dự án “Luật sửa đổi, bổ sung một số điều tại các luật về thuế”, Tài liệu phục vụ kỳ họp thứ 8, Quốc hội Khóa XIII.
  5. Nguyễn Thành Đô (2014), Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ “Xây dựng quy trình kiểm soát và hệ thống cảnh báo rủi ro đối với danh mục nợ công”.
  6. Vũ Nhữ Thăng (2014), “Chính sách tài khóa: Những vấn đề đặt ra trong thời gian tới”, tham luận tại Diễn đàn Kinh tế Mùa xuân, Hạ Long, 2014.
  7. Vũ Nhữ Thăng (2015), “Chính sách tài khóa 2011-2015: Điều chỉnh đòn bẩy tài chính”, bài viết trong cuốn “Tài chính Việt Nam 2014-2015: Ổn định vĩ mô – hội nhập toàn diện”, NXB Tài chính, tháng 3/2015.
  8. Website:http://www.nationaldebtclocks.org/; http://www.gso.gov.vn


[1] Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2011-2015 đã đặt ra một số nhiệm vụ, mục tiêu chủ yếu cho ngành tài chính với các mục tiêu tổng quát là huy động từ thuế và phí vào ngân sách không quá 22%-23% GDP/năm; bội chi NSNN đạt dưới 4,5% vào năm 2015 (tính cả TPCP); nợ công đến năm 2015 không quá 65% GDP, dư nợ của Chính phủ không quá 50% GDP, dư nợ quốc gia không quá 50% GDP

[2]Như Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế TNDN, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế TNCN…; các nghị quyết số 55/2010/QH12, 29/2012/QH13, 13/NQ-CP, 02/NQ-CP, 63/NQ-CP; các quyết định số 21/2011/QĐ-TTg, 54/2011/QĐ-TTg, 04/2012/QĐ-TTg…

[3]Riêng đối với doanh nghiệp có tổng doanh thu năm không quá 20 tỷ đồng được áp dụng mức thuế suất 20% và thu nhập của doanh nghiệp từ thực hiện dự án đầu tư – kinh doanh nhà ở xã hội được áp dụng mức thuế suất 10% từ ngày 01/7/2013.

[4]Mức giảm trừ gia cảnh đối với cá nhân người nộp thuế tăng từ mức 4 triệu đồng lên mức 9 triệu đồng/tháng, đối với người phụ thuộc từ 1,6 triệu đồng lên 3,6 triệu đồng/người/tháng.

[5]Áp dụng mức thuế suất thuế GTGT 5% đối với bán, cho thuê, cho thuê mua nhà ở xã hội từ ngày 01/7/2013 và giảm 50% mức thuế suất 10% thuế GTGT đối với bán, cho thuê, cho thuê mua nhà ở thương mại là căn hộ hoàn thiện có diện tích sàn dưới 70m2 và có giá bán dưới 15 triệu đồng/m2 từ ngày 01/7/2013 đến hết ngày 30/6/2014.

[6]Gia hạn nộp thuế TNDN năm 2011, 2013 đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa; doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động, hợp tác xã có thu nhập từ hoạt động sản xuất, gia công, chế biến nông – lâm – thủy sản, dệt may, da giày, linh kiện điện tử và từ hoạt động thi công, xây dựng, lắp đặt công trình hạ tầng kinh tế – xã hội. Gia hạn nộp thuế TNDN năm 2013 đối với doanh nghiệp đầu tư – kinh doanh nhà ở không phân biệt quy mô doanh nghiệp và số lao động sử dụng.

Gia hạn nộp thuế GTGT tháng 4, 5, 6 năm 2012, tháng 1, 2, 3 năm 2013 đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, không bao gồm doanh nghiệp nhỏ và vừa kinh doanh trong lĩnh vực xổ số, bất động sản, chứng khoán, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm; sản xuất hàng hóa, cung ứng dịch vụ thuộc diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt; doanh nghiệp được xếp hạng 1, hạng đặc biệt thuộc tập đoàn kinh tế, tổng công ty; doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động trong lĩnh vực sản xuất, gia công, chế biến nông – lâm – thủy sản, dệt may, da giày, linh kiện điện tử, xây dựng công trình hạ tầng kinh tế – xã hội. Gia hạn nộp thuế GTGT tháng 1, 2, 3 năm 2013 đối với doanh nghiệp đầu tư – kinh doanh nhà ở và doanh nghiệp sản xuất các mặt hàng sắt, thép, xi măng, gạch, ngói.

[7]Gồm: doanh nghiệp nhỏ và vừa, không bao gồm doanh nghiệp nhỏ và vừa kinh doanh trong lĩnh vực xổ số, bất động sản, chứng khoán, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm; sản xuất hàng hóa, cung ứng dịch vụ thuộc diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt; doanh nghiệp được xếp hạng 1, hạng đặc biệt thuộc tập đoàn kinh tế, tổng công ty; doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động trong lĩnh vực sản xuất, gia công, chế biến nông – lâm – thủy sản, dệt may, da giày, linh kiện điện tử, xây dựng công trình hạ tầng kinh tế – xã hội.

[8]Gồm hộ, cá nhân thực hiện các dịch vụ: kinh doanh nhà trọ, phòng trọ cho thuê đối với công nhân, người lao động, sinh viên, học sinh chăm sóc, trông giữ trẻ; tổ chức cung ứng suất ăn ca cho công nhân.

[9]Gồm cá nhân có thu nhập tính thuế từ tiền lương, tiền công và từ kinh doanh đến mức phải chịu thuế TNCN ở bậc 1 của Biểu thuế lũy tiến từng phần được quy định tại Điều 22 của Luật Thuế TNCN năm 2007.

[10] Tùy theo tính chất của khoản thu được giãn thời hạn nộp; ít nhất là 3 tháng.

[11] Ngày 01/5/2011: Tăng từ mức 730.000 đồng/tháng lên mức 830.000 đồng/tháng.

Ngày 01/5/2012: Tăng lên mức 1.050.000 đồng/tháng.

Ngày 01/7/2013: Tăng lên mức 1.150.000 đồng/tháng.

[12] Được thực hiện từ ngày 01/5/2011 với mức phụ cấp bằng 10% mức lương hiện hưởng cộng phụ cấp chức vụ lãnh đạo và phụ cấp thâm niên vượt khung (nếu có) hoặc phụ cấp quân hàm. Từ ngày 01/5/2012, mức phụ cấp công vụ được điều chỉnh tăng lên mức 25%.

[13]Theo số liệu thống kê của IMF (2013), năm 2001, tỷ lệ nợ chính phủ so với GDP của Việt Nam thấp hơn In-đô-nê-xi-a, Thái Lan, Ma-lai-xi-a và Phi-líp-pin, thì đến năm 2012, đã cao hơn phần lớn các quốc gia này. Trong khi đó hầu hết các nước đều đã chủ động giảm dần mức dư nợ chính phủ.

[14]Nghị quyết của Quốc hội về Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội giai đoạn 2011-2015 đã xác định chỉ tiêu nợ công đến năm 2015 không quá 65%GDP, nợ Chính phủ và nợ nước ngoài của quốc gia không quá 50%GDP.

[15]Theo đồng hồ nợ công thế giới ngày 09/4/2015, nợ công của Thái Lan khoảng 39,4% GDP; Ba Lan: 43,8% GDP; Ma-lai-xi-a: 52,5% GDP; Ấn Độ: 49,5% GDP; Mê-xi-cô: 43% GDP, Bra-xin: 54,8% GDP.

Bản in

 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *