Chuyên đề 3: ĐIỀU HÀNH NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC NĂM 2013 NHIỆM VỤ, PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP ĐIỀU HÀNH NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC NĂM 2014

Chuyên đề 3: ĐIỀU HÀNH NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC NĂM 2013 NHIỆM VỤ, PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP ĐIỀU HÀNH NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC NĂM 2014

Thsĩ. Nguyễn Thị Thu Trung

Trường Bồi dưỡng cán bộ tài chính – Bộ Tài chính

3.1. Hoạt động điều hành ngân sách năm 2013.

3.1.1. Nhiệm vụ, kết quả hoạt động điều hành ngân sách nhà nước năm 2013.

Có nhiều quan niệm khác nhau về điều hành ngân sách, ở đây xét trên phương diện mối quan hệ giữa chủ thể quản lý nhà nước với mục tiêu thực hiện dự toán NSNN, có thể hiểu: Điều hành NSNN là việc sử dụng một hệ thống các công cụ Pháp luật, kế hoạch, tổ chức, kiểm tra và các chính sách khác theo những nguyên tắc, phương pháp cụ thể, nhằm thực hiện bằng được dự toán NSNN đã được Quốc hội (QH) phê chuẩn, góp phần tích cực vào việc thực hiện các nhiệm vụ kinh tế – chính trị – xã hội được đặt ra trong một năm.

Nói cách khác, điều hành NSNN đó là thực hiện được dự toán nhưng phải đạt được các mục đích mà Nhà nước đặt ra trong năm, gồm: Đảm bảo cân đối thu – chi; Thu đúng, thu đủ, thu kịp thời (không để thất thoát, mất mát nguồn thu, không để lạm thu), đảm bảo nuôi dưỡng được nguồn thu; Kích thích sản xuất, thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng, phát triển; Thực hiện tốt công bằng xã hội; Đảm bảo các chính sách an sinh; Tăng cường củng cố Quốc phòng an ninh; Thiết lập nền tảng  nền Kinh tế trong dài hạn, làm tròn các nghĩa vụ quốc tế đã được cam kết…

a. Nhiệm vụ điều hành NSNN 2013.

Nhiệm vụ điều hành NSNN năm 2013 được xác định dựa trên mục tiêu, nhiệm vụ tổng quát của Kế hoạch phát triển KTXH năm 2013 đã được Quốc hội thông qua là: Tăng cường ổn định kinh tế vĩ mô, lạm phát thấp hơn, tăng trưởng cao hơn năm 2012; Đẩy mạnh thực hiện 3 đột phá chiến lược gắn với tái cơ cấu nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng; Bảo đảm an sinh xã hội và phúc lợi xã hội; Nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế; Tăng cường quốc phòng, an ninh và bảo đảm ổn định chính trị – xã hội; Tạo nền tảng phát triển vững chắc hơn cho những năm tiếp theo.

Bám sát mục tiêu, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm 2013, tại kỳ họp QH khóa 13 ngày 10/11/2012, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết và giao chính thức dự toán NSNN năm 2013. Trong đó 3 chỉ tiêu quan trọng nhất là: Tổng số thu cân đối NSNN  là 816.000 tỷ đồng, tổng số chi cân đối NSNN là 978.000 tỷ đồng, mức bội chi NSNN là 162.000 tỷ đồng (tương đương 4,8% GDP), giao Chính phủ tổ chức điều hành để đảm bảo thực hiện thắng lợi nhiệm vụ, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm 2013. Trên cơ sở nghị quyết của Quốc hội, Thủ tướng Chính ban hành quyết định phân bổ dự toán NSNN và ngân sách Trung ương năm 2013.

b. Giải pháp điều hành NSNN năm 2013.

Dựa trên nhiệm vụ phát triển KTXH và dự toán được giao, trong bối cảnh: Một mặt, kinh tế thế giới còn diễn biến thất thường, tác động bất lợi, thách thức đối với tất thảy các nền kinh tế đang phát triển và có độ mở lớn trong đó có Việt Nam; mặt khác, kinh tế trong nước còn nhiều điểm nghẽn: Doanh nghiệp phá sản, thua lỗ; Thị trường bất động sản đóng băng; An sinh xã hội còn nhiều bất cập…. Chính phủ đã tổ chức thực hiện nhiều giải pháp điều hành ngân sách để đảm bảo thực hiện thắng lợi các Nghị quyết về KTXH đã được Quốc hội thông qua.

Ngay từ đầu năm, Chính phủ đã ban hành các Nghị quyết số 01/NQ-CP, và số 02/NQ-CP ngày 07/01/2013 nhằm: Giải quyết hàng tồn kho, xử lý nợ xấu và kích cầu thị trường bất động sản…; Trong năm, Thủ tướng Chính phủ, các bộ, ngành và các địa phương đã tổ chức chỉ đạo quyết liệt, thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ để thực hiện các nghị quyết của Quốc hội, của Chính phủ về điều hành NSNN. Đặc biệt, Bộ Tài chính đã thực hiện các giải pháp lớn sau:

Thứ nhất, tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, tiêu thụ hàng hóa. Trước những khó khăn của nền kinh tế và doanh nghiệp trong nước, Quốc hội, Chính phủ và các Bộ ngành đã ban hành và tổ chức thực hiện nhiều chính sách hỗ trợ doanh nghiệp. trong đó chính sách Tài chính tiếp tục đóng vai trò quan trọng và tiếp tục được cụ thể hóa trong các Luật sửa đổi, bổ sung Luật thuế TNDN, Luật thuế GTGT và Nghị quyết số 02/NQ – CP của Chính phủ với trọng tâm là ưu đãi nhiều hơn cho Doanh nghiệp vừa và nhỏ áp dụng sớm 6 tháng (từ 1/7/2013) mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp 20%, giảm so với mức 25% trước đó.Ước cả năm, đã xử lý miễn, giảm, giãn thời hạn nộp khoảng 16.600 tỷ đồng tiền thuế và thu ngân sách.

Thứ hai, quản lý chi ngân sách chặt chẽ, tiết kiệm, phù hợp với khả năng thu. Tăng cường hoạt động quản lý khai thác nguồn thu: Bám sát hoạt động SXKD của doanh nghiệp, thực hiện các chính sách, tạo điều kiện thuận lợi về thủ tục hành chính để các doanh nghiệp tham gia nộp thuế, khai báo, tính thuế đúng quy định, từ đó đảm bảo thu thuế kịp thời, đầy đủ. Đổi mới và đơn giản hóa thủ tục hành chính, giảm tần suất kê khai thuế GTGT từ 12 lần/năm còn 4 lần/năm đối với Doanh nghiệp vừa và nhỏ; Rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục gia hạn nộp hồ sơ khai thuế từ 5 ngày còn 3 ngày; Triển khai thủ tục Hải quan 1 cửa…

Bộ Tài chính đã liên tục theo dõi, đánh giá, chỉ đạo hệ thống thuế, hải quan đẩy mạnh công tác quản lý thu, khai thác nguồn thu, chống thất thu; Tăng cường thanh tra, kiểm tra, đẩy nhanh việc xử lý nợ đọng thuế theo đúng quy định của pháp luật, phát hiện, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm.

Phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương để khai thác các nguồn thu khác của NSNN, ngoài thuế còn có phí, lệ phí, giải quyết làm các thủ tục ghi thu, ghi chi, tổ chức thu cổ tức của các Công ty cổ phần mà Nhà nước có đầu tư vốn, thu thêm được 28.000 tỷ đồng cho ngân sách.

Tăng cường phối hợp với cơ quan cảnh sát điều tra, an ninh điều tra của Bộ Công an và Cục phòng chống rửa tiền của Ngân hàng Nhà nước nhằm trao đổi thông tin, điều tra khởi tố đối với các tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm về khấu trừ, hoàn thuế giá trị gia tăng tại một số doanh nghiệp; Thực hiện kiểm soát chặt chẽ hoạt động kinh doanh tạm nhập – tái xuất, chống chuyển giá, buôn lậu, gian lận thương mại. Đã thanh tra được 120 doanh nghiệp, chuyển cơ quan công an hồ sơ của 54 doanh nghiệp có dấu hiệu vi phạm, khởi tố 34 doanh nghiệp và bắt 21 đối tượng.

Quản lý chi ngân sách chặt chẽ, tiết kiệm: Bộ Tài chính đã hướng dẫn các cơ quan trung ương và địa phương triệt để tiết kiệm chi tiêu trong phạm vi dự toán được giao, chống lãng phí, rà soát cắt, giảm tối đa các khoản chi tổ chức lễ hội, khánh tiết, hội nghị, hội thảo, tiết giảm chi phí công tác trong nước và ngoài nước…; Chủ động sắp xếp chi thường xuyên, ưu tiên các nhiệm vụ quan trọng, bảo đảm nguồn lực thực hiện các chính sách an sinh xã hội và điều chỉnh tiền lương. Cơ quan tài chính các cấp và Kho bạc Nhà nước thực hiện kiểm soát chi chặt chẽ, đảm bảo đúng mục đích, đối tượng và hiệu quả.

Thứ ba, đảm bảo giữ bội chi NSNN trong phạm vi được Quốc hội cho phép. Bộ Tài chính chủ động huy động các nguồn lực trong và ngoài nước, trong đó xác định kênh chủ đạo là phát hành trái phiếu Chính phủ trong nước. Đã huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu Chính phủ được trên 181 nghìn tỷ đồng, đạt kế hoạch huy động vốn trái phiếu trong nước.

Thường xuyên theo dõi đánh giá mức an toàn nợ công, đảm bảo an ninh tài chính quốc gia. Dư nợ công đến hết năm 2013 ước khoảng 56,2%GDP, nợ Chính phủ khoảng 42,6%GDP, nợ nước ngoài của quốc gia khoảng 39,5%GDP, các chỉ tiêu nợ vẫn nằm trong giới hạn an toàn.

Thứ tư, thực hiện nhất quán chủ trương quản lý giá theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước đối với điện, than, xăng dầu, dịch vụ công theo lộ trình với mức độ và thời gian điều chỉnh phù hợp để đảm bảo mục tiêu kiểm soát lạm phát. Thực hiện công khai thông tin về giá theo quy định của pháp luật, nhất là công khai về chi phí, giá sản xuất, tiêu thụ điện, than, xăng dầu, dịch vụ công; Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra việc chấp hành pháp luật về giá; Kiểm soát chặt chẽ các yếu tố hình thành giá đối với các mặt hàng Nhà nước định giá, mặt hàng thuộc danh mục bình ổn giá, những mặt hàng sản xuất theo đặt hàng của Nhà nước.

Thứ năm, luôn đảm bảo nguồn đáp ứng kịp thời các nhu cầu chi theo dự toán, bao gồm cả chi đảm bảo an sinh xã hội, phúc lợi xã hội và nguồn kinh phí thực hiện chính sách tăng lương cơ sở (từ 1.050.000 đồng/tháng lên 1.150.000 đồng/tháng) từ 1/7/2013 và bổ sung kinh phí cho công tác phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh… ; Tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện các chính sách an sinh xã hội, kiến nghị xử lý các vướng mắc về cơ chế chính sách, rà soát để loại bỏ các chính sách trùng lặp. Trong năm, Chính phủ đã quyết định xuất cấp gần  61.390  tấn gạo dự trữ quốc gia để cứu trợ cho nhân dân ở những vùng bị thiếu đói, giáp hạt; góp phần thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội.

Thứ sáu, tăng cường quản lý đầu tư và xử lý nợ đọng xây dựng cơ bản từ nguồn NSNN, trái phiếu Chính phủ. Bổ sung kịp thời vốn đầu tư các dự án trong năm phù hợp với tình hình ngân sách; Tiến hành rà soát, hoàn thiện cơ sở pháp lý, cơ chế chính sách về phân cấp và quản lý đầu tư công, hợp tác công tư…; Triển khai đề án tái cấu trúc thị trường chứng khoán trên 4 trụ cột gồm cơ sở hàng hóa, cơ sở nhà đầu tư, hệ thống tổ chức kinh doanh chứng khoán và tổ chức thị trường giao dịch; Tiến hành kiểm tra, giám sát chặt chẽ đối với các tổ chức kinh doanh chứng khoán có vấn đề về an toàn tài chính, thanh khoản và vi phạm các quy định về giao dịch; Tích cực triển khai thực hiện Đề án tái cấu trúc các doanh nghiệp bảo hiểm; Đẩy nhanh tiến độ thoái vốn ngoài ngành kinh doanh chính tại các tập đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước, bổ sung các biện pháp tăng cường quản lý, giám sát hoạt động đầu tư ra ngoài ngành… nhằm tăng cường quản lý và xử lý nợ xấu, ngăn ngừa và khắc phục đầu tư sở hữu chéo. Đồng thời, đã tích cực phối hợp, đôn đốc các Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty nhà nước khẩn trương xây dựng, trình cấp thẩm quyền phê duyệt đề án tái cơ cấu của đơn vị mình. Tính đến tháng 11/2013, đã có 63 tập đoàn, tổng công ty nhà nước đã được cấp thẩm quyền phê duyệt Đề án tái cơ cấu.

c. Kết quả điều hành NSNN 2013.

Nhận định được tình hình, đưa ra những giải pháp đúng, chỉ đạo kịp thời, thực hiện quyết liệt của cả hệ thống chính trị, nhờ đó, nhiệm vụ kinh tế – xã hội năm 2013 của nước ta về cơ bản hoàn thành các mục tiêu đề ra; Hoạt động điều hành NSNN năm 2013 đã đạt được những kết quả đáng phấn khởi, cụ thể:

– Tổng thu cân đối NSNN năm 2013 ước đạt 818.940 tỷ đồng (đạt 100,4% so với dự toán), trong đó: Thu nội địa khoảng 542.755 tỷ đồng (đạt 99,5% so với dự toán); Thu dầu thô khoảng 115.000 tỷ đồng (đạt 116,2% so với dự toán); Thu cân đối xuất – nhập khẩu khoảng 140.800 tỷ đồng (đạt 84,6% so với dự toán).

– Tổng chi NSNN ước đạt 986.200 tỷ đồng (đạt 100,8% so với dự toán);

– Bội chi NSNN nằm trong phạm vi mức độ bội chi NSNN đã được Quốc hội cho phép;

d. Tồn tại, bất cập trong hoạt động điều hành NSNN năm 2013.

Nhìn lại hoạt động điều hành NSNN năm 2013, bên cạnh những kết quả đạt được hết sức to lớn, có ý nghĩa tích cực, thì cũng cho thấy còn không ít tồn tại, bất cập và hạn chế cần khắc phục do nhiều nguyên nhân khách quan, chủ quan chi phối, cụ thể:

– Năm 2013 là năm đầu tiên sau nhiều năm liền thu ngân sách đứng trước nguy cơ khó đạt dự toán Quốc hội giao, áp lực hoàn thành dự toán thu cân đối NSNN là rất lớn. Mặc dù có nguyên nhân khách quan do kinh tế khó khăn, thực hiện ưu đãi thuế cho doanh nghiệp, nhưng cũng có nguyên nhân chủ quan, như: công tác phân tích, dự báo chưa sát, dự toán thu NSNN chỉ chủ yếu dựa vào kết quả thực hiện của năm trước vốn đã bị “thổi phồng” do tăng thu mạnh của năm trước đó và xây dựng ở mức quá cao so với khả năng thực tế của nền kinh tế; Công tác quản lý thuế, đặc biệt là quản lý hoàn thuế GTGT ở một số địa bàn còn bất cập, nợ đọng thuế ở một số địa phương còn cao.

– Tình hình thực hiện dự toán NSNN từ những tháng đầu tiên đến khi hết Quý 1, Quý 2, Quý 3 là hết sức khó khăn, hầu như không đạt được như dự toán đã cam kết đầu năm. Bốn tháng đầu năm  hoàn thành kế hoạch thu là 29,9% so với dự toán cam kết thu cả năm; Quý 2 hoàn thành kế hoạch thu là 43,7% so với dự toán cam kết thu cả năm; Quý 3 hoàn thành kế hoạch thu là 66,5 % so với dự toán cam kết thu cả năm; Đến hết Quý 4 thì hoàn thành kế hoạch thu là 100,4%, vượt so với dự toán cam kết thu cả năm. Áp lực điều hành thu Ngân sách bị dồn vào cuối năm đến phút chót mới “lội ngược dòng ngoạn mục” nhờ  triển khai thực hiện nhiều chính sách thu chưa có tiền lệ.

– Tình trạng bố trí, sử dụng kinh phí dàn trải, lãng phí, thiếu hiệu quả vẫn còn xảy ra ở một số địa bàn, đơn vị. Chính sách chi NSNN, nhất là các chính sách về xóa đói giảm nghèo, đảm bảo an sinh xã  hội và các chương trình mục tiêu, còn trùng lặp, chồng chéo, kém hiệu quả.

– Việc thắt chặt chi tiêu làm cho tổng cầu giảm xuống từ đó kinh tế không tăng trưởng được, gây khó khăn trong việc tạo nguồn thu.

– Tình trạng nợ đọng văn bản hướng dẫn thi hành Pháp luật; Ban hành VBPL chất lượng chưa cao, phải sửa đổi nhiều lần; Một số quy định pháp luật tài chính chưa được sửa đổi kịp thời cho phù hợp với tình hình thực tế như trong lĩnh vực giá, định mức chi tiêu ngân sách. Công tác triển khai ba đột phá chiến lược, trong đó có cải cách thể chế liên quan đến tài chính – NSNN làm còn chậm. Cải cách thủ tục hành chính thuế và hải quan, mặc dù đã có tiến bộ, nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu đề ra. Nhiều thủ tục hành chính ban hành chưa coi trọng ý kiến của tổ chức và cá nhân, chủ yếu là tạo điều kiện thuận lợi cho cơ quan Nhà nước. Thủ tục hành chính còn nặng về hình thức và đôi khi chưa rõ trách nhiệm giữa cơ quan Nhà nước các cấp, gây phiền hà, tốn kém cho người dân, doanh nghiệp và cả xã hội.

– Trong công tác quản lý, điều hành giá cả: có lúc vẫn còn thiếu chủ động, chưa tích cực trong việc thông tin, tuyên truyền để tạo sự đồng thuận của toàn xã hội.

3.1.2. Bài học kinh nghiệm trong hoạt động điều hành NSNN năm 2013.

Từ những thành công cũng như tồn tại, bất cập trong hoạt động điều hành NSNN năm 2013, chúng ta có thể rút ra bài học kinh nghiệm trong điều hành Ngân sách như sau:

Thứ nhất, đối với việc lập dự toán:

– Cần bám sát vào dự báo tình hình kinh tế xã hội trong năm và tình hình thực hiện dự toán năm trước để rút ra bài học kinh nghiệm cho việc lập dự toán năm nay;

– Cần phối hợp, thảo luận kỹ với các đơn vị trong quá trình lập dự toán. Tránh trường hợp dự toán lập ra xa vời với thực tế: Dự toán được lập cao hơn so với khả năng thực hiện, sẽ gây áp lực đạt được dự toán trong năm cũng như khả năng không hoàn thành dự toán; nhưng quá thận trọng để lấy thành tích mà lập dự toán thấp hơn với khả năng thực hiện sẽ gây khó khăn trong quá trình triển khai dự toán.

Thứ hai, đối với việc tổ chức thực hiện:

– Đảm bảo nhanh, kịp thời và bám sát vào mục tiêu đã đề ra, thực hiện triển khai nhanh và đồng bộ các giải pháp mà Quốc hội, Chính phủ đưa ra từ Trung ương đến địa phương đảm bảo thống nhất, hiệu quả và mang lại kết quả cao nhất. Ưu tiên chi tiêu những công việc trước mắt có trọng tâm, trọng điểm.

– Ban hành kịp thời các chính sách về thu – chi để  khuyến khích phát triển kinh tế và kích thích tiêu dùng, nhằm tăng nguồn thu cho NSNN. Tạo động lực thúc đẩy nền kinh tế phát triển và tăng trưởng bền vững.

– Đi đôi với đầu tư phát triển kinh tế thì phải thực hiện các chính sách đảm bảo an sinh xã hội: Đối với nước ta, bảo đảm ngày càng tốt hơn an sinh xã hội và phúc lợi xã hội luôn là một chủ trương, nhiệm vụ lớn của Đảng và Nhà nước, thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ ta và có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự ổn định chính trị – xã hội và phát triển bền vững của đất nước. Quyết tâm cao của Đảng và Nhà nước cùng với tiềm lực kinh tế của đất nước được nâng lên là cơ sở quan trọng để bảo đảm tốt hơn an sinh xã hội và phúc lợi xã hội. Đó cũng là cơ sở để đảm bảo được mục tiêu bền vững trong điều hành Ngân sách.

– Tiếp tục thực hiện cải cách thủ tục hành chính: Cải cách thủ tục hành chính theo hướng thống nhất quy trình, đảm bảo đơn giản rõ ràng, minh bạch về hồ sơ, chứng từ; hiện đại hóa công nghệ thông tin, và xây dựng chuẩn ISO để áp dụng trong hoạt động thu chi ngân sách, với phương châm rút ngắn thời gian và thủ tục tiến hành nhưng vẫn đảm bảo kiểm soát chặt chẽ, từ đó tạo điều kiện thuận lợi, đẩy nhanh và kích thích quá trình thu – chi ngân sách.

– Tăng cường cơ sở vật chất cho bộ máy quản lý thu: Đầu tư cơ sở vật chất là khâu quan trọng trong quá trình cải cách, hiện đại hóa thủ tục thuế và hải quan. Từ đó tạo điều kiện giảm thời gian thu và đơn giản thủ tục thu, kích thích thu được nhiều hơn. Cần cải tạo, sửa chữa nhà làm việc, trang thiết bị phục vụ hoạt động chuyên môn. Ứng dụng công nghệ thông tin trong các khâu nghiệp vụ.

– Bổ sung, sửa đổi theo hướng đồng bộ, hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật; tăng cường hoạt động thanh tra, kiểm tra, kiểm toán đối với mọi hoạt động thu chi tài chính, ngân sách tại các đơn vị và các cấp hành chính trên phạm vi cả nước.

3.2. Nhiệm vụ, phương hướng và giải pháp điều hành NSNN năm 2014.

Nhiệm vụ, mục tiêu Kinh tế – xã hội của năm 2014 đã được Quốc hội thông qua là: Tiếp tục ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát; Tăng trưởng hợp lý và nâng cao chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế trên cơ sở đẩy mạnh thực hiện ba đột phá chiến lược gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, tái cơ cấu nền kinh tế; Bảo đảm an sinh xã hội và phúc lợi xã hội, cải thiện đời sống nhân dân; Sử dụng hợp lý và có hiệu quả tài nguyên, bảo vệ môi trường và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu; Đẩy mạnh cải cách hành chính và phòng, chống tham nhũng, lãng phí; Cải thiện môi trường kinh doanh; Bảo đảm quốc phòng và an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; Mở rộng và nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế. Theo đó, tại kỳ họp QH thứ 6, ngày 12/11/2013 Quốc hội đã thông qua dự toán NSNN năm 2014 với 3 chỉ tiêu quan trọng nhất, đó là: Tổng thu NSNN 782.700 tỷ đồng, tổng chi NSNN 1.006.700 tỷ đồng, bội chi NSNN 224.000 tỷ đồng (tương đương với 5,3%GDP) .

Để đạt được các mục tiêu, nhiệm vụ đã đặt ra, trước khó khăn, thuận lợi, thách thức, thời cơ của năm 2014; Kế thừa các bài học kinh nghiệm của điều hành NSNN năm 2013. Hoạt động điều hành NSNN năm 2014 được Chính phủ đưa ra các giải pháp cần phải tập trung thực hiện trong năm 2014 như sau:

– Tập trung tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, phục hồi tăng trưởng, tạo điều kiện cho sản xuất kinh doanh phát triển, từ đó tạo nguồn thu ngân sách; Tổ chức thực hiện tốt các luật sửa đổi, bổ sung về Quản lý thuế, Thuế thu nhập doanh nghiệp, Thuế thu nhập cá nhân, Thuế Giá trị gia tăng; Quản lý thu, điều hành thu, chống thất thu, chống buôn lậu.

+ Cải thiện môi trường kinh doanh, hỗ trợ đẩy mạnh cải cách, nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp. Tăng cường cung cấp thông tin hỗ trợ doanh nghiệp. Tiếp tục đẩy mạnh cải cách, đơn giản hóa thủ tục hành chính liên quan đến sản xuất kinh doanh, đầu tư, nhất là thủ tục về thuế và hải quan; Rút ngắn thời gian thông quan, tăng cường công tác khai thuế điện tử qua mạng, đẩy mạnh triển khai nộp thuế qua hệ thống ngân hàng, đẩy mạnh tự động hóa quy trình tiếp nhận giải quyết hồ sơ, thủ tục hành chính thuế và hải quan. Phấn đấu giảm chi phí tuân thủ thủ tục hành chính thuế, hải quan cho cá nhân, tổ chức và doanh nghiệp.

+ Tổ chức triển khai thực hiện tốt các Luật thuế sửa đổi, bổ sung: Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp; Luật Xử phạt vi phạm hành chính. Thực hiện miễn thuế khoán (thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập cá nhân) và thuế thu nhập doanh nghiệp đối với hộ, cá nhân kinh doanh nhà trọ, phòng trọ cho thuê đối với công nhân, người lao động, sinh viên, học sinh; Hộ, cá nhân chăm sóc trông giữ trẻ; Hộ, cá nhân, tổ chức cung ứng suất ăn ca cho công nhân nhằm giảm áp lực tăng chi phí cho người lao động.

+ Tăng cường theo dõi, kiểm tra, kiểm soát việc kê khai thuế của các tổ chức, cá nhân nhằm phát hiện và xử lý kịp thời các trường hợp kê khai không đúng, không đủ số thuế phải nộp; Chỉ đạo quyết liệt chống thất thu, thu hồi số thuế nợ đọng từ các năm trước, các khoản thu từ các dự án đầu tư đã hết thời hạn ưu đãi, các khoản thu được phát hiện qua công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm toán…; Chú trọng việc thanh tra chuyên đề về chuyển giá, thương mại điện tử, kinh doanh qua mạng; Tăng cường giám sát đối với hàng tạm nhập tái xuất, chuyển cửa khẩu, hàng hoá ra, vào các khu chế xuất, kho ngoại quan.

– Quản lý chi chặt chẽ, triệt để tiết kiệm, chống lãng phí; cơ cấu lại chi NSNN; Rà soát lại các Chương trình mục tiêu quốc gia và các chính sách chi ngân sách để đảm bảo thiết thực, hiệu quả, tránh dàn trải.

+ Tiếp tục thực hiện cơ cấu lại chi NSNN theo hướng ưu tiên đảm bảo các chính sách chế độ đã ban hành cho con người, chi an sinh xã hội; Ưu tiên bố trí đảm bảo đủ chi trả nợ nước ngoài (cả gốc và lãi), một phần chi trả nợ trong nước và kết hợp với phát hành đảo nợ; Chi thường xuyên bố trí đủ đảm bảo chế độ cho con người và những yêu cầu thiết yếu để vận hành bộ máy quản lý nhà nước, ưu tiên chi quốc phòng, an ninh để đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới; Bố trí chi đầu tư phát triển trong cân đối ngân sách một cách hợp lý, đồng thời tăng huy động ngoài ngân sách cho đầu tư phát triển gắn với tái cơ cấu đầu tư công, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư, thực hiện những nhiệm vụ quan trọng, thúc đẩy quá trình tái cấu trúc nền kinh tế.

+ Quản lý chi NSNN chặt chẽ, tiết kiệm và hiệu quả, hạn chế thành lập các Quỹ ngoài ngân sách mà nguồn kinh phí hoạt động chủ yếu từ NSNN. Rà soát, đánh giá tổng thể toàn bộ các chính sách, chế độ đã được ban hành trong thời gian qua (nhất là các chính sách an sinh xã hội), trên cơ sở đó lồng ghép chính sách, thực hiện bãi bỏ theo thẩm quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền bãi bỏ ngay các chính sách, chế độ còn chồng chéo, không hiệu quả; Hạn chế tối đa việc ban hành các chính sách, chế độ mới (kể cả việc mở rộng đối tượng và phạm vi áp dụng của các chính sách, chế độ an sinh xã hội đang thực hiện) làm tăng chi ngân sách nhà nước; Tiếp tục rà soát hệ thống định mức kinh tế – kỹ thuật không phù hợp với thực tế, vượt quá khả năng đảm bảo của ngân sách nhà nước nhằm tăng cường hiệu lực quản lý và thúc đẩy chi tiêu công hiệu quả, tiết kiệm.

+ Tăng cường huy động các nguồn lực trong và ngoài nước cho đầu tư phát triển nền kinh tế. Tập trung nghiên cứu xây dựng, hoàn thiện các cơ chế, chính sách huy động nguồn lực xã hội hóa từ các thành phần kinh tế tham gia đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn, nghiên cứu phát triển khoa học và công nghệ.

+ Tiếp tục tăng cường quản lý đầu tư từ NSNN, trái phiếu Chính phủ và tín dụng ưu đãi, khắc phục tình trạng bố trí vốn phân tán, dàn trải, nâng cao hiệu quả đầu tư. Tăng cường công tác giám sát, đánh giá đầu tư để đảm bảo thực hiện đầu tư đúng quy hoạch, kế hoạch được duyệt. Do khả năng bố trí vốn đầu tư công năm 2014 và giai đoạn 2014-2015 ở mức thấp so với yêu cầu, nên yêu cầu các bộ, ngành, địa phương phải quán triệt đầy đủ các nguyên tắc: thực hiện theo đúng quy định tại Chỉ thị số 1792/CT-TTg ngày 15/10/2011 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường quản lý đầu tư từ vốn NSNN và vốn trái phiếu Chính phủ; Quyết liệt thực hiện xử lý nợ đọng xây dựng cơ bản theo Chỉ thị số 27/CT-TTg ngày 10/10/2012 của Thủ tướng Chính phủ; Tập trung bố trí vốn đầu tư từ NSNN để hoàn thành và đẩy nhanh tiến độ các dự án quan trọng quốc gia, các chương trình mục tiêu quốc gia, các dự án trọng điểm có ý nghĩa lớn đối với phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, của các ngành, các địa phương; Ưu tiên bố trí vốn cho các dự án, công trình đã hoàn thành và đã bàn giao đưa vào sử dụng trước năm 2013 nhưng chưa bố trí đủ vốn, thanh toán nợ xây dựng cơ bản, các dự án dự kiến hoàn thành năm 2014, vốn đối ứng các dự án ODA, hoàn trả các khoản vốn ứng trước,…; Đối với các dự án khởi công mới, phải cân nhắc kỹ lưỡng, chỉ bố trí vốn khởi công mới các dự án thật sự cấp bách khi xác định rõ nguồn vốn và khả năng cân đối vốn ở từng cấp ngân sách; Không bố trí vốn đầu tư từ NSNN cho các dự án không thuộc nhiệm vụ chi đầu tư theo quy định của Luật NSNN; Các địa phương không được yêu cầu các doanh nghiệp ứng vốn thực hiện các dự án ngoài kế hoạch, chưa cân đối được vốn, không được sử dụng vốn hỗ trợ có mục tiêu nguồn ngân sách trung ương cho các dự án khởi công mới chưa được thẩm định nguồn vốn, phê duyệt quyết định đầu tư, không bố trí vốn ngân sách trung ương cho các dự án sử dụng vốn vay ngân sách địa phương chưa thẩm định vốn hoặc phê duyệt phần vốn ngân sách trung ương cao hơn mức đã thẩm định.

+ Đổi mới cơ chế quản lý, điều hành thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia theo hướng lồng ghép và tăng quyền chủ động đối với địa phương trong việc sử dụng nguồn vốn NSNN và tính tự chịu trách nhiệm của Bộ quản lý chương trình, cơ quan thực hiện chương trình đối với mục tiêu của chương trình. Năm 2014, do cân đối ngân sách khó khăn, dự toán bố trí cho các chương trình mục tiêu quốc gia giảm mạnh so với năm 2013, ưu tiên bố trí tập trung cho các chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo, chương trình việc làm và dạy nghề, chương trình Nước sạch và VSMT nông thôn, chương trình Nông thôn mới, chương trình Dân số kế hoạch hóa gia đình, chương trình Ứng phó với biến đổi khí hậu. Các cơ quan quản lý chương trình có trách nhiệm sắp xếp để tập trung kinh phí cho các nhiệm vụ trọng tâm của chương trình, các địa phương chủ động lồng ghép các chương trình mục tiêu quốc gia với các chương trình mục tiêu, dự án khác có cùng nội dung, cùng thực hiện trên địa bàn trong quá trình xây dựng kế hoạch; Huy động tổng hợp các nguồn lực để thực hiện nhằm đạt được các mục tiêu chung của các chương trình, đảm bảo sử dụng vốn tập trung, tiết kiệm và hiệu quả.

+ Đối với cho vay tín dụng ưu đãi, thực hiện soát xét theo hướng thu gọn các ngành nghề, lĩnh vực ưu tiên cho phù hợp với yêu cầu tái cấu trúc lại nền kinh tế. Tiếp tục cho vay tín dụng ưu đãi đối với một số nhóm đối tượng nhằm thực hiện các mục tiêu an sinh xã hội.

– Kết hợp đồng bộ, chặt chẽ chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ.

+ Điều hành chính sách tiền tệ thận trọng, hiệu quả gắn kết chặt chẽ với chính sách tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô khác đảm bảo mục tiêu kiềm chế lạm phát, tăng cường ổn định kinh tế vĩ mô và bảo đảm tăng trưởng hợp lý. Sử dụng linh hoạt các công cụ của chính sách tiền tệ nhằm ổn định thị trường tiền tệ, điều tiết tiền tệ hợp lý để đảm bảo thanh khoản của hệ thống ngân hàng. Ngân hàng nhà nước chỉ đạo các tổ chức tín dụng sẵn sàng nguồn vốn, giảm bớt các thủ tục hành chính để thúc đẩy mở rộng tín dụng ra nền kinh tế nhằm phối hợp cùng với các chính sách tài chính khác tạo đà cho doanh nghiệp vượt qua khó khăn, từng bước ổn định và phát triển. Tiếp tục phát triển đồng bộ và lành mạnh hóa thị trường tiền tệ, giảm dần tỷ lệ nợ xấu thông qua việc tái cơ cấu hệ thống tổ chức tín dụng; tiến hành thanh lọc, mua bán hoặc sáp nhập các tổ chức tín dụng có tình hình tài chính yếu kém. Triển khai có hiệu quả các Đề án xử lý nợ xấu và cơ cấu lại các ngân hàng thương mại.

+  Tăng cường quản lý NSNN, kiểm soát chặt chẽ nợ công, nợ xấu của Doanh nghiệp nhà nước. Kiểm soát nhập siêu ở mức hợp lý. Tiếp tục thực hiện hiệu quả các biện pháp khuyến khích, đẩy mạnh xuất khẩu, nhất là các mặt hàng có giá trị gia tăng cao. Thực hiện có hiệu quả các biện pháp hạn chế nhập khẩu các mặt hàng không khuyến khích. Điều hành tỷ giá theo tín hiệu thị trường, bảo đảm giá trị đồng tiền Việt Nam và đảm bảo cung ứng vốn một cách có hiệu quả cho nền kinh tế; tiếp tục cải thiện cán cân thanh toán quốc tế và tăng dự trữ ngoại hối Nhà nước. Mở rộng các hình thức thanh toán qua ngân hàng và thanh toán không dùng tiền mặt trong nền kinh tế.

+ Tiếp tục thực hiện chính sách tài khoá chặt chẽ, quán triệt quan điểm triệt để tiết kiệm, chống lãng phí ngay từ khâu xác định nhiệm vụ quan trọng, trọng tâm cần thực hiện năm 2014. Xây dựng và triển khai dự toán NSNN gắn với chiến lược và định hướng phát triển trong từng thời kỳ, đảm bảo tính bền vững của NSNN, phản ánh được thứ tự ưu tiên trong phân bổ nguồn NSNN đối với từng ngành, lĩnh vực. Tập trung thực hiện đồng bộ, hiệu quả các giải pháp về NSNN, đảm bảo thực hiện các nhiệm vụ thu, chi theo dự toán đã được QH quyết định. Phấn đấu tăng thu, triệt để tiết kiệm chi để tạo nguồn  xử lý các nhiệm vụ chi cấp thiết phát sinh, giữ bội chi NSNN không quá chỉ tiêu QH thông qua. Tạm dừng ban hành chính sách làm giảm thu hoặc làm tăng chi NSNN.

– Quản lý nợ công đảm bảo đúng cam kết trả nợ, đảm bảo an ninh tài chính quốc gia.

+ Tiếp tục triển khai các Đề án và giải pháp của Chiến lược nợ công và nợ nước ngoài của quốc gia; Chương trình quản lý nợ trung hạn 2013-2015. Thường xuyên theo dõi, tổng hợp và quản lý các chỉ tiêu về nợ, đảm bảo an toàn về nợ và an ninh tài chính quốc gia. Nâng cao hiệu quả hoạt động kinh tế đối ngoại. Tiếp tục tăng cường các biện pháp vận động tài trợ vốn ODA, thực hiện đồng bộ, hiệu quả các giải pháp thúc đẩy giải ngân vốn ODA, trích lập dự phòng rủi ro và chủ động bố trí nguồn trả nợ các khoản vay đến hạn, không để xảy ra tình trạng nợ quá hạn, tăng cường công tác quản lý, kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, giám sát, nâng cao hiệu quả huy động và sử dụng vốn vay. Đẩy mạnh thu hút và nâng cao chất lượng các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài. Rà soát danh sách các chương trình, dự án ưu tiên cấp bảo lãnh theo hướng trước mắt không mở rộng và tiến tới thu hẹp diện được Chính phủ cấp bảo lãnh, chuyển dần sang kênh bảo lãnh của các ngân hàng thương mại.

– Đổi mới cơ chế tài chính đơn vị sự nghiệp công, giá dịch vụ công.

+ Khẩn trương tổ chức triển khai thực hiện có hiệu quả Kết luận số 37-TB/TW ngày 26/5/2011 của Bộ Chính trị về đổi mới cơ chế hoạt động của đơn vị sự nghiệp công lập, đẩy mạnh xã hội hoá một số loại hình dịch vụ sự nghiệp; Nghị quyết số 40/NQ-CP ngày 09/8/2012 của Chính phủ về Đề án “Đổi mới cơ chế hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập, đẩy mạnh xã hội hoá một số loại hình dịch vụ sự nghiệp công lập” theo hướng tăng cường quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các đơn vị sự nghiệp công lập về cả tổ chức thực hiện nhiệm vụ, nhân lực, tài chính để đa dạng hóa, nâng cao chất lượng dịch vụ công và nguồn lực phát triển sự nghiệp công. Phân định rõ loại hình dịch vụ do đơn vị sự nghiệp công thực hiện, loại dịch vụ do các đơn vị ngoài công lập thực hiện; Tích cực xây dựng khung giá, phí dịch vụ các đơn vị sự nghiệp công lập theo hướng có phân loại để điều chỉnh: Loại đơn vị có thể có thể điều chỉnh giá, phí tính đủ tiền lương, một phần hoặc toàn bộ chi phí quản lý và khấu hao tài sản cố định. Trên cơ sở đó, phân loại các đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện theo các mức giá, phí để xác định mức hỗ trợ từ ngân sách cho phù hợp. Đồng thời, Nhà nước có hỗ trợ phù hợp cho các đối tượng chính sách khi điều chỉnh giá dịch vụ công tăng.

– Tăng cường kỷ luật, kỷ cương tài chính, đẩy mạnh cải cách hành chính, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.

+ Các Bộ, cơ quan, địa phương thực hiện nghiêm kỷ luật tài chính – ngân sách nhà nước, tăng cường kiểm tra, giám sát và công khai, minh bạch việc sử dụng NSNN. Thực hiện nghiêm quy định không ban hành hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành chương trình, đề án có sử dụng NSNN nhưng không hoặc chưa cân đối được nguồn. Tập trung chỉ đạo công tác quyết toán vốn đầu tư đối với các công trình, dự án hoàn thành.

+ Rà soát, quản lý chặt chẽ các khoản chi, đảm bảo trong phạm vi dự toán đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt và theo đúng chế độ quy định; Tổ chức thực hiện nghiêm, có hiệu quả các biện pháp chống thất thoát, lãng phí, tham nhũng. Chỉ đạo thực hiện nghiêm các kết luận thanh tra và việc xử lý sau thanh, kiểm tra, kiểm toán. Triển khai thực hiện nghiêm Chỉ thị số 21-CT/TW ngày 21/12/2012 của Ban Bí thư và Chỉ thị số 30/CT-TTg ngày 26/11/2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Triển khai thực hiện Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 2013. Triệt để tiết kiệm, đặc biệt là dự toán chi mua sắm phương tiện, trang thiết bị đắt tiền, hạn chế tối đa về số lượng và quy mô tổ chức lễ hội, hội nghị, hội thảo, tổng kết, lễ ký kết, khởi công, phong tặng danh hiệu, tiếp khách, đi công tác trong, ngoài nước và các nhiệm vụ không cần thiết, cấp bách khác.

+ Tiếp tục tổ chức thực hiện có hiệu quả Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 – 2020; Đẩy mạnh áp dụng cơ chế một cửa, một cửa liên thông và ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý. Nâng cao chất lượng, khắc phục tình trạng nợ đọng văn bản hướng dẫn thi hành pháp luật và việc ban hành văn bản không phù hợp, không khả thi. Tích cực triển khai Đề án cải cách chế độ công vụ, công chức; Tăng cường công khai, minh bạch trong hoạt động công vụ. Tiếp tục làm rõ chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường. Xử lý chồng chéo chức năng, nhiệm vụ, khắc phục tình trạng “bỏ trống” trong quản lý nhà nước. Tiếp tục đẩy mạnh xã hội hóa một số dịch vụ công gắn với tinh giản bộ máy tổ chức, biên chế, tái cấu trúc nền tài chính công./.

 —————————————-

TÀI LIỆU THAM KHẢO

———————-

1. Luật 01/2002/QH11 Ngân sách Nhà nước;

2. Nghị quyết 01/NQ-CP và Nghị quyết 02/NĐ-CP ngày 07/01/2013;

3. Chỉ thị số 09/CT-TTg ngày 24/5/2013 và Chỉ thị số 14/CT-TTg ngày 28/6/2013;

4. Số liêu công khai Dự toán, Quyết toán NSNN (nhiều năm) của Bộ Tài chính;

5. Một số bài báo của Cổng thông tin Bộ Tài chính;

6. Các bài báo trên Tạp chí tài chính

7. Vũ Sỹ Cường (2012) “Quan hệ giữa lập dự toán và thực hiện NSNN với lạm phát” – Tạp chí Ngân hàng số 2/2012.

 

 

 

Bản in

 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *