Chuyên đề 3: ĐÁNH GIÁ 05 NĂM THỰC HIỆN CHIẾN LƯỢC TÀI CHÍNH ĐẾN NĂM 2020

MỤC LỤC

Chuyên đề 3: ĐÁNH GIÁ 05 NĂM THỰC HIỆN

CHIẾN LƯỢC TÀI CHÍNH ĐẾN NĂM 2020

TS. Nguyễn Viết Lợi

Viện Chiến lược và Chính sách tài chính – Bộ Tài chính

 Ngày 18/4/2012, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 450/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược Tài chính đến năm 2020, trong đó đề ra 03 quan điểm, mục tiêu tổng quát và 06 nhiệm vụ cụ thể cho ngành Tài chính trong giai đoạn 2011 – 2020. Để thực hiện các mục tiêu và nhiệm vụ này, Chiến lược Tài chính đã đề ra 8 nhóm giải pháp, bao gồm: (1) Nâng cao hiệu quả huy động nguồn lực tài chính quốc gia; (2) Nâng cao hiệu quả phân bổ và sử dụng các nguồn lực tài chính gắn với quá trình tái cơ cấu nền tài chính quốc gia; (3) Đổi mới cơ chế tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công cùng với đẩy mạnh đa dạng hóa nguồn lực xã hội phát triển dịch vụ công; (4) Hoàn thiện chính sách, cơ chế tài chính doanh nghiệp, thực hiện tái cấu trúc DNNN; (5) Phát triển đồng bộ thị trường tài chính và dịch vụ tài chính; (6) Đẩy mạnh hoạt động hợp tác và chủ động hội nhập quốc tế về tài chính; (7) Nâng cao năng lực và hiệu quả kiểm tra, thanh tra, giám sát và đảm bảo an ninh tài chính quốc gia; (8) Đẩy mạnh cải cách hành chính trong lĩnh vực tài chính, hoàn thiện phương thức điều hành chính sách tài chính. Bên cạnh đó, các chiến lược theo ngành, lĩnh vực như thuế, hải quan, kho bạc nhà nước, dự trữ quốc gia, quản lý nợ, thị trường vốn, chứng khoán, bảo hiểm, kế toán – kiểm toán cũng đã được xây dựng và trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

Thực hiện các mục tiêu và giải pháp nêu trên, ngày 30/01/2013, Bộ trưởng Bộ Tài chính đã ban hành Quyết định số 224/QĐ-BTC về việc phê duyệt Chương trình hành động của Ngành tài chính triển khai thực hiện Chiến lược Tài chính, đồng thời từ năm 2014 đến nay, hàng năm Bộ trưởng Bộ Tài chính cũng đã ban hành các Quyết định phê duyệt các Chương trình hành động trung hạn (3 năm) để làm căn cứ cho việc triển khai, theo dõi, đánh giá kết quả thực hiện Chiến lược Tài chính theo hình thức cuốn chiếu.

Cùng với những kết quả đạt được trong việc triển khai thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 05 năm 2011-2015, ngành Tài chính cũng đã đạt được nhiều kết quả tích cực, quan trọng trong việc triển khai thực hiện Chiến lược Tài chính đến năm 2020, góp phần thực hiện các mục tiêu tăng trưởng bền vững, phát triển kinh tế, ổn định xã hội và đảm bảo an ninh, an toàn tài chính quốc gia.

3.1. Những kết quả đạt được

Việc triển khai Chiến lược Tài chính đến năm 2020 (CLTC) diễn ra trong bối cảnh kinh tế trong nước và thế giới không thuận lợi. Kinh tế toàn cầu có xu hướng tăng trưởng chậm lại với tốc độ không đồng đều giữa các nước/khu vực và đối diện với nhiều khó khăn, thách thức như xu hướng suy giảm kinh tế ở nhiều nền kinh tế mới nổi, giá dầu thấp, thị trường tài chính tiền tệ quốc tế có nhiều biến động, vấn đề nợ công và căng thẳng địa chính trị diễn ra ở một số quốc gia, khu vực…Trong nước, trong những năm đầu của giai đoạn 2011-2015, nền kinh tế đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức như tăng trưởng kinh tế có sự sụt giảm[1], lạm phát ở mức cao, sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn,… Tuy nhiên, việc triển khai thực hiện CLTC trong thời gian qua đã đạt được nhiều kết quả tích cực góp phần phân bổ và sử dụng hiệu quả nguồn lực tài chính nhằm phát triển kinh tế – xã hội, đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô; đổi mới mô hình tăng trưởng; tái cơ cấu nền kinh tế; hội nhập sâu rộng hơn vào nền kinh tế thế giới; phát triển đồng bộ các loại thị trường và đảm bảo an ninh tài chính quốc gia. Kết quả triển khai thực hiện CLTC thể hiện trên một số mặt như sau:

3.1.1. Thể chế, chính sách pháp luật tài chính được chú trọng hoàn thiện phù hợp với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và bối cảnh hội nhập quốc tế

Quá trình hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường (KTTT) trong lĩnh vực tài chính đã được thực hiện đồng bộ và toàn diện, đảm bảo tuân thủ đầy đủ hơn các quy luật của thị trường và yêu cầu của hội nhập quốc tế sâu rộng. Trong đó, đã kịp thời cụ thể hóa các quy định Hiến pháp năm 2013 trong lĩnh vực tài chính – ngân sách như trình Quốc hội thông qua Luật Ngân sách nhà nước 2015. Đồng thời, đã chủ động sửa đổi nhiều cơ chế, chính sách để thúc đẩy sự phát triển các yếu tố thị trường và các loại hình thị trường; kiên định thực hiện cơ chế giá thị trường gắn với hỗ trợ các đối tượng chính sách, hộ nghèo; thực hiện rà soát để tháo gỡ các rào cản, vướng mắc về cơ chế, chính sách cùng với việc đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực tài chính. Cụ thể, đã tham mưu để sửa đổi, bổ sung và ban hành mới 20 Luật, 04 nghị quyết của Quốc hội, 03 NQ của UBTVQH, 99 Nghị định của Chính phủ và 108 quyết định của Thủ tướng Chính phủ, đồng thời ban hành theo thẩm quyền trên 1.000 thông tư, thông tư liên tịch liên quan đến lĩnh vực ngân sách, thuế, hải quan, dự trữ quốc gia, giá, tài sản công, tài chính đất đai, quản lý vốn nhà nước, bảo hiểm, chứng khoán…

Những đổi mới về thể chế tài chính trong giai đoạn vừa qua đã tạo cơ sở quan trọng cho việc huy động, sử dụng và quản lý có hiệu quả các nguồn lực trong, ngoài nước cho phát triển; góp phần quan trọng trong việc thực hiện 03 đột phá của Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội, hỗ trợ tích cực quá trình tái cơ cấu kinh tế và chuyển đổi mô hình tăng trưởng, đảm bảo an ninh tài chính quốc gia, góp phần thúc đẩy các yếu tố thị trường và các loại thị trường phát triển, tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng, thuận lợi cho đầu tư và sản xuất kinh doanh. Cơ chế điều hành giá tiếp tục được đổi mới theo cơ chế thị trường định hướng XHCN, phù hợp với lộ trình hội nhập quốc tế.

Chính sách động viên NSNN tiếp tục được hoàn thiện, nhờ đó đã động viên hợp lý, kịp thời nguồn lực từ sản xuất và các nguồn lực từ tài nguyên, đất đai và tài sản công. Chính sách thuế, phí, lệ phí ban hành về cơ bản đã đảm bảo minh bạch, đơn giản, phù hợp với các cam kết hội nhập, góp phần tạo môi trường đầu tư ổn định, hấp dẫn, bình đẳng giữa các thành phần kinh tế. Chính sách phân bổ và sử dụng các nguồn lực tài chính tiếp tục được hoàn thiện gắn với quá trình tái cơ cấu nền tài chính quốc gia, đảm bảo tiết kiệm, hiệu quả, minh bạch, ưu tiên cho những nhiệm vụ quan trọng, các vùng, đối tượng còn nhiều khó khăn, mở rộng hệ thống an sinh xã hội; thúc đẩy phát triển nông nghiệp nông thôn; đa dạng hóa nguồn lực đầu tư xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng.

Cơ chế quản lý tài chính trong lĩnh vực hành chính, sự nghiệp và hoạt động quản lý của các cơ quan nhà nước được ban hành, hoàn thiện đã góp phần đẩy mạnh phát triển các hoạt động sự nghiệp công, đảm bảo an sinh xã hội. Tiếp tục hoàn thiện cơ chế quản lý DNNN, hệ thống pháp luật của thị trường tài chính cùng với việc xây dựng và tổ chức thực hiện các Đề án tái cơ cấu DNNN, thị trường chứng khoán và thị trường bảo hiểm.

3.1.2. Nâng cao hiệu quả huy động nguồn lực tài chính quốc gia

Chính sách động viên NSNN được hoàn thiện theo các mục tiêu, định hướng đề ra trong CLTC và Chiến lược cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011-2020, nhờ đó đã thu hút hiệu quả, động viên hợp lý, kịp thời các nguồn lực từ hoạt động sản xuất, kinh doanh, từ xuất nhập khẩu và các nguồn lực từ tài nguyên, đất đai

Để giảm thiểu các tác động bất lợi của khủng hoảng tài chính thế giới, tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, trong những năm đầu của giai đoạn 2011-2015 đã triển khai thực hiện các chính sách miễn, giảm, gia hạn đối với một số khoản thu, sắc thuế [2]; điều chỉnh giảm mức độ động viên trong một số sắc thuế như thuế TNCN, TNDN, góp phần quan trọng trong việc nâng cao tính hấp dẫn của môi trường đầu tư, tạo điều kiện cho doanh nghiệp và người dân có thêm nguồn lực cho đầu tư và tiêu dùng, góp phần thúc đẩy sản xuất, kinh doanh.

Bên cạnh đó trong điều hành đã tập trung chỉ đạo quyết liệt công tác thu ngân sách, tăng cường quản lý thu, chống thất thu, chuyển giá, trốn thuế và xử lý nợ đọng thuế, phấn đấu tăng thu nội địa và thu từ hoạt động xuất nhập khẩu ở mức cao nhất để bù đắp số giảm thu từ dầu thô do tác động của giá dầu thế giới giảm. So với giai đoạn 2006 – 2010, quy mô thu NSNN 5 năm 2011 – 2015 tăng gấp 2 lần. Tỷ lệ huy động thu NSNN bình quân đạt 23,4% GDP (nằm trong mục tiêu 23-24% GDP của CLTC), trong đó tỷ lệ huy động từ thuế, phí đạt 21,6% GDP (khá sát với mục tiêu 22-23%). Cơ cấu thu NSNN chuyển biến tích cực, thu nội địa chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong tổng thu NSNN, tăng từ 59% giai đoạn 2006 – 2010 lên 67,8% giai đoạn 2011 – 2015, riêng năm 2015 đạt 74,2%, cao hơn mục tiêu đề ra. Trong cơ cấu thu nội địa, giai đoạn 2011-2015 thu từ khu vực công thương nghiệp và dịch vụ ngoài Nhà nước là 18,6% (giai đoạn 2006-2010 là 18%); thu từ doanh nghiệp đầu tư nước ngoài là 19% (giai đoạn 2006-2010 là 18,07%); số thu từ khu vực doanh nghiệp nhà nước tăng gấp 2 lần so với giai đoạn 2006-2010 song xét về tỷ trọng có xu hướng giảm dần từ 30,5% giai đoạn 2006-2010 xuống 26% trong giai đoạn 2011-2015 do Nhà nước thực hiện chính sách sắp xếp, cổ phần hoá, tái cơ cấu DNNN. Điều này đã thể hiện xu thế chuyển dịch thu NSNN phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế trong nước và quá trình hội nhập.

Hình 3.1. Cơ cấu thu NSNN 2011-2015 (%)

Nguồn: Bộ Tài chính

Huy động vốn trái phiếu chính phủ cũng đạt được những kết quả khả quan, góp phần quan trọng vào việc cân đối NSNN, đặc biệt trong năm 2015, mặc dù huy động vốn gặp khó khăn nhưng tổng huy động trái phiếu Chính phủ đã đạt trên 256 nghìn tỷ đồng, bằng 102,5% kế hoạch. Lãi suất phát hành TPCP được điều hành hợp lý nhằm tiết kiệm chi phí vay nợ cho ngân sách nhà nước. Bộ Tài chính cũng đã chủ động thực hiện giải pháp huy động tối đa từ các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi, như: tạm ứng từ nguồn tồn ngân kho bạc, vay Bảo hiểm Xã hội để đảm bảo nguồn cân đối ngân sách nhà nước và nhu cầu chi đầu tư phát triển theo các Nghị quyết của Quốc hội và Chính phủ. Bên cạnh đó, trong giai đoạn 2011-2015 Bộ Tài chính cũng đã ký kết được nhiều Hiệp định vay ODA, vay ưu đãi từ các đối tác phát triển, góp phần tạo nguồn lực cho đầu tư phát triển.

Về động viên nguồn lực từ đất đai, tài sản: Thu từ đất đai, tài nguyên thiên nhiên, tài sản nhà nước có xu hướng tăng qua các năm và chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong tổng thu NSNN. Riêng thu từ đất đai bình quân đạt khoảng 60.000 tỷ đồng/năm, chiếm khoảng 10% thu NSNN.

3.1.3. Nâng cao hiệu quả phân bổ và sử dụng các nguồn lực tài chính gắn với quá trình tái cơ cấu nền tài chính quốc gia

Chính sách phân bổ, quản lý và sử dụng các nguồn lực tài chính tiếp tục được hoàn thiện gắn với quá trình tái cơ cấu nền tài chính quốc gia, đảm bảo thực hiện phân bổ, quản lý và sử dụng các nguồn lực theo hướng tiết kiệm, hiệu quả.

Chi NSNN được điều hành theo hướng chặt chẽ, cắt giảm các khoản chi đã bố trí dự toán nhưng chưa triển khai hoặc phân bổ sai mục tiêu, đối tượng; thực hiện tiết kiệm chi thường xuyên; hạn chế bổ sung ngoài dự toán; cắt giảm hoặc lùi thời gian thực hiện các nhiệm vụ chi chưa thực sự cấp thiết, các khoản chi mua sắm trang thiết bị, xe ô tô; hạn chế tối đa tổ chức hội nghị, hội thảo quốc gia, lễ khởi công, khánh thành,…

Tái cơ cấu đầu tư công được đẩy mạnh, gắn với nâng cao hiệu quả đầu tư nguồn vốn NSNN. Cơ chế phân bổ vốn đầu tư từng bước được thực hiện theo kế hoạch trung hạn, tạo điều kiện cho các bộ, ngành, địa phương chủ động trong việc bố trí nguồn lực theo thứ tự ưu tiên phù hợp với tình hình thực tế; cơ chế phân cấp quản lý đầu tư tiếp tục được hoàn thiện; đồng thời tăng cường trách nhiệm của Chủ tịch UBND cấp tỉnh, chủ đầu tư, nhà thầu và tư vấn giám sát trong việc bảo đảm chất lượng và tiến độ công trình.

Đã thực hiện có kết quả các giải pháp để tăng cường quản lý đầu tư từ vốn NSNN và vốn trái phiếu chính phủ (TPCP); chủ động rà soát để thực hiện đình, hoãn, cắt giảm các dự án đầu tư chưa thực sự cấp thiết, đồng thời tập trung dành nguồn vốn để đầu tư vào những dự án ưu tiên, khắc phục tình trạng đầu tư dàn trải, lãng phí, kém hiệu quả. Chính sách, cơ chế quản lý tài sản công được hoàn thiện, đảm bảo sử dụng hiệu quả, tiết kiệm tài sản quốc gia. Việc xây dựng ban hành các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thực hiện Luật Dự trữ quốc gia cũng đã được triển khai đồng bộ, qua đó phát huy có hiệu quả nguồn lực dự trữ quốc gia trong công tác phòng chống lụt bão, đảm bảo an sinh xã hội và thực hiện nghĩa vụ quốc tế.

Kết quả là, tổng chi NSNN giai đoạn 2011-2015 đạt mức bình quân ước khoảng 28,7% GDP, cơ cấu chi ngân sách chuyển dịch theo hướng tăng chi cho con người[3]. Tỷ trọng chi đầu tư phát triển trên tổng chi NSNN đã giảm từ 28,2% năm 2010 xuống còn 21,4% năm 2013 và năm 2015 là 18,75%. Tỷ trọng chi thường xuyên trên tổng chi NSNN giai đoạn 2011-2015 ở mức trung bình 64,5%, tăng gần 10% so với các giai đoạn trước (giai đoạn 2006-2010 khoảng 55%)[4]. Đã chủ động bố trí NSNN ưu tiên đầu tư thực hiện cải cách tiền lương, chính sách an sinh xã hội và xóa đói giảm nghèo, nhất là đối với đồng bào các dân tộc thiểu số, đồng bào ở các xã đặc biệt khó khăn miền núi vùng sâu, vùng xa,…[5] Tổng chi cho giáo dục đào tạo[6], khoa học và công nghệ, sự nghiệp bảo vệ môi trường tiếp tục được đảm bảo theo các Nghị quyết của Đảng và chính sách của Nhà nước. Chi trả nợ được đảm bảo đầy đủ đối với các khoản vay đến hạn đối với các khoản nợ nước ngoài (cả gốc và lãi), đối với nợ trong nước từ năm 2012 đảm bảo chi trả lãi và trả một phần nợ gốc, đồng thời thực hiện vay đảo nợ.

Hình 3.2. Tổng chi NSNN giai đoạn 2011-2015 (tỷ đồng)

 

Nguồn: Bộ Tài chính

Hình 3.3. Cơ cấu chi NSNN 2011-2015

 

Nguồn: Bộ Tài chính

Nguồn lực NSNN, nguồn vốn TPCP và vốn ODA được ưu tiên đầu tư các công trình quan trọng theo hướng đồng bộ, có trọng tâm trọng điểm, có tính kết nối, lan tỏa, tạo động lực như các chương trình mục tiêu quốc gia; các chương trình mục tiêu quan trọng thuộc các lĩnh vực giao thông, thủy lợi, y tế, giáo dục; vốn đối ứng cho các dự án hạ tầng KT-XH… Bên cạnh đầu tư trực tiếp, Nhà nước còn thực hiện cho vay vốn tín dụng đầu tư để phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội, nông nghiệp nông thôn, công nghiệp, các dự án đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh tế-xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn… Đầu tư của các DNNN đã được cơ cấu lại theo hướng tập trung vào các lĩnh vực then chốt, ngành kinh tế mũi nhọn, góp phần nâng cao năng lực sản xuất của nền kinh tế.

Hiệu lực, hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát được tăng cường, góp phần nâng cao kỷ luật tài chính, thực hành tiết kiệm và chống lãng phí. Chi NSNN được điều hành theo hướng chặt chẽ, cắt giảm các khoản chi đã bố trí dự toán nhưng chưa triển khai hoặc phân bổ sai mục tiêu, đối tượng; công tác thanh tra tài chính – ngân sách được đẩy mạnh, qua đó phát hiện, chấn chỉnh, xử lý kịp thời các sai phạm. Cơ quan tài chính các cấp và Kho bạc Nhà nước thực hiện kiểm soát chi chặt chẽ, đảm bảo đúng mục đích, đối tượng và hiệu quả. Nhờ đó, đã khắc phụ một bước tình trạng nợ đọng xây dựng cơ bản, hạn chế đầu tư dàn trải, góp phần nâng cao hiệu quả phân bổ, quản lý và sử dụng các nguồn lực tài chính.

Công tác quản lý dự trữ quốc gia được tăng cường; phát huy có hiệu quả nguồn lực dự trữ quốc gia trong công tác phòng chống lụt bão, đảm bảo an sinh xã hội và thực hiện nghĩa vụ quốc tế. Tổ chức quản lý, khai thác hiệu quả hơn các nguồn lực tài sản công[7].

Bên cạnh đó, công tác quản lý giá cũng được đẩy mạnh triển khai: Thực hiện công khai, minh bạch trong điều hành đối với giá năng lượng và các hàng hóa, dịch vụ quan trọng, thiết yếu khác theo quy định của pháp luật về giá. Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra việc chấp hành pháp luật về giá. Giám sát chặt chẽ hoạt động đăng ký, kê khai giá của doanh nghiệp, kiểm soát chặt chẽ phương án giá và mức giá đối với hàng hóa, dịch vụ do Nhà nước định giá, được mua sắm từ NSNN. Chủ động, tích cực phối hợp nội dung về quản lý giá với các lực lượng chức năng trong công tác chống buôn lậu, gian lận thương mại, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới; kiểm tra, xử lý các hành vi mua bán, vận chuyển hàng cấm, hàng giả, hàng kém chất lượng, mất vệ sinh an toàn thực phẩm. Tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền về giá trên các phương tiện thông tin đại chúng, tạo sự đồng thuận trong xã hội. Đồng thời, đã phối hợp với Bộ Công thương và các bộ, ngành liên quan thực hiện quản lý, điều hành đối với các mặt hàng quan trọng, thiếu yếu như điện, than, xăng dầu, sữa; điều chỉnh giá dịch vụ công (học phí, viện phí,…) theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, góp phần góp phần kiềm chế lạm phát.

3.1.4. Đổi mới cơ chế tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công cùng với đẩy mạnh đa dạng hóa nguồn lực xã hội phát triển dịch vụ công

Cơ chế tài chính đối với lĩnh vực sự nghiệp công tiếp tục được đổi mới theo hướng tập trung vào việc tăng cường trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các đơn vị sự nghiệp công lập[8]; Tăng cường tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong việc quản lý, sử dụng, khai thác tài sản được Nhà nước giao đã góp phần quan trọng nâng cao chất lượng dịch vụ công, giảm áp lực chi cho NSNN và cải thiện đời sống cho người lao động; xây dựng lộ trình để xóa bỏ bao cấp qua giá, phí cung cấp dịch vụ sự nghiệp công; tạo điều kiện cho Nhà nước cơ cấu lại chi NSNN, dành thêm nguồn lực để chăm lo tốt hơn cho các đối tượng chính sách, các đối tượng hộ nghèo, bảo trợ xã hội… Có thể đánh giá trên một số mặt như sau:

– Về đổi mới cơ cấu và phương thức đầu tư từ NSNN: Tiếp tục tăng cường đầu tư đối với các lĩnh vực sự nghiệp công thiết yếu phù hợp với khả năng của NSNN và thực hiện cơ cấu lại chi NSNN đối với lĩnh vực dịch vụ sự nghiệp công theo hướng từng bước thu hẹp đối tượng, phạm vi các đơn vị sự nghiệp công lập được hỗ trợ chi thường xuyên từ NSNN so với hiện nay; chỉ có dịch vụ sự nghiệp công sử dụng NSNN mới được Nhà nước hỗ trợ kinh phí. Đối với dịch vụ sự nghiệp công không sử dụng NSNN thì các đơn vị được thực hiện theo cơ chế giá thị trường, tự cân đối thu, chi; NSNN không hỗ trợ[9].

– Đổi mới cơ chế giá dịch vụ sự nghiệp công lập: Tiếp tục khuyến khích và tạo điều kiện, môi trường hoạt động bình đẳng cho các tổ chức, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế tham gia cung cấp dịch vụ sự nghiệp công theo quy định của pháp luật. Theo đó, giá dịch vụ sự nghiệp công[10] và lộ trình tính giá dịch vụ sự nghiệp công[11] đã tạo cơ sở cho các đơn vị sự nghiệp công tiến tới hạch toán đầy đủ, tạo điều kiện chuyển sang cơ chế tự chủ ở mức cao hơn. Đồng thời Nhà nước sẽ hỗ trợ trực tiếp cho các đối tượng chính sách (người có công, người nghèo…) sử dụng dịch vụ sự nghiệp công, phù hợp với lộ trình giá dịch vụ sự nghiệp công.

–  Xã hội hoá dịch vụ công được đẩy mạnh: Trong 5 năm qua, Bộ Tài chính đã tích cực triển khai thực hiện các chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với các hoạt động trong các lĩnh vực từ y tế, giáo dục, dạy nghề đến văn hóa, thể thao và môi trường,…[12] như: chính sách miễn giảm thuế, ưu đãi về tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, ưu đãi tín dụng,… Việc triển khai đã bước đầu động viên, huy động được một nguồn lực xã hội đáng kể đầu tư cho các lĩnh vực trên, làm giảm áp lực cho các cơ sở công lập, tạo những cơ hội thuận lợi cho người dân được tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản; nâng cao trách nhiệm và tính tự chủ, năng động, sáng tạo của các cơ sở cung cấp dịch vụ thuộc các lĩnh vực thực hiện xã hội hóa, khuyến khích khiến mở rộng và phát triển các cơ sở này. Đồng thời, các cơ sở cung cấp những dịch vụ cơ bản ngoài công lập đã cùng với hệ thống các đơn vị công lập đã đáp ứng tốt hơn các nhu cầu ngày càng tăng của toàn xã hội, tăng khả năng tiếp cận và thụ hưởng dịch vụ cho người dân.[13]

– Tính công khai, minh bạch, dân chủ và trách nhiệm giải trình trong quản lý tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp được nâng cao: Cơ chế quản lý tài chính trong các đơn vị sự nghiệp tiếp tục được hoàn thiện và nâng cao tính công khai, dân chủ và trách nhiệm giải trình trong quản lý tài chính thông qua việc giao Thủ trưởng các đơn vị sự nghiệp xây dựng và tổ chức thực hiện quy chế chi tiêu nội bộ, quy chế sử dụng tài sản, quy chế dân chủ cơ sở, quy chế công khai tài chính, kiểm toán nội bộ theo quy định.

3.1.5. Hoàn thiện chính sách, cơ chế tài chính doanh nghiệp; thực hiện tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước

Trong giai đoạn 2011-2015, đã trình Quốc hội thông qua Luật Quản lý. sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp; đã trình Chính phủ ban hành 23 Nghị định, Thủ tướng Chính phủ ban hành 02 Quyết định nhằm đổi mới tổ chức, quản lý hoạt động của DNNN; đã trình Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ ban hành 05 nghị định và 05 quyết định để thực hiện tái cơ cấu, cổ phần hóa và thoái vốn tại doanh nghiệp. Đồng thời, phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan để trình Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ ban hành các văn bản pháp luật để tổ chức quản lý doanh nghiệp và tổ chức sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp.

Kết quả là sau 03 năm triển khai Quyết định số 929/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt đề án tái cơ cấu của 20/20 tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước; các Bộ, ngành, địa phương đã phê duyệt được 79 đề án của tổng công ty nhà nước. Trong giai đoạn 2011-2015 đã sắp xếp được 558 doanh nghiệp, trong đó cổ phần hóa được 478 doanh nghiệp (đạt 93% kế hoạch) và sắp xếp theo các hình thức khác 80 doanh nghiệp (giao 1 doanh nghiệp, bán 10 doanh nghiệp; sáp nhập 33 doanh nghiệp, hợp nhất 14 doanh nghiệp; giải thể 9 doanh nghiệp, phá sản 6 doanh nghiệp; chuyển thành đơn vị sự nghiệp 1 đơn vị; chuyển thành công ty TNHH hai thành viên trở lên 6 doanh nghiệp). Việc thoái vốn đầu tư ngoài ngành vào năm lĩnh vực bất động sản, chứng khoán, tài chính – ngân hàng, bảo hiểm và quỹ đầu tư) được triển khai quyết liệt. Trong giai đoạn 2011-2015, các đơn vị đã thoái được 11.036 tỷ đồng, thu về 10.742 tỷ đồng; riêng năm 2014 và năm 2015 đã thoái được 9.841 tỷ đồng, thu về 9.641 tỷ đồng. Bên cạnh đó, trong giai đoạn 2011-2015, SCIC đã thực hiện bán vốn tại 368 doanh nghiệp, trong đó bán hết vốn nhà nước tại 336 doanh nghiệp, bán bớt vốn nhà nước tại 30 doanh nghiệp và bán quyền mua tại 02 doanh nghiệp. Tổng giá trị thu về đạt 6.998 tỷ đồng, gấp 2,4 lần giá trị đầu tư (2.940 tỷ đồng), thặng dư bán vốn là 4.058 tỷ đồng. Chênh lệch bán vốn của SCIC được hạch toán vào kết quả kinh doanh và thực hiện phân phối, nộp NSNN như các DNNN khác.

Nhìn chung, với việc thực hiện quyết liệt các định hướng về tái cơ cấu đến nay hiệu quả hoạt động, sức cạnh tranh của DNNN được cải thiện đáng kể, tình trạng đầu tư dàn trải, đầu tư vào các ngành, lĩnh vực không phải là ngành kinh doanh chính đã được khắc phục và chấn chỉnh. Cơ cấu DNNN đã từng bước được sắp xếp, điều chỉnh phù hợp với yêu cầu phát triển theo lĩnh vực, ngành nghề cũng như xu hướng phát triển kinh tế – xã hội qua từng giai đoạn. DNNN cơ bản chỉ tập trung nắm giữ ở một số lĩnh vực như: Cung ứng các dịch vụ thiết yếu, trực tiếp phục vụ an ninh, quốc phòng, an sinh xã hội, các sản phẩm công ích và các ngành, lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế mà các thành phần khác chưa có khả năng đáp ứng đầy đủ nhu cầu của xã hội. Vốn nhà nước đầu tư vào DNNN cơ bản được bảo toàn, phát triển. Hiệu quả hoạt động mua bán nợ của Công ty mua bán nợ Việt Nam (DATC) đã góp phần thúc đẩy tiến trình cổ phần hóa DNNN thông qua việc cơ cấu nợ, xử lý tài chính trước khi cổ phần hóa và tăng cường năng lực tài chính, hỗ trợ doanh nghiệp cổ phần hóa ổn định phát triển sản xuất, kinh doanh.

3.1.6. Phát triển đồng bộ thị trường tài chính và dịch vụ tài chính

Thị trường tài chính, bảo hiểm, dịch vụ tài chính tiếp tục phát triển ổn định, quá trình tái cơ cấu thị trường chứng khoán, bảo hiểm được thực hiện đồng bộ, đảm bảo tiến độ đề ra.

Hệ thống các cơ chế, chính sách đẩy mạnh tái cơ cấu và phát triển các thị trường tài chính, dịch vụ tài chính được tiếp tục hoàn thiện đồng bộ, phù hợp với đường lối phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN và các cam kết hội nhập; bảo đảm quá trình giao dịch, vận hành và quản lý thông suốt, an toàn, công khai, minh bạch. Đã tạo được khuôn khổ pháp lý để phát triển hoạt động của các tổ chức xếp hạng tín nhiệm, TTCK phái sinh, lĩnh vực kế toán, kiểm toán, từng bước ổn định và nâng cao định mức xếp hạng tín nhiệm quốc gia, tạo điều kiện giảm dần chi phí huy động trên thị trường vốn quốc tế. Bên cạnh đó, hành lang pháp lý hỗ trợ quá trình tái cơ cấu thị trường tài chính, bao gồm bảo hiểm, chứng khoán và ngân hàng cũng tiếp tục được đẩy mạnh. Đồng thời, đẩy mạnh phát triển các nghiệp vụ, sản phẩm bảo hiểm mới như: bảo hiểm bắt buộc trong hoạt động xây dựng, bảo hiểm tàu cá, thuyền viên, bảo hiểm hưu trí tự nguyện,…

Kết quả là, giai đoạn 2011-2015 mặc dù thị trường tài chính thế giới có nhiều biến động, nhưng thị trường tài chính vẫn phát triển tích cực, tạo điều kiện thuận lợi cho việc huy động và nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực tài chính cho đầu tư phát triển. Cụ thể:

TTCK: Tính đến ngày 31/12/2015, mức vốn hóa thị trường tăng gấp 2 lần so với cuối năm 2010, đạt khoảng 3,5% GDP; dư nợ thị trường trái phiếu ngày càng cao, ước gấp 2,19 lần năm 2010, tương đương gần 24% GDP; thanh khoản được cải thiện, bình quân khoảng 2.500 tỷ đồng/phiên, gấp hơn 2,5 lần so với năm 2011… Trong giai đoạn 2011 – 2015, quy mô huy động vốn qua TTCK ước đạt 1,36 triệu tỷ đồng, gấp 4 lần so với giai đoạn 2006 – 2010, đóng góp ngày càng lớn vào tổng đầu tư toàn xã hội. Đến nay, số lượng tài khoản nhà đầu tư đạt trên 1,5 triệu; có 29 quỹ đầu tư chứng khoán, với 17 quỹ mở, 02 quỹ ETF và 10 quỹ thành viên. Đồng thời, tập trung vào tái cơ cấu công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ theo hướng giảm số lượng, nâng cao chất lượng dịch vụ. Trong năm 2015, đã thực hiện tái cơ cấu 24 công ty chứng khoán và 9 công ty quản lý quỹ.

Quy mô và vai trò của thị trường bảo hiểm tiếp tục được nâng cao: hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH) được tăng cường, số lượng sản phẩm phát triển đa dạng; nâng cao mức độ an toàn tài chính và hiệu quả hoạt động đầu tư; tăng cường năng lực quản trị của DNBH; các chế độ chính sách trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm được rà soát và hoàn thiện tạo thuận lợi cho sự phát triển của thị trường bảo hiểm. Giai đoạn 2011 – 2015, tổng doanh thu toàn thị trường ước tăng trung bình 16%/năm, tổng số tiền đầu tư trở lại nền kinh tế ước tăng trung bình khoảng 17,5%/năm. Đến nay, thị trường bảo hiểm có 60 DNBH và 01 chi nhánh DNBH phi nhân thọ nước ngoài với trên 1.200 sản phẩm bảo hiểm.

Thị trường dịch vụ kế toán, kiểm toán, tư vấn thẩm định giá, tư vấn thuế, đại lý hải quan tiếp tục được củng cố và phát triển: Đa dạng hóa chủ thể tham gia thị trường, phạm vi cung ứng dịch vụ được mở rộng, chất lượng được nâng cao.

Thị trường dịch vụ tư vấn thẩm định giá tài sản tiếp tục được củng cố, phát triển: Góp phần làm thị trường tài sản trở nên công khai, minh bạch; giúp cho việc quản lý và sử dụng hiệu quả các tài sản và các nguồn lực; giảm thiểu những rủi ro trong đầu tư; đảm bảo lợi ích hợp pháp và chính đáng của các bên tham gia thị trường thông qua việc xác định đúng giá trị của các tài sản. Tính đến cuối năm 2015 có 188 công ty thẩm định giá và 1.452 thẩm định viên về giá, tổng giá trị tài sản thẩm định giá bình quân khoảng 1.031 nghìn tỷ đồng, doanh thu dịch vụ thẩm định giá bình quân khoảng gần 500 tỷ đồng.

Tính đến năm 2015, có 142 doanh nghiệp kiểm toán và 57 công ty kinh doanh dịch vụ kế toán. Năm 2015, doanh thu bình quân toàn ngành kiểm toán là 5.129.565 triệu đồng; doanh thu bình quân thị trường dịch vụ kế toán là 426.539 triệu đồng.

3.1.7. Đẩy mạnh hoạt động hợp tác và chủ động hội nhập quốc tế về tài chính

Đã tích cực triển khai thực thi cam kết cắt giảm thuế quan, mở cửa thị trường, đặc biệt là các cam kết trong WTO và 9 hiệp định thương mại tự do đã ký kết[14], đảm bảo tính tuân thủ, đúng lộ trình và có trách nhiệm. Bên cạnh đó, tính đến hết năm 2015, đã ký kết 74 Hiệp định thuế Việt Nam; 08 Điều ước quốc tế và 26 thỏa thuận quốc tế về hợp tác trong lĩnh vực hải quan.

Đã chủ động xây dựng phương án và kết thúc đàm phán đối với những nội dung thuộc lĩnh vực tài chính trong Hiệp định đối tác thương mại xuyên Thái Bình Dương (TPP), Hiệp định Việt Nam – EU. Bên cạnh đó, tiếp tục triển khai nhiệm vụ đàm phán với một số đối tác khác như Hiệp định kinh tế toàn diện khu vực giữa 10 nước ASEAN và 6 nước đối tác (RCEP); FTA Việt Nam – EFTA (Thụy Sỹ, Na Uy, Ai-xơ-len và Lích-ten-xtanh), FTA ASEAN – Hồng Kông; chủ động chuẩn bị đàm phán các FTA Việt Nam – Cu ba, FTA Việt Nam – Israel.

Đồng thời, đã chủ động và tham gia tích cực vào các hoạt động hợp tác tài chính trong khuôn khổ các diễn đàn hợp tác khu vực và quốc tế như ASEAN, ASEAN+3, APEC, ASEM, EAS và G20…; qua đó đẩy mạnh quá trình giám sát kinh tế vĩ mô và đối thoại chính sách, hoàn thiện cơ chế chính sách trong nước, đa dạng hóa các kênh huy động vốn để phát triển kinh tế – xã hội, tạo động lực thúc đẩy cải cách trong nước như phát triển cơ sở hạ tầng, thúc đẩy tăng trưởng bền vững.

Ngành tài chính cũng đã tích cực phát huy vai trò là cơ quan chủ trì thực thi các nội dung cam kết về tài chính trong các Hiệp định xây dựng chính sách, cơ sở dữ liệu và các thông tin ngành, cơ chế đánh giá tác động để sẵn sàng kịp thời phản ứng với các tác động tiêu cực từ việc thực thi các Hiệp định có liên quan. Phát huy vai trò của các diễn đàn hợp tác tài chính để chuyển hóa kinh nghiệm của các nước thành cơ chế, chính sách trong nước

3.1.8. Nâng cao năng lực hiệu quả kiểm tra, thanh tra, giám sát và đảm bảo an ninh tài chính quốc gia

Trong giai đoạn 2011-2015, công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát và đảm bảo an ninh tài chính quốc gia được chú trọng tăng cường, hướng đến nâng cao hiệu quả trên nhiều lĩnh vực. Chất lượng, năng lực công tác kiểm tra, thanh tra ngành Tài chính có nhiều tiến bộ; công tác thực hành tiết kiệm chống lãng phí, phòng chống tham nhũng có nhiều chuyển biến tích cực; khả năng giám sát đối với khu vực doanh nghiệp được nâng cao; công tác giám sát, quản lý rủi ro và bảo đảm an toàn về nợ quốc gia được tăng cường; năng lực giám sát kinh tế vĩ mô cũng có sự cải thiện.

Nợ công, nợ chính phủ và nợ quốc gia được quản lý chặt chẽ, các chỉ tiêu về nợ cơ bản nằm trong giới hạn đề ra; đồng thời, đã thực hiện trả nợ đầy đủ, đúng hạn, không để xảy ra tình trạng nợ quá hạn, đảm bảo uy tín và các cam kết của Chính phủ. Đã tập trung các biện pháp để tăng cường công tác quản lý nợ công như: quản lý chặt chẽ, đảm bảo đúng quy định; nợ công phải tập trung cho đầu tư phát triển; tiếp tục cơ cấu lại nợ công; rà soát, hoàn thiện thể chế về quản lý nợ công; từng bước cơ cấu lại danh mục TPCP, kéo dài thời hạn vay nhằm giảm dần áp lực trả nợ, đảo nợ và rủi ro tái cấp vốn. Ước đến 31/12/2015, tỷ lệ nợ công ở mức 62,2% GDP, nợ Chính phủ 50,3% GDP và nợ nước ngoài của quốc gia ở mức 43,1% GDP[15].

Bên cạnh đó, năng lực và công tác dự báo, đánh giá chính sách và nghiên cứu khoa học phục vụ hoạch định chính sách, xây dựng tài chính quốc gia và các chiến lược của Ngành được củng cố và từng bước nâng cao. Trong giai đoạn 2011- 2015 đã tổ chức được nhiều khóa học nâng cao năng lực phân tích, dự báo và đã sử dụng phương pháp luận đánh giá chính sách phục vụ cho công tác điều hành và xây dựng khung khổ pháp lý có liên quan trong một số lĩnh vực của Ngành Tài chính,… Đồng thời, thông qua các hoạt động hợp tác tư vấn, các nhà tài trợ cũng đã phối hợp và hỗ trợ Bộ Tài chính triển khai một số hoạt động như: Nâng cao năng lực cán bộ trong đánh giá tác động của hội nhập tài chính, trong hoạch định chính sách tài chính có tính đến yếu tố giới và trong phân tích thống kê tài chính theo các chuẩn mực và thông lệ quốc tế (GFS); tăng cường năng lực trong các lĩnh vực quản lý tài chính công,…

3.1.9. Đẩy mạnh cải cách hành chính trong lĩnh vực tài chính, hoàn thiện phương thức điều hành chính sách tài chính

Bộ Tài chính những năm qua đã quyết liệt triển khai xây dựng các chương trình, kế hoạch cải cách hành chính một cách đồng bộ và toàn diện trên các lĩnh vực tài chính. Cải cách hành chính trong lĩnh vực tài chính đạt được nhiều kết quả tích cực, quan trọng. Chỉ số cải cách hành chính có sự cải thiện rõ rệt; đã rà soát, đơn giản hoá thủ tục hành chính thuế, hải quan; rút ngắn số giờ nộp thuế. Tính đến hết năm 2015, số giờ nộp thuế giảm còn 117 giờ (vượt so với mức mục tiêu 121,5 giờ đã được đề ra trong Nghị quyết số 19/NQ-CP); thực hiện chuẩn hoá và ban hành quyết định sửa đổi, bổ sung 46/70 quy trình, quy chế (bao gồm cả quy trình, quy chế nội bộ); cắt giảm 63 thủ tục hành chính và đơn giản hóa 262 thủ tục hành chính về thuế nội địa; ban hành mới 23 thủ tục, thay thế 128 thủ tục, bãi bỏ 84 thủ tục, đề xuất phương án đơn giản hóa 11 thủ tục trong lĩnh vực hải quan. Mở rộng áp dụng nộp thuế điện tử trên phạm vi cả nước. với 98,95% số doanh nghiệp đã thực hiện khai thuế qua mạng đang thuộc diện quản lý thuế nội địa; triển khai hải quan điện tử tại 100% cục và chi cục hải quan địa phương. Cơ chế một cửa quốc gia (NSW) và kết nối kỹ thuật cơ chế một cửa ASEAN (ASW) đã chính thực hiện từ tháng 9/2015[16].

Cùng với việc cải cách đổi mới về thể chế, ứng dụng công nghệ thông tin được triển khai mạnh mẽ và toàn diện, trong đó đã xây dựng và vận hành có kết quả một số hệ thống công nghệ thông tin hiện đại, theo chuẩn quốc tế lớn như hệ thống tích hợp thông tin quản lý ngân sách và kho bạc (TABMIS), hệ thống thông quan tự động (VNACCS/VCIS),… Hệ thống KBNN đã cải cách thủ tục hành chính, ứng dụng CNTT, phối hợp thu NSNN với ngân hàng thương mại, cơ quan Thuế tập trung nhanh, đẩy đủ các khoản thu của NSNN. Những nỗ lực cải cách trong quản lý hành chính thuế, hải quan đã được cộng đồng doanh nghiệp, nhà đầu tư trong và ngoài nước đánh giá rất cao. 

Bộ máy tổ chức quản lý tài chính và chất lượng nguồn nhân lực tiếp tục được kiện toàn. Thực hiện rà soát, sắp xếp lại chức năng, nhiệm vụ của các đơn vị, đảm bảo nguyên tắc phân định rõ trách nhiệm, quyền hạn; kết hợp phân định chức năng nhiệm vụ gắn với chủ trương cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả của hoạt động quản lý nhà nước; đã từng bước thực hiện chuẩn hoá cán bộ, triển khai thực hiện quy hoạch cán bộ lãnh đạo trong toàn Ngành[17], bước đầu thực hiện việc điều động luân chuyển cán bộ; tổ chức hướng dẫn và thực hiện các quy định về phân cấp quản lý cán bộ; tiến hành rà soát lại và kịp thời có biện pháp tăng cường quản lý cán bộ của các đơn vị. Công tác bảo vệ chính trị nội bộ được chú trọng, công tác bổ nhiệm, bổ nhiệm lại cán bộ lãnh đạo các cấp được triển khai thường xuyên và đảm bảo đúng quy trình, minh bạch[18].

3.2. Một số tồn tại, hạn chế, thách thức và nguyên nhân

Bên cạnh những kết quả tích cực đã đạt được, việc triển khai thực hiện CLTC trong giai đoạn vừa qua đang bộc lộ một số khăn, thách thức cần phải giải quyết, đó là:

Thứ nhất, việc ban hành và tổ chức thực hiện một số cơ chế, chính sách tài chính mặc dù đảm bảo đúng kế hoạch, chương trình xây dựng luật, pháp lệnh; tuy nhiên, theo yêu cầu của sự phát triển, sự vận động của cơ chế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế cần phải được khẩn trương, toàn diện và đổi mới mạnh mẽ hơn nữa. Thời gian làm thủ tục thuế, hải quan tuy được rút ngắn đáng kể khoảng cách so với các nước ASEAN-4; nhưng cần phải nỗ lực hơn nữa đáp ứng các yêu cầu hội nhập trong TPP, Việt Nam –EU,…

Thứ hai, cân đối ngân sách khó khăn trong khi áp lực tăng chi ngân sách có xu hướng tăng, nhất là đối với yêu cầu chi đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, đảm bảo an sinh xã hội và xóa đói giảm nghèo. Tỷ lệ huy động thu NSNN có xu hướng giảm dần, trong khi cơ cấu chi ngân sách đã thay đổi theo hướng tỷ trọng chi thường xuyên và trả nợ tăng nhanh, tỷ trọng chi đầu tư phát triển giảm nhanh trong bối cảnh các nguồn vốn ngoài NSNN tăng chậm làm ảnh hưởng đến đầu tư cơ sở hạ tầng kinh tế – xã hội. Vẫn còn tình trạng thất thu thuế, nợ đọng thuế, gian lận thuế làm ảnh hưởng đến thu NSNN.

Việc tăng bội chi NSNN và tăng phát hành TPCP thời gian qua bên cạnh tác động tích cực tăng nguồn vốn cho đầu tư phát triển song đang tạo áp lực trong bố trí chi trả nợ các năm sau và tác động tăng nợ công.

Thứ ba, việc huy động nguồn lực của khu vực tư nhân cho việc đầu tư các cơ sở hạ tầng kỹ thuật thiết yếu còn thấp trong khi NSNN ngày càng hạn hẹp về quy mô, phạm vi chi. Chính sách chi NSNN, nhất là các chính sách về xóa đói giảm nghèo, đảm bảo an sinh xã hội và một số chương trình mục tiêu, chương trình mục tiêu quốc gia còn trùng lặp về chính sách và nội dung chi. Nguồn lực NSNN bố trí cho dự trữ quốc gia chưa đạt được mục tiêu chiến lược đề ra.

Thứ tư, việc ban hành các Nghị định về cơ chế tự chủ đối với các đơn vị sự nghiệp công trong từng lĩnh vực (giáo dục, khoa học công nghệ…), danh mục dịch vụ sự nghiệp công, quy hoạch mạng lưới các đơn vị sự nghiệp công lập, sửa đổi, bổ sung định mức kinh tế kỹ thuật của các Bộ, ngành, địa phương còn chậm làm ảnh hưởng tới việc thực hiện lộ trình giá dịch vụ sự nghiệp công, cũng như tiến độ triển khai cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các đơn vị sự nghiệp công lập.

Thứ năm, tiến độ sắp xếp, cổ phần hoá DNNN còn chậm. Quá trình thoái vốn đầu tư ngoài ngành còn gặp khó khăn. Tình hình tài chính và hiệu quả sản xuất kinh doanh của một số tập đoàn, tổng công ty chưa tương xứng với nguồn lực nắm giữ (quy mô vốn, tài sản), chưa phát huy tiềm năng, lợi thế.

Những hạn chế nêu trên xuất phát từ cả nguyên nhân chủ quan và nguyên nhân khách quan, đó là:

Một là, những khó khăn nội tại của nền kinh tế cũng như tác động suy giảm của kinh tế thế giới đã dẫn đến tăng trưởng kinh tế thấp hơn dự kiến và thấp hơn giai đoạn trước; để tháo gỡ khó khăn cho DNNN đã điều chỉnh chính sách động viên thu, làm giảm thu trong ngắn hạn. Cân đối NSNN cùng lúc phải sắp xếp, cân đối nguồn lực để cải cách chính sách tiền lương, bảo hiểm xã hội, trợ cấp ưu đãi người có công, tăng chi cho an sinh xã hội và tăng chi cho lĩnh vực nông nghiệp.

Hai là, mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội nói chung và Chiến lược tài chính đến năm 2020 nói riêng được đưa ra chưa lường hết được các tác động bất lợi đối với nền kinh tế nên các chỉ tiêu thu/chi NSNN, bội chi NSNN đã được xây dựng trên cơ sở dự báo tình hình kinh tế tài chính tích cực. Khả năng nắm bắt, phân tích, dự báo còn hạn chế nên một số chính sách, giải pháp đề ra còn chưa kịp thời.

Ba là, tư duy bao cấp vẫn còn tồn tại trong việc xây dựng và tổ chức thực hiện ở một số lĩnh vực. Chưa thực sự coi trọng một cách đầy đủ vai trò của thị trường trong huy động và phân bổ các nguồn lực trong xã hội.

Ngoài ra, vấn đề về chất lượng nguồn nhân lực, nguồn lực để đầu tư cơ sở hạ tầng cho triển khai thực hiện các nhiệm vụ của Ngành tài chính, sự phối kết hợp giữa các Bộ, ngành, địa phương,… cũng là những nguyên nhân ảnh hưởng đến các kết quả triển khai thực hiện Chiến lược Tài chính trong 5 năm qua.

Trên cơ sở những kết quả đạt được, hạn chế, thách thức và nguyên nhân, có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm như sau:

Một là, quán triệt đường lối, chủ trương của Đảng trong công tác xây dựng và tổ chức thực hiện các định hướng đề ra. Trong chỉ đạo, điều hành thực hiện chiến lược, cần coi trọng công tác phân tích, dự báo tình hình để tạo điều kiện chủ động, linh hoạt và ứng phó nhanh với những biến động về kinh tế – tài chính trong và ngoài nước. Đảm bảo tính công khai minh bạch trong công tác xây dựng, tổ chức thực hiện chính sách. Để làm được điều này cần hoàn thành cơ bản việc xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu tài chính quốc gia và các hệ thống cơ sở dữ liệu chuyên ngành như: thuế, hải quan, giá, tài sản công,…

Hai là, coi trọng vai trò và ý nghĩa của việc tăng cường phối hợp giữa các cơ quan Bộ, ngành, địa phương trong việc thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ về tài chính NSNN, trong đó phải kiên định với việc thực hiện những nhiệm vụ được xác định là trọng tâm, là đột phá. Đồng thời, phải tăng cường công tác tuyên truyền, thông tin kịp thời, chính xác, đúng định hướng của Đảng và Nhà nước. Các thể chế, chính sách, chiến lược và kế hoạch phát triển trung và dài hạn của đất nước, của các ngành, lĩnh vực phải được tuyên truyền, quán triệt rộng rãi, đảm bảo tính thực thi trên thực tế.

Ba là, đảm bảo gắn kết chặt chẽ cơ chế, chính sách tài chính với các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội của đất nước; coi trọng tính cân đối, hiệu quả trong tất cả các khâu huy động, phân bổ, sử dụng các nguồn lực tài chính cho phát triển kinh tế – xã hội.

Bốn là, giữ vững kỷ luật, kỷ cương tài chính. Việc ban hành các chính sách mới làm tăng chi NSNN phải căn cứ khả năng nguồn lực, nhất là nguồn ngân sách phải cân đối được; Kế hoạch đầu tư trung hạn nguồn NSNN phải nằm trong khung cân đối NSNN trong từng giai đoạn. Chỉ quyết định đầu tư các dự án khi xác định rõ nguồn lực và trách nhiệm bố trí vốn, vốn đầu tư của các dự án hàng năm phải bố trí được theo cam kết chi của kế hoạch đầu tư trung hạn.

Năm là, phải tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra chấp hành pháp luật về tài chính, đảm bảo chất lượng của đội ngũ cán bộ làm công tác tài chính, tham mưu xây dựng chính sách; Phối hợp đồng bộ vai trò lãnh đạo của Đảng; hiệu quả, hiệu lực của bộ máy hành chính.

Đánh giá chung, sau 5 năm thực hiện CLTC về cơ bản đã đảm bảo được các quan điểm và mục tiêu tổng quát của Chiến lược tài chính. Đó là, tiềm lực tài chính quốc gia tiếp tục được củng cố; an ninh tài chính được đảm bảo; cơ chế, chính sách tài chính – NSNN đã góp phần tích cực huy động nguồn lực cho đầu tư phát triển; công tác phân phối và sử dụng nguồn lực tài chính công, đặc biệt là NSNN đã được cải thiện theo hướng công khai, minh bạch, nâng cao hiệu quả; hệ thống các cơ chế, chính sách tài chính tiếp tục được hoàn thiện từng bước phù hợp với thể chế kinh tế thị trường và yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế; điều hành chính sách tài chính đã linh hoạt, chủ động, góp phần tích cực vào điều hành kinh tế, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội; cơ chế quản lý tài chính đối với các DNNN, các đơn vị sự nghiệp công lập và ngoài công lập được đổi mới; quá trình tái cơ cấu đầu tư công và tái cấu trúc khu vực doanh nghiệp nhà nước, thị trường tài chính đạt những kết quả quan trọng; đã hoàn thiện thêm một bước khuôn khổ pháp lý về kế toán, kiểm toán tạo điều kiện minh bạch thông tin kinh tế, tài chính phục vụ thương mại và đầu tư; đã tích cực, chủ động trong hội nhập quốc tế; công tác thanh tra, kiểm tra, đẩy mạnh thực hành tiết kiệm, phòng chống lãng phí được tăng cường; tổ chức bộ máy được đổi mới, cải cách hành chính đạt được nhiều kết quả quan trọng. Thành công trong hoạt động tài chính – NSNN giai đoạn vừa qua đã đóng góp tích cực vào thành công trong việc thực hiện các mục tiêu và nhiệm vụ về phát triển kinh tế xã hội đề ra, tạo nền tảng cho việc triển khai thực hiện CLTC giai đoạn 2016-2020, Kế hoạch Tài chính – NSNN 5 năm 2016-2020 và Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2016-2020.

 Tuy nhiên, bên cạnh đó việc triển khai thực hiện CLTC cũng còn một số khó khăn, hạn chế, một số chỉ tiêu tài chính – NSNN chưa đảm bảo mục tiêu đã đề ra của CLTC và các chiến lược ngành, lĩnh vực (Xem Phụ lục). Cơ cấu chi NSNN có những thay đổi, chi thường xuyên và trả nợ đang có xu hướng tăng, tỷ trọng chi đầu tư phát triển giảm, tổng mức dự trữ nhà nước còn thấp, cơ chế tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập còn chậm được đổi mới,… đang là những vấn đề cần phải có các giải pháp để khắc phục trong thời gian tới.

3.3. Định hướng giải pháp nhằm tiếp tục triển khai thực hiện hiệu quả chiến lược tài chính giai đoạn 2016 – 2020

Dự báo trong 5 năm tới việc triển khai thực hiện CLTC sẽ được hưởng lợi từ một số yếu tố từ bên trong và bên ngoài, tuy nhiên cũng sẽ chịu tác động không nhỏ từ những yếu tố bất lợi. Đó là:

Những mặt thuận lợi: Những thành tựu và kết quả thu được sau 30 năm đổi mới đã làm cho tiềm lực của Việt Nam không ngừng được mở rộng, trong đó có cả tiềm lực tài chính nhà nước. Đất nước đã ra khỏi thời kỳ khó khăn, chính trị và xã hội ổn định. Quá trình cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, tập trung vào 3 lĩnh vực quan trọng là tái cơ cấu lại đầu tư; cơ cấu lại thị trường tài chính, trọng tâm; tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước đã đạt được các kết quả bước đầu, tạo ra môi trường thuận lợi và tiền đề quan trọng để đẩy nhanh quá trình CNH, HĐH theo lộ trình đề ra. Bên cạnh đó, hội nhập quốc tế đã và đang tạo ra các cơ hội cho Việt Nam đẩy mạnh xuất khẩu, mở rộng thị trường và khai thác có hiệu quả các nguồn lực bên ngoài.

Hệ thống pháp luật trong nước cũng đang được điều chỉnh để từng bước tuân thủ đầy đủ hơn hệ thống các chuẩn mực, sự tôn trọng và tính thích ứng với các thông lệ quốc tế, phù hợp với các quy luật của kinh tế thị trường. Đặc biệt, hệ thống chính sách về quản lý tài chính công đã được đổi mới trên nhiều mặt, bao gồm cả chính sách động viên, chính sách quản lý chi NSNN, quản lý nợ công,… Các yếu tố của thể chế kinh tế thị trường ngày càng có vai trò lớn hơn trong quá trình phân bổ các nguồn lực xã hội cho các mục tiêu về phát triển kinh tế như xóa bỏ cơ chế bao cấp qua giá và các chính sách can thiệp hành chính… Công tác tổ chức hoạch định chính sách, thực thi pháp luật, điều hành kinh tế đã có bước tiến quan trọng và ngày càng có hiệu quả.

Những yếu tố bất lợi: Kinh tế thế giới nhưng năm gần đây tuy có ổn định hơn nhưng dự báo vẫn xuất hiện nhiều nhân tố khó lường. Các rủi ro đối với tăng trưởng kinh tế toàn cầu vẫn còn hiện diện do một số vấn đề có tính chất nền tảng như nợ công tăng cao, sự ổn định của khu vực tài chính chưa được xử lý một cách triệt để. Ngoài ra, chính sách lãi suất thấp từ sau khủng hoảng kinh tế toàn cầu 2008 đến nay tuy góp phần khôi phục lại sản xuất, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế toàn cầu song cũng chứa đựng nhiều rủi ro. Với mặt bằng lãi suất thấp như hiện nay, các nhà đầu tư sẽ có xu hướng tham gia vào các hoạt động có rủi ro cao. Thế giới có thể phải đối mặt với các rủi ro như từng đã gặp trong và trước thời điểm khủng hoảng 2008. Bên cạnh đó, khi Mỹ điều chỉnh tăng lãi suất thì dòng vốn có thể sẽ đảo chiều ra khỏi các quốc gia mới nổi và đang phát triển để quay trở lại các nước phát triển, ảnh hưởng đến tăng trưởng tại các nước mới nổi và đang phát triển và có thể gây ra một số xáo trộn đối với thị trường tài chính ở các nước này.

Khủng hoảng địa chính trị có thể diễn ra tại một số quốc gia, khu vực, tiềm ẩn những nhân tố gây mất ổn định, nhất là tranh giành ảnh hưởng, tranh chấp chủ quyền biển, đảo, tài nguyên… Một số quốc gia ngày càng thể hiện rõ quan điểm và mục tiêu muốn nâng tầm ảnh hưởng, thâm nhập vào kinh tế khu vực và kinh tế thế giới. Kinh tế thế giới và khu vực dự báo tiếp tục tăng trưởng ở mức thấp trong những năm tới; giá hàng hóa, nguyên liệu trên thị trường thế giới tiếp tục có nhiều biến động và bị chi phối bởi những yếu tố ngoài kinh tế. Việc Anh rời khỏi Liên minh châu Âu (EU) có thể tác động đến kinh tế của Anh, kinh tế các nước trong khối EU và qua đó ảnh hưởng đến kinh tế toàn cầu, chủ yếu thông qua kênh thương mại và đầu tư, trong đó có nước ta. 

Trong nước cũng đang bộc lộ một số điểm bất lợi, có khả năng tác động đến việc thực hiện các nhiệm vụ tài chính – NSNN trong giai đoạn tới. Đó là, kinh tế tăng trưởng chưa thực sự vững chắc, hiệu quả sử dụng nguồn lực còn hạn chế, kết cấu hạ tầng còn yếu kém, chất lượng nguồn nhân lực còn chậm được cải thiện. Nguồn lực để thực hiện các mục tiêu, định hướng phát triển kinh tế – xã hội đang có xu hướng giảm, đặc biệt là nguồn lực nhà nước. Cân đối NSNN khó khăn hơn trước tác động của các yếu tố bên ngoài cũng như bên trong. Tiếp cận vốn trên thị trường quốc tế, bao gồm cả nguồn vốn ODA, vốn gián tiếp và vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài sẽ khó khăn hơn, chi phí cao hơn. Hội nhập quốc tế và việc triển khai thực hiện các cam kết quốc tế về cắt giảm thuế quan có thể tác động làm giảm thu NSNN từ xuất, nhập khẩu. Một số vấn đề xã hội bức xúc đòi hỏi cần phải có thêm nguồn lực để giải quyết. Biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh, ô nhiễm môi trường cũng đặt ra nhiều thách thức đối với sản xuất, đời sống nhân dân cũng như nhiệm vụ tài chính – NSNN nói riêng và kinh tế – xã hội của đất nước nói chung. Việc thực hiện các Mục tiêu về phát triển bền vững 2030 (SDGs) mà nước ta đã cam kết thực hiện cũng sẽ đặt ra nhiều thách thức trong việc cân đối nguồn lực[19].

Vì vậy, trong giai đoạn 2016 – 2020, ngành Tài chính tiếp tục thực hiện có kết quả mục tiêu, định hướng của Chiến lược tài chính đến năm 2020 và các chiến lược ngành, lĩnh vực có liên quan. Bên cạnh đó, phải đảm bảo mục tiêu tổng quát đã được xác định tại Đại hội lần thứ XXIV của Đảng Bộ Bộ Tài chính, đó là “tập trung hoàn thiện và thực hiện hệ thống thể chế, chính sách tài chính đồng bộ tạo động lực cho phát triển kinh tế – xã hội của đất nước; huy động tốt, phân phối hiệu quả và quản lý có kỷ cương các nguồn lực tài chính quốc gia; đảm bảo an ninh, an toàn tài chính quốc gia; bảo đảm an sinh xã hội, an ninh quốc phòng và đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế.” Đồng thời, đảm bảo với các mục tiêu và giải pháp được xác định tại Nghị quyết Đại hội lần thứ XII của Đảng về Phương hướng phát triển kinh tế – xã hội 2016-2020 và Nghị quyết của Chính phủ về Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2016-2020, đặc biệt là trong lĩnh vực tài chính – ngân sách nhà nước[20]. Theo đó, một số mục tiêu cụ thể được đặt ra trong giai đoạn 2016-2020 là:

– Động viên hợp lý nguồn lực vào NSNN, phấn đấu tỷ lệ huy động vào NSNN trên GDP giai đoạn 2016-2020 bình quân khoảng 20 – 21% GDP, trong đó từ thuế, phí khoảng 19 – 20% GDP[21]. Quy mô thu NSNN giai đoạn 2016-2020 bằng khoảng 1,6 lần so với giai đoạn 2011-2015, trong đó quy mô thu nội địa từ sản xuất – kinh doanh tối thiểu bằng 2 lần và tỷ trọng thu nội địa (không bao gồm dầu thô) đến năm 2020 đạt trên 80% tổng thu NSNN (Không thay đổi so với Mục tiêu đã đề ra tại Chiến lược Tài chính).

– Giảm mức bội chi NSNN xuống 4% GDP vào năm 2020; Nợ công không quá 65% GDP; dư nợ nước ngoài quốc gia không quá 50% GDP; dư nợ Chính phủ không quá 55% GDP; nghĩa vụ trả nợ trực tiếp của Chính phủ so với tổng thu NSNN hàng năm không vượt quá 25%; nghĩa vụ trả nợ nước ngoài quốc gia hàng năm so với giá trị xuất khẩu không vượt quá 25%. (Không thay đổi so với Mục tiêu đã đề ra tại Chiến lược Tài chính).

– Đến năm 2020, tổng mức dự trữ quốc gia đạt khoảng 1,5% GDP. (Không thay đổi so với Mục tiêu đã đề ra tại Chiến lược Tài chính).

– Đến năm 2020, quy mô vốn hóa thị trường cổ phiếu đạt khoảng 70% GDP, dư nợ thị trường trái phiếu đạt 30% GDP, trong đó dư nợ trái phiếu Chính phủ đạt khoảng 22% GDP với kỳ hạn trung bình là 6-8 năm; nâng tỷ trọng nắm giữ TPCP của khối công ty bảo hiểm, quỹ hưu trí, công ty quản lý quỹ lên 18-20%; tổng doanh thu ngành bảo hiểm đạt 3 – 4% GDP (Không thay đổi so với Mục tiêu đã đề ra tại Chiến lược Tài chính).

– Thực hiện đồng bộ cải cách hành chính trong các lĩnh vực tài chính – NSNN nhằm cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Đến năm 2020 thời gian làm thủ tục xuất nhập khẩu tương đương hải quan các nước tiên tiến, phù hợp với các chuẩn mực quốc tế về hải quan. Thực hiện cơ chế một cửa quốc gia, tiến tới kết nối cơ chế một cửa ASEAN. Từ năm 2016 trở đi, thời gian thực hiện thủ tục thuế (bao gồm cả các tiêu chí mới) tương đương các nước ASEAN–4 (Đẩy nhanh tốc độ so với mục tiêu đã đề ra trong Chiến lược phát triển hải quan đến năm 2020, do các mục tiêu này đã đạt được từ năm 2015).

Để đạt được các mục tiêu trên, ngành Tài chính sẽ tập trung vào một số giải pháp sau:

3.3.1. Tiếp tục hoàn thiện thể chế trong lĩnh vực tài chính đảm bảo tính đồng bộ, phù hợp với nguyên tắc và quy luật của kinh tế thị trường định hướng XHCN và bối cảnh hội nhập quốc tế; đảm bảo chính sách tài khóa linh hoạt, chặt chẽ. Cụ thể:

Một là, đẩy mạnh hoàn thiện thể chế tài chính, đảm bảo tính đồng bộ, công khai, minh bạch, ổn định và phù hợp với yêu cầu thực tiễn đặt ra trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội của đất nước và các cam kết quốc tế. Khẩn trương xây dựng các văn bản hướng dẫn thực hiện luật NSNN năm 2015 để sớm đưa vào thực hiện kể từ năm 2017. Tập trung chỉ đạo xây dựng và nghiên cứu các đề án, cơ chế chính sách trọng tâm, đảm bảo hoàn thành đúng thời hạn với chất lượng tốt; hoàn chỉnh các đề án theo chương trình xây dựng Luật, Pháp lệnh của Quốc hội giai đoạn 2016 – 2020; tiếp tục triển khai thực hiện quyết định 224/QĐ-BTC ngày 30/01/2013 của Bộ Tài chính về chương trình hành động của ngành tài chính triển khai thực hiện Chiến lược tài chính đến năm 2020 và các chương trình hành động trung hạn, trong đó tập trung hoàn thiện thể chế về thu NSNN, quản lý ngân sách, quản lý ngân quỹ; đẩy mạnh thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong khu vực hành chính và sự nghiệp công; tăng cường quản lý giám sát nợ công, nợ nước ngoài quốc gia; phát triển đồng bộ các loại hình thị trường tài chính, dịch vụ tài chính; đẩy mạnh tái cơ cấu và nâng cao hiệu quả hoạt động của DNNN.

Hai là, tiếp tục sửa đổi, hoàn thiện hệ thống pháp luật tài chính đối với doanh nghiệp, tập trung bào việc tháo gỡ các rào cản, vướng mắc về chính sách thuế, hải quan, chế độ kế toán, kiểm toán, thủ tục hành chính trong lĩnh vực tài chính trên cơ sở đảm bảo tôn trọng quyền tự do kinh doanh, tạo môi trường kinh doanh bình đẳng, ổn định minh bạch, thông thoáng phù hợp với tinh thần luật Doanh nghiệp và Luật đầu tư mới. Rà soát, bổ sung và thực hiện có hiệu quả các chính sách ưu đãi về thuế, tín dụng cho doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ; cho phát triển công nghiệp hỗ trợ; đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn.

Ba là, tổng kết, đánh giá hệ thống pháp luật hiện hành về quản lý giá để kịp thời có các điều chỉnh, bổ sung. Tiếp tục thực hiện nhất quán nguyên tắc quản lý theo cơ chế thị trường, đẩy mạnh thực hiện cơ chế giá thị trường có sự điều tiết của Nhà nước đối với giá điện, dịch vụ công; tôn trọng quyền tự định giá, cạnh tranh về giá của tổ chức, cá nhân tổ chức kinh doanh theo quy định của pháp luật, đồng thời có sự hỗ trợ hợp lý đối với người nghèo, người thu nhập thấp, thực hiện các chính sách an sinh xã hội. Tăng cường công khai, minh bạch trong điều hành đối với giá các hàng hóa, dịch vụ quan trọng, thiết yếu khác có ảnh hưởng đến sản xuất và tiêu dùng của người dân; điều tiết hài hòa lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng, doanh nghiệp và Nhà nước. Chủ động áp dụng các biện pháp bình ổn giá theo quy định của Luật giá.

Ngoài ra, thực hiện chính sách tài khóa và tiền tệ chặt chẽ, chủ động; tăng cường hiệu quả phối hợp giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ, đảm bảo duy trì, củng cố và ổn định kinh tế vĩ mô; thúc đẩy và tăng cường tính minh bạch của các thông tin tài chính ngân sách; thực hiện có kết quả các giải pháp đảm bảo an ninh, an toàn tài chính quốc gia, giảm dần bộ chi NSNN.

3.3.2. Tăng cường hiệu quả, đa dạng hóa nguồn lực tài chính cho đầu tư phát triển, tiếp tục cải cách đổi mới hệ thống thuế, phí, lệ phí theo các mục tiêu và định hướng đã đề ra. Trong đó:

Thứ nhất, tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư; điều hành chính sách tài chính – NSNN đồng bộ, thống nhất và ổn định, phối hợp chặt chẽ với chính sách tiền tệ, thương mại… nhằm ổn định các cân đối vĩ mô, tạo môi trường thuận lợi cho phát triển SX-KD, qua đó tăng thêm nguồn thu cho NSNN. Tiếp tục hoàn thiện hệ thống chính sách thuế đồng bộ, thống nhất, công bằng, minh bạch, hiệu quả. Thực hiện chính sách huy động từ thuế, phí, lệ phí và các nguồn lực từ đất đai, tài nguyên hợp lý nhằm thúc đẩy phát triển sản xuất, tăng khả năng cạnh tranh của hàng hóa, dịch vụ sản xuất trong nước, khuyến khích xuất khẩu, khuyến khích đầu tư, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế.

Thứ hai, đa dạng hóa các kênh huy động vốn cho đầu tư phát triển kinh tế – xã hội. Thúc đẩy sự phát triển của hệ thống các thị trường tài chính; tiếp tục rà soát và tháo gỡ các vướng mắc về cơ chế, chính sách tài chính để khuyến khích sự tham gia của các thành phần kinh tế trong đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, cung cấp dịch vụ công; rà soát và hoàn thiện các cơ chế tài chính đặc thù áp dụng cho các vùng kinh tế trọng điểm, tạo động lực để các vùng kinh tế trọng điểm thực sự là đầu tàu tăng trưởng kinh tế của cả nước; có cơ chế phù hợp để khai thác tài chính từ nguồn quỹ đất để phát triển cơ sở hạ tầng cho các địa phương; Thực hiện ưu đãi ở mức cao về tài chính cho các dự án đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn, nhất là các dự án áp dụng công nghệ cao, công nghệ chế biến sau thu hoạch, dự án đầu tư vào các vùng đặc biệt khó khăn.

Thứ ba, nâng cao hiệu quả huy động nguồn lực tài chính từ bên ngoài. Rà soát, sử dụng tốt các kênh huy động vốn, bao gồm cả đầu tư gián tiếp của nước ngoài, nguồn kiều hối; đa dạng hóa các công cụ đầu tư tài chính để huy động có hiệu quả các nguồn lực trong và ngoài nước phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của đất nước; hoàn thiện và điều chỉnh chính sách thu hút vốn đầu tư nước ngoài và khu vực công nghiệp chế biến, lĩnh vực công nghệ cao, nông nghiệp nông thôn và các lĩnh vực có khả năng tạo giá trị gia tăng cao cho nền kinh tế nhưng vẫn đảm bảo sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên quốc gia và bảo vệ môi trường; hoàn thiện môi trường pháp lý theo hướng huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn vay nợ, nâng cao trách nhiệm của các cơ quan có liên quan và các đơn vị sử dụng vốn từ các khoản nợ công; mở cửa thị trường tài chính một cách hiệu quả, phù hợp với cam kết quốc tế, chủ động tham gia thị trường tài chính quốc tế…

3.3.3. Tăng cường hiệu quả phân bổ, quản lý, sử dụng nguồn lực tài chính công gắn với quá trình tái cơ cấu kinh tế

Đảm bảo tập trung thống nhất vai trò chủ đạo và điều phối của NSTW, đồng thời tạo điều kiện chủ động cho các địa phương trong quản lý, sử dụng nguồn lực được phân cấp. Đổi mới chính sách phân phối tài chính thông qua lập và thực hiện kế hoạch tài chính – NSNN 3 năm. Tăng quyền hạn và trách nhiệm trong công tác lập, quản lý, sử dụng NSNN ở các cấp, các đơn vị sử dụng NSNN cùng với việc thúc đẩy minh bạch, công khai ngân sách và trách nhiệm giải trình tài chính; từng bước thực hiện quản lý ngân sách theo kết quả thực hiện nhiệm vụ; thực hiện công tác thống kê ngân sách theo thông lệ và chuẩn mực quốc tế.

Bố trí chi đầu tư phát triển từ NSNN hợp lý, phân bổ tập trung, theo cam kết bố trí dự toán chi NSNN cho chương trình, dự án để nâng cao vau trò định hướng trong đầu tư phát triển kinh tế – xã hội, đồng thời thúc đẩy mạnh mẽ các hình thức đầu tư ngoài NSNN để tăng nguồn lực đầu tư toàn xã hội; kết hợp với nâng cao chất lượng quản lý đầu tư (giảm dần hệ số ICOR). Lồng ghép, cắt giảm các chương trình hỗ trợ để đảm bảo việc thực hiện tập trung, hiệu quả, phù hợp với khả năng cân đối NSNN. NSTW chỉ thực hiện hỗ trợ đối với các chương trình dự án hạ tầng quan trọng phục vụ thiết thực cho phát triển kinh tế – xã hội, xóa đói giảm nghèo của địa phương. Rà soát tổng thể các chính sách an sinh xã hội, các chương trình mục tiêu quốc gia, các chương trình, dự án; xây dựng lộ trình, quy mô phù hợp với từng nhóm chính sách để thực hiện cho giai đoạn 2016 – 2020. Tập trung nguồn lực để phát triển các tiền đề cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với việc nâng cao hiệu quả sử dụng; ưu tiên bố trí chi các lĩnh vực khoa học công nghệ, sự nghiệp bảo vệ môi trường; tăng cường đầu tư cho cơ sở vật chất giáo dục, đào tạo và y tế phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế – xã hội, gắn với nâng cao hiệu quả sử dụng NSNN; đầu tư nâng cấp, mở rộng các cơ sở y tế, củng cố, hoàn thiện mạng lưới y tế cơ sở và y tế dự phòng, các bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh, tuyến huyện. Tăng hợp lý tỷ trọng vốn đầu tư cho phát triển nông nghiệp, nông thôn; phát triển dịch vụ khuyến nông, đào tạo phát triển sinh kế, nâng cao chất lượng sống của nhân dân và cộng đồng; khuyến khích sự tham gia của các thành phần kinh tế vào phát triển nông nghiệp, nông thôn.

Tiếp tục cải cách công tác kiểm soát chi NSNN theo hướng thống nhất quy trình, tập trung đầu mối kiểm soát và thanh toán các khoản chi NSNN gắn với việc phân định rõ trách nhiệm, quyền hạn của các đơn vị liên quan (cơ quan tài chính, KBNN, đơn vị sử dụng NSNN); hoàn thiện cơ chế, quy trình quản lý, kiểm soát, thanh toán các khoản chi NSNN qua KBNN; tiếp tục triển khai và hoàn thiện cơ chế quản lý, kiểm soát cam kết chi phù hợp với các quy định về quản lý kế hoạch vốn đầu tư công trung hạn, Luật xây dựng, Luật đấu thầu, Luật ngân sách nhà nước; khắc phục tình trạng nợ đọng trong thanh toán xây dựng cơ bản.

3.3.4. Đẩy mạnh quá trình đổi mới cơ chế tài chính đối với đơn vị sự nghiệp côn, cụ thể:

Một là, tổ chức thực hiện quyết liệt, đồng bộ các cơ chế, chính sách liên quan đến việc đổi mới cơ chế tài chính các đơn vị sự nghiệp công, đặc biệt là thúc đẩy lộ trình tính giá dịch vụ sự nghiệp công theo đúng quy định tại Nghị định số 16/2015/NĐ-CP ngày 14/2/2015 của Chính phủ, hoàn thiện danh mục sự nghiệp công sử dụng NSNN, quy hoạch mạng lưới các đơn vị sự nghiệp công, tạo bước đột phá trong đổi mới cơ chế tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công.

Hai là, tăng cường phân cấp và tăng tính tự chủ tự chịu trách nhiệm trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ và trong sử dụng nguồn nhân lực và nguồn lực tài chính gắn với yêu cầu nâng cao trách nhiệm giải trình về kết quả của các đơn vị cung ứng dịch vụ sự nghiệp công.

Ba là, hoàn thiện chế độ thông tin báo cáo, củng cố hệ thống chi tiêu đánh giá mức độ hoàn thành và chất lượng thực hiện nhiệm vụ được giao đối với các đơn vị sự nghiệp công. Đẩy mạnh thực hiện cơ chế đấu thầu, đặt hàng, mua hàng, giao nhiệm vụ trong lĩnh vực sự nghiệp công,

Đồng thời, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng trong cung cấp dịch vụ giữa các đơn vụ, tổ chức thuộc thành phần kinh tế khác nhau. Hình thành các cơ chế phù hợp để nâng cao tính định hướng của NSNN trong việc thu hút các nguồn lực đầu tư nước ngoài nhà nước để phát triển các lĩnh vực sự nghiệp công, nhất là sự nghiệp giáo dục đào tạo, y tế, nghiên cứu khoa học và văn hóa xã hội.           

3.3.5. Nâng cao hiệu quả hoạt động của khu vực DNNN gắn với việc thực hiện có kết quả quá trình tái cấu trúc DNNN. Trong đó,

Thứ nhất, đẩy nhanh tiến độ và nâng cao hiệu quả sắp xếp, tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước (bao gồm cả các công ty nông, lâm nghiệp và các đơn vị sự nghiệp công lập). Thu gọn đối tượng doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế, tập trung nguồn lực đầu tư nhà nước vào các doanh nghiệp nhà nước có vị trí quan trọng, gắn với đảm bảo an ninh –  quốc phòng.

Thứ hai, tiếp tục thực hiện thoái vốn đầu tư ngoài ngành và vốn nhà nước ở doanh nghiệp mà Nhà nước không cần nắm giữ theo lộ trình hợp lý.

Thứ ba, tiếp tục đẩy mạnh việc tái cơ cấu và nâng cao chất lượng quản trị và hiệu quả hoạt động của DNNN. Hoàn thiện các quy chế, quy định nội bộ theo quy định tại Luật quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp. Đổi mới và nâng cao hiệu quả quản lý của chủ sở hữu nhà nước, tiếp tục kiện toàn bộ máy, tổ chức thực hiện quyền, nghĩa vụ của chủ sở hữu theo hướng phân định rõ chức năng, nhiệm vụ của các cấp, ngành và đơn vị có liên quan phù hợp với yêu cầu thực tiễn của quá trình sắp xếp, đổi mới DNNN.

Thứ tư, tăng cường và chủ động công tác thông tin, tuyên truyền, tạo sự đồng thuận, nhất trí cao giữa các ngành, các cấp, các doanh nghiệp, nhân dân trong thực hiện nhiệm vụ tái cơ cấu DNNN.

Thứ năm, nâng cao hiệu quả quản lý, giám sát DNNN, đẩy nhanh việc minh bạch, công khai hóa thông tin về hoạt động của DNNN. Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát đối với hoạt động của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước, gắn trách nhiệm người đứng đầu với kết quả tổ chức tái cơ cấu DNNN. Hình thành cơ quan quản lý, giám sát tài chính doanh nghiệp thuộc Bộ Tài chính để thực thi chức năng giám sát tài chính các DNNN và doanh nghiệp có vốn nhà nước theo quy định của pháp luật.

3.3.6. Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật đối với thị trường tài chính, bảo hiểm và kế toán, kiểm toán

Một là, về thị trường chứng khoán. Tiếp tục tập trung vào tái cấu trúc 4 trụ cột chính, đó là: (i) Hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách nhằm tiếp tục thúc đẩy TTCK phát triển lành mạnh, hiệu quả theo các mục tiêu, định hướng và giải pháp đặt ra trong Chiến lược phát triển thị trường chứng khoán đến 2020. Đẩy nhanh tiến trình tái cấu trúc nền kinh tế và các cam kết quốc tế; (ii) Tăng cung hàng hóa cho thị trường chứng khoán và cải thiện chất lượng nguồn cung thông qua việc đẩy mạnh phát hành mới và niêm yết mới, đa dạng hóa các công cụ tài chinh để hoàn thiện cấu trúc thị trường; (iii) Tiếp tục đa dạng hóa các loại hình nhà đầu tư đặc biệt đẩy mạnh thu hút nhà đầu tư nước ngoài thông qua cải cách các chính sách về thuế và phí giao dịch đối với nhà đầu tư nước ngoài; phát triển hệ thống quỹ đầu tư chứng khoán; (iv) Thực hiện kết nối các Sở giao dịch chứng khoán của Việt Nam với các sở giao dịch chứng khoán ở nước ngoài để tạo thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài tiếp cận và giao dịch tại thị trường Việt Nam. Xây dựng quy chế phối hợp quản lý, giám sát chặt chẽ giữa Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước, Bộ công an và các bộ, ngành liên quan nhằm nâng cao tính minh bạch, công khai trong hoạt động của khu vực tài chính và phát huy hiệu quả quản lý nhà nước trên thị trường tài chính.

Đồng thời, thực hiện các giải pháp phát triển thị trường trái phiếu theo lộ trình phát triển thị trường trái phiếu Việt Nam đến năm 2020, trong đó tập trung đa dạng hóa sản phẩm trên thị trường sơ cấp; khuyến khích sự tham gia thị trường của các nhà đầu tư nước ngoài, quỹ đầu tư chứng khoán, quỹ hưu trí tự nguyện; phát triển hệ thống đại lý cấp I để hỗ trợ sự phát triển của cả thị trường sơ cấp và thứ cấp; nghiên cứu cơ chế cho vay trái phiếu đối với các đại lý cấp I; triển khai thanh toán giao dịch trái phiếu qua Ngân hàng Nhà nước nhằm giảm thiểu rủi ro hệ thống thanh toán; hoàn thiện cơ chế, chính sách và triển khai thực hiện Chương trình hưu trí bổ sung tự nguyện; phát triển dịch vụ xếp hạng tín nhiệm theo quy hoạch phát triển dịch vụ xếp hạng tín nhiệm đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030.

Hai là, về thị trường bảo hiểm: Phấn đấu tổng doanh thu ngành bảo hiểm đạt 3 – 4% GDP vào năm 2020. Nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Luật kinh doanh bảo hiểm. Phát triển đa dạng và nâng cao chất lượng các sản phẩm bảo hiểm. Tăng cường kiểm tra, giám sát mức độ an toàn vốn của DNBH; tiếp tục chỉ đạo các DNBH tăng vốn để mở rộng quy mô và nâng cao năng lực tài chính; hướng dẫn DNBH rà soát mạng lưới hoạt động, từng bước mở rộng hoạt động của các khu vực còn nhiều tiềm năng; tiếp tục giám sát việc thoái vốn của các Tập đoàn, Tổng công ty nhà nước, ngân hàng thương mại có vốn nhà nước chi phối tại các DNBH, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc xây dựng và áp dụng quy trình kiểm tra, kiểm soát nội bộ, quy trình nghiệp vụ; mở rộng, phát triển và nâng cao chất lượng sản phẩm bảo hiểm (thực hiện chế độ bảo hiểm hưu trí, bảo hiểm vi mô, chương trình thí điểm bảo hiểm nông nghiệp và bảo hiểm thủy sản…); hoàn thiện các quy định về chế độ bảo hiểm bắt buộc; nghiên cứu hướng dẫn phân phối bảo hiểm qua ngân hàng.

Ba là, về thị trường dịch vụ tài chính: Thực hiện có kết quả các mục tiêu, giải pháp về phát triển thị trường kế toán kiểm toán theo Chiến lược kế toán, kiểm toán đến năm 2020. Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về kế toán, kiểm toán đầy đủ, đồng bộ, thống nhất phù hơp với các chuẩn mực, thông lệ quốc tế về kế toán, kiểm toán. Xây dựng khuôn khổ pháp lý và các điều kiện cần thiết để thực hiện chức năng Kế toán Nhà nước. Phát triển đồng bộ thị trường dịch vụ kế toán, kiểm toán, định mức tín nhiệm, tư vấn thẩm định giá, tư vấn thuế, đại lý hải quan… Hoàn thiện khung khổ pháp lý để phát triển thị trường vui chơi có thưởng, góp phần thu hút du lịch, tăng nguồn thu cho NSNN, đảm bảo trật tự và an toàn xã hội. Phấn đấu đến cuối giai đoạn 2016 – 2020 thực hiện tổng kết, đánh giá thị trường vui chơi có thưởng để xây dựng Luật điều chỉnh hoạt động kinh doanh của lĩnh vực này.

3.3.7. Tăng cường và chủ động hội nhập quốc tế trong lĩnh vực tài chính

Thứ nhất, tiếp tục mở rộng quan hệ hợp tác tài chính quốc tế, chủ động đề xuất và tích cực tham gia các chương trình hợp tác quốc tế, nâng cao tiếng nói và vị thế của Việt Nam trên các diễn đàn hợp tác tài chính quốc tế.

Thứ hai, mở rộng đối thoại chính sách và trao đổi kinh nghiệm về tài chính – tiền tệ với các chính phủ và các tổ chức tài chính quốc tế. Đa dạng hóa nội dung, hình thức và các đối tác hợp tác quốc tế, gắn hợp tác quốc tế với yêu cầu hiện đại hóa ngành tài chính. Mở rộng các kênh khai thác và nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn hỗ trợ tài chính và kỹ thuật trong lĩnh vực tài chính.

Thứ ba, thực hiện điều chỉnh và xây dựng các cơ chế chính sách tài chính phù hợp với các quy định và cam kết trong khuôn khổ đa biên, khu vực và song phương cũng như điều kiện kinh tế – xã hội của Việt Nam. Chủ động xây dựng chính sách hội nhập tài chính hiệu quả, nhất quán trên cơ sở cam kết về mức độ và lộ trình đã đưa ra.

Thứ tư, tăng cường công tác tuyên truyền và đối thoại chính sách, hỗ trợ các ngành sản xuất trong nước tận dụng các cơ hội và hạn chế tác động tiêu cực từ các thách thức do quá trình hội nhập kinh tế quốc tế mang lại. Đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền, chủ động cung cấp thông tin thường xuyên về cam kết của Việt Nam trong các Hiệp định thương mại tự do để nâng cao nhận thức trong cộng đồng doanh nghiệp và xã hội.

Đồng thời, tăng cường theo dõi, giám sát quá trình hội nhập, hoàn thiện cá công cụ phân tích, đánh giá tác động hội nhập để kịp thời đề ra các giải pháp kịp thời điều chỉnh hợp lý, hạn chế tối đa các tác động tiêu cực.

3.3.8. Tăng cường năng lực, hiệu quả công tác kiểm tra, thanh tra chuyên ngành tài chính; thực hiện phòng chống tham nhũng; thực hành tiết kiệm. Trong đó tập trung:

Tiếp tục nghiên cứu đổi mới nội dung, phương thức, phương pháp tổ chức hoạt động thanh tra, kiểm tra. Nâng cao năng lực, chất lượng hoạt động của công tác kiểm tra, thanh tra tài chính trong tất cả các lĩnh vực; tăng cường hiệu lực của hệ thống giám sát nội bộ, vai trò của công tác giám sát từ xa. Xây dựng, hoàn chỉnh các tiêu chí, nội dung, thời gian báo cáo công tác thanh tra, kiểm tra; đồng thời tổ chức thực hiện chế độ thông tin báo cáo. Hoàn thiện và tổ chức thực hiện có hiệu quả cơ chế phối hợp giữa các cơ quan thanh tra, giám sát tài chính với các cơ quan chức năng trong việc xử lý các vấn đề tài chính phát sinh.

Nâng cao năng lực hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát sự tuân thủ của người nộp thuế trên cơ sở nghiên cứu đổi mới phương thức thanh tra, kiểm tra và giám sát sự tuân thủ của người nộp thuế theo hướng: xây dựng, ban hành chế độ quy định về quản lý, thanh tra kiểm tra thuế đối với người nộp thuế trên cơ sở quản lý rủi ro; xây dựng cơ sở dữ liệu người nộp thuế, trên cơ sở đó thực hiện phân tích, đánh giá rủi ro, phân loại người nộp thuế tại tất cả các khâu đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế và hoàn thuế; xử lý nghiêm các trường hợp người nộp thuế vi phạm pháp luật thuế; giải quyết chính xác kịp thời các trường hợp khiếu nại tố cáo về thuế của người nộp thuế. Áp dụng phương pháp quản lý rủi ro trong tất cả các khâu của công tác thanh tra, kiểm tra trên cơ sở dữ liệu tập trung về người nộp thuế; tăng cường đổi mới, áp dụng các biện pháp, kỹ năng quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế.

Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu thông tin nghiệp vụ hải quan, hệ thống quản lý rủi ro trên cơ sở ứng dụng công nghệ thông tin, tăng cường cơ chế phối hợp hiệu quả, chia sẻ thông tin hải quan. Củng cố mạng lưới và hệ thống theo dõi, nắm tình hình, quản lý địa bàn có trọng điểm; tăng cường phối hợp, đấu tranh ngăn chặn các hành vi buôn bán, vận chuyển ma túy, vũ khí và các loại hàng cám qua biên giới và các vi phạm pháp luật về sở hữu trí tuệ, sản xuất tiêu thụ hàng giả. Chuẩn hóa quy trình nghiệp vụ và tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong toàn bộ hoạt động kiểm tra sau thông quan.

Kiểm tra các yếu tố hình thành, các phương án giá của các hàng hóa, dịch vụ độc quyền; hàng hóa thuộc danh mục Nhà nước định giá; hàng hóa dịch vụ thuộc diện bình ổn giá; hàng hóa dịch vụ công ích; dịch vụ sự nghiệp công thực hiện theo phương thức đặt hàng, giao kế hoạch sử dụng NSNN; hàng hóa còn được trợ cước, trợ giá phục vụ đồng bào dân tộc, miền núi, hải đảo, hàng hóa thực hiện chính sách xã hội. Tiếp tục tăng cường quản lý và thực hiện thẩm định giá đối với hàng hóa dịch vụ mua sắm từ nguồn NSNN theo quy định của pháp luật. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra giá kết hợp với thuế và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật về giá, thuế.

Đa dạng hóa các hoạt động thông tin, tuyên truyền Luật phòng, chống tham nhũng; Luật thực hành tiết kiệm chống lãng phí và các chương trình hành động đến toàn thể các bộ, công chức và viên chức trong toàn ngành. Tăng cường thực hiện chế độ công khai tài chính, ngân sách đầy đủ trong mua sắm tài sản công và xây dựng cơ bản có nguồn vốn từ NSNN và nguồn huy động. Mở rộng các hình thức công khai tài chính; tăng cường sự giám sát của cộng đồng và nhân dân. Triển khai có hiệu quả Chương trình tổng thể của Chính phủ về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí hằng năm và giai đoạn 2016 – 2020.

3.3.9. Tăng cường năng lực giám sát tài chính quốc gia, đảm bảo an ninh, an toàn tài chính công. Cụ thể:

Một là, đẩy mạnh hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về kế toán, kiểm toán và thống kê, đảm bảo phù hợp và tiếp cận với thông lệ quốc tế. Hoàn thiện cơ sở thông tin dữ liệu và hệ thống hóa các chỉ tiêu thu nhập thông tin, phân tích và xử lý các dữ liệu kinh tế – tài chính vĩ mô,

Hai là, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế và hệ thống tiêu chí giám sát tài chính doanh nghiệp và thực hiện có lộ trình việc xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp. Củng cố bộ máy và cán bộ quản lý, giám sát tài chính doanh nghiệp. Công khai các thông tin cơ bản về doanh nghiệp theo luật định nhằm tạo điều kiện cho xã hội giám sát. Đồng thời nâng cao hiệu quả giám sát của Nhà nước đối với hoạt động của thị trường tài chính và dịch vụ tài chính, đảm bảo thị trường tài chính vận hành an toàn, lành mạnh, minh bạch, phù hợp với các thông lệ quốc tế. Tăng cường kiểm soát của Nhà nước đối với các doanh nghiệp trong lĩnh vực xổ số, đặt cược, casino, và trò chơi có thưởng.

Ba là, đảm bảo an toàn về nợ và an ninh tài chính quốc gia. Cơ cấu lại các khoản nợ công. Ưu tiên bố trí chi trả nợ trong dự toán chi NSNN hàng năm và phần vượt thu NSNN (nếu có). Nâng cao hiệu quả sử dụng các khoản vay của Chính phủ, các khoản vay về cho vay lại; rà soát, loại bỏ các dự án sử dụng nguồn vốn vay không hiệu quả; giảm bớt danh mục các chương trình, dự án được bảo lãnh, kể cả dự án đã được phê duyệt chủ trương cấp bảo lãnh Chính phủ, khống chế trần hạn mức vay thương mại nước ngoài của doanh nghiệp và các tổ chức tín dụng theo phương thức tự vay tự trả. Kiểm soát chặt chẽ các khoản nợ của chính quyền địa phương, nợ xây dựng cơ bản của các bộ, cơ quan Trung ương. Nâng cao trách nhiệm các cơ quan có liên quan và các đơn vị sử dụng vốn từ các khoản nợ công; đẩy mạnh việc thanh tra, kiểm tra việc tuân thủ pháp luật của các đơn vị sử dụng vốn vay để đảm bảo hiệu quả đầu tư. Khi thị trường diễn biến thuận lợi, thực hiện phát hành trái phiếu Chính phủ ra thị trường vốn quốc tế để cơ cấu lại danh mục nợ trong nước và giảm bớt áp lực huy động trong nước.

Bốn là, xây dựng và tổ chức thực hiện tốt các công cụ quản lý nợ, đặc biệt là chiến lược nợ, chương trình quản lý nợ trung hạn. Chú trọng công tác quản lý rủi ro đối với danh mục nợ, bao gồm rủi ro về lãi suất, tỷ giá, khả năng thanh toán, tín dụng và hoạt động để hạn chế tới mức thấp nhất chi phí vay và đảm bảo an ninh tài chính quốc gia.

Năm là, củng cố và hoàn thiện hệ thống cơ sở dữ liệu về nợ công nhằm phục vụ cho việc phân tích, dự báo, giám sát các chỉ số về nợ công trong khuôn khổ chỉ tiêu an toàn nợ, cảnh báo mức độ rủi ro đối với danh mục nợ công và nợ nước ngoài của quốc gia, qua đó xây dựng mục tiêu, định hướng huy động, sử dụng vốn vay và quản lý nợ trong từng giai đoạn. Công khai, cung cấp thông tin về tình hình vay, trả nợ trong nước và nước ngoài của Chính phủ, nợ được Chính phủ bảo lãi; vay trả nợ nước ngoài của quốc gia, nợ của chính quyền địa phương bảo đảm tính chính xác, đầy đủ, kịp thời theo quy định của pháp luật.

Đồng thời, nâng cao năng lực dự báo trong lĩnh vực tài chính – ngân sách nhà nước, theo dõi sát diễn biến cung cầu, thị trường, giá cả để có phương án điều hành phù hợp từng thời kỳ. Đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền về chủ trương, biện pháp bình ổn giá, kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội để tạo ra sự đồng thuận trong xã hội, hạn chế tối đa các tác động tăng giá do yếu tố tâm lý, kỳ vọng lạm phát.

3.3.10. Tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực tài chính

Kiểm soát chặt chẽ thủ tục hành chính; tiếp tục cắt giảm và đơn giản hóa thủ tục hành chính trong lĩnh vực tài chính; thực hiện công khai quy trình, thủ tục hành chính trong lĩnh vực tài chính, đặc biệt là trong lĩnh vực thuế, hải quan, kho bạc, chứng khoán. Kiểm soát chặt chẽ việc ban hành mới văn bản quy phạm pháp luật. Thực hiện hiện đại hóa nền tài chính quốc gia thông qua việc đảy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, phấn đấu đến năm 2020 hoàn thành xây dựng và triển khai các hệ thống thông tin lớn trong ngành tài chính (kho bạc, thuế, hải quan, chứng khoán, dự trữ nhà nước); hoàn thành việc xây dựng cơ sở dữ liệu tài chính quốc gia và xây dựng các cơ sở dữ liệu chuyên ngành; thiết lập hệ thống thông tin quản lý, tăng cường khai thác hiệu quả các hệ thống thông tin và phục vụ công tác chỉ đạo điều hành.

Hiện đại hóa toàn diện công tác quản lý thuế cả về phương pháp quản lý, thủ tục hành chính theo định hướng chuẩn mực quốc tế; ứng dụng công nghệ thông tin và áp dụng thuế điện tử để nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý thuế. Giảm thời gian doanh nghiệp thực hiện thủ tục hành chính thuế để đến năm 2020, Việt Nam đứng trong tốp 4 nước đứng đầu Đông Nam Á trong xếp hạng mức độ thuận lợi về thuế.

Tập trung xây dựng hải quan Việt Nam hiện đại, minh bạch, thủ tục hải quan đơn giản, hài hòa đạt chuẩn quốc tế trên nền tảng ứng dụng công nghệ thông tin, xử lý dữ liệu tập trung và áp dụng rộng rãi phương thức quản lý rủi ro, thời gian thong quan hàng hóa đến năm 2020 đạt mức tương đương các nước tiên tiến trong khu vực.

Xây dựng Kho bạc nhà nước hiện đại, hoạt động an toàn, hiệu quả và phát triển ổn định, vững chắc trên cơ sở cải cách thể chế chính sách gắn với hiện đại hóa và phát triển nguồn nhân lực; thực hiện cải cách thủ tục hành chính, phát triển hệ thống công nghệ thông tin theo hướng cung cấp đầy đủ các dịch vụ công trực tuyến của KBNN; triển khai đầy đủ các ứng dụng CNTT phục vụ các chức năng của KBNN (quản lý quỹ NSNN, quản lý ngân quỹ nhànước, Tổng kế toán nhà nước…); tăng cường giám sát kỷ luật tài chính đơn vị sử dụng NSNN theo quy định thông qua công tác thanh tra chuyên ngành; chủ động tích cực thực hiện hội nhâp, mở rộng hợp tác quốc tế trong lĩnh vực kho bạc theo lộ trình và bước đi phù hợp, đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa hoạt động KBNN. Đến năm 2020, các hoạt động KBNN được thực hiện trên nền tảng CNTT hiện đại và hình thành kho bạc điện tử.   

Phát triển hệ thống thông tin thống kê tài chính tập trung, thống nhất, gắn liền với hệ thống kinh tế quốc dân và hệ thống thống kê tiền tệ của Nhà nước, phù hợp với các nguyên tắc, chuẩn mực quốc tế về thống kê tài chính Chính phủ, đáp ứng đầy đủ, kịp thời các yêu cầu về phân tích, đánh giá, hoạch định và điều chỉnh chính sách trong quản lý, điều hành nền tài chính quốc gia; tổ chức xây dựng cơ chế tổng hợp dữ liệu từ các cơ sở dữ liệu chuyên ngành đảm bảo kết nối, tích hợp tất cả các doành dữ liệu tài chính Chính phủ tại các đơn vị, tổ chức thuộc Bộ Tài chính và các Bộ ngành liên quan./.

 TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Quyết định số 450/QĐ-TTg ngày 18/4/2012 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chiến lược Tài chính đến năm 2020.

2. Viện Chiến lược và Chính sách tài chính, Bộ Tài chính, Bộ Chiến lược Tài chính, NXB Tài chính, 2013.

3. Bộ Tài chính, Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ Bộ Tài chính nhiệm kỳ 2015-2020.

4. Văn kiện Đại hội đại biểu lần thứ XII của Đảng

5. Các Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về: Chiến lược cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011-2020; Chiến lược phát triển Hải quan đến năm 2020; Chiến lược phát triển KBNN đến năm 2020; Chiến lược nợ công và nợ nước ngoài của quốc gia giai đoạn 2011 – 2020 và tầm nhìn đến năm 2030; Chiến lược phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020; Chiến lược phát triển thị trường vốn đến năm 2020; Chiến lược phát triển TTCK Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020; Chiến lược phát triển dự trữ quốc gia đến năm 2020; Chiến lược kế toán – kiểm toán đến năm 2020, tầm nhìn 2030.

6. Đinh Tiến Dũng, Bộ trưởng Bộ Tài chính, Nỗ lực của Ngành tài chính trong việc thực hiện Kế hoạch phát triển Kinh tế – xã hội giai đoạn 2011-2015, Tạp chí Công sản, Số 2/2016.

7. Quyết định số 760/QĐ-BTC của Bộ trưởng Bộ Tài chính phê duyệt Chương trình hành động của Ngành tài chính triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng.

8. Kế hoạch hành động trung hạn của Ngành Tài chính triển khai thực hiện Chiến lược Tài chính các (MTAP 2014-2016, MTAP 2015-2017 và MTAP 2016-2018).

9. Các Báo cáo tổng kết nhiệm vụ tài chính – NSNN hằng năm của Bộ Tài chính, các năm 2011-2015.

10. Một số trang website có liên quan.

 


[1] Bình quân giai đoạn 2011-2015, tốc độ tăng GDP đạt khoảng 5,91%/năm, thấp hơn mục tiêu đã đề ra (6,5% – 7%). Ngoại trừ năm 2015 tăng trưởng GDP đạt 6,68%, các năm 2011 – 2014 lần lượt là 6,24%; 5,25%; 5,42%; 5,98%.

[2] Bao gồm: miễn giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp, rà soát, cắt giảm, bãi bỏ hàng trăm khoản phí, lệ phí; gia hạn thời gian thuế GTGT, TNDN và thu tiền sử dụng đất; giảm thuế suất thuế TNDN cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa, các doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động trong một số lĩnh vực đặc thù; miễn, giảm mức thuế khoán cho tổ chức, cá nhân kinh doanh nhà trọ, phòng trọ, cung ứng suất ăn ca;

[3] Từ năm 2011 đến 2015 đã 3 lần tiếp tục điều chỉnh tiền lương tối thiểu và nâng phụ cấp công vụ lên 25%, đồng thời nhiều chính sách an sinh xã hội đã được ban hành trong gian đoạn này.

[4] Trong đó năm 2013 chiếm 69%, năm 2014 chiếm 70% chủ yếu do tác động của việc tăng mức tiền lương tối thiểu đột biến từ năm 2012 (từ 01/05/2012, điều chỉnh mức lương tối thiểu từ 830.000 đồng/tháng lên mức 1,05 triệu đồng/tháng, tăng 9,5%. Dẫn đến quỹ tiền lương năm 2013 vừa phải đảm bảo đủ mức tiền lương tối thiểu 1,05 triệu đồng/tháng cho cả 12 tháng – trong khi năm 2012 chỉ có 8 tháng, vừa phải đảm bảo nguồn cho việc điều chỉnh tiền lương tối thiểu lên mức 1,15 triệu đồng/tháng cho 6 tháng cuối năm 2013; năm 2014, đảm bảo đủ quỹ tiền lương theo mức lương cơ sở 1,15 triệu đồng/tháng tính cho cả năm).

[5] Tổng kinh phí NSNN bố trí chi ASXH không kể chi tiền lương giai đoạn 2011-2015 tăng bình quân khoảng 18%/năm (tốc độ tăng chi ngân sách bình quân giai đoạn này là 12,4%/năm). Nhờ triển khai và thực hiện tốt các chính sách ASXH đã góp phần xóa đói giảm nghèo, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân nhất là đối với các đối tượng người có công, đồng bào nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, phù hợp với định hướng của Đảng, Nhà nước là “giải quyết các vấn đề xã hội trong từng bước phát triển kinh tế”. Kết quả là tỷ lệ hộ nghèo năm 2015 ước tính khoảng 7%-7,2%, giảm 1,2-1,4 điểm phần trăm so với năm 2014. Đời sống dân cư cả nước nhìn chung ổn định, tình hình thiếu đói trong nông dân giảm đáng kể so với năm 2014.

[6] Bao gồm các nguồn chi từ NSNN, chi từ công trái và TPCP và chi từ nguồn sổ xố kiến thiết.

[7] Hoàn thành sắp xếp lại, xử lý đối với 153.279 cơ sở nhà đất thuộc sở hữu nhà nước thu được trên 30.000 tỷ đồng; hàng năm xử lý tài sản của các dự án sử dụng vốn nhà nước khoảng 1.000 tỷ đồng; đã xây dựng, đưa vào vận hành Cơ sở dữ liệu quốc gia (CSDL) về tài sản nhà nước tại 85.199 đơn vị hành chính sự nghiệp với tổng giá trị tài sản khoảng 1 triệu tỷ đồng.

[8] Ngày 14/02/2015 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 16/2015/NĐ-CP quy định cơ chế tự chủ đối với đơn vị sự nghiệp công lập (thay thế Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập). Nghị định này là căn cứ để các Bộ: Tài chính, Giáo dục và Đào tạo, Lao động – Thương binh và Xã hội, Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Thông tin và Truyền thông, Y tế, Khoa học và Công nghệ xây dựng và trình Chính phủ sửa đổi, ban hành Nghị định quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công trong từng lĩnh vực

[9] (i) Đối với dịch vụ sự nghiệp công sử dụng NSNN thì hỗ trợ từ NSNN gắn với số lượng, khối lượng, chất lượng sản phẩm dịch vụ sự nghiệp công được cung cấp thông qua phương thức đấu thầu, đặt hàng, giao nhiệm vụ cho các đơn vị. (ii) Đối với đơn vị sự nghiệp được giao cung cấp dịch vụ công theo giá, phí chưa tính đủ chi phí sẽ được ngân sách nhà nước hỗ trợ phần chi phí chưa kết cấu trong giá, phí dịch vụ sự nghiệp công. (iii) NSNN chỉ đảm bảo kinh phí hoạt động thường xuyên đối với đơn vị sự nghiệp công lập được Nhà nước giao dự toán theo nhiệm vụ, trên cơ sở số lượng người làm việc được cấp có thẩm quyền phê duyệt và nhiệm vụ được giao. Đồng thời Nhà nước sẽ hỗ trợ trực tiếp cho các đối tượng chính sách (người có công, người nghèo…) sử dụng dịch vụ sự nghiệp công, phù hợp với lộ trình giá dịch vụ sự nghiệp công.

[10] Đối với loại dịch vụ sự nghiệp công không sử dụng kinh phí NSNN: Đơn vị được tự xác định giá dịch vụ theo nguyên tắc thị trường; Đối với loại dịch vụ sự nghiệp công sử dụng kinh phí NSNN: Nhà nước ban hành danh mục dịch vụ sự nghiệp công và Nhà nước định giá.

[11] Lộ trình tính giá dịch vụ sự nghiệp công như sau:

– Đến năm 2016: Tính đủ chi phí tiền lương, chi phí trực tiếp (chưa tính chi phí quản lý và chi phí khấu hao tài sản cố định);

– Đến năm 2018: Tính đủ chi phí tiền lương, chi phí trực tiếp và chi phí quản lý (chưa tính chi phí khấu hao tài sản cố định);

– Đến năm 2020: Tính đủ chi phí tiền lương, chi phí trực tiếp, chi phí quản lý và chi phí khấu hao tài sản cố định.

Căn cứ vào tình hình thực tế, các đơn vị sự nghiệp công được thực hiện trước lộ trình giá dịch vụ sự nghiệp công.

[12] Nghị định số 69/2008/NĐ-CP ngày 30/5/2008 của Chính phủ về chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, dạy nghề, y tế văn hóa, thể thao, môi trường; Quyết định số 1466/QĐ-TTG ngày 10/10/2008 Thủ tướng Chính phủ; Quyết định số 693/QĐ-TTg ngày 03/05/2013 của

 Thủ tướng Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung Quyết định 1466/QĐ-TTg ngày 10/10/2008 của TTCP về danh mục loại hình, tiêu chí, quy mô, tiêu chuẩn của các cơ sở xã hội hóa.

[13] Riêng trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo, chỉ tính trung bình việc đầu tư thành lập mỗi trường cao đẳng, đại học ngoài công lập cần tối thiểu số vốn điều lệ là 50 tỷ đồng theo quy định của Thủ tướng Chính phủ thì với trên 80 trường đại học, cao đẳng ngoài công lập (theo số liệu thống kê năm học 2012-2013) đã hút nguồn vốn đầu tư từ các thành phần kinh tế ngoài Nhà nước lên tới khoảng gần 4.500 tỷ đồng, giải quyết nhu cầu học tập cho hàng vạn học sinh, sinh viên, giảm áp lực chi tiêu cho NSNN.

[14] Gồm: Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), Khu vực mậu dịch tự do ASEAN-Trung Quốc (ACFTA), ASEAN-Hàn Quốc (AKFTA), ASEAN-Nhật Bản (AJCEP), Việt Nam-Nhật Bản (VJEPA), ASEAN-Úc-Niudilân (AANZFTA), ASEAN-Ấn Độ (AIFTA), Việt Nam-Chi lê (VCFTA), Việt Nam-Hàn Quốc (VKFTA).

[15] Riêng chỉ tiêu nợ Chính phủ không đảm bảo theo quy định – không quá 50% GDP – là do GDP thực hiện năm 2015 giảm mạnh so với số đã dự báo tại thời điểm tháng 10/2015 (hơn 291 nghìn tỷ đồng).

[16] Đã kết nối được 6 Bộ vào NSW (Bộ Tài chính, Bộ Giao thông Vận tải, Bộ Công Thương, Bộ Y tế, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) và Việt Nam là một trong 4 quốc gia đầu tiên trong khu vực Đông Nam Á kết nối kỹ thuật ASW (cùng với Indonesia, Malaysia và Thái Lan).

[17] Trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 722/QĐ-TTg ngày 16/5/2014 về danh sách các đơn vị sự nghiệp trực thuộc Bộ; Quyết định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của 05 Tổng cục. Trình Thủ tướng Chính phủ (qua Bộ GD&ĐT) về phê duyệt chủ trương thành lập Trường Đại học Thuế – Hải quan trên cơ sở nâng cấp Trường Cao đẳng Tài chính – Hải quan; về chuyển đổi loại hình trường đại học bán công sang công lập và cơ chế tài chính của Trường Đại học Tài chính – Marketing.

Đã ban hành các Quyết định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của các đơn vị thuộc Bộ (21/21: Vụ, Cục, Viện); 05 Quyết định về Quy chế hoạt động các đơn vị: Trường BDCBTC; Ban quản lý các dự án ĐTXD và mua sắm tập trung thuộc Cục KHTC, các đơn vị sự nghiệp thuộc các Cục (QLCS, QLG, QLGSBH). Thành lập tổ chức mới, đổi tên (chi cục thuế, KBNN) theo các quyết định về địa giới hành chính.

[18] Năm 2014 toàn ngành đã bổ sung quy hoạch lãnh đạo các cấp giai đoạn 2011-2015 là 7.630 người; giai đoạn 2016- 2021: 26.659 người. Đã thực hiện quy trình bổ nhiệm (bao gồm cả điều động, tiếp nhận và bổ nhiệm) cho 129 trường hợp; bổ nhiệm lại (gồm cả kéo dài thời gian giữ chức vụ) đối với 93 trường hợp.

[19] Gồm 17 mục tiêu phát triển bền vững và 169 chỉ tiêu cụ thể có phạm vi bao phủ rộng hơn so với các mục tiêu Thiên niên kỷ trước đây.

[20] Nghị quyết Đại hội lần thứ XII của Đảng đã nhấn mạnh “Chú trọng giải quyết tốt vấn đề cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước, cơ cấu lại ngân sách nhà nước, xử lý nợ xấu và bảo đảm an toàn nợ công.”

[21] Giảm so với mục tiêu 21 – 22% GDP của Chiến lược tài chính đến năm 2020.

Bản in

 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *