Chuyên đề 28: GIÁM SÁT TRÊN CƠ SỞ RỦI RO ÁP DỤNG ĐỐI VỚI CÔNG TY CHỨNG KHOÁN

MỤC LỤC

Chuyên đề 28: GIÁM SÁT TRÊN CƠ SỞ RỦI RO ÁP DỤNG ĐỐI VỚI CÔNG TY CHỨNG KHOÁN

ThS. Hoàng Phú Cường,

Phó Vụ trưởng Vụ Quản lý kinh doanh chứng khoán,

Ủy ban Chứng khoán Nhà nước

28.1. Bối cảnh tổng quan

Trong vòng ba thập kỷ trở lại đây, thị trường vốn toàn cầu đã và đang chứng kiến những đợt sóng tăng trưởng mạnh mẽ và những sáng kiến vô cùng năng động. Sự tăng trưởng mãnh mẽ này đã thúc đẩy sự hình thành những loại hình thị trường mới, những phương thức giao dịch mới, và các loại hình dịch vụ trung gian đa dạng cùng với sự xuất hiện của nhiều sản phẩm, công cụ tài chính phức hợp, phức tạp. Những cải cách cơ cấu mạnh mẽ như “tự do hóa tài chính”, “tăng cường cơ chế tự quản” đã giúp phát triển một cơ cấu tài chính lớn và phức tạp, thúc đẩy sự phát triển của kỹ thuật tài chính (financial engineering) và khai thác những cách thức sử dụng đòn bẩy tài chính mới, kèm theo với nó là rủi ro lớn hơn và sự tích hợp của công nghệ thông tin. Song song với đó, hoạt động quản lý và giám sát đối với các cơ cấu tài chính phức tạp này cũng đang chuyển mình nhằm đáp ứng các yêu cầu mới, từ tập trung bảo đảm tuân thủ các quy định pháp luật, hướng tới một cách tiếp cận toàn diện hơn được thiết kế để đảm bảo quản lý thích hợp tất cả các rủi ro liên quan phát sinh từ hoạt động của các tổ chức phức tạp.

Xu hướng giám sát thị trường này đi liền với sự cần thiết phải phân bổ tốt hơn các nguồn lực giám sát hạn chế, đòi hỏi các cơ quan quản lý thị trường phải cải thiện phương pháp xác định rủi ro và quản trị rủi ro gây ra bởi các loại hình thành viên tham gia thị trường và các sản phẩm tài chính mới. Trong bối cảnh đó, ngày càng có nhiều cơ quan quản lý thị trường chuyển đổi mô hình giám sát từ một hệ thống dựa trên các quy định pháp luật cứng nhắc sang một mô hình phụ thuộc nhiều hơn vào quyết định chủ quan và đánh giá chuyên môn của cơ quan giám sát thị trường thông qua việc áp dụng một hệ thống giám sát trên cơ sở rủi ro. Điều này bao gồm việc quy định các điều kiện cấp phép (các rào cản gia nhập thị trường), các quy định về mức độ đủ vốn, các khung đánh giá rủi ro và các phương pháp thanh kiểm tra.

28.2. Những nhân tố hình thành và phát triển

28.2.1. Sự phát triển của công nghệ thông tin trong lĩnh vực tài chính

Trong khoảng vài thập kỷ trở lại đây, sự phát triển như vũ bảo của công nghệ thông tin và ứng dụng của nó đã tác động sâu sắc đến sự phát triển năng động của thị trường vốn toàn cầu. Với công nghệ thông tin, các kỹ sư tài chính (financial engineer) đã có những công cụ tốt để phát triển các sản phẩm tài chính sáng tạo (financial innovation) cùng với đó là sự phát triển của các nền tảng giao dịch (trading platform) và các phương tiện giao dịch tiên tiến (trading software). Sự tăng trưởng này đã kích thích sự xuất hiện của công cụ tài chính mới và góp phần tăng chiều sâu và chiều rộng của thị trường. Hệ quả là các tổ chức tài chính trở nên phức tạp hơn và các tổ chức tài chính quốc tế hoạt động trên các thị trường toàn cầu trở nên phụ thuộc lẫn nhau hơn.

28.2.2. Quá trình toàn cầu hóa trong lĩnh vực tài chính

Quá trình toàn cầu hóa mang lại nhiều lợi ích; nhưng những sự kiện gần đây cho thấy như; nó cũng mang lại những thách thức mới đối với ổn định tài chính. Toàn cầu hóa và sự phức tạp ngày càng tăng của thị trường tài chính, vốn đáp ứng nhu cầu của bộ phận các nhà đầu tư ngày càng tăng nhanh về số lượng và có nhiều kinh nghiệm đầu tư hơn đã khiến các cơ quan quản lý ở nhiều nước phải có biện pháp đo lường các rủi ro gây ra bởi những loại hình hỗn hợp (sản phẩm lai từ nhiều định chế tài chính) của các thành viên tham gia thị trường và các sản phẩm tài chính. Những thay đổi này đòi hỏi các cơ quan quản lý phải thực hiện tái cấu trúc trong triết lý và chế độ giám sát của mình. Xu hướng hiện nay là thay đổi từ phương thức giám sát trên cơ sở tuân thủ hậu kiểm, tập trung vào việc phát hiện các hành vi vi phạm và không tuân thủ, sang phương thức giám sát dựa trên cơ sở rủi ro vốn giúp cơ quan quản lý chủ động hơn, tập trung vào các khía cạnh rủi ro hơn và hoạt động giám sát được thực hiện liên tục hơn. 

28.2.3. Sự bất đối xứng cố hữu giữa nguồn lực và nhu cầu

Nhận thức được rằng nguồn lực phục vụ công tác giám sát là hữu hạn trong khi đối tượng và phạm vi giám sát lại vô cùng lớn và phức tạp, kể từ cuối những năm 1990, IOSCO (Tổ chức quốc tế các cơ quan quản lý thị trường vốn) đã khuyến nghị các thành viên của mình sử dụng phương pháp tiếp cận dựa trên rủi ro trong họ các kỹ thuật giám sát thị trường. Giám sát trên cơ sở rủi ro gần đây đang nổi lên như một xu hướng chính và được đa số các cơ quan quản lý tại các trung tâm tài chính sử dụng.

28.3. Giám sát trên cơ sở rủi ro

28.3.1. Hoạt động giám sát các tổ chức trung gian trên thị trường chứng khoán

Hoạt động giám sát đối với các tổ chức trung gian trên thị trường chứng khoán có ba mục tiêu lớn: để bảo vệ tài sản khách hàng khi tổ chức trung gian phá sản hoặc khi bị tổ chức trung gian hay nhân viên của tổ chức đó chiếm đoạt; bảo vệ chống lại các vụ phá sản và sự gián đoạn đột ngột của thị trường do các tổ chức trung gian phá sản hay mất khả năng thanh toán đột ngột; và đảm bảo rằng các tổ chức trung gian cung cấp dịch vụ cho khách hàng của họ một cách công bằng và có trách nhiệm. Do đó, Quy định quản lý đặt ra các tiêu chuẩn cấp phép (đảm bảo hạn chế việc tham gia thị trường chỉ dành cho các đối tượng có đủ nguồn lực và trình độ chuyên môn), tiêu chuẩn an toàn (bảo vệ chống lại sự thất bại về tài chính đột ngột), tiêu chuẩn kiểm soát nội bộ và quản lý rủi ro (giảm khả năng vỡ nợ hoặc chiếm đoạt tài sản khách hàng), và tiêu chuẩn về đạo đức nghề nghiệp (đảm bảo cung cấp dịch vụ công bằng cho khách hàng). Tuy nhiên, trong khi giám sát dựa trên rủi ro hy vọng có thể mang lại một chế độ quản lý có mục tiêu cụ thể và linh hoạt hơn và có mục tiêu chế độ vốn có thể thích ứng với sự thay đổi nhanh chóng của thị trường, nó cũng đặt ra áp lực lên cơ quan quản lý trong các vấn đề sau:

• Sử dụng các tiêu chuẩn giám sát thận trọng;

• Quản trị công ty; và

• Đánh giá chất lượng quản lý rủi ro của các tổ chức trung gian;

28.3.2. Khái niệm về phương pháp giám sát trên cơ sở rủi ro

28.3.2.1. Sự phát triển của khái niệm giám sát trên cơ sở rủi ro

Giám sát trên cơ sở rủi ro được nhiều người nhìn nhận là đã hình thành trong những năm 1990. Tuy nhiên, manh nha của nó có thể được ra đời từ sau các cuộc khủng hoảng tài chính xảy ra trong những năm 1980. Phương thức quản lý truyền thống của các cơ quan quản lý thị trường là phương thức quản lý trên cơ sở tuân thủ, phụ thuộc vào việc rà soát các giao dịch và lịch sử hoạt động trên mọi khía cạnh hoạt động kinh doanh, không phân biệt bất kỳ khía cạnh hoạt động yếu kém hoặc có thể yếu kém của tổ chức trung gian. Kết quả được đánh giá với ít chú trọng về kiểm soát an toàn hệ thống hoặc quản lý rủi ro. Sau đó, người ta nhận ra rằng Phương thức giám sát trên cơ sở tuân thủ có thể không phải là một công cụ hiệu quả để ngăn chặn các cuộc khủng hoảng tài chính. Nhận thức này đã dẫn đến sự xuất hiện của phương pháp giám sát dựa trên rủi ro, theo đó trọng tâm giám sát là nhằm vào quá trình chứ không phải là giao dịch cụ thể và các biện pháp áp dụng đối với các tổ chức trung gian thị trường được thực hiện dựa trên hồ sơ rủi ro và khả năng quản lý rủi ro của nó.

Giám sát trên cơ sở rủi ro nhằm thúc đẩy tính minh bạch, đưa ra các tín hiện cảnh báo sớm và khuyến khích các đối tượng giám sát tự đánh giá tình hình của họ thường xuyên. Hồ sơ rủi ro của từng tổ chức trung gian giúp cơ quan quản lý đưa ra các chương trình giám sát bao gồm giám sát từ xa, xác định mục tiêu kiểm tra tại chỗ, tổ chức các cuộc họp về an toàn và yêu cầu kiểm toán độc lập và thực hiện các biện pháp xử lý thích hợp. Quy trình giám sát trên cơ sở rủi ro bao gồm hoạt động giám sát liên tục và đánh giá các hồ sơ rủi ro của tổ chức trung gian liên quan đến chiến lược kinh doanh và rủi ro của họ.

Trong khuôn khổ giám sát trên cơ sở rủi ro, các nguồn lực quản lý và giám sát được sử dụng một cách hiệu quả và hiệu lực hơn vì nó tính đến từng hồ sơ rủi ro của mỗi tổ chức trung gian. Cơ chế giám sát rủi ro, đặc biệt là trong các cuộc thanh tra, được thực hiện dựa trên mức độ hoặc xu hướng đặt ra của từng loại rủi ro ví dụ như: rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường, rủi ro thanh khoản, rủi ro hoạt động, rủi ro pháp lý, rủi ro danh tiếng v.v..

Lý tưởng nhất, phương pháp giám sát trên cơ sở rủi ro sử dụng các phương pháp như phân tích độ nhạy, stress test (kiểm tra khả năng hoạt động liên tục trong tình trạng thị trường xấu) và các kỹ thuật giám sát rủi ro khác để xác định khả năng của một sự kiện (tiêu cực) có thể xảy ra và tác động của nó lên toàn bộ hệ thống trong quá trình đánh giá các rủi ro và quản lý rủi ro. 

28.3.2.2. Khái niệm về phương pháp giám sát trên cơ sở rủi ro

Khái niệm của Ủy ban giám sát ngân hàng (BASEL)

Phương pháp giám sát trên cơ sở rủi ro là một phương pháp giám sát chủ động. Theo đó, cơ quan quản lý đánh giá các khía cạnh hoạt động kinh doanh khác nhau của một tổ chức tài chính, và chất lượng quản trị, và chất lượng của công tác kiểm soát nội bộ có liên quan nhằm xác định các khía cạnh hoạt động có rủi ro lớn nhất và từ đó đưa ra các biện pháp quản lý thích hợp đối với khía cạnh hoạt động có rủi ro lớn nhất đó.

Khái niệm do Nhóm công tác Hội thảo quốc tế lần thứ 14 các cơ quan quản lý ngân hàng:

‘Cốt lõi của giám sát trên cơ sở rủi ro, và đặc trưng của nó, là nguồn lực quản lý được phân bổ vào nơi xứng đáng nhất, trên cơ sở đánh giá rủi ro công khai của cơ quan quản lý”

Khái niệm học thuật – Giáo sư Harvard Malcolm Sparrow

Phương pháp giám sát trên cơ sở rủi ro giúp “chọn vấn đề nghiêm trọng nhất và khắc phục nó”

Giám sát trên cơ sở rủi ro theo các Nguyên tắc quản lý thị trường của IOSCO (tổ chức quốc tế các tổ chức quản lý thị trường chứng khoán)

Nguyên tắc số 21, 22 và 23 của IOSCO quy định về mục tiêu và nguyên tắc của quản lý chứng khoán cho tổ chức trung gian thị trường tương ứng nêu sau đây đã chứa đựng các khuyến nghị về giám sát trên cơ sở rủi ro:

Nguyên tắc 21: “Quy định quản lý cần đưa ra các tiêu chuẩn gia nhập thị trường”

Nguyên tắc 22: “Phải có các quy định về vốn ban đầu và vốn hoạt động liên tục và các quy định an toàn khác đối với các tổ chức trung gian thị trường phản ánh những rủi ro tiềm ẩn trong hoạt động của các tổ chức này”. và

Nguyên tắc 23: “tổ chức trung gian thị trường cần phải tuân thủ các tiêu chuẩn về kiểm soát nội bộ và tiến hành hoạt động nhằm mục đích bảo vệ lợi ích của khách hàng, đảm bảo quản lý rủi ro tốt, và theo đó quản lý của các tổ chức trung gian chịu trách nhiệm chính cho cácvấn đề này “.

28.3.3. Sự cần thiết của giám sát trên cơ sở rủi ro

Các tổ chức trung gian thị trường có động lực chấp nhận rủi ro là tối đa hóa lợi nhuận và tăng ROE (tỷ lệ lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu) cho cổ đông. Điều này dẫn đến việc tạo ra các danh mục đầu tư rủi ro và sử dụng nhiều đòn bẩy hơn, do đó trở thành một mối bận tâm của cơ quan quản lý trong trường hợp không có hệ thống kiểm soát và quản lý rủi ro thích hợp. Để tạo ra sự cân bằng, cần có phương thức quản lý các tổ chức cung cấp dịch vụ tài chính thích hợp để bảo vệ lợi ích của nhà đầu tư và các chủ nợ khác của hệ thống tài chính.

Theo đó, giám sát thận trọng tỏ ra phù hợp, đáp ứng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo rằng các các tổ chức trung gian luôn có tình hình tài chính lành mạnh và có thể thực hiện nghĩa vụ của mình đối với nhà đầu tư. Có một mục tiêu bao trùm trong việc xây dựng niềm tin nhà đầu tư vào hệ thống tài chính và củng cố nền tảng kinh tế của đất nước. Giám sát trên cơ sở rủi ro nhìn chung làm rõ trách nhiệm này của giám sát thận trọng trong lĩnh vực tài chính.

Trong bối cảnh các cơ quan quản lý đang phải đối mặt với kịch bản mà các đối tượng quản lý – các tổ chức tài chính ngày càng trở nên phức tạp hơn và mang tính quốc tế hơn, các thị trường tài chính quốc tế ngày càng trở nên cạnh tranh hơn, biến động hơn và liên kết với nhau chặt chẽ hơn, hoạt động quản lý và giám sát không thể giữ ở trạng thái tĩnh. Những phải phát triển để duy trì hiệu quả đã dẫn đến việc áp dụng phương thức giám sát trên cơ sở rủi ro. Do đó, nhu cầu cần có giám sát trên cơ sở rủi ro là hệ quả của mục tiêu quản lý: bảo vệ cả hệ thống tài chính và người tiêu dùng dịch vụ tài chính.

28.3.4. Mục tiêu của giám sát dựa trên cơ sở rủi ro

Xuất phát từ các mục tiêu chung của công tác quản lý thị trường là: bảo vệ sự ổn định của hệ thống tài chính, đặc biệt là sự an toàn và lành mạnh của hệ thống thanh toán; tăng cường hiệu quả hoạt động và tuân thủ của các tổ chức trung gian; và cung cấp bảo vệ đầy đủ cho khách hàng sử dụng các dịch vụ tài chính được cung cấp bởi tổ chức trung gian, các mục tiêu chính của hoạt động giám sát trên cơ sở rủi ro được phát triển như sau:

• Lên hồ sơ rủi ro của từng tổ chức trung gian và tác động có thể của nó trên thị trường;

• Điều chỉnh phạm vi và cường độ của hoạt động giám sát trong tương quan với mức độ rủi ro;

• Chế độ giám sát hiệu quả tích hợp sử dụng/ phân bổ hiệu quả nguồn lực hạn chế;

• Một cách tiếp cận chủ động hơn;

• Thúc đẩy niềm tin vào hệ thống.

Phương pháp giám sát trên cơ sở rủi ro tạo ra động lực cho các tổ chức trung gian chủ động quản lý rủi ro của mình. Cơ quan quản lý cần có đủ năng lực để đánh giá khả năng của các tổ chức trung gian trong việc quản lý rủi ro của họ và xác định mức độ ảnh hưởng mà rủi ro có thể gây ra đối với mục tiêu đảm bảo ổn định tài chính, bảo vệ nhà đầu tư và giữ gìn sự toàn vẹn của thị trường. Cơ quan quản lý phảiđưa ra các quyết định mang tính chủ quan dựa trên kết quả các đánh giá về việc ưu tiên phân bổ nguồn lực quản lý vào đối tượng nào và vào khía cạnh hoạt động kinh doanh này.

28.3.5. Mô hình giám sát trên cơ sở rủi ro

28.3.5.1. Các rủi ro mà một tổ chức trung gian có thể phải đối mặt

Việc giám sát các tổ chức trung gian thị trường bắt nguồn từ việc xác định vàđánh giá các rủi ro cụ thể. Nhìn chung, những rủi ro lớn mà một tổ chức trung gian phải đối mặt là:

(I) Rủi ro danh mục đầu tư;

a. Rủi ro lãi suất;

b. Rủi ro thị trường;

c. Tín dụng hoặc một đối tác có nguy cơ;

d. Rủi ro tài chính;

e. Rủi ro thanh khoản;

f. Rủi ro lệch kỳ đáo hạn.

(II) Rủi ro cụ thể;

a. Rủi ro hoạt động;

b. Quản lý rủi ro;

c. Rủi ro tuân thủ;

d. Rủi ro tài chính;

e. Rủi ro pháp lý và quy định;

f. Rủi ro chiến lược;

g. Rủi ro thanh toán đối tác.

(III) Rủi ro hệ thống;

a. Rủi ro hiệu ứng lan tỏa tiêu cực từ các ngành khác;

b. Rủi ro suy thoái kinh tế.

28.3.5.2. Các thành tố chính của mô hình giám sát trên cơ sở rủi ro

Tất cả các phương thức quản lý đều nhằm cố gắng giải quyết các rủi ro được đề cập ở phần trên. Tuy nhiên, có sự khác nhau trong cách thức giám sát mà các cơ quan quản lý thực hiện. Điều này là do một số nguyên nhân, như lịch sử phát triển của hệ thống, cơ cấu pháp lý khác biệt của từng thị trường, phát triển kinh tế nói chung và môi trường chính trị và văn hóa. Tuy nhiên, có thể xác định các thành tố chính của mô hình giám sát trên cơ sở rủi ro ở hầu hết các thể chế như sau:

1. Tiêu chuẩn cấp phép;

2. Các quy định về quản trị;

3. Quy định đầu tư;

4. Kiểm toán độc lập/Bảo hiểm/Bảo lãnh;

5. Quy định về công bố thông tin;

6. Quy định về vốn tối thiểu và quỹ dự phòng

7. Quy định về khắc phục thiệt hại

8. Xử phạt

28.3.5.3. Khung Quản trị rủi ro

Trong hầu hết các mô hình giám sát trên cơ sở rủi ro, các tổ chức trung gian phải thiết lập và duy trì một bộ khung quản trị rủi ro tối thiểu, như sau:

(I) Đáp ứng quy định tối thiểu về gia nhập thị trường

(II) Mô hình rủi ro để xác định, đo lường và kiểm soát rủi ro;

(III) Đo lường sự biến động của danh mục đầu tư;

(IV) Đáp ứng các quy định về stress test;

(V) Đánh giá mô hình rủi ro;

(VI) Thường xuyên rà soát rủi ro;

(VII) Các biện pháp giảm thiểu rủi ro tiềm tàng;

(Viii) Tuân thủ các quy địnhvề quản trị công ty;

(IX) Tuân thủ các tiêu chí phù hợp và thích hợp;

(X) Hệ thống kiểm soát nội bộ;

(XI) Đáp ứng các quy định về an toàn hệ thống;

(XII) Bảo mật thông tin;

(XIII) Đảm bảo tính độc lập và tăng cường vai trò của kiểm toán viên;

(XIV) Quy tắc đạo đức nghề nghiệp đối với người hành nghề; và

(XV) Đảm bảo các quy trình và văn hóa tuân thủ.

28.3.5.4. Các công cụ thực hiện mô hình giám sát trên cơ sở rủi ro

Giám sát trên cơ sở rủi ro phải là một hoạt động quản lý được lên kế hoạch cẩn thận, trong đó phải đảm bảo mục tiêu thúc đẩy khả năng hoạt động hiệu quả và tình hình tài chính lành mạnh của các tổ chức trung gian trên thị trường. Các công cụ có thể triển khai để thực hiệngiám sát trên cơ sở rủi ro bao gồm:

– Các chốt kiểm soát gia nhập thị trường: nhằm tạo ra một mức độ đảm bảo tối thiểu cho nhà đầu tư về tính lành mạnh tài chính và tính toàn vẹn của các tổ chức trung gian tham gia thị trường;

– Mức độ đủ vốn hay các tiêu chuẩn về thanh khoản: để đảm bảo, trên cơ sở liên tục, các tổ chức trung gian thị trường có đủ nguồn vốn để hỗ trợ quy mô và bản chất của các hoạt động kinh doanh mà mình thực hiện và cung cấp một bộ đệm để phòng ngừa ngay lập tức những tổn thất bất ngờ hoặc lớn mà tổ chức kinh doanh chứng khoán gặp phải mà không đụng chạm đến lợi ích của khách hàng;

– Xem xét kỹ lưỡng về chất lượng và chiến lược quản lý: để đảm bảo rằng ban điều hành của các tổ chức trung gian có những kỹ năng cần thiết và tính trung thực để điều hành tổ chức kinh doanh của mình;

– Yêu cầu đối với việc thiết lập và duy trì các chốt quản trị rủi ro: để đảm bảo các tổ chức trung gian có các hệ thống thích hợp để xác định, quản lý vàgiám sát rủi ro có thể đe dọa đến khả năng đáp ứng nghĩa vụ tài chính của các tổ chức đó với các đối tác của mình;

– Dựa vào các chuyên gia chuyên nghiệp như kiểm toán viên độc lập: để kiểm tra độc lập về kiểm soát nội bộ và quy trình kinh doanh của các tổ chức trung gian;

– Chế độ báo cáo và công bố thông tin thường xuyên: các tổ chức trung gian phải thực hiện báo cáo cơ quan quản lý các thông tin cần thiết phục vụ mục tiêu giám sát. Kỷ luật thị trường có thể được tăng cường bằng cách tăng cường công khai các thông tin này;

– Tăng cường thẩm quyền giám sát và cưỡng chế thực thi của cơ quan quản lý: để đảm bảo rằng khi có vấn đề phát sinh, cơ quan quản lý đủ quyền hạn để giải quyết vấn đề.

Các thị trường áp dụng mô hình giám sát trên cơ sở rủi ro thường áp dụng một mô hình đánh giá rủi ro để đánh giá hồ sơ rủi ro của từng tổ chức trung gian. Một mô hình đánh giá rủi ro thường được xây dựng bao gồm cả hai yếu tố định tính và định lượng. Các yếu tố định tính thường bao gồm tính hiệu quả của hội đồng quản trị và chất lượng của công tác quản lý-điều hành, (rủi ro nguồn nhân lực) chất lượng quản trị công ty (nguy cơ hành chính), và chất lượng và mức độ độc lập của hệ thống quản trị rủi ro (rủi ro hệ thống) và chất lượng của chức năng tuân thủ (rủi ro tuân thủ). Yếu tố định lượng có thể bao gồm các nguồn lực tài chính sẵn có (rủi ro tài chính), an toàn vốn, quy mô khách hàng (rủi ro thị trường) và số lượng khiếu nại (rủi ro hoạt động).

Nhìn chung, mô hình giám sát trên cơ sở rủi ro nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xác định, đo lường và phân loại rủi ro mà các tổ chức trung gian gặp phải và chất lượng công tác quản trị rủi ro trong việc đánh giá tổng thể về rủi ro cùng với việc xác định xác suất khả năng xảy ra rủi ro và trọng số của các rủi ro lớn đối với mỗi tổ chức trung gian. Các kết quả của đánh giá rủi ro tổng thể cùng với xác suất được sử dụng để chấm điểm rủi ro cho từng tổ chức trung gian. Nói chung, sự đánh giá rủi ro được xác định bằng phương trình “Tác động xXác suất “. Trong khi tác động phụ thuộc vào quy mô và tổng tài sản của tổ chức, xác suất thường phụ thuộc vào các yếu tố rủi ro và các trọng số liên quan.

Mục đích của việc đánh giá tổng thể là để đo lường khả năng thanh toán của tổ chức trung gian. Các tổ chức được xác định với mức độ rủi ro cao được xử lý chặt chẽ và trong một khoảng thời gian dài hơn. Trong quá trình đánh giá rủi ro, một số biện pháp giảm thiểu rủi ro được xác địnhnhư kiểm tra tiêu chí ‘phù hợp và thích hợp’ của Hội đồng quản trị, của các nhân sự chủ chốt, kiểm toán viên; tính hiệu quả của công tác quản trị điều hành; năng lực vận hành của cơ sở hạ tầng và hệ thống; tính đầy đủ của các chiến lược quản trị rủi ro; quy trình và văn hóa tuân thủ v.v..

Ngoài các biện pháp định tính và định lượng được phát triển trong việc chấm điểm rủi ro, cơ quan quản lý cũng quy định các phương pháp định giá các khoản nợ, đề ra các quy định tối thiểu về cấp vốn, tăng cường khả năng thanh toán, tỷ lệ đóng góp chi phí-hiệu quả. Các cơ quan quản lý cũng đã phát triển các phương pháp tính toán kịch bản phục vụ dự báo, stress test hoặc các biện pháp ước lượng giá trị chịu rủi ro (VAR) cùng với các quy trình chuẩn trong việc áp dụng biện pháp can thiệp.

28.3.6. Các bước tiến hành xây dựng mô hình giám sát trên cơ sở rủi ro

Để xây dựng một mô hình giám sát trên cơ sở rủi ro hiệu quả, cơ quan quản lý cần xem xét thực hiện các bước chuẩn bị liên quan đến các vấn đề sau:

1. Lập kế hoạch một cách có hệ thống cho việc giám sát trên cơ sở rủi ro / Các biện pháp đánh giá xác suất xảy ra rủi ro và tác động của nó

2. Xác định và đánh giá các rủi ro có liên quan (thu thập thông tin, quản trị rủi ro và phân tích rủi ro)

3. Phân bổ nguồn lực giám sát (quy định về gia nhập thị trường, xây dựng và triển khai kế hoạch thanh tra/ Thông tin về việc chấm điểm rủi ro cho các tổ chức trung gian và theo dõi thường xuyên).

28.3.6.1. Lập kế hoạch một cách có hệ thống cho việc giám sát trên cơ sở rủi ro

Cơ quan quản lý phát triển một khung đánh giá rủi ro nhằm: (a) xác định rủi ro có liên quan tới hoạt động kinh doanh của tổ chức trung gian; (b) đo lường và đánh giá những rủi ro; và (c) đánh giá kiểm soát nội bộ và hệ thống quản trị rủi ro hiện tại của tổ chức trung gian trong việc giảm thiểu những rủi ro này. Dựa trên kết quả đánh giá rủi ro, cơ quan quản lý lên kế hoạch ưu tiên hóa nguồn lực quản lý cho từng tổ chức trung gian trên cơ sở hồ sơ rủi ro của họ, cũng như phân bổ thời gian và khối lượng công việc tại công ty và giám sát từ xa.

Các rủi ro gây ra bởi một tổ chức trung gian được xác định dựa trên đánh giá quy mô tương đối và ảnh hưởng (tác động) của nó đối với thị trường, cũng như sự đầy đủ của hệ thống kiểm soát nội bộ và quản trị rủi ro của tổ chức trung gian trong việc giảm thiểu rủi ro (xác suất xảy ra đối với rủi ro trong tầm ngắm của cơ quan quản lý) phát sinh từ các hoạt động kinh doanh của mình. Trước khi phát triển một khung đánh giá rủi ro, các rủi ro gây ra bởi trung gian đối với mục tiêu quản lý của cơ quan quản lý như: bảo vệ nhà đầu tư, đảm bảo toàn vẹn thị trường, các quy định thận trọng và rủi ro hệ thống cũng được đo lường vì rủi ro của tổ chức trung gian là hệ quả của những rủi ro mà nó gây ra cho các mục tiêu quản lý. Sau đó, cơ quan quản lý đánh giá rủi ro mà các tổ chức kinh doanh chứng khoán đang gặp phải.

Các mô hình đánh giá rủi ro cần phải được xem xét và sửa đổi định kỳ để phản ánh

Những thay đổi trong hoạt động kinh doanh và sự phát triển của thị trường vốn. Mô hình đánh giá rủi ro phải được cập nhật thường xuyên để nắm bắt những rủi ro mới phát sinh từ các hoạt động kinh doanh và bước phát triển mới của thị trường, cùng với đó là các biện pháp thanh tra và giám sát từ xa khác.

28.3.6.2. Xác định và đánh giá các rủi ro liên quan

Trong việc xác định các yếu tố rủi ro có liên quan đến tổ chức trung gian phục vụ cho việc đánh giá rủi ro, cơ quan quản lý cần xem xét mối liên quan và tầm quan trọng của các yếu tố này. Các yếu tố rủi ro có liên quan bao gồm: rủi ro kinh doanh cố hữu của một tổ chức trung gian (loại hình hoạt động, khách hàng và sản phẩm) và kiểm soát nội bộ không đầy đủ (chất lượng của quy trình quản lý rủi ro và kết quả thực hiện công việc của chức năng tuân thủ). Một mô hình đánh giá rủi ro hiệu quả sử dụng cả các yếu tố rủi ro định lượng và định tính, đóng góp vào hồ sơ rủi ro tổng thể của một tổ chức trung gian.

Các tiêu chí như khả năng đo lường và tính dễ dàng thu thập dữ liệu cũng được xem xét trong việc quyết định những yếu tố rủi ro gì cần được sử dụng trong việc đánh giá rủi ro. Nguồn dữ liệu này bao gồm lợi nhuận hợp lệ theo luật định, báo cáo của kiểm toán viên độc lập và nội bộ, báo cáo nhận được từ Sở giao dịch, bảng câu hỏi tự đánh giá và thông tin công bố. Các tiêu chí sau đây có thể được xem xét trong việc quyết định các yếu tố rủi ro nào được sử dụng trong mô hình đánh giá rủi ro:

• Khả năng đo lường được, tức là rủi ro có thể định lượng hoặc có thể được đánh giá một cách khách quan;

• Dễ thu thập dữ liệu và tính toán;

• Tính linh hoạt để đưa những thay đổi.

28.3.6.3. Phân bổ nguồn lực giám sát

Cơ quan quản lý phải tối ưu hóa việc sử dụng các nguồn lực hạn chế của mình và phân bổ sự giám sát đầy đủ đối với từng tổ chức trung gian. 

Để sử dụng một phương pháp xác định tần suất và phạm vi giám sát, cơ quan quản lý có thể sử dụng cơ chế chấm điểm rủi ro và / hoặc xếp hạng cho việc phân bổnguồn lực quản lý. Một cơ chế giám sát tổng thể có thể mang lại một chỉ dẫn nhất quán về tần suất và phạm vi giám sát các tổ chức trung gian. Nguồn lực cần phải được phân bổ nhiều hơn cho tổ chức trung gian có rủi ro lớn hơn gây ra tác động lớn hơn.

Tổng số điểm rủi ro / Đánh giá rủi ro của một tổ chức trung gian phải được sử dụng để sắp xếp tần suất kiểm tra cho tổ chức trung gian đó. Lập kế hoạch thanh tra, quy trình thực hiện thanh tra phải tính đến kết quả đánh giá rủi ro để xác định phạm vi và trọng tâm của công tác thanh tra. Danh mục các thủ tục thanh tra (Inspection checklist) cần phải được sử dụng để đảm bảo tính nhất quán của các lĩnh vực thanh tra, và được điều chỉnh để phù hợp với những rủi ro và mục tiêu cụ thể của mỗi lần thanh tra.

28.3.7. Những thách thức trong việc xây dựng mô hình giám sát trên cơ sở rủi ro

Cơ quan quản lý luôn mong muốn xây dựng một mô hình phức tạp như vậy để giám sát các tổ chức trung gian, nhưng mặt khác mong muốn này lại gặp phải nhiều trở ngại, nhất là việc các khuôn khổ pháp lý hiện hành liệu đã sẵn sàng để đáp ứng một cấu trúc như vậy. Thực tế từ nhiều thị trường đi trước đã cho thấy rằng không phải dễ dàng để chuyển từ mô hình giám sát tuân thủ sang mô hình giám sát trên cơ sở rủi ro nếu không có nhận thức rõ ràng về phải có những thay đổi cần phải thực hiện đối với quy định hiện hành cũng như đào tạo nâng cao năng lực cho cán bộ quản lý.

28.3.7.1. Các nhược điểm của mô hình giám sát trên cơ sở rủi ro

Cần lưu ý rằng bên cạnh các mặt tích cực vốn có, mô hình giám sát trên cơ sở rủi ro cũng tồn tại một số nhược điểm do mô hình này dựa vào chất lượng kiểm soát nội bộ của tổ chức trung gian và chất lượng báo cáo kiểm toán độc lập. Ngoài ra còn có một khả năng nữa là bản thân mô hình nhiều khi đơn giản trở thành một loạt các quy định mà tổ chức trung gian thực hiện tuân thủ. Đồng thời, phương pháp này tập trung nhiều hơn vào việc chẩn đoán (phát hiện) hơn là chữa bệnh. Tuy nhiên, nguy cơ khác là có thể là sự không nhất quán giữa cách tiếp cận và khối lượng công việc quản lý. Cũng cần phải thừa nhận rằng ở các thị trường mới nổi, tồn tại cả hai phương thức giám sát chồng chéo trong mỗi khía cạnh hoạt động của tổ chức trung gian. Do đó, việc áp dụng một phương pháp giám sát trên cơ sở rủi ro thống nhất với các tiêu chuẩn rủi ro trên thị trường cần phải được cân nhắc một cách kỹ lưỡng.

Do đó, cơ quan quản lý cần có cơ chế phục vụ giám sát và theo dõi đánh giá các rủi ro tiềm năng và phục vụ cho việc điều chỉnh khung giám sát trên cơ sở rủi ro và quy trình liên quan cho phù hợp.

28.3.7.2. Những thách thức trong việc xây dựng mô hình giám sát dựa vào rủi ro

a. Thay đổi trong văn hóa tổ chức và phương thức thực hiện giám sát

Mô hình giám sát trên cơ sở rủi ro đòi hỏi một sự thay đổi trong văn hóa tổ chức và phương thức giám sát đối với các tổ chức trung gian thị trường. Đối với các thị trường đang thực hiện giám sát trên cơ sở tuân thủ, việc thay đổi này có thể sẽ khó khăn, tốn kém và mất thời gian. Vì giám sát trên cơ sở rủi ro đòi hỏi một cách tiếp cận hoàn toàn khác trong việc đưa ra các quyết định định tính, các thị trường khác nhau đã áp dụng các cấu trúc khác nhau để phù hợp với phương pháp giám sát mới. Một số cơ quan quản lý thành lập các phòng ban chuyên môn như bộ phận cưỡng chế thực thi và giám sát trên cơ sở rủi ro và bộ phận nghiên cứu và chính sách, trong khi một số cơ quan quản lý khác lại thành lập tổ rà soát môi trường pháp lý, Tổ chỉ đạo chuẩn bị thực hiện giám sát trên cơ sở rủi ro hay các đơn vị như Phòng rủi ro hoạt động, Phòng rủi ro tài chính v.v..

b. Soạn thảo và ban hành quy định pháp luật phù hợp

Việc triển khai hiệu quả giám sát trên cơ sở rủi ro đòi hỏi xây dựng các quy định pháp luật, chính sách, sổ tay nghiệp vụ, và quy trình quản lý và giám sát có liên quan. Các quy định pháp luật cần phải được xây dựng sao cho cơ quan quản lý có thể cập nhật, chỉnh sửa khi tình hình thị trường thay đổi do thực tế cho thấy đối với thị trường chứng khoán, một thông lệ nghiệp vụ có thể thay đổi hoàn toàn chỉ sau một đêm do đó luật cần phải bắt kịp với sự thay đổi này. 

c. Thay đổi trong việc triển khai các nguồn lực và tái cơ cấu tổ chức sâu rộng

Mô hình giám sát trên cơ sở rủi ro đòi hỏi chuyển nguồn lực giám sát từ các tổ chức trung gian có rủi ro thấp sang các tổ chức có rủi ro cao.

Do đó, điều này cũng có nghĩa là các cơ quan quản lý cần phải trang bị cho mình những nhân viên có trình độ và kinh nghiệm thích hợp để hiểu và đánh giá các rủi ro gây ra bởi các các đối tượng chịu quản lý. Các cán bộ quản lý cũng cần phải được trang bị lại những kỹ năng cho phù hợp với phương pháp giám sát trên cơ sở rủi ro. Cũng cần phải phát triển và nâng cấp hệ thống công nghệ thông tin, bao gồm cả phần cứng và phần mềm nhằm hướng tới việc xếp hạng rủi ro cho các tổ chức trung gian. Thêm vào đó, cơ quan quản lý cần ban hành và cưỡng chế thực thi các quy định về kiểm soát nội bộ và quản trị công ty nhằm phục vụ công tác kiểm tra tính phù hợp và thích hợp.

d. Chi phí phụ trội đi kèm với lợi ích có được từ việc áp dụng mô hình giám sát trên cơ sở rủi ro

Như đã đề cập ở trên, việc chuyển đổi mô hình sẽ gây phát sinh kinh phí đáng kể đối với cơ quan quản lý. Không những cần nhiều cán bộ có chuyên môn phù hợp, các cán bộ hiện hữu cũng cần phải được đào tạo lại, nâng cao hơn năng lực cho phù hợp với phương thức giám sát mới.

đ. Tăng cường nhận thức

Một thách thức nữa của cơ quan quản lý là phải tăng cường nhận thức cho thị trường về triết lý của phương thức giám sát mới. Mục tiêu của giám sát trên cơ sở rủi ro là thúc đẩy một nền văn hóa rủi ro cho ngành cùng với việc các tổ chức trung gian chủ động theo dõi và xử lý rủi ro mình gặp phải. Do đó, cơ quan quản lý chỉ can thiếp khi thấy cần thiết. Cơ quan quản lý cũng phải công khai dữ liệu cần thiết và việc sử dụng dữ liệu cho thị trường để thị trường hiểu cách tiếp cận.

e. Thay đổi trong vai trò của tổ chức trung gian

Hiệu quả của mô hình giám sát trên cơ sở rủi ro phụ thuộc vào sự chuẩn bị sẵn sàng của tổ chức trung gian ở các khía cạnh quan trọng nhất định, chẳng hạn như chất lượng và độ tin cậy của dữ liệu, tính lành mạnh của hệ thống và công nghệ, sự phù hợp của cơ chế kiểm soát rủi rovà nguồn nhân lực.

Để quá trình này thành công, Hội đồng quản trị và Ban điều hành cấp cao của tổ chức trung gian cần tham gia vào các cuộc thảo luận chi tiết và cần phải nắm rõ các kết quả quản lý sẽ đạt được.Họ cần phải làm việc một cách xây dựng và đưa ra các quyết định tốt về cách mà tổ chức trung gian có thể góp phần thực hiện thành công mô hình giám sát này.

Tổ chứu trung gian có thể điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp và tái định hướng cơ cấu tổ chức của họ để nắm bắt các cơ hội có được từ việc tăng cường sáng tạo đổi mới và linh hoạt hơn các hoạt động kinh doanh, đồng thời chấp hành đầy đủ trách nhiệm của họ trong việc thực hiện các quy định quản lý. Điều này có nghĩa là sẽ có một sự thay đổi mang tính trọng tâm từ việc điều hành theo hướng thực hiện các quy trình kinh doanh sao cho hợp pháp, tuân thủ các quy định chi tiết sang điều hành để mang lại các kết quả kinh doanh trong một môi trường pháp lý linh hoạt hơn.

28.4. Việc áp dụng mô hình giám sát trên cơ sở rủi ro ở một số Quốc gia

28.4.1. Tại Malaysia

Trong khuôn khổ giám sát trên cơ sở rủi ro của Ủy ban Chứng khoán (SC) Malaysia, cơ quan này đã ban hành một cơ chế tự đánh giá cho phép các tổ chức trung gian có thể tự đánh giá mức độ rủi ro của họ, giới thiệu/cải tiến các công cụ giảm thiểu rủi ro cần thiết, kiểm soát và theo dõi các vị thế rủi ro tiềm tàng của họ. Khuôn khổ giám sát trên cơ sở rủi ro này phân loại các rủi ro thành:rủi ro quản lý, rủi ro quản lý doanh nghiệp, rủi ro hoạt động, rủi ro tài chính, rủi ro pháp lý, rủi ro trong bảo vệ tài sản của khách hàng, rủi ro quan hệ khách hàng, rủi ro vốn con người, rủi ro sản phẩm và dịch vụ, và các rủi ro bên ngoài, cùng với đó là các chốt kiểm soát rủi ro tương ứng cho mỗi rủi ro. Sau đó SC sẽ thực hiện một bảng chấm điểm rủi ro, cho phép nó tạo ra một bộ hồ sơ rủi ro chủ yếu của từng tổ chức trung gian, trong đó đã tính đến các chương trình giảm thiểu rủi ro (kiểm soát rủi ro) được thực hiện bởi các tổ chức trung gian này. Theo đó, cáctổ chức trung gian phải báo cáo cho SC trên cơ sở định kỳ. Tổ chức trung gian nào có điểm tổng thể rủi ro hoặc có nguy cơ có điểm rủi ro cao sẽ được đặt vào diện ưu tiên cao, quan tâm giám sát rộng hơn, thu hút nhiều thời gian và tài nguyên phân bổ từ cơ quan quản lý. Khung thực hiện hồ sơ rủi ro của SC xem xét rủi ro trên cả hai phương diện là định tính và định lượng. Khung hồ sơ rủi ro cho phép thực hiện ưu tiên hóa triển khai và tập trung các nguồn lực đối với mỗi tổ chức trung gian thuộc diện cần phải quan tâm giám sát lớn hơn. Từ khía cạnh định lượng, SC chú trọng vàocác quy định an toàn vốn dựa trên rủi rocũng như các giới hạn bảo đảm an toàn và vốn khác đối với các tổ chức trung gian trên thị trường. Hoạt động kiểm tra và giám sát thường xuyên đối với các tổ chức môi giới được tiến hành bởi BursaMalaysia (Sở giao dịch). Tuy nhiên, trong trường hợp có vi phạm pháp luật chứng khoán hoặc bất kỳ luật khác, Sở giao dịch sẽ chuyển vấn đề đó đến SC để SC xem xét đưa ra biện pháp xử lý

28.4.2. Tại Thái Lan 

Ủy ban chứng khoán (SEC) sử dụng Quy chế đánh giá dựa trên cơ sở rủi ro để đánh giá rủi ro tổng thể của một tổ chức trung gian đó là dựa trên tác động tiềm năng của các hoạt động kinh doanh của trung gian đối với thị trường. SEC có các chương trình giám sát (cả tại chỗ và từ xa) được thực hiện dựa trên kết quả đo lường rủi ro và đánh giá tác động của từng đối tượng. Để phục vụ mục đích này, SEC thông qua một phương pháp tiếp cận dựa trên rủi ro có tính đến các tham số định lượng và định tính. Các yếu tố định tính được xem xét bao gồm cơ cấuvà chất lượng quản lý, quản trị doanh nghiệp, cơ cấu tổ chức và chế độ báo cáo, và sự độc lập của bộ phận quản lý rủi ro và chất lượng tuân thủ các đối tượng quản lý.Yếu tố định lượng bao gồm sự đa dạng hóa và chất lượng của các khoản đầu tư, mức độ rủi ro tiềm ẩn, số lượng tài khoản của khách hàng, số lượng khiếu nại, và mức độ đủ vốn. SEC áp dụng tần suất thanh tra ít nhất mỗi năm một lần đối với các tổ chức trung gian có nguy cơ cao và tác động lớn và ba năm một lần đối với tổ chức trung gian có nguy cơ và tác động thấp.

28.4.3. Tại Trung Quốc

Ủy ban Giám quản chứng khoán Trung Quốc (CSRC) ban hành một hệ thống giám sát dựa trên rủi ro đối với các tổ chức trung gian thị trường, trong đó chủ yếu tập trung vào việc tuân thủ (Tuân thủ với quy định pháp luật hiện hành, tính hợp pháp của hoạt động kinh doanh v.v..) và các tiêu chí quản lý thận trọng – prudence regulation (Hiệu quả kinh doanh, tình trạng vốn ròng, thông tin bảng cân đối kế toán v.v..). Các rủi ro thanh khoản, rủi ro thị trường, rủi ro tài chính, rủi ro hoạt động và rủi ro tuân thủ thường được sử dụng để đánh giá một tổ chức trung gian. CSRC áp dụng một hệ thống xếp hạng rủi ro đánh giá trung gian theo năng lực quản lý rủi ro của họ và chia thành 5 hạng theo mức độ giảm dần với tổng 11 cấp bậc: A (AAA, AA, A), B (BBB, BB, B), C (CCC, CC,C), D và E.

28.4.4. Tại Nam Phi 

Cơ quan Dịch vụ Tài chính (FSB) có một khuôn khổ giám sát trên cơ sở rủi ro, là một phương pháp tiếp cận tích hợp để đo lường các rủi ro trong tổ chức trung gian trái với các quy định pháp lý. Đó là một khuôn khổ giám sát xem xét tất cả các khía cạnh quan trọng trong hoạt động kinh doanh của một tổ chức trung gian và trong mỗi hoạt động thì thực hiện xem xét rủi ro tiềm tàng trong hoạt động kinh doanh đó. FSB đánh giá hồ sơ rủi ro, điều kiện tài chính, quy trình quản lý rủi ro và tuân thủ pháp luật hiện hành của tổ chức trung gian. Xếp hạng rủi ro được thực hiện theo các quy định của khuôn khổ giám sát trên cơ sở rủi ro và từ đó xác định biện pháp quản lý phù hợp. Nếu xếp hạng rủi ro được đánh giá là có tác động cao, một sự can thiệp của cơ quan quản lý là cần thiết.

28.4.5. Tại Đài Loan 

Ủy ban Giám sát dịch vụ tài chính (FSC) đã thông qua một phương pháp giám sát trên cơ sở rủi ro toàn diện. Khuôn khổ đánh giá rủi ro cho các tổ chức trung gian bao gồm phân tích rủi ro và đánh giá rủi ro. Khi đánh giá ảnh hưởng rủi ro của tổ chức trung gian, tất cả các yếu tố rủi ro được xem xét bao gồm: rủi ro thị trường, rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro hoạt động và các rủi ro khác bao gồm cả rủi ro pháp lý, rủi ro chiến lược hayrủi ro kinh doanh và rủi ro danh tiếng. Những rủi ro này được phân tích bằng xác suất các sự kiện rủi ro và mức độ ảnh hưởng tác động của nó. Khi đánh giá rủi ro của các tổ chức trung gian, ảnh hưởng của rủi ro nếu có được so sánh với các ngưỡng rủi ro được xây dựng từ trước để xác định mức độ ưu tiên của việc kiểm soát rủi ro và lựa chọn các biện pháp ứng phó. Đo lường rủi ro sử dụng cả hai phương pháp định tính và định lượng khác nhau tùy theo các loại rủi ro khác nhau. Các đánh giá quản lý rủi ro sử dụng năm mức độ thang điểm đánh giá.

Lưu ý: Không có một công thức chung và trên thực tế các cơ quan quản lý ở các thị trường khác nhau đã sử dụng các kỹ thuật khác nhau để xác định rủi ro,đo lường và giảm thiểu rủi ro khi triển khai rủi ro giám sát dựa trên cơ sở rủi ro. Một số cơ quan quản lý đã thực hiện cả hai phương pháp giám sát trên cơ sở rủi ro và giám sát trên cơ sở tuân thủ trong hoạt động thanh kiểm tra của mình.

28.4.6. Tại Bulgaria

Ủy ban Giám sát tài chính (FSC) áp dụng phương pháp giám sát trên cơ sở tuân thủ. Tuy nhiên, vẫn áp dụng một số yếu tố của phương pháp tiếp cận dựa trên rủi ro, theo đó hồ sơ rủi ro của các tổ chức trung gian thị trường được lập một cách có hệ thống thông qua kiểm tra, giám sát và phân tích thường xuyên. Những hồ sơ rủi ro được sử dụng để so sánh và là cơ sở của việc lập kế hoạch thanh kiểm tra thường xuyên và xem xét đưa ra các biện pháp can thiệp đối với từng tổ chức trung gian. Khi đánh giá các tổ chức trung gian thị trường, các rủi ro được xem xét bao gồm rủi ro hoạt động, rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường và các mức độ tập trung rủi ro lớn.Tuy nhiên, không có hệ thống chấm điểm rủi ro.

28.4.7. Tại Chile

Ủy ban chứng khoán (SVS) đưa vào xem xét các nhân tố rủi ro khác nhau tùy thuộc vào các hành vi trước đây của tổ chức trung gian thị trường như rủi ro hoạt động, rủi ro tín dụng và rủi ro thanh khoản. Mỗi năm một lần, những tổ chức trung gian có rủi ro lớn nhất được lựa chọn thông qua Quy trình lên kế hoạch thanh tra hàng năm. Trước khi thực hiện thanh tra một tổ chức trung gian, cơ quan quản lý yêu cầu báo cáo những thông tin cần thiết từ tổ chức trung gian để có cái nhìn sơ bộ về các mảng hoạt động kinh doanh rủi ro nhất. Sau đó, cơ quan quản lý dành một khoảng thời gian để xác định tổ chức trung gian đã dùng quy trình gì để kiểm soát rủi ro lớn nhất đó. Đoàn thanh tra sẽ tiến hành đánh giá các rủi ro sau khi đánh giá các chốt kiểm soát để giảm thiểu các rủi ro đó trong quá trình kiểm tra. Sau thanh tra, kết luận thanh tra được chính thức công bố và giải thích cho đối tượng thanh tra.

28.4.8. Tại Jordan

Ủy ban Chứng khoán Jordan (JSC) sử dụng một tham số để đánh giá tình hình tài chính và khả năng quản lý như thanh khoản, rủi ro tín dụng và khả năng hoạt động liên tục. JSC xác định rủi ro thông qua giám sát hoạt động giao dịch, nếu việc thanh tra và điều tra cho thấy có vi phạm nghiêm trọng, các biện pháp xử lý sẽ được tiến hành. Hàng tuần, JSC đánh giá tình hình của các tổ chức trung gian nhờ vào các dữ liệu tài chính được báo cáo để xác định các rủi ro của từng tổ chức trung gian.

28.4.9. Tại Morocco

Công tác giám sát các tổ chức trung gian trên thị trường được thực hiện Conseil Deontologiquedes Valeurs Mobilieres (CDVM) dựa trên một phương pháp giám sát trên cơ sở rủi ro. Phương pháp giám sát này lấy thông tin từ báo cáo định kỳ nộp bởi tổ chức trung gian hoặc từ các đợt thanh tra được thực hiện bởi CDVM. Ba loại rủi ro chính được đưa vào xem xét bao gồm; rủi ro tài chính, rủi ro hoạt động và rủi ro đạo đức nghề nghiệp. Hệ thống chấm điểm rủi ro xây dựng trên cơ sở phân loại loại rủi ro được gán trọng số theo nguyên tắc rủi ro càng cao thì điểm phân loại càng thấp.

28.4.10. Tại Pakistan

Trọng tâm chính của hoạt động giám sát đang được Ủy ban giao dịch và chứng khoán của Pakistan (SECP) thực hiện là đảm bảo tuân thủ khuôn khổ quản lý trong đó bao gồm cả rủi ro tín dụng và rủi ro thị trường thông qua các hạn mức rủi ro và yêu cầu về trích lập dự phòng. Tuy nhiên, trong quá trình thanh tra tại chỗ sự đầy đủ của hệ thống quản lý rủi ro của tổ chức trung gian cũng được xem xét.

28.4.11. Tại Ấn Độ

Trọng tâm quản lý rủi ro của Ủy ban Chứng khoán và Giao dịch Ấn Độ (Sebi) là quản lý các rủi ro thị trường, rủi ro hoạt động và rui ro hệ thống. Sebi cũng phát triển các chính sách quản trị rủi ro để giảm thiểu những rủi ro này. Tuy không có một hệ thống chấm điểm rủi ro chính thức áp dụng cho các tổ chức trung gian, nhưng Sebi đưa vào xem xét các hồ sơ rủi ro của từng tổ chức trung gian để giám sát bên cạnh việc tuân thủ. Việc lựa chọn đối tượng thanh kiểm tra được dựa trên các yếu tố như quy mô của tổ chức trung gian, quy mô hoặc tính phức tạp của hoạt động kinh doanh, tầm quan trọng mang tính hệ thống của tổ chức trung gian và hồ sơ tuân thủ của tổ chức đó.

28.5. Áp dụng mô hình giám sát trên cơ sở rủi ro đối với các công ty chứng khoán trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) đang ở giai đoạn đầu trong việc xây dựng một mô quản lý trên cơ sở rủi ro hoàn chỉnh. Theo Đề án tái cấu trúc các công ty chứng khoán được Bộ Tài chính phê duyệt theo Quyết định số 62/QĐ-BTC ngày 10/01/2012 và Đề án tái cấu trúc thị trường chứng khoán và các doanh nghiệp bảo hiệm được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo Quyết định số 1826/QĐ-TTg ngày 6/12/2012, việc quản lý, giám sát công ty chứng khoán đang được Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đang thực hiện chuyển đổi mô hình giám sát từ việc giám sát tuân thủ sang mô hình giám sát dựa vào rủi ro được thực hiện trên cơ sở ba trụ cột: chỉ tiêu an toàn tài chính (quy định mức độ đủ vốn tối thiểu), khuôn khổ quản trị rủi ro (quy định các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của hệ thống quản lý rủi ro), mô hình cảnh báo sớm (quy định cách thức dự đoán rủi ro và biện pháp xử lý trên cơ sở sử dụng bộ chỉ tiêu giám sát tài chính).

28.5.1. Nguyên tắc giám sát trên cơ sở rủi ro

UBCKNN xây dựng hệ thống giám sát trên cơ sở rủi ro trên các nguyên tắc sau:

– Nguồn lực hạn chế – không bao giờ có thể làm tất cả mọi việc;

– Không thể loại trừ hoàn toàn mọi rủi ro;

– Phải có cơ chế xác định ưu tiên rủi ro cần xử lý để dồn nguồn lực xử lý rủi ro lớn nhất và vấn đề cần thiết nhất.

Một hệ thống giám sát trên cơ sở rủi ro như trên có thể mang lại những lợi ích rõ rệt. Đó là:

– Tối ưu hóa được nguồn lực, xây dựng được cơ sở xử lý nhất quán;

– Phù hợp để đưa ra các biện pháp ngăn chặn và xử lý;

– Khiến các công ty chứng khoán có động lực để tuân thủ hơn (một khi công ty chứng khoán tuân thủ tốt, duy trì tài chính lành mạnh sẽ ít bị cơ quan quản lý tăng cường giám sát hơn).

28.5.2.Mô hình ba trụ cột

28.5.2.1. Quy định về mức độ đủ vốn

Bước đầu thể chế hóa quy định về an toàn tài chính

“An toàn tài chính” là một trong những nghĩa vụ mà công ty chứng khoán phải thực hiện thông qua việc đảm bảo vốn khả dụng như quy định tại khoản 6 Điều 71 Luật Chứng khoán. Quy định về an toàn tài chính sau đó đã được cụ thể hóa bởi Quyết định 27/2007/QĐ-BTC của Bộ trưởng Bộ Tài chính về việc ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động công ty chứng khoán với Tỷ lệ vốn khả dụng trên tổng nợ điều chỉnh. Chỉ tiêu này tỏ ra hiệu quả trong thời kỳ đầu áp dụng khi các hoạt động kinh doanh của công ty chứng khoán còn đơn điệu và thị trường chứng khoán chưa phát triển bùng nổ, đa dạng. Chỉ tiêu này đã đánh giá khả năng trả nợ của các công ty chứng khoán để đảm bảo cho công ty chứng khoán luôn có đủ vốn hoạt động. Song thực tế hoạt động thị trường cho thấy, một khi thị trường điều chỉnh theo hướng bất lợi, các rủi ro trong hoạt động kinh doanh chứng khoán như rủi ro thị trường và rủi ro thanh toán sẽ bộc lộ, kéo theo sự suy giảm giá trị của các tài sản tiềm ẩn rủi ro. Do vậy, cần phải lượng hóa những tác động mà các rủi ro này gây ra và đưa vào cách tính tỷ lệ an toàn tài chính

Bước chuyển trong tư duy quản lý và quá trình nâng cấp, hoàn thiện quy định về an toàn tài chính từ quy định về tỷ lệ vốn khả dụng theo Quy chế tổ chức và hoạt động công ty chứng khoán được ban hành kèm theo Quyết định số 27/2007/QĐ-BTC đến quy định về chỉ tiêu an toàn tài chính theo Thông tư 226/2010/TT-BTC.

Sau các cuộc khủng hoảng tài chính, kể cả cuộc khủng hoảng gần đây vào năm 2008, người ta cũng luôn nhấn mạnh tới hệ thống cảnh báo sớm, bao gồm các chỉ tiêu giám sát tài chính, để giúp các tổ chức kinh doanh chứng khoán và các cơ quan quản lý nhà nước có được những phản ứng chính sách phù hợp, ngăn chặn từ xa nguy cơ đổ vỡ, phá sản các định chế trung gian. Trước thực tế này, nhằm hoàn thiện quy định pháp lý về an toàn tài chính của các tổ chức trung gian chứng khoán, bảo đảm an toàn cho hệ thống các tổ chức này, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư 226/2010/TT-BTC ngày 31/12/2010 quy định chỉ tiêu an toàn tài chính và biện pháp xử lý đối với các tổ chức kinh doanh chứng khoán không đáp ứng chỉ tiêu an toàn tài chính (Thông tư 226) và Thông tư 165/2012/TT-BTC sửa đổi, bổ sung Thông tư 226.

Việc giới thiệu và áp dụng chỉ tiêu an toàn tài chính theo Thông tư 226 cho thấy bước chuyển cơ bản trong tư duy quản lý thị trường của cơ quan quản lý. Thay vì thực hiện quản lý nhà nước dựa trên lợi nhuận của các tổ chức kinh doanh chứng khoán sang quản lý dựa trên rủi ro. Thông tư 226 quy định về chỉ tiêu an toàn tài chính ra đời cũng đặt nền móng đầu tiên cho một hệ thống cảnh báo sớm, nâng cao khả năng phòng vệ về tài chính cho các tổ chức tài chính trung gian. Quy định mới về chỉ tiêu an toàn tài chính cũng phù hợp với thông lệ quốc tế tốt nhất, đặc biệt là hệ thống các chỉ tiêu an toàn tài chính Basel II, đang được áp dụng rộng rãi tại hầu hết các quốc gia. Theo quy định mới về chỉ tiêu an toàn tài chính, một công ty chứng khoán đáp ứng được quy định về chỉ tiêu an toàn tài chính với tỷ lệ vốn khả dụng trên tổng giá trị rủi ro đạt từ 180% trở lên sẽ có nhiều cơ hội duy trì hiệu quả hoạt động kinh doanh trong bối cảnh giá trị tài sản suy giảm do những biến động bất lợi của thị trường. Hay nói cách khác, quy định về chỉ tiêu an toàn tài chính mới đã đưa ra một mức vốn quy định tối thiểu làm gốc rễ cho mọi hoạt động tài chính kinh doanh của công ty chứng khoán. Chỉ khi nào giữ vững được gốc rễ tài chính này trước, công ty chứng khoán mới có cơ sở bền vững để phát triển, mở rộng hoạt động kinh doanh của mình.

Kiên định trong triển khai thực hiện giải pháp hoàn thiện hiệu lực quản lý tuân thủ chỉ tiêu an toàn tài chính

Trong quá trình dự thảo Thông tư 226, lấy ý kiến thành viên thị trường, đã có nhiều công ty chứng khoán lo ngại việc áp dụng thực hiện Thông tư 226 sẽ có thể tác động mạnh đến cơ cấu tài sản tài chính của công ty chứng khoán. Trước việc đó, Ủy ban chứng khoán nhà nước đã tổ chức nhiều hội thảo phổ biến, tập huấn quy định của Thông tư 226 với sự tham dự của các công ty chứng khoán, công ty kiểm toán. Đặc biệt, cơ quan quản lý thị trường đã đưa ra lộ trình thực hiện tuân thủ thông tư 226 một cách bài bản, linh hoạt và rất kiên định. Theo đó, các công ty chứng khoán có khoảng thời gian là 01 năm để chuẩn bị, tái cơ cấu lại tài sản tài chính của mình cho phù hợp với mức độ vốn. Khoảng thời gian làm quen một năm, tuân thủ nhưng chưa áp dụng chế tài xử lý đã giúp tránh gây sốc cho hoạt động của các công ty chứng khoán. Trong một năm này, các công ty chứng khoán có điều kiện tự so lại năng lực tài chính của mình. Những công ty nào trước có tài sản chịu rủi ro vượt quá mức độ hấp thụ và che chắn của vốn khả dụng đã có cơ hội, thời gian cần thiết để giảm quy mô tài sản tài chính hoặc thực hiện tăng vốn chủ sở hữu. Sau khoảng thời gian làm quen này, cơ quan quản lý đã quyết liệt áp dụng Thông tư 226 đối với khối các công ty chứng khoán, tăng dần mức độ xử lý cưỡng chế thực thi quy định này thông qua việc yêu cầu các công ty chứng khoán phải thực hiện công tác rà soát và kiểm toán đối với báo cáo tỷ lệ an toàn tài chính bán niên và năm theo hướng tăng dần tính chính xác và trung thực trong công tác báo cáo. Bên cạnh đó, tính minh bạch về thông tin cũng được đặc biệt coi trọng khi cơ quan quản lý yêu cầu các công ty chứng khoán phải thực hiện công bố thông tin báo cáo tỷ lệ an toàn tài chính bán niên và năm. Thực tiễn triển khai Thông tư 226 trong 04 năm vừa qua cho thấy một sự minh bạch rõ nét về thực trạng tài chính của công ty chứng khoán. Qua đó không những cơ quan quản lý, chính các công ty chứng khoán mà nhà đầu tư, khách hàng, thị trường cũng có cái nhìn rõ ràng hơn về thực trạng của các công ty chứng khoán. Minh bạch về tình hình tài chính cũng góp phần tạo ra tác động tương hỗ với minh bạch trong tuân thủ nội bộ, minh bạch trong vấn đề quản trị điều hành của công ty chứng khoán. Kết quả là, Thông tư 226 giúp đưa ra một bức tranh tương đối rõ ràng và tổng quan về khối các công ty chứng khoán qua việc phân loại các công ty trên cơ sở kết quả tính toán tỷ lệ an toàn tài chính. Việc phân loại, bóc tách tình hình tài chính giúp ban điều hành công ty chứng khoán biết rõ thực trạng tình hình tài chính của chính mình từ đó có biện pháp khắc phục, giúp cho cơ quan quản lý xác định các công ty trong diện kiểm soát, kiểm soát đặc biệt từ đó tập trung nguồn lực xử lý những công ty chứng khoán yếu kém, đảm bảo hoạt động của khối công ty chứng khoán được an toàn, lành mạnh.

Nền móng cho sự phát triển bền vững của khối công ty chứng khoán trong thời gian tới

Một thị trường chứng khoán chỉ có thể phát triển bền vững và ổn định dựa trên cơ sở các tổ chức trung gian tốt, lành mạnh. Đến lượt mình, để phát triển tốt và lành mạnh đòi hỏi các tổ chức trung gian nói chung, và công ty chứng khoán nói riêng phải dựa trên một nền móng tài chính vững chắc. Nền móng đó, được củng cố và duy trì nhờ cơ chế, công cụ nhận diện nguồn gốc, quy mô rủi ro tại mọi thời điểmđể có phương án xử lý kịp thời; hạn chế nguy cơ đổ vỡ, phá sản thông qua hệ các chỉ tiêu cảnh báo sớm và nâng cao năng lực quản trị rủi ro chuyên nghiệp theo thông lệ quốc tế, đáp ứng nhu cầu hội nhập. Quy định về chỉ tiêu an toàn tài chính theo Thông tư 226 cung cấp công cụ đó cho công ty chứng khoán, giúp các tổ chức này xem lại, theo dõi sức khỏe tài chính của mình thường xuyên làm cơ sở vững chắc cho mọi kế hoạch duy trì và phát triển kinh doanh một cách bền vững.

28.5.2.2. Quy định về hướng dẫn thông lệ khuôn khổ quản lý rủi ro cho các công ty chứng khoán

Ngày 28/2/2013, Chủ tịch UBCKNN ký Quyết định số 105/QĐ-UBCK về việc ban hành Quy chế hướng dẫn thiết lập hệ thống và thực hiện quản trị rủi ro cho công ty chứng khoán. Quy chế ra đời nhằm chuẩn hóa và phổ biến các nguyên tắc chung mà tất cả các công ty chứng khoán phải tuân thủ. Theo quy định của Quy chế, các công ty chứng khoán phải triển khai: (i) tổ chức bộ máy quản trị rủi ro, (ii) ban hành chính sách rủi ro, (iii) phát triển và thực hiện các quy trình nội bộ liên quan đến hoạt động quản trị rủi ro tối thiểu đáp ứng các nguyên tắc sau:

–          Đảm bảo công ty chứng khoán có khả năng xác định, đo lường, theo dõi, báo cáo, và xử lý các rủi ro trọng yếu một cách hiệu quả

–          Đảm bảo hoạt động độc lập, khách quan, trung thực và thống nhất

–          Đảm bảo tách biệt giữa bộ phận và cán bộ thực hiện quản trị rủi ro với các bộ phận tác nghiệp

a. Cơ cấu tổ chức bộ máy quản trị rủi ro

Về cơ bản, cơ cấu tổ chức quản trị rủi ro trong công ty chứng khoán có thể được biểu diễn bằng sơ đồ sau:

Một cơ cấu tổ chức như vậy, tối thiểu đáp ứng các yêu cầu sau:

–          Có sự giám sát của Ban Kiểm soát

–          Có sự chỉ đạo, rà soát và kiểm tra thường xuyên của Hội đồng quản trị hoặc/và Tiểu ban Quản trị rủi ro

–          Có sự quản lý chặt chẽ của Tổng giám đốc

–          Có sự đầy đủ của quy trình quản trị rủi ro và hạn mức rủi ro

b. Chính sách rủi ro

Chính sách rủi ro phải bao gồm tối thiểu các nội dung sau:

–          Cơ cấu tổ chức của hệ thống quản trị rủi ro trong công ty chứng khoán. Nhiệm vụ và trách nhiệm của các bộ phận, cá nhân trong hệ thống quản trị rủi ro đảm bảo yêu cầu phân tách chức năng và nhiệm vụ theo quy định;

–          Các phương pháp xác định và đo lường rủi ro;

–          Các phương pháp xác định hạn mức rủi ro;

–          Cơ chế xử lý vi phạm về hạn mức rủi ro và các ngoại lệ đối với chính sách rủi ro và quy trình quản trị rủi ro;

–          Hệ thống thông tin quản lý, các mẫu báo cáo và quy trình, cơ chế báo cáo phục vụ vận hành hệ thống quản trị rủi ro;

–          Cơ chế phân cấp phê duyệt hạn mức rủi ro.

c. Quy trình quản trị rủi ro

Một bộ quy trình quản trị rủi ro, về cơ bản, có thể được minh họa bằng sơ đồ sau đây:

Mấu chốt cải thiện hoạt động quản trị rủi ro ở các công ty chứng khoán

Sự ra đời của Quy chế nhằm giải quyết ba vấn đề then chốt nhất trong hoạt động quản trị rủi ro ở các công ty chứng khoán trong thời gian vừa qua. Đó là:

– Từng bước tăng cường và đảm bảo văn hóa nhận thức rủi ro tốt của các công ty chứng khoán thông qua việc yêu cầu công ty chứng khoán phải thiết lập một hệ thống, khung quản trị rủi ro, chính sách rủi ro đạt chuẩn. Văn hóa nhận thức rủi ro là nhân tố trọng tâm của quản trị rủi ro hay nói cách khác quản trị rủi ro phải là một cấu phần hữu cơ của văn hóa doanh nghiệp. Văn hóa nhận thức rủi ro giúp nâng cao trách nhiệm giải trình, giúp đo lường hiệu quả hoạt động, từ đó đưa ra các mức đãi ngộ (thưởng phạt), vì vậy sẽ thúc đẩy hiệu quả hoạt động ở mọi cấp độ trong công ty chứng khoán.

– Dần từng bước xóa bỏ tình trạng bất đối xứng trong tiếp cận thông tin giữa chủ doanh nghiệp (đại diện là Hội đồng quản trị hoặc Hội đồng thành viên) và người điều hành doanh nghiệp (đại diện là Ban điều hành) về rủi ro mà công ty chứng khoán gặp phải. Với Quy chế này, Hội đồng quản trị đóng vai trò rất quan trọng trong hoạt động quản trị rủi ro từ việc hoạch định chiến lược, chính sách rủi ro đến việc giám sát thực hiện công tác quản trị rủi ro của Ban điều hành thông qua công tác báo cáo nội bộ về quản trị rủi ro. Để làm tốt vai trò của mình, không cách nào khác, Hội đồng quản trị phải tự nâng cao nhận thức của mình về quản trị rủi ro ở cả hai mức độ: nhận thức tầm quan trọng của công tác quản trị rủi ro cũng như kiến thức chuyên môn về quản trị rủi ro. Một khi nhận thức về quản trị rủi ro được tăng cường, Hội đồng quản trị sẽ thực hiện tốt hơn,hiệu quả hơn vai trò quản lý, giám sát công tác điều hành doanh nghiệp mà Đại hội đồng cổ đông đã giao phó.

– Góp phần nâng cao năng lực quản trị rủi ro tại chính các công ty chứng khoán. Với nhiệm vụ phải xây dựng và tuân thủ các quy trình về quản trị rủi ro theo yêu cầu của Quy chế quản trị rủi ro, các công ty chứng khoán phải tập trung nhiều hơn đến việc phát triển về chiều sâu trong hoạt động kinh doanh của mình thay vì chỉ thuần túy chạy đua lôi kéo khách hàng, tăng doanh thu bằng mọi giá thông qua việc đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ cán bộ, nâng cấp hệ thống công nghệ, cải tổ cấu trúc kinh doanh của mình.

Sử dụng quản trị rủi ro như một lợi thế cạnh tranh

Hoạt động quản trị rủi ro về bản chất là một hoạt động điều hành của doanh nghiệp. Chính doanh nghiệp phải có ý thức nâng cao năng lực hoạt động quản trị rủi ro để từ đó nâng cao năng lực quản lý điều hành của mình. Việc áp dụng quy chế một cách đối phó, chiếu lệ sẽ không mang lại lợi ích lâu dài cho doanh nghiệp. Về lâu dài, như một tất yếu khách quan, để tạo dựng và duy trì niềm tin của khách hàng, các công ty chứng khoán sẽ phải triển khai hệ thống quản trị rủi ro một cách chặt chẽ nhằm bảo vệ tài sản của khách hàng cũng như của chính mình. Qua đó, các công ty chứng khoán có thể tận dụng việc tạo dựng hệ thống quản trị rủi ro tốt như là công cụ cạnh tranh hiệu quả nhằm thu hút khách hàng. Thực tế thị trường chỉ ra rằng, các công ty chứng khoán làm ăn hiệu quả, thu hút được nhiều khách hàng và nhà đầu tư là các công ty triển khai quyết liệt, nghiêm túc quản trị rủi ro. Nếu như trước đây, nhà đầu tư thường tìm đến các công ty chứng khoán có phí giao dịch thấp, tỉ lệ ký quỹ margin thấp thì nay, sau hàng loạt đổ bể tại một số công ty chứng khoán nhỏ, nhà đầu tư có xu hướng lựa chọn mở tài khoản và giao dịch ở các công ty chứng khoán uy tín nơi mang lại cho họ lòng tin về chất lượng dịch vụ.

Các lớp bảo vệ cho hoạt động kinh doanh của các công ty chứng khoán

Trong hoạt động kinh doanh của mình, về mặt lý thuyết, các công ty chứng khoán có thể có 4 lớp bảo vệ. Đó là: (i) ban hành và tuân thủ quy trình nội bộ cho các hoạt động kinh doanh, (ii) ban hành và tuân thủ hệ thống tổ chức, quy trình quản trị rủi ro thống nhất; (iii) có sự kiểm tra, giám sát thường xuyên của hệ thống kiểm soát nội bộ; (iv) có sự giám sát của Hội đồng quản trị và Ban Kiểm soát. Việc ra đời của Quy chế quản trị rủi ro và trước đó là Thông tư 210/2012/TT-BTC của Bộ Tài chính hướng dẫn về tổ chức và hoạt động công ty chứng khoán đã góp phần hoàn thiện 4 lớp bảo vệ này cho hoạt động kinh doanh của công ty chứng khoán.

Thông tư 210/2012/TT-BTC yêu cầu công ty chứng khoán phải ban hành và thực hiện đầy đủ các quy trình nghiệp vụ có thể coi là lớp bảo vệ đầu tiên trong hoạt động kinh doanh của các công ty chứng khoán. Rủi ro tồn tại, phát sinh nhiều nhất ở một công ty chứng khoán chính là từ các bộ phận tác nghiệp kinh doanh. Để giảm thiểu rủi ro trong khi tác nghiệp, mọi hoạt động kinh doanh ở các bộ phận này phải được thực hiện trên cơ sở tuân thủ tuyệt đối các quy trình tác nghiệp nội bộ.

Quy chế quản trị rủi ro tạo ra lớp bảo vệ thứ 2 do doanh nghiệp. Trên thực tế, mọi hoạt động kinh doanh đều tồn tại và phát sinh rủi ro. Rủi ro sẽ hiện hữu và phát sinh từ các quy trình kinh doanh. Khi đó quy trình quản trị rủi ro sẽ đi kèm với quy trình kinh doanh để theo dõi và xử lý rủi ro.

Thông tư 210/2012/TT-BTC cũng quy định cũng yêu cầu công ty chứng khoán phải tổ chức bộ phận kiểm toán nội bộ và hệ thống kiểm soát nội bộ để thực hiện chức năng kiểm tra lại các chốt kiểm soát trong việc vận hành các quy trình kinh doanh. Đây chính là lớp bảo vệ thứ ba trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

Quy chế quản trị rủi ro cũng giao cho Hội đồng quản trị nhiệm vụ hoạch định chính sách, giám sát tính hiệu quả và phù hợp của công tác quản trị rủi ro trong doanh nghiệp cùng với đó là sự giám sát, kiểm tra lại của Ban kiểm soát. Vai trò giám sát của Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát chính là lớp bảo vệ cuối cùng cho doanh nghiệp.

28.5.2.3. Mô hình cảnh báo sớm

Mô hình cảnh báo sớm ở đây được hiểu là một mô hình kinh tế lượng có khả năng dự doán trước khả năng mất an toàn tài chính của các công ty chứng khoán sử dụng các thông tin tài chính mà các công ty này báo cáo cho UBCKNN.

Mô hình cảnh báo sớm giúp UBCKNN ưu tiên hóa các rủi ro hệ thống lớn có ảnh hưởng trọng yếu đến tính ổn định hệ thống giao dịch và thanh toán chứng khoán và tính an toàn chứng khoán và tiền của nhà đầu tư. Từ đó không những giúp UBCKNN tránh bị bất ngờ trước cái trường hợp mất an toàn tài chính của công ty chứng khoán mà còn tạo điều kiện cho UBCKNN can thiệp kiểm soát, xử lý các trường hợp mất an toàn tài chính nhằm đảm bảo tối đa an toàn hệ thống và quyền lợi hợp pháp của nhà đầu tư.

a. Phương trình rủi ro và phương pháp phân loại công ty trên cơ sở tính điểm rủi ro

Rủi ro hệ thống phát sinh từ công ty chứng khoán bao gồm khả năng xảy ra mất an toàn tài chính tại công ty chứng khoán và tác động đối với thị trường nếu khả năng đó xảy ra.

Các nhân tố đánh giá khả năng xảy ra rủi ro chủ yếu là các nhân tố rủi ro kinh doanh như: mức độ đủ vốn, chất lượng tài sản, thanh khoản, khả năng sinh lời, chất lượng quản trị, cơ cấu vốn (đòn bẩy), chất lượng báo cáo tài chính kiểm toán (qua xem xét yếu tố ngoại trừ của kiểm toán). Trong khi đó các nhân tố đánh giá tác động có thể tính đến như quy mô công ty, số lượng khách hàng, thị phần.

Việc cho điểm rủi ro cũng như tác động là trách nhiệm của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước và có sự rà soát và thẩm định thường xuyên. Các mức điểm được cho theo thang như sau:

 Trên cơ sở điểm rủi ro của từng công ty, UBCKNN sẽ tiến hành phân loại và đề ra biện pháp xử lý tương ứng

 Việc phân loại được tiến hành như sau:

Chấm điểm rủi ro

Tác động

Rủi ro

Nhỏ

Trung bình

Lớn

 

Cao

Trung bình

Cao

Cao

Trung bình

Nhỏ

Trung bình

Cao

Thấp

Nhỏ

Nhỏ

Trung bình

b. Biện pháp xử lý

Trên cơ sở phân loại rủi ro, UBCKNN chủ động chọn lựa đối tượng kiểm tra và đưa ra các biện pháp thích hợp và kịp thời, chẳng hạn như yêu cầu các công ty có rủi ro cao và tác động lớn giảm thiểu các hoạt động chịu rủi ro, tăng cưởng công tác quản trị rủi ro, thậm chí can thiệp tức thời đối với các công ty đang gặp rủi ro nghiêm trọng, không thể duy trì hoạt động nhằm giúp ổn định quá trình chuyển giao tài khoản khách hàng sang công ty khác, tránh ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của khách hàng.

Biện pháp xử lý

Mức độ xử lý

Mức độ rủi ro

Kiểm tra tại chỗ

Ưu tiên

Cao

Yêu cầu giải trình

và theo dõi thường xuyên

Trung bình

Trung bình

Không

Thấp

Thấp

 Một khâu trong gói giải pháp tổng thể thực hiện nhiệm vụ tái cấu trúc khối công ty chứng khoán   

Theo lộ trình thực hiện Đề án tái cấu trúc các công ty chứng khoán ban hành kèm theo Quyết định số 62/QĐ-BTC ngày 10/1/2012 của Bộ trưởng Bộ Tài chính, dự kiến đến năm 2015, UBCKNNphải ban hành và áp dụng một quy chế xếp loại công ty chứng khoán làm cơ sở cho việc đưa ra các biện pháp tái cấu trúc các công ty này. Tuy nhiên để đẩy nhanh quá trình tái cấu trúc, UBCKNN đã tập trung nghiên cứu, ban hành Quy chế hướng dẫn xếp loại công ty chứng khoán và đưa vào áp dụng từnăm 2014.

Mục đích cốt lõi của Quy chế xếp loại công ty chứng khoán là đóng vai trò như một hệ thống cảnh báo sớm, giúp cơ quan quản lý sớm nhận diện các công ty chứng khoán có nhiều nguy cơ rơi vào diện vi phạm chỉ tiêu an toàn tài chính theo quy định tại Thông tư 226 hoặc có nhiều nguy cơ sụt giảm quy mô vốn chủ sở hữu so với vốn điều lệ ban đầu. Trên cơ sở xếp loại các công ty chứng khoán thành nhiều nhóm theo kết quả lượng hóa rủi ro mất vốn và không đảm bảo chỉ tiêu an toàn tài chính, UBCKNN có thêm một kênh thông tin để hướng nguồn lực vào xử lý các công ty chứng khoán có nguy cơ mất an toàn tài chính. Hơn nữa, kết quả chấm điểm xếp loại được tổng hợp từ các yếu tố như chất lượng vốn, chất lượng tài sản v.v.. là các yếu tố định lượng hoặc từ các yếu tố định tính như chất lượng quản trị có thể là những chỉ báo cụ thể về nội dung kiểm tra, giám sát và xử lý cho cơ quan quản lý.

Một mặt, Quy chế hướng dẫn xếp loại công ty chứng khoán giúp hoàn thiện phương pháp quản lý thị trường theo hướng chuyển dần từ quản lý trên cơ sở lợi nhuận kinh doanh sang quản lý trên cơ sở rủi ro. Mặc khác, Quy chế hướng dẫn xếp loại công ty chứng khoán cùng với Thông tư 226 cung cấp bức tranh tổng thể, thực trạng an toàn tài chính của các công ty chứng khoán. Đây là chỉ báo cụ thể và đáng tin cậy giúp thực hiện thành công nhiệm vụ tái cấu trúc công ty chứng khoán theo hướng giảm dần số lượng và nâng cao chất lượng hoạt động kinh doanh, lành mạnh hóa nền tảng tài chính của các công ty chứng khoán phục vụ mục đích phát triển bền vững thị trường chứng khoán trong dài hạn.

28.5.3. Thực tiễn triển khai thực hiện giám sát trên cơ sở rủi ro và một số kết quả bước đầu

28.5.3.1. Thực tiễn triển khai

Bắt đầu từ năm 2014, bên cạnh việc thực hiện giám sát tuân thủ và giám sát trên cơ sở lợi nhuận, UBCKNN bước đầu thực hiện giám sát trên cơ sở rủi ro đối với công ty chứng khoán với mục tiêu chiến lược là dần từng bước nhận diện và xây dụng hồ sơ rủi ro cơ bản của từng công ty chứng khoán. Thứ nhất, trên cơ sở báo cáo tài chính kiểm toán bán niên năm 2013 và báo cáo tài chính kiểm toán năm 2014 cùng với các báo cáo tỷ lệ an toàn tài chính có kiểm toán của kỳ tương ứng, UBCKNN đã thực hiện chấm điểm xếp loại công ty chứng khoán. Thứ hai, thông qua rà soát báo cáo quản trị rủi ro của từng công ty chứng khoán, UBCKNN đánh giá tính hiệu quả, toàn diện và đầy đủ của các thủ tục quản trị rủi ro đang được các công ty chứng khoán thực hiện. Việc đánh giá này dựa trên những nhận định chủ quan của các chuyên viên phụ trách từng công ty chứng khoán trên các mặt hoạt động kinh doanh của công ty, cụ thể: công ty chứng khoán có thiết lập một hệ thống quản trị rủi ro toàn diện và tích hợp tối thiểu theo chuẩn khung quản trị rủi ro mà UBCKNN hướng dẫn không? Có thiết lập chính sách quản trị rủi ro, trong đó đề ra cụ thể khẩu vị rủi ro của đại diện chủ sở hữu công ty chứng khoán không? có nhận diện đầy đủ và hợp lý các rủi ro trọng yếu tương ứng với đặc thù hoạt động kinh doanh của mình không? Với mỗi một rủi ro trọng yếu, công ty chứng khoán có xây dựng hạn mức rủi ro và phân bố vốn phù hợp không? Có thực hiện các thủ tục quản trị rủi ro cụ thể tương ứng với các rủi ro trọng yếu đó không? Thứ ba, trên cơ sở chỉ tiêu thị phần, các chuyên viên phụ trách sẽ thực hiện đánh giá mức độ tác động của rủi ro nếu xảy ra đối với từng công ty chứng khoán. Qua ba bước kể trên, bước đầu, thông qua việc tổng hợp và đánh giá của các chuyên viên phụ trách, UBCKNN sẽ nhận diện được cơ bản, tương đối hồ sơ rủi ro của từng công ty chứng khoán. Chẳng hạn như, một công ty chứng khoán có điểm xếp loại không cao, tiềm ẩn nhiều rủi ro, cộng thêm chỉ tiêu tác động lớn sẽ được đưa vào tầm ngắm quản lý ở mức cao của UBCKNN. Tuy nhiên, qua báo cáo quản trị rủi ro, chuyên viên phụ trách đánh giá công ty chứng khoán đó đã nhận diện được các khía cạnh tiềm ẩn rủi ro trọng yếu trong mỗi hoạt động kinh doanh của mình và đã thực hiện hợp lý, đầy đủ các thủ tục cần thiết để quản trị rủi ro đó. Như vậy, xét trên khía cạnh giám sát trên cơ sở rủi ro, hồ sơ công ty chứng khoán đó vẫn ở mức chấp nhận được và ở mức độ tốt hơn so với một công ty chứng khoán khác có điểm xếp loại rủi ro thấp hơn nhưng lại không có các thủ tục quản trị rủi ro ứng phó hợp lý. 

28.5.3.2. Kết quả bước đầu

Kết quả chấm điểm cho thấy sự phân loại khá rõ ràng, phản ánh tương đối chính xác thực trạng về năng lực tài chính cũng như năng lực quản trị điều hành của các CTCK. Khối các công ty chứng khoán phân hóa thành 3 nhóm chính, bao gồm nhóm các công ty có rủi ro thấp, hoạt động lành mạnh và hiệu quả; nhóm các công ty có rủi ro trung bình, hoạt động tương đối lành mạnh; và nhóm các công ty có rủi ro cao, hoạt động yếu kém.

Cụ thể, những công ty xếp loại A là những công ty có tỷ lệ ATTC đạt từ 180% trở lên, chất lượng tài sản lành mạnh, công tác quản trị công ty tốt. Các công ty xếp loại B và số ít các công ty xếp loại C là các công ty hoạt động bình thường, vẫn còn tồn tại một số hạn chế trong hoạt động kinh doanh. Hầu hết công ty chứng khoán loại D và E là những công ty không đáp ứng chỉ tiêu an toàn tài chính, chất lượng tài sản kém, lỗ ăn sâu vào vốn chủ sở hữu, hoạt động yếu kém, cầm chừng, thậm chí gần như không hoạt động. Năm 2014, trên cơ sở xếp loại hồ sơ rủi ro của các công ty chứng khoán, UBCKNN đã bước đầu chọn công ty chứng khoán ở mức xếp loại thấp vào danh sách đối tượng kiểm tra.

28.5.3.3. Nâng cao hiệu quả xếp loại công ty chứng khoán trong thời gian tới

Về bản chất, thị trường chứng khoán luôn luôn vận động và phát triển kéo theo sự phát triển ngày càng đa dạng trong hoạt động kinh doanh của các công ty chứng khoán. Hoạt động kinh doanh chứng khoán thay đổi làm nảy sinh thêm và/hoặc làm biến đổi các nguồn rủi ro (tác nhân) khiến công ty chứng khoán không đáp ứng được an toàn tài chính. Nếu không thay đổi, nâng cấp phương pháp đánh giá xếp loại cho phù hợp với sự biến động của thị trường, cơ quan quản lý có thể phải chịu rủi ro đánh giá sai thực trạng hoạt động của các công ty chứng khoán. Trên cơ sở đó, trong thời gian tới, Ủy ban chứng khoán nhà nước tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện phương pháp đánh giá, xếp loại công ty chứng khoán theo hướng sửa đổi hoặc/và bổ sung các yếu tố cả về định tính và định lượng sao cho bám sát hơn với tình hình phát triển thực tế của thị trường.

28.6. Kết luận

Mô hình giám sát trên cơ sở rủi ro có thể nâng cao hiệu quả và hiệu lực của công tác quản lý bằng cách tối ưu hóa việc sử dụng các nguồn lực giám sát. Nó cũng thúc đẩy một văn hóa tuân thủ chủ động của các tổ chức trung gian thị trường. Tuy nhiên, việc phát triển đủ năng lực quản lý, đảm bảo thực hiện có hiệu quả mô hình giám sát trên cơ sở rủi ro là một thách thức lớn. Với tất cả những thách thức của nó, việc thực hiện thành công một mô hình giám sát trên cơ sở rủi ro thống nhất, chủ động và hiệu quả vốn có thể hình thành và phát triển cùng với sự phát triển của thị trường, là bắt buộc trong việc đạt được các mục tiêu quản lý về an toàn vốn và sự ổn định tài chính, đảm bảo duy trì tính toàn vẹn của thị trường và bảo vệ nhà đầu tư.

 TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.   Thông tư số 226/2010/TT-BTCngày 31/12/2010 của Bộ Tài chínhquy định chỉ tiêu an toàn tài chính và biện pháp xử lý đối với các tổ chức kinh doanh chứng khoán không đáp ứng chỉ tiêu an toàn tài chính

2.   Quyết định số 105/QĐ-UBCKngày 26/2/103 của Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước ban về việc Ban hành Quy chế hướng dẫn việc thiết lập và vận hành Hệ thống quản trị rủi ro cho công ty chứng khoán

3.   Quyết định số 617/QĐ-UBCK ngày 9/10/2013 của Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước ban hành Quy chế hướng dẫn xếp loại công ty chứng khoán

4.   Guideline to Emerging Market Regulators Regarding Requirements for Minimum Entry and Continuous Risk-Based Supervision of Market Intermediaries-Final Report-OICU-IOSCO-December 2009;

5.   IOSCO Objectives and principles of securities regulation

6.   David Lewis (2013) Risk based supervision: How can we do better? An Australian supervisory perspective. Toronto Centre Program on Supervisory experiences in implementing Global banking reforms

7.   Julia Black (2004) The Development of Risk Based Regulation in Financial Services: Canada, the UK and Australia.

 

Bản in

 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *