Chuyên đề 26: NÂNG CAO NĂNG LỰC CỦA HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ, GIÁM ĐỐC ĐIỀU HÀNH THEO THÔNG LỆ OECD

Chuyên đề 26: NÂNG CAO NĂNG LỰC CỦA HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ, GIÁM ĐỐC ĐIỀU HÀNH THEO THÔNG LỆ OECD[1]

PGS,TS. Hoàng Trần Hậu,

Giám đốc Trường Bồi dưỡng cán bộ tài chính.

PGS.,TS. Vũ Sỹ Cường, Học viện Tài chính

 Công ty viễn thông đường dài lớn thứ hai Hoa Kỳ WorldCom đã bùng nổ thần tốc thông qua các vụ thôn tính, đạt tới giá trị thị trường 180 tỷ USD, thuê mướn 80.000 lao động… nhưng phải nộp đơn phá sản vào ngày 21-7-2002 vì nợ nần và gian lận kế toán hàng tỷ USD. Vụ phá sản của WorldCom với số tài sản gần 110 tỷ USD, lớn gấp đôi kỷ lục của Enron năm 2001. Tổng giám đốc(Thành viên HĐQT tham gia điều hành) đã bị bắt.

Năm 2015, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã tuyên bố quyết định sẽ mua lại bắt buộc toàn bộ vốn cổ phần của Ngân hàng Xây dựng VNBC và OceanBank giá 0 đồng. Theo đó, Ngân hàng Nhà nước trở thành chủ ở hữu 100% vốn điều lệ của 2 ngân hàng thương mại này, chấm dứt toàn bộ quyền, lợi ích và tư cách cổ đông của các cổ đông hiện hữu. Liên quan tới Ngân hàng Xây dựng, ngày 29/7/2014, Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an đã công bố quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và bắt tạm giam bị can đối với 3 thành viên Hội đồng quản trị (HĐQT). Ba nhân vật này đều là những người giữ chức vụ quan trọng tại Hội đồng quản trị Ngân hàng TMCP Xây dựng Việt Nam. Ngày 24/2010, Cơ quan cảnh sát điều tra Bộ Công an đã tống đạt quyết định khởi tố bị can, thực hiện lệnh khám xét, bắt tạm giam 4 tháng đối với 2 chủ tịch, tổng giám đốc và một số lãnh đạo của ngân hàng này đã bị bắt.

Hành động và hậu quả từ những hành động của các thành viên HĐQT từ không ít doanh nghiệp kiểu như 4 trường hợp trên đã dẫn đến sự sụp đổ hoàn toàn của chính những doanh nghiệp mà họ đã gây dựng nên. Tất cả đều cho thấy những vấn đề về vai trò của HĐQT, giám đốc điều hành doanh nghiệp.

Nói đến quản trị của doanh nghiệp nói chung và công ty cổ phần nói riêng là nói đến vai trò của các bộ phận trong cơ cấu của doanh nghiệp, trong đó trước hết là vai trò của HĐQT, thành viên của HĐQT, giám đốc và các nhà điều hành doanh nghiệp. HĐQT được coi như “bộ não của doanh nghiệp”, Giám đốc điều hành được ví như các “bộ phận còn lại của doanh nghiệp”. Bộ não ở đây không phải là bộ não mang tính nhục thể mà là “thần thức của não” hay là tâm thức của con người. Còn các bộ phận khác được điều khiển bởi bộ não để thực hiện các chức năng vận hành cơ thể con người.

Đối với những quốc gia có nền kinh tế thị trường mới nổi, việc tăng cường quản trị sẽ giảm thiểu khả năng tổn thương trước các khủng hoảng tài chính, củng cố quyền sở hữu, giảm chi phí giao dịch và chi phí vốn, và dẫn đến việc phát triển thị trường vốn. Nếu quản trị công ty yếu kém sẽ làm giảm mức độ tin tưởng của các nhà đầu tư, và không khuyến khích đầu tư từ bên ngoài. Trong vòng vài năm qua, tầm quan trọng của quản trị công ty đã được nhấn mạnh thể hiện ở số lượng các nghiên cứu ngày càng tăng lên. Các nghiên cứu cho thấy các thực tiễn quản trị công ty tốt dẫn tới tăng trưởng mạnh đối với giá trị kinh tế gia tăng của các công ty, năng suất cao hơn và giảm rủi ro tài chính hệ thống cho các quốc gia.

Ở Việt Nam, trong những năm gần đây, vấn đề quản trị doanh nghiệp[2] đã được nói đến rất nhiều trong các Trường Đại học, các Viện nghiên cứu và các cuộc hội thảo. Nhiều nhà khoa học, chuyên gia đã nhấn mạnh vai trò đặc biệt quan trọng của hệ thống này và năng lực của HĐQT, Giám đốc điều hành các công ty cổ phần đối với sự tồn tại và phát triển đối với cả các doanh nghiệp cổ phần hóa lẫn các công ty được thành lập hoàn toàn do vốn tư nhân. Tuy nhiên, trên thực tế, quản trị của các công ty ở ta còn rất hạn chế.

Quản trị công ty đã được cộng đồng tài chính quốc tế công nhận là một trong 12 tiêu chuẩn cơ bản tốt nhất trong thực tiễn. Ngân hàng Thế giới là tổ chức đánh giá việc áp dụng các tiêu chuẩn của OECD[3] về quản trị công ty. Tuy nhiên những nguyên tắc này mới chỉ áp dụng cho các công ty đại chúng mà chưa được quy định áp dụng rộng rãi cho tất cả hệ thống doanh nghiệp.

Như vậy, làm thế nào để nâng cao năng lực cho HĐQT và các Giám đốc điều hành doanh nghiệp theo những nguyên tắc quản trị mang tính thông lệ quốc tế này? Đó là những khía cạnh xuyên suốt của các nội dung dưới đây.

26.1. Vai trò của HĐQT, Giám đốc điều hành doanh nghiệp

Chúng ta sẽ nghiên cứu loại hình doanh nghiệp đại diện nhất cho hệ thống quản trị, và có thể khái quát về cấu trúc doanh nghiệp, từ đó thấy được vai trò, trách nhiệm của HĐQT, Giám đốc doanh nghiệp từ góc độ thể chế ở nước ta như sau:

26.1.1. Cấu trúc doanh nghiệp

Điều 134 của Luật Doanh nghiệp năm 2014 đã quy định về cơ cấu tổ chức quản lý công ty cổ phần

1. Công ty cổ phần có quyền lựa chọn tổ chức quản lý và hoạt động theo một trong hai mô hình sau đây, trừ trường hợp pháp luật về chứng khoán có quy định khác:

a) Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc. Trường hợp công ty cổ phần có dưới 11 cổ đông và các cổ đông là tổ chức sở hữu dưới 50% tổng số cổ phần của công ty thì không bắt buộc phải có Ban kiểm soát;

b) Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc. Trường hợp này ít nhất 20% số thành viên Hội đồng quản trị phải là thành viên độc lập và có Ban kiểm toán nội bộ trực thuộc Hội đồng quản trị. Các thành viên độc lập thực hiện chức năng giám sát và tổ chức thực hiện kiểm soát đối với việc quản lý điều hành công ty.

2. Trường hợp chỉ có một người đại diện theo pháp luật, thì Chủ tịch Hội đồng quản trị hoặc Giám đốc hoặc Tổng giám đốc là người đại diện theo pháp luật của công ty; trường hợp Điều lệ không có quy định khác thì Chủ tịch Hội đồng quản trị là người đại diện theo pháp luật của công ty. Trường hợp có hơn một người đại diện theo pháp luật, thì Chủ tịch Hội đồng quản trị và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc đương nhiên là người đại diện theo pháp luật của công ty.

 Khi pháp luật thừa nhận “một công ty” hay “một doanh nghiệp” là một pháp nhân, doanh nghiệp có cấu trúc như sau: 

 

Doanh nghiệp

 

 

                                               

 

Cổ đông/thành viên

(Những người góp vốn và mua cổ phiếu của doanh nghiệp)

 

Hội đồng quản trị hay Hội đồng thành viên

 

 

Cán bộ quản lý

Có bốn yếu tố trong cơ cấu của doanh nghiệp bao gồm:

Bản thân doanh nghiệp, mà mặc dù nó không tồn tại về mặt vật lý, được pháp luật xác định như một pháp nhân độc lập với tất cả các quyền của một pháp nhân (tồn tại liên tục, ký hợp đồng, sở hữu v..v..).

và thêm ba yếu tố “con người” của “doanh nghiệp”:

Các cổ đông/thành viên (những người góp vốn và mua cổ phiếu của doanh nghiệp) là người có quyền bầu hoặc chỉ định thành viên của Hội đồng quản trị và các quyền khác. Trong doanh nghiệp nhà nước, Cổ đông chính là Nhà nước mà đại diện là Bộ trưởng

Các thành viên HĐQT (hay HĐTV) là người được giao trách nhiệm điều hành doanh nghiệp thay mặt các cổ đông và những người góp vốn và nhân danh doanh nghiệp.

Nhà quản lý (được gọi là “officers” trong luật) được Hội đồng quản trị chỉ định để giám sát các công việc hàng ngày của doanh nghiệp.

26.1.2. Điều lệ hoạt động của Doanh nghiệp

Điều lệ là văn bản làm cơ sở cho một doanh nghiệp, xác định mối quan hệ giữa: Doanh nghiệp và Hội đồng quản trị; các cổ đông và Hội đồng quản trị và Các cổ đông và doanh nghiệp.

Theo điều lệ: Đồng ý trở thành thành viên Hội đồng quản trị có nghĩa là một cá nhân tham gia vào một hợp đồng với doanh nghiệp và các cổ đông và những người góp vốn vào doanh nghiệp. Điều lệ là văn bản quan trọng nhất đối với các thành viên Hội đồng quản trị, hiểu nội dung của nó và hành động theo mong muốn của doanh nghiệp. (Nội dung của Điều lệ được qui định trong Điều 25 của Luật doanh nghiệp Việt Nam 2014). Điều lệ cũng là quy định riêng của một doanh nghiệp và là căn cứ xác định trách nhiện của các thành viên HĐQT, cổ đông và những nhà quản lý trong doanh nghiệp. Các thành viên HĐQT là những người cần phải hiểu nội dung của điều lệ và cần phải cập nhật Điều lệ khi cần thiết.

26.1.3. Thành viên HĐQT

Khái niệm “Thành viên HĐQT” không được định nghĩa riêng trong Luật doanh nghiệp. Trên bình diện quốc tế, khái niệm “Giám đốc – Thành viên HĐQT” được định nghĩa: “Thành viên HĐQT là người mà được các cổ đông và những người góp vốn vào công ty bầu ra để thay mặt họ Điều hành và Giám sát công ty”

“Một người có ảnh hưởng và vai trò quan trọng đối với việc ra các quyết định về tương lai phát triển của doanh nghiệp”

  • Giám đốc điều hành – thành viên HĐQT

Trên thực tế các cá nhân này có thể được gọi dưới nhiều chức danh khác nhau nhưng cần làm rõ những chức danh này: Một người có chức danh “Giám đốc – thành viên HĐQT” thì phải có đầy đủ trách nhiệm của thành viên HĐQT? Một người có chức danh là “nhà quản lý điều hành” thì phải có đầy đủ trách nhiệm về quản lý doanh nghiệp hay không?

Thượng nghị sỹ Denning, một thẩm phán Anh, người được coi như là “nhà tiên tri” của pháp luật đã diễn đạt nó một cách đơn giản hơn: “Giám đốc – thành viên HĐQT là “khối óc điều khiển” của doanh nghiệp. Các nhà quản lý là “các cánh tay của doanh nghiệp”. Như vậy, một giám đốc – thành viên HĐQT có thể đóng cả hai vai đó là những nhà lãnh đạo “bộ óc điều khiển” và những nhà quản lý “là các cánh tay của doanh nghiệp”

Adrian Cadbury[4], người đã viết rất nhiều về quản trị doanh nghiệp đã khuyến nghị rằng cần phải có nhiều thành viên độc lập không tham gia điều hành công ty trở thành thành viên của HĐQT trong các công ty niêm yết ở nước Anh. Ông cho rằng đã có sự lẫn lộn giữa vai trò của các thành viên HĐQT với vai trò của các Giám đốc điều hành. Trong cuốn sách cuối cùng[5] của mình, ông cho rằng: “Tôi không muốn mời một Giám đốc (với tư cách là nhà quản lý) trở thành Thành viên Hội đồng quản trị bởi vì họ biết quản lý các công việc kinh doanh cụ thể. Công việc của Hội đồng quản trị không phải quản lý mà là Định hướng tương lai phát triển của doanh nghiệp. Nếu tôi có các Giám đốc là thành viên Hội đồng quản trị (như giám đốc điều hành ở Việt Nam) mà tôi là chủ tịch thì đó là bởi vì họ có thể làm việc với tôi như một nhà điều hành công ty chứ không phải là quản lý của công công ty.”

  • Nghĩa vụ của các thành viên HĐQT          

Cổ đông và những người góp vốn có quyền chỉ định và bãi miễn thành viên Hội đồng quản trị, nên các thành viên Hội đồng quản trị phải hoạt động vì lợi ích của các cổ đông. Tuy nhiên, ở mức độ cao hơn nữa là hoạt động vì lợi ích của công ty.

  • Nghĩa vụ đối với toàn thể Cổ đông

Tất cả các thành viên HĐQT, trừ các thành viên HĐQT không tham gia điều hành hay các thành viên độc lập của HĐQT đều phải có nghĩa vụ đối với toàn thể cổ đông, chứ không chỉ với bất kỳ một nhóm cổ đông hay một cổ đông nào. Thành phần các cổ đông rất khác nhau giữa các doanh nghiệp khác nhau. Ví dụ như: Doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước có thể chỉ có Một cổ đông duy nhất hoặc chỉ có hai cổ đông; Doanh nghiệp tư nhân hoặc công ty TNHH chỉ có một hoặc một số ít các thành viên góp vốn; Một số công ty niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán có thể có một vài cổ đông nắm giữ một số lượng cổ phần đáng kể và một số lượng cổ đông lớn nắm giữ một số lượng cổ phần rất nhỏ; Một số công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán khác thì có thể có trường hợp các cổ đông đều nắm những cổ phần rất nhỏ của công ty; Công ty cổ phần có nhiều công ty thành viên trong đó thì vị trí của đại diện của các công ty thành viên là bình đẳng với nhau hội đồng các đơn vị thành viên.

  • Nghĩa vụ đối với công ty

Nghĩa vụ của thành viên HĐQT đối với công ty theo pháp luật được hiểu như sau:

–          Tất cả các tài sản thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp, Hội đồng quản trị và các Giám đốc không được sử dụng các tài sản đó để thoả mãn nhu cầu cá nhân.

–          Các thành viên Hội đồng quản trị phải đưa ra được những quyết định vì lợi ích cao nhất của doanh nghiệp. Thành viên Hội đồng quản trị không được ra quyết định chỉ vì lợi ích của cá nhân họ (hoặc lợi ích của bộ phận kinh doanh trong công ty mà họ tham gia quản lý).

–          Nếu các thành viên Hội đồng quản trị nhận được bất kỳ một lợi ích cụ thể nào với tư cách là thành viên Hội đồng quản trị, thì khoản lợi ích đó phải được tính vào chi phí và được coi như là một phần lương được trả theo chính sách thù lao chính thức của doanh nghiệp.

–          Vai trò của Hội đồng quản trị là vai trò tập thể. Do đó không một thành viên Hội đồng quản trị nào có thể đề nghị tổng giám đốc hoặc các nhà quản phải làm bất kỳ điều gì với tư cách cá nhân họ mà chỉ có thể đề nghị với tư cách là HĐQT.

26.2. Trách nhiệm của thành viên HĐQT theo các nguyên tắc quản trị công ty của OECD được áp dụng vào Việt Nam

Bộ Nguyên tắc Quản trị Công ty của OECD được Hội đồng Bộ trưởng OECD phê chuẩn lần đầu vào năm 1999 và từ đó trở thành chuẩn mực quốc tế cho các nhà hoạch định chính sách, nhà đầu tư, công ty và các bên có quyền lợi liên quan khác trên toàn thế giới. Bộ Nguyên tắc đã đẩy mạnh tầm quan trọng của quản trị công ty và cung cấp hướng dẫn cụ thể cho các sáng kiến pháp lý và quản lý ở các quốc gia thuộc lẫn không thuộc OECD. Diễn đàn Ổn định Tài chính chỉ rõ bộ Nguyên tắc là một trong 12 tiêu chuẩn then chốt đối với các hệ thống tài chính vững mạnh. Bộ Nguyên tắc cũng là nền tảng cho chương trình mở rộng hoạt động giữa các quốc gia thuộc và không thuộc OECD và củng cố phần quản trị công ty của các Báo cáo của Ngân hàng Thế giới/Quỹ Tiền tệ Quốc tế về tình hình tuân thủ các Tiêu chuẩn và Chuẩn mực (ROSC).

Các nguyên tắc Quản trị Công ty của OECD gồm:

OECD 1: Đảm bảo Cơ sở cho một Khuôn khổ Quản trị Công ty Hiệu quả

OECD II: Quyền của Cổ đông và các Chức năng Sở hữu Cơ bản

OECD III: Đối xử Bình đẳng đối với Cổ đông

OECD IV: Vai trò của các Bên có Quyền lợi Liên quan trong Quản trị Công ty

OECD V: Công bố Thông tin và Tính minh bạch

OECD VI: Trách nhiệm của HĐQT

OECD VI. Trách nhiệm của Hội đồng Quản trị

Khuôn khổ quản trị công ty cần đảm bảo định hướng chiến lược của công ty, giám sát có hiệu quả công tác quản lý của Hội đồng Quản trị và trách nhiệm của Hội đồng Quản trị đối với công ty và cổ đông.

A. Thành viên Hội đồng Quản trị phải làm việc với thông tin đầy đủ, tin cậy, siêng năng và cẩn trọng, và vì lợi ích cao nhất của công ty và cổ đông.

B. Khi quyết định của Hội đồng Quản trị có thể ảnh hưởng tới các nhóm cổ đông khác nhau theo các cách khác nhau thì Hội đồng Quản trị phải đối xử bình đẳng với mọi cổ đông.

C. Hội đồng Quản trị phải áp dụng các tiêu chuẩn đạo đức cao, phải quan tâm tới lợi ích của cổ đông.

D. Hội đồng Quản trị phải thực hiện các chức năng chủ yếu bao gồm:

  1. Xem xét và định hướng chiến lược công ty, các kế hoạch hoạt động cơ bản, chính sách rủi ro, ngân sách và kế hoạch kinh doanh hàng năm; đặt ra các mục tiêu hoạt động, theo dõi việc thực hiện mục tiêu và hoạt động của công ty; giám sát các hoạt động đầu tư vốn, thâu tóm và thoái vốn chủ yếu.
  2. Giám sát hiệu quả thực tiễn quản trị công ty và thực hiện các thay đổi khi cần thiết.
  3. Lựa chọn, trả lương, giám sát và thay thế các cán bộ quản lý chủ chốt khi cần thiết và giám sát kế hoạch chọn người kế nhiệm.
  4. Gắn mức thù lao của cán bộ quản lý cấp cao và Hội đồng Quản trị với lợi ích lâu dài của công ty và cổ đông.
  5. Đảm bảo sự nghiêm túc và minh bạch của quy trình đề cử và bầu chọn Hội đồng Quản trị.
  6. Giám sát và xử lý các xung đột lợi ích tiềm ẩn của Ban Giám đốc, Hội đồng Quản trị và cổ đông, bao gồm việc sử dụng tài sản công ty sai mục đích và lợi dụng các giao dịch với bên có liên quan.
  7. Đảm bảo tính trung thực của hệ thống báo cáo kế toán và tài chính của công ty, kể cả báo cáo kiểm toán độc lập, và bảo đảm rằng các CÁC NGUYÊN TẮC QUẢN TRỊ CÔNG TY CỦA OECD 25 hệ thống kiểm soát phù hợp luôn hoạt động, đặc biệt là các hệ thống quản lý rủi ro, kiểm soát tài chính và hoạt động, tuân thủ theo pháp luật và các tiêu chuẩn liên quan.
  8. Giám sát quy trình công bố thông tin và truyền đạt thông tin.

E. Hội đồng Quản trị phải có khả năng đưa ra phán quyết độc lập, khách quan về các vấn đề của công ty.

  1. Hội đồng Quản trị phải xem xét việc bổ nhiệm một số lượng đủ các thành viên Hội đồng Quản trị không điều hành có khả năng đưa ra phán quyết độc lập đối với các vấn đề khi tiềm ẩn xung đột về lợi ích. Ví dụ về các trách nhiệm chủ chốt của Hội đồng quản trị là đảm bảo tính trung thực của các báo cáo tài chính và phi tài chính, xem xét lại các giao dịch với các bên có liên quan, đề cử thành viên Hội đồng Quản trị và cán bộ quản lý chủ chốt và thù lao cho Hội đồng Quản trị.
  2. Khi các ủy ban của Hội đồng Quản trị được thành lập, thẩm quyền, thành phần và quy trình hoạt động của các ủy ban phải được Hội đồng Quản trị quy định và công bố rõ ràng.
  3. Thành viên Hội đồng Quản trị phải cam kết thực hiện các trách nhiệm của mình một cách hiệu quả.

F. Để thực hiện trách nhiệm của mình, thành viên Hội đồng Quản trị phải được tiếp cận với thông tin chính xác, phù hợp và kịp thời.

 Từ những năm 2004, các nguyên tắc quản trị của OECD đã được từng bước áp dụng tại Việt Nam. Cụ thể:

–          Luật Doanh nghiệp 2005 đã thiết lập khung quản trị doanh nghiệp hướng tới các nguyên tắc quản trị hiệu quả theo khuyến nghị của OECD năm 2004;

–          Quyết định số 12/2007/QĐ-BTC ngày 13/3/2007 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về việc ban hành Quy chế quản trị công ty áp dụng cho các công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán/Trung tâm giao dịch chứng khoán,

–          Quyết định số 15/2007/QĐ-BTC ngày 19/03/2007 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về việc ban hành Điều lệ mẫu áp dụng cho các công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán/Trung tâm giao dịch chứng khoán.

–          Thông tư số 121/2012/TT-BTC ngày ngày 26 tháng 7 năm 2012 của Bộ Tài chính quy định về quản trị công ty áp dụng cho các công ty đại chúng thay thế cho Quyết định số 12/2007/QĐ-BTC ngày 13/3/2007.

–          Nghị ĐịnhSố: 99/2012/NĐ-CP của Chính phủ, Hà Nội, ngày 15 tháng 11 năm 2012về phân công, phân cấp thực hiện các quyền, trách nhiệm, nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước và vốn Nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp.

–          Nghị định Số: 69/2014/NĐ-CP, ngày 15 tháng 07 năm 2014 về tập đoàn kinh tế nhà nước và tổng công ty nhà nước

–          Luật Doanh nghiệp số 68/2014/QH13

Thông tư số 121/2012/TT-BTC ngày ngày 26 tháng 7 năm 2012 của Bộ Tài chính quy định về quản trị công ty áp dụng cho các công ty đại chúng thay thế cho Quyết định số 12/2007/QĐ-BTC ngày 13/3/2007 (trích)

Điều 12. Quyền của thành viên Hội đồng quản trị

Thành viên Hội đồng quản trị có đầy đủ các quyền theo quy định của Luật Doanh nghiệp, các văn bản pháp luật liên quan và Điều lệ công ty, đặc biệt là quyền được cung cấp các thông tin, tài liệu về tình hình tài chính, hoạt động kinh doanh của công ty và của các đơn vị trong công ty.

Điều 13. Trách nhiệm và nghĩa vụ của thành viên Hội đồng quản trị

  1. Thành viên Hội đồng quản trị phải tuân thủ đầy đủ trách nhiệm và nghĩa vụ theo quy định của Luật Doanh nghiệp, các văn bản pháp luật liên quan.
  2. Thành viên Hội đồng quản trị có trách nhiệm thực hiện các nhiệm vụ của mình một cách trung thực, cẩn trọng vì quyền lợi tối cao của cổ đông và của công ty.
  3. Thành viên Hội đồng quản trị có trách nhiệm tham dự đầy đủ các cuộc họp của Hội đồng quản trị và có ý kiến rõ ràng về các vấn đề được đưa ra thảo luận.
  4. Thành viên Hội đồng quản trị có trách nhiệm công bố cho công ty các khoản thù lao mà họ nhận được từ các công ty con, công ty liên kết và các tổ chức khác mà họ là người đại diện phần vốn góp của công ty.
  5. Các thành viên Hội đồng quản trị và những người có liên quan khi thực hiện giao dịch cổ phần của công ty phải báo cáo Ủy ban Chứng khoán Nhà nước và thực hiện công bố thông tin về việc giao dịch này theo quy định của pháp luật.
  6. Công ty đại chúng có thể mua bảo hiểm trách nhiệm cho các thành viên Hội đồng quản trị sau khi có sự chấp thuận của Đại hội đồng cổ đông. Bảo hiểm này không bao gồm bảo hiểm cho những trách nhiệm của thành viên Hội đồng quản trị liên quan đến việc vi phạm pháp luật và Điều lệ công ty.

Điều 14. Trách nhiệm và nghĩa vụ của Hội đồng quản trị

  1. Hội đồng quản trị phải tuân thủ đầy đủ trách nhiệm và nghĩa vụ theo quy định của Luật Doanh nghiệp, các văn bản pháp luật liên quan.
  2. Hội đồng quản trị chịu trách nhiệm trước các cổ đông về hoạt động của công ty.
  3. Hội đồng quản trị chịu trách nhiệm đảm bảo hoạt động của công ty tuân thủ các quy định của pháp luật, Điều lệ và các quy định nội bộ của công ty, đối xử bình đẳng đối với tất cả cổ đông và tôn trọng lợi ích của người có quyền lợi liên quan đến công ty.
  4. Hội đồng quản trị xây dựng các quy định về trình tự, thủ tục đề cử, ứng cử, bầu, miễn nhiệm và bãi nhiệm thành viên Hội đồng quản trị và trình tự, thủ tục tổ chức họp Hội đồng quản trị gồm các nội dung chủ yếu sau:

a)    Trình tự và thủ tục đề cử, ứng cử, bầu, miễn nhiệm và bãi nhiệm thành viên Hội đồng quản trị:

  • Tiêu chuẩn thành viên Hội đồng quản trị;
  • Cách thức đề cử người và ứng cử vào vị trí thành viên Hội đồng quản trị của cổ đông, nhóm cổ đông theo quy định của pháp luật và Điều lệ công ty;
  • Cách thức bầu thành viên Hội đồng quản trị;
  • Các trường hợp miễn nhiệm hay bãi nhiệm thành viên Hội đồng quản trị;
  • Thông báo về bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm thành viên Hội đồng quản trị.

b)   Trình tự, thủ tục tổ chức họp Hội đồng quản trị:

  • Thông báo họp Hội đồng quản trị (gồm chương trình họp, thời gian, địa điểm, các tài liệu liên quan và các phiếu bầu cho những thành viên Hội đồng quản trị không thể dự họp);
  • Điều kiện tổ chức họp Hội đồng quản trị;
  • Cách thức biểu quyết;
  • Cách thức thông qua nghị quyết của Hội đồng quản trị;
  • Ghi biên bản họp Hội đồng quản trị;
  • Thông báo nghị quyết Hội đồng quản trị.
  1. Hội đồng quản trị xây dựng các quy định về trình tự, thủ tục lựa chọn, bổ nhiệm, miễn nhiệm cán bộ quản lý và quy trình, thủ tục phối hợp hoạt động giữa Hội đồng quản trị với Ban kiểm soát và Giám đốc (Tổng giám đốc) điều hành, gồm các nội dung chính sau đây:

a)    Trình tự, thủ tục lựa chọn, bổ nhiệm, miễn nhiệm cán bộ quản lý cấp cao:

  • Các tiêu chuẩn để lựa chọn cán bộ quản lý cấp cao;
  • Việc bổ nhiệm cán bộ quản lý cấp cao;
  • Ký hợp đồng lao động với cán bộ quản lý cấp cao;
  • Các trường hợp miễn nhiệm cán bộ quản lý cấp cao;
  • Thông báo bổ nhiệm, miễn nhiệm cán bộ quản lý cấp cao.

b)   Quy trình, thủ tục phối hợp hoạt động giữa Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát và Giám đốc (Tổng giám đốc) điều hành:

  • Thủ tục, trình tự triệu tập, thông báo mời họp, ghi biên bản, thông báo kết quả họp giữa Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát và Giám đốc (Tổng giám đốc) điều hành;
  • Thông báo nghị quyết của Hội đồng quản trị cho Ban kiểm soát và Giám đốc (Tổng giám đốc) điều hành;
  • Các trường hợp Giám đốc (Tổng giám đốc) điều hành và Ban kiểm soát đề nghị triệu tập họp Hội đồng quản trị và những vấn đề cần xin ý kiến Hội đồng quản trị;
  • Báo cáo của Giám đốc (Tổng giám đốc) điều hànhvới Hội đồng quản trị về việc thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn được giao;
  • Kiểm điểm việc thực hiện nghị quyết và các vấn đề uỷ quyền khác của Hội đồng quản trị đối với Giám đốc (Tổng giám đốc) điều hành;
  • Các vấn đề Giám đốc (Tổng giám đốc) điều hànhphải báo cáo, cung cấp thông tin và cách thức thông báo cho Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát;
  • Phối hợp hoạt động kiểm soát, điều hành, giám sát giữa các thành viên Hội đồng quản trị, các thành viên Ban kiểm soátvà Giám đốc (Tổng giám đốc) điều hành theo các nhiệm vụ cụ thể của các thành viên nêu trên.
  1. Hội đồng quản trị có trách nhiệm xây dựng cơ chế đánh giá hoạt động, khen thưởng và kỷ luật đối với thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc (Tổng giám đốc) điều hànhvà các cán bộ quản lý khác.
  2. Hội đồng quản trị có trách nhiệm báo cáo hoạt động của Hội đồng quản trị tại Đại hội đồng cổ đông theo quy định tại Điều 7 Thông tư này.

Điều 15. Họp Hội đồng quản trị

  1. Hội đồng quản trị tổ chức họp theo đúng trình tự được quy định tại Điều lệ và Quy chế nội bộ của công ty. Việc tổ chức họp Hội đồng quản trị, chương trình họp và các tài liệu liên quan được thông báo trước cho các thành viên Hội đồng quản trị theo đúng thời hạn quy định của pháp luật và Điều lệ công ty.
  2. Biên bản họp Hội đồng quản trị phải được lập chi tiết và rõ ràng. Thư ký và các thành viên Hội đồng quản trị tham gia vào phiên họp phải ký tên vào các biên bản cuộc họp. Biên bản họp Hội đồng quản trị phải được lưu giữ theo quy định của pháp luật và Điều lệ công ty.

 26.3. Thực trạng năng lực của HĐQT, Giám đốc điều hành của các Doanh nghiệp Việt Nam

Khó có thể đánh giá về năng lực quản trị của các HĐQT, Giám đốc điều hành tách rời với hiệu quả quản trị của các doanh nghiệp Việt Nam. Do vậy, chúng ta sẽ đánh giá năng lực của HĐQT, giám đốc điều hành các doanh nghiệp thông qua hiện trạng quản trị các doanh nghiệp ở Việt Nam trong những năm gần đây.

26.3.1. Năng lực quản trị doanh nghiệp của các công ty còn ở mức rất thấp:

Số liệu trong bảng dưới đây cho thấy điểm số quản trị công ty của Việt Nam từ năm 2009 – 2011 ở mức rất thấp (điểm trung bình các năm 2009, 2010, và 2011 lần lượt là 43,9%; 44,7% và 42,5%), trong khi theo tiêu chuẩn về thực tiễn quản trị công ty tốt thì điểm số chung phải đạt 65% – 74% trở lên (IFC, 2012a). Báo cáo chất lượng thực hành quản trị công ty ở một số quốc gia châu Á cho thấy, kết quả khả quan hơn rất nhiều so với Việt Nam, ví dụ Singapore và Hong Kong được coi là quốc gia dẫn đầu về chất lượng quản trị công ty; Hong Kong đạt 74% năm 2009, Thái Lan đạt 77% năm 2011, Malaysia đạt 57,2% năm 2011, Philippines đạt 72% năm 2008 (IFC, 2012b). Một vấn đề nữa đặt ra là hiệu quả của các nỗ lực triển khai thực hiện quản trị công ty tốt đã sụt giảm. Điều này đi ngược với áp lực và kỳ vọng trên phạm vi toàn cầu là đẩy nhanh tốc độ cải cách về quản trị công ty. (Nguyễn Thị Hải Vân[6])

Tổ chức tài chính quốc tế đã công bố kết quả khảo sát, đánh gia điểm số về quản trị công ty ở Việt Nam trong các năm 2010, 2011 đã minh chứng điều này[7].

Trong báo cáo “Cân bằng giữa nguyên tắc và sự linh hoạt” đề cập tính minh bạch khả năng thực thi và một số công cụ trong quản trị doanh nghiệp đang được áp dụng tại 25 thị trường, trong đó có Việt Nam, do Công ty Kiểm toán và Tư vấn KPMG và Hiệp hội Kế toán công chứng Anh (ACCA) công bố vào cuối tháng 01/2015, bộ công cụ quản trị doanh nghiệp của Việt Nam xếp thứ 22/25, chỉ đứng trên Myanmar, Brunei, Lào và thấp hơn Campuchia (thứ 20) cũng như cách biệt khá xa so với Thái Lan (thứ 11).

Xét số lượng các quy định về quản trị doanh nghiệp ở Việt Nam, ngoài Thông tư số 121/2012/TT-BTC ngày 26/7/2012 quy định về quản trị công ty áp dụng cho công ty đại chúng mang tính bắt buộc và hướng dẫn thực thi quản trị doanh nghiệp theo nguyên tắc của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) mang tính tự nguyện, Việt Nam còn có những hoạt động, dự án liên quan đến quản trị doanh nghiệp như xuất bản “Sổ tay quản trị công ty”, dự án “Báo cáo thẻ điểm quản trị công ty” (2009 – 2012) của Tổ chức Tài chính Quốc tế (IFC)[8]

Theo đánh giá của nhiều chuyên gia, Việt Nam có rất ít quy định liên quan đến quản trị doanh nghiệp. Bên cạnh đó, mức độ cập nhật quy tắc quản trị doanh nghiệp của Việt Nam còn chậm so với biến động thực tế. Trong khi các nước đều cập nhật quy tắc quản trị doanh nghiệp hàng năm thì Việt Nam vẫn sử dụng các quy định ban hành từ 2 – 3 năm trước đó.

Báo cáo của KPMG và ACCA tập trung vào 4 yếu tố chính, gồm: Lãnh đạo và văn hóa công ty, chiến lược tạo hiệu quả, giám sát và tuân thủ, sự tham gia của các bên liên quan. Báo cáo cũng lấy bộ quy tắc quản trị doanh nghiệp của OECD làm cơ sở so sánh, tham chiếu, đánh giá việc thực thi. Kết quả, dù các chỉ số nghiên cứu cho thấy, Việt Nam đã và đang thực hiện khá tốt một số yếu tố then chốt như tính độc lập của giám đốc, vai trò của ban quản trị và quyền lợi của cổ đông, nhưng vẫn còn một số lĩnh vực cần cải thiện. Cụ thể, ở yếu tố lãnh đạo và văn hóa công ty, nhóm cổ đông lớn vẫn tác động mạnh đến công ty. Quy tắc hành xử của các thành viên hội đồng quản trị vẫn còn nhiều điểm phải điều chỉnh; hay mức độ tuân thủ nguyên tắc của OECD của Việt Nam trong vấn đề thù lao cho hội đồng quản trị, lương, hệ thống đánh giá hiệu quả công việc hầu như rất thấp, ở mức 4%. Việt Nam cũng không có nhiều hướng dẫn để đảm bảo việc tuân thủ quản trị doanh nghiệp. Đặc biệt, quản trị rủi ro luôn là điểm yếu của phần lớn doanh nghiệp Việt Nam.

Một đánh giá chung từ các chuyên gia quốc tế về quản trị doanh nghiệp cho thấy, quản trị doanh nghiệp ở Việt Nam hiện chỉ đạt khoảng 8% ở tuân thủ, 20% là tự nguyện, trong khi các nước tỷ lệ này khoảng 50 – 50%. Ngay tại những doanh nghiệp niêm yết lớn trên thị trường chứng khoán được xem là đi đầu về quản trị doanh nghiệp ở Việt Nam, việc thực hiện quản trị doanh nghiệp tốt theo thông lệ quốc tế mới chỉ bắt đầu. Tuy nhiên, những nỗ lực cải thiện tình hình quản trị doanh nghiệp tại các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp niêm yết, đang dần trở thành một động lực cho những doanh nghiệp khác.

26.3.2. Năng lực HĐQT của các công ty còn rất hạn chế, còn cách xa những tiêu chuẩn của OECD

Tại Việt Nam, đã có hướng dẫn và quy tắc hoạt động của HĐQT nhưng đó thường là quy trình tĩnh, mang nặng tính hình thức hơn là thực chất, đồng thời, chưa có một hệ thống quy tắc đạo đức hoặc quy trình tương tự trong quản trị công ty để củng cố hệ thống giá trị của HĐQT. “Quy trình lựa chọn thành viên HĐQT cũng chưa được xây dựng” (Nhuệ Mẫn, 2014). Theo Báo cáo Thẻ điểm quản trị công ty của IFC (2012a), trong năm 2011, 96% các công ty được khảo sát đã ban hành quy chế nội bộ về quản trị công ty nhằm làm rõ trách nhiệm, nhiệm vụ của HĐQT, Ban Kiểm sát (BKS)… Tuy nhiên, theo báo cáo của ADB (2013, tr. 71), các công ty thường ít chú trọng tới việc xây dựng các bộ Quy tắc ứng xử nhằm hướng dẫn hoạt động cho các nhà quản trị, các nhân viên và tạo nên văn hóa doanh nghiệp mạnh.

Theo đánh giá của IFC[9], 96% các công ty đã ban hành quy chế nội bộ về quản trị công ty. Những văn bản này cần nêu rõ các nguyên tắc, trách nhiệm của HĐQT và BKS, vai trò của HĐQT, BKS tại ĐHCĐ thường niên, vai trò của HĐQT, BKS trong việc bổ nhiệm, bãi nhiệm các thành viên HĐQT và Ban Giám đốc. Quy chế nội bộ cũng phải đề cập đến việc HĐQT, BKS phối hợp các chức năng của mình như thế nào, giám sát công ty và chiến lược công ty ra sao cho hiệu quả, cũng như sẽ đánh giá hoạt động của Ban Giám đốc và bản thân như thế nào để nâng cao chất lượng hoạt động của công ty. Ở 21% các công ty, các quy chế nội bộ này tỏ ra khá đầy đủ (E.1). Ở 21% các công ty, các quy chế nội bộ này tỏ ra khá đầy đủ (E.1). Ở một số công ty khác, quy chế nội bộ về quản trị công ty vẫn chỉ đơn thuần là bản sao của Điều lệ mẫu hay Điều lệ công ty. Điều này cho thấy sự thiếu cân nhắc, quan tâm của các công ty. Có khoảng 4% các công ty chưa có Quy chế QTCT nội bộ. Hiếm trường hợp có Quy tắc đạo đức hay Quy tắc ứng xử. Ở 97% các công ty khảo sát, giá trị công ty còn chưa rõ ràng hay chưa được truyền đạt rõ ràng (E.2). Tuy nhiên, chính sách về giao dịch quan trọng được tìm thấy trong hầu hết các Điều lệ Công ty (E.3).

HĐQT và BKS ở Việt Nam là những cơ quan chịu trách nhiệm đề ra ‘tư tưởng chủ đạo” xuyên suốt từ cấp cao nhất công ty, và để làm được như vậy cần phải có định hướng rõ ràng, cụ thể bằng văn bản cho công ty, cũng như một bộ quy tắc đạo đức hay ứng xử để công ty căn cứ vào đó mà hoạt động. Mọi thành viên của công ty đều phải biết và tuân thủ những nguyên tắc này.

Đây được coi là một thông lệ tốt theo các Nguyên tắc, Hướng dẫn OECD về phân biệt chức năng của Chủ tịch HĐQT và TGĐ, nhằm bảo đảm sự cân bằng về quyền hạn giữa hai vị trí quan trọng nhất của công ty. Hơn nữa, vai trò của Chủ tịch HĐQT và TGĐ về cơ bản cũng khác nhau – Chủ tịch là người lãnh đạo, điều hành HĐQT, còn TGĐ là người lãnh đạo, điều hành hoạt động của công ty. Trong nhóm khảo sát, 66% các trường hợp có Chủ tịch HĐQT là thành viên HĐQT không điều hành và 34% có Chủ tịch kiêm thành viên điều hành, chủ yếu là TGĐ (E.5). Khi HĐQT chịu trách nhiệm giám sát Ban Giám đốc, khó có thể hình dung việc này được thực hiện thế nào khi Chủ tịch HĐQT cũng là TGĐ. Như vậy là có xung đột về lợi ích.

Một thông lệ tốt hơn là Chủ tịch HĐQT ‘độc lập’ với công ty theo nghĩa Chủ tịch không phải là cổ đông lớn hay đại diện của cổ đông lớn, không có quan hệ mật thiết với Ban Giám đốc công ty, không có quan hệ lao động hay làm ăn với công ty (trong vòng 3 năm qua). Do ở Việt Nam, khái niệm ‘độc lập’ trong QTCT vẫn chưa được hoàn toàn hiểu và áp dụng nên đa phần Chủ tịch HĐQT (95%) vẫn chưa độc lập với công ty (E.6). Trên thực tế, trong luật lệ của Việt Nam, khái niệm thành viên HĐQT độc lập vẫn chưa được áp dụng. Hiện nay, nội dung này đã được bổ sung vào Quy chế QTCT theo Thông tư 121/2012.

Bên cạnh đó, tại nhiều doanh nghiệp, còn lẫn lộn giữa vai trò của Chủ tịch HĐQT và Tổng giám đốc. Ở Việt Nam, chưa có quy định bắt buộc phải thành lập các tiểu ban của HĐQT, và trong mọi trường hợp, mọi trách nhiệm về hoạt động của các tiểu ban này vẫn thuộc HĐQT (IFC, 2012a). Do đó, kết quả là các nhận định, quyết định của HĐQT đôi khi thiếu tính khách quan, độc lập và hoạt động thiếu hiệu quả do năng lực chuyên môn, hiểu biết để phục vụ công việc chỉ trong một số lượng thành viên hạn chế.

Ở các công ty có phần vốn nhà nước lớn, HĐQT thường bị hạn chế về năng lực hoạt động do các thành viên được ủy quyền đại diện phần vốn nhà nước với tỷ lệ bỏ phiếu lớn, nhưng lại không thể quyết định hoặc thực hiện kịp thời các chiến lược, chính sách do phải xin ý kiến của cơ quan chủ quản phần vốn đó.

26.3.3. Hành lang pháp lý chưa thực sự hoàn thiện

Thông tư số 121/2012/TT-BTC được Bộ Tài chính ban hành ngày 26/7/2012 đã khẳng định một bước tiến dài của hệ thống pháp luật trong việc hiện thiện khung pháp lý đối với hoạt động quản trị công ty tại Việt Nam, rút ngắn khoảng cách so với thế giới. Tuy vậy, khuôn khổ pháp lý vẫn còn những thiếu sót nhất định cần phải được tiếp tục bổ sung, điều chỉnh. Cụ thể, Thông tư chưa có phần quy định cụ thể về trách nhiệm của doanh nghiệp đối với các bên liên quan, nhất là đối với cộng đồng, xã hội và môi trường trong khi các bên liên quan đang ngày càng có vị trí quan trọng trong giám sát hoạt động quản trị công ty tại doanh nghiệp. Mặt khác, do bộ quy chuẩn về quản trị doanh nghiệp chưa hoàn thiện, vì vậy, trong năm 2015 và các năm tiếp theo, HOSE nói riêng và phía quản lý sẽ thúc đẩy hơn nữa việc xây dựng, bổ sung, điều chỉnh các quy định, quy chế về quản trị doanh nghiệp nhằm tăng cường áp dụng các thông lệ tốt trên thế giới về quản trị công ty cho các doanh nghiệp.

26.4. Những khuyến nghị nhằm nâng cao năng lực đối với HĐQT và Giám đốc điều hành doanh nghiệp

Để nâng cao năng lực của HĐQT, Giám đốc điều hành doanh nghiệp theo các tiêu chuẩn quản trị của OECD, cần có sự nỗ lực từ nhiều phía: Thể chế, giới doanh nhân và các nhà cung cấp dịch vụ tư vấn, đào tạo; cần có sự thay đổi, nhìn nhận đúng và hành động thực tiễn của các chủ thể này.

26.4.1. Tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý, thúc đẩy quá trình thực thi hiệu quả và nâng cao vai trò quản lý của các cơ quan chức năng có thẩm quyền.

Để cải tiến khuôn khổ pháp lý trong hoạt động quản trị công ty, trước hết, cần nới lỏng giới hạn sở hữu nước ngoài bởi thực tế đã cho thấy những công ty có vốn đầu tư nước ngoài lớn hơn sẽ có hệ thống quản trị công ty hiệu quả hơn. 

Ngoài ra, Nhà nước cần quy định chi tiết về vai trò với các bên liên quan và quy định về công bố thông tin, nhất là những thông tin bắt buộc công bố về thành viên HĐQT như giao dịch cổ phiếu, tỷ lệ cổ phần sở hữu… Các cơ quan chức năng cũng cần ban hành các quy định về đảm bảo công bằng giữa các nhà đầu tư lớn và nhà đầu tư nhỏ, giữa các nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài. Bên cạnh đó cần phải nâng cao trách nhiệm, vai trò, thẩm quyền của các cơ quan quản lý Nhà nước liên quan tới lĩnh vực quản trị công ty, nhất là vai trò của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, Sở Giao dịch chứng khoán.

Cơ quan quản lý phải có hướng dẫn phù hợp để doanh nghiệp triển khai, áp dụng các thông lệ quản trị công ty, đặc biệt là triển khai Thông tư 121/2012. Ví dụ, cần có hướng dẫn về thông lệ tốt trong lĩnh vực thành viên HĐQT độc lập, vai trò của tiểu ban kiểm toán, quy trình đề cử HĐQT, vai trò của thư ký công ty, kiểm toán nội bộ và kiểm soát nội bộ, quy định về giao dịch với bên liên quan, thông tin nào cần được coi là ‘trọng yếu’ và phải công bố cho cổ đông, nhà đầu tư nói chung. Có thể sử dụng một danh mục các vấn đề cần đề cập trong báo cáo về QTCT để hướng dẫn doanh nghiệp làm tốt hơn công tác báo cáo về QTCT. Hơn nữa, do chưa có đầu mối tư nhân về QTCT và tập huấn cho thành viên HĐQT, trong giai đoạn quá độ này, cơ quan quản lý nên đảm nhiệm vai trò tập huấn này.

26.4.2. Về phía các nhà quản trị công ty, cần nâng cao ý thức về vai trò của quản trị công ty, trách nhiệm tuân thủ pháp luật.

Điều trước tiên cần phải cải thiện chính là ý thức của cộng đồng DN về những lợi ích mà quản trị công ty tốt đem lại. Đối với những công ty chưa có hệ thống quản trị công ty thì cần cập nhật và bắt tay ngay vào công tác xây dựng và ngay từ đầu nên kết hợp luật pháp quốc gia với chuẩn mực quốc tế, nhất là bộ nguyên tắc do OECD ban hành.

Đối với những công ty đã có hệ thống quản trị công ty cần tiếp tục cải thiện chất lượng và cải tổ hoạt động quản trị công ty tại doanh nghiệp mình thông qua tham khảo thông lệ quốc tế, những bài học kinh nghiệm từ các nước tiên tiến hoặc những nước có nhiều bước tiến bộ về quản trị công ty như Thái Lan, Singapore. Ngoài ra, các công ty cần thành lập phòng ban chức năng chuyên trách về quản trị công ty như phòng Quan hệ Nhà Đầu tư, phòng Trách nhiệm xã hội…; xây dựng chế tài xử lý các hành vi vi phạm quản trị công ty cấp công ty ngoài các quy định xử phạt của luật pháp để tăng cường hiệu quả và trách nhiệm của các nhà quản trị; giảm dần tỷ lệ sở hữu tập trung của các cán bộ HĐQT, cán bộ quản lý, cổ đông cá nhân vì những đối tượng này có khả năng thâu tóm quyền lực, gây ra tính thiếu minh bạch. 

Đồng thời, doanh nghiệp cũng cần nâng cao năng lực và vai trò của thành viên HĐQT, cụ thể như đảm bảo các thành viên HĐQT hiểu rõ trách nhiệm, nhiệm vụ của mình; hàng năm xem xét lại sứ mệnh, tầm nhìn, mục tiêu của công ty, các chính sách liên quan tới quản trị công ty. Doanh nghiệp nên xây dựng, ban hành các bộ quy tắc ứng xử, bộ quy tắc hướng dẫn công tác quản trị công ty tại doanh nghiệp; tăng cường tính độc lập của các thành viên; thành lập các Ủy ban chuyên môn để hỗ trợ hoạt động của HĐQT.

Doanh nghiệp cần đa dạng hóa các kênh công bố thông tin về doanh nghiệp và đảm bảo thông tin đầy đủ, chi tiết, xuất bản cả bản tiếng Việt và tiếng Anh để mọi nhà đầu tư quan tâm có thể dễ dàng truy cập mà không gặp phải trở ngại nào. 

26.4.3. Xây dựng chương trình đào tạo theo những chuẩn mực quốc tế

(i) Thông tư số 121/2012/TT-BTC ngày 26/7/2012 của Bộ Tài chính quy định về quản trị công ty áp dụng cho các Công ty đại chúng (Thông tư 121), trong đó tại Điều 34 đã quy định: “Thành viên Hội đồng quản trị (HĐQT), thành viên Ban kiểm soát, Giám đốc (Tổng Giám đốc) điều hành, Thư ký của Công ty đại chúng phải tham gia các khóa đào tạo về quản trị công ty tại các cơ sở đào tạo được Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) công nhận”.

Các cơ quan quản lý cũng cần yêu cầu doanh nghiệp tổ chức tập huấn chuyên sâu về quản trị công ty cho toàn bộ các thành viên HĐQT tại thời điểm niêm yết. Mọi hoạt động tập huấn về QTCT cũng phải được nêu rõ trong Báo cáo thường niên. Thành viên HĐQT là một nghề đòi hỏi không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn. Cần quy định thực hiện đánh giá HĐQT và BKS định kỳ và báo cáo kết quả. Nhà nước, trong vai trò cổ đông lớn của thị trường chứng khoán Việt Nam, cần giữ vai trò “tiên phong” trong tăng cường quản trị công ty, tập huấn cho các thành viên HĐQT được bổ nhiệm theo các thông lệ QTCT toàn cầu, cũng như yêu cầu áp dụng những thông lệ này trong các doanh nghiệp nhà nước có phần vốn lớn.

(ii) Tăng cường thể chế: Nhà nước cần gấp rút thành lập một tổ chức phát triển, hỗ trợ nâng cao chất lượng QTCT, cũng như hỗ trợ các thành viên HĐQT trong nâng cao kiến thức, cập nhật các diễn biến trên thế giới về QTCT. Nên thành lập một Viện hay Trung tâm quản trị công ty nhằm xúc tiến các thông lệ tối ưu về QTCT, góp phần nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của QTCT, tập huấn cho thành viên HĐQT, cung cấp dịch vụ, hướng dẫn cho HĐQT. Đây sẽ là những đầu mối của Việt Nam về quản trị công ty; Cần xây dựng, thực hiện các chương trình tập huấn có chất lượng về QTCT cho các thành viên HĐQT, Ban Giám đốc. Cần có báo cáo riêng về tình hình tập huấn hàng năm của từng thành viên HĐQT, TGĐ và Thư ký công ty trong Báo cáo thường niên. Phải quy định bắt buộc tập huấn về QTCT và xác định thời lượng tập huấn cụ thể. Xây dựng các chương trình, tài liệu tập huấn, khảo sát trường hợp phù hợp với Việt Nam và phản ánh những thông lệ tối ưu quốc tế.

(iii) Về chương trình đào tạo

Theo nguyên tắc quản trị của OECD, để nâng cao năng lực cho thành viên HĐQT, giám đốc điều hành doanh nghiệp, chương trình đào tạo cần tập trung vào các nội dung:

  • Môi trường pháp lý của hoạt động kinh doanh: Mục đích để Giám đốc về vai trò, nghĩa vụ và trách nhiệm của Giám đốc và HĐQT theo qui định của Luật doanh nghiệp, các văn bản pháp luật, những chuẩn mực và tiêu chuẩn nghề nghiệp mà các Giám đốc cần phải biết khi tiến hành các hoạt động kinh doanh. Sau khi kết thúc môn học, các Giám đốc có thể tự tin khẳng định được các quyết định kinh doanh của mình là hợp pháp, “có vấn đề” hoặc bất hợp pháp.
  • Vai trò của giám đốc và Hội đồng quản trị: Mục tiêu của chuyên đề này là giới thiệu cho các Giám đốc về vai trò khác biệt của Hội đồng quản trị và Giám đốc trong quản lý. Trong trường hợp một số Giám đốc cũng là thành viên của HĐQT thậm chí Tổng giám đốc là Chủ tịch HĐQT thì qua chuyên đề này, các giám đốc sẽ phân biệt rõ ràng rằng vai trò của HĐQT là “làm Cái đầu” của doanh nghiệp sẽ hoàn toàn khác với vai trò của các nhà quản lý nói chung “Làm những Cái tay” của doanh nghiệp. Một vai trò quan trọng khác của HĐQT là vai trò đại diện tập thể. Mặc dù các thành viên của HĐQT có những nhiệm vụ riêng của mình và phải chịu trách nhiệm về các công việc đó nhưng vai trò của HĐQT lại là vai trò tập thể. Điều đó có nghĩa là các thành viên hội đồng quản trị không thể trực tiếp chỉ đạo các cán bộ quản lý làm bất kỳ điều gì với tư cách cá nhân. HĐQT thường phải thông qua Tổng giám đốc khi muốn đưa ra những định hướng nhất định cho các nhà quản lý.

Sau khi kết thúc chuyên đề này, các học viên có khả năng: Phân biệt rõ ràng và hết sức tự tin về sự khác biệt giữa các công việc điều hành và giám sát tổ chức của các nhà quản lý và thành viên HĐQT qua đó xác định hành vi làm việc phù hợp với các vai trò nhất định; Giải thích và áp dụng mô hình Tricker vào việc đưa ra các chính sách hiệu quả; Tổ chức các cuộc họp hội HĐQT một cách hiệu quả

  • Đánh giá hoạt động của HĐQT và Giám đốc điều hành: Mục tiêu của phần này là giới thiệu các phương thức đánh giá hoạt động của Hội đồng quản trị và Tổng giám đốc nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp tại Việt nam. Mục tiêu cụ thể của chuyên đề này như sau:

–          Giới thiệu khái niệm về quản trị công ty

–          Giải thích vì sao các nhà đầu tư lại quan tâm đến hiệu quả hoạt động Quản trị doanh nghiệp của HĐQT

–          Nghiên cứu các vấn đề liên quan tới việc đánh giá công việc mà Hội đồng quản trị và Tổng giám đốc làm, và cách mà các thành viên HĐQT và TGĐ tiến hành công việc của mình

–          Nghiên cứu các phương pháp đánh giá hoạt động của TGĐ và HĐQT

–          Đánh giá tính hiệu quả của các phương pháp trên các mặt:

+        Cơ sở đánh giá: tính hợp lý, tính khách quan, sự rõ ràng, sự công bằng về thủ tục, hiệu quả

+        Mục đích đánh giá: cải thiện hiệu quả làm việc của HĐQT và TGĐ và làm rõ mối quan hệ giữa các thành viên trong Hội đồng quản trị với nhau cũng như mối quan hệ giữa Hội đồng quản trị và Tổng giám đốc

+        Tính khả thi: Về mặt thời gian, chi phí và mức độ ủng hộ của các giám đốc thành viên HĐQT và các cổ đông

–          Đưa ra những kết luận về cách thức đánh giá hoạt động của Hội đồng quản trị và Tổng giám đốc

  • Kỹ năng đọc, phân tích các báo cáo tài chính: Mục đích của chuyên đề này là giới thiệu cho các Giám đốc thành viên HĐQT và các nhà điều hành doanh nghiệp về giá trị của các báo cáo tài chính.

Các mục tiêu cụ thể của chuyên đề là:

–          Xem xét nguyên tắc và nội dung của các Báo cáo tài chính

–          Nghiên cứu nội dung và ý nghĩa của 3 báo cáo tài chính

–          Tìm hiểu ý nghĩa của quá trình kiểm toán nội bộ

–          Nghiên cứu các ý nghĩa của những số liệu quan trọng được ghi trong các báo cáo tài chính

Cung cấp cho học viên nền tảng kiến thức cơ bản để phân tích báo cáo tài chính trong chuyên đề 5

Đánh giá kết quả hoạt động của doanh nghiệp: Mục đích của chuyên đề này là cung cấp cho Giám đốc những kỹ năng thực tế để phân tích kết quả hoạt động của doanh nghiệp thông qua các báo cáo tài chính nhờ đó có thể đưa ra các quyết định cải thiện hoạt động của doanh nghiệp một cách chính xác và phù hợp nhất.

Các mục tiêu cụ thể của chuyên đề là:

–          ôn lại những nội dung cơ bản của chuyên đề 4

–          nghiên cứu các chỉ tiêu tài chính chủ yếu

–          Xem xét các vấn đề liên quan đến việc xây dựng các giải pháp phi tài chính liên quan đến 3 yếu tố: Môi trường, con người và kinh tế

–          Giúp các Giám đốc tự tin hơn khi đưa ra những đề xuất cải thiện hoạt động của doanh nghiệp

  • Vai trò định hướng chiến lược của HĐQT: Mục tiêu của phần này là nói về vai trò của Giám đốc – thành viên Hội đồng quản trị trong việc xác định tương lai phát triển của doanh nghiệp.

Các mục tiêu cụ thể của chuyên đề bao gồm:

–          Nghiên cứu các mô hình thị trường và định vị doanh nghiệp

–          Giới thiệu khái niệm về các lựa chọn mang tính chiến lược: Chọn một tương lai “thích hơn” hay “hợp lý” hơn

–          Nghiên cứu quá trình xây dựng kế hoạch chiến lược và quản lý kế hoạch kinh doanh

–          Rút ra kết luận về việc chúng ta sẽ làm thế nào để có được một Hội đồng quản trị thực sự “quan tâm tới tương lai” của DN

  • Vai trò của Giám đốc và HĐQT trong việc xác định và phòng ngừa các Rủi ro của DN: Mục đích của chuyên đề này là đưa ra một cái nhìn tổng quát về vai trò của Giám đốc thành viên Hội đồng quản trị trong việc đánh giá rủi ro mà doanh nghiệp thường phải đối mặt.

Các mục tiêu chủ yếu bao gồm:

–          Đưa ra khái niệm rủi ro và nguồn gốc của các rủi ro

–          Hiểu được những lý do cho việc ưu tiên đánh giá rủi ro

–          Xem xét quá trình đánh giá rủi ro trên cơ sở phân định rõ trách nhiệm và vai trò của các nhà quản lý và Giám đốc thành viên HĐQT

–          Rút ra một số kết luận và đưa ra các đề xuất cho doanh nghiệp Việt Nam trong việc đánh giá và phòng ngừa rủi ro

  • Trách nhiệm Xã hội, Đạo đức kinh doanh và Văn hóa doanh nghiệp: Mục đích nhằm giới thiệu cho các Giám đốc thành viên HĐQT và nhà quản lý một loạt các vấn đề mang tính tổng hợp liên quan đến việc trở thành “một công dân doanh nghiệp mẫu mực”.

Các mục tiêu chủ yếu của chuyên đề này:

–          Xem xét các vấn đề và các khái niệm về trách nhiệm xã hội, đạo đức kinh doanh và văn hoá doanh nghiệp

–          Xây dựng một khuôn khổ tiếp cận việc nâng cao Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp

–          Xem xét các phương thức xây dựng chính sách và các biện pháp

–          Xem xét những gợi ý cho các doanh nghiệp quan tâm đến Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp

Kết luận

Quản trị tốt luôn là một quá trình quản trị xung đột trong một công ty. Chất lượng quản trị sẽ quyết định giá trị, sự tồn vong của doanh nghiệp. Nhưng điều này lại được quyết định bởi năng lực của “bộ não” HĐQT. Trong giai đoạn hiện nay và bối cảnh thời gian tới đây, cải thiện năng lực quản trị qua việc nâng cao năng lực của HĐQT theo những tiêu chuẩn của OECD, giám đốc điều hành công ty ở cả khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nhà nước lẫn khu vực tư nhân sẽ giúp cho hệ thống doanh nghiệp nước ta đứng vững trong môi trường cạnh tranh quốc tế. Để làm được việc đó, cần có sự nhận thức đúng đắn, sự quyết tâm của Nhà nước, cộng đồng doanh nghiệp, các cơ quan hoạch định chính sách, cơ quản quản lý, các cơ sở giáo đào tạo và các tổ chức xã hội nghề nghiệp.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Bản tin số 2 – 3/2011, Dự án Quản trị công ty tại Việt Nam – Chương trình tư vấn của IFC tại Đông Á – Thái Bình Dương
  2. Báo cáo thẻ điểm quản trị công ty 2012 – Chương trình tư vấn của IFC tại Đông Á – Thái Bình Dương.
  3. Học viện Tài chính, Dự án “nâng cao năng lực quản trị doanh nghiệp cho giám đốc doanh nghiệp”, Quản trị doanh nghiệp hiện đại cho giám đốc doanh nghiệp và thành viên HĐQT ở Việt Nam, 2006, NXB Tài chính
  4. Luật Doanh nghiệp 2005;
  5. Luật Doanh nghiệp số 68/2014/QH13
  6. Nghị ĐịnhSố: 99/2012/NĐ-CP của Chính phủ, Hà Nội, ngày 15 tháng 11 năm 2012về phân công, phân cấp thực hiện các quyền, trách nhiệm, nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước và vốn Nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp.
  7. Nghị định Số: 69/2014/NĐ-CP, ngày 15 tháng 07 năm 2014 về tập đoàn kinh tế nhà nước và tổng công ty nhà nước
  8. Quyết định số 12/2007/QĐ-BTC ngày 13/3/2007 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về việc ban hành Quy chế quản trị công ty áp dụng cho các công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán/Trung tâm giao dịch chứng khoán,
  9. Quyết định số 15/2007/QĐ-BTC ngày 19/03/2007 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về việc ban hành Điều lệ mẫu áp dụng cho các công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán/Trung tâm giao dịch chứng khoán.
  10. Thông tư số 121/2012/TT-BTC ngày ngày 26 tháng 7 năm 2012 của Bộ Tài chính quy định về quản trị công ty áp dụng cho các công ty đại chúng thay thế cho Quyết định số 12/2007/QĐ-BTC ngày 13/3/2007.
  11. Hải Long (Trích Thông tin Tài chính số 7 kỳ 1 tháng 4/2015),Quản trị doanh nghiệp cần nỗ lực theo thông lệ quốc tế, http://www.mof.gov.vn/portal/page/portal/nif/Newdetail?p_page_id=43058593&pers_id=42972397&item_id=167461684&p_details=1
  12. Quản trị doanh nghiệp: Việt Nam xếp hạng thấp, http://www.kiemtoan.com.vn/quan-tri-doanh-nghiep-viet-nam-xep-hang-thap/.


[1]Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế  (Organization for Economic Co-operation and Development). Các quốc gia thành viên đầu tiên của OECD là Áo, Bỉ, Ca Na Đa, Đan Mạch, Pháp, Đức, Hy Lạp, Ai Xơ Len, Ai Len, Ý, Luych Xăm Bua, Hà Lan, Na Uy, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Thụy Sỹ, Thổ Nhĩ Kỳ, Anh và Mỹ. Lần lượt các quốc gia sau trở thành thành viên OECD vào những ngày tháng ghi sau đây: Nhật Bản (ngày 28 tháng 4 năm 1964), Phần Lan (ngày 28 tháng 1 năm 1969), Úc (ngày 7 tháng 6 năm 1971), Niu Di Lân (ngày 29 tháng 5 năm 1973), Mê Xi Cô (ngày 18 tháng 5 năm 1994), Cộng Hòa Séc (ngày 21 tháng 12 năm 1995), Hungary (ngày 7 tháng 5 năm 1996), Ba Lan (ngày 22 tháng 11 năm 1996), Hàn Quốc (ngày 12 tháng 12 năm 1996) và Cộng hòa Slovakia (ngày 14 tháng 12 năm 2000). Ủy ban Cộng đồng Châu Âu tham gia vào công việc của OECD (Điều 13 của Hiệp ước OECD).

 [2]Trong chuyên đề này thuật ngữ quản trị doanh nghiệp và quản trị công ty được dùng theo nghĩa tương đương mặc dù khái niệm doanh nghiệp có phạm vi rộng hơn trong luật.

[3]Điều 1 của Hiệp ước ký tại Pa-ri ngày 14 tháng 12 năm 1960, có hiệu lực từ ngày 30 tháng 9 năm 1961 quy định Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) sẽ thúc đẩy việc xây dựng các chính sách nhằm:

Đạt được sự tăng trưởng kinh tế và việc làm bền vững nhất, nâng cao mức sống ở các quốc gia thành viên, đồng thời duy trì ổn định tài chính, qua đó đóng góp cho sự phát triển của nền kinh tế thế giới.

Đóng góp cho sự phát triển vững chắc về kinh tế ở các quốc gia thành viên và không thành viên trong quá trình phát triển kinh tế; và

Đóng góp cho sự mở rộng của thương mại thế giới trên cơ sở đa phương, không phân biệt đối xử theo các cam kết quốc tế.

[4]Xem sách Cadbury “Những khía cạnh tài chính của quản trị doanh nghiệp”, Ngân hàng Anh, 1992

[5]Cadbury“Chủ tịch công ty và Quản trị doanh nghiệp: Một cách nhìn cá nhân”, 2001

[6] http://tapchitaichinh.vn/tai-chinh—kinh-doanh/tai-chinh-doanh-nghiep/mot-so-giai-phap-hoan-thien-hoat-dong-quan-tri-cong-ty-tai-viet-nam-52701.html

[7] Bản tin số 2 – 3/2011, Dự án Quản trị công ty tại Việt Nam – Chương trình tư vấn của IFC tại Đông Á – Thái Bình Dương

[8] Trần Anh Đào, Phó Tổng giám đốc Sở Giao dịch Chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) –http://www.mof.gov.vn/portal/page/portal/nif/Newdetail?p_page_id=43058593&pers_id=42972397&item_id=167461684&p_details=1

[9] Báo cáo thẻ điểm quản trị công ty 2012 – Chương trình tư vấn của IFC tại Đông Á – Thái Bình Dương

Bản in

 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *