Chuyên đề 26 CƠ CHẾ QUẢN LÝ ĐỐI VỚI CÔNG TY QUẢN LÝ QUỸ VÀ QUỸ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN

Chuyên đề 26: CƠ CHẾ QUẢN LÝ ĐỐI VỚI CÔNG TY QUẢN LÝ QUỸ VÀ QUỸ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN

 ThS. Nguyễn Hải Nam, Vụ Quản lý các công ty quản lý quỹ và Quỹ đầu tư chứng khoán – Ủy ban chứng khoán Nhà nước

26.1. Tổng quan về cơ chế quản lý đối với công ty quản lý quỹ và quỹ đầu tư chứng khoán

26.1.1. Khái niệm về công ty quản lý quỹ và quỹ đầu tư chứng khoá

a) Công ty quản lý quỹ

Công ty quản lý quỹ là doanh nghiệp hoạt động kinh doanh chứng khoán, cung cấp dịch vụ quản lý quỹ đầu tư chứng khoán, quản lý danh mục đầu tư chứng khoán và tư vấn đầu tư chứng khoán. Công ty quản lý quỹ là tổ chức kinh doanh có điều kiện, thực hiện quản lý các quỹ đầu tư chứng khoán hình thành từ vốn góp của nhà đầu tư; quản lý theo ủy thác của từng nhà đầu tư trong việc mua, bán, nắm giữ chứng khoán, các tài sản khác và cung cấp cho nhà đầu tư kết quả phân tích, công bố báo cáo phân tích, khuyến nghị liên quan đến chứng khoán.

b) Quỹ đầu tư chứng khoán

Quỹ đầu tư chứng khoán là quỹ hình thành từ vốn góp của nhà đầu tư với mục đích kiếm lợi nhuận từ việc đầu tư vào chứng khoán hoặc các dạng tài sản đầu tư khác, kể cả bất động sản, trong đó nhà đầu tư không có quyền kiểm soát hàng ngày đối với việc ra quyết định đầu tư của quỹ. Theo quy định của pháp luật Việt Nam, quỹ đầu tư chứng khoán không có tư cách pháp nhân, do công ty quản lý quỹ thành lập, quản lý và được chia thành 02 loại chính: quỹ thành viên và quỹ đại chúng.

 – Quỹ thành viên:

 Quỹ thành viên là quỹ đầu tư chứng khoán có số thành viên tham gia góp vốn không vượt quá 30 thành viên và chỉ bao gồm thành viên là pháp nhân.

– Quỹ đại chúng:

Quỹ đại chúng là quỹ đầu tư chứng khoán thực hiện chào bán chứng chỉ quỹ ra công chúng. Quỹ đại chúng bao gồm quỹ mở và quỹ đóng, trong đó: quỹ mở là quỹ đại chúng mà chứng chỉ quỹ đã chào bán ra công chúng phải được mua lại theo yêu cầu của nhà đầu tư; quỹ đóng là quỹ đại chúng mà chứng chỉ quỹ đã chào bán ra công chúng không được mua lại theo yêu cầu của nhà đầu tư, chứng chỉ quỹ đóng được niêm yết tại Sở Giao dịch chứng khoán.

Quỹ đại chúng tại Việt Nam còn bao gồm quỹ đầu tư bất động sản và quỹ hoán đổi danh mục.

Quỹ đầu tư bất động sản là một loại hình quỹ đóng, đầu tư chủ yếu vào bất động sản (tối thiểu 65% giá trị tài sản ròng của quỹ được đầu tư vào bất động sản ở Việt Nam với mục đích cho thuê hoặc khai thác để thu lợi tức ổn định).

Quỹ hoán đổi danh mục (ETF) là một loại hình quỹ mở, hình thành từ việc tiếp nhận, hoán đổi danh mục chứng khoán cơ cấu lấy chứng chỉ quỹ. Chứng chỉ quỹ ETF được niêm yết và giao dịch trên Sở Giao dịch Chứng khoán.

26.1.2. Cơ quan quản lý đối với các công ty quản lý quỹ và quỹ đầu tư chứng khoán

Theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước có chức năng quản lý nhà nước về chứng khoán và thị trường chứng khoán; trong đó, Vụ Quản lý các Công ty quản lý quỹ và Quỹ đầu tư chứng khoán có chức năng quản lý trực tiếp các công ty quản lý quỹ và quỹ đầu tư chứng khoán.

a) Ủy ban Chứng khoán Nhà nước

Ủy ban Chứng khoán Nhà nước thành lập ngày 28/11/1996. Thời điểm này, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước là một cơ quan trực thuộc Chính phủ, có đầy đủ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của một cơ quan quản lý nhà nước về chứng khoán và thị trường chứng khoán; thực hiện quản lý, giám sát, thúc đẩy thị trường phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa và bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho nhà đầu tư. Đến ngày 19/02/2004, để thực hiện tái cơ cấu hệ thống cơ quan hành chính nhà nước, Chính phủ chuyển Ủy ban Chứng khoán Nhà nước vào Bộ Tài chính. Ngày 08/10/2015, với mục tiêu cải cách tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về chứng khoán và thị trường chứng khoán nhằm đáp ứng yêu cầu mới trong quản lý của ngành tài chính nói chung khi Việt Nam hội nhập ngày càng sâu với khu vực và thế giới, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 48/2015/QĐ-TTg quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức Ủy ban Chứng khoán Nhà nước trực thuộc Bộ Tài chính, thay thế Quyết định số 112/2009/QĐ-TTg ngày 11/09/2009 của Thủ tướng Chính phủ (trước đó là các Quyết định số 63/2007/QĐ-TTg 10/05/2007, Quyết định số 161/2004/QĐ-TTg ngày 07/09/2004 của Thủ tướng Chính phủ).

Theo Quyết định 48/2015/QĐ-TTg, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước là cơ quan trực thuộc Bộ Tài chính, thực hiện chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Tài chính quản lý nhà nước về chứng khoán và thị trường chứng khoán; trực tiếp quản lý, giám sát hoạt động chứng khoán và thị trường chứng khoán; quản lý các hoạt động dịch vụ thuộc lĩnh vực chứng khoán, thị trường chứng khoán theo quy định của pháp luật.

b) Vụ Quản lý các Công ty quản lý quỹ và quỹ đầu tư chứng khoán

Tháng 05/2007, Vụ Quản lý các Công ty quản lý quỹ và quỹ đầu tư chứng khoán (Vụ Quản lý quỹ) chính thức được thành lập, là đơn vị thuộc Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, được tách ra từ Vụ Quản lý kinh doanh chứng khoán. Vụ Quản lý quỹ có chức năng tham mưu, giúp Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước quản lý nhà nước về chứng khoán và thị trường chứng khoán liên quan đến công ty quản lý quỹ, quỹ đầu tư chứng khoán, công ty đầu tư chứng khoán, văn phòng đại diện, chi nhánh công ty quản lý quỹ nước ngoài tại Việt Nam.

Theo Quyết định số 538/QĐ-BTC ngày 22/03/2016 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của các Vụ và Văn phòng thuộc Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, một số nhiệm vụ chính của Vụ Quản lý quỹ như sau:

– Trình Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước để trình Bộ trưởng Bộ Tài chính các văn bản quy phạm pháp luật về tổ chức, hoạt động của các công ty quản lý quỹ, quỹ đầu tư chứng khoán, công ty đầu tư chứng khoán, văn phòng đại diện, chi nhánh công ty quản lý quỹ nước ngoài tại Việt Nam và người hành nghề tại các công ty quản lý quỹ, công ty đầu tư chứng khoán.

– Chủ trì, phối hợp với các đơn vị xây dựng chính sách, giải pháp, đề án liên quan đến hoạt động của các công ty quản lý quỹ, quỹ đầu tư chứng khoán và công ty đầu tư chứng khoán, văn phòng đại diện, chi nhánh công ty quản lý quỹ nước ngoài tại Việt Nam.

– Trình Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước quyết định:

+ Cấp, thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động các công ty quản lý quỹ, chi nhánh, văn phòng đại diện công ty quản lý quỹ; giấy chứng nhận văn phòng đại diện, chi nhánh công ty quản lý quỹ nước ngoài tại Việt Nam;

+ Cấp, thu hồi giấy chứng nhận, đăng ký chào bán chứng khoán ra công chúng, phát hành riêng lẻ, đăng ký công ty đại chúng của công ty quản lý quỹ; giấy chứng nhận đăng ký chào bán cổ phiếu ra công chúng, phát hành riêng lẻ và giấy phép thành lập và hoạt động công ty đầu tư chứng khoán; giấy chứng nhận đăng ký chào bán chứng chỉ quỹ đầu tư chứng khoán, giấy chứng nhận đăng ký thành lập quỹ đầu tư chứng khoán; thông báo xác nhận thành lập quỹ thành viên;

– Chấp thuận, điều chỉnh những thay đổi liên quan đến hoạt động công ty quản lý quỹ, quỹ đầu tư chứng khoán, công ty đầu tư chứng khoán, văn phòng đại diện, chi nhánh công ty quản lý quỹ trong nước, văn phòng đại diện, chi nhánh công ty quản lý quỹ nước ngoài tại Việt Nam;

– Chủ trì, phối hợp với các đơn vị thuộc Ủy ban Chứng khoán Nhà nước giám sát việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, quy chế của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đối với các công ty quản lý quỹ, quỹ đầu tư chứng khoán, công ty đầu tư chứng khoán, chi nhánh, văn phòng đại diện công ty quản lý quỹ nước ngoài tại Việt Nam; giám sát các thay đổi về tổ chức, hoạt động, khả năng đáp ứng, duy trì các điều kiện cấp phép hoạt động, các chỉ tiêu an toàn tài chính của công ty quản lý quỹ, quỹ đầu tư chứng khoán, công ty đầu tư chứng khoán, văn phòng đại diện, chi nhánh công ty quản lý quỹ nước ngoài tại Việt Nam và văn phòng đại diện, chi nhánh công ty quản lý quỹ Việt Nam tại nước ngoài; giám sát hoạt động của ngân hàng lưu ký, ngân hàng giám sát; giám sát việc tuân thủ các quy định về người hành nghề của các công ty quản lý quỹ, công ty đầu tư chứng khoán.

– Lập báo cáo, phân tích và đánh giá tình hình hoạt động của các công ty quản lý quỹ, quỹ đầu tư chứng khoán, công ty đầu tư chứng khoán và văn phòng đại diện, chi nhánh công ty quản lý quỹ nước ngoài tại Việt Nam; báo cáo lưu chuyển và danh mục đầu tư gián tiếp nước ngoài; tổ chức thực hiện công tác thống kê, phân tích thuộc phạm vi quản lý của Vụ.

– Thực hiện kiểm tra các đối tượng thuộc phạm vi quản lý theo sự phân công của Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước.

– Tham mưu cho Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước trong việc hướng dẫn, tổ chức và giám sát các tổ chức nghề nghiệp quản lý quỹ, quản lý tài sản theo quy định của pháp luật.

29.1.3. Cơ chế quản lý đối với công ty quản lý quỹ và quỹ đầu tư chứng khoán

Cơ chế quản lý đối với công ty quản lý quỹ và quỹ đầu tư chứng khoán bao gồm các nội dung chính sau: xây dựng cơ chế chính sách (dự thảo Luật, Nghị định, Thông tư…); quản lý giám sát và tái cấu trúc các công ty quản lý quỹ và quỹ đầu tư chứng khoán.

a) Xây dựng cơ chế chính sách

Chính thức hoạt động từ tháng 04/1997, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đã khẩn trương phối hợp với các bộ, ngành xây dựng các điều kiện cho sự ra đời của thị trường chứng khoán, đặc biệt là công tác xây dựng cơ chế, chính sách, khuôn khổ pháp lý trong lĩnh vực chứng khoán nói chung và lĩnh vực quản lý quỹ nói riêng.

Ngày 11/07/1998, Chính phủ đã ký ban hành Nghị định số 48/1998/NĐ-CP về chứng khoán và thị trường chứng khoán. Đây là văn bản quy phạm pháp luật có giá trị pháp lý cao nhất điều chỉnh trực tiếp cho hoạt động của thị trường chứng khoán Việt Nam thời điểm đầu, trong đó có các quy định liên quan đến công ty quản lý quỹ và quỹ đầu tư chứng khoán. Trên cơ sở nền tảng của Nghị định 48/1998/NĐ-CP, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đã ban hành Quyết định số 05/1998/QĐ-UBCK3 ngày 13/10/1998 về việc ban hành quy chế tổ chức và hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán và công ty quản lý quỹ.

Sau một thời gian triển khai vận hành thị trường, những hạn chế, bất cập của Nghị định 48/1998/NĐ-CP bước đầu xuất hiện, đòi hỏi cần thiết có sự sửa đổi, bổ sung kịp thời. Ngày 28/11/2003, Chính phủ đã ban hành Nghị định 144/2003/NĐ-CP về chứng khoán và thị trường chứng khoán, thay thế Nghị định 48/1998/NĐ-CP.

Trong năm 2004, Bộ Tài chính đã ban hành đồng bộ các văn bản hướng dẫn thi hành Nghị định số 144/2003/NĐ-CP, trong đó có Quyết định số 73/2004/QĐ-BTC ngày 03/09/2004 về việc ban hành quy chế tổ chức và hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán và công ty quản lý quỹ; Quyết định số 92/2004/QĐ-BTC ngày 30/11/2004 về việc ban hành hệ thống chỉ tiêu giám sát tài chính đối với công ty chứng khoán và công ty quản lý quỹ.

Trong quá trình thực hiện Nghị định 144/2003/NĐ-CP, phạm vi điều chỉnh của Nghị định đã bộc lộ nhiều hạn chế, chưa bao quát và phù hợp với điều kiện thực tế cũng như định hướng chiến lược phát triển thị trường chứng khoán. Nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển đòi hỏi phải phát triển thị trường chứng khoán trở thành kênh huy động vốn trung và dài hạn quan trọng cho nền kinh tế và yêu cầu bức thiết là phải hoàn chỉnh thể chế về chứng khoán và thị trường chứng khoán, Quốc hội đã thông qua Luật Chứng khoán ngày 29/06/2006, có hiệu lực từ ngày 01/01/2007.

Các văn bản hướng dẫn Luật Chứng khoán được gấp rút hoàn thiện, trình cơ quan có thẩm quyền ban hành kịp thời. Để hướng dẫn Luật Chứng khoán, Chính phủ đã ban hành Nghị định 14/2007/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Chứng khoán; Bộ Tài chính ban hành Quyết định số 35/2007/QĐ-BTC ngày 15/05/2007 về việc ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của công ty quản lý quỹ, Quyết định số 125/2008/QĐ-BTC ngày 26/12/2008 sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 35/2007/QĐ-BTC; Quyết định số 45/2007/QĐ-BTC ngày 05/06/2007 về việc ban hành Quy chế thành lập và quản lý quỹ đầu tư chứng khoán;

Năm 2010, Quốc hội khóa XII đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2011) nhằm khắc phục những vướng mắc trong thực tiễn hoạt động của thị trường chứng khoán và thực tế thi hành Luật Chứng khoán 2006; đảm bảo định hướng phát triển thị trường theo đúng mục tiêu; đồng thời từng bước tiếp cận với quy định và thông lệ quốc tế, cũng như tăng cường sự quản lý của Nhà nước trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán. Trong năm này, Chính phủ ban hành Nghị định số 84/2010/NĐ-CP ngày 02/08/2010 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 14/2007/NĐ-CP; Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 226/2010/TT-BTC ngày 31/12/2010 quy định chỉ tiêu an toàn tài chính và biện pháp xử lý đối với các tổ chức kinh doanh chứng khoán không đáp ứng chỉ tiêu an toàn tài chính.

Năm 2011, cơ quan quản lý tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, chính sách và thể chế cho thị trường chứng khoán. Để tạo khung pháp lý và chuẩn bị cho việc thành lập và quản lý quỹ mở, Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 183/2011/TT-BTC ngày 16/12/2011 hướng dẫn về việc thành lập và quản lý quỹ mở.

Trong năm 2012, Chính phủ ban hành Nghị định 58/2012/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Chứng khoán và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán. Đây là văn bản quan trọng được xây dựng trên cơ sở gộp 3 Nghị định (Nghị định 14/2007/NĐ-CP, Nghị định 84/2010/NĐ-CP và Nghị định 01/2010/NĐ-CP) để đảm bảo văn bản thống nhất, hoàn chỉnh. Trên cơ sở Nghị định số 58/2012/NĐ-CP, hàng loạt Thông tư đã được Bộ Tài chính ban hành, trong đó có các Thông tư hướng dẫn về việc thành lập và hoạt động công ty quản lý quỹ, công ty đầu tư chứng khoán, quỹ đóng, quỹ thành viên, quỹ đầu tư bất động sản, quỹ ETF, cụ thể:

– Thông tư số 212/2012/TT-BTC ngày 05/12/2012 của Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn thành lập, tổ chức và hoạt động công ty quản lý quỹ.

– Thông tư số 165/2012/TT-BTC ngày 09/10/2012 của Bộ trưởng Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 226/2010/TT-BTC ngày 31/12/ 2010 của Bộ Tài chính quy định chỉ tiêu an toàn tài chính và biện pháp xử lý đối với các tổ chức kinh doanh chứng khoán không đáp ứng chỉ tiêu an toàn tài chính.

– Thông tư số 224/2012/TT-BTC ngày 26/12/2012 của Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn thành lập và quản lý quỹ đóng, quỹ thành viên.

– Thông tư số 228/2012/TT-BTC ngày 27/12/2012 của Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn thành lập và quản lý quỹ đầu tư bất động sản.

– Thông tư số 229/2012/TT-BTC ngày ngày 27/12/2012 của Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn thành lập và quản lý quỹ hoán đổi danh mục.

Trong giai đoạn từ năm 2012 đến nay, để tiếp tục củng cố, hoàn thiện khung pháp lý cho thị trường chứng khoán, cơ quan quản lý nhà nước tiếp tục ban hành các văn bản quy phạm pháp luật quy định các sản phẩm mới; quy định hướng dẫn đánh giá, xếp loại các công ty quản lý quỹ và sửa đổi, bổ sung các văn bản hướng dẫn về hoạt động của công ty quản lý quỹ, quỹ đầu tư chứng khoán, cụ thể:

– Quyết định số 427/QĐ-UBCK ngày 11/07/2013 của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước về việc ban hành Quy chế hướng dẫn đánh giá, xếp loại công ty quản lý quỹ.

– Quyết định số 428/QĐ-UBCK ngày 11/07/2013 của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước về việc ban hành Quy chế hướng dẫn thiết lập, vận hành hệ thống quản trị rủi ro cho công ty quản lý quỹ và công ty đầu tư chứng khoán riêng lẻ tự quản lý.

– Nghị định số 60/2015/NĐ-CP ngày 26/06/2015 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 58/2012/NĐ-CP ngày 20/07/2012 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Chứng khoán và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán.

– Thông tư số 15/2016/TT-BTC ngày 20/01/2016 của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 183/2011/TT-BTC ngày 16/12/2011 hướng dẫn về việc thành lập và quản lý quỹ mở.

– Thông tư số 105/2016/TT-BTC ngày 29/06/2016 của Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn hoạt động đầu tư gián tiếp ra nước ngoài của tổ chức kinh doanh chứng khoán, quỹ đầu tư chứng khoán, công ty đầu tư chứng khoán và doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm.

– Nghị định số 86/2016/NĐ-CP ngày 01/07/2016 của Chính phủ quy định điều kiện đầu tư, kinh doanh chứng khoán.

– Nghị định số 88/2016/NĐ-CP ngày 01/07/2016 của Chính phủ về chương trình hưu trí bổ sung tự nguyện.

Như vậy, tính đến nay, Việt Nam đã có hệ thống văn bản quy phạm pháp luật cơ bản đầy đủ, toàn diện theo thông lệ quốc tế để quản lý các công ty quản lý quỹ và quỹ đầu tư chứng khoán.

b) Cơ chế quản lý giám sát

– Quản lý cấp phép và các thay đổi cần chấp thuận:

Để quản lý hoạt động kinh doanh chứng khoán, cơ quan quản lý nhà nước ban hành các quy định liên quan đến cấp phép thành lập và hoạt động đối với công ty quản lý quỹ, quỹ đầu tư chứng khoán, đảm bảo công ty quản lý quỹ, quỹ đầu tư chứng khoán đáp ứng các điều kiện cơ bản để tiến hành hoạt động, kinh doanh. Ngoài ra, Ủy ban chứng khoán Nhà nước thực hiện quản lý các thay đổi mang tính chất trọng yếu của công ty quản lý quỹ, quỹ đầu tư chứng khoán, đảm bảo các thay đổi không gây ảnh hưởng lớn, ảnh hướng xấu đến hoạt động kinh doanh bình thường, từ đó đảm bảo lợi ích của nhà đầu tư.

– Giám sát từ xa:

Chế độ giám sát từ xa nhằm đánh giá rủi ro, nắm bắt và cập nhật đầy đủ các thông tin cần thiết (tình hình hoạt động, quản trị, năng lực tài chính, tính tuân thủ…), từ đó phục vụ các hoạt động quản lý nhà nước, hoạch định chính sách.

Chế độ giám sát từ xa dựa trên các thông tin do công ty quản lý quỹ cung cấp và các thông tin có liên quan do các tổ chức khác cung cấp, bao gồm Sở Giao dịch chứng khoán, Trung tâm lưu ký chứng khoán, ngân hàng lưu ký, ngân hàng giám sát và trên các phương tiện thông tin đại chúng khác.

– Thanh tra, kiểm tra:

Căn cứ vào kết quả giám sát từ xa các công ty quản lý quỹ và quỹ đầu tư chứng khoán, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước thực hiện đánh giá, xếp loại các công ty quản lý quỹ, xây dựng kế hoạch và thực hiện thanh kiểm tra định kỳ hoặc thanh kiểm tra chuyên đề/đột xuất để đi sâu làm rõ các mặt hoạt động của công ty quản lý quỹ, quỹ đầu tư chứng khoán, từ đó có các biện pháp xử lý phù hợp, kịp thời, đảm bảo các công ty quản lý quỹ, quỹ đầu tư chứng khoán hoạt động theo đúng quy định pháp luật, đảm bảo tính toàn vẹn thị trường và bảo vệ an toàn tài sản của khách hàng.

 Hình 26.1. Mô hình quản lý giám sát các công ty quản lý quỹ, quỹ đầu tư chứng khoán

 c) Tái cấu trúc các công ty quản lý quỹ và quỹ đầu tư chứng khoán

 Trong năm 2012, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1826/QĐ-TTg ngày 06/12/2012 phê duyệt Đề án tái cấu trúc thị trường chứng khoán nhằm mục đích cơ cấu hệ thống các tổ chức kinh doanh chứng khoán phù hợp với nhu cầu, đặc điểm và quy mô phát triển của thị trường; đồng thời củng cố hoạt động, nâng cao năng lực tài chính, năng lực quản trị công ty, quản trị rủi ro tại tổ chức kinh doanh chứng khoán theo thông lệ quốc tế.

Để triển khai quyết định nêu trên, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đã tích cực thực hiện công tác tái cấu trúc các công ty quản lý quỹ và quỹ đầu tư chứng khoán.

– Đối với công ty quản lý quỹ: Để thị trường phát triển ổn định, bền vững, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước khuyến khích các công ty quản lý quỹ tái cấu trúc cơ sở nhà đầu tư theo hướng thay đổi cơ cấu cổ đông, tập trung phát triển cổ đông là tổ chức, đặc biệt cổ đông là tổ chức đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp như ngân hàng thương mại, doanh nghiệp bảo hiểm, công ty chứng khoán. Ngoài ra, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước thực hiện rà soát, phân loại các công ty quản lý quỹ dựa trên mức độ rủi ro đối với thị trường (chỉ tiêu vốn khả dụng, tỷ lệ lỗ lũy kế/vốn điều lệ) quy định tại Thông tư 226/2010/TT-BTC, Thông tư 165/2012/TT-BTC, từ đó có biện pháp xử lý, thanh lọc đối với các công ty quản lý quỹ hoạt động yếu kém, không hiệu quả. Đối với trường hợp công ty quản lý quỹ không đáp ứng chỉ tiêu an toàn tài chính, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước tăng cường giám sát thông qua chế độ báo cáo hàng tuần/hàng ngày, xem xét đặt công ty quản lý quỹ vào các tình trạng kiểm soát, kiểm soát đặc biệt, tạm ngừng hoạt động, đình chỉ hoạt động, đồng thời yêu cầu các công ty quản lý quỹ xây dựng phương án, kế hoạch khắc phục. Tính đến tháng 12/2016, thị trường có 47 công ty quản lý quỹ đang hoạt động, các công ty quản lý quỹ đang hoạt động đã nâng cao được chất lượng dịch vụ và cơ bản đáp ứng được các quy định hiện hành. Ngoài ra có 02 công ty quản lý quỹ đang thuộc diện tái cấu trúc (01 công ty đang tạm ngừng hoạt động, 01 công ty đã chấm dứt hoạt động).

– Đối với quỹ đầu tư chứng khoán: công tác tái cấu trúc đã thực hiện có kết quả tương đối rõ rệt. Nếu như trước năm 2012, thị trường chỉ có các loại hình quỹ đóng, quỹ thành viên thì đến năm 2016 đã có nhiều loại hình quỹ mới như quỹ mở, quỹ ETF và quỹ bất động sản, đây là các sản phẩm quỹ đầu tư hiện đại, theo thông lệ quốc tế và được đánh giá cao trong bối cảnh hội nhập. Đến tháng 12/2016, thị trường có 31 quỹ đầu tư chứng khoán, bao gồm 02 quỹ ETF, 19 quỹ mở, 01 quỹ bất động sản, 01 quỹ đóng và 08 quỹ thành viên. Qua thời gian thực hiện tái cấu trúc, số lượng quỹ đại chúng tăng lên nhanh chóng, đặc biệt là các quỹ mở, mô hình quỹ mở được đánh giá là hiện đại, minh bạch, phù hợp với thông lệ quốc tế. Đáng chú ý là trong 19 quỹ mở đang hoạt động thì có 05 quỹ là quỹ trái phiếu, đây là loại hình quỹ mở có mức tăng trưởng ổn định và hoạt động hiệu quả trong thời gian qua.

Bảng 26.1. Số lượng và loại hình quỹ đầu tư qua các năm

Năm

Quỹ thành viên

Quỹ đóng

Quỹ mở

Quỹ ETF

Quỹ bất động sản

Tổng các Quỹ đầu tư

2012

11

06

0

0

0

17

2013

10

04

06

0

0

20

2014

07

0

15

02

0

24

2015

09

0

17

02

0

28

2016

08

01

19

02

01

31

Nguồn: Vụ Quản lý các Công ty quản lý quỹ và quỹ đầu tư chứng khoán – UBCKNN

26.2. Cơ chế quản lý, giám sát đối với công ty quản lý quỹ

Cơ quan quản lý nhà nước thực hiện quản lý các công ty quản lý quỹ thông qua việc ban hành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, đưa ra các quy định về cấp phép, điều chỉnh cấp phép, quy định hoạt động kinh doanh, chế độ báo cáo, công bố thông tin, quy định tái cấu trúc… Trên cơ sở các quy định đã ban hành và các thông tin, dữ liệu báo cáo do công ty quản lý quỹ và các tổ chức có liên quan cung cấp, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước thực hiện quản lý các mặt hoạt động của công ty quản lý quỹ.

26.2.1. Quản lý cấp phép và các thay đổi cần chấp thuận

a) Quản lý cấp phép

Chính phủ ban hành các quy định về điều kiện cấp phép, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước quản lý việc cấp phép thành lập và hoạt động đối với công ty quản lý quỹ. Trên cơ sở hồ sơ đề nghị cấp phép thành lập và hoạt động của công ty quản lý quỹ, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước thực hiện thẩm định hồ sơ, chấp thuận cấp phép đối với các trường hợp đủ điều kiện hoặc từ chối trong trường hợp không đủ điều kiện. Các điều kiện về cấp phép thành lập và hoạt động công ty quản lý quỹ cụ thể như sau:

– Điều kiện về trụ sở làm việc, cơ sở vật chất và trang thiết bị: có trụ sở làm việc bảo đảm cho hoạt động kinh doanh chứng khoán; có đủ cơ sở vật chất, kỹ thuật, trang thiết bị văn phòng, hệ thống máy tính, phần mềm phục vụ cho hoạt động phân tích đầu tư, phân tích và quản lý rủi ro, lưu trữ, bảo quản chứng từ, tài liệu và các thiết bị bảo đảm an toàn, an ninh cho trụ sở làm việc của công ty.

– Điều kiện về vốn: vốn đã góp tại thời điểm thành lập công ty tối thiểu bằng mức vốn pháp định là 25 tỷ đồng Việt Nam.

– Điều kiện về nhân sự: có tối thiểu 05 nhân viên có chứng chỉ hành nghề quản lý quỹ; có Tổng Giám đốc (Giám đốc), Phó Tổng Giám đốc (Phó Giám đốc) phụ trách nghiệp vụ (nếu có) và phải đáp ứng các tiêu chuẩn sau:

+ Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, không thuộc trường hợp đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc chấp hành hình phạt tù hoặc bị tòa án cấm hành nghề kinh doanh theo quy định của pháp luật;

+ Không bị xử phạt theo pháp luật chứng khoán và thị trường chứng khoán trong vòng 12 tháng;

+ Chưa từng có các hành vi vi phạm quy định tại điểm b khoản 1 Điều 80 Luật Chứng khoán;

+ Có ít nhất 05 năm kinh nghiệm tại các bộ phận nghiệp vụ của các tổ chức trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, bảo hiểm hoặc tại bộ phận tài chính, kế toán, đầu tư trong các doanh nghiệp khác;

+ Có Chứng chỉ hành nghề quản lý quỹ hoặc có một trong các văn bằng, chứng chỉ quốc tế sau: chứng chỉ hành nghề quản lý tài sản tại các quốc gia là thành viên của tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD); hoặc đã thi đạt chứng chỉ quốc tế về phân tích đầu tư CFA bậc II (Chartered Financial Analyst level II), hoặc CIIA bậc II (Certified International Investment Analyst – Final level).

– Điều kiện về cổ đông, thành viên góp vốn:

+ Đối với cá nhân tham gia góp vốn: không thuộc các trường hợp không được quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam theo quy định pháp luật về doanh nghiệp và có đủ năng lực tài chính để tham gia góp vốn thành lập công ty quản lý quỹ; chỉ được sử dụng vốn của chính mình và chứng minh đủ năng lực tài chính.

+ Đối với tổ chức tham gia góp vốn: có tư cách pháp nhân và không đang trong tình trạng hợp nhất, sáp nhập, chia, tách, giải thể, phá sản và không thuộc các trường hợp không được quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp theo quy định pháp luật về doanh nghiệp; hoạt động kinh doanh có lãi trong 02 năm liền trước và không có lỗ luỹ kế trên báo cáo tài chính năm gần nhất đã được kiểm toán và báo cáo tài chính bán niên gần nhất đã được soát xét (nếu có). Ngoài ra: trường hợp là ngân hàng thương mại, doanh nghiệp bảo hiểm, tổ chức kinh doanh chứng khoán thì không đang trong tình trạng kiểm soát hoạt động, kiểm soát đặc biệt hoặc các tình trạng cảnh báo khác; đồng thời đáp ứng đầy đủ các điều kiện để được tham gia góp vốn, đầu tư theo quy định của pháp luật chuyên ngành. Trường hợp là các tổ chức kinh tế khác: có thời gian hoạt động tối thiểu là 05 năm liên tục liền trước năm tham gia góp vốn thành lập tổ chức kinh doanh chứng khoán; phần còn lại của vốn chủ sở hữu sau khi trừ đi tài sản dài hạn tối thiểu phải bằng số vốn dự kiến góp; vốn lưu động tối thiểu phải bằng số vốn dự kiến góp; chỉ được sử dụng vốn chủ sở hữu và các nguồn vốn hợp lệ khác theo quy định của pháp luật chuyên ngành. Báo cáo tài chính năm gần nhất đã kiểm toán phải không có ngoại trừ.

Ngoài ra, tổ chức nước ngoài tham gia góp vốn thành lập, mua để sở hữu 100% vốn của công ty quản lý quỹ phải đáp ứng thêm các điều kiện sau: là tổ chức hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm và đã có thời gian hoạt động tối thiểu là 02 năm liền trước năm tham gia góp vốn thành lập, mua cổ phần, phần vốn góp; cơ quan quản lý, giám sát chuyên ngành ở nước ngoài trong lĩnh vực ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm và Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đã ký kết thỏa thuận hợp tác song phương hoặc đa phương về trao đổi thông tin, hợp tác quản lý, thanh tra, giám sát hoạt động chứng khoán và thị trường chứng khoán.

– Điều kiện về cơ cấu cổ đông, thành viên góp vốn: có tối thiểu 02 cổ đông sáng lập, thành viên sáng lập là tổ chức đáp ứng quy định. Trường hợp công ty quản lý quỹ được tổ chức dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, chủ sở hữu phải là doanh nghiệp bảo hiểm hoặc ngân hàng thương mại hoặc công ty chứng khoán hoặc tổ chức nước ngoài đáp ứng điều kiện theo quy định; tỷ lệ sở hữu cổ phần, phần vốn góp của các cổ đông sáng lập, thành viên sáng lập là tổ chức tối thiểu là 65% vốn điều lệ, trong đó các tổ chức là doanh nghiệp bảo hiểm, ngân hàng thương mại, công ty chứng khoán sở hữu tối thiểu 30% vốn điều lệ; cổ đông, thành viên góp vốn sở hữu từ 10% trở lên vốn điều lệ của một công ty quản lý quỹ và người có liên quan của cổ đông, thành viên góp vốn đó (nếu tham gia) không được sở hữu trên 5% vốn điều lệ tại một công ty quản lý quỹ khác.

Công ty quản lý quỹ hoạt động tại Việt Nam không được góp vốn thành lập, mua cổ phần hoặc phần vốn góp tại công ty quản lý quỹ, công ty chứng khoán tại Việt Nam, ngoại trừ các trường hợp sau: hoạt động hợp nhất, sáp nhập; hoặc mua để sở hữu hoặc cùng với người có liên quan (nếu có) sở hữu không quá 5% số cổ phiếu đang lưu hành của công ty quản lý quỹ, công ty chứng khoán đã đăng ký giao dịch, niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán.

Điều kiện khác: công ty quản lý phải thiết lập bộ phận kiểm soát nội bộ, bộ phận kiểm toán (nếu có) đáp ứng theo điều kiện quy định. Ngoài ra, công ty quản lý quỹ còn phải tuân thủ các quy định về quản trị công ty phù hợp với Luật doanh nghiệp và các quy định pháp luật có liên quan.b) Quản lý các thay đổi cần chấp thuận

Ủy ban Chứng khoán Nhà nước quản lý một số thay đổi trọng yếu của công ty quản lý quỹ, đảm bảo các thay đổi không làm tăng rủi ro hoạt động của công ty. Các nội dung thay đổi phải được chấp thuận của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cụ thể như sau:

– Thành lập/đóng cửa chi nhánh, văn phòng đại diện trong nước;

– Thành lập văn phòng đại diện ở nước ngoài, chi nhánh ở nước ngoài, đầu tư gián tiếp ra nước ngoài;

– Thay đổi tên công ty; địa điểm trụ sở chính, chi nhánh, văn phòng đại diện;

– Thay đổi người đại diện theo pháp luật;

– Giao dịch chiếm từ 10% trở lên vốn điều lệ;

– Giao dịch dẫn tới tỷ lệ sở hữu của cổ đông, thành viên góp vốn vượt qua hoặc xuống dưới các mức sở hữu 10%, 25%, 50%, 75% vốn điều lệ;

– Tăng, giảm vốn điều lệ;

– Bổ sung nghiệp vụ tư vấn và đầu tư chứng khoán;

– Chuyển đổi loại hình công ty;

– Hợp nhất, sáp nhập với công ty quản lý quỹ khác.

26.2.2. Giám sát từ xa

Ủy ban Chứng khoán Nhà nước thực hiện giám sát từ xa các công ty quản lý quỹ thông qua chế độ báo cáo, công bố thông tin; quy định an toàn tài chính và hệ thống đánh giá, xếp loại các công ty quản lý quỹ.

a) Giám sát thông qua chế độ báo cáo và công bố thông tin

Theo quy định, công ty quản lý quỹ phải thực hiện chế độ báo cáo, công bố thông tin định kỳ và bất thường các nội dung mang tính chất trọng yếu liên quan đến hoạt động của công ty. Thông qua chế độ báo cáo và công bố thông tin, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cập nhật, tổng hợp được thông tin, đánh giá được tình hình hoạt động, tình hình tài chính cũng như phát hiện các dấu hiệu, hành vi vi phạm quy định pháp luật của công ty, từ đó có biện pháp xử lý, điều chỉnh phù hợp. Hệ thống chế độ báo cáo và công bố thông tin theo quy định đối với công ty quản lý quỹ như sau:

– Chế độ báo cáo định kỳ:

+ Báo cáo tháng tình hình hoạt động;

+ Báo cáo tháng về tình hình quản lý danh mục đầu tư;

+ Báo cáo tỷ lệ an toàn tài chính tháng, tháng 6 đã được soát xét, tháng 12 đã được kiểm toán bởi tổ chức kiểm toán được chấp thuận;

+ Báo cáo quản trị rủi ro định kỳ 6 tháng;

+ Báo cáo kiểm toán nội bộ năm (nếu có), báo cáo kiểm soát nội bộ năm;

+ Báo cáo tình hình đầu tư chứng khoán năm;

+ Báo cáo năm về về các nhân viên đã được cấp chứng chỉ hành nghề chứng khoán làm việc tại công ty;

+ Báo cáo tài chính hàng quý, báo cáo tài chính bán niên đã soát xét, báo cáo tài chính năm được kiểm toán bởi tổ chức kiểm toán được chấp thuận.

– Chế độ báo cáo bất thường:

+ Thay đổi, tuyển dụng, bổ nhiệm mới thành viên hội đồng quản trị hoặc hội đồng thành viên, ban điều hành, nhân viên nghiệp vụ, nhân viên bộ phận kiểm toán nội bộ, nhân viên kiểm soát nội bộ;

+ Mua, bán cổ phiếu quỹ;

+ Đầu tư vào các công ty con, công ty liên doanh, liên kết

+ Sửa đổi, bổ sung điều lệ công ty;

+ Các sự kiện có thể gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng tài chính, hoạt động quản lý tài sản ủy thác.

– Chế độ báo cáo theo yêu cầu: trong trường hợp cần thiết, nhằm bảo vệ lợi ích chung và lợi ích nhà đầu tư, Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước có thể yêu cầu công ty quản lý quỹ báo cáo về hoạt động của công ty.

– Chế độ công bố thông tin định kỳ: công ty quản lý quỹ phải công bố các thông tin định kỳ sau:

+ Báo cáo tỷ lệ an toàn tài chính tại ngày 30/6 đã được soát xét và tại ngày 31/12 đã được kiểm toán bởi tổ chức kiểm toán được chấp thuận thực hiện kiểm toán cho đơn vị có lợi ích công chúng thuộc lĩnh vực chứng khoán cùng thời điểm với việc công bố báo cáo tài chính bán niên đã được soát xét và báo cáo tài chính năm đã được kiểm toán;

+ Báo cáo tài chính quý;

+ Báo cáo thường niên;

+ Đại hội đồng cổ đông thường niên;

+ Thông tin về tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài.

– Chế độ công bố thông tin bất thường: công ty quản lý quỹ phải công bố thông tin bất thường trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi xảy ra một trong các sự kiện sau:

+ Tài khoản của công ty tại ngân hàng bị phong tỏa hoặc được phép hoạt động trở lại sau khi bị phong tỏa, ngoại trừ trường hợp phong tỏa theo yêu cầu của chính công ty;

+ Tạm ngừng một phần hoặc toàn bộ hoạt động kinh doanh; bổ sung hoặc rút bớt một hoặc một số ngành nghề đầu tư, kinh doanh; bị đình chỉ hoặc thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc Giấy phép thành lập và hoạt động hoặc Giấy phép hoạt động; thay đổi thông tin trong Bản cáo bạch sau khi đã được Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cấp Giấy chứng nhận đăng ký chào bán;

+ Thông qua quyết định của Đại hội đồng cổ đông;

+ Quyết định mua hoặc bán cổ phiếu quỹ; ngày thực hiện quyền mua cổ phiếu của người sở hữu trái phiếu kèm theo quyền mua cổ phiếu hoặc ngày thực hiện chuyển đổi trái phiếu chuyển đổi sang cổ phiếu; quyết định chào bán chứng khoán ra nước ngoài và các quyết định liên quan đến việc chào bán chứng khoán theo quy định pháp luật về doanh nghiệp;

+ Quyết định về mức cổ tức, hình thức trả cổ tức, thời gian trả cổ tức; quyết định tách, gộp cổ phiếu;

+ Quyết định về việc tổ chức lại doanh nghiệp (chia, tách, hợp nhất, sáp nhập doanh nghiệp), giải thể doanh nghiệp; thay đổi tên công ty, con dấu của công ty; thay đổi địa điểm, thành lập mới hoặc đóng cửa trụ sở chính, chi nhánh, phòng giao dịch; sửa đổi, bổ sung Điều lệ; chiến lược, kế hoạch phát triển trung hạn và kế hoạch kinh doanh hàng năm của công ty;

+ Quyết định thay đổi kỳ kế toán, chính sách kế toán áp dụng (trừ trường hợp thay đổi chính sách kế toán áp dụng do thay đổi quy định pháp luật); thông báo doanh nghiệp kiểm toán đã ký hợp đồng kiểm toán báo cáo tài chính năm hoặc thay đổi doanh nghiệp kiểm toán (sau khi đã ký hợp đồng); doanh nghiệp kiểm toán từ chối kiểm toán báo cáo tài chính của công ty; kết quả điều chỉnh hồi tố báo cáo tài chính (nếu có); ý kiến không phải là ý kiến chấp nhận toàn phần của kiểm toán viên đối với báo cáo tài chính;

+ Quyết định tham gia góp vốn thành lập, mua để tăng sở hữu trong một công ty dẫn đến công ty đó trở thành công ty con, công ty liên doanh, công ty liên kết hoặc bán để giảm sở hữu tại công ty con, công ty liên doanh, công ty liên kết dẫn đến công ty đó không còn là công ty con, công ty liên doanh, công ty liên kết hoặc giải thể công ty con, công ty liên doanh, công ty liên kết; đóng, mở chi nhánh, nhà máy, văn phòng đại diện;

+ Quyết định của Đại hội đồng cổ đông hoặc Hội đồng quản trị thông qua hợp đồng, giao dịch giữa công ty với người nội bộ hoặc người có liên quan;

+ Quyết định phát hành trái phiếu chuyển đổi, cổ phiếu ưu đãi;

+ Khi có sự thay đổi số cổ phiếu có quyền biểu quyết đang lưu hành.

 + Khi nhận được Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc Giấy phép thành lập và hoạt động hoặc Giấy phép hoạt động của công ty được sửa đổi, bổ sung;

+ Công ty thay đổi, bổ nhiệm mới, bổ nhiệm lại, bãi nhiệm người nội bộ.

+ Khi nhận được quyết định khởi tố, tạm giam, truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người nội bộ của công ty;

+ Khi nhận được bản án, quyết định của Tòa án liên quan đến hoạt động của công ty; kết luận của cơ quan thuế về việc công ty vi phạm pháp luật về thuế;

+ Quyết định vay hoặc phát hành trái phiếu dẫn đến tổng giá trị các khoản vay của công ty có giá trị từ 30% vốn chủ sở hữu trở lên tính tại báo cáo tài chính năm gần nhất đã được kiểm toán hoặc báo cáo tài chính bán niên gần nhất được soát xét.

+ Công ty nhận được thông báo của Tòa án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản doanh nghiệp;

+ Khi xảy ra các sự kiện khác có ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất, kinh doanh hoặc tình hình quản trị của công ty;

+ Thông tin về Đại hội đồng cổ đông bất thường hoặc thông qua nghị quyết Đại hội đồng cổ đông dưới hình thức lấy ý kiến cổ đông bằng văn bản;

+ Thông tin liên quan đến ngày đăng ký cuối cùng thực hiện quyền cho cổ đông hiện hữu.

+ Vốn góp của chủ sở hữu bị giảm từ 10% trở lên hoặc tổng tài sản bị giảm từ 10% trở lên tại báo cáo tài chính năm gần nhất đã được kiểm toán hoặc báo cáo tài chính bán niên gần nhất được soát xét.

+ Quyết định tăng, giảm vốn điều lệ; quyết định góp vốn đầu tư vào một tổ chức, dự án, vay, cho vay hoặc các giao dịch khác với giá trị từ 10% trở lên trên tổng tài sản của công ty tại báo cáo tài chính năm gần nhất được kiểm toán hoặc báo cáo tài chính bán niên gần nhất được soát xét; quyết định góp vốn có giá trị từ 50% trở lên vốn điều lệ của một tổ chức (xác định theo vốn điều lệ của tổ chức nhận vốn góp trước thời điểm góp vốn); quyết định mua, bán tài sản có giá trị từ 15% trở lên trên tổng tài sản của công ty tính tại báo cáo tài chính năm gần nhất được kiểm toán hoặc báo cáo tài chính bán niên gần nhất được soát xét.

+ Được chấp thuận hoặc bị hủy bỏ niêm yết tại Sở Giao dịch chứng khoán;

+ Khi nhận được quyết định của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước về việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán đối với công ty, người hành nghề chứng khoán của công ty; khi Tổng Giám đốc, Phó Tổng giám đốc hoặc Giám đốc, Phó Giám đốc của công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ bị thu hồi chứng chỉ hành nghề chứng khoán;

+ Khi nhận được quyết định của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước về việc đặt công ty vào diện kiểm soát, kiểm soát đặc biệt hoặc đưa ra khỏi diện kiểm soát, kiểm soát đặc biệt; đình chỉ hoạt động, tạm ngừng hoạt động hoặc chấm dứt tình trạng đình chỉ hoạt động, tạm ngừng hoạt động;

+ Các giao dịch chuyển nhượng cổ phần, phần vốn góp để trở thành cổ đông, thành viên góp vốn nắm giữ từ 10% trở lên vốn điều lệ đã góp của công ty chứng khoán không phải là công ty đại chúng; các giao dịch làm thay đổi quyền sở hữu cổ phần hoặc phần vốn góp chiếm từ 10% trở lên vốn điều lệ hoặc giao dịch dẫn tới tỷ lệ sở hữu của cổ đông, thành viên góp vốn vượt qua hoặc xuống dưới các mức sở hữu 10%, 25%, 50%, 75% vốn điều lệ của công ty quản lý quỹ không phải là công ty đại chúng;

+ Khi nhận được quyết định chấp thuận của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đóng, thành lập văn phòng đại diện, chi nhánh, phòng giao dịch ở trong nước hoặc nước ngoài.

Công bố thông tin theo yêu cầu: công ty quản lý quỹ phải công bố thông tin trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi nhận được yêu cầu của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, Sở giao dịch chứng khoán khi có thông tin liên quan đến công ty ảnh hưởng lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư.b) Giám sát thông qua quy định an toàn tài chính

Nhằm đánh giá sức chịu đựng của các công ty quản lý quỹ trước các thiệt hại trong hoạt động kinh doanh, Bộ Tài chính ban hành quy định về tỷ lệ vốn khả dụng đối với công ty quản lý quỹ.

Tỷ lệ vốn khả dụng =

Trong đó:

– Vốn khả dụng là vốn chủ sở hữu có thể chuyển đổi thành tiền trong vòng 90 ngày.

– Tổng giá trị rủi ro bao gồm giá trị rủi ro thị trường, giá trị rủi ro thanh toán và giá trị rủi ro hoạt động, cụ thể:

+ Giá trị rủi ro thị trường là giá trị tương ứng với mức độ tổn thất có thể xảy ra khi giá thị trường của tài sản đang sở hữu biến động theo chiều hướng bất lợi.

+ Giá trị rủi ro thanh toán là giá trị tương ứng với mức độ tổn thất có thể xảy ra khi đối tác không thể thanh toán đúng hạn hoặc chuyển giao tài sản đúng hạn theo cam kết.

+ Giá trị rủi ro hoạt động là giá trị tương ứng với mức độ tổn thất có thể xảy ra do lỗi kỹ thuật, lỗi hệ thống và quy trình nghiệp vụ, lỗi con người trong quá trình tác nghiệp, hoặc do thiếu vốn kinh doanh phát sinh từ các khoản chi phí, lỗ từ hoạt động đầu tư, hoặc do các nguyên nhân khách quan khác.

Tỷ lệ vốn khả dụng là thước đo mức độ an toàn tài chính, giúp khuyến khích các công ty quản lý quỹ tự bảo vệ mình bằng việc kiểm soát chi phí, hạn chế hoạt động đầu tư tài chính phiêu lưu. Trường hợp công ty quản lý quỹ không đáp ứng điều kiện về tỷ lệ này, tùy theo mức độ, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước xem xét đặt công ty quản lý quỹ vào các trường hợp kiểm soát, kiểm soát đặc biệt, tạm ngừng hoạt động, đình chỉ hoạt động và có thể thu hồi giấy phép. Để khôi phục hoạt động, công ty quản lý quỹ phải thực hiện các biện pháp khắc phục giảm rủi ro, giảm chi phí để nâng tỷ lệ vốn khả dụng, đảm bảo an toàn tài chính trong hoạt động của công ty.

Hình 26.2. Giám sát chỉ tiêu vốn khả dụng của công ty quản lý quỹ

– Kiểm soát: Ủy ban Chứng khoán Nhà nước ra quyết định đặt công ty quản lý quỹ vào tình trạng kiểm soát trong các trường hợp sau:

 + Tỷ lệ vốn khả dụng từ 120% tới 150% trong tất cả các kỳ báo cáo trong 03 tháng liên tục; hoặc

+ Tỷ lệ vốn khả dụng đã được soát xét hoặc được kiểm toán bởi tổ chức kiểm toán được chấp thuận từ 120% tới 150%; hoặc

+ Báo cáo tỷ lệ an toàn tài chính mà tổ chức kiểm toán được chấp thuận đưa ra ý kiến không chấp nhận (hoặc ý kiến trái ngược), từ chối đưa ra ý kiến (hoặc không thể đưa ra ý kiến), ý kiến ngoại trừ một số các chỉ tiêu của báo cáo này mà nếu trừ các ảnh hưởng ngoại trừ ra khỏi vốn khả dụng sẽ dẫn tới tỷ lệ vốn khả dụng từ 120% tới 150%.

Thời hạn kiểm soát không quá 12 tháng, kể từ ngày công ty quản lý quỹ bị đặt vào tình trạng kiểm soát. Công ty quản lý quỹ được đưa ra khỏi tình trạng kiểm soát khi tỷ lệ vốn khả dụng đạt từ 180% trở lên trong 03 tháng liên tục, trong đó tỷ lệ vốn khả dụng tại kỳ báo cáo cuối cùng phải được kiểm toán bởi tổ chức kiểm toán được chấp thuận.

– Kiểm soát đặc biệt: Ủy ban Chứng khoán Nhà nước ra quyết định đặt công ty quản lý quỹ vào tình trạng kiểm soát đặc biệt trong các trường hợp sau:

+ Tỷ lệ vốn khả dụng dưới 120%, bao gồm cả trường hợp tỷ lệ vốn khả dụng do công ty tự tính và tỷ lệ vốn khả dụng sau khi đã được soát xét, kiểm toán bởi tổ chức kiểm toán được chấp thuận; hoặc

+ Không khắc phục được tình trạng kiểm soát trong thời hạn 12 tháng; hoặc

+ Không thực hiện báo cáo tỷ lệ an toàn tài chính trong 02 kỳ báo cáo liên tiếp, hoặc không công bố thông tin về báo cáo tỷ lệ an toàn tài chính đã được soát xét, kiểm toán bởi tổ chức kiểm toán được chấp thuận theo quy định; hoặc

+ Báo cáo tỷ lệ an toàn tài chính mà tổ chức kiểm toán được chấp thuận đưa ra ý kiến không chấp nhận (hoặc ý kiến trái ngược), từ chối đưa ra ý kiến (hoặc không thể đưa ra ý kiến), ý kiến ngoại trừ một số các chỉ tiêu của báo cáo này mà nếu trừ các ảnh hưởng ngoại trừ ra khỏi vốn khả dụng sẽ dẫn tới tỷ lệ vốn khả dụng dưới 120%.

 Thời hạn kiểm soát đặc biệt không quá 04 tháng, kể từ ngày công ty quản lý quỹ bị đặt vào tình trạng kiểm soát đặc biệt. Công ty quản lý quỹ được đưa ra khỏi tình trạng kiểm soát đặc biệt khi tỷ lệ vốn khả dụng đạt từ 180% trở lên trong 03 tháng liên tục, trong đó tỷ lệ vốn khả dụng tại kỳ báo cáo cuối cùng phải được kiểm toán bởi tổ chức kiểm toán được chấp thuận.

– Tạm ngừng hoạt động: Ủy ban Chứng khoán Nhà nước yêu cầu công ty quản lý quỹ tạm ngừng hoạt động trong trường hợp công ty quản lý quỹ không khắc phục được tình trạng kiểm soát đặc biệt sau khi hết thời hạn kiểm soát đặc biệt và có lỗ gộp (chỉ tiêu lợi nhuận chưa phân phối trên bảng cân đối kế toán) dưới 50% vốn điều lệ hoặc không bảo đảm thanh toán hết các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp, pháp luật về phá sản doanh nghiệp.

Thời hạn tạm ngừng hoạt động tối đa là 2 năm. Việc tạm ngừng hoạt động công ty quản lý quỹ kéo dài cho tới khi: tỷ lệ vốn khả dụng đạt từ 180% trở lên trong 03 tháng liên tục, trong đó tỷ lệ vốn khả dụng tại kỳ báo cáo cuối cùng phải được kiểm toán bởi tổ chức kiểm toán được chấp thuận; hoặc công ty quản lý quỹ hợp nhất, sáp nhập với công ty quản lý quỹ khác, hoặc giải thể, phá sản theo quy định của pháp luật.

– Đình chỉ hoạt động: Ủy ban Chứng khoán Nhà nước ra quyết định đặt công ty quản lý quỹ vào tình trạng đình chỉ hoạt động trong các trường hợp sau:

+ Công ty quản lý quỹ không khắc phục được tình trạng kiểm soát đặc biệt sau khi hết thời hạn kiểm soát đặc biệt sau thời hạn theo quy định của pháp luật và có lỗ gộp (chỉ tiêu lợi nhuận chưa phân phối trên bảng cân đối kế toán) đạt mức 50% vốn điều lệ trở lên; hoặc

+ Hồ sơ đề nghị cấp, điều chỉnh giấy phép thành lập và hoạt động có thông tin sai sự thật; hoặc

+ Hoạt động sai mục đích, không đúng với nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán được cấp phép; hoặc

+ Không duy trì các điều kiện cấp giấy phép thành lập và hoạt động theo quy định; hoặc

+ Tùy theo tính chất, mức độ vi phạm theo quy định; hoặc vi phạm các quy định của pháp luật khác dẫn tới thất thoát tài sản của khách hàng ủy thác mà không khắc phục hậu quả, bồi thường cho khách hàng ủy thác theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền; hoặc vi phạm các quy định của pháp luật đồng thời không thực hiện các yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền và cố tình trốn tránh, cản trở việc xử phạt, không khắc phục các hành vi vi phạm theo quy định của pháp luật.

– Thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động: Công ty quản lý quỹ bị thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động trong các trường hợp sau:

+ Không tiến hành các nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán được cấp phép trong thời hạn 12 tháng, kể từ ngày được cấp giấy phép thành lập và hoạt động;

+ Không khắc phục được các vi phạm dẫn tới buộc phải tạm ngừng hoạt động, đình chỉ hoạt động trong thời gian tạm ngừng, đình chỉ hoạt động quy định;

+ Công ty giải thể, phá sản, hoặc bị hợp nhất, bị sáp nhập.

c) Giám sát thông qua hệ thống đánh giá, xếp loại các công ty quản lý quỹ (CAMEL)

Ủy ban Chứng khoán Nhà nước xây dựng hệ thống đánh giá, xếp loại các công ty quản lý quỹ, hỗ trợ cho Ủy ban Chứng khoán Nhà nước theo dõi, đánh giá tình hình hoạt động kinh doanh, khả năng đáp ứng chỉ tiêu an toàn tài chính của các công ty quản lý quỹ để thực hiện các mục đích sau:

– Theo dõi, giám sát, đánh giá hiệu quả hoạt động của các công ty quản lý quỹ; phân loại nhằm cảnh báo sớm và có biện pháp xử lý kịp thời đối với công ty hoạt động yếu kém, gặp nhiều rủi ro;

Hỗ trợ công tác quản lý, hoạch định chính sách, công tác thanh tra, kiểm tra các công ty quản lý quỹ; bảo vệ tính toàn vẹn của thị trường chứng khoán.

Việc đánh giá các công ty quản lý quỹ được thực hiện định kỳ 02 lần/năm (bán niên và năm). Ủy ban Chứng khoán Nhà nước sử dụng 05 chỉ tiêu để đánh giá, xếp loại công ty quản lý quỹ, bao gồm: (1) Vốn; (2) Chất lượng tài sản; (3) Năng lực quản trị; (4) Kết quả kinh doanh (lợi nhuận); (5) Khả năng thanh khoản. Mỗi chỉ tiêu bao gồm một hoặc một số nhân tố để thực hiện đánh giá và chấm điểm. Tùy thuộc vào điều kiện thị trường, khi xét thấy là cần thiết, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước có thể điều chỉnh, bổ sung các nhân tố, chỉ tiêu đánh giá, xếp loại các công ty quản lý quỹ.

Dữ liệu được xem xét để chấm điểm các chỉ tiêu bao gồm:

– Số liệu từ báo cáo tài chính bán niên, báo cáo tài chính năm đã được kiểm toán chấp thuận soát xét hoặc kiểm toán, báo cáo chỉ tiêu an toàn tài chính;

– Số liệu qua công tác giám sát, kiểm tra, thanh tra của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước;

– Các tài liệu khác như thư quản lý của tổ chức kiểm toán chấp thuận, báo cáo kiểm toán nội bộ, báo cáo kiểm soát nội bộ của công ty;

– Báo cáo công tác quản trị rủi ro của công ty theo hướng dẫn về quản trị rủi ro của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước và kết quả điều tra, khảo sát, nghiên cứu về Năng lực quản trị công ty thực hiện theo yêu cầu của Ủy ban chứng khoán Nhà nước;

– Các dữ liệu, số liệu khác đã qua thẩm tra, kiểm định, đáng tin cậy, được tổng hợp phù hợp với quy định của pháp luật liên quan.

Căn cứ vào kết quả đánh giá, xếp loại các công ty quản lý quỹ, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước có thể thành lập các đoàn kiểm tra, thanh tra đột xuất, chuyên đề hoặc toàn diện và thực hiện các biện pháp xử lý phù hợp với quy định của pháp luật.

26.2.3. Thanh tra, kiểm tra

Ủy ban Chứng khoán Nhà nước do Thanh tra Ủy ban chứng khoán Nhà nước, Vụ Quản lý các Công ty quản lý quỹ và quỹ đầu tư chứng khoán thực hiện thanh tra, kiểm tra định kỳ/đột xuất đối với các công ty quản lý quỹ.

a) Các loại hình thanh tra, kiểm tra

– Thanh tra, kiểm tra định kỳ:

Hoạt động thanh tra, kiểm tra định kỳ các công ty quản lý quỹ được thực hiện theo kế hoạch hàng năm đã được Lãnh đạo Ủy ban Chứng khoán Nhà nước và Bộ Tài chính phê duyệt. Thanh tra, kiểm tra định kỳ phải đảm bảo nguyên tắc không trùng lặp về phạm vi, đối tượng, nội dung, thời gian kiểm tra giữa các đơn vị thực hiện chức năng thanh tra, kiểm tra; không làm cản trở hoạt động bình thường của đối tượng thanh/kiểm tra. Đối tượng thanh/kiểm tra định kỳ bao gồm tất cả các công ty quản lý quỹ, không kể quy mô, thời gian hoạt động, chất lượng hoạt động. Công tác thanh/kiểm tra bao gồm kiểm tra toàn diện về hiệu quả hoạt động của hệ thống quản lý điều hành công ty, hệ thống kiểm soát, kiểm toán nội bộ, cơ cấu tổ chức, nhân sự, cơ sở vật chất; kiểm tra việc tuân thủ các quy định pháp luật có liên quan trong hoạt động nghiệp vụ của công ty.

Đối với các công ty mới được cấp phép (dưới 12 tháng), hoạt động thanh tra, kiểm tra định kỳ (nếu có) chỉ tập trung vào việc tuân thủ các quy định của pháp luật về an toàn tài chính, quản lý vốn chủ sở hữu và cơ cấu tổ chức, nhân sự hành nghề, các quy trình nghiệp vụ, quy chế, chính sách, quy định nội bộ mới ban hành.

Đối với các công ty có mức độ rủi ro cao, hoạt động thanh tra, kiểm tra định kỳ phải toàn diện và được thực hiện tối thiểu một lần/năm. Công tác thanh/kiểm tra định kỳ đối với các tổ chức này được thực hiện thường xuyên cho tới khi kết quả kiểm tra cho thấy, hoạt động của công ty là phù hợp với quy định của pháp luật, hoạt động kiểm soát nội bộ, kiểm toán nội bộ là hiệu quả, đáp ứng các tiêu chí quản trị và điều hành công ty.

– Thanh tra, kiểm tra theo chuyên đề, đột xuất:

Hoạt động thanh tra, kiểm tra theo chuyên đề được thực hiện dựa trên các lý do về mức độ rủi ro tiềm ẩn, cụ thể: (1) thực trạng tài chính của công ty có diễn biến xấu đi giữa các kỳ báo cáo (vốn chủ sở hữu, tỷ lệ vốn khả dụng, tình trạng thua lỗ, trách nhiệm bồi thường tài chính…); (2) hoạt động kinh doanh, giao dịch, sản phẩm mới; (3) số lượng đơn thư khiếu nại tăng đột biến; (4) có nhiều thay đổi phải chấp thuận… Thanh tra, kiểm tra theo chuyên đề nhằm đánh giá phạm vi và bản chất của một loại rủi ro trong một lĩnh vực thị trường cụ thể và hướng xử lý rủi ro này. Công tác này được thực hiện khi Ủy ban Chứng khoán Nhà nước nhận thấy các rủi ro mới tiềm ẩn tại một xu hướng phát triển hoặc một lĩnh vực, nghiệp vụ, sản phẩm mới phát sinh trong bối cảnh hệ thống quy định pháp lý, quản lý và ý thức tuân thủ của công ty còn chưa hoàn thiện kịp thời. Hoạt động thanh kiểm tra theo chuyên đề được thực hiện đối với một nhóm Công ty. Nội dung thực hiện thanh tra, kiểm tra theo chuyên đề được xây dựng phù hợp với yêu cầu phân tích liên quan tới một lĩnh vực, nghiệp vụ, sản phẩm cụ thể. Phạm vi thanh kiểm tra theo chuyên đề có thể chỉ hạn chế trong phạm vi hẹp căn cứ vào lý do thực hiện; hoặc có thể là toàn bộ các hoạt động của công ty như đối với thanh tra, kiểm tra định kỳ. Thanh tra, kiểm tra theo chuyên đề có thể được tổ chức thực hiện trong các chuyên đề lớn nhằm cung cấp, bổ sung thông tin đối với quan ngại của các cơ quan quản lý nhà nước khác. Việc thanh kiểm tra theo chuyên đề thông thường được thực hiện có trọng tâm, trọng điểm và khu trú trong một vài hoạt động nhất định của công ty hoặc nhóm công ty.

Thanh tra, kiểm tra đột xuất được tổ chức thực hiện đối với các công ty quản lý quỹ có dấu hiệu tiềm ẩn rủi ro đến thị trường hoặc các khách hàng của công ty, ví dụ, công ty có dấu hiệu lạm dụng, sử dụng sai mục đích tài sản của khách hàng… Kết quả một cuộc thanh tra, kiểm tra là phải đánh giá được mức độ rủi ro tiềm ẩn đối với khách hàng và thị trường. Thanh tra, kiểm tra đột xuất cũng được thực hiện đối với các công ty không bảo đảm an toàn tài chính, nằm trong các diện kiểm soát hoạt động, kiểm soát đặc biệt… Trong trường hợp này, nội dung thanh tra, kiểm tra bao gồm cả việc đánh giá lại thực trạng tài chính, vốn chủ sở hữu và khả năng đáp ứng các nghĩa vụ tài chính, mức độ thanh khoản của công ty; đồng thời cũng phải đánh giá được khả năng duy trì hoạt động, mức độ rủi ro đối với lợi ích của khách hàng.

b) Quy trình thanh tra, kiểm tra

– Công tác chuẩn bị:

+ Lập kế hoạch thanh/kiểm tra: định kỳ hàng năm, Vụ Quản lý quỹ/Thanh tra lập kế hoạch trình Lãnh đạo Ủy ban Chứng khoán Nhà nước danh sách các công ty quản lý quỹ dự kiến thực hiện thanh/kiểm tra tại chỗ trong năm kế tiếp. Kế hoạch thanh/kiểm tra bao gồm các nội dung liên quan đến xác định đối tượng, phạm vi, đề cương, cơ cấu đoàn thanh/kiểm tra, thời gian thanh/kiểm tra dự kiến…

+ Chuẩn bị thanh/kiểm tra: sau khi kế hoạch thanh/kiểm tra được Lãnh đạo Ủy ban Chứng khoán Nhà nước chấp thuận, đoàn thanh/kiểm tra có trách nhiệm thu thập, tổng hợp, nghiên cứu hồ sơ, tài liệu về công ty, cơ sở dữ liệu điện tử và các dữ liệu tài chính về công ty, xem xét các đơn thư khiếu nại, tố cáo liên quan tới công ty mà Ủy ban Chứng khoán Nhà nước nhận được, xem xét báo cáo kết luận thanh/kiểm tra, biên bản thanh/kiểm tra trước đây và báo cáo khắc phục sau khi thanh/kiểm tra của Công ty.

Đoàn thanh/kiểm tra yêu cầu các công ty cung cấp đầy đủ các thông tin, tài liệu cần thiết để phục vụ công tác thanh/kiểm tra và thông báo về việc thanh/kiểm tra công ty, kèm theo đề cương thanh/kiểm tra tối thiểu trước 10 ngày làm việc trước khi thực hiện (trừ trường hợp thanh/kiểm tra đột xuất).

– Thực hiện thanh/kiểm tra:

Buổi làm việc đầu tiên được tổ chức với sự tham gia của toàn bộ đoàn thanh/kiểm tra với đại diện theo pháp luật của công ty, đại diện Hội đồng quản trị/Hội đồng thành viên/Chủ sở hữu của công ty, đại diện ban điều hành, trưởng bộ phận kiểm soát nội bộ và các chuyên viên quản lý khác của công ty. Trưởng đoàn thanh/kiểm tra trao quyết định thanh/kiểm tra, thông báo về mục tiêu, phạm vi, thời gian, kế hoạch thực hiện, đề cương thanh/kiểm tra và các yêu cầu hỗ trợ về trang thiết bị, phòng làm việc cho đoàn thanh/kiểm tra. Trường hợp là thanh/kiểm tra đột xuất hoặc thanh/kiểm tra theo chuyên đề, trong buổi làm việc đầu, cần có sự tham gia của các chuyên viên quản lý của công ty có liên quan tới mục đích và chuyên đề thanh/kiểm tra. Nội dung của buổi thanh/kiểm tra đầu tiên không quá chi tiết, bảo đảm công ty nắm được tinh thần của đợt thanh/kiểm tra để chủ động hợp tác, phối hợp, bố trí nguồn lực hỗ trợ cho công tác thanh/kiểm tra.

Trong các ngày làm việc tiếp theo, đoàn thanh/kiểm tra tiếp tục thu thập tổng hợp thông tin của công ty trên cơ sở tài liệu công ty cung cấp các nội dung: duy trì điều kiện cấp phép; tình hình tài chính của công ty quản lý quỹ, quỹ đầu tư chứng khoán; việc thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh; hoạt động kiểm soát nội bộ, kiểm toán nội bộ; thực hiện nghĩa vụ công bố thông tin, báo cáo của công ty quản lý quỹ, quỹ đầu tư chứng khoán; việc chấp hành các quy định niêm yết và giao dịch của quỹ đầu tư chứng khoán đại chúng; các giao dịch giữa công ty quản lý quỹ, quỹ đầu tư chứng khoán và các bên có liên quan; các tài liệu khác liên quan đến hoạt động của công ty quản lý quỹ, quỹ đầu tư chứng khoán.

Đoàn thanh/kiểm tra lập báo cáo khảo sát, tổng hợp thông tin về đối tượng thanh/kiểm tra, bao gồm thông tin chung về công ty, từ khi thành lập cho tới thời điểm hiện tại, các thông tin về nghiệp vụ hoạt động, số lượng khách hàng, quỹ, tổng giá trị tài sản đang quản lý, tình hình tài chính… các thông tin về cơ cấu cổ đông, thành viên góp vốn, hội đồng quản trị/hội đồng thành viên, ban điều hành, các công ty con, liên kết; cơ cấu, tổ chức của công ty quản lý quỹ, người điều hành các quỹ; kết quả kinh doanh; ngân hàng lưu ký, ngân hàng giám sát; thông tin về tình hình chấp hành các quy định pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán; đánh giá về việc duy trì điều kiện cấp phép; đánh giá về tình hình tài chính, kết quả kinh doanh; đánh giá về việc chấp hành các quy định về nghiệp vụ kinh doanh, việc tuân thủ các hạn chế trong hoạt động của công ty quản lý quỹ, quỹ đầu tư chứng khoán; đánh giá tình hình thực hiện các nghĩa vụ báo cáo, công bố thông tin của công ty quản lý quỹ, quỹ đầu tư chứng khoán.

Trong quá trình thanh/kiểm tra, đoàn thanh/kiểm tra thực hiện thảo luận, đối thoại với công ty: đối thoại chất vấn, thẩm tra, xác minh, làm việc với bộ phận kiểm soát nội bộ, kiểm toán nội bộ, kiểm tra đánh giá mức độ đầy đủ, hiệu quả và hiệu lực hệ thống kiểm soát nội bộ, kiểm toán nội bộ; các bộ phận phân tích, đầu tư, quản lý tài sản; bộ phận kế toán; bộ phận thực hiện giao dịch và các tổ chức, cá nhân có liên quan.

Cuối cùng, đoàn thanh/kiểm tra hoàn thiện số liệu, chứng cứ; lập biên bản làm việc; dự thảo biên bản thanh/kiểm tra; lập biên bản vi phạm hành chính (nếu có đủ cơ sở xác minh vi phạm quy định pháp luật).

Trong ngày làm việc cuối cùng, toàn bộ đoàn thanh/kiểm tra tham gia cuộc họp tổng kết hoạt động thanh/kiểm tra với đại diện theo pháp luật, đại diện Hội đồng quản trị/Hội đồng thành viên/Chủ sở hữu, Tổng Giám đốc và các thành viên ban điều hành (nếu có), trưởng bộ phận kiểm soát nội bộ và các cán bộ lãnh đạo khác của công ty. Mục đích của buổi họp nhằm thống nhất lại nội dung và các phát hiện của đoàn thanh/kiểm tra, đồng thời tạo điều kiện cho ban lãnh đạo của công ty giải trình, cung cấp bổ sung thông tin về các phát hiện và làm rõ bối cảnh thực tế, những yếu tố có thể tác động đến việc phân tích và nhận định của đoàn thanh/kiểm tra.

Toàn bộ đoàn thanh/kiểm tra, người đại diện theo pháp luật hoặc Tổng Giám đốc, trưởng bộ phận kiểm soát nội bộ của công ty có trách nhiệm ký vào biên bản thanh/kiểm tra, biên bản làm việc. Việc ký các biên bản này nhằm xác thực nội dung thanh/kiểm tra đã thực hiện, các phát hiện của đoàn thanh/kiểm tra và ý kiến giải trình của Công ty. Trường hợp Công ty không đồng ý với tất cả hoặc một phần nội dung nhận định của đoàn thanh/kiểm tra, Công ty phải ghi rõ ý kiến này và cung cấp thông tin giải trình cũng như các luận cứ biện minh của Công ty, tuy nhiên, biên bản làm việc, biên bản thanh/kiểm tra vẫn phải được ký bởi đầy đủ các bên có liên quan nêu trên.

c) Giám sát sau đợt thanh tra, kiểm tra

Sau khi kết thúc đợt thanh/kiểm tra, đoàn thanh/kiểm tra tổng hợp báo cáo Lãnh đạo Ủy ban Chứng khoán Nhà nước kết quả thanh/kiểm tra trên cơ sở các thông tin, tài liệu, hồ sơ, chứng từ thu thập được trong đợt thanh/kiểm tra, kể cả các báo cáo giải trình của công ty, đồng thời đưa ra phương án xử lý cụ thể đối với từng trường hợp. Đoàn thanh/kiểm tra tiếp tục thực hiện giám sát sau thanh/kiểm tra, đề nghị Công ty khắc phục các vấn đề còn tồn tại, đồng thời bàn giao hồ sơ cho Thanh tra Ủy ban Chứng khoán Nhà nước trong trường hợp công ty có hành vi vi phạm quy định của pháp luật để xử lý theo quy định.

Công ty quản lý quỹ thực hiện khắc phục các vấn đề còn tồn tại sau quá trình thanh/kiểm tra, báo cáo Ủy ban Chứng khoán Nhà nước. Đoàn thanh/kiểm tra tiếp tục giám sát việc khắc phục của công ty, đảm bảo công ty thực hiện khắc phục đầy đủ, đúng tiến độ, làm cơ sở thực hiện tổng hợp báo cáo Lãnh đạo Ủy ban Chứng khoán Nhà nước.

26.3. Cơ chế quản lý, giám sát đối với quỹ đầu tư chứng khoán

26.3.1. Quản lý cấp phép và các thay đổi cần chấp thuận

a) Mô hình quản lý chung

Hình 26.3. Mô hình quản lý và giám sát hoạt động quỹ đầu tư chứng khoán

 – Cơ quan quản lý nhà nước: Bộ Tài chính, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, giám sát toàn bộ các hoạt động của công ty quản lý quỹ, quỹ đầu tư chứng khoán và ngân hàng lưu ký, ngân hàng giám sát.

– Ngân hàng lưu ký (đối với quỹ thành viên): thực hiện bảo quản lưu ký các chứng khoán, tài liệu xác nhận quyền sở hữu tài sản hợp pháp của quỹ, các hợp đồng kinh tế, các chứng từ có liên quan đến tài sản của quỹ, thực hiện giao dịch theo yêu cầu của quỹ nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư

– Ngân hàng giám sát (đối với quỹ đại chúng): thực hiện bảo quản lưu ký các chứng khoán, tài liệu xác nhận quyền sở hữu tài sản hợp pháp của quỹ, các hợp đồng kinh tế, các chứng từ có liên quan đến tài sản của quỹ, đồng thời giám sát hoạt động của quỹ; thực hiện chức năng giám sát toàn bộ hoạt động quản lý tài sản của quỹ do công ty quản lý quỹ thực hiện.

– Tổ chức kiểm toán được chấp thuận: là công ty kiểm toán độc lập thuộc danh mục các công ty kiểm toán được Ủy ban Chứng khoán Nhà nước chấp thuận kiểm toán theo điều kiện do Bộ Tài chính quy định; được chỉ định bởi ban đại diện quỹ, thực hiện kiểm toán hằng năm tài sản của quỹ, đưa ra các đánh giá khách quan và chính xác về tình hình hoạt động nhằm đảm bảo tính minh bạch.

– Công ty quản lý quỹ: trực tiếp thực hiện việc quản lý quỹ, đưa ra các mục tiêu, chính sách đầu tư và thực hiện phân bổ tài sản đầu tư theo mục tiêu đã được Đại hội nhà đầu tư thông qua.

– Ban đại diện quỹ: do Đại hội nhà đầu tư bầu ra, đại diện cho quyền lợi các nhà đầu tư, thực hiện giám sát các hoạt động của quỹ, công ty quản lý quỹ và ngân hàng giám sát.

Đối với mỗi loại hình quỹ đầu tư chứng khoán, Bộ Tài chính ban hành từng Thông tư cụ thể, quy định hướng dẫn chi tiết về cấp phép, thay đổi cần chấp thuận, quy định về hoạt động đầu tư kinh doanh, chế độ báo cáo, công bố thông tin… để quản lý hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán.

b) Quản lý cấp phép

Bộ Tài chính ban hành các quy định về điều kiện chào bán chứng chỉ quỹ đầu tư chứng khoán ra công chúng, điều kiện thành lập quỹ đầu tư chứng khoán cũng như các quy định chi tiết về cách thức chào bán, phân phối chứng chỉ quỹ, thủ tục hồ sơ đăng ký chào bán, hồ sơ cấp phép thành lập quỹ đầu tư chứng khoán. Trên cơ sở các quy định đã ban hành, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước quản lý việc cấp phép thành lập và hoạt động quỹ đầu tư chứng khoán. Các điều kiện về cấp phép thành lập và hoạt động quỹ đầu tư chứng khoán cụ thể như sau:

– Điều kiện thành lập quỹ thành viên:

+ Vốn thực góp tối thiểu là 50 tỷ đồng Việt Nam;

+ Có tối đa 30 thành viên góp vốn và chỉ bao gồm thành viên là pháp nhân trong nước, tổ chức nước ngoài;

+ Do một công ty quản lý quỹ quản lý. Công ty quản lý quỹ phải đáp ứng các điều kiện sau: có đầy đủ vốn theo quy định của pháp luật; không bị đặt trong tình trạng kiểm soát hoạt động, kiểm soát đặc biệt, tạm ngừng hoạt động, đình chỉ hoạt động hoặc đang trong quá trình hợp nhất, sáp nhập, giải thể, phá sản; không đang trong tình trạng bị xử phạt các hành vi vi phạm quy định trong lĩnh vực chứng khoán mà chưa thực hiện đầy đủ các chế tài và khắc phục hậu quả theo quyết định xử phạt của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;

+ Tài sản của quỹ thành viên được lưu ký tại một ngân hàng lưu ký độc lập với công ty quản lý quỹ.

– Điều kiện thành lập quỹ đại chúng:

Việc lập quỹ đại chúng tại Việt Nam được chia làm 02 giai đoạn: đăng ký chào bán chứng chỉ quỹ ra công chúng và đăng ký lập quỹ đại chúng.

Việc chào bán chứng chỉ quỹ ra công chúng phải đáp ứng các điều kiện sau:

+ Tổng giá trị chứng chỉ quỹ đăng ký chào bán tối thiểu 50 tỷ đồng Việt Nam;

+ Có phương án phát hành và phương án đầu tư số vốn thu được từ đợt chào bán chứng chỉ quỹ;

+ Công ty quản lý quỹ có đầy đủ vốn theo quy định của pháp luật về thành lập, tổ chức và hoạt động công ty quản lý quỹ; không bị đặt trong tình trạng kiểm soát hoạt động, kiểm soát đặc biệt, tạm ngừng hoạt động, đình chỉ hoạt động hoặc đang trong quá trình hợp nhất, sáp nhập, giải thể, phá sản; không đang trong tình trạng bị xử phạt các hành vi vi phạm quy định trong lĩnh vực chứng khoán mà chưa thực hiện đầy đủ các chế tài và khắc phục hậu quả theo quyết định xử phạt của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Đối với chào bán chứng chỉ quỹ ETF, pháp luật Việt Nam quy định thêm một số điều kiện như sau:

– Có tối thiểu 02 thành viên lập quỹ (công ty chứng khoán có nghiệp vụ môi giới và tự doanh, ngân hàng lưu ký đã ký hợp đồng lập quỹ ETF với công ty quản lý quỹ);

– Trong đợt chào bán lần đầu, mỗi nhà đầu tư, thành viên lập quỹ đăng ký mua tối thiểu 01 lô chứng chỉ quỹ (đơn vị giao dịch trong giao dịch hoán đổi danh mục của quỹ ETF, gồm tối thiểu 100.000 chứng chỉ quỹ ETF). Tổng số lô chứng chỉ quỹ chào bán thành công bảo đảm vốn điều lệ của quỹ đạt không thấp hơn 50 tỷ đồng.

Sau khi thực hiện chào bán thành công chứng chỉ quỹ ra công chúng, quỹ đại chúng được thành lập nếu có ít nhất 100 nhà đầu tư, không kể nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp mua chứng chỉ quỹ và tổng giá trị chứng chỉ quỹ đã bán đạt ít nhất là 50 tỷ đồng Việt Nam. Đối với quỹ ETF, quỹ ETF được đăng ký thành lập nếu vốn điều lệ của quỹ đạt không thấp hơn 50 tỷ đồng.

Ngoài ra, Bộ Tài chính còn đưa ra các quy định về quyền hạn, nghĩa vụ của nhà đầu tư, đại hội nhà đầu tư; điều kiện, quyền hạn, trách nhiệm, nghĩa vụ của ban đại diện quỹ để đảm bảo quyền, lợi ích của các nhà đầu tư tham gia góp vốn vào quỹ đầu tư chứng khoán.

c) Quản lý các thay đổi cần chấp thuận

Ủy ban Chứng khoán Nhà nước quản lý một số nội dung thay đổi quan trọng của quỹ đầu tư chứng khoán, cụ thể như sau:

– Thay đổi ngân hàng lưu ký, ngân hàng giám sát;

– Hợp nhất, sáp nhập quỹ đầu tư chứng khoán;

– Giải thể quỹ đầu tư chứng khoán;

– Chuyển đổi quỹ đóng thành quỹ mở;

– Gia hạn thời gian hoạt động quỹ đóng, quỹ thành viên;

– Tăng, giảm vốn điều lệ quỹ thành viên;

– Đăng ký phát hành thêm chứng chỉ quỹ đại chúng;

– Tách quỹ mở.

26.3.2. Giám sát từ xa

Ủy ban Chứng khoán Nhà nước thực hiện giám sát từ xa các quỹ đầu tư chứng khoán thông qua chế độ báo cáo, công bố thông tin và thông qua ngân hàng giám sát.

a) Giám sát thông qua chế độ báo cáo và công bố thông tin

Công ty quản lý quỹ phải thực hiện chế độ báo cáo, công bố thông tin cho quỹ đầu tư chứng khoán do công ty thực hiện quản lý theo quy định. Trên cơ sở chế độ báo cáo của công ty, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước thực hiện giám sát từ xa hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán, cập nhật, tổng hợp thông tin hoạt động của quỹ cũng như kịp thời phát hiện, xử lý các sai phạm (nếu có). Tùy thuộc vào đặc thù riêng, từng loại hình quỹ có chế độ báo cáo, công bố thông tin riêng. Quy định chung về chế độ báo cáo, công bố thông tin đối với quỹ đầu tư chứng khoán như sau:

– Chế độ báo cáo định kỳ:

+ Báo cáo về thay đổi giá trị tài sản ròng;

+ Báo cáo về hoạt động đầu tư (bao gồm cả thông tin tài sản) của quỹ;

+ Báo cáo tài chính.

– Chế độ báo cáo bất thường:

+ Thay đổi thành viên ban đại diện quỹ;

+ Tổ chức họp bất thường đại hội nhà đầu tư;

+ Điều chỉnh lại danh mục đầu tư do sai lệch theo quy định;

+ Định giá sai giá trị tài sản ròng.

– Chế độ báo cáo theo yêu cầu: trong trường hợp cần thiết, nhằm bảo vệ lợi ích chung và lợi ích nhà đầu tư, Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước có thể yêu cầu công ty quản lý quỹ báo cáo về hoạt động của quỹ.

Chế độ công bố thông tin định kỳ của quỹ đại chúng:

+ Công bố các báo cáo định kỳ của quỹ đại chúng;

+ Đại hội nhà đầu tư.

­– Chế độ công bố thông tin bất thường của quỹ đại chúng:

+ Được cấp Giấy chứng nhận chào bán chứng chỉ quỹ ra công chúng;

+ Được cấp Giấy chứng nhận đăng ký thành lập quỹ, Quyết định điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký thành lập quỹ;

+ Quyết định thay đổi vốn điều lệ của quỹ đóng;

+ Bị đình chỉ, hủy bỏ đợt chào bán chứng chỉ quỹ; quỹ đại chúng chào bán không thành công;

+ Sửa đổi, bổ sung Điều lệ quỹ, Bản cáo bạch;

+ Khi có quyết định khởi tố, tạm giam, truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người nội bộ của quỹ đại chúng;

+ Khi có thay đổi, bổ nhiệm mới, bổ nhiệm lại, bãi nhiệm người nội bộ của quỹ đại chúng;

+ Công bố về ngày đăng ký cuối cùng, ngày thực hiện quyền cho nhà đầu tư của quỹ;

+ Quyết định hợp nhất, sáp nhập, chia, tách, giải thể, gia hạn thời gian hoạt động, thanh lý tài sản của quỹ đại chúng;

+ Định giá sai giá trị tài sản ròng của quỹ đại chúng;

+ Thay đổi ngân hàng giám sát, công ty quản lý quỹ; thay đổi thành viên lập quỹ, tổ chức tạo lập thị trường (đối với quỹ ETF);

+ Điều chỉnh sai lệch của danh mục đầu tư của quỹ đại chúng;

+ Tạm ngừng giao dịch hoán đổi hoặc mức sai lệch so với chỉ số tham chiếu vượt quá mức cho phép (đối với quỹ ETF);

+ Đại hội nhà đầu tư bất thường hoặc việc lấy ý kiến Đại hội nhà đầu tư bằng văn bản.

­– Công bố thông tin theo yêu cầu: công bố khi có yêu cầu của của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, Sở giao dịch chứng khoán.

b) Giám sát thông qua ngân hàng giám sát

Hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán có những điểm khá đặc thù: nhà đầu tư góp vốn vào quỹ nhưng không có quyền kiểm soát hàng ngày đối với việc ra quyết định đầu tư của quỹ, đặc biệt đối với quỹ đầu tư chứng khoán đại chúng. Chính vì vậy, để đảm bảo an toàn nguồn vốn đầu tư và minh bạch quá trình đầu tư, trong cơ chế quản lý quỹ đầu tư chứng khoán, ngân hàng giám sát là đơn vị độc lập, thay mặt các nhà đầu tư giám sát hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán đại chúng. Bộ Tài chính ban hành các quy định về điều kiện, nghĩa vụ của ngân hàng giám sát, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ để ngân hàng giám sát thực hiện chức năng của mình.

– Điều kiện của ngân hàng giám sát:

+ Là ngân hàng thương mại có Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động lưu ký chứng khoán có chức năng thực hiện các dịch vụ lưu ký và giám sát việc quản lý quỹ đại chúng, công ty đầu tư chứng khoán.

+ Có tối thiểu 02 nhân viên có các chứng chỉ sau: (1) Chứng chỉ về pháp luật chứng khoán; (2) Chứng chỉ cơ bản về chứng khoán và thị trường chứng khoán; hoặc đã có chứng chỉ hành nghề kinh doanh chứng khoán hoặc đã thi đạt chứng chỉ quốc tế về phân tích đầu tư chứng khoán CFA từ bậc 1 trở lên (Chartered Financial Analyst level 1), CIIA (Certified International Investment Analyst) từ bậc 1 trở lên; hoặc chứng chỉ hành nghề kinh doanh chứng khoán cấp tại các quốc gia là thành viên của Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD); (3) Chứng chỉ kế toán, hoặc kiểm toán, hoặc đã có các chứng chỉ quốc tế trong lĩnh vực kế toán, kiểm toán ACCA (Association of Chartered Certified Accountants), CPA (Certified Public Accountants), CA (Chartered Accountants), ACA (Associate Chartered Accountants).

+ Ngân hàng giám sát, thành viên hội đồng quản trị, thành viên ban điều hành và nhân viên của ngân hàng giám sát trực tiếp làm nhiệm vụ bảo quản tài sản quỹ và giám sát hoạt động quản lý tài sản của công ty quản lý quỹ không được là người có liên quan hoặc tham gia điều hành, quản trị công ty quản lý quỹ hoặc có quan hệ sở hữu, tham gia góp vốn, nắm giữ cổ phần, vay hoặc cho vay với công ty quản lý quỹ mà ngân hàng giám sát cung cấp dịch vụ giám sát và ngược lại.

+ Ngân hàng giám sát, thành viên hội đồng quản trị, thành viên ban điều hành và nhân viên nghiệp vụ không được là các đối tác mua, bán trong giao dịch mua, bán tài sản của quỹ, trừ trường hợp các giao dịch ngoại hối phù hợp với quy định của pháp luật liên quan, hoặc các giao dịch chứng khoán thực hiện thông qua hệ thống giao dịch của Sở Giao dịch Chứng khoán.

– Nghĩa vụ của ngân hàng giám sát đối với quỹ đầu tư chứng khoán đại chúng:

+ Thực hiện lưu ký tài sản của quỹ đại chúng, quản lý tách biệt tài sản của quỹ đại chúng, và các tài sản khác của ngân hàng giám sát;

+ Giám sát để bảo đảm công ty quản lý quỹ quản lý quỹ đại chúng tuân thủ quy định pháp luật có liên quan và Điều lệ quỹ đầu tư chứng khoán;

+ Thực hiện hoạt động thu, chi, thanh toán và chuyển giao tiền, chứng khoán liên quan đến hoạt động của quỹ đại chúng;

+ Xác nhận báo cáo do công ty quản lý quỹ lập có liên quan đến quỹ đại chúng;

+ Giám sát việc tuân thủ chế độ báo cáo và công bố thông tin của công ty quản lý quỹ theo quy định của pháp luật;

+ Báo cáo Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước khi phát hiện công ty quản lý quỹ vi phạm pháp luật hoặc Điều lệ quỹ đầu tư chứng khoán;

+ Định kỳ cùng công ty quản lý quỹ đối chiếu sổ kế toán, báo cáo tài chính và hoạt động giao dịch của quỹ đại chúng;

– Nghĩa vụ báo cáo của ngân hàng giám sát:

+ Báo cáo giám sát định kỳ về hoạt động quản lý tài sản của quỹ do công ty quản lý quỹ thực hiện;

+ Báo cáo phát hiện công ty quản lý quỹ vi phạm các quy định pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán; hoặc thiệt hại từ hoạt động quản lý tài sản do công ty quản lý quỹ gây ra là quá lớn và chi phí giải quyết hậu quả là quá cao;

+ Báo cáo bất thường theo yêu cầu của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước về các hoạt động có liên quan khác trong phạm vi hoạt động của mình đối với quỹ đầu tư chứng khoán.

26.3.3. Thanh tra, kiểm tra

Ủy ban Chứng khoán Nhà nước thực hiện thanh tra, kiểm tra các quỹ đầu tư chứng khoán thông qua việc thanh/kiểm tra các công ty quản lý quỹ thực hiện quản lý các quỹ đầu tư.

—————–

TÀI LIỆU THAM KHẢO

——————————-

  1. Luật Chứng khoán ngày 29/06/2006.
  2. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán ngày 24/11/2010.
  3. Nghị định số 58/2012/NĐ-CP ngày 20/07/2012 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Chứng khoán và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán.
  4. Nghị định số 60/2015/NĐ-CP ngày 26/06/2015 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 58/2012/NĐ-CP ngày 20/07/2012 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Chứng khoán và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán.
  5. Nghị định số 86/2016/NĐ-CP ngày 01/07/2016 của Chính phủ quy định điều kiện đầu tư, kinh doanh chứng khoán.
  6. Thông tư số 212/2012/TT-BTC ngày 05/12/2012 của Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn thành lập, tổ chức và hoạt động công ty quản lý quỹ.
  7. Thông tư số 226/2010/TT-BTC ngày 31/12/2010 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định chỉ tiêu an toàn tài chính và biện pháp xử lý đối với các tổ chức kinh doanh chứng khoán không đáp ứng chỉ tiêu an toàn tài chính.
  8. Thông tư số 165/2012/TT-BTC ngày 09/10/2012 của Bộ trưởng Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 226/2010/TT-BTC ngày 31/12/2010 của Bộ Tài chính quy định chỉ tiêu an toàn tài chính và biện pháp xử lý đối với các tổ chức kinh doanh chứng khoán không đáp ứng chỉ tiêu an toàn tài chính.
  9. Quyết định số 427/QĐ-UBCK ngày 11/07/2013 của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước về việc ban hành Quy chế hướng dẫn đánh giá, xếp loại công ty quản lý quỹ.
  10. Quyết định số 428/QĐ-UBCK ngày 11/07/2013 của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước về việc ban hành Quy chế hướng dẫn thiết lập, vận hành hệ thống quản trị rủi ro cho công ty quản lý quỹ và công ty đầu tư chứng khoán riêng lẻ tự quản lý.
  11. Thông tư số 155/2015/TT-BTC ngày 06/10/2015 của Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn công bố thông tin trên thị trường chứng khoán.
  12. Thông tư số 224/2012/TT-BTC ngày 26/12/2012 của Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn thành lập và quản lý quỹ đóng, quỹ thành viên.
  13. Thông tư số 183/2011/TT-BTC ngày 16/12/2011 của Bộ Tài chính hướng dẫn về việc thành lập và quản lý quỹ mở.
  14. Thông tư số 15/2016/TT-BTC ngày 20/01/2016 của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 183/2011/TT-BTC ngày 16/12/2011 hướng dẫn về việc thành lập và quản lý quỹ mở.
  15. Thông tư số 228/2012/TT-BTC ngày 27/12/2012 của Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn thành lập và quản lý quỹ đầu tư bất động sản.
  16. Thông tư số 229/2012/TT-BTC ngày ngày 27/12/2012 của Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn thành lập và quản lý quỹ hoán đổi danh mục.
  17. Quyết định số 48/2015/QĐ-TTg ngày 08/10/2015 của Thủ tướng Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức Ủy ban Chứng khoán Nhà nước trực thuộc Bộ Tài chính.
  18. Quyết định số 538/QĐ-BTC ngày 22/03/2016 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của các Vụ và Văn phòng thuộc Ủy ban Chứng khoán Nhà nước.
  19. Ngành chứng khoán Việt Nam – 20 năm một chặng đường phát triển (2016), Lĩnh vực quản lý quỹ – Chung sức một chặng đường.

 

 

 

   

     

   

 

 

Bản in

 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *