Chuyên đề 24: THỊ TRƯỜNG MUA BÁN NỢ – THỰC TRẠNG VÀ TRIỂN VỌNG PHÁT TRIỂN Ở VIỆT NAM

MỤC LỤC

Chuyên đề 24: THỊ TRƯỜNG MUA BÁN NỢ – THỰC TRẠNG VÀ TRIỂN VỌNG PHÁT TRIỂN Ở VIỆT NAM

PGS,TS. Hoàng Trần Hậu,

Giám đốc Trường Bồi dưỡng cán bộ tài chính.

                                                                               PGS,TS. Vũ Sỹ Cường, Học viện Tài chính.

 24.1. Lý luận chung về thị trường mua bán nợ doanh nghiệp

24.1.1. Khái niệm về nợ và nợ xấu

24.1.1.1. Nợ là gì?

Khoản nợ là một cam kết chưa được trả, thường bằng tiền mặt. Khoản nợ của doanh nghiệp xuất hiện khi:

–          Doanh nghiệp không trả cho một dịch vụ, hàng hóa hay tài sản đã được thỏa thuận trước;

–          Doanh nghiệp không trả các khoản bắt buộc theo luật quy định đầy đủ và kịp thời (tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, thuế);

–          Doanh nghiệp đi vay tiền mặt của người cho vay hoặc phát hành trái phiếu doanh nghiệp

–          Doanh nghiệp cam kết với ngân hàng sự bảo lãnh về khoản vay của người khác; khi người đi vay kia không trả tiền, ngân hàng sẽ đòi tiền doanh nghiệp.

24.1.1.2. Nợ xấu là gì ?

Bản chất của nợ xấu là một khoản tiền cho vay mà chủ nợ xác định không thể thu hồi lại được và bị xóa sổ khỏi danh sách các khoản nợ phải thu của chủ nợ. Đối với các ngân hàng, nợ xấu tức là các khoản tiền cho khách hàng vay, thường là các doanh nghiệp, mà không thể thu hồi lại được do doanh nghiệp đó làm ăn thua lỗ hoặc phá sản,… Nhìn chung, một doanh nghiệp luôn phải ước tính trước những khoản nợ xấu trong chu kỳ kinh doanh hiện tại dựa vào những số liệu nợ xấu ở kì trước.

Định nghĩa nợ xấu của Việt Nam tại Quyết định 493/2005/QĐ-Ngân hàng Nhà nước ngày 22/4/2005 của Ngân hàng Nhà nước như sau: “Nợ xấu là những khoản nợ được phân loại vào nhóm 3 (dưới chuẩn), nhóm 4 (nghi ngờ) và nhóm 5 (có khả năng mất vốn).” Cụ thể nhóm 3 trở xuống gồm các khoản nợ quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên 90 ngày, đồng thời tại Điều 7 của Quyết định nói trên cũng quy định các ngân hàng thương mại căn cứ vào khả năng trả nợ của khách hàng để hạch toán các khoản vay vào các nhóm thích hợp. Theo khái niệm trên thì nợ xấu ở Việt nam được xác định theo 2 yếu tố: (i) đã quá hạn trên 90 ngày và (ii) khả năng trả nợ đáng lo ngại. Đây được coi là định nghĩa của VAS.

24.1.2. Lý luận chung về thị trường mua bán nợ.

24.1.2.1. Quan niệm về thị trường mua bán Nợ.

Thị trường mua bán nợ có thể coi là một bộ phận của thị trường tài chính. Do vậy trước khi tìm hiểu về thị trường mua bán nợ cần xem xét khái quát quan niệm về thị trường tài chính.

Thị trường tài chính là nơi diễn ra sự chuyển vốn từ người dư thừa vốn tới những người thiếu vốn.Thị trường tài chính cũng có thể được định nghĩa là nơi phát hành, mua bán, trao đổi và chuyển nhượng những công cụ tài chính theo các qui tắc và luật lệ nhất định. Căn cứ vào phương thức huy động vốn của tổ chức phát hành, thị trường tài chính được phân thành thị trường nợ và thị trường vốn cổ phần.

Thị trường mua bán nợ (TTN) là nơi các khoản nợ được phát hành và trao đổi. Thị trường mua bán nợ là một bộ phận của thị trường vốn do đặc tính của việc mua bán trao đổi vốn. Hàng hoá giao địch trên TTN là các khoản nợ có thể dưới dạng tài sản nợ hoặc chứng khoán nợ. Thị trường nợ có một số đặc tính chung của thị trường vốn nhưng cũng có những đặc điểm riêng.

Trong thị trường mua bán nợ có thể phân chia ra là thị trường mua bán nợ tùy thuộc theo tiêu chí. Nếu phân loại theo tính chất của khoản nợ thì có thể chia ra thị trường mua bán nợ tiêu chuẩn và thị trường mua bán nợ xấu. Nếu chia theo quá trình luân chuyển vốn thì có thể chia ra thị trường mua bán nợ sơ cấp (nơi các khoản nợ lần đầu tiên được giao dịch) và thị trường mua bán nợ thứ cấp (nơi mua bán lại các khoản nợ đã được trao đổi nhằm kiếm lợi nhuận hoặc luân chuyển vốn).

Mua bán nợ là hoạt động kinh tế để trao đổi và chuyển giao phần tài sản đặc biệt là các “khoản nợ phải thu” từ đối tượng này sang đối tượng khác. Thực chất, đó là việc chuyển nhượng lại “quyền thu hồi nợ” từ một “khoản nợ phải thu” của bên Bán nợ (chủ nợ) đối với Khách nợ sang cho bên Mua nợ để bên Mua nợ trở thành chủ nợ mới của bên Khách nợ. Như vậy, hoạt động mua bán nợ được thực hiện đối với các khoản nợ phải thu (của bên chủ nợ) mà không phải là nợ phải trả (của bên khách nợ).

Thị trường mua bán nợ được coi là chính thức và hoạt động tương đối công khai là thị trường trái phiếu doanh nghiệp, trái phiếu chính phủ. Ngoài ra, còn có một thị trường mua bán Nợ đặc thù là thị trường mua bán nợ xấu (Non Performing Loan – NPL) là nơi giao dịch các khoản nợ xấu giữa bên mua và bên bán.

24.1.2.2. Đặc trưng của hoạt động mua bán Nợ

Hoạt động mua bán nợ nói có những đặc trưng sau:

–          Mua bán nợ luôn gắn với những khả năng thu lợi.

–          Hoạt động mua bán nợ luôn gắn với rủi ro.

–          Nợ là hàng hóa có khả năng thanh khoản nhưng không cao.

–          Thông tin bất cân xứng

–          Định giá hàng hóa được mua bán phức tạp, khó chính xác

Riêng các khoản nợ xấu thì hoạt động mua bán nợ còn có thêm các đặc điểm riêng như:

– Thị trường mua bán nợ xấu thường không phải là thị trường cạnh tranh cao mà thường có tính chất độc quyền (số lượng người mua và người bán không cân xứng).

– Thông tin về hàng hóa thường ít công khai và không dễ tìm kiếm.

24.1.2.3. Các tổ chức và cá nhân trên thị trường mua bán nợ

Đối với thị trường mua bán nợ thông thường (thị trường TPDN) thì các chủ thể tham gia trên thị trường gồm: doanh nghiệp vay nợ (doanh nghiệp phát hành); nhà đầu tư; các tổ chức trung gian tham gia tạo lập thị trường.[1]

Đối với thị trường mua bán nợ xấu thì chủ thể tham gia thị trường cũng thể chia làm 3 nhóm:

–          Nhóm các doanh nghiệp tham gia bán Nợ gồm: các ngân hàng, các tổ chức tín dụng, các doanh nghiệp có khoản nợ cần bán.

–          Nhóm các chủ thể tham gia mua nợ: các công ty mua bán nợ chuyên nghiệp như DATC, công ty quản lý tài sản (AMC), các doanh nghiệp mua Nợ nhằm chiếm lĩnh thị trường, thâm nhập một ngành hàng sản xuất mới (hoạt động M&A), các quỹ đầu tư tài chính…

–          Nhóm các đơn vị tham gia tư vấn, trung gian tạo lập thị trường, doanh nghiệp thực hiện định mức tín nhiệm…

Nhằm đánh giá chính xác hơn các khoản nợ thì thị trường mua bán nợ cũng đòi hỏi sự tham gia của các đơn vị thực hiện hoạt động xếp hạng tín nhiệm. Đây là các doanh nghiệp cung cấp thông tin cho phép người mua và bán nợ có thể định giá các khoản nợ. Ngoài ra còn có sự tham gia của các công ty hay chuyên gia tư vấn môi giới, định giá tài sản…

24.1.2.4. Hàng hóa trên thị trường mua bán nợ

a. Phân loại hàng hóa trên thị trường mua bán nợ

Phân loại theo khả năng chứng khoán hóa thì hàng hóa trên thị trường mua bán Nợ có thể chia thành 2 nhóm:

+ Nhóm thứ nhất: các khoản nợ được chứng khoán hóa như trái phiếu, cổ phiếu, các loại giấy tờ xác nhận nợ khác

+ Nhóm thứ hai: các khoản nợ chưa được chứng khoán hóa như: bất động sản, hàng hóa, máy móc được thế chấp cho các khoản vay…

Phân loại theo tài sản đảm bảo thì Nợ có thể chia thành các nhóm

+ Nợ có tài sản đảm bảo: là các khoản nợ có tài sản đảm bảo kèm theo. Mức độ rủi ro của loại nợ này thấp hơn so với loại nợ không có tài sản đảm bảo.

+ Nợ không có tài sản đảm bảo: là loại nợ của doanh nghiệp được vay nhưng không có tài sản đảm bảo trực tiếp kèm theo.

b. Công cụ mua bán nợ

Việc mua bán các khoản nợ (gồm nợ theo chuẩn và nợ xấu) có thể được thực hiện thông qua trao đổi các công cụ mua bán nợ (nói cách khác là các hàng hóa trên thị trường nợ) hoặc thông qua việc trao đổi các tài sản. Ngoài việc thanh toán trực tiếp bằng tiền thì các bên trên thị trường mua bán nợ phần lớn sử dụng các công cụ mua bán nợ (nhất là đối với các khoản nợ lớn). Các công cụ trên thị trường mua bán nợ bao gồm: trái phiếu, cổ phiếu, chứng chỉ quỹ, các loại giấy tờ có giá khác.

24.1.2.5. Cấu trúc thị trường mua bán nợ

Tuỳ theo mục đích nghiên cứu, cấu trúc TTN có thể được phân loại theo nhiều cách khác nhau. Tuy nhiên, ở đây ta chỉ xét cách phân loại theo quá trình luân chuyển vốn Theo cách phân loại này, TTN được phân thành thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp.

Thị trường sơ cấp hay thị trường cấp 1 (Primary Market) là thị trường giao dịch các khoản nợ hay là nơi mua bán nợ đầu tiên. Việc mua bán nợ trên thị trường sơ cấp làm thay đổi chủ nợ của khoản nợ. Thông qua việc mua bán nợ, các chủ nợ có thể cho hính phủ, các doanh nghiệp huy động vay vốn trên thị trường nhằm tài trợ cho các dự án đầu tư.

Thị trường thứ cấp hay thị trường cấp 2 (Secondary Market) là thị trường giao dịch, mua bán, trao đổi những khoản nợ (trong chuẩn hoặc nợ xấu) đã được phát hành nhằm kiếm lời, di chuyển vốn đầu tư hay di chuyển tài sản xã hội.

24.1.2.6. Mục tiêu của thị trường mua bán nợ

Thị trường mua bán nợ cũng như các loại thị trường vốn khác luôn hướng tới những mục tiêu nhất định. Nhìn chung có 2 mục tiêu lớn được đặt ra đối với thị trường mua bán nợ ở các nước đó là: hoạt động có hiệu quả và điều hành công bằng.

a. Hoạt động có hiệu quả.

Một thị trường mua bán nợ có hiệu quả là một thị trường có tính hiệu quả về mặt thông tin và cơ chế giao dịch. Để đạt được điều này thị trường mua bán nợ cần phải đảm bảo:

– Giá cả được hình thành trên thị trường phải là giá cân bằng giữa cung và cầu và phải phản ánh được tức thời các thông tin có liên quan có thể ảnh hưởng tới giá cả. Điều quan trọng nhất là phải thiết lập được một cơ chế giao địch nhạy bén có khả năng xác định giá cả thị trường của các khoản nợ một cách chính xác nhất.

– Cơ chế và các thủ tục giao dịch mua bán nợ cần phải được tiêu chuẩn hoá để có thể thực hiện được một số lượng lớn các giao dịch một cách thông suốt. Thị trường phải đảm bảo tính thanh khoản cao giúp cho các nhà đầu tư có thể mua và bán các khoản nợ bất kỳ lúc nào họ muốn.

– Chi phí giao dịch trên thị trưởng phải được tối thiểu hoá, đảm bảo những lợi ích thu được từ đầu tư vào chứng khoán không bị chi phí giao địch ăn mòn. Muốn vậy, hệ thống giao dịch phải được tổ chức sao cho tiết kiệm nhất về mặt chi phí.

– Thị trường mua bán nợ phải được tổ chức một cách thuận tiện cho những người sử dụng, có như vậy mới thu hút được nhiều nhà đầu tư tham gia vào thị trường.

b. Điều hành công bằng.

Điều hành công bằng trong thị trường mua bán nợ là việc đảm bảo sự bình ổn giữa những người tham gia vào thị trường, muốn thực hiện điều hành công bằng TTN cần đảm bảo: (i) Các cơ quan điều hành thị trường phải xác lập các quy chế đảm bảo sự cạnh tranh tự do, bình đẳng trên thị trường. Các nhà đầu tư và các tổ chức có liên quan đến chứng khoán được tự do tham gia và rút khỏi thị trường; (ii) Mọi giao dịch không bình đẳng như giao dịch tay trong, đều bị nghiêm cấm; (iii) Bảo đảm quyền lợi của nhà đầu tư thông qua việc duy trì thị trường hoạt động lành mạnh, chống lại các trường hợp lũng đoạn thị trường và bóp méo giá gây thiệt hại cho nhà đầu tư.

24.1.2.7. Các nguyên tắc hoạt động của thị trường mua bán nợ

–          Nguyên tắc cạnh tranh tự do.

–          Nguyên tắc giao dịch công bằng.

–          Nguyên tắc công khai.

24.1.2.8. Vai trò của thị trường mua bán Nợ với nền kinh tế

Thị trường mua bán Nợ thực hiện các chức năng, vai trò chủ yếu sau đây:

–          Chức năng huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế.

–          Chức năng cung cấp khả năng thanh khoản.

–          Chức năng đánh giá giá trị của doanh nghiệp

–          Chức năng giúp Chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô.

24.1.3. Nhân tố tác động đến thị trường mua bán nợ

Các nhân tố tác động đến thị trường mua bán nợ bao gồm các nhân tố tác động trực tiếp tới thị trường mua bán nợ doanh nghiệp, bao gồm các nhân tố tác động đến “cung” và “cầu” của loại hàng hóa nợ, các nhân tố tác động gián tiếp như môi trường kinh tế xã hội, hệ thống các chính sách pháp luật liên quan…

Nhóm các nhân tố gắn với yếu tố “cung” của loại hàng hóa (nợ) như các yếu tố thuộc về chủ nợ – người bán nợ; Nhóm các nhân tố gắn với chất lượng nợ (liên quan đến cả cung và cầu của nợ) – thuộc về công ty khách nợ;

Nhóm các nhân tố gắn với yếu tố “cầu” của loại hàng hóa – nợ như các yếu tố thuộc về nhà đầu tư tiềm năng – người mua nợ (khả năng tài chính, lĩnh vực ngành nghề quan tâm…); số lượng và tính chuyên nghiệp của các tổ chức mua bán nợ,…

Nhóm các nhân tố trung gian tác động đến hoạt động mua – bán nợ: (i) các chính sách, quy định của pháp luật liên quan đến hoạt động mua bán nợ như chính sách về phá sản doanh nghiệp, chính sách đất đai, quy định về định giá tài sản, quy định về sự tham gia của vốn đầu tư từ nước ngoài… (ii) sự phát triển của thị trường tài chính và các công cụ tài chính liên quan; (iii) cơ chế công bố thông tin liên quan đến hàng hóa nợ; các công ty xếp hạng tín nhiệm; (iv) môi trường kinh tế trong và ngoài nước

Sự phân chia giữa các nhóm nhân tố tác động đến thị trường mua bán nợ chỉ mang tính tương đối, vì trên thực tế việc tác động đến thị trường mua bán nợ nói chung, đến cơ chế mua – bán nợ nói riêng, đều có ảnh hưởng qua lại tới cung và cầu của loại hàng hóa đặc biệt này.

24.2. Thực trạng thị trường mua bán nợ ở Việt Nam hiện nay.

24.2.1. Thực trạng thị trường mua bán nợ .

Thị trường mua bán nợ của Việt nam có thể chia ra 2 nhóm: thị trường mua bán nợ chính thức và thị trường mua bán nợ phi chính thức. Thị trường mua bán nợ chính thức là thị trường mua bán các loại giấy ghi nợ như trái phiếu, tín phiếu. Các khoản nợ mua bán trên thị trường này gồm nợ của chính phủ và nợ của doanh nghiệp.

24.2.1.1. Tổng quan về thị trường mua bán nợ chính thức của Việt nam.

Cho đến năm 2000 Việt Nam hầu như chưa có thị trường trái phiếu thứ cấp mặc dù trái phiếu chính phủ và trái phiếu của một số doanh nghiệp đã được phát hành trong thập kỷ 1990. Ở thời kỳ đó trái phiếu sau khi được phát hành chủ yếu được các công ty bảo hiểm và ngân hàng quốc doanh nắm giữ đến khi đáo hạn. Tháng 7/2000 Trung tâm Giao dịch Chứng khoán TP. Hồ Chí Minh mở cửa và sau đó không lâu một số trái phiếu chính phủ được niêm yết trên sàn giao dịch này đánh dấu sự ra đời của thị trường trái phiếu thứ cấp. Cùng với NHNN, Trung tâm Giao dịch Chứng khoán TP Hồ Chí Minh cũng được giao tổ chức đấu thầu một số loại trái phiếu chính phủ dài hạn. Đây có thể nói là cố gắng đầu tiên nhằm thúc đẩy sự phát triển của thị trường trái phiếu chính phủ của Việt Nam.

Tuy nhiên cho đến năm 2003 qui mô của thị trường trái phiếu vẫn rất nhỏ. Tổng số trái phiếu được phát hành đến thời điểm này mới chỉ bằng 4.5% GDP và chưa đến 1/3 (1.04% GDP) được niêm yết trên sàn giao dịch. Cuối năm 2003 chính phủ ban hành Nghị định 141/2003/NĐ-CP qui định khung pháp lý cho việc phát hành các loại trái phiếu chính phủ và trái phiếu được chính phủ bảo lãnh. Cũng trong năm đó SSC và ADB phối hợp soạn thảo Chiến lược Phát triển Thị trường Vốn Việt Nam (Vietnam Capital Market Roadmap) cho đến năm 2012. Bản chiến lược này vạch ra ba giai đoạn phát triển với những chính sách rất cụ thể để phát triển thị trường trái phiếu nói riêng và thị trường vốn nói chung cho Việt Nam.

Trong giai đoạn 2004-2009 chính phủ đã thực hiện một số biện pháp thực hiện các đề xuất của bản chiến lược với mục đích gia tăng thanh khoản cho thị trường trái phiếu thứ cấp. Tất cả trái phiếu chính phủ và trái phiếu doanh nghiệp được đấu thầu công khai phải niêm yết trên hai trung tâm giao dịch chứng khoán ở TP. Hồ Chí Minh và Hà nội. Tháng 9/2008 Bộ Tài chính quyết định tập trung toàn bộ trái phiếu chính phủ niêm yết và giao dịch trên sàn giao dịch Hà nội. Quyết định này (86/2008/QĐ-BTC) là một cố gắng nhằm gia tăng kích cỡ (size) và độ sâu thị trường (market depth) cho phân khúc trái phiếu chính phủ. Hoạt động đấu thầu trên thị trường sơ cấp cũng được tập trung về sàn Hà nội trước đó và hình thức đấu thầu lô lớn được Bộ Tài chính đưa ra. Tháng 6/2009 hệ thống giao dịch trái phiếu chuyên biệt (EBT) được đưa vào hoạt động, đây là mạng giao dịch điện tử duy nhất trên thị trường trái phiếu Việt Nam cho đến thời điểm này. Tháng 5/2006 Trung tâm Lưu ký Chứng khoán Việt Nam được thành lập theo quyết định 189/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ. Mặc dù có tên gọi là Trung tâm Lưu ký (depository/custodian), cơ quan này kiêm nhiệm luôn cả các hoạt động hoàn tất giao dịch (clearing/settlement) cho hai sàn giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh và Hà nội. Từ nay trở đi đây sẽ là nơi lưu ký duy nhất và bắt buộc cho tất cả các loại chứng khoán nói chung và trái phiếu nói riêng. Việc tập trung xử lý sau giao dịch và lưu ký về một mối như vậy nhằm giảm chi phí và tạo liên thông giữa các thị trường với nhau, gián tiếp giúp tăng thanh khoản trên thị trường. Trung tâm này cũng là đầu mối cấp mã ISIN cho các loại chứng khoán trên thị trường Việt Nam.

Sau giai đoạn 2009, đối mặt với những khó khăn về kinh tế vĩ mô và ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, Việt Nam không còn chính sách nào đáng kể để tiếp tục thúc đẩy thị trường trái phiếu. Từ tháng 11/2006 một số ngân hàng và công ty chứng khoán đã tập hợp nhau lập ra Diễn đàn Thị trường Trái phiếu (VBMF) và đến đầu năm 2010 Diễn đàn đã chính thức trở thành Hiệp hội Thị trường Trái phiếu Việt Nam (VBMA) với 58 thành viên chính thức.

Cơ cấu thị trường trái phiếu Việt Nam cho đến nay có tỷ lệ trái phiếu chính phủ lớn hơn 90% tổng lượng trái phiếu được phát hành. Tỷ lệ này tương đương với những thị trường kém phát triển trong khu vực như Indonesia và Philippines. Giai đoạn 2003-2008 Việt Nam có tốc độ tăng trưởng trái phiếu rất cao, tính trung bình mỗi tháng trong giai đoạn này tổng số dư của thị trường tăng xấp xỉ 15%/tháng, nghĩa là tăng hơn bốn lần sau một năm. Đây cũng là giai đoạn thị trường chứng khoán và địa ốc tăng trưởng vũ bão trong khi các bất ổn vĩ mô bị dồn nén và được che đậy bởi sự hứng khởi của thị trường.

Cơn bão lạm phát đầu năm 2008 và cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đã chấm dứt giai đoạn tăng trưởng thần kỳ này. Kể từ quí một 2008 đến nay, tổng vốn hóa của thị trường trái phiếu chưa bao giờ quay lại được đỉnh và đang trên đà sụt giảm dần trong ba quí cuối năm 2011 sau một giai đoạn phục hồi ngắn ngủi cuối năm 2010. Không chỉ khối lượng phát hành đã chựng lại và có nguy cơ tụt giảm, thời gian đáo hạn trung bình của phân khúc trái phiếu chính phủ đã ngắn lại liên tục sau khi đạt đỉnh năm 2004. Đến cuối năm 2011 chỉ số này tụt xuống 5.22 năm, chỉ cao hơn không đáng kể so với thời điểm 2002 khi Việt Nam gần như chỉ phát hành trái phiếu 5 năm. Điều đáng nói là trong cùng khoảng thời gian đó hầu hết các nước trong khu vực có chỉ số này khá ổn định khoảng xấp xỉ 7 năm, thậm chí còn tăng rất nhanh như trường hợp Philippines. Điều này cho thấy các nhà đầu tư càng ngày càng ít quan tâm đến trái phiếu dài hạn (hơn 5 năm), rất có thể vì họ lo lắng về sự bất ổn của các chính sách vĩ mô hoặc kỳ vọng lạm phát dài hạn quá cao.

24.2.1.2. Thị trường trái phiếu doanh nghiệp.

Thị trườn­g nợ “chuẩn” chính thức đối với nợ của doanh nghiệp đã hình thành và phát triển song hành với thị trường trái phiếu của Việt Nam, thể hiện ở loại hàng hóa mua bán chuẩn mực là trái phiếu các doanh nghiệp. Trong mục này sẽ giới thiệu tổng quan về loại thị trường mua bán nợ chính thức, đó là thị trường trái phiếu doanh nghiệp (TPDN).

Thị trường trái phiếu là kênh dẫn vốn rất quan trọng đối với nền kinh tế. Ở các nước phát triển, vay vốn ngân hàng chỉ là kênh huy động vốn ngắn hạn còn kênh huy động vốn từ các nhà đầu tư, Quỹ đầu tư thông qua phát hành cổ phiếu, và trái phiếu mới là kênh huy động vốn dài hạn. Sản phẩm trái phiếu của họ rất đa dạng, trái phiếu có thể đi kèm các CDS (Credit default swap) là các khoản bảo hiểm khi xảy ra default; Có các CDO (Collateralized debt obligation) là các trái phiếu được bảo đảm bởi các khoản vay thế chấp; Nó lại được chia thành các cấp độ khác nhau về độ rủi ro, trả gốc lãi nhanh hay chậm… để thỏa mãn đối với nhiều yêu cầu của nhà đầu tư. Ngược lại, ở VN, kênh huy động vốn này gần như chưa phát triển. Đó là do nhiều nguyên nhân: Hành lang pháp lý bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư, sức khỏe của doanh nghiệp, sự minh bạch của thị trường, tính thanh khoản… Đối với năm 2013, kinh tế vĩ mô vẫn còn bất ổn, kinh tế chưa có dấu hiệu phục hồi vững chắc, mối nguy lạm phát quay trở lại vẫn còn treo lơ lửng nên các nhà đầu tư sẽ rất thận trọng. Tình hình thị trường trái phiếu sẽ không khác biệt nhiều so với năm 2012. Đó là Trái Phiếu Chính phủ (TPCP) hoặc Trái phiếu do Chính phủ bảo lãnh thì phát hành thành công, trong khi các doanh nghiệp vẫn gặp rất nhiều khó khăn trong việc huy động vốn. Có một nguyên tắc kinh tế, là khi kinh tế càng khó khăn thì nhà đầu tư sẽ càng tìm đến với các kênh đấu tư an toàn nhất. Ở Việt Nam đó chính là TPCP, và ở thị trường thế giới là TPCP Mỹ. Do vậy ở Việt Nam, nếu không phải các doanh nghiệp thực sự lớn, tiềm lực đủ mạnh, đã tạo được lòng tin đối với giới đầu tư như: HAG, Masan, Vincom… thì việc huy động vốn qua kênh trái phiếu vẫn gặp khó khăn.

Nhiều năm nay, do thị trường tài chính Việt Nam còn sơ khai nên cơ cấu nguồn vốn tổ chức tín dụng hiện rất thiếu bền vững khi mà vốn ngắn hạn chiếm tới 70% cơ cấu kỳ hạn tổng nguồn. Đã có nhiều tổ chức tín dụng sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn nhưng để bù đắp rủi ro kỳ hạn, rủi ro lãi suất, họ thường yêu cầu doanh nghiệp ký hợp đồng thả nổi lãi suất. Vì vậy, khi doanh nghiệp sử dụng nguồn vốn này để đầu tư dài hạn, họ luôn phải đối mặt với tình trạng mất kiểm soát phương án tài chính. Từ thực tế này, trái phiếu doanh nghiệp là hình thức huy động vốn rất tốt của doanh nghiệp, đặc biệt với trường hợp cần sử dụng nguồn vốn ổn định và dài hạn trong đầu tư. Mặt khác, kênh huy động này còn gián tiếp giảm sức ép lên hệ thống ngân hàng thương mại trong việc cung cấp những khoản vay trung dài hạn. Nhờ đó, đã giúp ngân hàng hoạt động đúng bản chất của mình: cấp vốn lưu động và dịch vụ thương mại thay vì sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn, nhằm khắc phục khoảng trống kỳ hạn giữa tài sản “Nợ” và tài sản “Có” để phòng tránh rủi ro.

Hiện khung pháp lý cho hoạt động phát hành trái phiếu doanh nghiệp đã được ban hành tương đối đầy đủ và đồng bộ. Trái phiếu doanh nghiệp đã trở thành một kênh huy động vốn ngày càng quan trọng đối với các doanh nghiệp, bên cạnh kênh tín dụng ngân hàng. Tuy nhiên, thị trường trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam vẫn còn những tồn tại và hạn chế. Cụ thể, số lượng doanh nghiệp và lượng vốn huy động từ thị trường trái phiếu doanh nghiệp còn hạn chế. Các doanh nghiệp huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu chủ yếu là các doanh nghiệp lớn trong nền kinh tế. Bên cạnh đó, thị trường trái phiếu doanh nghiệp còn thiếu nhiều yếu tố quan trọng trong hệ thống cơ sở hạ tầng (quản trị doanh nghiệp, tổ chức định mức tín nhiệm, hệ thống thông tin giao dịch thứ cấp, hệ thống nhà đầu tư…). Một điểm đáng chú ý là điều kiện phát hành trái phiếu hiện nay quy định tại Nghị định 90 quá chặt chẽ như yêu cầu doanh nghiệp phải có lãi. Bởi có những trường hợp doanh nghiệp cần phát hành trái phiếu để cơ cấu lại tài chính, đang bị lỗ cũng có thể phát hành trái phiếu. Tuy nhiên trong bối cảnh thị trường trái phiếu Việt Nam còn sơ khai, những quy định này là cần thiết. Khi thị trường phát triển hơn thì những quy định này cũng sẽ được sửa đổi.

Điểm nổi bật đầu tiên của thị trường này là mặc dù đã hình thành một thời gian nhưng tỷ trọng trái phiếu công ty/ trái phiếu doanh nghiệp trên thị trường trái phiếu rất nhỏ. Năm 2012, ước tính tổng quy mô thị trường trái phiếu Việt Nam là 18.8 % GDP. Tuy nhiên, trái phiếu chính phủ và trái phiếu được chính phủ bảo lãnh vẫn chiếm tỷ trọng lớn, năm 2012 ước tính chiếm 17,7% GDP. Trái phiếu chính quyền địa phương chiếm 0,25% GDP, trái phiếu doanh nghiệp chỉ chiếm 0,8 % GDP.

Hình 24.1. Giá trị thị trường trái phiếu doanh nghiệp và so với GDP

(Nguồn: Dữ liệu từ ADB Bond online, 2013).

Từ 2006 đến năm 2011, theo thống kê của Bộ Tài chính, có 44 đợt phát hành trái phiếu của các doanh nghiệp nhà nước theo Nghị định 52 với dư nợ khoảng 36 ngàn tỉ đồng. Từ năm 2012, sau khi có Nghị định 90 (về phát hành trái phiếu doanh nghiệp), Bộ Tài chính đã nhận được đăng ký phát hành trái phiếu từ khoảng 60 doanh nghiệp với khối lượng 60 ngàn tỉ đồng. Khối lượng đã phát hành trong thực tế khoảng 40 ngàn tỉ đồng (có những trường hợp đăng ký song không phát hành vì điều kiện thị trường và các lý do của doanh nghiệp). Trong 6 tháng đầu năm 2013, khối lượng đăng ký phát hành trái phiếu riêng lẻ của các doanh nghiệp là 19.036 tỉ đồng và khối lượng phát hành thực tế 8.279 tỉ đồng. Trong năm 2012, tại Việt Nam có 43 doanh nghiệp đăng ký phát hành khoảng 33 ngàn tỉ đồng trái phiếu doanh nghiệp.

Điểm nổi bật tiếp theo là đa phần các trái phiếu doanh nghiệp trên thị trường trái phiếu Việt Nam hiện nay là các trái phiếu do doanh nghiệp nhà nước phát hành. Từ 2006 đến 2010, đã có 35 đợt phát hành của các doanh nghiệp nhà nước với khối lượng huy động khoảng 32.000 tỷ đồng. Ngoài ra, còn có một số đợt phát hành của doanh nghiệp tư nhân, tuy nhiên không có hệ thống cơ sở dữ liệu thống kê chúnh thức. Qua hình 2.6 ở trên cho thấy là thị trường trái phiếu doanh nghiệp phát triển mạnh bắt đầu từ 2009 và đạt đỉnh vào tháng 9/2010 và sau đó suy giảm dần cho tới cuối năm 2013. Nguyên nhân của tình trạng này có cả lý do khách quan là sự suy giảm của tăng trưởng kinh tế và nguyên nhân chủ quan là tình trạng thông tin không đầy đủ của các doanh nghiệp bán trái phiếu.

Tất cả các TPDN đều trả lãi sau, với phương thức trả lãi hàng năm (coupon), lãi suất cố định. Riêng Tổng công ty Sông Đà và EVN phát hành trái phiếu có lãi suất thả nổi, được điều chỉnh căn cứ vào lãi suất TPCP hoặc lãi suất trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng. Về cơ bản, lãi suất TPDN đều cao hơn lãi suất đấu thấu TPCP. So sánh với lãi vay ngân hàng, có thể thấy lãi suất này vẫn thấp hơn so với lãi suất vay ngân hàng (trung bình 15%-21%/năm). Thực ra, đây chỉ là lãi suất danh nghĩa, không phải lãi suất thực, trong bối cảnh lạm phát tăng, lãi suất thực có xu hướng xuống dưới mức 0%. Điều này có thể giải thích tại sao các nhà đầu tư tỏ ra thờ ơ với việc đầu tư vào trái phiếu. Ngoài lãi vay, các doanh nghiệp phát hành còn phải trả một khoản phí hay hoa hồng cho các dịch vụ tư vấn bảo lãnh phát hành và bảo hành thanh toán, gọi là chi phí phát hành. Chi phí này có thể tăng lên rất cao, phụ thuộc vào khả năng trả nợ của doanh nghiệp phát hành, nó có thể làm tăng lãi suất thực lên tới 12% hay 13% hàng năm. Khả năng trả nợ càng thấp, chi phí phát hành càng cao. Đây cũng là một trong những rào cản chính đối với việc phát hành trái phiếu của các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt nam hiện nay. Thông thường khoảng chênh lệch giữa lãi suất TPCP và lãi suất TPDN khoảng 2,5% đến 3%, phản ánh mức chênh lệch rủi ro của hai trái phiếu này. Trên thực tế, còn tùy thuộc vào từng thời điểm phát hành và kỳ hạn của từng loại trái phiếu, mà mức chênh lệch này có thực sự phán ánh rủi ro của hai loại trái phiếu này hay không. Ví dụ, năm 2005, khi Vinashin phát hành trái phiếu, kỳ hạn 5 năm, lúc đó, lãi suất TPCP cùng kỳ hạn là 8,5%, nhưng lãi suất trái phiếu của Vinashin “không được phép” cao hơn lãi suất TPCP (8,4%/năm). Để tăng tính hấp dẫn của trái phiếu, Vinashin đã thay đổi hình thức trả lãi thành trả lãi trước, dẫn đến lãi suất thực của trái phiếu xấp xỉ 8,9%.

Về nguyên tắc mua trái phiếu cũng là cho vay nợ với doanh nghiệp, tuy nhiên khi cho vay tín dụng thông thường thì các tổ chức tín dụng, ngân hàng luôn có quy trình kiểm tra nên biết rất rõ nguồn vốn của mình hiện ở đâu, sử dụng vào mục đích gì, nên rủi ro được kiểm soát khá tốt. Ngược lại, ngân hàng mua trái phiếu doanh nghiệp nhưng do quy định về phát hành loại giấy tờ có giá này không có điều khoản nào cho phép người mua trái phiếu kiểm soát mục đích sử dụng vốn của người bán, nên phát sinh nhiều rủi ro, khiến bên mua trái phiếu rất e ngại, nhất là trong tình hình hiện nay. Do đó, giới kinh doanh trái phiếu luôn phải cân bằng giữa rủi ro và lợi nhuận, không phải cứ lãi suất cao là họ sẵn sàng bỏ tiền ra. Trong bối cảnh kinh tế suy thoái, cầu trong và ngoài nước đều thấp, chi phí cao, năng lực cạnh tranh kém, tiêu thụ hàng hóa giảm, nguồn thu không có, ngân hàng không chắc đã thu được “gốc, rễ” thì việc phát hành trái phiếu là khó.

Nhằm hỗ trợ và để thúc đẩy thị trường trái phiếu phát triển, trong năm 2012, Bộ Tài chính đã hoàn thiện cơ chế phát hành sơ cấp và giao dịch thứ cấp, hình thành và củng cố hệ thống các nhà tạo lập thị trường. Trong nửa đầu năm 2013, Bộ Tài Chính phối hợp với HNX xây dựng và công bố đường cong lãi suất trái phiếu chính phủ để làm cơ sở định giá cho cả thị trường sơ cấp và thứ cấp. Đáng chú ý, trong năm 2013, Bộ Tài Chính và Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cũng sẽ ban hành các văn bản liên quan đến quỹ đầu tư trái phiếu, quỹ hưu trí bổ sung tự nguyện… để phát triển hệ thống nhà đầu tư có tổ chức. Việc phát triển thị trường công cụ phái sinh cho trái phiếu và các nghiệp vụ chứng khoán để đa dạng hóa các sản phẩm đầu tư mới, thu hút nhà đầu tư chuyên nghiệp tham gia vào thị trường cũng đang được xây dựng.

Có thể thấy trái phiếu doanh nghiệp ở các thị trường phát triển là kênh dẫn vốn dài hạn chính của doanh nghiệp song tại Việt Nam thị trường nợ của doanh nghiệp còn sơ khai, chưa thu hút nhà đầu tư chuyên nghiệp như các quỹ, tổ chức tài chính lớn và cả nhà đầu tư cá nhân. Nhà đầu tư chưa để ý đến trái phiếu doanh nghiệp do thiếu thông tin hỗ trợ, đặc biệt là thông tin về độ rủi ro của trái phiếu để xác định giá vốn, mức lãi suất hợp lý. Thị trường trái phiếu doanh nghiệp còn nhiều điểm cần điều chỉnh, ví dụ như cách thức xác định lãi suất. Thông thường thời gian qua tại Việt Nam, trái phiếu doanh nghiệp các kỳ hạn 1-3 năm thường áp dụng lãi suất cố định từ 9-16%/năm và kỳ hạn dài dùng lãi suất thả nổi “neo” theo mức lãi suất huy động bình quân của các ngân hàng thương mại cộng thêm biên độ trung bình khoảng 4%. Hiện Việt Nam chưa có “điểm chuẩn” (benchmark) nhất định để nhà đầu tư và doanh nghiệp phát hành xác định mức giá thế nào là phù hợp. Đây chính là điểm mấu chốt để Bộ Tài chính xây dựng nghị định về thành lập và hoạt động của doanh nghiệp định mức tín nhiệm. Khi đã có công ty đánh giá tín nhiệm và các kết quả đánh giá tổ chức phát hành từ công ty này, việc định giá trái phiếu sẽ hợp lý và đáng tin cậy hơn. Nhà đầu tư qua đó sẽ xác định mình nên hay không đầu tư vào trái phiếu doanh nghiệp và với giá nào. Thị trường sẽ minh bạch và hấp dẫn hơn. Trên thực tế thị trường trái phiếu ở Việt Nam, cơ cấu phát hành trái phiếu kỳ hạn ngắn 1-3 năm chiếm tới trên 70% khối lượng phát hành thực tế và trái phiếu kỳ hạn từ 5 năm trở lên chỉ chiếm 2%. Thị trường trái phiếu doanh nghiệp thứ cấp gần như không có giao dịch. Mục tiêu huy động vốn dài hạn cho doanh nghiệp trên thị trường nợ chưa đạt được.

Ngoài các trái phiếu được giao dịch chính thức qua các đợt huy động công khai, ở Việt nam còn có thị trường trái phiếu phi chính thức. Các doanh nghiệp phát hành các đợt phát hành trái phiếu riêng lẻ cho các tổ chức tín dụng, các ngân hàng nhưng không thông báo rộng rãi. Nói cách khác là không công khai hoạt động mua bán nợ này.

Thị trường trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam đang có những vấn đề cần phải xem xét điều chỉnh lại. Phần lớn trái phiếu phát hành hiện nay không được đưa lên sàn niêm yết. Trong số đó, có rất nhiều trái phiếu không còn là chứng khoán nữa, mà là một hình thức giấy nợ. Những trái phiếu này không đi qua những trình tự, thủ tục như tại các nước phát triển – trái phiếu phải được phát hành bởi các công ty có năng lực trả nợ, sau đó được bán như chứng khoán trên sàn và được nhà đầu tư đại chúng giao dịch; trong quy trình đó, phải có một ngân hàng đầu tư đứng ở giữa làm trung gian nghiên cứu, tư vấn cho cả bên phát hành và bên đầu tư. Nhưng tại Việt Nam, nhiều trái phiếu thiếu đi khâu trung gian của ngân hàng đầu tư đó. Quy trình và đặc biệt là sự xuất hiện của ngân hàng đầu tư là phải có, chứ không nên để doanh nghiệp trực tiếp phát hành trái phiếu cho ngân hàng.

Trên nguyên tắc, trái phiếu doanh nghiệp phải được đối xử như với tất cả các món cho vay khác. Nhưng thực tế hiện nay, rất nhiều trong số trái phiếu doanh nghiệp đó lại do những bên có liên quan tới ngân hàng phát hành. Bởi vậy, có thể có việc đối xử với trái phiếu doanh nghiệp sẽ thuận lợi hơn so với các món cho vay bình thường.

Hiện tại, nhiều nợ xấu cũng liên quan tới trái phiếu. Trái phiếu doanh nghiệp cũng như những khoản nợ khác của ngân hàng, đều có thể trở thành nợ xấu. Khi nhà phát hành gặp khó khăn kinh tế, họ sẽ mất khả năng trả nợ theo lịch trình đã đưa ra của trái phiếu. Có một điểm đáng mừng là trái phiếu trước kia bị bỏ ra ngoài vấn đề tín dụng, nhưng đến nay, loại hình này đã được cộng chung vào trong dư nợ và các ngân hàng cũng phải phân loại nợ như các nhóm cho vay khác. Trái phiếu cũng đã được đưa vào diện giám sát của Ngân hàng Trung ương, chịu phân loại rủi ro nợ. Tuy nhiên, đến nay chưa có thống kê chính thức về tỷ trọng của trái phiếu doanh nghiệp trong tổng dư nợ của toàn hệ thống.

Hậu quả khi trái phiếu doanh nghiệp không được minh bạch hóa:

Hậu quả đầu tiên là khái niệm đi vay và phát hành trái phiếu sẽ bị lẫn lộn. Dù thực tế phát hành trái phiếu cũng chính là vay tiền, nhưng việc vay tiền này lại được chứng khoán hóa. Và chứng khoán đó sẽ đi vào thị trường, sau đó được bán cho nhà đầu tư thứ cấp.

Vấn đề thứ hai là việc lạm dụng công cụ trái phiếu trong hoạt động vay nợ. Việc chứng khoán hóa đáng lẽ phải đi qua một quy trình rõ ràng, gồm có ngân hàng đầu tư tư vấn cho cả nhà phát hành và nhà đầu tư, chứng khoán có thời hạn bao lâu, phương án trả nợ như thế nào – quy trình này phải được luật pháp ấn định. Nhưng tại Việt Nam, việc phát hành trái phiếu doanh nghiệp đang không theo quy trình chuẩn, còn việc bán lại trái phiếu trên thị trường thứ cấp thực ra là bán lại giấy nợ cho bên thứ ba. Điều đó có thể dẫn đến nguy cơ lợi dụng công cụ tài chính của thị trường vốn – mà trên lý thuyết, công cụ này phải được kiểm soát chặt chẽ – cho hoạt động vay nợ.

24.2.1.3. Thị trường trái phiếu chính phủ

Lịch sử hình thành thị trường TPCP ở Việt nam

Trên thực tế, thị trường này đã quá trình hình thành, phát triển trong suốt 9 năm qua song song với thị trường cổ phiếu niêm yết. Dưới đây là các mốc thời gian đáng chú ý góp phần làm nên một thị trường TPCP chuyên biệt như ngày nay.

Tháng 8/2000: TPCP được đưa vào giao dịch trên Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Tp.HCM, nay là HOSE. Đây là sự kiện đầu tiên đánh dấu việc TPCP được giao dịch trên thị trường chứng khoán và được coi như một loại hàng hóa trên thị trường chứng khoán.

Tháng 11/2003: Chính phủ ban hành Nghị định 141/2003/NĐ-CP về việc phát hành trái phiếu Chính phủ, trái phiếu Chính phủ bảo lãnh và trái phiếu chính quyền địa phương bằng đồng Việt Nam và ngoại tệ trong phạm vi cả nước. Theo đó, trái phiếu Chính phủ do Chính phủ phát hành bao gồm: Tín phiếu kho bạc, trái phiếu kho bạc, trái phiếu công trình Trung ương, trái phiếu đầu tư, trái phiếu ngoại tệ và công trái xây dựng Tổ quốc. Trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh có kỳ hạn từ 1 năm trở lên, do các doanh nghiệp phát hành để huy động vốn cho các dự án đầu tư theo chỉ định của Thủ tướng Chính phủvà được phát hành cho từng công trình cụ thể. Tổng giá trị trái phiếu được phát hành cho một công trình không vượt quá tổng giá trị công trình và mức phát hành cụ thể cho từng công trình phải theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ. Cũng có kỳ hạn trên 1 năm, trái phiếu chính quyền địa phương do uỷ ban nhân dân cấp tỉnh uỷ quyền cho Kho bạc Nhà nước hoặc tổ chức tài chính, tín dụng trên địa bàn phát hành nhằm huy động vốn cho các dự án, công trình thuộc nguồn vốn đầu tư của ngân sách địa phương đã có trong kế hoạch nhưng chưa được bố trí vốn ngân sách trong năm.

Tháng 8/2005: TPCP được đưa vào giao dịch trên Trung tâm GDCK Hà Nội. Sau 5 năm giao dịch trên Sở GDCK Tp.HCM, lần đầu tiên TPCP được đưa vào giao dịch trên Trung tâm GDCK Hà Nội sau khi Trung tâm này được thành lập. Cũng kể từ thời điểm này, TPCP được giao dịch song song trên cả hai sàn Hà Nội và Tp.HCM. Tháng 6/2006: Quyết định số 2276/QĐ-BTC về tập trung đấu thầu TPCP tại Trung tâm GDCK Hà Nội. Quyết định này quy định sẽ chỉ tập trung hoạt động đấu thầu trái phiếu Chính phủ, bao gồm trái phiếu kho bạc và trái phiếu đầu tư tại Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Hà Nội kể từ ngày 01/07/2006.Chỉ sau 3 tháng kể từ ngày Quyết định này ra đời, Trung tâm GDCK Hà Nội đạt được những thành công bước đầu khi tổ chức thành công 4 phiên đấu thầu Trái phiếu Chính phủ theo kế hoạch huy động vốn của Kho bạc Nhà nước, huy động được 1.200 tỷ đồng trái phiếu kỳ hạn 5 năm, đạt 80% khối lượng gọi thầu; đã có 38 loại trái phiếu đăng ký giao dịch với tổng giá trị đạt 7.027 tỷ đồng. Đây được xem là bước đệm để tạo tiền đề hình thành thị trường Trái phiếu Chính phủ chuyên biệt tại TTGDCK Hà Nội.

Tháng 6/2006: Quyết định 46/2006/QĐ-BTC ban hành Quy chế về việc phát hành trái phiếu Chính phủ theo lô lớn. Theo đó, khối lượng phát hành của một lô lớn trái phiếu tối thiểu là 1.000 tỷ đồng. Kỳ hạn của trái phiếu lô lớn từ 5 năm trở lên. Trái phiếu lô lớn được phát hành theo phương thức sau: đấu thầu trái phiếu hoặc bảo lãnh phát hành trái phiếu. Thời hạn phát hành của một lô lớn trái phiếu tối đa không quá 365 ngày.

Việc phát hành trái phiếu Chính phủ theo lô lớn nhằm mục đích tăng cường khả năng huy động vốn và cho đầu tư phát triển, đồng thời nâng cao tính thanh khoản của trái phiếu Chính phủ trên thị trường giao dịch và tạo khả năng hình thành lãi suất chuẩn cho các công cụ nợ.

Tháng 1/2008: Quyết định 86/2008/QĐ-BTC phê duyệt đề án xây dựng thị trường TPCP chuyên biệt. Đây được xem là mốc sự kiện quan trọng nhất vì đã đặt ra mục tiêu, lộ trình và xác định mô hình phát triển của Thị trường TPCP. Đề án được xây dựng nhằm tạo ra một thị trường giao dịch trái phiếu chuyên biệt, tách hẳn khỏi thị trường giao dịch cổ phiếu. Các nội dung chính của đề án bao gồm thực trạng thị trường trái phiếu Chính phủ; yêu cầu huy động vốn ngân sách và định hướng phát triển; Mục tiêu, quan điểm, nguyên tắc phát triển thị trường giao dịch trái phiếu Chính phủ…Hàng hóa giao dịch bao gồm các loại trái phiếu Chính phủ, trái phiếu chính quyền địa phương, trái phiếu Chính phủ bảo lãnh. Tất cả các loại trái phiếu giao dịch trong hệ thống đều được lưu ký tập trung tại Trung tâm Lưu ký chứng khoán. Trái phiếu Chính phủ giao dịch sẽ được gán mã giao dịch và mã định danh riêng biệt để tạo thuận lợi cho hoạt động giao dịch và quản lý. Phương thức giao dịch được áp dụng là thỏa thuận. Thành viên có thể thực hiện giao dịch thỏa thuận từ xa thông qua hệ thống mạng máy tính nội bộ mở rộng.

Tháng 5/2008: Ủy ban Chứng khoán Nhà nước quyết định chuyển trái phiếu chính phủ từ sàn Tp.HCM sang niêm yết tại sàn Hà Nội. Theo quyết định, từ ngày 2/6/2008, toàn bộ Trái phiếu chính phủ niêm yết tại HOSE sẽ chính thức niêm yết và giao dịch tại HASTC. Những Trái phiếu chính phủ có thời gian đáo hạn tối thiểu từ 6 tháng trở lên tính từ ngày 2/6/2008 thì Trung tâm Lưu ký Chứng khoán phải thực hiện rà soát để tập hợp theo dõi các loại hình trái phiếu, kỳ hạn, lãi suất…Tháng 7/2008: Quyết định Số 46/2008/QĐ-BTC ban hành Quy chế quản lý giao dịch TPCP tại Trung tâm GDCK Hà Nội. Quy chế này quy định về hoạt động đăng ký niêm yết, công bố thông tin, thành viên giao dịch trái phiếu Chính phủ (TPCP), giao dịch và quản lý giao dịch TPCP niêm yết tại Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (TTGDCKHN).

Tháng 9/2009: Hệ thống giao dịch Trái phiếu Chính phủ chuyên biệt chính thức được Sở GDCK Hà Nội (HNX) đưa vào vận hành và ra mắt vào ngày 24/09/2009 tới với mục tiêu phát huy tối đa tầm quan trọng của kênh huy động vốn này đối với nền kinh tế.

Mục tiêu xây dựng và phát triển Thị trường TPCP là mở rộng thị trường, tăng cường tính thanh khoản trên thị trường TPCP, liên kết thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp, và tăng cường công tác giám sát thị trường. Sự ra đời của thị trường này được kỳ vọng không chỉ là một kênh dẫn vốn hữu hiệu của nền kinh tế mà còn làm đa dạng hóa các công cụ đầu tư trên thị trường vốn. Đồng thời, thị trường TPCP còn giúp tăng cường sự độc lập trong điều hành chính sách tiền tệ của các ngân hàng trung ương thông qua mua bán TPCP, tác động trực tiếp đến lượng cung tiền và các biến số kinh tế vĩ mô.

Thị trường trái phiếu chính phủ hiện nay

Hiện nay, thị trường trái phiếu chính phủ (TPCP) đã trở thành kênh huy động quan trọng cho đầu tư phát triển, cung cấp công cụ chỉ báo để phục vụ điều hành kinh tế vĩ mô, góp phần củng cố hình ảnh và độ tín nhiệm của Việt Nam trên thị trường tài chính quốc tế.

+ Cơ cấu hợp lý tỷ lệ nợ công

Trong những năm qua, nhằm huy động nguồn lực cho đầu tư phát triển, tái cấu trúc nền kinh tế và đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế, Chính phủ đã kiên định, quyết tâm xây dựng thị trường TPCP. Ðể tạo cơ sở nền tảng cho sự phát triển của thị trường này, trong năm năm qua, hệ thống khuôn khổ pháp lý đối với thị trường TPCP đã dần được hoàn chỉnh. Việc tổ chức phát hành, giao dịch cũng như sử dụng công cụ giao dịch TPCP đã đi vào quy củ, hình thành cả thị trường sơ cấp và thứ cấp, tạo được định hướng rõ ràng trong giai đoạn hiện tại cũng như trong tương lai.

Theo Bộ Tài chính, trong giai đoạn 2009 – 2014, số vốn đã huy động được do đấu thầu tập trung tại Sở Giao dịch chứng khoán (GDCK) Hà Nội đạt gần 655 nghìn tỷ đồng, gấp 13 lần so với giai đoạn trước đó (2000 – 2008). Từ năm 2012, huy động vốn thông qua đấu thầu đã trở thành kênh chủ đạo, với giá trị huy động tăng mạnh. Thị trường đấu thầu được tổ chức trên nguyên tắc cạnh tranh, công khai minh bạch, đã giúp hình thành mức lãi suất phát hành hợp lý, luôn thấp hơn lãi suất huy động của ngân hàng thương mại, tiết kiệm cho NSNN hàng nghìn tỷ đồng, góp phần bình ổn mặt bằng lãi suất và giảm lạm phát.

Công tác phát hành TPCP đã có những cải cách mạnh mẽ theo hướng chuyên biệt, hướng tới mục tiêu cơ bản lâu dài là cơ cấu lại nợ công một cách hợp lý và tạo hàng hóa chuẩn cho thị trường tài chính (TTTC). Kế hoạch, lịch biểu phát hành được công khai; việc công bố thông tin minh bạch về kết quả đấu thầu, khối lượng, kỳ hạn, lãi suất đã giúp cho các thành viên thị trường chủ động về nguồn vốn và kế hoạch tham gia đấu thầu. Hệ thống các tổ chức đấu thầu được tổ chức lại theo hướng tinh gọn nhưng chất lượng hơn. Kho bạc Nhà nước (KBNN) là tổ chức phát hành lớn nhất thực hiện rất thành công chương trình phát hành theo hình thức lô lớn, phát hành bổ sung và chương trình hoán đổi trái phiếu, đã góp phần thay đổi cơ bản về chất lượng hàng hóa TPCP trên TTTC. Số lượng mã trái phiếu đã được tinh giản từ mức hơn 300 mã xuống còn 90 mã, quy mô bình quân của các mã tăng sáu lần, lên mức bốn nghìn tỷ đồng (trong đó các mã chuẩn đã tăng lên mức từ sáu đến tám nghìn tỷ đồng), tạo điều kiện để tăng thanh khoản cho giao dịch TPCP trên thị trường thứ cấp.

Quy trình đăng ký, lưu ký TPCP từ khi đấu thầu lên niêm yết, giao dịch được cải tiến, đã rút ngắn dần từ 15 ngày xuống còn bốn ngày, tạo điều kiện cho các nhà đầu tư đấu thầu mua TPCP có thể sớm giao dịch được ngay trên thị trường thứ cấp.

Riêng năm 2014, thị trường TPCP đã có nhiều thành công như:

+ Khối lượng trúng thầu kỳ hạn 15 năm gấp 6 lần 2013 : Thị trường sơ cấp, trong giai đoạn 2009 – 2014, thị trường TPCP chuyên biệt đã huy động thành công hơn 600 nghìn tỷ đồng cho Ngân sách Nhà nước (NSNN) thông qua đấu thầu. Giá trị huy động qua đấu thầu cũng tăng mạnh từ mức 28.32 tỷ đồng năm 2010 lên 240.84 tỷ đồng năm 2014. Bên cạnh đó, thị trường đã phát hành đa dạng các kỳ hạn trái phiếu khác nhau, chú trọng vào các trái phiếu có kỳ hạn từ 5 năm trở lên. Tổng khối lượng trúng thầu các kỳ hạn 5 năm, 10 năm, 15 năm chiếm đến 51% tổng khối lượng trúng thầu trái phiếu Kho bạc Nhà nước (TP KBNN), trong đó, khối lượng trúng thầu trái phiếu kỳ hạn 15 năm tăng gấp 6 lần so với năm 2013. Tính chung lại, kỳ hạn trung bình TP KBNN đã phát hành đạt 5.28 năm. Bên cạnh đó, hệ thống thành viên đấu thầu cũng đang phát triển theo hướng ngày càng chuyên nghiệp. Theo định hướng của Bộ Tài chính, số lượng thành viên đấu thầu sẽ giảm xuống còn 25 thành viên trong năm 2016.

+ Thanh khoản thị trường gấp 10 lần năm 2010 : Thị trường thứ cấp, quy mô niêm yết trên thị trường tăng trưởng liên tục đạt mức 691.206 tỷ đồng trong năm 2014 (bao gồm TPCP, TPCP bảo lãnh, TP chính quyền địa phương và tín phiếu kho bạc), tăng gấp 4 lần so với năm 2009. Quy mô niêm yết bình quân toàn thị trường trên từng mã đạt gần 1,254 tỷ/mã vào ngày 31/12/2014, tăng gần 3.93 lần so với mức 319 tỷ/mã năm 2009. Trong đó, TP KBNN vẫn chiếm vai trò chủ đạo, khối lượng bình quân đạt tới 4,462 tỷ/mã. Tính đến cuối năm 2014, tổng giá trị giao dịch trái phiếu và tín phiếu đạt 899,676 tỷ đồng, trong đó chủ yếu vẫn là trái phiếu, chiếm tới hơn 98% giá trị. Thanh khoản trên thị trường cũng đạt trên 3,642 tỷ đồng/phiên trong năm 2014, gấp gần 10 lần so với năm 2010. Từng bước đã hình thành đường cong lãi suất phục vụ cho điều hành chính sách.

Hình 24.2: Diễn biến lợi suất trên thị trường TPCP 2014-2015

(Nguồn: Tổng hợp từ số liệu VBMA)

Tuy nhiên, thị trường TPCP của Việt nam vẫn còn một số hạn chế như: cơ cấu nhà đầu tư hiện vẫn chưa phát triển, chủ yếu tập trung ở khối ngân hàng thương mại và công ty chứng khoán, thông tin trên thị trường chưa đầy đủ, các công cụ mua bán nợ trên thị trường vẫn còn hạn chế

Ðể phát huy tốt hơn vai trò của thị trường TPCP đối với việc phát triển bền vững kinh tế Việt Nam, nhất là trong quá trình tái cấu trúc kinh tế hiện nay, Bộ Tài chính cho biết sẽ cùng các đơn vị liên quan thực hiện có hiệu quả cao các giải pháp phát triển thị trường có tính chuyên biệt này. Theo đó, bên cạnh việc tiếp tục phối hợp với các bộ, ngành liên quan trình Chính phủ hoàn thiện khuôn khổ pháp lý đồng bộ về phát hành, quản lý sử dụng, đánh giá hiệu quả sử dụng nguồn vốn TPCP cùng với cơ chế chính sách liên quan để tạo điều kiện cho thị trường TPCP phát triển và phát huy hiệu quả, Bộ Tài chính sẽ tổng kết, đánh giá kết quả thực hiện các mục tiêu cơ bản trong lộ trình phát triển thị trường trái phiếu Việt Nam đến năm 2020. Việc đồng bộ hóa để phát triển bền vững thị trường trái phiếu, phù hợp với mức độ phát triển của nền kinh tế và TTTC – tiền tệ là rất quan trọng. Vì vậy, sự phối hợp chặt chẽ giữa Bộ Tài chính và Ngân hàng nhà nước trong việc phát triển thị trường TPCP, sử dụng TPCP làm công cụ trong phối hợp chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa, tạo nền tảng ổn định kinh tế vĩ mô là rất quan trọng. Bên cạnh đó, việc xây dựng và phát triển hệ thống nhà tạo lập thị trường gắn với quyền lợi và nghĩa vụ trên thị trường thứ cấp, góp phần hiệu quả trong việc phát triển thị trường TPCP phải gắn với việc mở rộng cơ sở nhà đầu tư, tạo điều kiện tham gia thị trường đối với các công ty bảo hiểm, công ty tài chính, quỹ hưu trí. Việc khuyến khích sự tham gia của nhà đầu tư nước ngoài thông qua việc điều chỉnh hợp lý chính sách thuế và phí; hiện đại hóa hạ tầng công nghệ về giao dịch, thanh toán bù trừ, cung cấp thông tin; thực hiện chuyển chức năng thanh toán tiền giao dịch TPCP về Ngân hàng nhà nước, tăng cường sự kết nối với hệ thống thông tin quốc tế nhằm tạo thuận lợi cho nhà đầu tư nước ngoài, từng bước hội nhập thị trường trái phiếu khu vực và thế giới – cũng là những giải pháp có tính chất nền tảng sẽ được tiếp tục thực hiện trong năm 2015 và những năm tiếp theo.

Trước mắt, trong năm 2015 là phối hợp với các tổ chức phát hành (TCPH) nhằm hoàn thành nhiệm vụ huy động vốn cho NSNN. Bên cạnh đó, tiếp tục hoàn thiện và củng cố thông qua việc phát triển các bộ phận của thị trường; đặc biệt là nghiên cứu để xây dựng, vận hành thị trường phái sinh TPCP; đồng thời tạo ra thị trường phát triển cho trái phiếu doanh nghiệp (TPDN) nhằm cơ cấu các mảng thị trường trong năm 2015.

Trên thị trường sơ cấp, Sở sẽ phối hợp với Kho bạc Nhà nước phát triển sản phẩm trái phiếu không trả lãi định kỳ (Zero Coupon Bond). Bên cạnh đó, trên thị trường thứ cấp, sẽ đưa vào giao dịch công cụ Repo, trước mắt là Sell Buy Back Repo. Các công cụ khác như Strip Bond, sản phẩm khác như trái phiếu lãi suất thả nổi theo lạm phát (Inflation-linked Bond) cũng sẽ được triển khai trong năm 2015. Ngoài ra, hệ thống chỉ báo thị trường cũng dần được hoàn thiện, bên cạnh hệ thống đường cong lợi suất VN Government Bond Yield Curve được đưa vào sử dụng từ 18/03/2013, Sở cũng đã thử nghiệm hệ thống chỉ số trái phiếu VN Government Bond Index và chính thức hoạt động từ 05/01/2015, 2 chỉ báo quan trọng này đều được đăng tải trên hai hãng thông tin quốc tế là Bloomberg và Reuters.

Năm 2015 cũng là năm bản lề cho sự phát triển của thị trường phái sinh TPCP. Trung tâm lưu ký chứng khoán (TTLKCK) và các thành viên liên quan triển khai xây dựng cơ sở pháp lý, hệ thống công nghệ chuẩn bị các điều kiện khác cho thị trường phái sinh TPCP theo chỉ đạo của Bộ Tài chính và Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) nhằm đảm bảo hoạt động ổn định của thị trường phái sinh TPCP khi chính thức đưa vào hoạt động. Bên cạnh đó, UBCKNN sẽ tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện khung pháp lý cho các sản phẩm giao dịch mới, đặc biệt là sản phẩm Zero coupon, sản phẩm Bond Futures. Đồng thời, Bộ Tài chính, UBCKNN xem xét và ban hành những cơ chế tài chính khuyển khích gắn với các chương trình phát triển thị trường nhằm mở rộng cơ sở nhà đầu tư.

Hệ thống cơ sở hạ tầng thanh toán cũng đang dần hoàn thiện, đẩy nhanh công tác hoàn thiện về cơ chế thanh toán theo các chuẩn mực quốc tế nhằm giảm thiểu rủi ro tiềm ẩn, tạo cơ chế thanh toán an toàn, ổn định. Tăng cường sự phối hợp về chính sách tài chính và tiền tệ trong với việc vận dụng linh hoạt phát hành TPCP kỳ hạn dưới 5 năm để tạo chuẩn cho thị trường nợ và công cụ cho điều hành chính sách tiền tệ cũng là điều cần thiết trong định hướng phát triển cho thị trường năm 2015.

24.2.2. Đánh giá chung về phát triển thị trường mua bán nợ phục vụ tái cơ cấu

24.2.2.1. Một số kết quả

Phân tích thực trạng về thị trường mua bán nợ cho thấy kể cả thị trường mua bán nợ trong chuẩn (thị trường trái phiếu doanh nghiệp) và thị trường mua bán nợ xấu đều còn chưa thực sự phát triển ở Việt nam. Tuy nhiên việc phát triển thị trường mua bán nợ xấu cũng đã đạt được một số kết quả.

Một là, sự thành lập và hoạt động của công ty mua bán nợ và tài sản tồn đọng tại doanh nghiệp (DATC) đã có những kết quả tốt trong việc mua, xử lý nợ xấu, giúp cho việc tái cơ cấu lại các doanh nghiệp.

Hai là, sự ra đời của công ty quản lý tài sản VAMC sẽ tạo ra điều kiện ban đầu cần thiết cho sự hình thành thị trường mua bán nợ, góp phần xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng, cải thiện tăng trưởng tín dụng phục vụ cho phát triển kinh tế.

Ba là, hệ thống các chính sách, pháp luật liên quan đến hoạt động mua bán nợ đã từng bước được hoàn thiện nhất là các chính sách về cổ phần hóa, chính sách thuế, chính sách về thị trường tài chính, chính sách về tín dụng…

Bốn là, đã bước đầu hình thành các công ty chuyên về mua bán nợ, quản lý tài sản. Đó là những cơ sở quan trọng để phát triển về phía cầu của thị trường.

Năm là, thông tin về nợ xấu và quan điểm về phát triển thị trường mua bán nợ xấu đã dần dần được công khai, rõ ràng hơn. Hiện có nhiều nhà đầu tư cả trong và ngoài nước có ý định tham gia mua lại nợ xấu của VAMC. Các nhà đầu tư nước ngoài cũng đã quan tâm nhiều hơn đến thị trường mua bán nợ của Việt nam. Thậm chí có những tập đoàn tài chính lớn như Black Stone, chưa bao giờ xuất hiện ở Việt Nam vì không có hợp đồng nào đủ lớn để họ tham gia, nay cũng muốn mua nợ xấu từ VAMC.

24.2.2.2. Những vấn đề còn tồn tại

Thứ nhất, số lượng các công ty tham gia mua nợ còn hạn chế, hoạt động chưa hiệu quả

Hiện bên cầu về mua nợ chỉ có DATC, VAMC và khoảng 20 công ty mua bán nợ trực thuộc ngân hàng. Tuy nhiên, nhiều công ty AMC thuộc các ngân hàng hiện nay chỉ có thể loanh quanh với mấy nghiệp vụ như: thanh lý tài sản gán nợ, quản lý tài sản cầm cố, thu hồi nợ cho ngân hàng mẹ Còn việc xử lý nợ xấu và tái cơ cấu thì gần như không thực hiện. Website của các công y AMC do đó trở thành một nơi giao dịch tương tự sàn giao dịch bất động sản với đầy ắp các rao vặt bán nhà, đất. Đấy là chưa kể một số trường hợp, các công ty AMC còn là công cụ để các ngân hàng lách quy định của Nhà nước. Các chuyên gia cho rằng các công ty AMC được một số ngân hàng chỉ dùng để tạm thời che giấu nợ xấu. Một số ngân hàng dùng để lách một số quy định của nhà nước như lách trần tín dụng. Vì thế sẽ không giải quyết được gốc của vấn đề là xử lý nợ xấu.

Các quy định cho AMC hơn 13 năm qua không được sửa đổi, bổ sung, dù nhiều nội dung không còn phù hợp với tình hình mới. Đó là lý do khiến AMC không giúp được gì nhiều cho các ngân hàng, trong khi ở nước ngoài, AMC được coi là “cánh tay phải” của TCTD. Các AMC hoạt động không hiệu quả vì nhiều lý do: (i) chỉ hoạt động trong phạm vi các tài sản và khoản nợ của ngân hàng thương mại mẹ, thay vì tham gia vào thị trường mua bán nợ với các AMC khác; (ii) được thành lập chỉ để xử lý vụ việc nhất định và bị giải thể sau khi vụ việc được xử lý xong (trường hợp AMC của Vietcombank, được thành lập năm 1995, sau khi xử lý vụ án Minh Phụng Epco đã bị giải thể); (iii) các ngân hàng không thực sự quan tâm đến AMC trong hoạt động kinh doanh.

Thị trường nợ xấu hiện nay vẫn chủ yếu là thị trường sơ cấp, thị trường thứ cấp chưa phát triển, số lượng các nhà đầu tư mua lại nợ xấu vẫn chủ yếu là đầu tư ngắn hạn, thiếu các nhà đầu tư chiến lược. Do vậy, có thể nói thị trường nợ xấu của Việt nam phát triển còn hạn chế cả về chiều rộng và chiều sâu.

Các công ty mua bán nợ với mục đích M&A thì thường không công khai hoạt động của mình trước khi phi vụ mua bán được thực hiện. Hơn nữa, các đơn vị này cũng chỉ mua lại nợ xấu ở một số lĩnh vực nhất định.

Thứ hai, số lượng vốn của các công ty tham gia mua bán nợ xấu còn hạn chế

Hiện trên thị trường chỉ có DATC thuộc bộ Tài chính với số vốn 2.481 tỷ đồng là tương đối lớn. Hầu hết các AMC khác đều có quy mô vốn nhỏ nên gặp nhiều khó khăn khi xử lý những món nợ xấu lớn. Hiện vẫn chưa có các Quỹ đầu tư lớn tham gia vào thị trường mua bán nợ của Việt nam.

Vốn nhỏ nhưng có một hạn chế là tốc độ xử lý nợ rất chậm chạp và do vậy tốc độ quay vòng vốn của các công ty mua bán nợ rất chậm. Có khi phải mất từ 3-5 năm để xử lý một khoản nợ. Với khoản nợ xấu ngân hàng gia tăng đột biến đến 270 nghìn tỷ như hiện nay thì tốc độ xử lý của DATC phải tăng lên gấp cả trăm lần mới đáp ứng đủ.

Việc cho ra đời VAMC chỉ được coi như biện pháp mang tính chất tạm thời của xử lý nợ vì bản thân VAMC chỉ sử dụng trái phiếu đặc biệt để mua bán nợ giúp các ngân hàng làm sạch tạm thời bảng cân đối kế toán mà không tham gia trực tiếp vào quá trình xử lý nợ xấu của các tổ chức này. Để thu mua nợ xấu hoặc bảo lãnh tài sản thế chấp cần có rất nhiều tiền, song vốn điều lệ của VAMC ban đầu chỉ có 500 tỷ đồng nên cần phải bổ sung hoặc có thể đi vay nhưng thời gian vay tối thiểu cũng chỉ 5 – 7 năm. Do đó, VAMC đã phải tăng vốn điều lệ lên 2.000 tỷ đồng từ tháng 4/2015.

Hiện nay số lượng các tổ chức mua bán nợ chuyên nghiệp còn quá ít, các tổ chức đã hoạt động tương đối thuần thục chỉ duy nhất có DATC mà quy mô, phạm vi và nguồn lực tài chính, kinh nghiệm xử lý của DATC không đáng kể so với quy mô nợ cần mua bán của Việt Nam. Vì vậy, không thể nói số lượng các tổ chức mua bán nợ chuyên nghiệp đủ lớn cho một thị trường mua bán nợ. Song, nhìn rộng hơn, thì các nhà đầu tư tiềm năng có mong muốn mua nợ để thông qua đó thành nhà đầu tư của doanh nghiệp thì không ít. Bằng chứng là có rất nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước mong muốn có cơ chế mua nợ của nhiều doanh nghiệp Việt Nam vì nhìn thấy cơ hội đầu tư vực lại doanh nghiệp, rồi chứng khoán hóa khoản đầu tư, thu vốn về. Song, nhiều phân tích cho rằng cơ chế mua bán nợ chưa có, thị trường chưa ra đời, bên bán nợ và bên mua nợ vì thế còn bị cách xa, khó gặp nhau.

Sự kém phát triển của ngân hàng đầu tư – định chế chuyên nghiệp chuyên tư vấn và chuyên huy động vốn dài hạn cho doanh nghiệp cũng khiến tình trạng nợ của doanh nghiệp Việt Nam có điều đặc biệt là mặc dù nợ trung và dài hạn của doanh nghiệp nhưng lại được “bố trí” từ nguồn ngắn hạn trên thị trường tiền tệ của các ngân hàng thương mại, thay vì ngân hàng đầu tư đứng ra sắp xếp.

Thứ ba, việc xử lý nợ và tài sản tiếp nhận chậm, kéo dài.

Có thể thấy rõ điều này qua hoạt động mua bán nợ của công ty mua bán nợ DATC. Mặc dù đã cố gắng trong việc tiếp nhận và phân loại nợ nhưng với tỷ lệ thu hồi mới được 2,2% số nợ có khả năng thu hồi theo phân loại của DATC có thể thấy được ba vấn đề.

Thứ nhất: Công tác thu hồi nợ của DATC chưa có hiệu quả, kết quả rất thấp. Thứ hai, việc phân loại nợ của DATC chưa chuẩn xác. Thứ ba: Công việc thu hồi các khoản nợ đã bị loại ra khi xác định giá trị doanh nghiệp để chuyển đổi sở hữu là công việc khó khăn, tốn nhiều công sức mà hiệu quả thấp, cần phải có một cơ chế thông thoáng mới đảy nhanh được tiến độ.

Thứ tư, hoạt động mua, bán nợ thường phức tạp, thời gian kéo dài, chậm trễ làm hạn chế đáng kể đến hiệu quả công việc này.

Ngay cả việc mua bán nợ của VAMC (với mục tiêu làm sạch bảng cân đối của các ngân hàng là chính) với những quy định khá thông thoáng thì cũng có những khoản nợ cần thời gian đàm phán kéo dài nhiều tháng. Còn với những doanh nghiệp chuyên mua nợ để thực hiện tái cơ cấu như DATC thì quá trình thực hiện mua bán nợ thường rất phức tạp. Theo quy trình hiện nay của công ty DATC thì sau khi xác định đối tượng nợ cần mua phải xây dựng phương án trình cấp có thẩm quyền phê duyệt rồi mới đàm phán với người bán để mua. Ngay cả với các công ty AMC tư nhân thì việc đàm phán mua nợ cũng thường rất khó khăn do chưa có những chuẩn mực chung trong xác định giá trị khoản nợ, do thiếu hệ thống kế toán phù hợp để xác định giá trị hợp lý (fair value) của khoản nợ. Hơn nữa, do vị thế độc quyền nên bên mua thường ép giá mua thấp dẫn đến khó thương lượng giữa người mua và người bán.

Thứ năm, các công ty mua bán nợ chưa có sự hỗ trợ tích cực nhất là vấn đề tài chính cho doanh nghiệp khách nợ sau khi tái cơ cấu tài chính.

Hầu hết các công ty AMC của các ngân hàng chỉ mới làm vai trò quản lý tài sản nợ chứ chưa thực sự tham gia vào quá trình tái cơ cấu doanh nghiệp. Ngay cả với công ty DATC thì đối với cổ phần của DATC thực tế không có tiền mặt vì chỉ là chuyển nợ thành vốn góp. Đối với công ty cổ phần sau khi tái cơ cấu tài chính chỉ giảm trừ được một phần nợ, có thể kéo dài thời hạn trả nợ nhưng cũng không thêm nguồn tiền để phục vụ cho hoạt động kinh doanh.

Thứ sáu, công cụ và phương thức mua bán nợ xấu còn hạn chế

Theo quy định tại Thông tư số 39/2004/TT-BTC ngày 11/5/2004 của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn trình tự, thủ tục và xử lý tài chính đối với hoạt động mua, bán, bàn giao, tiếp nhận, xử lý nợ và tài sản tồn đọng của doanh nghiệp, thì hoạt động mua bán nợ được thực hiện dưới 2 hình thức: mua bán nợ theo thoả thuận và mua bán nợ theo chỉ định của Thủ tướng Chính phủ.

Phương thức mua nợ theo chỉ định của Thủ tướng Chính phủ chỉ áp dụng cho DATC, giá cả mua bán sẽ do các cơ quan quản lý nhà nước liên quan xem xét, xây dựng, thẩm định và trình Thủ tướng Chính phủ quyết định. Các doanh nghiệp mua bán nợ khác chỉ áp dụng phương pháp duy nhất là mua bán nợ theo thỏa thuận. Việc mua, bán theo giá cả thị trường bằng các phương thức thoả thuận, đấu thầu, đấu giá hiện chưa có quy định.

Đối với VAMC, thông tư 19/2013/TT-NHNN do Ngân hàng Nhà nước (NHNN) ban hành quy định trái phiếu đặc biệt dùng mua nợ xấu do VAMC phát hành dưới hình thức chứng chỉ ghi danh, bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử có định danh. Một trái phiếu được phát hành tương ứng với một khoản nợ xấu được mua, bán và mệnh giá có giá trị bằng giá mua của các khoản nợ xấu. Các TCTD có tỷ lệ nợ xấu từ 3% so với tổng dư nợ trở lên phải bán nợ cho VAMC. Trường hợp không bán nợ, NHNN xem xét áp dụng các biện pháp kiểm soát. Trên cơ sở thanh tra, định giá, kiểm toán, NHNN yêu cầu TCTD phải bán nợ cho VAMC. Sau khi mua nợ xấu, VAMC xem xét, điều chỉnh lãi suất đang áp dụng với khoản nợ xấu đã mua về mức lãi suất hợp lý, phù hợp với khả năng trả nợ của khách hàng. Tuy nhiên, khách hàng vay phải có phương án trả nợ khả thi.

VAMC bán nợ xấu đã mua theo hình thức đấu giá hoặc chào giá cạnh tranh với sự tham gia của ít nhất 3 bên mua không có liên quan với nhau. Trường hợp không thể đấu giá, chào giá cạnh tranh thì VAMC bán khoản nợ xấu trên cơ sở thỏa thuận trực tiếp với bên mua nợ.

Ngoài ra, VAMC cũng có thể bán nợ xấu đã mua bằng trái phiếu đặc biệt hoặc chuyển khoản nợ xấu đã mua bằng trái phiếu thành vốn điều lệ, vốn cổ phần tại các doanh nghiệp mua nợ. Tuy nhiên, thông tư quy định, tổng mức đầu tư, cung cấp tài chính và bảo lãnh của VAMC đối với một khách hàng không vượt quá 50% vốn điều lệ củaVAMC (không quá 250 tỉ đồng).

Tại Thông tư số 20/2013/TT-NHNN thì quy định về cho vay tái cấp vốn trên cơ sở trái phiếu đặc biệt của VAMC. Theo nội dung thông tư, NHNN xem xét và quyết định tái cấp vốn khi TCTD đáp ứng đủ các điều kiện. Mức tái cấp vốn đối với TCTD trên cơ sở mệnh giá trái phiếu đặc biệt do Thống đốc NHNN quyết định căn cứ vào mục tiêu điều hành CSTT, kết quả trích lập dự phòng rủi ro đối với trái phiếu đặc biệt và kết quả xử lý nợ xấu nhưng không vượt quá 70% so với mệnh giá trái phiếu đặc biệt. Lãi suất tái cấp vốn đối với TCTD do Thủ tướng Chính phủ quyết định trong từng thời kỳ; Lãi suất tái cấp vốn quá hạn bằng 150% lãi suất tái cấp vốn ghi trên hợp đồng tín dụng giữa NHNN và TCTD. Thời hạn tái cấp vốn dưới 12 tháng nhưng không vượt quá thời hạn còn lại của trái phiếu đặc biệt. NHNN xem xét, quyết định gia hạn tái cấp vốn đối với TCTD, thời gian gia hạn mỗi lần không vượt quá thời hạn tái cấp vốn lần đầu của khoản tái cấp vốn đó.

24.3. Định hướng và giải pháp phát triển thị trường mua bán nợ phục vụ tái cơ cấu doanh nghiệp

24.3.1. Quan điểm và mục tiêu phát triển thị trường mua bán nợ

24.3.1.1. Quan điểm chung

Để có thể phát triển thị trường mua bán nợ một cách hiệu quả cần phải tuân thủ một số quan điểm sau

a) Xây dựng và phát triển thị trường mua bán nợ phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, hình thành một hệ thống thị trường mua bán nợ đồng bộ và thống nhất trong tổng thể thị trường tài chính của đất nước. Nói cách khác là trong giai đoạn mà thị trường chứng khoán còn nhiều khó khăn, hệ thống các quy định về thị trường chứng khoán còn chưa hoàn thiện thì cần có sự phát triển thị trường mua bán nợ theo từng bước, tránh phát triển nóng.

b) Phát triển, mở rộng thị trường mua bán nợ theo nguyên tắc thị trường, đặc biệt coi trọng vấn đề chất lượng và sự an toàn của thị trường, từng bước tiếp cận với các thông lệ và chuẩn mực quốc tế. Phát triển thị trường mua bán nợ cần được đặt trong tổng thể phát triển thị trường vốn nói chung. Đảm bảo tính công khai, minh bạch, các tiêu chuẩn và phù hợp thông lệ quốc tế trong phát triển thị trường

c) Phát triển thị trường mua bán nợ theo hướng gắn kết với việc cải cách, sắp xếp khu vực doanh nghiệp nhà nước, tạo động lực cho các doanh nghiệp, các thành phần kinh tế cả về năng lực tài chính và quản trị doanh nghiệp.

d) Nhà nước thực hiện quản lý bằng công cụ pháp luật, có các chính sách hỗ trợ, tạo điều kiện để thị trường mua bán nợ phát triển ổn định, vững chắc; phát huy vai trò của các tổ chức tự quản, hiệp hội nhằm bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp và khuyến khích các chủ thể tham gia thị trường.

24.3.1.2. Mục tiêu

– Phát triển thị trường nợ ổn định, vững chắc, cấu trúc hoàn chỉnh với nhiều cấp độ, đồng bộ về các yếu tố cung – cầu; tăng quy mô và chất lượng hoạt động, đa dạng hóa các sản phẩm, đảm bảo thị trường hoạt động hiệu quả, hỗ trợ tốt cho việc tái cơ cấu doanh nghiệp. Mục tiêu của phát triển thị trường nợ là phải từng bước giảm dần tỷ lệ nợ xấu trong các ngân hàng, tạo nguồn tài chính hỗ trợ việc tái cơ cấu doanh nghiệp.

– Mua bán nợ hướng tới việc tái cơ cấu, cải thiện mô hình quản trị công ty theo hướng hiện đại, tăng cường năng lực quản lý, giám sát và cưỡng chế thực thi, bảo vệ lợi ích của các bên tham gia thị trường.

– Chủ động hội nhập thị trường tài chính quốc tế, từng bước tiếp cận với các chuẩn mực chung và thông lệ quốc tế. Tăng quy mô, độ sâu và tính thanh khoản của thị trường mua bán nợ, từng bước mở rộng đối tượng tham gia thị trường ra bên ngoài quốc gia.

– Đa dạng hóa cơ sở nhà đầu tư, phát triển hệ thống nhà đầu tư tổ chức, khuyến khích đầu tư nước ngoài dài hạn. Mua bán nợ nhằm đẩy mạnh quá trình tái cơ cấu doanh nghiệp, nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.

– Nâng cao sức cạnh tranh của các định chế trung gian thị trường và các tổ chức phụ trợ, từng bước tăng quy mô, tiềm lực tài chính của công ty mua bán nợ DATC và công ty quản lý tài sản VAMC, đa dạng hóa các hoạt động nghiệp vụ theo thông lệ và chuẩn mực quốc tế; mở cửa thị trường cho các trung gian tài chính nước ngoài phù hợp với lộ trình cam kết và mức độ cạnh tranh đối với các tổ chức trong nước.

24.3.2. Một số định hướng giải pháp phát triển thị trường mua bán nợ

24.3.2.1. Giải pháp về cơ chế, chính sách hỗ trợ hoạt động mua bán nợ

Để hình thành và phát triển thị trường mua bán nợ cần có các chính sách, giải pháp sau:

– Nhà nước cần tăng cường giám sát chống nguy cơ lũng đoạn thị trường trong hoạt động mua bán nợ.

– Hoàn thiện các chuẩn mực kế toán theo quốc tế tạo hành lang cho thị trường mua bán nợ hoạt động hiệu quả.

– Quy định về thời gian xử lý nợ xấu của các NHTM

– Cải thiện khung pháp lý và các rào cản:

– Tiếp tục đẩy mạnh phát triển thị trường chứng khoán, có cơ chế chứng khoán hóa các khoản nợ

– Khuyến khích nhà đầu tư nước ngoài tham gia thị trường mua bán nợ

– Áp dụng ưu đãi thuế cho hoạt động mua bán nợ

– Khuyến khích việc thành lập các công ty mua bán nợ chuyên nghiệp

– Xây dựng hệ thống/xác định giá bán nợ

– Thành lập Hiệp hội Các công ty mua bán nợ

– Xây dựng cơ chế đấu giá bán các khoản nợ

– Hoàn thiện hệ thống giám sát thị trường

24.3.2.2. Phát triển các tổ chức trung gian cho hoạt động mua bán nợ

– Xây dựng hệ thống tổ chức định mức tín nhiệm

– Xem xét xây dựng sàn giao dịch chuyên biệt nhằm nâng cao tính thanh khoản cho các loại trái phiếu và nợ

– Phát triển các tổ chức trung gian thị trường, các nhà đầu tư có tổ chức cho thị trường mua bán nợ và nợ xấu doanh nghiệp

– Đa dạng hóa hàng hóa trên thị trường mua bán nợ  

KẾT LUẬN

Sự hình thành và phát triển thị trường mua bán nợ mà cụ thể là nợ xấu của doanh nghiệp là yêu cầu khách quan hiện nay ở Việt Nam. Cũng như các thị trường khác, thị trường mua bán nợ gồm có các doanh nghiệp có sẳn sàng bán (cung) – doanh nghiệp có nhu cầu mua (cầu). Nghĩa là phải có nhiều chủ thể mua bán trên thị trường, phải có cơ chế, chính sách, luật pháp tạo môi trường, hành lang cho thị trường hình thành, phát triển và sự quản lý của nhà nước. Vì là một loại thị trường nên sẽ chịu sự chi phối của các qui luật thị trường, nhất là qui luật cung – cầu, qui luật cạnh tranh và các phạm trù giá cả, chi phí, lợi nhuận…

Chuyên đề cho thấy ở Việt Nam chưa có thị trường mua bán nợ theo đúng nội hàm của nó, cái thiếu nhất là hàng hóa nợ mà các doanh nghiệp muốn bán chưa phong phú, lành mạnh, đang chủ yếu là doanh nghiệp nhà nước và ngân hàng thương mại mà trong đó tỷ lệ góp vốn của nhà nước vẫn chiếm ưu thế, chi phối. Trong thị trường vẫn chưa có nhiều các doanh nghiệp thành lập với chức năng chuyên mua bán nợ và nếu có thì số vốn bé nhỏ không đủ mua các khoản nợ lớn. Công ty mua bán nợ quốc gia mua nợ theo chỉ đạo của chính phủ chứ không phải mua theo chiến lược kinh doanh. Cơ chế vận hành, hệ thống luật pháp, cơ cấu tổ chức trên thị trường, các chính sách tạo hành lang, môi trường cho thường trường phát triển chưa đồng bộ, chưa đầy đủ. Tất cả các vấn đề chỉ được giải quyết khi chúng ta hình thành được thị trường mua bán nợ đầy đủ với các bộ phận: hàng hóa của công ty sẳn sàng bán (cung) – nhu cầu của các công ty mua (cầu) và cơ chế vận hành và luật pháp cũng như chính quản lý hiệu quả thị trường này của nhà nước và sự tham gia có trách nhiệm của các bên trên thị trường.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Bạch Đức Hiển và Đoàn Hương Quỳnh (2010) “ Tái cấu trúc nguồn vốn của doanh nghiệp trong giai đoạn hiện nay” – Tạp chí tài chính số 2/2010
  2. Công ty mua bán nợ và tài sản tồn đọng tại doanh nghiệp (DATC) – Báo cáo tổng kết hoạt động – nhiều năm.
  3. Hoàng Trần Hậu và cộng sự (2014) “Phát triển thị trường mua bán nợ ở Việt nam phục vụ tái cơ cấu doanh nghiệp”. Đề tài NCKH cấp Bộ
  4. Nguyễn Phi Lân và Nguyễn Bích Ngà (2009) Vai trò của thị trường tài chính đối với tăng trưởng kinh tế Việt nam” – Tạp chí Kinh tế Phát triển tháng 4/2009.
  5. Nguyễn thị Kim Thanh (2011) “ Thị trường vốn trong hỗ trợ vốn cho doanh nghiệp” – Tạp chí Ngân hàng số tháng 6/2011
  6. Nguyễn Công Nghiệp và Bạch Đức Hiển (2000) Giáo trình Thị trường chứng khoán – NXB Tài chính
  7. Phạm Mạnh Thường và cộng sự (2014) “Hoàn thiện cơ chế tài chính trong xử lý nợ xấu ngân hàng thúc đẩy tái cấu trúc doanh nghiệp” – Đề tài NCKH cấp Bộ


[1] Do đề tài tập trung vào thị trường mua bán nợ xấu nên chúng tôi không phân tích kỹ hơn về vấn đề này. 

Bản in

 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *