Chuyên đề 23: TÌNH HÌNH THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU NĂM 2014

Chuyên đề 23: TÌNH HÌNH THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU NĂM 2014

 ThS. Phạm Thị Thanh Tâm,

Phó Trưởng phòng Thị trường tài chính,

Vụ Tài chính các ngân hàng và tổ chức tài chính – Bộ Tài chính

 Năm 2014 thị trường trái phiếu đã có bước phát triển tích cực trên cả thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp, tiếp tục là một kênh huy động vốn quan trọng trong điều hành ngân sách, đặc biệt trong bối cảnh thu ngân sách khó khăn trong năm 2014.

23.1. Tình hình thị trường trái phiếu năm 2014

23.1.1. Tổng quan

– Về khối lượng phát hành: Năm 2014, tổng khối lượng phát hành trái phiếu Chính phủ (TPCP), trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh (TP CPBL), trái phiếu chính quyền địa phương (TP CQĐP) và trái phiếu doanh nghiệp (TPDN) đạt mức kỷ lục là 306.091 tỷ đồng, tương đương 7,7% GDP năm 2014.

-Về dư nợ thị trường trái phiếu: Dư nợ thị trường trái phiếu tại thời điểm 31/12/2014 đạt khoảng 844.000 tỷ đồng, tương đương 21,25% GDP năm 2014, tăng 1,07% so với năm 2013, cụ thể như sau;

Dư nợ thị trường trái phiếu năm 2014:

 

Năm 2013

Năm 2014

%GDP

% GDP

Toàn thị trường

20,18

21,25

1. TPCP

12,19

13,84

2. TP được CPBL

4,79

4,30

3. TPCQĐP

0,47

0,60

4. TPDN

2,73

2,50

.23.1.2. Thị trường sơ cấp:

23.1.2.1. Trái phiếu Chính phủ

Về khối lượng: Trong năm 2014, KBNN đã huy động được khoảng 248 nghìn tỷ đồng, đạt 95% kế hoạch năm 2014 và tăng 37% so với năm 2013. Đây là khối lượng huy động vốn cao nhất trong những năm qua. Khối lượng phát hành tập trung chủ yếu vào nửa đầu năm 2014, chiếm đến 65% tổng khối lượng phát hành trong năm 2014.

Về kỳ hạn phát hành: Trong năm 2014, kỳ hạn phát hành đã được cải thiện vượt bậc, khối lượng phát hành tập trung chủ yếu vào các kỳ hạn dài từ 5 năm trở lên, đặc biệt khi thị trường xuất hiện nhu cầu đầu tư dài hạn của các nhà đầu tư là các NHTM. Theo đó, kỳ hạn phát hành bình quân đã tăng đáng kể từ mức 3,21 năm (năm 2013) lên 4,84 năm (năm 2014), cụ thể:

+ Tỷ trọng các kỳ hạn ngắn từ 3 năm trở xuống giảm mạnh từ mức 77,5% trong năm 2013 xuống còn 53,9% trong năm 2014.

+ Đối với các kỳ hạn từ 5 năm trở lên: KBNN đã phát hành thành công 66.060 tỷ trái phiếu kỳ hạn 5 năm (gấp 2,4 lần so với năm 2013); hơn 33.000 tỷ đồng trái phiếu kỳ hạn 10 năm (gấp 3,9 lần so với năm 2013) và 15.000 tỷ đồng trái phiếu kỳ hạn 15 năm (gấp 3,6 lần so với năm 2013).

+ Dù kỳ hạn phát hành đã được cải thiện nhưng kỳ hạn còn lại bình quân của danh mục TPCP vẫn chưa được cải thiện đáng kể so với các năm trước (2,98 năm trong năm 2014) nên đã tạo sức ép trả nợ trong ngắn hạn lên ngân sách nhà nước.

Khối lượng phát hành theo kỳ hạn giai đoạn 2012 – 2014 cụ thể như sau:

Khối lượng phát hành theo kỳ hạn phát hành

2014

2013

2012

Tỷ trọng

Tỷ trọng

Tỷ trọng

 

(%)

(%)

(%)

Bằng hoặc dưới 1 năm

10,6

20,3

21,0

2 năm

13,8

30,0

25,2

3 năm

29,5

27,2

29,5

5 năm

26,6

15,5

21,0

10 năm

13,4

4,7

3,2

15 năm

6,1

2,3

0,0

 Tổng

100,0

100,0

100,0

Trong đó:

T 3 năm tr xung:

53,9

77,5

75,8

T 5 năm tr xung:

80,6

93,0

96,8

 

– Về lãi suất phát hành TPCP: Lãi suất phát hành TPCP năm 2014 đã theo rất sát diễn biến của thị trường. Theo đó, lãi suất giảm mạnh từ đầu năm cho tới cuối tháng 10 và tăng nhẹ trong tháng 11-12. So với thời điểm đầu năm 2014, lãi suất phát hành tại thời điểm cuối năm 2014 giảm 1,3-2,45% đối với các kỳ hạn; và khá phù hợp với mặt bằng lãi suất trên thị trường tiền tệ (so với đầu năm 2014, lãi suất trên thị trường tiền tệ giảm từ 1,5-1,9%). Trong đó đặc biệt lãi suất phát hành kỳ hạn 10, 15 năm lần lượt giảm 2,5% và 1,2% so với đầu năm 2014.

Về dư nợ trái phiếu Chính phủ: Dư nợ TPCP đến cuối năm 2014 là xấp xỉ 550 nghìn tỷ đồng (bằng 13,84% GDP năm 2014), tăng 26% so với dư nợ tại thời điểm cuối năm 2013.

23.1.2.2. Trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh

Về khối lượng phát hành: Trong năm 2014 Ngân hàng Phát triển (NHPT) huy động được khoảng 23.000 tỷ đồng (bằng 58% hạn mức bảo lãnh năm 2014), giảm 42% so với mức phát hành năm 2013; và NHCSXH huy động được hơn 4.500 tỷ đồng (bằng 30% hạn mức bảo lãnh năm 2014), giảm 36% so với mức phát hành năm 2013. Nguyên nhân việc 2 ngân hàng chính sách phát hành thấp hơn so với kế hoạch là do theo quy định của Thông tư số 34/2012/TT-BTC, các ngân hàng chính sách thực hiện phát hành trái phiếu theo tình hình giải ngân các chương trình tín dụng và trong năm 2014, 2 ngân hàng chính sách không có tăng trưởng tín dụng.

Về kỳ hạn phát hành: Kỳ hạn phát hành bình quân trong năm 2014 đã cải thiện so với năm 2013, từ mức 2,83 năm lên đến 3,57 năm đối với Ngân hàng phát triển và từ mức 2,99 năm lên đến 3,69 năm đối với Ngân hàng chính sách xã hội.

Thống kê khối lượng phát hành theo kỳ hạn như sau:

Khối lượng phát hành theo kỳ hạn phát hành

NHPT

NHCSXH

Tỷ trọng

Tỷ trọng

 

(%)

(%)

2 năm

16,9

4,9

3 năm

46,8

56,8

5 năm

36,0

36,2

10 năm

0,3

0,0

15 năm

0,0

2,1

 Tổng

100,0

100,0

Trong đó:

 

 

Từ 3 năm trở xuống:

63,7

61,7

Từ 5 năm trở xuống:

99,7

97,9

Về lãi suất phát hành: Tương tự như TPCP, lãi suất phát hành trái phiếu được CP bảo lãnh năm 2014 đã theo rất sát diễn biến của thị trường.

+ Đối với trái phiếu NHPT: So với thời điểm đầu năm 2014, lãi suất phát hành giảm 2,7%-2,8% đối với kỳ hạn 3-5 năm

+ Đối với trái phiếu NHCSXH: So với thời điểm đầu năm, lãi suất phát hành giảm 2,2%-3,7% đối với kỳ hạn 3-5 năm.

Về dư nợ trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh: Dư nợ TP CPBL đến cuối năm 2014 là 170.784 tỷ đồng (bằng 4,30% GDP), giảm 0,2% so với dư nợ tại thời điểm cuối năm 2013.

– Về kỳ hạn còn lại của trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh:

Kỳ hạn còn lại bình quân danh mục trái phiếu của 2 ngân hàng chính sách trong năm 2014 giảm so với năm 2013. Đối với NHPT, kỳ hạn còn lại bình quân trong năm 2014 là 2,49 năm, giảm 0,59 năm so với năm 2013. Đối với NHCSXH, kỳ hạn còn lại bình quân trong năm 2014 là 1,57 năm, giảm 0,36 năm so với năm 2013. Điều này cho thấy sức ép phát hành đảo nợ của các ngân hàng chính sách là rất lớn; nếu không có sự điều hành tốt để có phát hành mới đảo nợ, thu hồi vốn trái phiếu để trả nợ thì sẽ gây sức ép mạnh lên ngân sách nhà nước trong khi NSNN đang nợ NHPT cấp bù chênh lệch lãi suất và phí quản lý đến năm 2014 vào khoảng gần 3.700 tỷ đồng (NHCSXH đã được thanh toán đủ), gây sức ép thanh khoản rất lớn đến 2 ngân hàng chính sách.

23.1.2.3. Trái phiếu Chính quyền địa phương

– Trong năm 2014, có 4 địa phương phát hành trái phiếu là TP. Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, TP. Đà Nẵng và tỉnh Bắc Ninh với tổng khối lượng phát hành đạt 7.400 tỷ đồng, bằng 88% so với khối lượng phát hành trong năm 2013.

– Tính đến cuối năm 2014, dư nợ thị trường trái phiếu chính quyền địa phương đạt 24.019 tỷ đồng, tương đương 0,6% GDP năm 2014.

23.1.3. Thị trường trái phiếu doanh nghiệp

– Hoạt động phát hành sơ cấp trên thị trường trái phiếu doanh nghiệp ở mức khá thấp với số lượng và khối lượng phát hành còn hạn chế. Trong năm 2014, khối lượng đăng ký phát hành trái phiếu theo hình thức riêng lẻ là khoảng 40.000 tỷ đồng và khối lượng phát hành thực tế là khoảng 23.000 tỷ đồng.

– Dư nợ thị trường trái phiếu doanh nghiệp tại thời điểm cuối năm 2014 là 99.542 tỷ đồng, bằng 2,5% GDP năm 2014 và tăng 2% so với dư nợ thị trường trái phiếu doanh nghiệp tại thời điểm cuối năm 2013.

23.1.4. Cơ cấu nhà đầu tư

– Theo loại hình nhà đầu tư: Tại thời điểm cuối năm 2014, các ngân hàng thương mại nắm giữ khoảng 80%; các công ty bảo hiểm, quỹ đầu tư, công ty chứng khoán nắm giữ khoảng 9%; các tổ chức và cá nhân khác nắm giữ khoảng 1% dư nợ thị trường trái phiếu. Như vậy trên thị trường trái phiếu, các ngân hàng thương mại vẫn là nhà đầu tư chính trên thị trường và tỷ lệ nắm giữ trái phiếu của các nhà đầu tư không có nhiều thay đổi so với năm 2013.

– Theo địa lý: Tại thời điểm cuối năm 2014, các nhà đầu tư nước ngoài (bao gồm cả tỷ lệ sở hữu của pháp nhân nước ngoài và của tổ chức thành lập trong nước có sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài) nắm giữ khoảng 12%, các nhà đầu tư trong nước nắm giữ khoảng 88% tổng giá trị thị trường trái phiếu. Tuy nhiên, nhà đầu tư nước ngoài offshore chỉ nắm giữ 1,5% tổng giá trị thị trường trái phiếu, tăng 0,5% so với năm 2013.

23.1.5. Thị trường thứ cấp trái phiếu Chính phủ, trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh

– Năm 2014, thanh khoản thị trường trái phiếu thứ cấp có nhiều chuyển biến tích cực. Khối lượng trái phiếu giao dịch bình quân thực hiện qua hệ thống ở Sở Giao dịch chứng khoán tăng từ mức 1.600 tỷ đồng/ngày trong năm 2013 lên mức 3.600 tỷ đồng/ngày trong năm 2014.

– Mặt bằng lãi suất giao dịch thứ cấp giảm mạnh trong năm 2014, phản ánh sự phục hồi về thanh khoản và xu hướng giảm lãi suất trên thị trường sơ cấp. So với thời điểm đầu năm 2014, lãi suất trên thị trường thứ cấp giảm 1,70%-2,21% đối với các kỳ hạn dưới 10 năm.

23.1.6. Về khung khổ pháp lý

Ngày 26/9/2014, Chính phủ ban hành Nghị định số 88/2014/NĐ-CP quy định về dịch vụ xếp hạng tín nhiệm, tạo bước cơ sở quan trọng để phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp trong thời gian tới. Ngoài ra, Bộ Tài chính đã tiến hành đánh giá rà soát 3 Thông tư hướng dẫn phát hành TPCP, TP CPBL và TP CQĐP. Trên cơ sở đó nghiên cứu sửa đổi 3 Thông tư này và dự kiến sẽ ban hành các Thông tư sửa đổi vào năm 2015.

23.1.7. Về thành viên đấu thầu trái phiếu

Năm 2014 là năm thứ hai triển khai thí điểm việc lựa chọn các nhà tạo lập thị trường (thành viên đấu thầu trái phiếu Chính phủ) bao gồm 24 thành viên với các nghĩa vụ và quyền lợi cụ thể, trong đó có nghĩa vụ bắt buộc phải mua khối lượng trái phiếu Chính phủ tối thiểu trong năm (1.800 tỷ đối với công ty chứng khoán và 3.500 tỷ đổi với ngân hàng thương mại). Qua đánh giá đã cho thấy danh sách các thành viên đã phát huy tích cực vai trò hỗ trợ thị trường trái phiếu Chính phủ sơ cấp và thứ cấp, góp phần huy động vốn thành công trong năm 2014. Trong năm 2014 đã lựa chọn được 22/24 thành viên tích cực nhất để tiếp tục là thành viên đấu thầu trái phiếu Chính phủ năm 2015.

23.2. Đánh giá kết quả đạt được và tồn tại hạn chế

23.2.1. Kết quả đạt được

– Việc huy động trái phiếu Chính phủ và trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh năm 2014 đã cơ bản đạt mục tiêu đề ra, góp phần rất quan trọng trong việc điều hành ngân sách trong bối cảnh thu ngân sách năm 2014 gặp nhiều khó khăn và đảm bảo vốn cho thực hiện nhiệm vụ chính trị của 2 ngân hàng chính sách. Tăng trưởng tín dụng thấp, CSTT hợp lý và sự phối hợp chặt chẽ giữa chính sách tài khóa và CSTT đã hỗ trợ công tác huy động vốn trên thị trường trái phiếu trong năm 2014.

– Các thành viên đấu thầu trái phiếu Chính phủ đã tham gia đấu thầu tích cực trên thị trường sơ cấp và giao dịch trên thị trường thứ cấp, góp phần phát triển thị trường trái phiếu.

– Lãi suất phát hành đã được điều hành hợp lý, phù hợp với tình hình thị trường trái phiếu và thị trường tiền tệ. Lãi suất kỳ hạn 10, 15 năm đã giảm đáng kể, giúp giảm chi phí huy động vốn của chủ thể phát hành.

– Năm 2014 kỳ hạn phát hành bình quân đã được cải thiện đáng kể, khối lượng phát hành kỳ hạn 10 năm và 15 năm tăng cao (tăng gấp 3 lần so với năm 2013), đạt mức kỷ lục trong những năm qua.

– Trái phiếu doanh nghiệp bắt đầu phát triển trở lại, nhưng mới ở mức độ cầm chừng, sau một thời gian có rất ít đợt phát hành trái phiếu doanh nghiệp.

23.2.2. Tồn tại hạn chế

23.2.2.1. Về cơ chế chính sách

– Trong các tháng cuối năm 2014, một số chính sách mới ban hành đã có tác động không thuận lợi cho thị trường trái phiếu. Cụ thể, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 78/2014/QH13 về xây dựng dự toán ngân sách nhà nước năm 2015, trong đó quy định Chính phủ chỉ phát hành trái phiếu kỳ hạn từ 5 năm trở lên; Ngân hàng nhà nước đã ban hành Thông tư số 36/2014/TT-NHNN thay thế Thông tư số 13/2010/TT-NHNN quy định về các tỷ lệ bảo đảm an toàn vốn trong hoạt động của tổ chức tín dụng, theo đó áp đặt tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn để đầu tư vào các loại trái phiếu (trước đây không quy định giới hạn). Các chính sách này đã gây tác động đến tâm lý cho thị trường làm tăng khối lượng bán, giảm giá và tăng lãi suất trong các tháng cuối năm 2014.

– Khung pháp lý thị trường TPCP đã được cải tiến trong giai đoạn 2011 – 2014, nhưng để phát triển thị trường hơn nữa cần tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý bao gồm việc xây dựng hệ thống các đại lý cấp I đúng nghĩa để hỗ trợ thị trường trái phiếu sơ cấp và thứ cấp.

– Chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa quản lý ngân quỹ với phát triển thị trường trái phiếu. Do vậy, nhiều khi do sức ép huy động cho NSNN đã làm tăng lãi suất huy động trong khi thanh khoản thị trường tốt, lãi suất tiền tệ vẫn không thay đổi

23.2.2.2. Về cơ sở nhà đầu tư

Hệ thống nhà đầu tư trên thị trường trái phiếu vẫn chưa thay đổi. Các ngân hàng thương mại vẫn nắm giữ khoảng 80% tổng khối lượng trái phiếu. Tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài còn thấp khoảng 12% tổng khối lượng trái phiếu (bao gồm cả tỷ lệ sở hữu của pháp nhân nước ngoài và của tổ chức thành lập trong nước có sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài). Sự tham gia của nhà đầu tư nước ngoài (không có hiện diện tại Việt Nam) là rất ít, chỉ chiếm khoảng 1 – 2% tổng khối lượng trái phiếu. Do đó, chưa có nhiều nhà đầu tư có nhu cầu đầu tư dài hạn, ngoài công ty bảo hiểm, trong khi quy mô thị trường này còn nhỏ. Điều này gây khó khăn cho công tác tái cơ cấu kỳ hạn trái phiếu do thị trường trái phiếu còn phụ thuộc nhiều vào chính sách điều hành tiền tệ của NHNN.

23.2.2.3. Về công tác phát hành:

– Thị trường TPCP: Sản phẩm phát hành trên thị trường TPCP vẫn còn chưa đa dạng, chủ yếu là trái phiếu trả lãi cố định hàng năm và thanh toán gốc 1 lần khi đáo hạn. Các sản phẩm như trái phiếu lãi suất thả nổi, trái phiếu zero coupon,… chưa được triển khai thực hiện.

– Thị trường TP CQĐP: Trái phiếu chính quyền địa phương thực sự vẫn chưa thu hút được sự quan tâm của các nhà đầu tư, dẫn đến việc phát hành gặp rất nhiều khó khăn, chưa thực sự đáp ứng được nhu cầu huy động vốn của các địa phương trong điều kiện thu ngân sách còn khó khăn.

23.2.2.4. Về thị trường thứ cấp

Thị trường trái phiếu thứ cấp vẫn tồn tại những hạn chế nhất định, ảnh hưởng đến độ tin cậy của các thông tin giao dịch thông báo trên hệ thống, gồm: (i) giao dịch repo chưa được báo cáo đúng bản chất, do vậy ảnh hưởng đến tính chính xác về bản chất và thời điểm của lãi suất giao dịch; (ii) Cơ chế thanh toán và lưu ký vẫn còn những hạn chế khi NHNN chưa sẵn sàng thực hiện chức năng thanh toán trái phiếu.

23.3. Định hướng và giải pháp phát triển thị trường trái phiếu

23.3.1. Định hướng và giải pháp cho năm 2015

           

Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho phát hành trái phiếu Chính phủ, trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh và trái phiếu chính quyền địa phương thông qua việc ban hành thế hệ hai các Thông tư hướng dẫn nghị định 01/2011/NĐ-CP về phát hành TPCP, trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh và trái phiếu chính quyền địa phương.

– Trin khai đng b các gii pháp huy đng vn cho NSNN trong bi cnh thu NSNN có khó khăn.

– Phn đu hoàn thành kế hoch huy đng vn thông qua phát hành TPCP năm 2015 đng thi tìm kiếm các ngun vay mi như: Phát hành TPCP ra th trưng vn quc tế, phát hành trái phiếu ngoi t ti th trưng trong nưc….

23.3.2. Định hướng điều hành thị trường trái phiếu trong giai đoạn 2015-2020

V khung kh pháp lý

Trên cơ sở thực hiện các nhiệm vụ theo Lộ trình phát triển thị trường trái phiếu Việt Nam đến năm 2020 quy định tại Quyết định số 261/QĐ-BTC ngày 1/2/2013, các giải pháp về chính sách sẽ tập chung vào các hướng sau:

a) Tập trung phát triển thị trường trái phiếu Chính phủ, mở rộng cơ sở hàng hóa, nghiên cứu phát triển các sản phẩm mới trên thị trường TPCP. Phát triển thị trường TPCP để làm nền tảng phát triển thị trường trái phiếu nói chung, đặc biệt là trái phiếu doanh nghiệp.

b) Phát triển hệ thống cơ sở nhà đầu tư trên thị trường trái phiếu đặc biệt là nhà đầu tư có tổ chức như các quỹ đầu tư trái phiếu, quỹ hưu trí tự nguyện, công ty bảo hiểm… thực hiện đồng bộ các giải pháp để thu hút nhà đầu tư nước ngoài tham gia vào thị trường trái phiếu, đặc biệt là trái phiếu Chính phủ.

c) Phát triển cơ sở nhà đầu tư và các dịch vụ hỗ trợ như dịch vụ xếp hạng tín nhiệm;

d) Tăng cường phối hợp chặt chẽ giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ. Tiếp tục phối hợp trao đổi thông tin về kế hoạch, thời điểm, kỳ hạn và lãi suất phát hành, điễn biến thị trường để đảm bảo hài hòa công tác phát hành công cụ nợ của Chính phủ và phối hợp nhịp nhàng giữa thị trường trái phiếu và thị trường tiền tệ.

V điu hành th trưng

a) Thc hin tái cơ cu danh mc n trái phiếu Chính ph

b) Đi vi vic t chc phát hành trái phiếu Chính phủ, KBNN tổ chức triển khai công tác phát hành trái phiếu Chính phủ tập trung vào: (i) Xây dựng và công khai lịch biểu phát hành; (ii) Tăng thanh khoản cho thị trường TPCP theo hướng giảm số mã trái phiếu và tăng quy mô niêm yết của một mã trái phiếu.

c) Thực hiện điều hành lãi suất trái phiếu Chính phủ, trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh theo hướng linh hoạt, phù hợp với điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng nhà nước và diễn biến trên thị trường trái phiếu và thị trường tiền tệ.

d)Hoàn thiện hệ thống thanh toán bù trừ theo mô hình đối tác trung tâm và phối hợp với Ngân hàng nhà nước hỗ trợ thanh toán trái phiếu nhanh chóng.

đ) Tổ chức đối thoại theo cơ chế hiện hành, trao đổi định kỳ với thành viên thị trường để nắm bắt nhu cầu đầu tư, cũng như các nhận định về xu hướng lãi suất để Bộ Tài chính có căn cứ điều chỉnh kế hoạch phát hành trái phiếu cho phù hợp.

e) Xây dựng cơ sở dữ liệu phát hành TPDN trên cơ sở Thông tư 211/2012/TT-BTC và Nghị định 90/2011/NĐ-CP để củng cố việc công bố thông tin trên thị trường sơ cấp để thúc đẩy sự phát triển của thị trường TPDN./.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1        Luật Quản lý nợ công số 29/2009/QH12 ngày 17/6/2009

2        Nghị định 01/2011/NĐ-CP ngày 5/1/2011 về phát hành trái phiếu Chính phủ, trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh và trái phiếu chính quyền địa phương

3        Nghị định 90/2011/NĐ-CP ngày 14/10/2011 về phát hành trái phiếu doanh nghiệp

4        Thông tư 17/2012/TT-BTC ngày 8/2/2012 hướng dẫn phát hành trái phiếu Chính phủ tại thị trường trong nước

5        Thông tư 81/2012/TT-BTC ngày 22/5/2012 hướng dẫn về phát hành trái phiếu chính quyền địa phương tại thị trường trong nước

6        Thông tư 34/2012/TT-BTC ngày 1/3/2012 hướng dẫn về phát hành trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh

7        Thông tư 211/2012/TT-BTC ngày 5/12/2012 hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định 90/2011/NĐ-CP ngày 14/10/2011 của Chính phủ về phát hành trái phiếu doanh nghiệp

8        Quyết định 261/QĐ-BTC ngày 1/2/2013 phê duyệt Lộ trình phát triển thị trường trái phiếu Việt Nam đến năm 2020

9        Nghị định 88/2014/NĐ-CP ngày 26/9/2014 quy định về dịch vụ xếp hạng tín nhiệm

10    Nghị quyết 78/2014/QH13 ngày 10/11/2014 về dự toán ngân sách nhà nước năm 2015

 

Bản in

 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *