Chuyên đề 23 THỰC TRẠNG, GIẢI PHÁP VÀ ĐỊNH HƯỚNG KHAI THÁC NGUỒN THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TỪ ĐẤT ĐAI, TÀI NGUYÊN, TÀI SẢN NHÀ NƯỚC GIAI ĐOẠN 2016 – 2020

Chuyên đề 23: THỰC TRẠNG, GIẢI PHÁP VÀ ĐỊNH HƯỚNG KHAI THÁC NGUỒN THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TỪ ĐẤT ĐAI, TÀI NGUYÊN, TÀI SẢN NHÀ NƯỚC GIAI ĐOẠN 2016 – 2020

 ThS. Tô Quỳnh Thảo, Cục Quản lý Công sản – Bộ Tài chính

23.1. Quản lý, phát triển lĩnh vực đất đai, tài nguyên, tài sản nhà nước giai đoạn 2006-2015

23.1.1. Chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về quản lý, phát triển lĩnh vực đất đai, tài nguyên, tài sản nhà nước giai đoạn 2006-2015

Nghị quyết của Đại hội Đảng khoá XI, Kết luận số 22-KL/TW ngày 25 tháng 5 năm 2012 của Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XI đã xác định quan điểm về quản lý, phát triển đất đai, tài nguyên, TSNN như sau:

(1) Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Nhà nước không thừa nhận việc đòi lại đất đã giao cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trong quá trình thực hiện các chính sách đất đai. Không đặt vấn đề điều chỉnh lại đất nông nghiệp đã giao cho hộ gia đình và cá nhân.

(2) Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt; là tài sản, nguồn lực to lớn của đất nước; quyền sử dụng đất là hàng hoá đặc biệt. Khai thác, sử dụng hợp lý, hiệu quả và tiết kiệm tài nguyên đất. Kiểm soát chặt chẽ việc chuyển đất nông nghiệp, nhất là đất trồng lúa, đất có rừng sang sử dụng vào mục đích khác nhằm đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia, bảo vệ môi trường, sinh thái. Khuyến khích tích tụ ruộng đất, phát triển trang trại, doanh nghiệp nông nghiệp phù hợp với điều kiện của từng vùng.

(3) Việc quản lý, phát triển đất đai, tài nguyên và TSNN phải bảo đảm hài hòa các lợi ích của Nhà nước, người sử dụng đất và nhà đầu tư. Xây dựng cơ chế và có những giải pháp để đất đai, tài nguyên, TSNN trở thành nguồn lực cho sự phát triển của đất nước. Sử dụng hiệu quả các công cụ về giá, thuế trong quản lý đất đai nhằm khắc phục tình trạng lãng phí, tham nhũng.

 (4) Cần bảo đảm tính thống nhất và đồng bộ giữa quy định của Luật Đất đai, Luật Tài nguyên, Luật Quản lý, sử dụng TSNN với các luật khác có liên quan, giữ vững nguyên tắc pháp chế và tính nghiêm minh của pháp luật về đất đai, hạn chế các quy định mang tính chất hợp thức hóa vi phạm. Đảm bảo thống nhất quản lý nhà nước về đất đai từ Trung ương đến cơ sở, tập trung đầu mối để nâng cao vai trò của đại diện chủ sở hữu trong việc quản lý, sử dụng đất đai, tài nguyên, TSNN. Tăng cường trách nhiệm và nghĩa vụ của mọi cá nhân, tổ chức trong xã hội đối với việc quản lý và sử dụng đất đai, TSNN.

23.1.2. Thực trạng quản lý, phát triển lĩnh vực đất đai, tài nguyên, tài sản nhà nước giai đoạn 2006-2015

23.1.2.1. Quản lý và phát triển nguồn lực tài chính từ đất đai

Chính sách khai thác nguồn lực tài chính từ đất đai gồm: (i) Thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất; (ii) Thuế, phí, lệ phí liên quan đến sử dụng đất (thuế thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản, thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, lệ phí trước bạ…); (iii) Góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất; (iv) Xác định giá trị quyền sử dụng đất vào giá trị doanh nghiệp khi cổ phần hoá.

Trên cơ sở Luật đất đai năm 2003 và các luật, pháp luật về thuế có liên quan, Chính phủ đã triển khai thực hiện công tác thu NSNN từ đất. Mặc dù kết quả điều tiết chưa thật đầy đủ song số thu NSNN từ đất tăng trưởng cao qua các năm tạo nguồn lực quan trọng để đầu tư phát triển hạ tầng, trong đó thu từ tiền sử dụng đất chiếm tỷ trọng cao nhất và có mức tăng cao nhất. Nếu như năm 2002 số thu từ các khoản từ đất khoảng 5.486 tỷ đồng, chiếm 4.4% tổng số thu NSNN. Đến năm 2010, số thu NSNN từ đất đai đã tăng lên là 67.767 tỷ đồng, chiếm 11.21% tổng số thu NSNN. Trong giai đoạn từ 2011-2015, thu từ đất đai bình quân đạt khoảng 60.000 tỷ đồng/năm, chiếm khoảng 10% thu NSNN. Trong đó, số thu từ thu tiền sử dụng đất, thu tiền thuê đất chiếm tỷ trọng cao, khoảng 76% tổng thu từ đất.

  Nhìn chung, chính sách tài chính đất đai theo Luật Đất đai 2003 đã đạt được những kết quả nhất định: (i) từng bước được thể chế hoá theo nguyên tắc thị trường, minh bạch, bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, thu hẹp sự phân biệt giữa tổ chức trong nước và tổ chức ngoài nước. (ii) Số thu NSNN từ đất tăng trưởng cao qua các năm, trong đó thu từ tiền sử dụng đất chiếm tỷ trọng cao nhất và có mức tăng cao nhất. (iii) Các công cụ tài chính về quản lý đất đai như: khung giá, bảng giá đất; thẩm định giá và đấu giá đất; tổ chức phát triển quỹ đất… dần được hoàn thiện đã giúp cho thị trường thị trường bất động sản phát triển và đồng bộ với các yếu tố khác của kinh tế thị trường.

Bên cạnh kết quả quan trọng đã đạt được, việc khai thác nguồn lực tài chính từ đất đai theo Luật Đất đai 2003 vẫn còn một số tồn tại, hạn chế như sau: (i) Hệ thống chính sách tài chính đất đai mặc dù đã tương đối đầy đủ và đồng bộ nhưng vẫn còn phức tạp, thiếu tính ổn định; nhiều vấn đề phát trong thực tiễn chậm được xử lý dẫn đến lúng túng, khó khăn trong tổ chức thực hiện; (ii) Nguồn lực tài chính đất đai là rất lớn nhưng chưa được khai thác đầy đủ và chủ động. Một phần địa tô chênh lệch từ đất chưa được tập trung vào NSNN; (iii) Hệ thống các công cụ tài chính đã được hình thành nhưng chưa đủ mạnh và còn bị hạn chế về năng lực, kết quả hoạt động dẫn đến kết quả thu tài chính cũng như vai trò điều tiết, kiểm soát thị trường còn hạn chế.

Để khắc phục tồn tại, hạn chế nêu trên, Luật Đất đai năm 2013 được Quốc hội thông qua và có hiệu lực thi hành ngày 01/7/2014. Theo đó, đã thống nhất chính sách tài chính đất đai với nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài; đưa tỷ lệ (%) đơn giá thuê đất về mức hợp lý để vừa động viên nguồn lực từ đất đai, vừa khuyến khích các tổ chức, cá nhân thuê đất để SXKD. Cơ chế đấu giá quyền sử dụng đất đã được hoàn thiện một bước, góp phần bảo đảm tính công khai trong quá trình Nhà nước giao đất, cho thuê đất. Nhờ chính sách thu hợp lý mà số thu từ đất luôn vượt chỉ tiêu thu NSNN đề ra; tính đến ngày 10/6/2016, số thu tiền sử dụng đất là 67.744 tỷ đồng, số thu từ thuê đất, thuê mặt nước là 13.448 tỷ đồng.

23.1.2.2. Quản lý và phát triển nguồn lực tài chính từ tài nguyên

Việt Nam có diện tích 331.698 km² với bờ biển dài hơn 3.200km và có nguồn tài nguyên khoáng sản tương đối phong phú về chủng loại, một số loại có trữ lượng, tiềm năng lớn có thể phát triển thành các ngành công nghiệp, như dầu khí, bô-xít, ti-tan, than, đất hiếm…; tổng lượng nước mặt (khoảng 830 tỷ m3/năm), nước dưới đất (khoảng 63 tỷ m3/năm) khá lớn; có nhiều hệ sinh thái rừng với sự đa dạng và phong phú về các loài động vật, thực vật. Đồng thời, Việt Nam cũng là một quốc gia biển, tài nguyên biển vô cùng phong phú, nhất là nguồn lợi thủy sản, tiềm năng vị thế phát triển giao thông, cảng biển, du lịch…

Trong điều kiện tích luỹ thấp, nguồn nhân lực dồi dào song vẫn còn hạn chế về chất lượng, trình độ khoa học và công nghệ còn ở mức thấp, việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài còn nhiều khó khăn và phải đối mặt với sự cạnh tranh vốn từ các quốc gia khác thì việc chú trọng, nâng cao hiệu quả khai thác tài nguyên thiên nhiên không chỉ đáp ứng được nhu cầu sản xuất mà còn tạo nguồn vốn để phục vụ cho tăng trưởng và phát triển kinh tế.

Thời gian qua, Việt Nam đã tập trung khai thác với quy mô tương đối lớn nguồn tài nguyên thiên nhiên sẵn có như: than đá, dầu khí, quặng kim loại, rừng…. đã góp phần quan trọng thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế. Nguồn thu từ việc khai thác tài nguyên thiên nhiên đóng góp một phần khá lớn trong tổng thu NSNN, như: trong giai đoạn từ 2011-2014, thu từ khai thác dầu thô chiếm bình quân khoảng 16 %, thu từ đất đai chiếm khoảng 10%, thu thuế tài nguyên chiếm khoảng 5% thu ngân sách nhà nước; thu từ tiền cấp quyền khai thác khoáng sản bình quân khoảng 4.500 tỷ/năm (chưa bao gồm thu từ đấu giá quyền khai thác khoáng sản)…Tuy nhiên, việc khai thác tài nguyên, đất đai với tư cách là một nguồn lực quan trọng cho phát triển KTXH đang gặp những khó khăn và đặt ra những thách thức.

23.1.2.3. Quản lý và phát triển nguồn lực tài chính từ tài sản kết cấu hạ tầng

Để phát triển nguồn lực tài chính từ tài sản kết cấu hạ tầng, Nhà nước cho phép áp dụng đầu tư theo hình thức đối tác công – tư để thực hiện dự án đầu tư, quản lý, vận hành công trình kết cấu hạ tầng; chuyển đổi phương thức khai thác tài sản kết cấu hạ tầng từ các cơ quan, đơn vị, tổ chức được giao quản lý tự tổ chức khai thác sang hình thức chuyển nhượng quyền thu phí, cho thuê quyền khai thác, chuyển nhượng có thời hạn quyền khai thác công trình kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ cho các tổ chức, đơn vị, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế. Tổ chức, đơn vị, cá nhân có quyền khai thác, đồng thời chịu trách nhiệm bảo trì kết cấu hạ tầng giao thông theo hợp đồng ký kết và quy định của pháp luật.

Hiện nay, tài sản kết cấu hạ tầng giao thông (đường bộ, đường sắt, đường thuỷ nội địa, cảng biển, hàng không) là nền tảng vật chất có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển KTXH của mỗi quốc gia. Có kết cấu hạ tầng giao thông hiện đại, nền kinh tế mới có điều kiện để tăng trưởng nhanh và bền vững.

Về vốn đầu tư, nguồn vốn quốc tế tài trợ gần 40% tổng đầu tư CSHT, trong đó vốn tư nhân đang tham gia rất khiêm tốn (chiếm khoảng 15%). Theo số liệu của Bộ Giao thông vận tải cung cấp, nhu cầu nguồn vốn xã hội hóa đầu tư cơ sở hạ tầng 2016-2020 là 452.644 tỷ đồng; trong đó, vốn góp nhà nước là: 156.802 tỷ đồng, vốn nhà đầu tư huy động là 295.842 tỷ đồng. Tinh thần tái cơ cấu đầu tư công đã chỉ ra tổng đầu tư cho phát triển CSHT giai đoạn 2011-2020 là khoảng 10% GDP. Tuy vậy, để có thể vượt qua bẫy thu nhập trung bình, cùng với rất nhiều yếu tố cần được quan tâm, xem xét, tổng đầu tư cho phát triển CSHT phải nằm trong khoảng từ 10-13% GDP.[1]

Về cơ chế chính sách: Nhiều chính sách mới ưu tiên, khuyến khích đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông đã được ban hành, đáng chú ý là chính sách thu hút các thành phần kinh tế tham gia đầu tư phát triển. Các chính sách đều tập trung vào việc đẩy mạnh huy động các nguồn lực để ưu tiên xây dựng mới hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông. Bên cạnh chiến lược ưu tiên dành vốn ODA cho phát triển kết cấu hạ tầng giao thông, Chính phủ cũng chú trọng ưu tiên thu hút vốn FDI và vốn tư nhân thông qua các hình thức BOT, BTO, BT, PPP. Bên cạnh đó, Chính phủ, UBND các địa phương cũng quan tâm đến chính sách khai thác kết cấu hạ tầng giao thông nhằm có nguồn vốn để đầu tư quay trở lại cho lĩnh vực kết cấu hạ tầng giao thông.

Nhờ đó, hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông đã có những bước phát triển đáng kể; cụ thể tính đến năm 2016: (i) Tổng chiều dài đường bộ hơn 570 km (gấp 2 lần so với 2010: gần 280.000 km; gấp 4 lần so với năm 1990); (ii) đường sắt dài trên 3.000 km, trong đó đường chính tuyến là hơn 2.600 km;  (iii) 44 cảng biển với năng lực thông qua hơn 50 triệu tấn/năm; (iv) đường thuỷ nội địa với công suất các cảng sông hơn 5 triệu tấn/năm. (iv) 22 sân bay, trong đó có 05 sân bay quốc tế; v.v… góp phần phát triển kinh tế – xã hội của đất nước trong những năm qua.

23.1.2.4. Quản lý và phát triển nguồn lực tài chính từ sắp xếp lại nhà đất thuộc sở hữu nhà nước tại các cơ quan, đơn vị, tổ chức tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước

Tài sản nhà nước là nhà, đất tại các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, các tổ chức và tại các doanh nghiệp thuộc các Bộ, ngành, địa phương, các Tập đoàn, Tổng công ty do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập có diện tích rộng, phần lớn nằm tại những vị trí đắc địa của các đô thị, trung tâm công nghiệp lớn, vì vậy đây là những tài sản có giá trị trong tổng tài sản quốc gia.

a) Các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp: Đang quản lý khoảng hơn 2,5 tỷ m2 đất và 129 triệu m2 nhà với tổng giá trị hơn 956 nghìn tỷ đồng (đất là 700 nghìn tỷ và nhà là 255 nghìn tỷ), chiếm gần 93% tổng giá trị TSNN tại các cơ quan HCSN (là 1.003 nghìn tỷ đồng). Ngày 6/3/1998, Chính phủ ban hành Nghị định số 14/1998/NĐ-CP về quản lý tài sản nhà nước. Đây là văn bản quy phạm pháp luật đầu tiên do Chính phủ ban hành quy định các nguyên tắc cơ bản về quản lý, sử dụng TSNN tại cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp. Trên cơ sở đó, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các Bộ trong phạm vi thẩm quyền được giao đã ban hành các văn bản quy phạm pháp luật quy định cụ thể về tiêu chuẩn, định mức sử dụng, phân cấp thẩm quyền, trách nhiệm quản lý nhà nước và chế độ quản lý, sử dụng trụ sở làm việc. Nhà, đất tại cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp đã được quản lý chặt chẽ hơn. Tuy nhiên, do sự thay đổi về cơ cấu tổ chức bộ máy, chức năng nhiệm vụ của cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp, đổi mới cơ chế quản lý… nên một bộ phận đất đai, trụ sở làm việc của các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp bị sử dụng lãng phí, sai mục đích như: bỏ trống, cho thuê, cho mượn, sử dụng để kinh doanh, dịch vụ sai mục đích được giao… dẫn đến thất thoát TSNN.

b) Các doanh nghiệp nhà nước: đang giữ nhiệm vụ kinh doanh trong những lĩnh vực kinh tế mũi nhọn của đất nước. Các doanh nghiệp này đang quản lý, sử dụng quỹ nhà, đất có diện tích lớn và có chung một số đặc điểm: (i) Do của lịch sử để lại (qua 2 cuộc kháng chiến và thời kỳ bao cấp kéo dài) phần lớn nhà, đất nằm tại các vị trí đắc địa, có giá trị thương mại cao (như trụ sở của Tập đoàn Điện lực Việt Nam tại 75 Đinh Tiên Hoàng – hồ Hoàn Kiếm, Tổng công ty Đường sắt Việt Nam tại 136 Hàm Nghi – đối diện nhà hát lớn thành phố Hồ Chí Minh…) ; (ii) Quá trình đô thị hóa, các cơ sở sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nằm tại các trung tâm thành phố không còn phù hợp với phát triển quy hoạch đô thị, gây ô nhiễm, ùn tắc giao thông ; (iii) Nền kinh tế chuyển từ cơ chế quản lý tập trung bao cấp sang cơ chế thị trường, nhu cầu sử dụng nhà, đất vào SXKD cũng thay đổi để phù hợp với mô hình kinh doanh mới, dẫn đến một bộ phận dôi dư. Để xử lý, nhiều doanh nghiệp đã thực hiện chuyển mục đích hoặc cho thuê lại kiếm lời, cá biệt có một số nhà, đất bị chiếm dụng hoặc bỏ trống.

Để khắc phục được tình trạng trên, nhằm khai thác có hiệu quả, tiết kiệm nguồn lực tài chính từ quỹ nhà, đất phục vụ cho phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã có một số chính sách tài chính cơ bản sau đây:

(1) Chính sách sắp xếp lại nhà, đất thuộc sở hữu nhà nước (Quyết định số 09/2007/QĐ-TTg ngày 19/01/2007 của Thủ tướng Chính phủ): Theo chính sách này, cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp, Tập đoàn, Tổng công ty Nhà nước được chủ động sắp xếp lại nhà, đất hiện có theo đúng chức năng, nhiệm vụ, nhu cầu cho SXKD và phù hợp với quy hoạch sử dụng đất của địa phương; số nhà, đất dôi dư được phép bán – chuyển nhượng, chuyển mục đích hoặc thu hồi. Số tiền thu được từ từ đất đai trong sắp xếp lại nhà, đất được cân đối giữa quyền lợi của Nhà nước và người đang sử dụng nhà, đất như sau: (i) Cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp được sử sụng 100% tiền bán nhà và chuyển nhượng quyền sử dụng đất để đầu tư trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp; (ii) Doanh nghiệp, Tập đoàn, Tổng công ty Nhà nước được sử dụng 50% số tiền thu được từ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, 50% còn lại nộp NSNN, trường hợp chuyển mục đích sử dụng đất thì nộp NSNN 100% số tiền thu được.

Đến hết tháng 12/2015, các Bộ, ngành, địa phương trong cả nước thực hiện báo cáo kê khai và đề xuất phương án xử lý nhà đất đối với 154.679 cơ sở nhà đất, với tổng diện tích khoảng 3.006 triệu m2 đất và 139,4 triệu m2 nhà. Theo đó, đã thực hiện bán, chuyển nhượng gần 6,3 triệu m2 đất; thu hồi trên 9 triệu m2 đất; chuyển mục đích sử dụng đất trên 3,3 triệu m2 đất. Tổng số tiền thu được từ bán tài sản trên đất, chuyển nhượng quyền sử dụng đất và chuyển mục đích sử dụng đất của các Bộ, ngành, Tập đoàn, tổng công ty nhà nước và các địa phương trên phạm vi cả nước là trên 35 ngàn tỷ đồng.

Hiện trên tài khoản tạm giữ do Bộ Tài chính làm chủ tài khoản tính đến ngày 10/6/2016: 1.611 tỷ đồng.

(2) Chính sách tài chính di dời các cơ sở gây ô nhiễm môi trường và theo quy hoạch: Đối tượng phải di dời được tạo nguồn vốn từ vị trí đất cũ theo cơ chế chuyển nhượng quyền sử dụng đất hoặc chuyển mục đích sử dụng đất tại vị trí cũ. Mức hỗ trợ cho doanh nghiệp phải di dời không quá 70% nguồn vốn thu được từ xử lý đất tại vị trí cũ (sau khi trừ các khoản chi phí theo quy định); riêng đối với các dự án đầu tư tại vị trí mới thuộc lĩnh vực đặc biệt ưu đãi đầu tư theo quy định của pháp luật thì được hỗ trợ không quá 100% nguồn vốn thu được từ đất tại vị trí cũ (sau khi trừ các khoản chi phí theo quy định).

Tổng số thu từ thực hiện di dời các cơ sở ô nhiễm môi trường và theo quy hoạch theo Quyết định số 86/2010/QĐ-TTg tính đến 30/12/2015: 747,3 tỷ đồng. Tính đến ngày 10/6/2016, số dư tài khoản tạm giữ do Bộ Tài chính làm chủ tài khoản là: 481.658.641 đồng.

(3) Cơ chế tài chính về đất đai đối với đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ tài chính: Nhằm tạo sự chủ động, nâng cao trách nhiệm quản lý cho các đơn vị sự nghiệp công lập Luật quản lý, sử dụng tài sản nhà nước đã xác lập cơ chế đổi mới về cơ bản theo hướng giao tài sản cho các đơn vị như giao vốn cho doanh nghiệp nhằm tạo điều kiện cho đơn vị chủ động trong việc sử dụng tài sản được giao để thực hiện nhiệm vụ, đồng thời khai thác tối đa công suất của tài sản để nâng cao chất lượng dịch vụ công, cải thiện đời sống của cán bộ, nhân viên. Theo đó, đơn vị sự nghiệp tự chủ tài chính được quyền sử dụng TSNN (bao gồm cả nhà, đất) vào mục đích: cho thuê, SXKD dịch vụ, liên doanh, liên kết. Trong trường hợp này đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ tài chính phải nộp tiền sử dụng đất hoặc nộp tiền thuê đất (đối với phần diện tích đất được sử dụng vào các mục đích này) theo quy định của pháp luật về đất đai.

(4) Chính sách về nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước: Trong thời kỳ 1960 – 1990, với chủ trương tạo lập quỹ nhà ở cho cán bộ, công nhân viên chức, người hưởng lương từ NSNN, Nhà nước đã đầu tư xây dựng khoảng hơn 16 triệu m2 nhà ở (trong đó có khoảng hơn 3 triệu m2 nhà chung cư). Ngoài ra, còn có quỹ nhà ở do các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp tự bố trí làm nhà ở cho cán bộ, công chức trong thời kỳ bao cấp. Để chấm dứt bao cấp về nhà ở, Chính phủ đã có Nghị định số 61/CP ngày 5/7/1994 về mua bán và kinh doanh nhà ở. Theo đó, đại bộ phận quỹ này đã được bán theo giá ưu đãi cho người đang thuê.

23.1.3. Đánh giá kết quả, hạn chế của việc quản lý, phát triển lĩnh vực đất đai, tài nguyên, tài sản nhà nước

23.1.3.1. Về tài sản là đất đai

a) Kết quả đạt được

– Chính sách, pháp luật đất đai từng bước được hoàn thiện, đã đóng góp tích cực cho phát triển kinh tế, góp phần giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo ASXH; đã hầu như xóa bỏ sự phân biệt giữa nhà đầu tư trong nước và nước ngoài trong việc tiếp cận đất đai; chính sách thu chi NSNN về đất đai (thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất và các loại thuế phí về đất; chi bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng) được xây dựng theo chính sách giá thị trường và có tính đến yếu tố cân đối NSNN. 

– Phân bổ quỹ đất đáp ứng cho các mục tiêu phát triển KTXH, quốc phòng, an ninh. Việc chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất về cơ bản phù hợp với chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Quỹ đất nông nghiệp đã đáp ứng yêu cầu bảo đảm an ninh lương thực quốc gia, bảo vệ và phát triển rừng. Quỹ đất dành cho công nghiệp, dịch vụ, xây dựng kết cấu hạ tầng, phát triển đô thị được mở rộng, từng bước đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và nhu cầu đô thị hóa. Diện tích đất chưa sử dụng cơ bản đã được đưa vào sử dụng.

– Các quyền của người sử dụng đất được mở rộng và được Nhà nước bảo đảm thực hiện đã làm cho người sử dụng đất gắn bó hơn với đất đai, yên tâm đầu tư, phát triển SXKD để tăng hiệu quả sử dụng đất.

  • Thị trường bất động sản trong đó có quyền sử dụng đất đã tạo lập được cơ chế hoạt động, phát triển tương đối đồng bộ; từng bước hoàn thiện chính sách tài chính đất đai theo hướng tiếp cận cơ chế thị trường, đã huy động được nguồn vốn xã hội cho thị trường, thu hút đầu tư cho phát triển, đưa đất đai trở thành nguồn nội lực, nguồn vốn để phát triển đất nước.
  • b) Tồn tại, bất cập

– Nguồn lực về đất đai chưa được khai thác và phát huy đầy đủ để trở thành nguồn nội lực quan trọng phục vụ phát triển KTXH của đất nước. Việc sử dụng đất ở nhiều nơi còn lãng phí, hiệu quả thấp. Nhiều diện tích đất bị thu hồi để thực hiện các dự án đầu tư nhưng tiến độ đầu tư chậm, còn để hoang phí đất đai, gây nhiều bức xúc trong xã hội. Nhiều địa phương chưa thực hiện được cơ chế tạo quỹ đất “sạch” để đấu giá quyền sử dụng đất, tăng nguồn thu cho NSNN.

– Một số quy định của pháp luật chưa giải quyết hài hòa về lợi ích giữa Nhà nước, người sử dụng đất và nhà đầu tư.  Chưa thực sự có chế tài nghiêm minh đối với những vi phạm pháp luật đất đi nên vẫn còn tình trạng nợ đọng nghĩa vụ tài chính đất đai kéo dài.

– Thị trường BĐS trong đó có quyền sử dụng đất còn bộc lộ những yếu kém, không ổn định, phát triển thiếu lành mạnh, giao dịch “ngầm” khá phổ biến. Tình trạng đầu cơ đất đai còn xảy ra đẩy giá đất tăng cao đã có tác động không nhỏ đến ổn định kinh tế vĩ mô. Chưa đáp ứng được nhu cầu nhà ở, đất ở của các đối tượng chính sách xã hội, cán bộ công chức, người có thu nhập thấp. Việc cấp giấy chứng nhận đối với đất ở tại đô thị còn chậm.

– Việc xây dựng quy trình thủ tục hành chính về đất đai theo hướng một cửa vẫn chưa hoàn thiện. Việc áp dụng công nghệ thông tin trong quản lý, sử dụng đất đai còn dừng lại ở một số thành phố lớn, chưa phổ cập trong cả nước. Chưa có hệ thống thông tin đất đai toàn quốc.

23.1.3.2. Về tài sản là tài nguyên

Trong thời gian qua, việc quản lý và khai thác tài nguyên đã từng bước phát triển. Cùng với sự hoàn thiện của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật có liên quan về chính sách quản lý, khai thác tài nguyên khoán sản, rừng, biển, và các loại tài nguyên khác, nguồn thu NSNN từ tài nguyên được huy động và ngày càng tăng góp phần quan trọng để đảm bảo cân đối thu, chi NSNN. Tuy nhiên, còn có nhiều khó khăn, thách thức như sau:

Thứ nhất, nhiều loại tài nguyên đất đai, khoáng sản, nguồn nước, rừng, nguồn lợi thủy sản đã được điều tra, đánh giá nhưng mới chỉ ở mức nắm được thông tin cơ bản, thiếu thông tin quan trọng để có thể lượng hóa được giá trị kinh tế cũng như định hướng cho công tác khai thác. Hệ thống cơ sở dữ liệu, thông tin về tài nguyên chưa được đầy đủ, đồng bộ, thống nhất đảm bảo phục vụ tốt cho công tác quản lý nhà nước nói chung và tổ chức thực hiện khai thác.

Thứ hai, công tác lập quy hoạch, kế hoạch khai thác tài nguyên còn nhiều bất cập, thiếu cơ sở khoa học và tính liên kết vùng để đảm bảo cho việc khai thác, phân bổ nguồn lực hợp lý; mất cân đối cung – cầu và chưa cân đối với nguồn lực tài chính để thực hiện. Thực tế cho thấy, công tác này hiện chưa đảm bảo sự cân bằng tổng thể, xử lý hoài hòa lợi ích giữa nhu cầu phát triển trước mắt và lâu dài; xung đột lợi ích giữa các ngành, lĩnh vực, nhóm lợi ích trong xã hội. Hệ quả, nhiều nơi, đất đai, nguồn lực tài nguyên không được khai thác, sử dụng đúng mục đích, hiệu quả, gây lãng phí, thất thoát.

Thứ ba, việc định giá tài nguyên, quyền khai thác tài nguyên mới được thực hiện đối với đất đai, khoáng sản nhưng vẫn còn nhiều bất cập. Phương pháp xác định giá dựa trên các yếu tố, thông tin giả định, dự báo, có tính chủ quan, không phù hợp với điều kiện của Việt Nam; thời gian xác định và phê duyệt giá theo thị trường kéo dài dẫn đến chậm trễ trong thông báo, thu nộp nghĩa vụ tài chính; chính sách thu từ đất đai, tài nguyên gắn liền với điều hành thu – chi NSNN của cơ quan tài chính nhưng xác định giá tài nguyên, giá đất, giá tiền cấp quyền khai thác để tính thu hiện do cơ quan tài nguyên môi trường thực hiện là nguyên nhân dẫn đến tình trạng kéo dài thời gian, mất cân đối thu – chi từ đất đai, ảnh hưởng đến cân đối chung của NSNN. Mặc dù, theo quy định của Luật Tài nguyên nước đã quy định thu tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước, Luật bảo vệ và phát triển rừng đã quy định thu tiền sử dụng rừng, tiền thuê rừng… nhưng đến nay vẫn chưa có quy định về phương pháp xác định cụ thể nên thực tế chưa tổ chức thực hiện thu được đối với các khoản thu này. Kể cả đối với tiền sử dụng khu vực biển, Bộ Tài chính đã phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành Thông tư liên tịch quy định mức thu tiền sử dụng khu vực biển khi giao khu vực biển cho tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng nhưng mức thu này vẫn chưa phản ánh được đầy đủ bản chất kinh tế của việc sử dụng, khai thác tài nguyên biển.

Thứ tư, về phương thức giao quyền khai thác tài nguyên, tính công khai, minh bạch còn hạn chế. Việc cấp quyền khai thác, sử dụng đất đai, tài nguyên chủ yếu vẫn theo hình thức chỉ định; việc giao quyền khai thác, sử dụng theo hình thức đấu giá chưa được đẩy mạnh. Theo quy định của Luật Khoáng sản, Nhà nước quy hoạch những loại tài nguyên cấp quyền khai thác thông qua hình thức đấu giá, loại tài nguyên cấp quyền không thông qua đấu giá nhưng thiếu cơ sở khoa học, thực tiễn để xác định quy hoạch này và vẫn chịu tác động khá mạnh của yếu tố chủ quan. Đến nay, đối với khu vực mỏ thuộc thẩm quyền cấp phép của trung ương vẫn chưa một lần thực hiện đấu giá thành công để giao quyền khai thác theo quy định của pháp luật. Luật Đất đai năm 2013 đã quy định Nhà nước chủ động thu hồi đất, thực hiện bồi thường, giải phóng mặt bằng để giao đất, cho thuê đất thông qua hình thức đấu giá nhưng do nguồn lực tài chính còn hạn chế nên vẫn tồn tại cơ chế cho phép nhà đầu tư ứng tiền bồi thường, giải phóng mặt bằng nên các địa phương đã vận dụng để thực hiện giao đất, cho thuê đất không thông qua hình thức đấu giá. Luật Biển Việt Nam chưa có quy định về giao khu vực biển cho tổ chức, cá nhân sử dụng, khai thác tài nguyên biển thông qua hình thức đấu giá; tình trạng tương tự cũng xảy ra đối với cấp quyền khai thác tài nguyên nước theo Luật Tài nguyên nước hay sử dụng tài nguyên rừng theo quy định của Luật bảo vệ và phát triển rừng.

Thứ năm, tình trạng khai thác tài nguyên thiên nhiên không tuân thủ theo đúng quy hoạch, kế hoạch được phê duyệt dẫn đến tình trạng khai thác quá mức, lãng phí, nguồn tài nguyên có nguy cơ bị cạn kiệt. Với tốc độ khai thác tài nguyên khoáng sản, chủ yếu xuất khẩu ở dạng thô, nguyên khai, giá trị thấp, không có sự tính toán khai thác, điều chỉnh phù hợp với nhu cầu của thị trường thì nguy cơ Việt Nam phải nhập khẩu tài nguyên để đáp ứng cho nhu cầu trong nước cũng như phải chi nhiều tỷ USD để nhập khẩu sản phẩm tài nguyên đã qua chế biến, tinh luyện là hiện hữu, trong tương lai gần. Tài nguyên đất đai khai thác, sử dụng kém hiệu quả; đất nông, lâm trường với diện tích khoảng 7.916.366 ha nhưng phần lớn để hoang hóa, sử dụng lãng phí, không hiệu quả trong khi người thực sự cần đất sản xuất thì phải đi thuê lại; tình trạng thoái hóa đất, đất bị hoang mạc hóa ngày càng gia tăng. Tài nguyên rừng, tài nguyên nước, nguồn lợi thủy sản ngày càng bị suy giảm nghiêm trọng. Tài nguyên vì thế chưa được phát huy hết tiềm năng, thế mạnh. Một số nguồn tài nguyên tái tạo bị suy thoái, cạn kiệt quá mức dẫn đến mất khả năng tái tạo, phục hồi.

Thứ sáu, nguồn lực tài chính khai thác được từ đất đai, tài nguyên thiên nhiên chưa được định hướng cụ thể, sử dụng phù hợp, hiệu quả, bền vững cho đầu tư phát triển kinh tế xã hội và bảo vệ môi trường. Thực tế, người dân ở những nơi khai thác tài nguyên chưa được hưởng lợi một cách xứng đáng, thậm chí chịu nhiều ảnh hưởng bất lợi từ việc khai thác tài nguyên gây ra, chất lượng cuộc sống bị suy giảm do phải hứng chịu tình trạng ô nhiễm môi trường. Để xử lý vấn đề này, Bộ Tài chính đã có giải pháp về tài chính điều tiết nguồn thu từ khai thác tài nguyên, theo đó, tiền cấp quyền khai thác tài nguyên khoáng sản nộp toàn bộ vào ngân sách địa phương đối với trường hợp thuộc thẩm quyền cấp phép của địa phương; nộp 70% vào ngân sách trung ương, 30% vào ngân sách địa phương đối với trường hợp thuộc thẩm quyền cấp phép của trung ương. Tuy nhiên, vẫn cần phải có giải pháp căn bản, lâu dài kết hợp giữa khai thác, phân bổ và sử dụng nguồn lực tài chính từ tài nguyên thiên nhiên đảm bảo mục tiêu phát triển bền vững.

23.1.3.3. Về tài sản kết cấu hạ tầng

a) Kết quả đạt được: Quán triệt chủ trương “Hạ tầng cần phải đi trước một bước, đảm bảo nhu cầu phát triển KTXH” nên việc phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông thời gian qua đã được Chính phủ đặc biệt quan tâm cả về vốn đầu tư cũng như có các chính sách mới khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia đầu tư phát triển, cụ thể:

Vốn đầu tư cho việc xây dựng và phát triển tài sản hạ tầng được quan tâm và tăng dần trong các năm. Các cơ chế, chính sách mới được xây dựng và hoàn thiện theo hướng đẩy mạnh huy động các nguồn lực để ưu tiên xây dựng mới hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông, kêu gọi xã hội hóa để phát triển. Do đó, hệ thống kết cấu hạ tầng đã có những bước phát triển đáng kể góp phần phát triển KTXH của đất nước trong những năm qua.

b) Tồn tại hạn chế: Mặc dù đã đạt được những kết quả đáng khích lệ, song việc phát triển và khai thác nguồn lực tài chính từ tài sản kết cấu hạ tầng giao thông thời gian qua vẫn còn nhiều hạn chế, cụ thể:

Thứ nhất, hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển KTXH của đất nước, đang được coi là “điểm nghẽn” cản trở sự phát triển. Nhu cầu và khả năng bố trí vốn cho phát triển kết cấu hạ tầng giao thông bị mất cân đối.

Thứ hai, chính sách khai thác nguồn lực tài chính từ tài sản kết cấu hạ tầng giao thông thiếu và yếu nên không thu hút được nguồn vốn từ các thành phần kinh tế; cụ thể:

– Việc thu phí mới áp dụng đối với đường bộ, song chỉ áp dụng rải rác một số ít tuyến đường quốc lộ có lưu lượng phương tiện giao thông lớn và chủ yếu do nhà nước thực hiện. Chỉ có 6 Trạm thu phí thực hiện bán quyền thu phí cho nhà đầu tư với thời hạn 05 năm (từ 2010-2015).

– Đối với các lĩnh vực kết cấu hạ tầng giao thông khác như đường sắt, cảng biển, cảng hàng không thì việc cho thuê khai thác mới bắt đầu được thực hiện từ năm 2009 với mức thu căn cứ còn rất hạn chế.

Thứ ba, chính sách kêu gọi khu vực tư nhân (kể cả nước ngoài) đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông còn mờ nhạt và chưa đồng bộ; đồng thời còn nghiêng về kêu gọi vốn đầu tư xây dựng mới mà không chú ý tới việc khai thác tài sản kết cấu hạ tầng giao thông để phục vụ phát triển chính tài sản kết cấu hạ tầng giao thông.

Thứ 4, do nguồn lực tài chính hạn hẹp và phải dốc sức tập trung ưu tiên thực hiện đầu tư xây dựng mới nên công tác bảo trì tài sản kết cấu hạ tầng giao thông chưa được quan tâm đúng mức, làm cho các công trình hiện có xuống cấp nhanh chóng.

23.1.3.4. Tài sản là nhà đất thuộc sở hữu nhà nước tại các cơ quan, đơn vị, tổ chức tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước

a) Kết quả đã đạt được

Việc quản lý, khai thác nguồn lực tài chính từ quỹ nhà, đất tại các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp, Tập đoàn, Tổng công ty, công ty nhà nước đã có bước chuyển quan trọng và đạt được những kết quả cơ bản như sau:

–  Nắm được số lượng, diện tích, hiện trạng sử dụng và tình trạng hồ sơ pháp lý của nhà, đất do các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập, các tổ chức; các doanh nghiệp 100% nhà nước thuộc các Bộ, ngành, địa phương và các Tập đoàn, Tổng công ty Nhà nước đang quản lý, sử dụng.

 – Thông qua việc xử lý, sắp xếp lại nhà, đất đã quản lý, sử dụng nhà, đất hợp lý và hiệu quả hơn: Đối với cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp sử dụng nhà, đất theo tiêu chuẩn, định mức; đối với các doanh nghiệp sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh và phù hợp với quy hoạch sử dụng đất của địa phương. Đồng thời giành quỹ đất để xây dựng các công trình phúc lợi xã hội như trường học, bệnh viện và các công trình phúc lợi quan trọng khác của địa phương… góp phần chỉnh trang quy hoạch lại đô thị theo hướng hiện đại.

  • Tạo nguồn tài chính từ quỹ đất để đầu tư xây mới, cải tạo, nâng cấp trụ sở làm việc cho cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp, để đầu tư xây dựng cơ sở SXKD mới, đầu tư chiều sâu, tăng thêm năng lực SXKD cho doanh nghiêp và bổ sung nguồn thu cho NSNN.
  • b) Tồn tại, hạn chế

Cơ chế chính sách sắp xếp lại nhà, đất và huy động nguồn lực từ đất tương đối đầy đủ, nhưng việc triển khai thực hiện còn chậm và mang tính hình thức đối phó ở một số cơ quan, đơn vị. Một số Bộ, ngành, địa phương, Tập đoàn, Tổng công ty Nhà nước chưa quan tâm đúng mức đến việc sắp xếp xử lý nhà, đất nói riêng và việc khai thác, quản lý có hiệu quả nguồn lực tài sản là nhà, đất nói chung. Chậm thực hiện việc quản lý, sử dụng nhà, đất theo đúng phương án đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.

– Quy hoạch sử dụng đất chậm được công bố công khai, gây khó khăn cho việc sắp xếp nhà, đất và thực hiện di dời; cản trở các đối tượng có nhà, đất sắp xếp lại hoặc di dời tiếp cận thực hiện các thủ tục để được giao đất hoặc cho thuê đất, làm cơ sở để chủ động lập dự án đầu tư xây dựng cơ sở mới, phục vụ di dời cơ sở cũ.

Việc sắp xếp, xử lý nhà, đất theo Quyết định số 09/2007/QĐ-TTg chưa bao quát hết đối tượng quản lý, sử dụng nhà, đất: đối tượng Quyết định số 09/2007/QĐ-TTg  là công ty 100% vốn nhà nước và các doanh nghiệp đến thời điểm Quyết định 09/2007/QĐ-TTg có hiệu lực chưa phê duyệt phương án cổ phần hóa. Trong khi đó số lượng các doanh nghiệp phê duyệt phương án cổ phần hóa trước ngày Quyết định số 09/2007/QĐ-TTg có hiệu lực chiếm giữ số lượng nhà, đất lớn. Riêng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, doanh nghiệp cổ phần hóa của Tổng công ty Lương thực Miền Nam quản lý 50 địa chỉ nhà, đất; doanh nghiệp cổ phần của Tập đoàn Dệt may Việt Nam quản lý 35 địa chỉ nhà, đất; doanh nghiệp CPH Tổng công ty xi măng Việt nam quản lý 11 địa chỉ nhà, đất;… Sau khi cổ phần hóa, các công ty tổ chức lại sản xuất kinh doanh và bộ máy nên có nhiều đất đai không còn nhu cầu sử dụng nữa; bên cạnh đó nhiều doanh nghiệp chưa thực hiện đăng ký, sử dụng đất đai, thậm chí không thực hiện nghĩa vụ với NSNN nhưng Nhà nước chưa kiểm tra, kiểm soát hết.

– Cơ chế quản lý đất đai tại đơn vị sự nghiệp công lập chưa được khai thác hết nguồn lực: Đơn vị sự nghiệp công lập đang quản lý, sử dụng diện tích nhà, đất lớn (1,5 tỷ m2) đất, trong đó: khu vực sự nghiệp công lập chiếm 1,2 tỷ m2 bằng khoảng 80% diện tích. Hiện tại, phần lớn đất của các đơn vị sự nghiệp công lập vẫn sử dụng đất dưới hình thức giao đất không thu tiền sử dụng đất. Mặc dù Nhà nước đã đổi mới cơ chế hoạt động và cơ chế quản lý tài sản tại các đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ tài chính, nhưng những cơ chế này chưa đủ mạnh để khai thác có hiệu quả và khơi dậy được nguồn lực tài chính đất đai tại các đơn vị này.

– Khi chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường thì chức năng, nhiệm vụ, tổ chức và phương thức SXKD của các Tập đoàn, Tổng công ty Nhà nước có nhiều thay đổi, song việc chuyển đổi công năng của tài sản trên đất và mục đích sử dụng đất không theo kịp, đặc biệt là đất của một số ngành như lương thực, thực phẩm, nội thương, cơ khí, quốc phòng… dẫn đến hiệu quả khai thác quỹ đất thấp, thậm chí bỏ trống, cho thuê, bị lấn chiếm. Quá trình công nghiệp hoá cũng như phát triển kinh doanh, dịch vụ không gắn kết với quy hoạch sử dụng đất dẫn đến tình trạng nơi thừa đất, nơi thiếu đất hoặc gây ra ô nhiễm môi trường, ùn tắc giao thông… Nhiều cơ sở nhà, đất buộc phải di dời đã gây ra những thiệt hại lớn về tài sản, về vốn, vật chất xã hội và tác động đến sự ổn định đời sống người lao động. Do chính sách cho thuê đất thời kỳ trước đây nghiêng về ưu đãi sản xuất, chậm được điều chỉnh theo thị trường nên không thúc đẩy sử dụng đất tiết kiệm, thậm chí dẫn đến cho thuê lại để hưởng chênh lệch từ đất mà lẽ ra nguồn lực này phải được tập trung vào NSNN. Khi thực hiện đổi mới các doanh nghiệp nhằm mục tiêu hình thành nên các Tập đoàn, Tổng công ty Nhà nước lớn hoạt động đa ngành, đa lĩnh vực. Trong đó kinh doanh bất động sản là một lĩnh vực mang lại nhiều lợi nhuận, đặc biệt là trong giai đoạn chính sách thu tiền sử dụng đất, tiền cho thuê đất chưa sát với giá chuyển nhượng đất trên thị trường đã đem lại địa tô chênh lệch lớn, từ đó đã hấp dẫn các Tập đoàn, Tổng công ty đầu tư nguồn lực lớn vào lĩnh vực này. Do đó, các Tập đoàn, Tổng công ty vừa sao nhãng nhiệm vụ chính, giá trị cốt lõi của doanh nghiệp, vừa tạo ra sự phát triển quá nóng cho thị trường bất động sản. Đến nay, khi chính sách thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đã có sự thay đổi, quan hệ cung cầu trên thị trường bất động sản thay đổi thì sẽ có thể dẫn đến sự đổ vỡ, gây ra những hậu quả nghiêm trọng.

23.2. Định hướng quản lý, phát triển lĩnh vực đất đai, tài nguyên, tài sản nhà nước giai đoạn tới (2016-2020) và định hướng đến 2030

23.2.1. Chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước trong việc quản lý, phát triển lĩnh vực đất đai, tài nguyên, tài sản nhà nước giai đoạn tới

Để huy động một cách có hiệu quả vốn đầu tư đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra trong Nghị quyết, Cương lĩnh, Chiến lược phát triển kinh tế xã hội được thông qua; tại Quyết định số 2174/QĐ-TTg ngày 12/11/2013, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo việc khai thác nguồn lực tài chính từ đất đai, tài sản nhà nước phục vụ phát triển kinh tế – xã hội giai đoạn 2013-2020 cần bám sát các quan điểm, mục tiêu sau:

Đất đai, tài sản nhà nước, tài sản kết cấu hạ tầng được xác định là nguồn lực tài chính quan trọng phục vụ phát triển kinh tế xã hội đất nước, đảm bảo an sinh xã hội.

Việc khai thác nguồn lực tài chính từ đất đai, tài sản nhà nước phải phù hợp với quy hoạch, kế hoạch; đảm bảo lợi ích trước mắt cũng như lâu dài; tiết kiệm, hiệu quả; xử lý hài hoà lợi ích giữa Nhà nước và các đối tượng có liên quan.

Chính sách khai thác nguồn lực tài chính từ đất đai, tài sản nhà nước phải thực hiện theo nguyên tắc thị trường có sự điều tiết của nhà nước, đảm bảo công khai, minh bạch và phát triển bền vững.

23.2.2. Mục tiêu chiến lược quản lý, phát triển lĩnh vực đất đai, tài nguyên, tài sản nhà nước

Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt mục điêu phát triển lĩnh vực đất đai, tài nguyên, tài sản nhà nước đến năm 2020 như sau:

a) Về tài chính đất đai

Đổi mới hoàn thiện chính sách tài chính về đất đai, Nhà nước chủ động điều tiết giá đất trong thị trường bằng quan hệ cung – cầu; bảo đảm xác định giá đất theo nguyên tắc thị trường có sự điều tiết của nhà nước. Trong giai đoạn từ 2011- 2020, tổng thu ngân sách nhà nước về đất đai dự báo đạt 700.000 tỷ đồng, bình quân thu hàng năm đạt 70.000 tỷ đồng.

b) Về khai thác nguồn lực tài chính từ tài sản nhà nước

– Phấn đấu đến năm 2018, hoàn thành việc sắp xếp lại, xử lý nhà, đất thuộc sở hữu nhà nước trên phạm vi cả nước (bao gồm cả các Tập đoàn, Tổng công ty Nhà nước), số tiền thu được từ việc bán tài sản trên đất và chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với cơ sở nhà đất dôi dư theo hình thức đấu giá, xử lý quỹ nhà, đất gắn với tái cấu trúc các Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty Nhà nước dự báo đạt khoảng 100.000 tỷ đồng.

  • Phấn đấu đến năm 2020, hoàn thành việc di dời các cơ sở gây ô nhiễm môi trường, cơ sở phải di dời theo quy hoạch được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Số tiền thu được từ việc chuyển mục đích sử dụng đất theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; bán, chuyển nhượng cơ sở nhà, đất (cũ) dự báo đạt khoảng 18.000 tỷ đồng.
  • c) Về khai thác nguồn lực tài chính từ tài sản kết cấu hạ tầng.

– Huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông. Thu hút khu vực tư nhân đầu tư vốn để xây dựng, kinh doanh kết cấu hạ tầng giao thông; theo đó ngân sách nhà nước giảm bớt chi do thu hút nguồn vốn khu vực tư nhân vào phát triển cơ sở hạ tầng bình quân khoảng 42.000 tỷ/năm.

– Thí điểm cho thuê quyền khai thác, chuyển nhượng có thời hạn đối với một số loại tài sản kết cấu hạ tầng giao thông như: đường sắt, cảng biển, cảng hàng không.

– Thực hiện điều tiết một cách hợp lý giá trị tăng thêm từ đất không do đầu tư của người sử dụng đất đem lại. Trước mắt hoàn thiện cơ chế, quy định của pháp luật và triển khai thực hiện triệt để phương thức khai thác quỹ đất hai bên đường khi đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ theo quy định của pháp luật đất đai và pháp luật khác có liên quan. Dự báo số thu từ khai thác quỹ đất hai bên đường bình quân đến năm 2020 khoảng 10.000 tỷ/năm.

23.2.3. Giải pháp thực hiện

Để khai thác có hiệu quả nguồn lực tài chính từ đất đai, tài nguyên, tài sản nhà nước, một trong những giải pháp tiên quyết đó là hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về quản lý, sử dụng tài sản công tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc khai thác nguồn lực tài chính từ đất đai, tài nguyên, TSNN. Trong đó, một số chính sách cần tập trung nghiên cứu, xây dựng đó là:

(1) Xây dựng Luật Quản lý, sử dụng tài sản công nhằm thể chế hóa Điều 53 Hiến pháp năm 2013, đảm bảo tất cả các loại tài sản công đều được quản lý chặt chẽ, hiệu quả bằng pháp luật; quy định những nguyên tắc chung nhất trong quản lý, sử dụng tài sản công; đổi mới phương thức quản lý, sử dụng tài sản công theo hướng nắm chắc, phản ánh đầy đủ tài sản công cả về giá trị và hiện vật; coi tài sản công là nguồn lực quan trọng theo tư tưởng Hồ Chí Minh, từ đó tạo cơ chế khai thác tài sản công hợp lý, tạo ra nguồn lực tài chính từ tài sản đóng góp có hiệu quả vào phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh quốc gia…; quản lý tài sản bằng các công cụ hiện đại, hiệu quả; thực hiện công khai, minh bạch về tài sản, góp phần chống lãng phí, thất thoát. Đồng thời, kịp thời ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành Luật cho từng lĩnh vực để bảo đảm có hiệu lực đồng thời với Luật Quản lý, sử dụng tài sản công (dự kiến từ 01/01/2018).

(2) Giải pháp về tài chính đất đai:

Trước hết cần hoàn thiện chính sách tài chính về đất đai nhằm tháo gỡ kịp thời những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện. Thực hiện Luật Đất đai năm 2013, Bộ Tài chính đã trình Chính phủ ban hành Nghị định số 45/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2016 về thu tiền sử dụng đất  và Nghị định số 46/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2016 về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước. Các chính sách này đã góp phần khuyến khích sử dụng đất đai có hiệu quả, tiết kiệm, số thu ngân sách nhà nước từ tiền sử dụng đất, tiền thuê đất tăng trưởng cao. Tuy nhiên, qua công tác quản lý và tổng hợp phản ánh của các địa phương, tổ chức cho thấy một số nội dung chính sách cần phải được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp để có căn cứ thực hiện. Vì vậy, Bộ Tài chính đã thực hiện rà soát các vướng mắc về chính sách thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất để đề xuất phương án xử lý, xây dựng Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định của Chính phủ về thu tiền sử dụng đất, thu tiền thuê đất, thuê mặt nước trình Chính phủ xem xét, quyết định.

Ngoài ra, cần áp dụng đồng bộ các biện pháp nhằm thúc đẩy thị trường bất động sản phát triển lành mạnh: (i) Thực hiện thanh toán không dùng tiền mặt trong giao dịch bất động sản và có chế tài đăng ký biến động về giao dịch bất động sản nhằm trách thất thu thuế; (ii) Tăng cường công tác quản lý, kiểm soát thị trường bất động sản; nâng cao vai trò, trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước ở Trung ương trong việc kiểm tra, thẩm định việc đầu tư, vay vốn ngân hàng đối với các dự án phát triển nhà ở, đầu tư bất động sản để đảm bảo nhà đầu tư có đủ năng lực thực hiện dự án; (iii) Thực hiện tái cơ cấu hàng hóa bất động sản cho phù hợp với nhu cầu của thị trường, đồng thời đẩy mạnh phát triển các loại hình nhà ở xã hội có sự tham gia, điều tiết của Nhà nước để đáp ứng nhu cầu nhà ở cho các đối tượng khó khăn về nhà ở, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, bảo đảm ASXH.

Đồng thời cần áp dụng các biện pháp về tổ chức thực hiện gồm:

(1) Nâng cao năng lực và hiệu quả hoạt động của hệ thống định giá đất và  công cụ hỗ trợ tài chính như: Quỹ phát triển đất, tổ chức Phát triển quỹ đất, tổ chức đấu giá đất; tiến tới chuyên môn hoá công tác đền bù, giải toả nhằm đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng, tạo quỹ đất sạch để đưa ra đấu giá giao đất, cho thuê đất.

(2) Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính về đất đai, tập trung tháo gỡ vướng mắc trong khâu tổ chức thực hiện nhất là trong việc giao đất, cho thuê đất, đấu giá quyền sử dụng đất, xác định giá đất, nghĩa vụ tài chính đất đai và bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất; …

(3) Rà soát lại việc quản lý sử dụng đất, đối với đất đang còn để trống thì nhanh chóng đưa vào sử dụng, đối với đất đã giao nhưng không có khả năng đầu tư đưa vào sử dụng thì chuyển sang mục đích khác có hiệu quả hơn đặc biệt là tại các KCN, KCX, KKT; thực hiện nghiêm việc thu hồi đất bị sử dụng lãng phí, sai mục đích theo quy định của pháp luật đất đai và có phương án cụ thể để khai thác, sử dụng có hiệu quả đối với đất sau thu hồi. Bên cạnh chế tài xử lý các trường hợp chậm trễ trong việc khai thác, sử dụng đất đai thì cũng cần phải có cơ chế khuyến khích, động viên tổ chức, cá nhân được giao đất sử dụng đất khẩn trương đưa đất đai vào khai thác sử dụng từ đó tăng hiệu quả kinh tế xã hội của đất đai.

(4) Tổ chức phối kết hợp giữa các cơ quan, đơn vị có liên quan ở các cấp trong việc khai thác nguồn lực tài chính từ đất đai nói chung và thu ngân sách nhà nước từ đất đai nói riêng. Có cơ chế kiểm tra, giám sát thường xuyên và  nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ.

23.2.4. Giải pháp về quản lý và phát triển tài nguyên

Trước hết, cần phải thống nhất quan điểm, chuyển cách tiếp cận về đất đai, tài nguyên thiên nhiên; đất đai, tài nguyên thiên nhiên phải được ứng xử với tư cách là nguồn lực cho phát triển kinh tế xã hội, phòng chống biến đổi khí hậu và bảo vệ môi trường. Đây là cơ sở để nghiên cứu, đề xuất các giải pháp nhằm khai thác, sử dụng có hiệu quả nguồn lực tài chính này, cụ thể:

Thứ nhất, cần phải thực hiện quản lý thống nhất nguồn lực từ đất đai, tài nguyên thiên nhiên trên cơ sở một khung pháp lý thống nhất có tính nguyên tắc từ đánh giá, xác định nguồn lực cho đến công cụ, phương thức, tổ chức khai thác và phân bổ, sử dụng nguồn lực khai thác được cho phát triển KTXH và cải thiện chất lượng cuộc sống của người dân.

Thứ hai, đẩy mạnh công tác điều tra, đánh giá tiềm năng đất đai, tài nguyên thiên nhiên trong đó cần phải lượng hóa, đánh giá được khía cạnh tài chính, giá trị thực tế có khả năng khai thác. Trong điều kiện NSNN khó khăn, không đủ bố trí thì việc khuyến khích xã hội hóa, ban hành cơ chế thu hút nguồn tài chính trong và ngoài nước cho công tác điều tra, đánh giá sẽ là giải pháp cơ bản cho vấn đề này; cần có cơ chế chia sẻ thông tin, lợi ích cụ thể khi tổ chức, cá nhân tham gia điều tra, đánh giá khi tổ chức thực hiện khai thác tài nguyên.

Thứ ba, công tác lập quy hoạch, kế hoạch khai thác tài nguyên cần phải dự báo, dựa trên thông tin nhu cầu của thị trường nhằm tối đa hóa lợi ích kinh tế thu được khi thực hiện khai thác và kịp thời có sự điều chỉnh phù hợp khi diễn biến thị trường có yếu tố bất lợi làm giảm giá trị tài nguyên khai thác. Đồng thời, phát huy tối đa lợi thế so sánh giữa các địa phương có tài nguyên gắn với liên kết vùng kinh tế nhằm hạn chế tình trạng khai thác tràn lan, tối ưu hóa việc khai thác nguồn lực tài chính từ tài nguyên cho phát triển KTXH của địa phương, của vùng, của đất nước. Ngoài ra, khi lập quy hoạch, kế hoạch khai thác tài nguyên cần phải đánh giá tác động môi trường một cách đầy đủ, nghiêm túc và xác định rõ chi phí môi trường mà xã hội, người dân nơi có tài nguyên phải gánh chịu khi thực hiện khai thác. Tài nguyên chỉ được khai thác khi tổng lợi ích xã hội thu được lớn hơn tổng chi phí mà xã hội phải bỏ ra, gánh chịu.

Thứ tư, nghiên cứu hoàn thiện các phương pháp định giá tài nguyên, định giá quyền khai thác tài nguyên phù hợp với thị trường và điều kiện cụ thể của Việt Nam đảm bảo thực hiện thu đúng, thu đủ các khoản nghĩa vụ tài chính có liên quan vào ngân sách nhà nước. Đẩy mạnh cấp quyền khai thác tài nguyên thông qua hình thức đấu giá, thu hẹp dần cấp quyền theo hình thức chỉ định. Đối với những khu vực mỏ, tài nguyên đã hết thời hạn khai thác thì phải thực hiện đấu giá để giao quyền tiếp tục khai thác, ứng xử như đối với trường hợp cấp quyền khai thác lần đầu. Việc giao quyền khai thác theo hình thức chỉ định chỉ nên áp dụng đối với trường hợp thực sự đặc biệt, ảnh hưởng đến an ninh quốc phòng, lợi ích quốc gia. Từng bước hình thành thị trường về quyền khai thác tài nguyên từ thị trường sơ cấp (cấp phép ban đầu) đến thị trường thứ cấp (chuyển nhượng quyền khai thác giữa các tổ chức, cá nhân). Thực hiện cải cách thủ tục hành chính, giao cơ quan tài chính thực hiện nhiệm vụ giá tài nguyên, định giá quyền khai thác tài nguyên nhằm đảm bảo cân đối thu – chi NSNN và rút ngắn thời gian xác định, kịp thời tính, thông báo cho tổ chức, cá nhân thực hiện các nghĩa vụ tài chính.

Thứ năm, nguồn lực tài chính từ đất đai, tài nguyên chỉ được sử dụng cho đầu tư phát triển có mục tiêu (trước hết là cơ sở hạ tầng kinh tế), bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên và môi trường sinh thái. Tổ chức, cá nhân khai thác tài nguyên thiên nhiên làm ảnh hưởng đến môi trường sinh thái phải nộp cho Nhà nước một khoản tiền tương ứng để khôi phục, hoàn trả môi trường sinh thái những giá trị đã mất tại địa điểm khác để đảm bảo cân bằng sinh thái bền vững. Thực hiện phương pháp điểm sinh thái để xác định giá trị môi trường sinh thái phải hoàn trả khi khai thác tài nguyên.

Thứ sáu, tỷ lệ phân chia nguồn tài chính khai thác được từ tài nguyên thiên nhiên giữa trung ương và địa phương cần phải có sự linh hoạt, điều chỉnh phù hợp với từng thời kỳ, giai đoạn phát triển; không nhất thiết tất cả các nguồn thu từ tài nguyên thiên nhiên thuộc về ngân sách địa phương trong khi hầu hết các cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội quan trọng, có tính liên kết giữa các vùng, địa phương và khắc phục hậu quả môi trường lại do ngân sách trung ương đảm nhiệm. Cần phải xử lý tốt mâu thuẫn giữa phân cấp nguồn thu tài nguyên với phân cấp về đầu tư giữa trung ương và địa phương.

Thứ bảy, tăng cường công khai, minh bạch, công tác kiểm tra, giám sát, trách nhiệm giải trình nhằm đảm bảo quản lý chặt chẽ và khai thác tiết kiệm, có hiệu quả nguồn lực từ đất đai, tài nguyên thiên nhiên phần lớn là hữu hạn này.

23.2.5. Giải pháp về tài sản kết cấu hạ tầng

Hoàn thiện khung pháp lý về quản lý tài sản kết cấu hạ tầng, trong đó tập trung vào xây dựng chính sách về quản lý tài sản kết cấu hạ tầng giao thông đường sắt và kết cấu hạ tầng thủy lợi theo hướng thu hút mạnh và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn đầu tư phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng; đẩy mạnh thực hiện xã hội hóa đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng, mở rộng các phương thức đầu tư; nâng cao chất lượng sử dụng vốn đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng. Tăng cường khai thác nguồn lực tài chính từ kết cấu hạ tầng giao thông nhằm huy động vốn phát triển kết cấu hạ tầng giao thông (đường bộ, cảng biển, cảng hàng không, đường sắt…) thông qua một số phương thức cho thuê quyền khai thác hoặc chuyển nhượng có thời hạn, cụ thể:

– Bán quyền thu phí sử dụng kết cấu hạ tầng giao thông đối với những công trình kết cấu hạ tầng giao thông có khả năng và điều kiện thu thuận lợi theo hướng cho phép các thành phần kinh tế tham gia kinh doanh trong việc thu phí đường bộ để tạo nguồn vốn phục vụ đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông; cụ thể: Nhà nước bán quyền thu phí sử dụng kết cấu hạ tầng giao thông trong một thời hạn nhất định cho tổ chức, đơn vị, cá nhân. Tổ chức, đơn vị, cá nhân mua quyền thu phí thực hiện thu phí theo giá do Nhà nước quy định; đồng thời chịu trách nhiệm bảo trì kết cấu hạ tầng giao thông trong thời hạn mua theo đúng cấp tiêu chuẩn hiện có của kết cấu hạ tầng giao thông.

– Cho thuê quyền khai thác tài sản kết cấu hạ tầng giao thông theo hướng cho phép các thành phần kinh tế được thuê quyền khai thác kết cấu hạ tầng giao thông để tạo nguồn vốn phục vụ đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông; cụ thể: Nhà nước cho thuê quyền khai thác kết cấu hạ tầng giao thông trong một thời hạn nhất định cho tổ chức, đơn vị, cá nhân. Tổ chức, đơn vị, cá nhân được thuê có quyền khai thác; đồng thời thực hiện bảo trì kết cấu hạ tầng giao thông theo Hợp đồng đã ký kết.

– Chuyển nhượng có thời hạn kết cấu hạ tầng giao thông đối với những kết cấu hạ tầng giao thông: Cơ chế này cho phép các thành phần kinh tế được nhận chuyển nhượng kết cấu hạ tầng giao thông trong một thời hạn nhất định để họ chủ động đầu tư xây dựng, bảo trì, kinh doanh khai thác kết cấu hạ tầng giao thông theo nguyên tắc của thị trường; cụ thể: Nhà nước chuyển nhượng có thời hạn kết cấu hạ tầng giao thông cho tổ chức, đơn vị, cá nhân. Người nhận chuyển nhượng có thời hạn kết cấu hạ tầng giao thông sẽ được Nhà nước bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp khi thực hiện khai thác, bảo trì, bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông; được quyết định thu phí sử dụng kết cấu hạ tầng giao thông sau khi có ý kiến thoả thuận của cơ quan có thẩm quyền; được chủ động thực hiện các biện pháp quản lý nhằm bảo đảm cấp tiêu chuẩn của kết cấu hạ tầng giao thông khi đầu tư xây dựng. Đồng thời, người nhận chuyển nhượng có trách nhiệm thực hiện đầu tư xây dựng, cải tạo, nâng cấp, khai thác, bảo trì kết cấu hạ tầng giao thông đã mua theo quy hoạch, đúng lộ trình cam kết.

– Khai thác quỹ đất 02 bên đường để tạo vốn phát triển tài sản kết cấu hạ tầng giao thông: Quá trình Nhà nước đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông tạo ra địa tô chênh lệch rất lớn của quỹ đất hai bên đường, nhất là tại các vị trí có lợi thế thương mại ở các đô thị có giá đất cao. Cơ chế hiện hành chưa tạo lập được hành lang pháp lý đủ mạnh để Nhà nước điều tiết nguồn lực này theo hướng coi đây là nguồn lực tài chính to lớn, quan trọng để đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông. Do đó cần thiết phải có chế tài đủ mạnh theo hướng tổ chức bán đấu giá đối với quỹ đất 2 bên đường để tạo thêm nguồn lực phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ.

Đổi mới cơ chế về bảo trì tài sản kết cấu hạ tầng giao thông theo hướng: (i) Áp dụng cơ chế mới theo hướng thống nhất một đầu mối trong quản lý NSNN giữa vốn đầu tư xây dựng mới và vốn bảo trì tài sản kết cấu hạ tầng giao thông với việc giao trách nhiệm bảo trì tài sản kết cấu hạ tầng cho nhà thầu xây dựng công trình nhằm nâng cao chất lượng công trình, giảm chi phí bảo trì; (ii) Xử lý cân đối giữa chi cho đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông và chi cho bảo trì các công trình hạ tầng giao thông; theo đó chủ động dành ưu tiên cho bảo trì kết cấu hạ tầng giao thông nhằm đảm bảo tuổi thọ và chất lượng công trình; (iii) Thực hiện đổi mới hoạt động bảo trì kết cấu hạ tầng giao thông theo hình thức khoán bảo trì thay cho hình thức thanh toán khối lượng thực tế. Cơ chế này một mặt giảm bớt khối lượng công việc thanh quyết toán; mặt khác phát huy tính chủ động của người thực hiện bảo trì trong việc bảo đảm tình trạng kỹ thuật của kết cấu hạ tầng giao thông.

23.2.6. Giải pháp về sắp xếp lại, xử lý nhà, đất thuộc sở hữu nhà nước

a) Phân định rõ trên cơ sở tách biệt quyền và trách nhiệm về quản lý, sử dụng tài sản giữa cơ quan nhà nước với đơn vị sự nghiệp công lập, theo hướng:

– Đối với các cơ quan nhà nước thực hiện đầu tư, bố trí theo tiêu chuẩn, định mức quy định, có sự theo dõi, cập nhật, điều chỉnh phù hợp với thực tế biến động về nhu cầu sử dụng TSNN, khả năng kinh phí, tình hình kinh tế của đất nước và tiến tới hình thành các khu hành chính tập trung.

  • Đối với các đơn vị sự nghiệp công lập: Thực hiện đổi mới cơ chế hoạt động theo kết luận 37/TB-TW ngày 26/5/2011 của Bộ Chính trị, theo đó chuyển từng bước từ cơ chế giao đất không thu tiền sử dụng đất hiện nay sang thuê đất theo nguyên tắc giá thị trường để tạo lập sự chủ động, minh bạch trong hạch toán dịch vụ công. Trường hợp Nhà nước giao nhiệm vụ theo đơn đặt hàng thì thanh toán theo nguyên tắc đảm bảo đủ bù đắp chi phí cho đơn vị; Đối với các tài sản khác (không bao gồm đất) được Nhà nước xác định giá trị để giao cho đơn vị quản lý theo cơ chế giao vốn cho doanh nghiệp, đơn vị có trách nhiệm khấu hao và bảo toàn vốn đã được giao.
  • b) Đẩy mạnh công tác sắp xếp lại nhà, đất thuộc sở hữu nhà nước, đối với những cơ sở nhà, đất gây ô nhiễm môi trường hoặc không phù hợp với quy hoạch phải thực hiện di dời; tăng cường nhận thức và sự phối hợp giữa các Bộ, ngành, địa phương, đảm bảo sớm hoàn chỉnh và công bố công khai quy hoạch để có cơ sở triển khai thực hiện; tạo nên quỹ nhà, đất dôi dư để bố trí, sử dụng theo quy hoạch của địa phương.
  • c) Thực hiện quyết liệt việc sắp xếp, bố trí lại quỹ nhà, đất trong quá trình tái cấu trúc các Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty Nhà nước: Nắm chắc và đầy đủ quỹ nhà, đất hiện do các Tập đoàn, Tổng công ty nhà nước (bao gồm cả các đơn vị thành viên) đang quản lý, sử dụng. Từ đó để làm cơ sở cho việc bố trí lại quỹ đất phù hợp với nhiệm vụ, lĩnh vực hoạt động theo hướng tập trung vào các KCN, khu kinh tế, khu thương mại… Đối với quỹ nhà, đất dôi dư sau khi bố trí, sắp xếp lại thì cho phép bán, chuyển nhượng để tạo vốn tái đầu tư cho SXKD ; Đối với quỹ nhà, đất được phép chuyển mục đích sử dụng nhưng chưa thực hiện thì đánh giá lại theo giá thị trường và chuyển giao cho các đơn vị có chức năng; Đối với quỹ nhà, đất dôi dư mà doanh nghiệp không có phương án sử dụng hợp lý, có hiệu quả thì thu hồi, bán đấu giá hoặc chuyển giao cho địa phương để phục vụ cho lợi ích công cộng theo quy hoạch.

Tổ chức đánh giá nhu cầu và hiệu quả sử dụng đất của các doanh nghiệp cổ phần hoá, từ đó áp dụng các biện pháp tài chính, kinh tế để thúc đẩy sử dụng đất có hiệu quả, tổ chức di dời các cơ sở SXKD gây ô nhiễm môi trường, tập trung đông người ra khỏi đô thị. Khi thực hiện phương án cổ phần hóa cần đảm bảo nguyên tắc giá trị tài sản nhà nước được định giá theo nguyên tắc thị trường, bao gồm cả giá trị quyền sử dụng đất.

Tổ chức thực hiện thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất theo cơ chế mới, đảm bảo giá đất sát với thực tế thị trường; đồng thời, tăng cường kiểm soát việc sử dụng vốn của các Tập đoàn, Tổng công ty nhà nước, hạn chế tình trạng đầu tư thoát ly với nhiệm vụ chính của doanh nghiệp, thực hiện chuyển đổi, rút dần vốn ra khỏi lĩnh vực kinh doanh BĐS.

d) Rà soát cơ chế chính sách ưu đãi về tiền sử dụng đất, tiền thuê đất và các nghĩa vụ tài chính khác về đất đai đối với các lĩnh vực như điện lực, đường sắt, hàng không…, tiến tới xóa bỏ ưu đãi để tạo ra sự bình đẳng, minh bạch giữa các doanh nghiệp trong hoạt động SXKD.

đ) Đối với các nông, lâm trường quốc doanh, đẩy mạnh rà soát, xử lý theo Nghị quyết 28-NQ/TW ngày 16/6/2003 của Bộ Chính trị, chuyển sang mô hình doanh nghiệp hoặc giao đất trực tiếp cho người dân, thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đai theo quy định về pháp luật. Riêng đối với rừng phòng hộ, rừng đặc dụng thì duy trì Ban quản lý là đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ tài chính.

e) Đẩy mạnh công tác bán nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước cho người đang thuê, nếu người đang thuê không có nhu cầu mua thì thực hiện cải tạo, nâng cấp và cho thuê theo giá, đảm bảo bù đắp chi phí.

23.2.7. Tập trung đôn đốc các Bộ, ngành, địa phương ban hành định mức và quy chế sử dụng xe ô tô theo quy định tại Quyết định số 32/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ để phát huy kết quả rà soát.

23.2.8. Đôn đốc các Bộ, ngành, địa phương công bố danh mục tài sản thực hiện mua sắm tập trung của Bộ, cơ quan trung ương, địa phương. Sau khi Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 08/2016/QĐ-TTg ngày 26/02/2016, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 34/2016/TT-BTC ngày 26/02/2016 công bố danh mục mua sắm tập trung cấp quốc gia, Thông tư số 35/2016/TT-BTC ngày 26/02/2016 hướng dẫn quy trình mua sắm tập trung. Tuy nhiên, đến nay phần lớn các Bộ, ngành, địa phương vẫn chưa công bố danh mục tài sản thực hiện mua sắm tập trung của Bộ, cơ quan trung ương, địa phương theo quy định./.

 ——————— TÀI LIỆU THAM KHẢO ——————————

 Ban Chấp hành Trung ương khoá XI, 2012. Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 31-10-2012 về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai.

  1. Bộ Tài chính. 2012. Đề án Khai thác nguồn lực tài chính từ đất đai và tài sản nhà nước phục vụ phát triển kinh tế – xã hội giai đoạn 2013-2020.
  2. Bộ Tài chính. 2016. Báo cáo tháng 6/2016 của về tình hình Quản lý, sử dụng Tài sản Nhà nước năm 2015 (trình Quốc hội khóa XIV kỳ họp thứ nhất).
  3. Cục Quản lý công sản – Bộ Tài chính, Một số báo cáo chuyên đề về đất đai của Cục quản lý công sản – Bộ Tài chính từ năm 1999 đến nay.
  4. Đặng Hùng Võ (2011), Cơ chế đổi đất lấy hạ tầng, Hội thảo Khoa học “Động viên tài chính từ đất đai để đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng”, Hà Nội.
  5. Doãn Văn Kính, Quách Nhan Cương, Uông Tổ Đỉnh (1996), Kinh tế các nguồn lực tài chính, bản tiếng Việt, Nxb Tài Chính, Hà Nội.
  6. Hoàng Văn Cường (2010), Giá đất và chính sách phân phối địa tô trong quản lý đất đai theo cơ chế thị trường.
  7. Lê Cao Đoàn (2011), Đất đai trong nền kinh tế thị trường, Viện Kinh tế Việt Nam, Hội thảo Khoa học “Động viên tài chính từ đất đai để đầu tư phát
  8. Lê Xuân Trường (2011), Từ cơ sở lý luận nghiên cứu hoàn thiện chính sách huy động nguồn lực tài chính từ đất đai ở Việt Nam, Hội thảo Khoa học “Động viên tài chính từ đất đai để đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng”, Hà Nội.
  9. Luật Đất đai năm 2003. Luật Đất đai năm 2013 và các Nghị định, Quyết định, Thông tư hướng dẫn thực hiện.
  10. Mai Hạnh Nguyên (2011), Cơ sở khoa học về vốn hoá đất đai trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, Hội thảo Khoa học “Động viên tài chính từ đất đai để đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng”, Hà Nội.
  11. Ngân hàng thế giới (2011), Báo cáo nghiên cứu về cơ chế xác định giá đất phục vụ bồi thường giải phóng mặt bằng tại Việt Nam.
  12. Ngô Trí Long (2011), Giá đất trong nền kinh tế thị trường Việt Nam và những vấn đề liên quan, Hội thảo “Tài chính đất đai, giá đất và cơ chế chính sách trong bồi thường, hỗ trợ, tái định cư”, Hà Nội.
  13. Nguyễn Đình Bổng (2011), Nhận diện những bất cập về cơ chế tài chính trong thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất của pháp luật đất đai hiện hành ở Việt Nam, Hội thảo “Tài chính đất đai, giá đất và cơ chế chính sách trong bồi thường, hỗ trợ, tái định cư”, Hà Nội.
  14. Nguyễn Minh Hoàng (2011), Cơ sở lý thuyết huy động nguồn lực từ đất đai, Hội thảo Khoa học “Động viên tài chính từ đất đai để đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng”, Hà Nội.
  15. Phạm Thị Tường Vân (2011), Nhìn lại các phương thức động viên tài chính từ đất đai và chính sách ưu đãi để đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, Hội thảo Khoa học “Động viên tài chính từ đất đai để đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng”. Hà Nội.
  16. Phạm Tiến Đạt (2011), Định giá hợp lý đất đai nhằm huy động vốn đầu tư cơ sở hạ tầng ở Việt Nam, Hội thảo Khoa học “Động viên tài chính từ đất đai để đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng”, Hà Nội.
  17. Quốc hội, Luật Thuế sử dụng đất nông nghiệp, Thuế chuyển quyền sử dụng đất, Thuế nhà đất… và các văn bản hướng dẫn.
  18. Quyết định số 09/2007/QĐ-TTg ngày 19/01/2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc xử lý, sắp xếp lại nhà, đất thuộc sở hữu nhà nước và các văn bản sửa đổi, bổ sung, hướng dẫn thực hiện.
  19. Số liệu về thu ngân sách nhà nước năm 2000-2015 của Tổng cục thuế, Bộ Tài chính.
  20. The World Bank (2009), Báo cáo chính sách, kiến nghị về đổi mới chính sách đất đai có liên quan đến cơ chế chuyển đổi đất đai không tự nguyện, Hà Nội.
  21. Thủ tướng Chính phủ. 2013. Quyết định số 2174/QĐ-TTg ngày 12/11/2013 về việc phê duyệt Đề án Khai thác nguồn lực tài chính từ đất đai và tài sản nhà nước phục vụ phát triển kinh tế – xã hội giai đoạn 2013-2020.
  22. Vụ Ngân sách nhà nước, Bộ Tài chính, 2016. Bảng tổng hợp thu ngân sách nhà nước 2002-2015.

 [1] Nguồn: http://tapchitaichinh.vn/nghien-cuu-trao-doi/giai-phap-von-cho-phat-trien-co-so-ha-tang-gan-voi-tai-co-cau-dau-tu-106256.html

Bản in

 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *