Chuyên đề 23 KỸ NĂNG CẬP NHẬT VÀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG CÔNG TÁC

Chuyên đề 23: KỸ NĂNG CẬP NHẬT VÀ ÁP DỤNG

PHÁP LUẬT TRONG CÔNG TÁC

 CN. Đào Vũ

Vụ Pháp chế – Bộ Tài chính

 Nghị quyết Đại hội IX của Đảng đã khẳng định nhiệm vụ “xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng”. Từ trước tới nay, trong đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam luôn luôn quán triệt tư tưởng xây dựng nhà nước pháp quyền, coi trọng việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật – phương tiện quan trọng trong quản lý nhà nước. Nhà nước ta cũng đã và đang từng bước thực hiện việc quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. Trong hệ thống pháp luật chung, pháp luật tài chính có vai trò quan trọng trong việc thể chế hóa đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước để thể hiện quản lý nhà nước trong lĩnh vực tài chính, góp phần thúc đẩy sự phát triển hệ thống tài chính nói riêng và sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước nói chung. Theo đó, pháp luật tài chính cũng không ngừng được hoàn thiện để đồng bộ với sự phát triển kinh tế – xã hội, phù hợp với đối tượng, quan hệ xã hội rộng lớn mà nó điều chỉnh.

Để thực hiện nhiệm vụ công vụ được giao, việc cập nhật và áp dụng pháp luật đối với cán bộ công chức trong cơ quan nhà nước nói chung và cán bộ công chức trong ngành tài chính nói riêng là cần thiết.

Thực tiễn áp dụng pháp luật ở nước ta thời gian vừa qua cho thấy hoạt động này đã đạt được khá nhiều thành tựu, song vẫn còn nhiều hạn chế cần khắc phục. Mặt khác, mặc dù cập nhật và áp dụng pháp luật là một khái niệm pháp lý cơ bản song cho đến nay ở nước ta số lượng công trình nghiên cứu về nội dung này chưa nhiều. Một số vấn đề lý luận có liên quan đến cập nhật và áp dụng pháp luật chỉ được đề cập một cách khái quát tại các giáo trình dành cho sinh viên chuyên ngành Luật. Theo đó, điều kiện để các cán bộ trong ngành tài chính có thể nghiên cứu một cách đầy đủ, thấu đáo và toàn diện về vấn đề này là chưa nhiều.

Theo đó, bài giảng này được đưa ra nhằm mục tiêu cung cấp những kiến thức cơ bản cho các đối tượng là các cán bộ công chức trong ngành tài chính về cập nhật và áp dụng pháp luật. Qua đó, góp phần làm sáng tỏ và hoàn thiện lý luận về cập nhật, áp dụng pháp luật để từ đó tiếp tục hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả của nó trong quá trình thực thi nhiệm vụ công vụ.

23.1. Cập nhật và áp dụng pháp luật trong công tác

23.1.1. Khái niệm cập nhật và áp dụng pháp luật

Hiện chưa có tài liệu chính thức nào đề cập về khái niệm cập nhật pháp luật. Tuy nhiên, theo cách tiếp cận trực tiếp, đơn giản nhất có thể hiểu “cập nhật pháp luật là hành vi của một chủ thể bằng một cách nào đó tiếp cận đến thông tin pháp luật mong muốn tại một thời điểm hoặc định kỳ trong một khoảng thời gian nhất định”.

Việc cập nhật pháp luật chính là cơ sở, tiền đề để cán bộ công chức có thể áp dụng pháp luật trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, công vụ của mình. Tuy nhiên, đối với khái niệm pháp lý áp dụng pháp luật, hiện nay vẫn còn một số quan điểm khác nhau. Do vậy, trong phạm vi bài giảng này, xin chỉ đề cập đến khái niệm mà theo tác giả là phù hợp, thể hiện đúng nhất bản chất của việc áp dụng pháp luật. Theo đó, “áp dụng pháp luật là một trong các hình thức thực hiện pháp luật, là hoạt động có tính tổ chức, quyền lực nhà nước do cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc cá nhân, tổ chức xã hội được nhà nước trao quyền tiến hành nhằm cá biệt hoá các quy phạm pháp luật hiện hành vào những trường hợp cụ thể, đối với các cá nhân, tổ chức cụ thể”. Ví dụ: việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế phải tiến hành theo những quy định cụ thể của thủ tục xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế như lập biên bản, ra quyết định xử phạt…

23.1.2. Đặc điểm của cập nhật và áp dụng pháp luật

Trên cơ sở định nghĩa về cập nhật và áp dụng pháp luật nêu trên, chúng ta có thể rút ra một số đặc điểm về cập nhật và áp dụng pháp luật như sau:

Thứ nhất, về tính chất và chủ thể thực hiện: Nếu như việc cập nhật thông tin pháp luật mang tính tự phát và có thể thực hiện bởi bất kỳ cá nhân hay tổ chức nào thì áp dụng pháp luật lại là hoạt động chỉ có của các cơ quan nhà nước và mang tính tổ chức, quyền lực nhà nước cao (thể hiện qua chủ thể tiến hành, trình tự, thủ tục và kết quả của quá trình áp dụng pháp luật). Cụ thể:

+ Hoạt động áp dụng pháp luật chỉ do các cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật tiến hành và mỗi chủ thể đó cũng chỉ được phép áp dụng pháp luật trong một phạm vi nhất định theo quy định của pháp luật.

+ Trong quá trình áp dụng pháp luật, chủ thể có thẩm quyền áp dụng có thể nhân danh quyền lực nhà nước, sử dụng quyền lực nhà nước để ban hành ra những mệnh lệnh, quyết định có giá trị bắt buộc phải tôn trọng hoặc thực hiện đối với các tổ chức và cá nhân có liên quan. Các mệnh lệnh, quyết định này luôn thể hiện ý chí đơn phương của chủ thể có thẩm quyền áp dụng mà không phụ thuộc vào ý chí của chủ thể là đối tượng áp dụng. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, ý chí đơn phương của chủ thể có thẩm quyền không thể là ý chí cá nhân, tuỳ tiện của người áp dụng mà phải là ý chí được xây dựng trên cơ sở pháp luật, căn cứ vào pháp luật và phù hợp với pháp luật.

+ Áp dụng pháp luật là hoạt động có tính tổ chức rất cao vì nó vừa là hình thức thực hiện pháp luật vừa là hình thức nhà nước tổ chức cho các chủ thể thực hiện các quy định của pháp luật. Vì thế, hoạt động này phải được tiến hành theo những điều kiện, trình tự, thủ tục rất chặt chẽ do pháp luật quy định. Trình tự, thủ tục này thường khác nhau trong các trường hợp áp dụng pháp luật khác nhau tuỳ theo quy định cụ thể của pháp luật.

Thứ hai, kết quả đầu ra: Việc cập nhật thông tin pháp luật chỉ giúp cho cán bộ, công chức hoàn thiện kiến thức, hệ thống thông tin về pháp luật. Do vậy, không có yêu cầu bắt buộc phải tạo ra kết quả đầu ra cụ thể mà chỉ góp phần làm cơ sở, tiền đề cho việc áp dụng pháp luật. Trong khi đó, hoạt động áp dụng pháp luật thường được thể hiện kết quả đầu ra bằng việc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ra văn bản áp dụng pháp luật. Đây là hoạt động điều chỉnh cá biệt, cụ thể đối với các quan hệ xã hội hay là hoạt động nhằm cá biệt hoá các quy phạm pháp luật hiện hành vào những trường hợp cụ thể, đối với các cá nhân, tổ chức cụ thể.

Trong thực tế, việc áp dụng pháp luật xảy ra đối với một số trường hợp sau:

+ Khi cần áp dụng các biện pháp cưỡng chế Nhà nước đối với các chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật.

+ Khi các quyền và nghĩa vụ của chủ thể không thể mặc nhiên phát sinh, thay đổi, chấm dứt nếu thiếu sự can thiệp của Nhà nước.

+ Khi các quyền và nghĩa vụ của chủ thể đã phát sinh nhưng có sự tranh chấp mà các chủ thể không thể tự giải quyết được và yêu cầu nhà nước can thiệp.

+ Khi cần áp dụng sự cưỡng chế của nhà nước đối với các chủ thể không vi phạm pháp luật mà chỉ vì lợi ích chung của xã hội.

+ Khi cần áp dụng các hình thức khen thưởng đối với các chủ thể có thành tích theo quy định của pháp luật.

+ Khi cần kiểm tra, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ pháp lý của các chủ thể trong một số quan hệ pháp luật nhất định theo quy định của pháp luật.

+ Khi cần phải xác nhận sự tồn tại của một sự kiện thực tế cụ thể nào đó theo quy định của pháp luật.

23.2. Yêu cầu đối với cập nhật và áp dụng pháp luật

23.2.1. Yêu cầu về nắm bắt, nhận diện hệ thống pháp luật có liên quan

Để việc cập nhật và áp dụng pháp luật đảm bảo được những mục tiêu, yêu cầu đề ra phục vụ hoạt động công vụ yêu cầu tiên quyết, quan trọng nhất được đặt ra là phải nhận diện được một cách đầy đủ hệ thống pháp luật trong lĩnh vực tài chính và các văn bản khác có liên quan.

Đây là yêu cầu nền tảng bởi nếu không nắm bắt đầy đủ và hệ thống hóa được văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến công việc chuyên môn thì việc cập nhật cũng không có cơ sở dẫn đến việc cập nhật thiếu, thừa không đầy đủ văn bản quy phạm pháp luật cần thiết. Từ đó, dẫn tới việc áp dụng pháp luật không chính xác, không tìm ra cơ sở để áp dụng pháp luật hoặc việc áp dụng pháp luật không mang tính bao quát dễ dẫn đến mâu thuẫn với chính sách pháp luật khác. Do vậy, tác giả đã tách yêu cầu này thành một mục riêng để khẳng định vai trò và tầm quan trọng của nó.

Yêu cầu nắm bắt, nhận diện hệ thống pháp luật không bắt buộc cán bộ công chức ngành tài chính phải nắm rõ, cụ thể toàn bộ quy định pháp luật tài chính cũng như các quy định pháp luật khác có liên quan. Bởi việc này là rất khó do số lượng các văn bản quy phạm pháp luật nói chung và trong lĩnh vực tài chính nói riêng là rất nhiều và thường xuyên có sự thay đổi; hoặc nếu trên cơ sở các nguồn thông tin pháp luật[1]có được, mỗi cán bộ công chức đều có khả năng tiếp cận trực tiếp văn bản quy phạm pháp luật. Vấn đề quan trọng nhất là nắm bắt được. Ở đây xin trình bày theo 3 nhóm pháp luật cần quan tâm:

Nhóm 1: Pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật

Pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật hiện bao gồm một số văn bản chủ đạo như: Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật số 17/2008/QH12 ngày 03/06/2008; Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân số 31/2004/QH11; Nghị định số 24/2009/NĐ-CP hướng dẫn Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật số 17/2008/QH12.

Yêu cầu các cán bộ, công chức ngành tài chính phải nắm bắt được quy định tại Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật là điều hết sức quan trọng bởi có nắm bắt được các quy định pháp luật này mới xác định đâu là văn bản pháp quy phạm pháp luật (phân biệt với văn bản hành chính cá biệt); văn bản quy phạm pháp luật được ban hành dưới hình thức nào, dựa trên cơ sở nào, theo quy trình nào; các cấp độ hiệu lực pháp lý của các văn bản quy phạm pháp luật…để việc tiếp cận văn bản quy phạm pháp luật được thuận lợi.

Cụ thể, Điều 2 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật xác định rõ các loại văn bản quy phạm pháp luật mà các cơ quan nhà nước được phép ban hành cũng như cấp độ hiệu lực pháp lý theo thứ tự:

  • Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội.
  • Pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
  • Lệnh, quyết định của Chủ tịch nước.
  • Nghị định của Chính phủ.
  • Quyết định của Thủ tướng Chính phủ.
  • Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, Thông tư của Chánh án Toà án nhân dân tối cao.
  • Thông tư của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
  • Thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ.
  • Quyết định của Tổng Kiểm toán Nhà nước.
  • Nghị quyết liên tịch giữa Uỷ ban thường vụ Quốc hội hoặc giữa Chính phủ với cơ quan trung ương của tổ chức chính trị – xã hội.
  • Thông tư liên tịch giữa Chánh án Toà án nhân dân tối cao với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; giữa Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; giữa các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ.
  • Văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân.

Ngoài ra, việc nắm bắt pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật sẽ giúp cho các cán bộ công chức ngành tài chính có cơ sở để lựa chọn văn bản quy phạm pháp luật để áp dụng khi thực hiện nhiệm vụ công vụ (sẽ được trình bày tại những phần sau).

Nhóm 2: Pháp luật về tài chính

Pháp luật về tài chính được cấu thành bởi rất nhiều các văn bản quy phạm pháp luật với các hình thức, nội dung, cấp độ hiệu lực pháp lý khác nhau. Tuy nhiên, tựu chung lại có thể chia thành các nhóm như sau:

a. Pháp luật về quản lý ngân sách nhà nước, tài sản công và đầu tư

Pháp luật về quản lý ngân sách nhà nước, tài sản công và đầu tư được thực hiện thông qua các văn bản chủ đạo là Luật Ngân sách nhà nước số 01/2002/QH11 ngày 16/12/2002, Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước số 09/2008/QH12 ngày 03/06/2008, Nghị định 112/2009/NĐ-CP. Theo đó, hệ thống các văn bản hướng dẫn các văn bản này hiện đã được ban hành khá đồng bộ. Cụ thể:

(i) Đối với lĩnh vực ngân sách nhà nước hệ thống các văn bản hướng dẫn đã bao quát đủ các nội dung về lập, thẩm tra dự toán NSNN, phương án phân bổ NSNN, cơ chế quản lý sử dụng NSNN; quy định về minh bạch, công khai trong sử dụng tài chính; quy định về kiểm soát chi NSNN; văn bản chế độ tự chủ về sử dụng biên chế và kinh phí quản lý hành chính.

(ii) Đối với lĩnh vực quản lý tài sản công các quy định pháp luật về mua sắm, quản lý và sử dụng tài sản nhà nước đã khá đầy đủ và đồng bộ gồm: tiêu chuẩn, định mức diện tích làm việc cho từng chức danh cán bộ công chức; tiêu chuẩn định mức sử dụng xe ô tô phục vụ công tác; tiêu chuân định mức sử dụng điện thoại công vụ, trang thiết bị phương tiện làm việc  của cơ quan và cán bộ công chức; quy chế tổ chức mua sắm tài sản, hàng hóa từ NSNN; sắp xếp, xử lý nhà, đất thuộc sở hữu nhà nước theo phương thức tập trung.

(iii) Đối với lĩnh vực quản lý vốn đầu tư NSNN, để hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật, Bộ Tài chính các văn bản hướng dẫn: thanh toán, quyết toán vốn đầu tư từ nguồn trái phiếu Chính phủ; quản lý vốn đầu tư thuộc nguồn vốn xã phường thị trấn; quản lý thanh toán vốn đầu tư và vốn sự nghiệp có tính chất đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước…

b. Pháp luật về thuế, phí, lệ phí và hải quan

b1. Hệ thống văn bản về chính sách thuế, phí, lệ phí

Tính đến nay, hệ thống thuế nước ta bao gồm 10 sắc thuế chủ yếu, được quy định tại 9 Luật, 01 pháp lệnh, áp dụng thống nhất đối với mọi đối tượng nộp thuế của các thành phần kinh tế. Các khoản thu khác có quy mô nhỏ, mang tính chất chi phí, lệ phí như thuế môn bài, lệ phí trước bạ được quy định bởi các văn bản pháp quy có giá trị pháp lý thấp hơn, cũng góp phần không nhỏ tạo nên nguồn thu của ngân sách nhà nước.

Nhìn chung các sắc thuế đã đi vào ổn định, góp phần đáng kể tạo động lực nguồn thu cho ngân sách nhà nước, kích thích tăng trưởng kinh tế, điều tiết thu nhập, thực hiện công bằng xã hội.

Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện do đối tượng, phạm vi điều chỉnh lớn, các quan hệ xã hội điều chỉnh luôn có sự biến đổi, đòi hỏi chính sách pháp luật thuế cũng phải tương ứng điều chỉnh theo đáp ứng các yêu cầu đặt ra trong nền kinh tế thị trường. Theo đó, Bộ Tài chính đã và đang nghiên cứu để ban hành hoặc trình cơ quan có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung các chính sách thuế hiện nay. Mới đây nhất, Bộ Tài chính đã trình Quốc hội ban hành một số văn bản sửa đổi bổ sung Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, Luật Thuế giá trị gia tăng, Luật thuế thu nhập cá nhân.

b2. Hệ thống pháp luật về quản lý thuế

Thực hiện chiến lược cải cách hệ thống thuế đến năm 2010 đã được Chính phủ phê duyệt, cùng với việc hoàn thiện và xây dựng mới các luật về chính sách thuế, Luật Quản lý thuế đã được ban hành để khắc phục các hạn chế trên, đồng thời đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế. Luật Quản lý thuế được Quốc hội khoá XI thông qua tại kỳ họp thứ 10 ngày 22/11/2006, có hiệu lực thi hành từ 1/7/2007 (được sửa đổi bổ sung bởi Luật sửa đổi bổ sung một số điều Luật Quản lý thuế số 21/2012/QH13).

Tính đến nay, Luật Quản lý thuế được ban hành đã phần nào đáp ứng các mục tiêu đề ra khi xây dựng Luật là:

– Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý thuế; tạo điều kiện thuận lợi cho người nộp thuế nộp đúng, đủ, kịp thời tiền thuế vào Ngân sách Nhà nước và cơ quan quản lý thuế thu đúng, thu đủ tiền thuế.

– Quy định rõ quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của người nộp thuế, cơ quan quản lý thuế và của các tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc quản lý thuế.

– Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính thuế theo hướng đơn giản, rõ ràng, minh bạch, dễ thực hiện, tăng cường vai trò kiểm tra giám sát của Nhà nước, cộng đồng xã hội trong việc thực hiện quản lý thuế.

Theo đó, đã thiết lập khung pháp lý chung, áp dụng thống nhất trong quá trình thực thi tất cả các chính sách thuế, khắc phục được tình trạng chia cắt tách biệt về phương thức quản lý giữa các loại thuế, tạo nền tảng cho việc áp dụng cơ chế tự khai, tự nộp.

b3. Pháp luật về hải quan

Với mục tiêu xây dựng hệ thống pháp luật hải quan về cơ bản đầy đủ, minh bạch đáp ứng yêu cầu điều chỉnh các vấn đề phát sinh trong thực tế, Quốc hội đã ban hành Luật Hải quan số 29/2001/QH10 (được sửa đổi, bổ sung bởi Luật Hải quan số 42/2005/QH11).

Luật Hải quan số 29/2001/QH10 được ban hành là cơ sở pháp lý cho bước chuyển đổi căn bản về phương pháp quản lý từ phương pháp quản lý hải quan truyền thống sang phương pháp quản lý hải quan hiện đại dựa vào kỹ thuật quản lý rủi ro, giúp ngắn thời gian thông quan, tạo sự cân bằng giữa tăng cường thuận lợi và quản lý. Phương thức hoạt động theo mô hình hải quan hiện đại với nguyên tắc áp dụng kỹ thuật quản lý rủi ro bước đầu đã được thực hiện trong quy trình thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất nhập khẩu thương mại; ứng dụng rộng rãi công nghệ thông tin trong các lĩnh vực hoạt động hải quan, đặc biệt trong quá trình thông quan và sau thông quan.

Tuy nhiên, cùng với những ưu điểm trên, hệ thống pháp luật về hải quan vẫn còn tồn tại nhiều bất cập cần tiếp tục được hoàn thiện: hệ thống các văn bản dưới luật chưa hoàn thiện và đồng bộ; quy định về xử phạt và khiếu nại chưa sát với thực tế; quy định về kiểm soát biên giới…Theo đó, hiện nay, Bộ Tài chính đang dự thảo Luật Hải quan sửa đổi để trình Quốc hội.

c. Pháp luật về tài chính doanh nghiệp và quản lý giá

c1. Pháp luật về tài chính doanh nghiệp

Từ thời điểm ngày 1/7/2010, việc thành lập và hoạt động của DNNN phải theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2005, và việc giám sát các hoạt động của doanh nghiệp được hướng dẫn cụ thể tại các nghị định của Chính phủ, quyết định của Thủ tướng Chính phủ, thông tư của Bộ Tài chính. Vì vậy, việc quản lý, sử dụng các vốn và tài sản doanh nghiệp của doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước được xét trên một số khía cạnh sau:

Một là, cơ chế tài chính của doanh nghiệp Nhà nước đã được quy định cụ thể, và cơ bản khắc phục được một số tồn tại, bất cập trong công tác quản lý, điều hành, sử dụng vốn, tài sản của doanh nghiệp nhà nước đầu tư vào sản xuất kinh doanh. Nhóm văn bản quy định về cơ chế tài chính đối với DNNN, gồm Nghị định số 71/2013/NĐ-CP ngày 11/7/2013 về đầu tư vốn vào doanh nghiệp và quản lý tài chính đối với doanh nghiệp do nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ; Nghị định số 206/2013/NĐ-CP ngày 9/12/2013 về quản lý nợ của doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ;

Hai là, việc chuyển đổi sở hữu, tổ chức, sắp xếp lại doanh nghiệp được quy định tại các văn bản: Nghị định số 59/2011/NĐ-CP ngày 18/7/2011 về cổ phần hoá doanh nghiệp 100% vốn nhà nước; Nghị định số 109/2008/NĐ-CP ngày 10/10/2008 về bán, giao doanh nghiệp 100% vốn nhà nước; Nghị định số 25/2010/NĐ-CP ngày 19/3/2010 về việc chuyển công ty nhà nước thành công ty TNHH một thành viên và tổ chức quản lý công ty TNHH một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu; Quyết định số 14/2011/QĐ-TTg về tiêu chí, danh mục phân loại DNNN.

Ba là, quyền, trách nhiệm và nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà nước đối với DNNN cơ bản đã có sự phân định giữa các cấp, được quy định cụ thể tại Nghị định số 99/2012/NĐ-CP ngày 15/11/2012 về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của chủ sở hữu đối với doanh nghiệp nhà nước và vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp.

Bốn là, các nội dung về cơ chế giám sát, đánh giá hiệu quả hoạt động của DNNN được quy định cụ thể tại Nghị định số 61/2013/NĐ-CP ngày 25/6/2013 về việc ban hành Quy chế giám sát tài chính và đánh giá hiệu quả hoạt động và công khai thông tin tài chính đối với doanh nghiệp do Nhà nước làm chủ sở hữu và doanh nghiệp có vốn nhà nước. Việc tăng cường cơ chế giám sát đối với DNNN góp phần đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả quản lý các nguồn lực tài chính mà nhà nước đã giao cho doanh nghiệp sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh.

c2. Pháp luật về giá

Ngày 20/6/2012 Quốc hội chính thức ban hành Luật Giá số 11/2012/QH13. Theo đó, đã nâng tầm pháp lý của văn bản trong lĩnh vực này từ Pháp lệnh giá số 40/2002/PL-UBTVQH10 lên thành Luật. Theo quy định tại Điều 47 Luật Giá thì Luật có hiệu lực thi hành vào 01/01/2013. Tuy nhiên tính đến ngày 14/11/2013 Chính phủ mới ban hành Nghị định số 177/2013/NĐ-CP hướng dẫn Luật (có hiệu lực từ 01/01/2014). Theo đó, đã tạo ra một khoảng trống pháp lý khá lớn kể từ thời điểm chính thức có hiệu lực.

d. Pháp luật về thị trường tài chính và dịch vụ tài chính

Pháp luật về thị trường tài chính và dịch vụ tài chính được chia thành 3 mảng chính là pháp luật về lĩnh vực chứng khoán; pháp luật về lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm; pháp luật về lĩnh vực dịch vụ kế toán, kiểm toán, đại lý thuế.

Đối với các văn bản pháp luật trong lĩnh vực chứng khoán, nhìn chung đã tạo lập được cơ sở pháp lý cao, góp phần thúc đẩy thị trường chứng khoán có những bước phát triển, tạo kênh huy động vốn đầu tư cho đầu tư phát triển của nền kinh tế, tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân tham gia thị trường chứng khoán. Tuy nhiên, cũng đã bộc lộ một số hạn chế bất cập: thiếu các văn bản hướng dẫn thực hiện một số sản phẩm của hàng hóa chứng khoán phái sinh; một số quy định còn chưa cụ thể…

Đối với pháp luật về kinh doanh bảo hiểm, nhìn chung đã góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân tham gia bảo hiểm, đẩy mạng hoạt động kinh doanh bảo hiểm, hệ thống pháp luật đã hoàn thiện ở một số điểm: tăng mức vốn pháp định của doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm; giảm mức ký quỹ; hoàn thiện các quy định về nguồn vốn đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm; sửa đổi quy định về công khai tài chính nhằm tăng cường tính lành mạnh, minh bạch của công tác kế toán, quản lý giám sát hoạt động tài chính của doanh nghiệp bảo hiểm.

đ. Pháp luật về tài chính đối ngoại và hội nhập quốc tế

Pháp luật về tài chính đối ngoại và hội nhập quốc tế bao gồm pháp luật trong 3 lĩnh vực: huy động vốn đầu tư nước ngoài; huy động vốn qua hình thức vay nợ; hội nhập trong lĩnh vực tài chính.

Nhìn chung, hệ thống pháp luật trong nhóm này đã tạo được môi trường pháp lý để huy động vốn đầu tư trực tiếp đã thống nhất, không có sự phân biệt đối xử giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; Khuôn khổ pháp lý cơ bản được hình thành để tạo ra các kênh huy động vốn khá đa dạng: bao gồm đầu tư trực tiếp, đầu tư gián tiếp; nguồn vốn ODA…

e. Pháp luật về thanh tra, kiểm tra tài chính và giám sát tài chính

Tại kỳ họp lần thứ 8, Quốc Hội khoá XII đã thông qua Luật Thanh tra số 56/2010/QH12 và có hiệu lực pháp luật kể từ ngày 01/7/2011, Luật này thay thế Luật thanh tra số 22/2004/QH11. Trên cở sở đó, ngày 9/10/2012, Bộ Tài chính đã trình Chính phủ ban hành Nghị định số 82/2012/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động thanh tra trong ngành tài chính góp phần tạo cơ sở pháp lý đầy đủ cho hoạt động thanh tra trong lĩnh vực tài chính, qua đó góp phần tích vực vào việc tăng thu ngân sách, thực hành tiết kiệm chống lãng phí.

Hoạt động giám sát tài chính đang chủ yếu được thực hiện trong hai lĩnh vực là chứng khoán và bảo hiểm. Nhìn chung hai cơ chế giám sát này đã phần nào đáp ứng yêu cầu quản lý, tăng cường tính công khai minh bạch của khuôn khổ pháp lý trên phương diện quản lý nhà nước.

Nhóm 3: Các văn bản quy phạm pháp luật khác liên quan đến công chức, công vụ

Bên cạnh các văn bản chuyên môn là các văn bản buộc phải nắm được, để xử lý công việc các cán bộ công chức ngành tài chính còn phải nắm được nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan để có trong tay nhiều công cụ hỗ trợ. Việc nắm bắt các văn bản quy phạm pháp luật ngoài các văn bản chuyên môn không đòi hỏi các các cán bộ công chức phải hiểu rõ, tường tận về những văn bản này mà chỉ đòi hỏi phải nắm được tinh thần của văn bản và những nhóm nội dung được quy định tại văn bản để có cơ sở tra cứu, lựa chọn văn bản khi áp dụng xử lý tình huống phát sinh. Theo đó, có một số văn bản chính mà các cán bộ công chức phải nắm được như sau:

a. Luật Cán bộ, công chức số 22/2008/QH12

Luật Cán bộ, công chức số 22/2008/QH12 được Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 13 tháng 11 năm 2008 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2010, thay thế cho các văn bản Pháp lệnh cán bộ, công chức trước đây. Việc ban hành Luật cán bộ công chức đã góp phần tại cơ sở pháp lý cụ thể cho các nội dung về bầu cử, tuyển dụng, sử dụng, quản lý cán bộ, công chức, quy định nghĩa vụ, quyền của cán bộ, công chức và điều kiện bảo đảm thi hành công vụ. Ngoài ra, đã đạt được một số mục tiêu:

– Xác định rõ đối tượng được xác định là công chức: là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị  –  xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị  –  xã hội, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.

– Đảm bảo hình thức tuyển dụng công chức được thực hiện chặt chẽ hơn và bắt buộc phải thông qua thi tuyển (trừ một số ít trường hợp có thể được tuyển dụng thông qua xét tuyển).

b. Luật Xử lý vi phạm hành chính số 15/2012/QH13

Trong thực tiễn quản lý nhà nước, vì lý do khách  quan hay chủ quan, do vô tình hay hữu ý mà các cá nhân, tổ chức đều có thể thực hiện hành vi vi phạm pháp luật. Sau hơn 10 năm thực hiện, Pháp lệnh XLVPHC đã bộc lộ những hạn chế, bất cập trước yêu cầu phải bảo đảm trật tự, kỷ cương quản lý hành chính, an ninh, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân; đấu tranh phòng, chống có  hiệu quả đối với vi phạm hành chính, tội phạm trong giai đoạn phát triển mới. Ngày 20/6/2012 tại kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật xử lý vi phạm hành chính. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2013.

Điểm đặc biệt trong luật lần này là đề cao tính răn đe trên cơ sở bảo đảm dân chủ trong trình tự, thủ tục xử phạt VPHC và áp dụng biện pháp xử lý hành chính. Việc đề cao tính răn đe thể hiện qua những điểm mới sau:

Thứ nhất, Luật đã quy định thêm nhiều hình thức chế tài như: buộc cải chính thông tin sai sự thật hoặc gây nhầm lẫn; buộc loại bỏ yếu tố vi phạm trên hàng hóa, phương tiện, vật phẩm; buộc thu hồi sản phẩm, hàng hóa không bảo đảm chất lượng và đặc biệt là buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm.

Thứ hai, mức phạt tiền được quy định là rất cao so với quy định cũ (từ 50.000 đồng đến 1 tỷ đồng đối với cá nhân hoặc 100.000 đồng đến 2 tỷ đồng đối với tổ chức trong khi trước đây chỉ từ 10.000 đồng đến 500 triệu đồng)

Thứ ba là về thẩm quyền xử phạt, Luật đã phân cấp thẩm quyền xử phạt theo hướng tăng thẩm quyền xử phạt cho cơ sở, là cấp trực tiếp phát hiện, thụ lý phần lớn các vụ việc VPHC, nhằm góp phần nâng cao tính kịp thời và hiệu quả của việc xử phạt VPHC, giảm tình trạng dồn việc xử phạt lên cấp trên.

Bên cạnh việc đề cao tính răn đe, Luật cũng tạo điều kiện cho cá nhân, tổ chức bị xử phạt có quyền giải trình trong quá trình xem xét VPHC. Theo đó đối tượng bị xử phạt có quyền tham gia và giải trình trực tiếp hoặc bằng văn bản trong trường hợp có thể bị áp dụng hình thức phạt tiền với mức tiền phạt tương đối lớn (trên 30 triệu đồng) hoặc vi phạm có thể bị áp dụng hình thức tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề, đình chỉ có thời hạn hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ. Điều này vừa phát huy dân chủ, vừa thể hiện tính nhân đạo nhưng cũng vừa hạn chế tình trạng khiếu nại, khiếu kiện của tổ chức, cá nhân bị xử phạt.

c. Luật trách nhiệm bồi thường nhà nước 35/2009/QH12

Ngày 18 tháng 6 năm 2009, tại kỳ họp thứ 5 Quốc hội Khóa XII, đã thông qua Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước Luật số 35/2009/QH12. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2010. Việc ban hành Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước nhằm xây dựng và hoàn thiện chế độ bảo hộ của Nhà nước đối với các quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, trong đó có quyền được bồi thường thiệt hại do cán bộ, công chức nhà nước gây ra khi thi hành công vụ.

Một số điểm chủ yếu của Luật mà cán bộ công chức ngành tài chính cần nắm được bao gồm:

– Phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước: Luật chỉ quy định trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong lĩnh vực quản lý hành chính, tố tụng và thi hành án. Các thiệt hại do hoạt động xây dựng pháp luật gây ra chưa được Nhà nước bồi thường.

– Cơ quan có trách nhiệm bồi thường được xác định là cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ có hành vi trái pháp luật gây ra thiệt hại.

–  Trách nhiệm yêu cầu việc bồi thường: người bị thiệt hại phải thực hiện việc yêu cầu cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại giải quyết bồi thường trước khi khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết bồi thường.

–  Các loại thiệt hại được bồi thường, bao gồm: thiệt hại do tài sản bị xâm phạm; thiệt hại do thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút; thiệt hại do tổn thất về tinh thần; thiệt hại về vật chất do người bị thiệt hại chết; thiệt hại về vật chất do bị tổn hại về sức khoẻ; trả lại tài sản;  khôi phục danh dự cho người bị thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự.

– Về kinh phí thực hiện bồi thường: trường hợp cơ quan trung ương có trách nhiệm bồi thường thì kinh phí bồi thường được bảo đảm từ ngân sách trung ương; trường hợp cơ quan địa phương có trách nhiệm bồi thường thì kinh phí bồi thường được bảo đảm từ ngân sách địa phương.

(*) Ngoài ra, trên thực tế, để triển khai thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình ngoài các văn bản kể trên, tùy theo công tác chuyên môn, tình huống công việc cụ thể còn rất nhiều văn bản có liên quan đòi hỏi các cán bộ công chức ngành tài chính phải nắm được (Luật Khiếu nại số 02/2011/QH13; Luật tố cáo số 03/2011/QH13; Luật Thanh tra; Hệ thống chuẩn mực kế toán…).

23.2.2. Một số yêu cầu khác đối với việc cập nhật pháp luật và áp dụng pháp luật

23.2.2.1. Yêu cầu đối với việc cập nhật pháp luật

Việc cập nhật pháp luật tốt chính là tiền đề vững chắc phục vụ việc áp dụng pháp luật tốt, từ đó đảm bảo việc đạt được mục tiêu quản lý nhà nước. Theo đó, khi thực hiện việc cập nhật pháp luật các cán bộ, công chức ngành Tài chính cần phải lưu ý những yêu cầu đặt ra sau đây:

Yêu cầu thứ nhất, việc cập nhật phải được thực hiện thường xuyên, kịp thời

Việc cập nhật thường xuyên đảm bảo tránh các lỗ hổng trong quá trình áp dụng các văn bản quy phạm pháp luật. Theo nguyên tắc này, việc cập nhật pháp luật theo đó nên được thực hiện hàng ngày. Bởi lẽ đối với việc cập nhật pháp luật tài chính thì ngoài yêu cầu cập nhật văn bản quy phạm pháp luật, việc cập nhật các văn bản cá biệt (công văn) hướng dẫn thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật cũng hết sức quan trọng. Thực tế hướng dẫn triển khai thực thi pháp luật không chỉ trong lĩnh vực tài chính mà còn trong các lĩnh vực khác cho thấy nhiều trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật có thể không bao quát hết hoặc hướng dẫn chưa rõ dẫn đến vướng mắc khi áp dụng của các đối tượng có liên quan. Theo đó, đối với một số trường hợp các cơ quan nhà nước có thể ban hành các công văn hướng dẫn việc áp dụng các văn bản quy phạm pháp luật (có thể dưới hình thức hướng dẫn chung cho các địa phương hoặc hướng dẫn riêng cho từng đối tượng cụ thể). Theo đó, cán bộ, công chức ngành tài chính cần nắm được cả những văn bản hướng dẫn để đề xuất xử lý phù hợp với các trường hợp phát sinh tương tự (bởi có một thực tế là việc hỗ trợ giải quyết vướng mắc của các cơ quan cấp trên vẫn cần khá nhiều thời gian vì vậy có thể không đảm bảo tiến độ xử lý).

Bảng 23.1. Ví dụ minh họa việc không kịp thời cập nhật pháp luật

Hà Nội: Chi cục thuế vẫn yêu cầu nộp thuế xe 20%

Với lý do “chưa nhận được chỉ đạo của cấp trên”, sáng nay, 1/4, Chi cục Thuế huyện Hoài Đức (Hà Nội) vẫn yêu cầu nộp phí trước bạ xe đăng ký lần đầu 20%.

Theo phản ánh của anh P (An Khánh, Hoài Đức), 8 giờ sáng nay, anh tới Chi cục Thuế huyện Hoài Đức để làm thủ tục nộp lệ phí trước bạ đối với chiếc xe Ford Fiesta anh vừa mua. Tuy nhiên khi tới nơi, anh bất ngờ khi nhân viên Chi cục Thuế huyện Hoài Đức cho biết “Chi cục chưa nhận được chỉ đạo của cấp trên” về việc giảm lệ phí trước bạ từ 20% xuống 15%.

Dù anh P. khăng khăng khẳng định các phương tiện thông tin đại chúng đã đưa tin Chính phủ, Bộ Tài chính và cả UBND TP.Hà Nội (Cục thuế TP.Hà Nội) đã quyết định giảm lệ phí trước bạ ngay từ hôm nay nhưng nhân viên này cho biết “vẫn phải chờ hướng dẫn cụ thể, dự kiến có trong tuần này”.

Ngay giữa Thủ đô nhưng chỉ đạo của Chính phủ, Bộ Tài chính và UBND TP.Hà Nội cũng không tới được Chi cục Thuế huyện Hoài Đức kịp thời.

Bất ngờ với trả lời của nhân viên thuế, anh P. liên lạc với các cơ quan chức năng, với Tổng cục Thuế và cơ quan này khẳng định Hà Nội áp dụng mức lệ phí trước bạ mới 15% ngay từ 1/4 theo đúng chỉ đạo của Chính phủ, Bộ Tài chính.

Chờ đợi đến gần 10 giờ sáng, anh P. mới được làm thủ tục nộp phí trước bạ mới mà anh đoán do Tổng cục Thuế gọi điện xuống chỉ đạo thì Chi cục thuế Hoài Đức mới thực thi.

Trao đổi với PV, Chi cục trưởng Nguyễn Tài Sáng khăng khăng khẳng định không có chuyện Chi cục này trì hoãn việc áp dụng quy định mới. Tuy nhiên sau khoảng 30 phút, vị Chi cục trưởng này lại thừa nhận nhân viên của mình đã không cập nhật được thông tin và do…mất điện !


[1] Nguồn thông tin pháp luật, cán bộ công chức ngành tài chính có thể tiếp cận được bao gồm:

+ Bản chính văn bản quy phạm pháp luật gửi tới đơn vị theo quy chế làm việc.

+ Công báo của Chính phủ, Công báo cấp tỉnh

+ Các văn bản quy phạm pháp luật đăng tải trên Cổng thông tin điện tử của Chính phủ, Bộ Tài chính… (trong đó có trang pháp luật tài chính), các Bộ, ngành địa phương khác

+ Các nguồn khác

 Yêu cầu thứ hai, việc cập nhật phải được thực hiện đồng bộ có hệ thống

Đây cũng là một yêu cầu quan trọng trong việc cập nhật pháp luật. Bởi như đã phân tích ở trên các cán bộ công chức ngành tài chính phải nắm được một cách có hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan. Do đó, khi cập nhật việc cập nhật cũng phải được được thực hiện trên cơ sở có hệ thống. Tính có hệ thống ở đây được hiểu là việc cập nhật theo hệ thống văn bản từ văn bản có hiệu lực pháp lý cao đến văn bản có hiệu lực pháp luật thấp hơn, cập nhật theo hướng có phân loại từng nhóm văn bản có cùng nội dung và việc cập nhật phải thực hiện đồng thời ở tất cả các nhóm. Việc cập nhật không đồng bộ có thể dẫn tới việc không nắm bắt đầy đủ các quy định pháp luật về một vấn đề dẫn đến áp dụng pháp luật không chính xác. Do đặc thù pháp luật tài chính có liên quan đến rất nhiều pháp luật chuyên ngành nên điều này thể hiện khá rõ trong thực tế.

Ví dụ: pháp luật về lệ phí trước bạ quy định miễn lệ phí trước bạ với đối tượng là xe chuyên dùng phục vụ việc cứu thương. Tuy nhiên, do tiêu chí xác định loại xe chuyên dùng phục vụ việc cứu thương tại Tiêu chuẩn Việt Nam về phân loại ô tô theo mục đích sử dụng đã thay đổi. Nếu cán cộ, công chức cơ quan thuế không nắm bắt được nội dung này có thể dẫn tới đề xuất áp dụng sai về cơ chế chính sách lệ phí trước bạ.

Yêu cầu thứ ba, việc cập nhật pháp luật phải dựa trên nguồn thông tin pháp luật tin cậy

Đây là một yêu cầu quan trọng của việc cập nhật thông tin pháp luật. Do sự đổi mới của công nghệ thông tin là không ngừng nên hiện nay việc tiếp cận các văn bản quy phạm pháp luật là khá dễ dàng và nhanh chóng so với trước kia (chỉ sử dụng văn bản giấy). Tuy nhiên, việc cập nhật này cũng có một số điểm hạn chế mà cụ thể là tính tin cậy của thông tin pháp luật mà chúng ta thu được. Thực tế, có nhiều đơn vị cung cấp dịch vụ tra cứu văn bản pháp luật trên website của mình nhưng không ai đảm bảo tính chính xác của những văn bản này (Do nhiều văn bản được nhà cung cấp gõ lại trên máy tính nên dẫn đến lỗi chính tả, thiếu sót…). Thậm chí nguy hiểm hơn để nâng cao uy tín, thể hiện sự nhanh nhậy, đã có một số đơn vị đưa lên website dự thảo văn bản trước đó chứ không phải văn bản được ban hành cuối cùng.

Do đó, việc cập nhật nguồn thông tin pháp luật đáng tin cậy có vai trò quan trọng đối với việc áp dụng pháp luật. Việc áp dụng quy định pháp luật không đúng không chính xác sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến ngân sách nhà nước, đối tượng bị điều chỉnh, xã hội và một điều cũng khá quan trọng là hình ảnh của cơ quan nhà nước trong mắt người dân.

Bảng 23.2. Ví dụ minh họa trường hợp cung cấp thông tin pháp luật không chính xác

Tại khoản 1 Điều 7 Thông tư 16/2013/TT-BTC quy định: “1. Các dự án sử dụng đất vào mục đích xây nhà để bán, để cho thuê, kinh doanh kết cấu hạ tầng để chuyển nhượng theo hình thức nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất mà chủ đầu tư đã được bàn giao đất để thực hiện nhưng chưa hoàn thành nghĩa vụ tài chính về tiền sử dụng đất (SDĐ) do có khó khăn về tài chính, cụ thể là: kết quả tài chính tính đến 31/12/2012 mà lỗ hoặc chi phí của doanh nghiệp lớn hơn doanh thu do giá trị hàng tồn kho quá lớn hoặc doanh nghiệp đã phát sinh chi phí đầu tư lớn nhưng chưa có doanh thu do chưa bán được hàng thì được nộp tiền sử dụng đất trong thời hạn 24 tháng kể từ ngày phải nộp tiền sử dụng đất theo thông báo lần đầu của cơ quan thuế hoặc văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và không bị tính phạt chậm nộp trong thời gian này”.

Tuy nhiên, trên website luatvietnam.vn lại đăng tải thông tin về khoản 1 Điề 7 Thông tư 16/2013/TT-BTC như sau:

“1. Các dự án sử dụng đất vào mục đích xây nhà để bán, để cho thuê, kinh doanh kết cấu hạ tầng để chuyển nhượng theo hình thức nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất mà chủ đầu tư đã được bàn giao đất để thực hiện nhưng chưa hoàn thành nghĩa vụ tài chính về tiền sử dụng đất (SDĐ) do có khó khăn về tài chính như: kết quả tài chính tính đến 31/12/2012 mà lỗ hoặc chi phí của doanh nghiệp lớn hơn doanh thu do giá trị hàng tồn kho quá lớn hoặc doanh nghiệp đã thực tế chi phí đầu tư lớn nhưng chưa có doanh thu do chưa bán được hàng thì được nộp tiền sử dụng đất trong thời hạn 24 tháng kể từ ngày phải nộp tiền sử dụng đất ghi trên thông báo của cơ quan thuế và không bị tính phạt chậm nộp trong thời gian này.”

Theo đó, có thể thấy rất nhiều điểm khác nhau giữa Thông tư chính thức và Thông tư được đăng tải trên website luatvietnam.vn chỉ đối với một điều khoản cụ thể của Thông tư 16/2013/TT-BTC. Việc sai lệch về nội dung trong trường hợp này có thể dẫn đến những cách hiểu, áp dụng pháp luật khác nhau, làm ảnh hưởng tới việc tổ chức thực hiện pháp luật trên thực tế.

 

23.2.2.2. Yêu cầu đối với việc áp dụng pháp luật

Việc áp dụng pháp luật là hoạt động thể hiện quyền lực của cơ quan nhà nước nhằm áp dụng các quy phạm pháp luật vào các trường hợp cụ thể. Do đó, việc áp dụng pháp luật đúng hay không đúng có ý nghĩa vô cùng quan trọng không chỉ với đối tượng được áp dụng mà còn đối với cả cơ quan nhà nước. Đối với các cán bộ, công chức ngành tài chính, để có cơ sở đề xuất cấp trên áp dụng pháp luật được chính xác tránh những hậu quả có thể xảy ra đối với nhà nước và đối tượng điều chỉnh và đối với xã hội, cần lưu ý một số yêu cầu sau:

Yêu cầu thứ nhất, việc áp dụng pháp luật phải đảm bảo nguyên tắc pháp chế

Pháp chế xã hội chủ nghĩa (XHCN) là chế độ đặc biệt của đời sống chính trị – xã hội, trong đó mọi cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế, nhân viên nhà nước, nhân viên của các tổ chức xã hội và mọi công dân đều phải tuân thủ pháp luật một cách nghiêm chỉnh, triệt để, chính xác. Pháp chế là điều kiện cơ bản để phát huy dân chủ, theo đó có sự tôn trọng tính tối cao của Hiến pháp và pháp luật; đảm bảo tính thống nhất của pháp luật trên quy mô toàn quốc; các cơ quan xây dựng pháp luật, tổ chức thực hiện pháp luật, bảo vệ pháp luật phải đảm bảo sự phân công và phối hợp trong hoạt động một cách tích cực, chủ động và có hiệu quả.

Đặc điểm của pháp chế XHCN là tính thống nhất cao của nó. Tính thống nhất đó biểu hiện trước hết ở sự thống nhất chặt chẽ, sự phối hợp nhịp nhàng giữa các quy phạm pháp luật, giữa các văn  bản pháp luật với nhau cũng như ở tính thống nhất, đồng bộ của toàn bộ hệ thống pháp luật.

Điều đó đòi hỏi cơ quan nhà nước các cấp phải thực hiện nghiêm chỉnh các quy định trong hoạt động lập pháp, lập quy. Tính thống nhất của pháp chế xã hội chủ nghĩa còn thể hiện ở việc thực hiện thống nhất mọi pháp luật đã ban hành trong phạm vi cả nước. Trong nhà nước ta không thể chấp nhận tình trạng pháp chế ở địa phương này khác với pháp chế ở địa phương khác, cùng một văn bản pháp luật nhưng lại được mỗi nơi, mỗi cấp, mỗi ngành áp dụng khác nhau. Đứng trên quan điểm pháp chế thì mọi văn bản pháp luật đang có hiệu lực phải được mọi người thực hiện. Không một địa phương nào, một ngành nào được phép tuyên bố không thực hiện những văn bản đó với bất kỳ lý do nào, nếu cơ quan có thẩm quyền chưa tuyên bố hủy bỏ nó.

Bảng 23.3. Ví dụ minh họa về việc áp dụng pháp luật không thống nhất

(TBKTSG Online) – Rất nhiều bức xúc của doanh nghiệp đã được phản ánh tại hội nghị đối thoại giữa Bộ Tài chính và doanh nghiệp phía Nam về chính sách thuế, hải quan diễn ra ngày 5-11 tại TPHCM.

Đại diện của Tổng công ty bao bì Liksin mở đầu phần phát biểu của mình trong hội nghị nói trên rằng, thực sự bà không có câu hỏi nào cụ thể mà chỉ muốn tâm sự với các vị lãnh đạo của Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế, Tổng cục Hải quan trong dịp có mặt đông đủ.

Sau nhiều câu chuyện về khó khăn của doanh nghiệp trước tình trạng quy định, chính sách không rõ ràng, bà nói: “Doanh nghiệp như cá nằm trên thớt, thuế nói gì cũng phải chịu. Quét nhà thì ra rác. Cục thuế thì thoải mái nhưng doanh nghiệp xanh mặt với các chi cục thuế, hành đủ thứ. Thông tư quy định thì phải rõ ràng, đừng để ai hiểu sao thì hiểu”.

Vị đại diện của Liksin dẫn chứng, cán bộ của chi cục thuế khi kiểm tra doanh nghiệp đã nói: “phải phạt doanh nghiệp thôi!”. “Chúng tôi phản ứng là thông tư, quy định coi trên internet rõ ràng như vậy, sao phạt thì họ nói, sếp em nói đi kiểm tra mà không phạt là không được”, bà kể giữa hội trường.

Trong khi đó, đại diện Công ty Lạc Thủy, chuyên sản xuất giày da xuất khẩu thì phản ánh, khi thực hiện nghiệp vụ xuất nhập khẩu, mỗi cục hải quan áp dụng quy định một kiểu. Nơi thì bắt lưu mẫu (hàng trăm, hàng ngàn đôi), nơi lại không khiến doanh nghiệp không biết giải thích thế nào với khách hàng. Đây lại là việc ảnh hưởng đến bảo mật thông tin. Trong khi đó, theo quy định, việc lưu mẫu hàng xuất khẩu đã bãi bỏ từ lâu, chỉ còn yêu cầu đăng ký nguyên vật liệu.

Đại diện Ban Quản lý khu công nghiệp- khu chế xuất TPHCM (Hepza) bày tỏ, có những chuyện rất nhỏ nhưng nhân cơ hội này vẫn phải trình lên Bộ Tài chính bởi chỉ là một quy định nhưng tới hai cách hiểu của hai cơ quan, khiến doanh nghiệp đứng giữa chịu trận. Đó là chuyện xử lý máy móc, thiết bị cũ, lạc hậu.

Theo quy định hiện hành, viên chức chỉ được xử lý khi có văn bản cho phép của cơ quan quản lý. Tưởng là dễ hiểu vậy nhưng khi đi vào thực hiện, doanh nghiệp thuộc Hepza không được Chi cục Hải quan Linh Trung đồng ý với lý do: văn bản phúc đáp của Sở Khoa học Công nghệ TPHCM có con dấu, chữ ký về vấn đề doanh nghiệp hỏi không phải là văn bản pháp quy.

Ông Nguyễn Việt Hùng, phụ trách xuất nhập khẩu Công ty tư nhân thương mại Minh Luân cũng phản ánh: công ty này chuyên nhập khẩu máy kéo nông nghiệp đã qua sử dụng từ Nhật Bản về tân trang, sửa chữa rồi xuất khẩu đi nhiều nước. Trước khi thực hiện, công ty đã có công văn gửi đến cơ quan hải quan xin hướng dẫn về loại hình nhập khẩu và được Cục Giám sát quản lý – Tổng cục Hải quan trả lời thuộc hình thức tạm nhập tái xuất, thuộc đối tượng được hoàn thuế giá trị gia tăng.

Vướng mắc phát sinh khi Cục Thuế xuất nhập khẩu lại xác định sản phẩm nhập khẩu của công ty không thuộc đối tượng hoàn thuế. “Đây là mâu thuẫn giữa hai cơ quan thuộc Tổng cục Hải quan. Còn doanh nghiệp thì gặp khó. Mỗi tháng chúng tôi mất 500 triệu chi phí vận hành doanh nghiệp, công nhân viên không có việc làm vì hàng về cảng 20 ngày rồi mà không biết làm sao”, ông Hùng nói.

Trả lời từng vướng mắc của doanh nghiệp, ông Đỗ Hoàng Anh Tuấn, Thứ trưởng Bộ Tài chính, người chủ trì buổi đối thoại cho rằng, trong từng trường hợp, rõ ràng là cơ quan quản lý trực tiếp đã làm sai.

Chẳng hạn, trong sự việc của Công ty Minh Luân, ý kiến của Cục Giám sát quản lý là đúng. Trước khi nhập khẩu, doanh nghiệp đã xin phép và về nguyên tắc là được hoàn thuế. Do vậy, ông Tuấn yêu cầu Cục Thuế xuất nhập khẩu phải hoàn thuế ngay cho doanh nghiệp.

Hay như tâm tư của đại diện Công ty Liksin, ông Tuấn khẳng định, rõ ràng cơ chế có vấn đề khi doanh nghiệp sợ nhất là các chi cục. Hiện tại, 80% số thu thuế nằm ở cục nhưng cán bộ thuế lại tập trung ở chi cục.

Điều đó có nghĩa nhiều người mà ít việc nên “sinh chuyện”. Lãnh đạo các cục thuế có mặt phải bình tĩnh lắng nghe ý kiến của doanh nghiệp để có thái độ, xử lý. “Cơ quan thuế phải đồng hành cùng doanh nghiệp chứ không phải đồng rồi hành”, ông Tuấn nói.

Yêu cầu thứ hai, việc áp dụng pháp luật phải đảm bảo nguyên tắc khách quan

Khách quan là một trong các nguyên tắc quan trọng của quá trình nhận thức, nó đòi hỏi việc nhận thức phải dựa vào những cơ sở thực tế khách quan, xuất phát từ chính bản thân đối tượng, từ những thuộc tính và mối liên hệ vốn có của nó, từ những quy luật vận động và phát triển của bản thân nó; không thể dựa vào ý muốn chủ quan hoặc lấy ý chí chủ quan áp đặt cho thực tế, đồng thời không được cắt xén, không được gán ghép cho sự vật, hiện tượng những gì mà chúng vốn không có. Nắm vững và vận dụng đúng đắn nguyên tắc khách quan sẽ giúp các chủ thể quản lý hiểu được sự cần thiết phải quan sát thực tế một cách tỉ mỉ, chính xác; phải xuất phát từ bản thân đối tượng, phải xem xét đối tượng đúng như nó vốn có trong thực tế.

Muốn đảm bảo nhận thức được khách quan thì khi giải quyết một vấn đề, các chủ thể quản lý cần phải xem xét một cách toàn diện. Qua đó mới đánh giá đối tượng một cách chính xác, đầy đủ, toàn vẹn; xem xét đối tượng như một chỉnh thể, hệ thống; tránh được lối tư duy phiến diện, ngụy biện. Thực tế cho thấy, nếu nghiên cứu đối tượng một cách phiến diện sẽ dẫn tới những kết luận sai lầm. Trong việc tuân thủ pháp luật đòi hỏi cơ quan nhà nước, các chủ thể quản lý phải làm gương mới có thể đưa pháp luật vào cuộc sống. Việc áp dụng pháp luật phải đúng đối tượng, đúng vụ việc, đúng pháp luật, công khai, minh bạch, khách quan, vô tư. Người áp dụng pháp luật phải biết lắng nghe ý kiến của nhân dân, phải tìm hiểu tâm tư nguyện vọng của họ, khi đó đối tượng bị quản lý sẽ hợp tác với chính quyền và tự nguyện chấp hành pháp luật.

Yêu cầu thứ ba, việc áp dụng pháp luật phải đảm bảo nguyên tắc công bằng

Trước pháp luật mọi cá nhân đều bình đẳng và được đối xử công bằng vì vậy yêu cầu về nguyên tắc công bằng khi áp dụng pháp luật được đưa ra để tránh trường hợp các cán bộ công chức cơ quan tài chính lợi dụng chức vụ quyền hạn của mình để quyết định áp dụng pháp luật theo hướng gây bất lợi hoặc có lợi hơn (cũng là không công bằng vì với cùng một chính sách pháp luật mà những đối tượng khác nhau lại có cách áp dụng khác nhau) cho một tổ chức, cá nhân nào đó.

Nguyên tắc công bằng đòi hỏi các chủ thể quản lý trong việc áp dụng pháp luật để tránh gây thiệt hại đáng tiếc cho các đối tượng quản lý. Ý nghĩa này cần được đặc biệt nhấn mạnh đối với những thành viên được xã hội phân công đảm nhận các chức năng hoạch định và thực thi chính sách.

Các cán bộ, công chức ngành tài chính chính là những người được trao quyền để thực hiện hoặc đề xuất thực hiện chức năng trên do đó cần phải rất lưu ý đối với yêu cầu này. Trường hợp các cán bộ công chức khi thực hiện nhiệm vụ công vụ của mình gây ra hậu quả, thiệt hại với đối tượng chịu sự điều chỉnh thì phải thực hiện bồi thường đối với thiệt hại đã gây ra theo quy định pháp luật về trách nhiệm bồi thường của nhà nước.

Luật Trách nhiệm bồi thường của nhà nước đã được ban hành năm 2009. Đạo luật này đặt cơ sở pháp lý cho việc quy trách nhiệm vật chất của Nhà nước trong trường hợp người thi hành công vụ gây thiệt hại cho dân trong quá trình thực thi công vụ. Việc ban hành luật này sẽ đáp ứng được một phần mong đợi của người dân về một bộ máy công quyền hiệu quả với một đội ngũ công chức trong sạch, có năng lực, mẫn cán và có trách nhiệm. Nó giúp khai thông bế tắc trong nhiều trường hợp người dân thường bị thiệt hại do hành vi sai trái hoặc thiếu trách nhiệm của cơ quan công quyền, chẳng hạn như: quy hoạch treo; chậm trễ trong việc  giải quyết thủ tục hành chính; bắt giữ, xử phạt bừa bãi, gây oan ức cho người bị xử phạt.

Bảng 23.4. Ví dụ minh họa về việc áp dụng pháp luật không đảm bảo công bằng

Áp mã thuế sai, Hải quan Tân Cảng thua kiện

14:28:00 17/02/2012

Ngày 16/2, Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại TP HCM chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn là Công ty cổ phần Máy quay phim Phước (trụ sở đặt tại quận 1, TP HCM; gọi tắt Công ty Phước), tuyên hủy hai quyết định của Hải quan Tân Cảng (TP HCM) vì áp sai mã thuế.

Theo đơn kiện, đầu tháng 9/2010, Công ty Phước nhập khẩu 2 lô hàng từ Nhật về gồm chân camera video các loại, 3 nhánh bánh xe và các bộ phận khác của chân camera. Công ty mở tờ khai hải quan cho lô hàng thứ nhất ngày 9/9 và lô thứ hai ngày 7/10/2010 áp cùng một mã số thuế là “bộ phận chuyên dùng hoặc chủ yếu dùng cho camera hoặc máy ghi video camera”, với mã số thuế 8525 và 8529 của “Biểu thuế xuất nhập khẩu” do Bộ Tài chính ban hành quy định mức thuế suất ưu đãi 0%.

Đến ngày 20/9/2010 và 2/11/2010, Chi cục trưởng Hải quan cửa khẩu Tân Cảng ban hành hai quyết định 20304 và 22888 để áp thuế 15% theo mã hàng 7616, buộc Công ty Phước phải nộp tổng cộng hơn 140 triệu đồng. Không đồng ý với quyết định này, công ty đã khởi kiện vụ việc ra tòa, yêu cầu hủy hai quyết định trên vì cho rằng mã 7616 là chương có tên gọi “các sản phẩm bằng nhôm” chỉ dành cho các hàng hóa chưa được định danh, bao gồm: đai ốc, bu-lông, lưới rào, mành, bàn đạp, móc treo quần áo… còn hàng mà đơn vị này nhập về là phụ tùng, một bộ phận, phụ tùng  của camera.

Tại phiên tòa sơ thẩm, HĐXX tuyên bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì cho rằng chân máy quay là “phụ tùng” không phải “bộ phận” của máy quay. Đồng thời, mã hàng 9007 cũng không thể sử dụng áp vào đây, do mặt hàng này không nằm trong nhóm để áp mã 9007.

 Tuy nhiên HĐXX cấp phúc thẩm lại nhận định khác khi cho rằng việc áp mã thuế đối với chân máy camera, thuế suất 0% của Công ty Phước là có cơ sở. Tổng cục Hải quan, Cục Hải quan TP Hồ Chí Minh, cơ quan thuế cũng có văn bản cho rằng mặt hàng này thuế suất 0%. Còn cách áp mã thuế của Hải quan Tân Cảng là không đúng với hướng dẫn của cấp trên, không đúng với biểu thuế 216 năm 2009. Vì vậy, HĐXX tuyên hủy hai quyết định 20304 và 22888, hoàn trả lại cho nguyên đơn số tiền thuế đã nộp

Yêu cầu thứ tư, việc áp dụng pháp luật phải được thực hiện một cách thận trọng bảo đảm tính đúng đắn, chính xác

Nguyên tắc này tưởng chừng như là hiển nhiên nhưng có một thực tế là một bộ phận cán bộ công chức cơ quan tài chính hiện không đủ năng lực, trình độ nhận thức dẫn đến việc áp dụng sai hoặc có trường hợp Lãnh đạo cấp phòng là người có khả năng trình độ nhận thức nhưng có một số trường hợp còn chưa rõ ràng các tình tiết, việc xử lý chưa đảm bảo, chắc chắn nhưng lại áp dụng pháp luật theo cảm tính mà không đề xuất yêu cầu thủ trưởng, cơ quan cấp trên hướng dẫn dẫn đến việc áp dụng pháp luật không chính xác. Vì vậy, yêu cầu này cần được các cán bộ, công chức ngành tài chính thực sự để tâm.

Yêu cầu thứ năm, việc áp dụng pháp luật phải bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của công dân

 Yêu cầu này có ý nghĩa đối với trường hợp pháp luật thực sự quy định không rõ ràng, không chính xác mà đối tượng điều chỉnh xứng đáng được hưởng quyền và lợi ích hợp pháp phù hợp về đạo lý. Do đó vai trò của cán bộ, công chức tài chính là phải đề xuất bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân mà không trái các quy định của pháp luật.

23.3. Quy trình áp dụng pháp luật trong công tác

Pháp luật điều chỉnh đa dạng các lĩnh vực nên việc áp dụng pháp luật cũng rất đa dạng. Trên thực tế, sự khác biệt về nội dung, yêu cầu ở các lĩnh vực điều chỉnh của pháp luật đã đem lại sự khác biệt nhất định về quá trình thực thi và áp dụng pháp luật. Do đó, không thể có qui trình áp dụng pháp luật chung cho mọi lĩnh vực, mọi quan hệ xã hội. Tuy nhiên, căn cứ vào thực tế quá trình áp dụng pháp luật thì quy trình áp dụng có thể tạm chia thành 4 giai đoạn chung như sau:

23.3.1. Giai đoạn 1: Phân tích, đánh giá nội dung, điều kiện hoàn cảnh sự kiện thực tế cần áp dụng pháp luật.

Đây là giai đoạn khởi đầu của cả qui trình áp dụng pháp luật nên nó có tính chất bản lề. Trước hết cần xác định đúng đắn nội dung, đối tượng, bản chất pháp lý của vụ việc phát sinh có yêu cầu áp dụng pháp luật để giải quyết. Nếu xác định bản chất vụ việc không chính xác thì sẽ có không có cơ sở để áp dụng pháp luật. Ví dụ: Trong lĩnh vực thuế, bản chất của hành vi vi phạm pháp luật là chậm nộp tiền thuế nhưng lại xác định là trốn thuế (mức độ hành vi vi phạm lớn hơn) hoặc ngược lại sẽ dẫn đến hậu quả là việc xác định mức xử phạt đối với hành vi vi phạm là không chính xác.

Trong bước này, cán bộ công chức cần xem xét một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ tất cả những tình tiết của vụ việc, làm sáng tỏ những sự kiện có liên quan; nhận diện đầy đủ vụ việc và tuân thủ các thủ tục hành chính, tư pháp trong suốt quá trình xem xét vụ việc. Cần phân tích kỹ lưỡng các tình tiết của vụ việc (bao gồm các nội dung về thời gian, không gian, đối tượng, hành vi điều chỉnh…), để có cơ sở lựa chọn văn bản quy phạm pháp luật để áp dụng vào giải quyết vụ việc trong bước 2. Nếu thấy chưa đủ điều kiện hoặc không cần thiết phải tiếp tục áp dụng pháp luật thì các chủ thể có thẩm quyền ra quyết định tạm đình chỉ hoặc chấm dứt việc áp dụng pháp luật.

23.3.2. Giai đoạn 2: Lựa chọn quy phạm pháp luật làm cơ sở pháp lý cho việc đưa ra các quyết định áp dụng pháp luật.

Đây là một giai đoạn quan trọng trong cả quy trình áp dụng pháp luật là vì nếu không lựa chọn văn bản quy phạm pháp luật chính xác thì việc đưa ra quyết định áp dụng pháp luật ở bước 3 trước tiên sẽ không đảm bảo cơ sở pháp lý chưa cần xét đến đạo lý, bản chất của vấn đề.

Việc lựa chọn văn bản quy phạm pháp luật làm cơ sở pháp lý cho việc đưa ra các quyết định áp dụng pháp luật được thực hiện trên cơ sở phân tích, đánh giá nội dung sự kiện ở giai đoạn 1. Ở đây, cần xác định rõ việc lựa chọn quy phạm pháp luật bao gồm cả hai loại là quy phạm nội dung và quy phạm hình thức hay quy phạm thủ tục. Về nguyên tắc, việc áp dụng văn bản quy phạm pháp luật phải là văn bản pháp luật còn hiệu lực và có phạm vi, đối tượng phù hợp với phạm vi có liên quan của vụ việc cần giải quyết. Trên thực tế việc xác định quy phạm pháp luật áp dụng có thể xảy ra các khả năng như:

– Có một quy phạm pháp luật đáp ứng đủ yêu cầu để làm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng. Đây là điều rất thuận lợi cho các chủ thể có thẩm quyền, giúp họ có thể dễ dàng xác định được cơ sở pháp lý để sớm ban hành văn bản, quyết định áp dụng pháp luật đúng thời hạn, thời hiệu theo quy định của pháp luật.

–  Có nhiều quy phạm pháp luật cùng điều chỉnh quan hệ đó nhưng đưa ra cách giải quyết khác nhau. Đối với trường hợp này, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 đã quy định cụ thể về nguyên tắc áp dụng quy phạm pháp luật tại khoản 2, 3, 4 Điều 83. Cụ thể:

“2. Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn.

3. Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật do cùng một cơ quan ban hành mà có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của văn bản được ban hành sau.

4. Trong trường hợp văn bản quy phạm pháp luật mới không quy định trách nhiệm pháp lý hoặc quy định trách nhiệm pháp lý nhẹ hơn đối với hành vi xảy ra trước ngày văn bản có hiệu lực thì áp dụng văn bản mới.”

Do đó, trong mọi trường hợp việc xác định văn bản quy phạm pháp luật để áp dụng phải được thực hiện nhất quán theo nguyên tắc này. Trường hợp có vướng mắc khác ngoài những nguyên tắc kể trên, phải tham mưu, đề xuất xin ý kiến chỉ đạo của các cơ quan cấp trên để không vi phạm về thẩm quyền.

23.3.3. Giai đoạn 3: Ra quyết định áp dụng pháp luật để giải quyết vụ việc.

Đây là giai đoạn quan trọng bởi nó phản ánh kết quả thực tế của quá trình áp dụng pháp luật của các chủ thể có thẩm quyền. Về bản chất, đây là giai đoạn chuyển hóa những qui định chung được nêu ra trong các qui phạm pháp luật thành những qui định cụ thể, cá biệt. Vì thế, có thể hiểu: “Quyết định áp dụng pháp luật được hiểu là loại quyết định do cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có thẩm quyền áp dụng pháp luật ban hành theo hình thức, thủ tục do pháp luật quy định, nhằm cụ thể hóa các quy phạm pháp luật thành mệnh lệnh pháp luật áp dụng đối với đối tượng xác định trong trường hợp cụ thể và được nhà nước bảo đảm thực hiện”.

Quyết định áp dụng pháp luật thường bao gồm các loại quyết định chính sau:

– Quyết định thanh tra, kiểm tra

– Quyết định xử phạt vi phạm hành chính

– Quyết định giải quyết khiếu nại, tố cáo

– Quyết định cưỡng chế thi hành quyết định hành chính…

Các quyết định áp dụng pháp luật được ban hành ra phải đảm bảo tính khách quan, hợp pháp cũng như sự phù hợp cả về nội dung và hình thức. Sự phù hợp của quyết định áp dụng pháp luật được đưa ra cần phải xem xét ở cả hai khía cạnh là pháp lý và thực tế. Theo đó, mức độ cá thể hóa càng chi tiết, sát thực về nội dung, yêu cầu và đảm bảo khách quan thì quyết định áp dụng pháp luật càng chính xác, hiệu quả. Quyết định áp dụng pháp luật thường trực tiếp làm phát sinh những quyền và nghĩa vụ của các đối tượng có liên quan. Vì vậy, quyết định áp dụng pháp luật nếu được ban hành kịp thời, đúng đắn thì sẽ bảo vệ kịp thời các quyền và lợi ích chính đáng đã, đang bị xâm hại hoặc đang bị đe dọa xâm hại, hay tạo điều kiện đầy đủ cho các đối tượng tác động của quyết định thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình. Ngược lại, quyết định áp dụng pháp luật sai trái cũng có khả năng gây tổn hại các quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức và cộng đồng.

Những trường hợp quyết định áp dụng pháp luật ban hành không đúng hình thức có thể gây hiểu lầm về nội dung, tính chất vụ việc, ban hành không đúng thủ tục có thể làm cho nội dung quyết định không chính xác, thiếu khách quan nên không ít trường hợp quyết định áp dụng pháp luật được ban hành không đúng thủ tục, không có hiệu lực pháp lí.

23.3.4. Giai đoạn 4: Tổ chức thực hiện trên thực tế quyết định áp dụng pháp luật đã được ban hành và đã có hiệu lực pháp lý.

Áp dụng pháp luật chỉ có giá trị thực và hiệu lực khi nội dung quyết định cá biệt được các chủ thể có liên quan tôn trọng thực hiện. Việc bảo đảm cho các quyết định áp dụng pháp luật có hiệu lực thực thi trên thực tế có ý nghĩa quan trọng, có làm được như vậy thì mục đích điều chỉnh của pháp luật mới đạt được trên thực tế . Để các quyết định áp dụng pháp luật được các chủ thể có liên quan tôn trọng thực hiện thì trước tiên việc áp dụng pháp luật phải chính xác phù hợp, công bằng. Thứ hai, cần chuẩn bị tốt các điều kiện thiết yếu để các chủ thể đó có khả năng thực hiện quyền và nghĩa cụ pháp lý cũng như trách nhiệm và trách nhiệm pháp lý của họ.

Ví dụ trong lĩnh vực thuế, để đảm bảo việc thực hiện Quyết định hành chính thuế của các chủ thể chịu tác động, Nghị định số 129/2013/NĐ-CP ngày 16/10/2013, Thông tư số 215/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 đã quy định cụ thể trình tự, thủ tục thực hiện các quy định cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế đối với trường hợp tổ chức, cá nhân đã quá thời hạn chấp hành hoặc thời hạn hoãn chấp hành các quyết định hành chính thuế.

Ngoài ra, để đảm bảo hiệu lực và hiệu quả của việc áp dụng pháp luật trên thực tế còn cần tiến hành các hoạt động kiểm tra, giám sát việc thực thi các quyết định áp dụng pháp luật đối với chủ thể có liên quan.

23.4. Bài tập tình huống

23.4.1. Tình tiết sự việc

– Ngày 10/4/2013 Anh Nguyễn Văn A nộp hồ sơ khai lệ phí trước bạ Chi cục Thuế B thông qua Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất đối với mảnh đất C. Mảnh đất C này do ông nội anh A cho bố anh A (đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất). Bố anh A tiếp tục cho anh A mảnh đất này. Trên tờ khai lệ phí trước bạ anh A khai vào mục tài sản thuộc diện không phải nộp lệ phí trước bạ với lý do là tài sản được bố đẻ anh tặng.

– Anh A nộp đầy đủ hồ sơ khai lệ phí trước bạ bao gồm:

+ Tờ khai lệ phí trước bạ theo mẫu quy định tại Thông tư 28/2011/TT-BTC

+ Các giấy tờ chứng minh nguồn gốc hợp pháp của mảnh đất C

+ Các giấy tờ chứng minh mối quan hệ giữa anh A và bố anh A

23.4.2. Giải quyết tình huống

Bước 1: Phân tích tình huống

Đây là trường hợp vè chính sách đối tượng không phải nộp lệ phí trước bạ, có hồ sơ đầy đủ có thể xem xét chuyển sang bước sau để lựa chọn văn bản pháp luật áp dụng.

Bước 2: Lựa chọn văn bản pháp luật áp dụng

– Khoản 10 Điều 3 Thông tư 124/2011/TT-BTC quy định: “10. Nhà, đất  thừa kế, hoặc là quà tặng giữa vợ với chồng; cha đẻ, mẹ đẻ với con đẻ; cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi; cha chồng, mẹ chồng với con dâu; cha vợ, mẹ vợ với con rể; ông nội, bà nội với cháu nội; ông ngoại, bà ngoại với cháu ngoại; anh, chị, em ruột với nhau nay được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất lần đầu.” Nếu áp dụng quy định này mảnh đất C của anh A không thuộc đối tượng không phải nộp lệ phí trước bạ.

– Khoản 1 Điều 1 Thông tư 34/2013/TT-BTC sửa đổi khoản 10 Điều 3 Thông tư 124/2011/TT-BTC quy định: “10. Nhà, đất thừa kế, hoặc là quà tặng giữa: vợ với chồng; cha đẻ, mẹ đẻ với con đẻ; cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi; cha chồng, mẹ chồng với con dâu; cha vợ, mẹ vợ với con rể; ông nội, bà nội với cháu nội; ông ngoại, bà ngoại với cháu ngoại; anh, chị, em ruột với nhau nay được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.” Nếu áp dụng quy định này mảnh đất C của anh A thuộc đối tượng không phải nộp lệ phí trước bạ.

– Tại khoản 1 Điều 83 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật

“1. Văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng từ thời điểm bắt đầu có hiệu lực.

Văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng đối với hành vi xảy ra tại thời điểm mà văn bản đó đang có hiệu lực. Trong trường hợp văn bản có hiệu lực trở về trước thì áp dụng theo quy định đó.”

– Thông tư 34/2013/TT-BTC có hiệu lực thi hành từ ngày 01/4/2013

– Anh A kê khai nộp lệ phí trước bạ vào ngày 10/4/2013

Căn cứ các quy định trên, mảnh đất C thuộc đối tượng không phải nộp lệ phí trước bạ theo quy định tại khoản 1 Điều 1 Thông tư 34/2013/TT-BTC.

Bước 3: Quyết định áp dụng pháp luật

– Điểm g khoản 1 Điều 17 Thông tư 28/2011/TT-BTC quy định

g) Chi cục Thuế ra thông báo nộp lệ phí trước bạ trong thời hạn ba ngày làm việc (đối với nhà, đất) hoặc trong một ngày làm việc (đối với tàu thuyền, ôtô, xe máy, súng săn, súng thể thao) kể từ khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ. Trường hợp hồ sơ không hợp lệ thì Chi cục Thuế trả lại hồ sơ cho Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất hoặc cơ quan tài nguyên và môi trường (đối với hồ sơ lệ phí trước bạ nhà, đất), hoặc cho người có tài sản (đối với hồ sơ trước bạ tài sản khác) theo thời hạn tại điểm này.

Thông báo nộp lệ phí trước bạ đối với nhà, đất theo mẫu 01-1/LPTB ban hành kèm theo Thông tư này; Thông báo nộp lệ phí trước bạ của tài sản khác được ghi ngay trên Tờ khai nộp lệ phí trước bạ của tài sản đó.”

Căn cứ quy định trên Chi cục Thuế B phải ra thông báo nộp lệ phí trước bạ trong đó nêu rõ mảnh đất C của anh A không thuộc đối tượng nộp lệ phí trước bạ trong thời hạn 3 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ.

23.5. Câu hỏi ôn tập

1/ Theo anh/chị tại sao cập nhật và áp dụng pháp luật lại có vai trò quan trọng đối với cán bộ công chức ngành vực tài chính?

2/ Theo anh/chị việc cập nhật, áp dụng pháp luật trong lĩnh vực tài chính đòi hỏi những yêu cầu gì?

3/ Theo anh/chị vì sao phải đặt ra yêu cầu nắm vững quy định pháp luật về ban hành quy phạm pháp luật đối với việc cập nhật áp dụng pháp luật trong lĩnh vực tài chính?

4/ Với tư cách là một cán bộ công chức ngành tài chính, các anh chị đã đảm bảo được các yêu cầu đặt ra nào của việc cập nhật và áp dụng pháp luật?./.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1/ Vụ trưởng Vụ Pháp chế – Bộ Tài chính Nguyễn Trọng Nghĩa (Chủ nhiệm đề tài). Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ “Đề án về pháp luật tài chính”, 2010;

2/ Tài liệu đào tạo, bồi dưỡng Lãnh đạo cấp phòng và tương đương – Trường Bồi dưỡng cán bộ tài chính, 2013

3/ Tiến sỹ Nguyễn Thị Hồi – Trường Đại học Luật Hà Nội (Chủ nhiệm đề tài). Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường “Áp dụng pháp luật ở Việt Nam hiện nay”, 2009;

4/ Một số văn bản quy phạm pháp luật:

– Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật số 17/2008/QH12 ngày 03/06/2008;

– Luật trách nhiệm bồi thường nhà nước số  35/2009/QH12 ngày 18/6/2009;

– Luật Cán bộ, công chức số 22/2008/QH12 ngày 13/11/2008;

– Luật Xử lý vi phạm hành chính số 15/2012/QH13 ngày 20/6/2012;

– Một số văn bản pháp luật về tài chính trong các lĩnh vực:

+ Pháp luật về quản lý ngân sách nhà nước, tài sản công và đầu tư;

+ Pháp luật về thuế, hải quan;

+ Pháp luật về tài chính doanh nghiệp và quản lý giá;

+ Pháp luật về thị trường tài chính và dịch vụ tài chính;

+ Pháp luật về tài chính đối ngoại và hội nhập quốc tế;

+ Pháp luật về thanh tra kiểm tra tài chính và giám sát tài chính.

 

 

 

 

 

Bản in

 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *