Chuyên đề 22: TRIỂN KHAI CHƯƠNG TRÌNH TÍN DỤNG CHÍNH SÁCH QUA NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI VIỆT NAM

Chuyên đề 22: TRIỂN KHAI CHƯƠNG TRÌNH TÍN DỤNG CHÍNH SÁCH QUA NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI VIỆT NAM

Nguyễn Thị Vân Hà

Vụ TCCNH&TCTC – Bộ Tài chính

 Việc thành lập và đi vào hoạt động của hệ thống Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam (NHCSXH) trên cơ sở tổ chức lại Ngân hàng phục vụ người nghèo nhằm tách tín dụng chính sách ra khỏi tín dụng thương mại (năm 2003), là mốc quan trọng trong việc tổ chức triển khai các Chương trình, tín dụng chính sách của Nhà nước nhằm vào các đối tượng thuộc diện chính sách xã hội, góp phần quan trọng vào quá trình xoá đói giảm nghèo, đảm bảo an sinh xã hội, dần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân; sự ra đời của NHCSXH có vai trò rất quan trọng là cầu nối đưa chính sách tín dụng ưu đãi của Chính phủ đến với hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác; tạo điều kiện cho người nghèo tiếp cận được các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; góp phần khắc phục những khiếm khuyết và đồng bộ hoá hệ thống ngân hàng; hiện thực hoá các Chương trình mục tiêu quốc gia và cam kết của Chính phủ Việt Nam với cộng đồng quốc tế về xoá đói giảm nghèo. NHCSXH đã khẳng định được vai trò là công cụ đắc lực hữu hiệu của Chính phủ trong việc thực hiện mục tiêu xóa đói giảm nghèo, đảm bảo an sinh xã hội.

22.1. Khái quát về tín dụng chính sách trong hoạt động của NHCSXH:

– Tín dụng chính sách trong hoạt động của NHCSXH là việc sử dụng các nguồn lực tài chính do Nhà nước huy động để cho các đối tượng chính sách theo chỉ định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ vay ưu đãi phục vụ sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm, cải thiện đời sống; góp phần thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xoá đói giảm nghèo, ổn định xã hội. Tín dụng chính sách trong hoạt động của NHCSXH là công cụ thực hiện có hiệu quả tín dụng chính sách của Nhà nước về hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững vì vậy cần tổ chức, triển khai thực hiện tích cực và hiệu quả chính sách này.

– Đối tượng phục vụ của Ngân hàng Chính sách xã hội là người nghèo, các đối tượng chính sách khác theo quy định của Nhà nước (ưu tiên hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào ở các vùng khó khăn) và các đối tượng được các tổ chức, cá nhân ủy thác cho Ngân hàng Chính sách xã hội trực tiếp cho vay,cụ thể: (i) Hộ nghèo; (ii) hộ cận nghèo; (iii) hộ thoát nghèo; (iv) học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn đang học đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và học nghề; (v) các đối tượng cần vay vốn để giải quyết việc làm; (vi) các đối tượng chính sách đi lao động có thời hạn ở nước ngoài; (vii) các tổ chức kinh tế và hộ sản xuất, kinh doanh thuộc hải đảo; thuộc khu vực II, III miền núi và thuộc Chương trình Phát triển kinh tế – xã hội các xã đặc biệt khó khăn miền núi, vùng sâu, vùng xa; (viii) các đối tượng khác khi có quyết định của Thủ tướng Chính phủ.

– Đặc điểm của tín dụng chính sách qua NHCSXH: Người nghèo và các đối tượng chính sách khác được dễ dàng tiếp cận với nguồn vốn vay ưu đãi (lãi suất thấp, thời hạn vay dài, thủ tục đơn giản…). Người nghèo và các đối tượng chính sách khác khi vay vốn tại NHCSXH về cơ bản là không phải thế chấp tài sản (trừ các tổ chức kinh tế). Riêng đối với hộ nghèo, được miễn lệ phí làm thủ tục hành chính trong việc vay vốn.

– Vai trò của tín dụng chính sách qua NHCSXH: Trong những năm qua, tín dụng chính sách xã hội do Ngân hàng Chính sách xã hội thực hiện là một giải pháp sáng tạo, có tính nhân văn sâu sắc và phù hợp với thực tiễn của Việt Nam, góp phần quan trọng thực hiện có hiệu quả các chủ trương, chính sách, các mục tiêu, nhiệm vụ mà Đảng và Nhà nước đã đề ra về giảm nghèo, tạo việc làm, phát triển nguồn nhân lực, bảo đảm an sinh xã hội, ổn định chính trị và phát triển kinh tế, xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

– Phương thức hoạt động của NHCSXH: Việc cho vay của Ngân hàng Chính sách xã hội được thực hiện theo phương thức uỷ thác cho các tổ chức tín dụng, tổ chức chính trị – xã hội theo hợp đồng uỷ thác hoặc trực tiếp cho vay đến Người vay. Việc cho vay đối với hộ nghèo căn cứ vào kết quả bình xét của Tổ tiết kiệm và vay vốn. Tổ Tiết kiệm và vay vốn là tổ chức do các tổ chức chính trị – xã hội hoặc cộng đồng dân cư tự nguyện thành lập trên địa bàn hành chính của xã, được Uỷ ban nhân dân cấp xã chấp thuận bằng văn bản. Hoạt động của Tổ tiết kiệm và vay vốn do Ngân hàng Chính sách xã hội hướng dẫn.

22.2. Mục tiêu và kết quả đạt được

a) Mục tiêu hoạt động của NHCSXH:

– Mục tiêu tổng quát:

Phát triển NHCSXH theo hướng ổn định, bền vững, đủ năng lực để thực hiện tốt tín dụng chính sách xã hội của Nhà nước; gắn liền với việc phát triển các sản phẩm dịch vụ hỗ trợ có hiệu quả hơn cho người nghèo, hộ cận nghèo và các đối tượng chính sách khác.

– Mục tiêu cụ thể

+ 100% người nghèo và các đối tượng chính sách khác có nhu cầu và đủ điều kiện đều được tiếp cận các sản phẩm, dịch vụ do Ngân hàng Chính sách xã hội cung cấp.

+ Dư nợ tăng trưởng bình quân hàng năm khoảng 10%.

+ Tỷ lệ nợ quá hạn dưới 3%/tổng dư nợ.

+ Đơn giản hóa thủ tục và tiêu chuẩn hóa quy trình nghiệp vụ.

+ Đa dạng hóa các sản phẩm, dịch vụ.

+ Hiện đại hoá các hoạt động nghiệp vụ, hội nhập với hệ thống ngân hàng trong khu vực và trên thế giới.

+ Hoàn thiện, phát huy hiệu lực và hiệu quả hoạt động của hệ thống kiểm tra, kiểm soát và phân tích, cảnh báo rủi ro.

+ Phối hợp, lồng ghép có hiệu quả hoạt động tín dụng chính sách xã hội với hoạt động hỗ trợ kỹ thuật, chuyển giao công nghệ, khuyến công, khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư và hoạt động của các tổ chức chính trị – xã hội nhằm mục tiêu giảm nghèo nhanh và bền vững, bảo đảm an sinh xã hội.

b) Kết quả đạt được:

– Thứ nhất, doanh số cho vay và số lượng khách hàng vay vốn qua NHCSXH tăng qua từng năm đã góp phần không nhỏ vào quá trình xoá đói giảm nghèo, đảm bảo an sinh xã hội; việc triển khai các chủ trương, chính sách tín dụng của Nhà nước nhằm xoá đói, giảm nghèo, góp phần đảm bảo an sinh xã hội qua NHCSXH trong thời gian qua đang từng bước được xã hội hoá; NHCSXH đã và đang phối hợp chặt chẽ với các hội, đoàn thể (Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh và Đoàn Thanh niên), thực hiện nhiệm vụ uỷ thác cho vay vốn thông qua khoảng 200 ngàn Tổ Tiết kiệm và vay vốn (TK&VV) tại khắp thôn, bản trong cả nước, với hàng trăm ngàn cán bộ không biên chế đang sát cánh cùng ngân hàng trong công cuộc “xóa đói giảm nghèo”. Chính sách tín dụng ưu đãi đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác đã đến với 100% số xã trong cả nước. Sau 12 năm hoạt động, được sự quan tâm, chỉ đạo của các cơ quan Đảng và chính quyền các cấp, sự ủng hộ của người nghèo và các đối tượng chính sách khác, cùng với sự nỗ lực phấn đấu của tập thể cán bộ, viên chức trong toàn hệ thống, NHCSXH đã phối hợp chặt chẽ với các tổ chức chính trị-xã hội thực hiện tốt những mục tiêu mà Chính phủ đã đặt ra ban đầu là: Tập trung nguồn lực lớn, tạo bước đột phá trong công tác giảm nghèo; nâng cao chất lượng và hiệu quả vốn tín dụng chính sách; tách tín dụng chính sách ra khỏi tín dụng thương mại; huy động lực lượng toàn xã hội tham gia vào sự nghiệp xóa đói giảm nghèo và góp phần hạn chế nạn cho vay nặng lãi ở khu vực nông thôn.

– Thứ hai, hệ thống NHCSXH đã tập trung mọi nguồn lực để tăng nhanh quy mô tín dụng chính sách xã hội, không ngừng nâng cao chất lượng tín dụng và hiệu quả sử dụng vốn.Đã tổ chức tốt việc tiếp nhận các nguồn vốn tín dụng ưu đãi do các tổ chức tài chính và các Ngân hàng thương mại bàn giao sang; đồng thời, bảo đảm việc thực hiện các chương trình một cách liên tục. Trong những năm qua, mặc dù nền kinh tế có những thời điểm gặp nhiều khó khăn, diễn biến trên thị trường tiền tệ biến động phức tạp, khó lường, nhưng NHCSXH đã được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước và các Bộ ngành liên quan tạo điều kiện và có nhiều giải pháp hiệu quả giúp huy động vốn, đảm bảo đủ nguồn vốn cho thanh toán và đáp ứng kịp thời nhu cầu vay vốn của người nghèo và các đối tượng chính sách khác, hoàn thành tốt kế hoạch tăng trưởng tín dụng hàng năm được Thủ tướng Chính phủ giao. Tính đến thời điểm 31/12/2014, tổng nguồn vốn ước đạt 136 nghìn tỷ đồng, tăng 128 nghìn tỷ đồng so với khi thành lập, tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm đạt 33%. Cơ cấu nguồn vốn của NHCSXH bao gồm vốn ngân sách Trung ương cấp, vốn địa phương đóng góp (ủy thác), vốn huy động, đi vay và một số nguồn vốn khác.

– Thứ ba, hệ thống NHCSXH đã trở thành công cụ hữu hiệu của chính phủ trong việc thực thi xoá đói giảm nghèo, đảm bảo an sinh xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân thông qua các Chương trình mục tiêu lớn của Đảng và Nhà nước: Từ việc chỉ triển khai thực hiện 03 Chương trình tín dụng trong những năm đầu mới thành lập, đến nay đã có 19 Chương trình tín dụng cấp quốc gia, trong đó có 15 Chương trình trong nước (vốn trong nước) và 04 Chương trình của các tổ chức quốc tế (vốn nước ngoài); ngoài ra còn có nhiều chương trình, dự án của các địa phương uỷ thác cho NHCSXH thực hiện. Các chương trình tín dụng đã được tổ chức thực hiện kịp thời và đúng chính sách, chế độ; tiền vốn được giao trực tiếp cho người thụ hưởng ngay tại xã, không qua cầu cấp trung gian, trước sự chứng kiến của các tổ chức chính trị – xã hội, của chính quyền và nhân dân, đảm bảo nguyên tắc quản lý công khai và dân chủ. Tổng dư nợ của NHCSXH đến 31/12/2014 ước đạt 129 nghìn tỷ đồng, gấp trên 18 lần so với thời điểm thành lập; tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm đạt 29,4%. Hiện có gần 7 triệu hộ nghèo, hộ cận nghèo và các đối tượng chính sách còn dư nợ, tăng hơn 04 triệu khách hàng so với thời điểm thành lập, với dư nợ bình quân ước hơn 18 triệu đồng/khách hàng (tăng hơn 15 triệu đồng/khách hàng). Dư nợ cho vay hộ nghèo và các đối tượng chính sách tại các huyện nghèo theo Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP ngày 27/12/2008 của Chính phủ ước đạt 9,7 nghìn tỷ đồng với hơn 422 nghìn khách hàng còn dư nợ.

Thứ tư, trong điều kiện lãi suất cho vay trên thị trường có nhiều biến động, có những thời điểm tăng rất cao, nhưng lãi suất ưu đãi tín dụng chính sách xã hội về cơ bản vẫn được giữ ổn định; đồng thời khi lãi suất thị trường giảm thì lãi suất cho vay của NHCSXH đối với các đối tượng chính sách được điều chỉnh giảm, tạo điều kiện cho các đối tượng thụ hưởng yên tâm vay vốn đầu tư phát triển sản xuất, học tập, phục vụ đời sống, vươn lên thoát nghèo, giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước cấp bù chênh lệch lãi suất và phí quản lý cho NHCSXH.

– Thứ năm, phương thức cho vay, giải ngân, quản lý vốn vay của NHCSXH ngày càng được cải tiến, hoàn thiện, phù hợp với điều kiện thực tế của từng vùng, miền, đáp ứng kịp thời nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội, góp phần hiện thực hoá cam kết, mục tiêu xoá đói giảm nghèo của Chính phủ Việt Nam đối với cộng đồng quốc tế: Với bộ máy gọn nhẹ, để hoàn thành nhiệm vụ chính trị ngày càng nặng nề hơn, NHCSXH đã chọn phương thức quản lý phù hợp, đó là: Uỷ thác từng phần (một số công đoạn trong quy trình tín dụng) cho các tổ chức chính trị – xã hội; thực hiện bình xét công khai tại các Tổ Tiết kiệm và vay vốn; cán bộ NHCSXH giải ngân trực tiếp cho các hộ vay vốn tại các Điểm giao dịch tại xã. Thực hiện phương thức này, NHCSXH đã tổ chức được mạng lưới hoạt động rộng khắp đến tất cả các xã, phường, thôn, bản trong cả nước.

Hiện nay, có hàng vạn cán bộ của Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh và Đoàn Thanh niên ở cả bốn cấp từ Trung ương đến xã, phường đang thực hiện dịch vụ uỷ thác cho NHCSXH. Hơn mười một năm qua, các tổ chức chính trị – xã hội đã thực hiện khá tốt nhiệm vụ thành lập và chỉ đạo hoạt động của các Tổ TK&VV, tổ chức hướng dẫn người vay sử dụng vốn vay và cùng NHCSXH đôn đốc thu hồi nợ khi đến hạn. Đến nay, cả nước có gần 200 ngàn Tổ TK&VV.

Huy động sức mạnh, sự vào cuộc của các tổ chức chính trị xã hội đoàn thể góp phần cho vay, quản lý nguồn vốn có hiệu quả, đúng đối tượng.

Tín dụng chính sách xã hội bao gồm những món vay nhỏ, lẻ; khách hàng là những người nghèo, sống chủ yếu ở các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, vùng núi cao, giao thông rất khó khăn. Để giúp người nghèo tiếp cận vốn của NHCSXH mà không tốn chi phí đi lại, đồng thời để tuyên truyền, phổ biến chính sách của Nhà nước và thủ tục của NHCSXH về các chương trình tín dụng ưu đãi, công khai tình hình vay, trả nợ của các khách hàng trong từng xã, NHCSXH đã tổ chức các Tổ giao dịch lưu động về hoạt động tại các Điểm giao dịch xã. Với sự giúp đỡ tận tình của lãnh đạo chính quyền và nhân dân các xã, đến nay, NHCSXH đã tổ chức được gần 11 nghìn điểm giao dịch xã.

– Thứ sáu, hệ thống NHCSXH đã ứng dụng công nghệ tin học vào hoạt động quản lý, rút ngắn thời gian và giảm thiểu các sai sót trong các giao dịch: Hoạt động công nghệ thông tin đã được nâng lên về chất lượng, đóng góp tích cực vào hỗ trợ cho các hoạt động nghiệp vụ tại các đơn vị trong hệ thống, đẩy nhanh tiến độ triển khai Dự án Hiện đại hóa công nghệ thông tin của NHCSXH.

22.3. Đánh giá tác động của chính sách:

– Về hiệu quả kinh tế: Trong những năm qua, đã có trên 23,4 triệu lượt hộ nghèo, hộ cận nghèo và các đối tượng chính sách được vay vốn từ NHCSXH, với tổng doanh số cho vay đạt trên 246 nghìn tỷ đồng. Vốn tín dụng chính sách đã góp phần giúp trên 3,2 triệu hộ vượt qua ngưỡng nghèo; thu hút, tạo việc làm cho trên 10 triệu lao động, trong đó trên 100 nghìn lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài; giúp 3,2 triệu học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn được vay vốn học tập; xây dựng trên 05 triệu công trình cung cấp nước sạch, công trình nhà tiêu hợp vệ sinh ở nông thôn, gần 700 chòi tránh lũ cho hộ nghèo tại 7 tỉnh miền Trung, gần 94 nghìn căn nhà vượt lũ cho hộ gia đình vùng đồng bằng Sông Cửu Long, gần 484 nghìn căn nhà cho hộ nghèo và các hộ gia đình chính sách chưa có nhà ở trên toàn quốc… Nợ xấu, nợ quá hạn giảm dần từ 13,75% khi nhận bàn giao (đầu năm 2003) xuống còn dưới 1% (cuối năm 2013). Tỉ lệ hộ nghèo giảm từ 17% (năm 2001) xuống còn 7,8% (năm 2013).

– Về hiệu quả xã hội: Nguồn vốn tín dụng chính sách đã được đầu tư kịp thời, đúng đối tượng thụ hưởng chính sách, đặc biệt đã quan tâm đầu tư nguồn vốn có lãi suất ưu đãi đối với những địa phương còn nhiều khó khăn, vùng nghèo, xã nghèo, những nơi có tỷ lệ hộ nghèo cao, vùng sâu, vùng xa…vốn tín dụng chính sách đã đầu tư đến trên 3,2 triệu hộ nghèo với số tiền 40.715 tỷ đồng, qua đó đã góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo của cả nước từ 17% vào cuối năm 2001 xuống còn 7,8% vào cuối năm 2013; được Đảng và Chính phủ ghi nhận, cấp uỷ chính quyền địa phương đánh giá cao, nhân dân đồng tình ủng hộ, củng cố niềm tin của nhân dân vào đường lối đổi mới của Đảng.

– Hiệu quả về góp phần đảm bảo an sinh xã hội (chính trị): Hoạt động của NHCSXH đã uỷ thác qua 4 tổ chức chính trị xã hội là Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh và Đoàn thanh niên, là những tổ chức rộng lớn đã thành lập được 192.700 tổ TK&VV với 6.934 ngàn hội viên tham gia đã thêm một lần nữa khẳng định hướng đi, cách làm đúng đắn và sáng tạo của NHCSXH; những kết quả mang lại thông qua hoạt động tín dụng chính sách đã góp phần to lớn vào thực hiện mục tiêu quốc gia xoá đói giảm nghèo, an sinh xã hội.

22.4. Tồn tại, vướng mắc:

– Một là, việc chưa xây dựng được và thiếu một Chiến lược nguồn vốn ổn định, lâu dài là một vấn đề bức thiết cần được quan tâm giải quyết. NHCSXH là tổ chức tài chính Nhà nước, là công cụ để triển khai các chính sách, chế độ an sinh xã hội nên vốn của Ngân hàng là vốn Nhà nước. Tuy nhiên, việc bố trí vốn trong các kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và dự toán ngân sách Nhà nước còn bất cập, còn có khoảng cách rất xa giữa nhu cầu vốn của các chương trình an sinh xã hội do Nhà nước giao cho NHCSXH thực hiện với thực tế vốn được bố trí trong kế hoạch hàng năm (gồm vốn cho chương trình, vốn Điều lệ, vốn cấp bù chênh lệch lãi suất), dẫn tới bị động cho cả các cơ quan chức năng và NHCSXH. Vốn tín dụng chính sách chủ yếu được tập trung để cho vay trung và dài hạn (dư nợ trung và dài hạn chiếm trên 97%/tổng dư nợ). Tuy nhiên, nguồn vốn chủ yếu là chưa có tính ổn định lâu dài. Nguồn vốn do ngân sách nhà nước cấp chiếm tỉ trọng thấp (18,4%) và có xu hướng giảm dần qua các năm. Việc tiếp cận được các nguồn vốn nhân đạo, vốn ODA, các nguồn vốn vay có thời hạn dài, lãi suất thấp còn rất hạn chế.

Số chương trình tín dụng chính sách được giao ngày càng nhiều, nhu cầu vốn đòi hỏi ngày càng lớn trong khi cơ chế tạo lập nguồn vốn chưa rõ ràng, nhiều chương trình tín dụng mới được giao nhưng NHCSXH rất khó khăn trong việc huy động vốn.

Hai là,theo quy định, đối tượng vay vốn của NHCSXH là hộ nghèo, hộ cận nghèo và các đối tượng chính sách được UBND cấp xã xác nhận. Công tác điều tra, xác nhận hộ nghèo, hộ cận nghèo và các đối tượng chính sách ở một số địa phương chưa được quan tâm đúng mức; có nơi chưa rà soát, bổ sung kịp thời những hộ nghèo, hộ cận nghèo hoặc hộ tái nghèo mới phát sinh vào danh sách hộ nghèo, hộ cận nghèo, làm ảnh hưởng tới việc hỗ trợ vốn kịp thời cho các đối tượng thụ hưởng.

Ba là, công tác phối hợp giữa các hoạt động hỗ trợ kỹ thuật, chuyển giao công nghệ của các tổ chức Nhà nước, các đơn vị sự nghiệp, các doanh nghiệp và các tổ chức chính trị – xã hội với hoạt động tín dụng chính sách của NHCSXH chưa được quan tâm đúng mức đã ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn vay của người vay.

– Bốn là, một số Ban đại diện Hội đồng quản trị chưa thường xuyên, sâu sát; vai trò, trách nhiệm và sự phối kết hợp của một số UBND cấp xã, việc thực hiện các nội dung công việc nhận ủy thác của một số tổ chức hội, đoàn thể chưa được quan tâm đúng mức; chất lượng hoạt động của một số Tổ TK&VV hoạt động chưa đồng đều; năng lực quản lý và trình độ nghiệp vụ của một số cán bộ NHCSXH còn hạn chế…

Năm là, tại một số tỉnh, thành phố phát triển công nghiệp không còn hộ nghèo theo chuẩn quốc gia vì vậy một số tỉnh quy định chuẩn nghèo riêng. Tuy nhiên, đến nay chưa bố trí nguồn vốn tương xứng để cho vay các đối tượng này.

22.5. Giải pháp để khắc phục những tồn tại vướng mắc:

– Một là, tập trung, phối hợp với các đơn vị liên quan triển khai Quyết định số 852/QĐ-TTg ngày 10/7/2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược phát triển NHCSXH giai đoạn 2011-2020. Tăng cường sự phối hợp giữa các Bộ, ngành trong việc xây dựng, triển khai các cơ chế chính sách liên quan đến hoạt động của NHCSXH. Các Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội trong phạm vi chức năng nhiệm vụ được giao sẽ triển khai các công việc sau: (i) Có cơ chế khoán chi phí quản lý theo kết quả thu nhập hàng năm ổn định trong khoảng 5 năm, tạo thế chủ động trong chỉ đạo, điều hành, khuyến khích người lao động gắn bó với ngành. (ii) Liên Bộ xem xét, trình Thủ tướng Chính phủ sửa đổi Nghị định số 78/2002/NĐ-CP ngày 4/10/2002 của Chính phủ về tín dụng đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác, bố trí đủ nguồn lực, bảo đảm cho NHCSXH thực hiện có hiệu quả chính sách tín dụng của Nhà nước đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác; (iii) Bố trí vốn xây dựng cơ bản trong dự toán ngân sách hàng năm theo Đề án đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt để xây dựng trụ sở làm việc ở Trung ương, các chi nhánh Ngân hàng cấp tỉnh và các Phòng giao dịch cấp huyện hiện còn phải thuê trụ sở để làm việc. (vi) Tiếp tục chỉ đạo thực hiện Chỉ thị 09/2004/CT-TTg ngày 16/3/2004 của Thủ tướng Chính phủ về việc nâng cao năng lực và hiệu quả hoạt động của NHCSXH. (v) Cùng với các tổ chức chính trị – xã hội phối hợp với các ngành kinh tế có liên quan xây dựng đề án chuyển giao công nghệ sản xuất kinh doanh, tư vấn cho người nghèo, hộ nghèo làm quen dần với nền sản xuất hàng hoá, với các dịch vụ tài chính – ngân hàng; (iv) phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư thẩm định kế hoạch tín dụng hàng năm và 05 năm trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định, bố trí dự toán vốn cấp cho các chương trình tín dụng đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác, cấp bù chênh lệch lãi suất và phí quản lý, bổ sung vốn điều lệ cho NHCSXH trong dự toán ngân sách nhà nước hàng năm, trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định; (vii) Rà soát các chính sách về hỗ trợ giảm nghèo, an sinh xã hội có liên quan đến chính sách tín dụng đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác do các Bộ, ngành xây dựng nhằm đảm bảo tính thống nhất về đối tượng thụ hưởng, về nguồn vốn để thực hiện chương trình, tránh chồng chéo, trùng lắp, phân tán nguồn lực làm giảm hiệu quả chính sách”.

Hai là, về cơ chế chính sách, tiếp tục bổ sung, sửa đổi và hoàn thiện hành lang pháp lý liên quan đến hoạt động của hệ thống NHCSXH, cụ thể: Điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung một số nội dung quy định trong Nghị định số 78/2002/NĐ-CP ngày 04/10/2002 của Chính phủ, Điều lệ về tổ chức và hoạt động của NHCSXH theo Quyết định số 16/2003/QĐ-TTg ngày 22/01/2003 và Quyết định số 180/2002/QĐ-TTg ngày 19/12/2002 của Thủ tướng Chính phủ phù hợp với từng giai đoạn phát triển hội nhập của đất nước nhằm khắc phục những vướng mắc trong thời gian qua, phù hợp với thực tế hoạt động ngân hàng trong xu thế mở cửa hội nhập.

Việc xây dựng cơ chế chính sách cần theo hướng: Chỉnh sửa, bổ sung các chính sách dẫn đến những tồn tại phát sinh từ thực tiễn hoạt động trong thời gian qua, nổi lên là: Hoạch định chính sách tạo lập nguồn vốn ổn định, bền vững, cơ chế xử lý nợ rủi ro khách quan, cơ chế tài chính ngành theo hướng nâng cao tính tự chủ, giảm dần tính thụ động, chắp vá trong tổ chức chỉ đạo, điều hành. Nguồn vốn theo kế hoạch hàng năm phải được ghi vào danh mục chi ngân sách được Quốc hội phê chuẩn. Có quy định cụ thể về tỷ lệ đóng góp thống nhất trong toàn quốc đối với nguồn vốn tăng thu, tiết kiệm chi thuộc nguồn vốn ngân sách địa phương để lập quỹ cho vay ưu đãi thực hiện các chương trình tín dụng ưu đãi của địa phương. Đồng thời, nghiên cứu, ban hành cụ thể hơn nữa chính sách đa dạng hoá các nguồn vốn để huy động được sự đóng góp của các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp tài chính, ngân hàng, nguồn đóng góp tự nguyện của cộng đồng dân cư, của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước; có cơ chế cho phép NHCSXH được trực tiếp nhận nguồn vốn ODA.

Thể chế hoá và cụ thể hoá chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm pháp lý của các bộ phận hợp thành phương thức quản lý kênh tín dụng chính sách xã hội là HĐQT và Ban Đại diện HĐQT, các tổ chức nhận uỷ thác, Tổ TK&VV và đặc biệt là chính quyền cấp xã, người được giao nhiệm vụ điều tra, phân loại hộ nghèo, hộ được thụ hưởng chính sách xã hội khác và trực tiếp quản lý danh sách phân loại đó.

Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, hạn chế sự chồng chéo, tiêu phí nhiều thời gian nhưng kết quả đạt được không cao. Các Bộ, Ngành, cơ quan quản lý Nhà nước được giao chủ trì các Chương trình mục tiêu quốc gia cần tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện và đánh giá tác động của tín dụng chính sách với việc thực hiện mục tiêu của chương trình.

– Ba là, tiếp tục hoàn thiện mô hình tổ chức NHCSXH đã được xác lập trong Quyết định số 131/2002/QĐ-TTg ngày 04/10/2002 của Thủ tướng Chính phủ theo hướng tập trung củng cố hoạt động quản lý ở Trung ương và Ban đại diện HĐQT ở địa phương. Các Bộ, Ngành, các tổ chức chính trị – xã hội ở Trung ương cử cán bộ tham gia HĐQT được thực hiện như Điều 21, Nghị định 78/2002/NĐ-CP đã quy định; ở địa phương cấp tỉnh, cấp huyện nên bố trí Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch phụ trách kinh tế kiêm Trưởng ban Đại diện HĐQT cùng cấp; bổ sung đại diện các tổ chức chính trị – xã hội vào cơ quan quản trị; tận dụng các điều kiện sẵn có về tổ chức mạng lưới để phát triển một số nghiệp vụ ngân hàng như huy động vốn, tổ chức các nghiệp vụ tiền gửi, thanh toán; bảo đảm sự kiểm tra, giám sát của nhân dân đối với hoạt động của Ngân hàng.

– Bốn là, tăng cường công tác huy động vốn để tạo nguồn lực tài chính triển khai các Chương trình mục tiêu và nhiệm vụ chính trị đã được giao: Ngoài việc Chính phủ cấp bổ sung vốn điều lệ nâng tỷ lệ vốn thực hiện Chương trình tín dụng chính sách, cần xây dựng và tạo lập cơ chế tạo điều kiện thuận lợi để NHCSXH có thể khai thác được các nguồn vốn có tính chất ổn định và lâu dài, lãi suất thấp hoặc không phải trả lãi như: Nguồn vốn phát hành Trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh, vốn vay có thời hạn dài và lãi suất thấp, nguồn vốn vay tồn ngân của Kho bạc Nhà nước…

Mở rộng các hình thức huy động vốn, tiếp tục cải tiến công tác điều hành kế hoạch tín dụng linh hoạt; có cơ chế cụ thể khuyến khích các chi nhánh địa phương huy động nguồn vốn tại chỗ để cho vay các chương trình chỉ định tại địa phương; chú trọng tăng trưởng dư nợ tại một số chi nhánh có mức dư nợ thấp trong khi tỷ lệ hộ nghèo và đối tượng chính sách còn cao.

Tiếp tục mở rộng và đa dạng hóa mối quan hệ hợp tác trong và ngoài nước để có thể tiếp cận để tranh thủ nguồn vốn ưu đãi của nước ngoài. Chủ động tiếp xúc, xây dựng các chương trình dự án để thu hút nguồn vốn tài trợ lớn (như PRSC, WB, ADB, IFAD…) nhằm tiếp cận và tham gia các dự án hỗ trợ kỹ thuật, viện trợ không hoàn lại nhằm tăng cường năng lực đào tạo, mua sắm trang thiết bị và các dự án vay vốn ODA.

– Năm là, tập trung đầu tư vốn cho vay các chương trình tín dụng trên cơ sở thực hiện tốt công khai hoá, dân chủ hoá trong công tác tín dụng, đảm bảo vốn vay đến đúng đối tượng thụ hưởng chính sách. Từng đơn vị cần xác định việc mở rộng tín dụng đi đôi với chủ động huy động vốn tại địa phương và nâng cao chất lượng tín dụng, đẩy mạnh thu hồi nợ quá hạn, nợ đến hạn để tạo lập quỹ cho vay quay vòng. Chú trọng đầu tư vốn tăng trưởng trong năm vào những vùng nghèo, xã nghèo, vùng đặc biệt khó khăn, vùng biên giới, hải đảo…

Tiếp tục củng cố nâng cao chất lượng hoạt động của tổ TK&VV, Tổ giao dịch lưu động tại xã. Tập trung xử lý những vấn đề còn tồn tại sau đổi sổ cho vay; tổ chức giao dịch tại 100% số xã, phường, thị trấn; thực hiện tốt việc công khai các chính sách tín dụng ưu đãi, tiếp tục rà soát thủ tục tín dụng, rà soát và xử lý nợ rủi ro.

– Sáu là, tăng cường công tác tuyên truyền về các chủ trương, Chính sách của Đảng, Nhà nước đến các tâng lớp nhân dân; đẩy mạnh công tác tuyên truyền tiếp thị trong đó đặc biệt coi trọng công tác thông tin tuyền truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng, tại các điểm giao dịch xã về các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước có liên quan; thực hiện tốt việc công khai hoá, dân chủ hoá các chính sách tín dụng, các quy chế, hướng dẫn nghiệp vụ của ngành.

Phối hợp với các ngành có liên quan, các tổ chức dân vận, Tổng liên đoàn lao động Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các cơ quan thông tin báo chí, các tổ chức chính trị – xã hội tạo điều kiện giúp đỡ, phối hợp các chương trình, dự án đầu tư, dự án tuyên truyền thực thi chính sách tín dụng ưu đãi của Nhà nước sâu rộng hơn nữa để nhân dân hiểu đúng, làm đúng chính sách pháp luật của Nhà nước.

Bảy là, tăng cường công tác phối hợp giữa chính quyền địa phương với NHCSXH, qua đó tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng, chính quyền đối với hoạt động tín dụng chính sách xã hội nhằm: (i) Tập trung các nguồn vốn tín dụng chính sách xã hội có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước vào một đầu mối là Ngân hàng Chính sách xã hội; (ii) ưu tiên cân đối nguồn vốn ngân sách nhà nước để thực hiện các chương trình, dự án tín dụng chính sách xã hội và bảo đảm hoạt động ổn định, bền vững của Ngân hàng Chính sách xã hội; (iii) Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp tiếp tục dành một phần nguồn vốn từ ngân sách địa phương để bổ sung nguồn vốn cho vay các đối tượng chính sách xã hội trên địa bàn. Hỗ trợ cơ sở vật chất, điều kiện làm việc cho Ngân hàng Chính sách xã hội. Các tỉnh, thành phố ban hành chuẩn nghèo riêng cao hơn chuẩn nghèo quốc gia cần bố trí đủ nguồn lực để cho vay các đối tượng này; (iv) Mặt trận Tổ quốc mở rộng cuộc vận động vì người nghèo để huy động sự đóng góp của các tổ chức xã hội, các doanh nghiệp và các cá nhân bổ sung nguồn vốn cho tín dụng chính sách xã hội.

Tám là, tăng cường công tác đào tạo nguồn nhân lực, hợp tác quốc tế để học hỏi kinh nghiệm các nước trên thế giới để vận dùng phù hợp vào tình hình thực tế của Việt Nam.

 TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Nghị định số 78/2002/NĐ-CP ngày 04/10/2002 của Chính phủ về tín dụng đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác.
  2. Quyết định số 852/QĐ-TTg ngày 10/7/2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược phát triển NHCSXH giai đoạn 2011-2020.
  3. Chỉ thị số 40-CT/TW ngày 22/11/2014 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với tín dụng chính sách xã hội.
  4. Tập san Ngân hàng Chính sách xã hội-10 năm xây dựng và phát triển.
  5. Tài liệu hội nghị tổng kết 10 năm hoạt động của Ngân hàng Chính sách xã hội.
  6. Báo cáo tổng kết hoạt động năm 2014 của Ngân hàng Chính sách xã hội.

 

Bản in

 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *