Chuyên đề 22: QUẢN LÝ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG NGHIỆP VỤ HẢI QUAN

Chuyên đề 22: QUẢN LÝ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG NGHIỆP VỤ HẢI QUAN

Thạc sĩ Vũ Quốc Bảo

Cục Quản lý rủi ro – Tổng cục Hải quan

 22.1. Một số vấn đề chung về quản lý rủi ro

22.1.1. Quản lý rủi ro

22.1.1.1. Rủi ro là gì?

Rủi ro là một trong những khái niệm tuy được đề cập, nghiên cứu và áp dụng nhiều trên thực tế nhưng nó được nhìn nhận dưới nhiều góc độ, trường phái, quan điểm khác nhau dẫn tới cho đến nay vẫn chưa có được sự thống nhất trong việc định nghĩa thế nào là rủi ro và hiện phân chia thành 02 nhóm trường phái, quan điểm là truyền thống và hiện đại.

Nếu theo quan điểm truyền thống, rủi ro được xem là sự không may mắn, sự tổn thất mất mát, nguy hiểm, là điều không lành, điều không tốt, bất ngờ xảy đến, là những bất trắc ngoài ý muốn. Như vậy, quan điểm này cho rằng rủi ro là những thiệt hại, mất mát, nguy hiểm hoặc các yếu tố liên quan đến nguy hiểm, khó khăn hoặc điều không chắc chắn có thể xảy ra cho con người.

Nếu theo trường phái hiện đại, rủi ro lại được xem là sự bất trắc có thể đo lường được, nó mang cả tính tích cực và tính tiêu cực vì rủi ro có thể mang đến những tổn thất, mất mát nhưng cũng có thể đem lại những lợi ích, cơ hội nhất định. Đó là, nếu hiểu được rủi ro thì người ta có thể tìm được những biện pháp phòng ngừa, hạn chế những rủi ro tiêu cực cũng như có thể đón nhận những cơ hội, lợi ích tích cự mà nó đem lại.

Rủi ro thường gắn với sự không chắc chắn, không tuyệt đối và thường đi kèm với xác suất xảy ra theo những mức độ, khả năng nhất định (xác suất lớn hơn 0% – chắc chắn không xảy ra và nhỏ hơn 100% – chắc chắn xảy ra). Rủi ro thường bao gồm 03 yếu tố cấu thành, đó là: xác suất xảy ra, khả năng ảnh hưởng đến đối tượng và thời lượng ảnh hưởng.

22.1.1.2. Khái niệm về quản lý rủi ro:

Trên thế giới, quản lý rủi ro đã được áp dụng và kết quả không chỉ thành công tại “khu vực tư nhân” khi mà các lĩnh vực như bảo hiểm, ngân hàng, thương mại, công nghiệp,… tìm khả năng nắm bắt, tạo ra cơ hội để cải thiện kết quả kinh doanh của mình mà việc áp dụng quản lý rủi ro còn có thể giúp cho “khu vực công” xác định được những lĩnh vực có rủi ro với mức độ, thang độ nhất định để từ đó hỗ trợ cho việc ra quyết định xử lý rủi ro trong điều kiện phân bổ nguồn lực một cách hợp lý.

Trên cơ sở các bộ Tiêu chuẩn quản lý rủi ro AS/NZS 4360:1999 của Úc và Niu-di-lân, Tiêu chuẩn quản lý rủi ro – phiên bản ISO 31000:2009 và Tiêu chuẩn ISO/Guide 73:2009 do Tổ chức tiêu chuẩn hóa quốc tế ISO (năm 2009), Bộ tiêu chuẩn ISO/IEC 31010:2009 – Quản lý rủi ro – Các kỹ thuật đánh giá rủi ro, do tổ chức ISO và IEC (Ủy ban kỹ thuật điện quốc tế – International Electrotechnical Commission) phối hợp phát triển, khái niệm quản lý rủi ro được hiểu là “Việc áp dụng một cách hệ thống các thông lệ và thủ tục quản lý nhằm cung cấp thông tin cần thiết để xử lý rủi ro”.

Để quản lý rủi ro hiệu quả đòi hỏi có sự cân bằng giữa chi phí và lợi ích, và như vậy, tất yếu sẽ không thể có đủ chi phí để giải quyết tất cả các rủi ro một cách ngang bằng như nhau nên rủi ro cần phải được phân tách thành các loại khác nhau dựa trên mức độ rủi ro có thể chấp nhận được hay không thể chấp nhận được nhằm ứng xử phù hợp với các loại rủi ro khác nhau đó.

22.1.2. Quy trình quản lý rủi ro

Quy trình QLRR cần đảm bảo tính hệ thống, liên tục và thống nhất chung để từ đó nhằm tiếp cận và thực hiện phương pháp luận đúng chuẩn mực về hiện thực hóa QLRR. Quy trình này chính là một phương pháp luận có tính chu kỳ lặp theo vòng tròn khép kín, trong đó có những bước công

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

việc được định danh cụ thể, hỗ trợ cho việc đưa ra các quyết định nghiệp vụ thông qua phân tích bản chất của rủi ro, xem xét các tác động có thể của rủi ro, xác định cơ sở cho các quyết định quản lý trong điều kiện hài hòa với các nguồn lực được phân bổ, cũng như với thứ tự ưu tiên của các biện pháp xử lý. Quy trình được mô tả theo Sơ đồ quản lý rủi ro bên:

Xây dựng môi trường thông tin – Thiết lập bối cảnh quản lý:  Giai đoạn này xác định bối cảnh diễn ra hoạt động quản lý rủi ro, các mục tiêu của việc phân tích các đối tượng quản lý, và những rủi ro cần được quản lý. Việc xác định đối tượng cần quản lý sẽ giúp xây dựng thước đo chuẩn cho toàn bộ quy trình quản lý rủi ro. Kết quả của giai đoạn này sẽ là một báo cáo mô tả môi trường hoạt động của quản lý rủi ro, xác định các tiêu chí và thước đo cho giai đoạn đánh giá rủi ro.

Đánh giá rủi ro –  Xác định rủi ro: Bước này chỉ ra và ghi lại tất cả những rủi ro tiềm ẩn thông qua một quy trình mang tính hệ thống, theo đó chỉ ra những rủi ro có thể phát sinh, lý do vì sao và cách thức phát sinh rủi ro, từ đó hình thành cơ sở để phân tích sâu hơn những rủi ro đó. Kết quả xác định được danh mục các rủi ro, phạm vi tác động của rủi ro.

Đánh giá rủi ro –  Phân tích rủi ro: Bước này sử dụng dữ liệu và thông tin nhằm lượng hóa các kết quả, hậu quả có thể xảy đến nếu có rủi ro và/hoặc nếu không xác định được rủi ro cụ thể.  Kết quả xác định cấp độ dự kiến của rủi ro trên cơ sở định lượng và định tính, hoặc kết hợp cả hai loại trên. 

Đánh giá và xếp thứ tự các rủi ro: Giai đoạn này thực hiện việc so sánh các rủi ro đã được đánh giá với các tiêu chí chủ đạo đã được xác định từ trước, sử dụng các nguồn lực theo dự kiến để chuẩn bị hoặc ngăn ngừa hoặc đối phó với rủi ro. Kết quả giai đoạn này là lượng hóa, sắp xếp rủi ro theo các cấp độ của rủi ro, kết nối rủi ro với các đơn vị có thể xảy ra rủi ro để các đơn vị đó có trách nhiệm trong việc tìm cách giảm thiểu rủi ro và theo dõi rủi ro.

Giải pháp xử lý rủi ro: Xử lý rủi ro là việc tìm cách giảm khả năng hoặc hậu quả của rủi ro bằng cách áp dụng các biện pháp kiểm soát và tác nghiệp nhằm thay đổi các mức độ rủi ro để phù hợp với khả năng chấp nhận của cơ quan Hải quan. Tùy thuộc loại rủi ro mà áp dụng phương pháp xử lý rủi ro phù hợp.

Giám sát,  rà soát: Theo dõi và rà soát, đánh giá là bước công việc phải thực hiện ở tất cả các giai đoạn trong quy trình quản lý rủi ro nhằm trả lời cho các câu hỏi sau:

Các kết luận về rủi ro còn nguyên giá trị hay không ? 

Rủi ro nào mới xuất hiện, đang nổi trội ? 

Tính hiệu quả, hiệu lực của biện pháp xử lý nhằm tối thiểu hóa rủi ro, tối thiểu hóa chi phí ? 

Tính phù hợp của biện pháp kiểm soát chi phí, kiểm soát quản lý ? 

Tính tuân thủ quy định, quy trình của biện pháp xử lý ?

Hệ thống sẽ có thể được cải tiến nâng cao như thế nào? 

Lưu trữ, cung cấp thông tin và tư vấn: Việc cung cấp thông tin và tư vấn với các bên trong ngành hay ngoài ngành cần được thực hiện với mỗi công đoạn cũng như thực hiện đối với toàn bộ quy trình QLRR đảm bảo tính hiệu quả và minh bạch.

22.1.3. Quản lý rủi ro hải quan

22.1.3.1. Rủi ro hải quan

Theo Công ước KYOTO (sửa đổi năm 1999), rủi ro hải quan được định nghĩa là “nguy cơ tiềm ẩn của việc không tuân thủ pháp luật hải quan” – tài liệu Hướng dẫn Phụ lục tổng quát Công ước sửa đổi về đơn giản hóa và hài hòa hóa thủ tục hải quan.

Ở Việt Nam, theo các quy định của pháp luật và các văn bản hướng dẫn dưới Luật thì rủi ro hải quan được hiểu là “nguy cơ không tuân thủ pháp luật hải quan, pháp luật thuế trong hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh” (Thông tư số 175/2013/TT-BTC ngày 29/11/2013 của Bộ Tài chính).

22.1.3.2. Quản lý rủi ro hải quan

Theo tổ chức Hải quan thế giới WCO (Cẩm nang về Quản lý rủi ro), quản lý rủi ro hải quan được hiểu là “việc áp dụng có hệ thống các thủ tục quản lý và thông lệ mang đến cho Hải quan những thông tin cần thiết để giải quyết vấn đề vận chuyển hàng hoá hoặc lô hàng đặt ra vấn đề rủi ro”. Khi áp dụng quản lý rủi ro như một nguyên lý quản lý thì có thể giúp cho Hải quan không chỉ thực hiện trách nhiệm của mình một cách hiệu quả mà còn giúp cho cơ quan Hải quan tổ chức và triển khai nguồn lực theo hướng cải thiện toàn bộ hoạt động của mình.

Tại Việt Nam, theo các quy định của pháp luật và các văn bản hướng dẫn dưới Luật, quản lý rủi ro hải quan được hiểu là “việc áp dụng có hệ thống các quy định pháp luật, các quy trình, biện pháp nghiệp vụ để xác định, đánh giá và phân loại các rủi ro có tác động tiêu cực đến hiệu lực, hiệu quả quản lý hải quan, quản lý thuế, làm cơ sở để cơ quan hải quan phân bổ hợp lý nguồn lực, áp dụng hiệu quả các biện pháp quản lý hải quan, quản lý thuế” (Thông tư số 175/2013/TT-BTC ngày 29/11/2013 của Bộ Tài chính).

22.1.3.3. Chủ thể quản lý rủi ro hải quan

Chủ thể của quản lý rủi ro hải quan chính là đội ngũ cán bộ, công chức hải quan được giao trách nhiệm trong công tác quản lý rủi ro, bao gồm từ việc thực hiện các hoạt động xác định, đánh giá rủi ro nhằm đưa ra thông tin về khả năng và ảnh hưởng của rủi ro, xây dựng kế hoạch đối phó, giảm thiểu rủi ro cũng như cung cấp dữ liệu báo cáo về rủi ro – Tiêu chuẩn quản lý rủi ro ISO 31000:2009.

Chủ thể quản lý rủi ro được chia thành các nhóm theo phân cấp: cấp cao, cấp trung và cấp cơ sở. Trên cơ sở đó, trách nhiệm quản lý và áp dụng đối với các loại rủi ro được thực hiện. Cụ thể tại cấp cao, chủ thể quản lý chịu trách nhiệm đối với các rủi ro ở cấp chiến lược, như rủi ro về định hướng chiến lược, chính sách, tổ chức, cơ chế điều hành ở cấp cao; tại cấp trung, chủ thể quản lý chịu trách nhiệm đối với các rủi ro ở cấp chiến thuật, như rủi ro trong việc thực hiện các chương trình, dự án, kế hoạch của tổ chức; còn tại cấp cơ sở, chủ thể quản lý chịu trách nhiệm áp dụng quy trình quản lý rủi ro tại đơn vị tác nghiệp trong việc giải quyết các tình huống tức thời (như quyết định thông quan, can thiệp, bắt giữ hay thu giữ… ), sử dụng các quy trình, thủ tục có sẵn cùng với các nguồn tin tình báo, kinh nghiệm và kỹ năng để quyết định việc kiểm tra, kiểm soát,…  

22.1.3.4. Nguyên tắc quản lý rủi ro hải quan

Một là, các biện pháp, kỹ thuật nghiệp vụ quản lý rủi ro phải được tiến hành để dự báo trước các nguy cơ vi phạm pháp luật về hải quan nhằm chủ động áp dụng có hiệu quả các biện pháp nghiệp vụ cần thiết theo quy định của pháp luật đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh.

Hai là, việc thực hiện các kỹ thuật quản lý rủi ro được dựa trên cơ sở áp dụng chỉ số hóa, tiêu chí hóa và các thông tin quản lý rủi ro có trên hệ thống thông tin của ngành Hải quan, thông tin dấu hiệu vi phạm, dấu hiệu rủi ro.

Ba là, bộ tiêu chí lựa chọn (Bộ Tài chính ban hành) quyết định kiểm tra, giám sát hải quan, kiểm tra sau thông quan đối với hoạt động xuất nhập khẩu, xuất nhập cảnh trên cơ sở tuân thủ các quy định của pháp luật quản lý chuyên ngành, mức độ tuân thủ pháp luật của người khai hải quan, kết hợp với việc xem xét mức độ rủi ro của hàng hóa xuất nhập khẩu, hành lý của người xuất nhập cảnh, phương tiện vận tải xuất nhập cảnh và các yếu tố khác liên quan.

Bốn là, việc công chức hải quan đã thực hiện đúng, đầy đủ và kịp thời các quy định của pháp luật, nội dung tại Quy định của ngành và các quy định, hướng dẫn về quản lý rủi ro theo phân cấp thì được miễn trách nhiệm cá nhân theo quy định của pháp luật.

22.1.4. Thu thập, xử lý thông tin quản lý rủi ro hải quan

22.1.4.1. Thông tin quản lý rủi ro hải quan

Thông tin quản lý rủi ro hải quan bao gồm tất cả các thông tin hải quan, thông tin nghiệp vụ hải quan và các thông tin khác liên quan, được sử dụng để phục vụ áp dụng quản lý rủi ro trong hoạt động nghiệp vụ hải quan, cụ thể bao gồm các thông tin và các nhóm thông tin sau đây:

– Nhóm thông tin về tổ chức, cá nhân thực hiện xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, đại lý làm thủ tục hải quan, doanh nghiệp hoạt động, kinh doanh các lĩnh vực liên quan: vận tải, chuyển phát nhanh, cảng, kho, bãi, kho ngoại quan,…

– Nhóm thông tin về hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, hành lý của người xuất cảnh, nhập cảnh;

– Nhóm thông tin về phương tiện vận tải, chuyên chở xuất cảnh, nhập cảnh;

–  Nhóm thông tin từ kết quả thực hiện của các quy trình, thủ tục hải quan và các biện pháp nghiệp vụ khác có liên quan;

– Nhóm thông tin nghiệp vụ hải quan (thông tin được cung cấp, được tạo ra và xử lý trong quá trình thực hiện, áp dụng quản lý rủi ro).

 Thông tin quản lý rủi ro được quản lý tập trung tại Tổng cục Hải quan để thống nhất việc xử lý, ứng dụng, cung cấp cho các đơn vị Hải quan các cấp, nội dung của thông tin quản lý rủi ro phải được thực hiện theo chế độ nghiệp vụ và theo quy định của pháp luật về bảo mật thông tin.

22.1.4.2. Quy trình thu thập, xử lý thông tin quản lý rủi ro

Việc thu thập, xử lý thông tin quản lý rủi ro được thực hiện gồm 04 bước, trong đó tùy thuộc từng trường hợp cụ thể có thể thực hiện một phần hoặc toàn bộ các bước, cụ thể như sau:

i) Xác định nhu cầu, mục đích thu thập, xử lý thông tin: Nhu cầu thông tin dựa trên một số cơ sở như yêu cầu quản lý; yêu cầu đánh giá rủi ro, đánh giá tuân thủ; kết quả phân tích, đánh giá rủi ro,… Trên cơ sở đó, tiếp tục làm rõ mục đích sử dụng thông tin quản lý rủi ro trong các hoạt động nghiệp vụ cụ thể. Kết quả của bước này là xây dựng được kế hoạch thu thập, xử lý thông tin.

ii) Thu thập thông tin: Trên cơ sở kế hoạch nêu trên, công chức Hải quan, đơn vị Hải quan sử dụng các biện pháp nghiệp vụ phù hợp, theo quy định để tiến hành thu thập, tổng hợp, cập nhật và quản lý thông tin quản lý rủi ro.

iii) Xử lý thông tin: Tiến hành đánh giá, đối chiếu, phân tích, tổng hợp thông tin nhằm đảm bảo mục tiêu đã đặt ra theo kế hoạch thu thập, xử lý thông tin nên trên. Sản phẩm thông tin đã qua xử lý trở thành thông tin nghiệp vụ, được cập nhật, chuyển giao đến các cá nhân, tổ chức theo quy định.

iv) Theo dõi, đánh giá hiệu quả: Đơn vị cung cấp thông tin quản lý rủi ro thực hiện kiểm tra, theo dõi đối với các thông tin đã cung cấp và phối hợp với cá nhân, tổ chức tiếp nhận thông tin quản lý rủi ro để điều chỉnh nhu cầu, cách thức thu thập, xử lý và sử dụng thông tin trên cơ sở các thông tin cập nhật, phản hồi kết quả thực hiện các biện pháp nghiệp vụ từ họ.

22.2. Quản lý rủi ro trong hoạt động nghiệp vụ ngành Hải quan

22.2.1. Rủi ro trong hoạt động nghiệp vụ hải quan

Rủi ro trong hoạt động nghiệp vụ hải quan là các hạn chế, sơ hở trong tổ chức thực hiện các hoạt động nghiệp vụ hải quan, trong các chính sách quản lý về hải quan, chính sách thuế và các quy trình  thực hiện thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất nhập khẩu, hành lý của người xuất nhập cảnh, phương tiện vận tải xuất nhập cảnh từ đó dẫn tới nguy cơ, khả năng có thể bị lợi dụng vi phạm pháp luật về hải quan.

Một số lĩnh vực, hoạt động nghiệp vụ có tiềm ẩn rủi ro, nguy cơ vi phạm pháp luật hải quan như sau:

Thủ tục hải quan, thủ tục thuế;

Kiểm tra, giám sát, kiểm soát hải quan;

Kho ngoại quan, kho bảo thuế, địa điểm gom hàng lẻ (kho CFS), cảng thông quan nội địa (ICD);

Xuất nhập khẩu hàng hóa thuộc danh mục quản lý chuyên ngành;

Phân loại, xuất xứ hàng hóa;

Hàng giả, quyền sở hữu trí tuệ;

Trốn thuế, gian lận thuế trong hoạt động xuất nhập khẩu;

Buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới;

Ma túy, tiền chất, vũ khí, chất phóng xạ.

22.2.2. Áp dụng quản lý rủi ro trong các hoạt động nghiệp vụ hải quan

Việc áp dụng quản lý rủi ro đối với các lĩnh vực, hoạt động nghiệp vụ hải quan được thực hiện dựa trên các quy định của pháp luật và các kết quả thu thập, xử lý thông tin, phân tích, đánh giá rủi ro. Nội dung áp dụng quản lý rủi ro trong các hoạt động nghiệp vụ hải quan bao gồm các hạng mục cụ thể sau đây:

–  Kiểm tra điều kiện đăng ký tờ khai hải quan;

– Hỗ trợ việc quyết định kiểm tra hàng hóa trong quá trình xếp, dỡ từ phương tiện vận tải nhập cảnh xuống kho, bãi, cảng, khu vực cửa khẩu nhập;

– Hỗ trợ việc quyết định kiểm tra hàng hóa xuất khẩu sau khi đã thông quan, được tập kết tại các địa điểm trong khu vực cửa khẩu xuất;

–  Hỗ trợ việc quyết định kiểm tra trong quá trình làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất nhập khẩu;

– Hỗ trợ việc quyết định phương thức giám sát, kiểm tra hàng hóa xuất nhập khẩu trong quá trình giám sát hải quan;

– Hỗ trợ việc quyết định kiểm tra trong quản lý hoạt động gia công, sản xuất hàng xuất khẩu;

– Hỗ trợ việc quyết định kiểm tra hồ sơ hoàn thuế, không thu thuế đối với hàng hóa xuất nhập khẩu;

– Hỗ trợ việc quyết định giám sát, kiểm tra trọng điểm đối với người xuất nhập cảnh, hành lý của người xuất nhập cảnh;

– Hỗ trợ việc quyết định việc giám sát, kiểm tra trọng điểm đối với phương tiện vận tải xuất nhập cảnh;

–  Điều phối việc tiến hành các biện pháp kiểm tra, giám sát, kiểm soát hải quan, kiểm tra sau thông quan, thanh tra và các hoạt động nghiệp vụ khác theo kế hoạch kiểm soát rủi ro trong quản lý hoạt động xuất nhập khẩu, xuất nhập cảnh của cơ quan Hải quan;

– Hỗ trợ việc quyết định kiểm tra sau thông quan.

22.2.3. Đo lường, đánh giá tuân thủ trong hoạt động nghiệp vụ hải quan

22.2.3.1. Đo lường, đánh giá tuân thủ doanh nghiệp

Ngoài việc đánh giá, công nhận doanh nghiệp ưu tiên được thực hiện theo Thông tư số 72/2015/TT-BTC ngày 12/05/2015 của Bộ Tài chính về việc áp dụng chế độ ưu tiên trong thực hiện thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu của doanh nghiệp, căn cứ yêu cầu quản lý hải quan, quản lý thuế, cơ quan hải quan tổ chức đánh giá tuân thủ đối với doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân hoạt động trong các lĩnh vực sản xuất, dịch vụ, vận tải, kinh doanh xuất nhập khẩu, xuất nhập cảnh.

Việc thực hiện đo lường, đánh giá tuân thủ được thực hiện trên cơ sở Bộ tiêu chí, chỉ số đánh giá tuân thủ và ứng dụng nền tảng hệ thống công nghệ thông tin quản lý rủi ro. Kết quả đo lường, đánh giá nêu trên đã phân loại thành nhóm đối tượng doanh nghiệp tuân thủ hoặc không tuân thủ hoặc thuộc nhóm không đáp ứng các chỉ số tiêu chí đánh giá tuân thủ của cơ quan Hải quan. Tiếp đó, để đảm bảo việc đánh giá tuân thủ doanh nghiệp xuất nhập khẩu được đầy đủ và chính xác ,các đơn vị Hải quan các cấp thường xuyên tổ chức thực hiện công tác thu thập, cập nhật vào hệ thống thông tin hồ sơ doanh nghiệp và thông tin quản lý doanh nghiệp tuân thủ.

Để thực hiện yêu cầu quản lý hải quan, quản lý thuế, nội dung đánh giá tuân thủ pháp luật của người khai hải quan được cơ quan Hải quan thực hiện bao gồm các đánh giá về điều kiện sau đây:

Thứ nhất là, điều kiện áp dụng thời hạn nộp thuế 275 ngày đối với hàng hóa nhập khẩu là nguyên liệu, vật tư sản xuất hàng xuất khẩu;

Thứ hai là, điều kiện cho phép bảo lãnh số tiền thuế phải nộp;

Thứ ba là, điều kiện cho phép đưa hàng hóa nhập khẩu về bảo quản;

Ngoài ra, không chỉ dừng ở việc đánh giá các điều kiện như nêu trên, cơ quan Hải quan còn thực hiện các hoạt động thu thập, xử lý thông tin, phân tích và đánh giá rủi ro đối với tổ chức, cá nhân trong hoạt động gia công, sản xuất hàng xuất khẩu; trong hoạt động miễn thuế, giảm thuế, hoàn thuế, không thu thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu và các hoạt động khác căn cứ từng điều kiện và yêu cầu quản lý cụ thể.

22.2.3.2. Đo lường tuân thủ pháp luật trong các lĩnh vực hoạt động xuất nhập khẩu, xuất nhập cảnh

Việc đo lường tuân thủ pháp luật về hải quan được thực hiện theo kế hoạch hàng năm và theo các thang đo mức độ tuân thủ khác nhau: mức cao, trung bình hoặc thấp. Trách nhiệm đo lường tuân thủ được thực hiện theo phân cấp.

Cụ thể tại cấp Tổng cục, căn cứ vào mục tiêu, yêu cầu quản lý hải quan theo từng năm để xây dựng và ban hành bộ chỉ số và kế hoạch đo lường tuân thủ; tổ chức thực hiện và điều phối việc thực hiện theo kế hoạch được phê duyệt như nêu trên đảm bảo việc bố trí có hiệu quả các nguồn lực, biện pháp kiểm tra, giám sát, kiểm soát hải quan, kiểm tra sau thông quan và các biện pháp nghiệp vụ khác trong các lĩnh vực xuất nhập khẩu, xuất nhập cảnh.

Đối với  đơn vị Hải quan các cấp, các đơn vị này có trách nhiệm thực hiện các nhiệm vụ phân công theo kế hoạch đo lường tuân thủ và các nội dung liên quan theo hướng dẫn của Tổng cục Hải quan.

Nội dung đo lường tuân thủ bao gồm các hoạt động cụ thể như sau đây:

– Lựa chọn mẫu kiểm tra, tiến hành phân tích;

– Thu thập thông tin, dữ liệu về kết quả kiểm tra, xử lý đối với mẫu;

– Tổng hợp, phân tích, xác định rõ các thông số sau:

+ Tỷ lệ vi phạm trên tổng số mẫu;

+ Cơ cấu, tỷ lệ theo loại rủi ro về tuân thủ pháp luật hải quan;

+ Các nhóm đối tượng trọng điểm và các yếu tố khác có liên quan đến vi phạm pháp luật về hải quan;

– Đối chiếu kết quả nêu trên so với chỉ số đo lường tuân thủ (đã được xây dựng, ban hành) để xếp loại mức độ tuân thủ pháp luật về hải quan đối với lĩnh vực hoạt động xuất nhập khẩu, xuất nhập cảnh;

– Báo cáo kết quả đo lường tuân thủ, bao gồm: mức độ tuân thủ pháp luật được xếp loại, các chỉ số và cảnh báo rủi ro đối với từng lĩnh vực hoạt động xuất nhập khẩu, xuất nhập cảnh.

22.2.3.3. Xếp Hạng doanh nghiệp

Trên cơ sở chỉ số tiêu chí xếp hạng và phân loại doanh nghiệp, hệ thống thông tin quản lý rủi ro tự động tích hợp, xử lý thông tin, dữ liệu và tính điểm để phân loại và xếp Hạng doanh nghiệp xuất nhập khẩu. Hạng doanh nghiệp được sử dụng làm chỉ số tiêu chí lựa chọn kiểm tra trong quá trình làm thủ tục hải quan, kiểm tra sau thông quan và làm cơ sở để tiến hành các biện pháp nghiệp vụ khác trong quản lý hoạt động xuất nhập khẩu của cơ quan Hải quan.

Theo định kỳ hoặc căn cứ sự thay đổi về mức độ tuân thủ của doanh nghiệp hoặc có thông tin về vi phạm, dấu hiệu vi phạm pháp luật của doanh nghiệp hoặc thông tin thu thập, cập nhật bổ sung hồ sơ doanh nghiệp đã làm thay đổi Hạng của doanh nghiệp khi đánh giá lại hoặc qua kết quả theo dõi, đánh giá có cơ sở để xác định doanh nghiệp có quá trình chấp hành tốt pháp luật về hải quan trên địa bàn, Hạng rủi ro doanh nghiệp có thể được xem xét để điều chỉnh (nâng Hạng hoặc giảm Hạng so với kỳ xếp hạng trước đó).

Hạng doanh nghiệp xuất nhập khẩu phân loại rủi ro theo những hạng sau đây:

Hạng 1 –  Doanh nghiệp ưu tiên;

Hạng 2 –  Doanh nghiệp rủi ro rất thấp;

Hạng 3 –  Doanh nghiệp rủi ro thấp;

Hạng 4 –  Doanh nghiệp rủi ro trung bình;

Hạng 5 –  Doanh nghiệp rủi ro cao;

Hạng 6 –  Doanh nghiệp rủi ro rất cao;

Hạng 7 –  Doanh nghiệp có hoạt động xuất nhập khẩu dưới 365 ngày.

22.2.4. Đo lường, đánh giá rủi ro trong hoạt động nghiệp vụ hải quan

22.2.4.1. Đo lường, đánh giá rủi ro

Để rà soát, phát hiện đối tượng có dấu hiệu vi phạm, dấu hiệu rủi ro trong hoạt động xuất nhập khẩu, xuất nhập cảnh, cơ quan Hải quan sử dụng các kỹ thuật phân tích, đánh giá rủi ro với các nội dung cụ thể như sau:

a) Xác định phạm vi, lĩnh vực cần thực hiện phân tích và đánh giá rủi ro;

b) Xác định nhu cầu về thông tin;

c) Thực hiện phân tích thông tin, xác định các dấu hiệu rủi ro trên cơ sở thông tin thu thập về hoạt động xuất nhập khẩu, xuất nhập cảnh và các thông tin khác có liên quan;

d)  Xác định đối tượng rủi ro/ có dấu hiệu rủi ro và tần suất, mức độ (hậu quả) liên quan trên cơ sở kết quả tổng hợp, sàng lọc, đối chiếu, xác minh thông tin về các dấu hiệu rủi ro;

e) So sánh, đối chiếu kết quả nêu trên với các văn bản quy định, hướng dẫn có liên quan, với Bộ tiêu chí đánh giá rủi ro và mục tiêu kiểm soát đối với hàng hóa, tuyến, địa bàn, lĩnh vực rủi ro cao để đưa ra biện pháp kiểm soát rủi ro phù hợp.

22.2.4.2. Phân tích sau bắt giữ

Nhằm có thể đánh giá hiệu lực, hiệu quả việc thực hiện kiểm soát rủi ro theo các chương trình, kế hoạch đã đặt ra và giúp làm rõ nguyên nhân, phương thức thủ đoạn và các yếu tố khác liên quan để từ đó hỗ trợ đưa ra cảnh báo rủi ro, cũng như điều chỉnh và định hướng việc áp dụng các biện pháp kiểm soát rủi ro, cơ quan Hải quan áp dụng kỹ thuật phân tích sau bắt giữ của các vụ việc mang tính chất điển hình, phức tạp, quy mô lớn.

Kết quả của công tác phân tích sau bắt giữ làm nổi bật về đối tượng, phương thức, thủ đoạn vi phạm, đánh giá xu hướng vi phạm trong thời gian tiếp theo, hơn nữa là có thể làm rõ được các dấu hiệu về hành vi vi phạm hoặc nguy cơ vi phạm cũng như sở hở, thiếu sót về chính sách, quy định của pháp luật, quy trình, thủ tục hải quan và trong việc thực hiện các biện pháp quản lý hải quan. Từ đó, giúp cho xây dựng những phương án, biện pháp cụ thể để có thể kiểm soát rủi ro, khắc phục sơ hở, thiếu sót như đã nêu trên.

22.2.5. Quản lý danh mục hàng hóa rủi ro

22.2.5.1. Danh mục hàng hóa rủi ro

Dưới góc độ hàng hóa – đối tượng của hoạt động thương mại quốc tế và cũng là đối tượng thuộc nhiều chính sách quản lý nhà nước theo từng lĩnh vực đặc thù. Danh mục hàng hóa rủi ro được hiểu là danh sách các mặt hàng rủi ro về buôn lậu, trốn thuế, gian lận thương mại và các vi phạm pháp luật khác trong lĩnh vực hải quan. Hoặc ngắn gọn hơn, Danh mục hàng hóa rủi ro có thể được hiểu là danh sách các mặt hàng rủi ro vi phạm pháp luật về hải quan.

Việc đặt ra danh sách các hàng hóa có rủi ro để từ đó các đơn vị Hải quan các cấp có thể nhận diện rủi ro, tiến hành các biện pháp nghiệp vụ để kiểm soát rủi ro hiện không chỉ được cơ quan Hải quan quan tâm mà hơn nữa là các Bộ, ngành bước đầu đã quan tâm tiếp cận quản lý rủi ro trong quản lý nhà nước về hải quan trên cơ sở thực hiện Chỉ thị số 18/CT-TTg ngày 14/7/2015 của Thủ tướng Chính phủ trong đó giao Bộ Tài chính thực hiện: “chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan xây dựng, công bố Danh mục hàng hóa rủi ro trong quản lý nhà nước về hải quan”.

Mặt khác, theo quy định tại Quyết định số 464/QĐ-BTC ngày 29/6/2015 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về ban hành Quy định quản lý rủi ro trong hoạt động nghiệp vụ hải quan, Tổng cục Hải quan ban hành, quản lý, áp dụng thống nhất Danh mục hàng hóa rủi ro. Danh mục hàng hóa rủi ro được cập nhật, quản lý trên hệ thống thông tin quản lý rủi ro; thường xuyên được theo dõi đánh giá, sửa đổi, bổ sung phù hợp với thực tế quản lý hoạt động xuất nhập khẩu. Đơn vị Hải quan các cấp sử dụng danh mục hàng hóa rủi ro làm nguồn thông tin để phân tích đánh giá rủi ro, hỗ trợ quyết định áp dụng các biện pháp nghiệp vụ hải quan. Không sử dụng danh mục hàng hóa rủi ro làm căn cứ duy nhất để quyết định kiểm tra hải quan, kiểm tra sau thông quan, thanh tra đối với hoạt động xuất nhập khẩu.

Như vậy, Danh mục hàng hóa rủi ro thực hiện theo quy định tại Quyết định số 464/QĐ-BTC ngày 29/6/2015 của Bộ trưởng Bộ Tài chính và Danh mục hàng hóa rủi ro trong quản lý nhà nước về hải quan thực hiện theo Chỉ thị số 18/CT-TTg ngày 14/7/2015 của Thủ tướng Chính phủ là đồng nhất, tuy nhiên chỉ có khác ở mức độ công khai trong cung cấp thông tin về các trường hợp rủi ro thuộc Danh mục nêu trên. Cụ thể, để đảm bảo thực hiện các biện pháp nghiệp vụ hải quan (chế độ nghiệp vụ, mật) nên ngoài các thông tin công khai, công bố rộng rãi của Danh mục hàng hóa rủi ro, cơ quan Hải quan có các hướng dẫn thực hiện các biện pháp, kỹ thuật nghiệp vụ đặc thù của ngành. 

22.2.5.2. Tiêu chí đánh giá hàng hóa rủi ro

Hàng hóa được đánh giá rủi ro theo tiêu chí, cụ thể như sau: tiêu chí về tần suất, mức độ vi phạm liên quan đến hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; theo thông tin, cảnh báo rủi ro về xu hướng buôn lậu, trốn thuế, gian lận thương mại liên quan đến hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu trong từng thời kỳ; theo yêu cầu, chỉ đạo tăng cường quản lý của Chính phủ, Bộ Tài chính và các Bộ, ngành liên quan đến hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; theo thông tin, cảnh báo của các tổ chức quốc tế, Hải quan các nước về buôn lậu, trốn thuế, gian lận thương mại liên quan đến hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu trong từng thời kỳ; theo kết quả phân tích rủi ro đối với hàng hóa thuộc đối tượng chính sách quản lý chuyên ngành, chính sách thuế và chế độ quản lý hải quan, quản lý thuế trong từng thời kỳ.

22.2.5.3. Xây dựng Danh mục hàng hóa rủi ro

Việc thực hiện các quy định tại 02 văn bản nêu trên vẫn đảm bảo tính thống nhất trong nhận diện rủi ro dưới góc độ hàng hóa và chỉ khác nhau ở cơ quan ban hành văn bản là Bộ Tài chính và Tổng cục Hải quan. Cụ thể, Tổng cục Hải quan ban hành 02 Danh mục hàng hóa rủi ro về trị giá; về phân loại hàng hóa do nội dung và thông tin các trường hợp rủi ro mang tính đặc thù của ngành Hải quan. Đối với 07 Danh mục hàng hóa rủi ro về: chính sách quản lý chuyên ngành; về xuất xứ; về môi trường; về hàng giả, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ; về ma túy, tiền chất; về vũ khí, chất phóng xạ; về buôn lậu, vận chuyển trái phép qua biên giới, Tổng cục Hải quan chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành xây dựng và tham mưu Bộ Tài chính ban hành theo nội dung Chỉ thị 18/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ như nêu trên.

22.2.5.4. Quản lý Danh mục hàng hóa rủi ro

Danh mục hàng hoá rủi ro được quản lý theo hai (02) hình thức: văn bản giấy và cơ sở dữ liệu trên hệ thống thông tin quản lý rủi ro.

Với văn bản giấy, đó là Danh mục hàng hóa rủi ro và các phân nhóm Danh mục được ban hành, sửa đổi, bổ sung kèm theo Quyết định của Bộ trưởng Bộ Tài chính; cộng thêm 02 Danh mục được ban hành theo Quyết định của Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan – theo quy định tại Quyết định số 464/QĐ-BTC như đã nêu ở trên.

Với dạng cơ sở dữ liệu, đó là các Danh mục hàng hóa rủi ro được ban hành, sửa đổi, bổ sung, được cập nhật theo định dạng trên cơ sở dữ liệu của Hệ thống thông tin quản lý rủi ro.

22.2.5.5. Áp dụng Danh mục hàng hoá rủi ro:

Danh mục hàng hóa rủi ro được sử dụng làm nguồn thông tin rủi ro để xây dựng, kiến nghị chế độ, chính sách quản lý đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp quản lý hải quan;

Không được sử dụng Danh mục hàng hóa rủi ro làm căn cứ duy nhất để quyết định thực hiện các biện pháp như nêu trên.

Các cơ quan thuộc các Bộ, ngành sử dụng Danh mục hàng hóa rủi ro làm cơ sở xây dựng, ban hành chính sách quản lý chuyên ngành đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.

22.2.6. Quản lý hồ sơ rủi ro trong hoạt động nghiệp vụ hải quan

22.2.6.1. Hồ sơ rủi ro hải quan

Trong các tài liệu hướng dẫn về quản lý rủi ro của Tổ chức Hải quan thế giới và Hải quan các nước thì thuật ngữ “Risk Profile” được dùng phổ biến trong hoạt động quản lý rủi ro và phản ánh đầy đủ các thuộc tính của hồ sơ tài liệu về rủi ro. Thuật ngữ trên có thể dịch là mô tả hiện trạng rủi ro. Tuy nhiên, theo quy trình quản lý rủi ro thì khái niệm trên không chỉ mô tả hiện trạng rủi ro mà nó còn bao gồm việc phản ánh kết quả phân tích, đánh giá rủi ro, biện pháp xử lý rủi ro được áp dụng, kết quả theo dõi, đánh giá quá trình xử lý rủi ro cũng như việc điều chỉnh bổ sung các dấu hiệu về rủi ro và chúng được xây dựng và quản lý dưới dạng tài liệu giấy hoặc dữ liệu điện tử.

Qua đó, hồ sơ rủi ro hải quan có thể được hiểu là sản phẩm đầu ra quy trình quản lý rủi ro, nó là kết quả quá trình xác định, phân tích, đánh giá và xử lý rủi ro nên tổng hợp các hồ sơ rủi ro sẽ thể hiện được bức tranh tổng thể về rủi ro trong hoạt động hải quan, từ đó củng cố và tạo cơ sở cho việc quyết định áp dụng các biện pháp quản lý thông qua việc phổ biến các dấu hiệu rủi ro đến các đơn vị tác nghiệp cũng như việc cập nhật các dấu hiệu này vào hệ thống thông tin nghiệp vụ nhằm xác định đối tượng rủi ro.

Nếu như trước đây, hồ sơ rủi ro hải quan được hiểu là “tập hợp thông tin, dữ liệu về quá trình xác định, phân tích, đánh giá, xử lý đối với một rủi ro cụ thể, được lưu trữ dưới dạng văn bản hoặc dữ liệu điện tử, nhằm phục vụ quản lý rủi ro trong hoạt động nghiệp vụ hải quan” – theo quy định tại Quyết định số 48/2008/QĐ-BTC, ngày 04/07/2008, của Bộ trưởng Bộ Tài chính – thì hiện nay, khái niệm về hồ sơ rủi ro đã hướng tới đối tượng, phạm vi áp dụng cụ thể hơn, đó là “tập hợp các thông tin, dữ liệu về đối tượng rủi ro hoặc tình huống xuất hiện rủi ro (tình huống rủi ro), được lưu trữ dưới dạng văn bản hoặc dữ liệu điện tử để phục vụ theo dõi, quản lý và xác định trọng điểm kiểm tra, giám sát hải quan, kiểm tra sau thông quan và các biện pháp nghiệp vụ khác đối với hoạt động xuất nhập khẩu, xuất nhập cảnh” – theo quy định tại Quyết định số 464/QĐ-BTC ngày 29/06/2015 của Bộ trưởng Bộ Tài chính.

22.2.6.2. Vai trò của hồ sơ rủi ro hải quan

Hồ sơ rủi ro đã hình thành nên một chuỗi các hoạt động bắt đầu từ thu thập dữ liệu, thông tin đến phân tích, xử lý thông tin và đánh giá rủi ro;

Hồ sơ rủi ro gắn kết các khâu nghiệp vụ, hoạt động nghiệp vụ thông qua thông tin đã được xử lý của hồ sơ và các thông tin chỉ dẫn rủi ro, yêu cầu nghiệp vụ của đơn vị lập hồ sơ;

Hồ sơ rủi ro tạo lập nên cơ sở dữ liệu về rủi ro đối với hồ sơ lưu giữ dưới dạng điện tử và tạo lập kho tàng tài liệu, chứng từ, văn bản khi được lưu trữ dưới dạng hồ sơ giấy.

22.2.6.3 Xây dựng, quản lý và áp dụng hồ sơ rủi ro hải quan

a) Nguyên tắc của việc xây dựng, quản lý và ứng dụng hồ sơ rủi ro

Ngoài những nguyên tắc chung trong hoạt động kiểm soát hải quan cũng như những quy định riêng có tính đặc thù của công tác quản lý rủi ro, công tác xây dựng, quản lý, ứng dụng hồ sơ rủi ro cần đáp ứng các nguyên tắc mang tính đặc thù sau đây:

Công tác xây dựng, quản lý và áp dụng hồ sơ rủi ro được tiến hành rộng rãi, có giới hạn, bao gồm việc thu thập tình hình rộng rãi về mọi mặt trong lĩnh vực hải quan nhằm tìm ra những khả năng tiềm tàng, những tác nhân chính dẫn đến vi phạm của những đối tượng cụ thể. Việc thu thập thông tin rộng rãi cho phép ta nhận định tương đối đầy đủ, toàn diện về đối tượng nghiên cứu;

Công tác xây dựng, quản lý và áp dụng hồ sơ rủi ro phải tiến hành khẩn trương, thường xuyên, liên tục và có tính chiến lược vì nếu không thì thông tin tài liệu thu thập được sẽ bị gián đoạn, không phản ánh kịp thời về tình hình hoạt động của các loại đối tượng;

Việc quản lý hồ sơ rủi ro được dựa trên nền tảng của các biện pháp nghiệp vụ quản lý rủi ro và kiểm soát hải quan;

Chủ động phối hợp với các đơn vị nghiệp vụ để tiến hành những biện pháp, phương tiện và chiến thuật nghiệp vụ cần thiết nhằm đạt được mục đích, yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra.

b) Nội dung xây dựng, quản lý và ứng dụng hồ sơ rủi ro

b.1) Xây dựng hồ sơ rủi ro:

Xây dựng hồ sơ rủi ro là việc tiến hành hoạt động thu thập thông tin, dữ liệu, phân tích, đánh giá rủi ro, xác lập hồ sơ đối với rủi ro đã được phân tích, đánh giá. Kết quả của quá trình này cho phép cơ quan Hải quan nhận biết và chủ động trong việc xử lý đối với rủi ro.

Đối tượng xác lập hồ sơ rủi ro hải quan là các vụ việc vi phạm có tính chất điển hình và/ hoặc các đối tượng có nguy cơ tiếp tục tái phạm các hành vi buôn lậu, trốn thuế, gian lận thương mại, và/ hoặc các đối tượng có nguy cơ buôn lậu, trốn thuế, gian lận thương mại hoặc có hành vi vi phạm pháp luật khác.

Công tác xây dựng hồ sơ rủi ro hải quan được thực hiện cụ thể như sau:

Thu thập thông tin về vụ việc vi phạm pháp luật hải quan, pháp luật thuế có tính chất điển hình trong hoạt động xuất nhập khẩu, xuất nhập cảnh; doanh nghiệp, cá nhân hoạt động buôn lậu, trốn thuế, gian lận thương mại xảy ra trong lĩnh vực hải quan; các dấu hiệu vi phạm của doanh nghiệp, cá nhân trong hoạt động xuất nhập khẩu, xuất nhập cảnh.

Phân tích, đánh giá thông tin rủi ro trên cơ sở xem xét độ tin cậy của nguồn thông tin thu thập, tính liên quan của thông tin rủi ro trong hoạt động xuất nhập khẩu, tính đầy đủ của nội dung thông tin, tính chính xác của thông tin, tính kịp thời của thông tin.

Dựa trên kết quả đánh giá nội dung thông tin, tiếp tục đánh giá mức độ quan trọng của thông tin rủi ro và tính cần thiết của việc xác lập hồ sơ rủi ro.

Kết quả là, hồ sơ rủi ro hải quan được xác lập, chia sẻ thông tin tới Hải quan các cấp phục vụ công tác nghiệp vụ.

b.2) Quản lý hồ sơ rủi ro hải quan

 Quản lý hồ sơ rủi ro là việc tổ chức lưu trữ thông tin, dữ liệu rủi ro đã được xác định, phân tích và đánh giá. Các thông tin, dữ liệu này dưới dạng hồ sơ giấy hoặc cơ sở dữ liệu nhằm giúp cho việc hệ thống hoá các rủi ro cũng như việc cung cấp các công cụ cần thiết cho việc truy cập, khai thác và sử dụng trong quá trình quản lý rủi ro.

Hồ sơ rủi ro hải quan sau khi phê duyệt được cập nhật vào hệ thống để quản lý, chia sẻ và cung cấp thông tin rủi ro cho đơn vị nghiệp vụ tại Hải quan các cấp.

Trong quá trình hoạt động, hồ sơ rủi ro phải được cập nhật bổ sung thông tin ngay khi phát sinh các dấu hiệu rủi ro hoặc các yếu tố khác liên quan cũng như việc tiến hành thanh loại hồ sơ rủi ro đối với trường hợp doanh nghiệp giải thể, phá sản, ngừng hoạt động hoặc các trường hợp qua phân tích cho thấy tần suất và hậu quả rủi ro thấp.

b.3) Ứng dụng hồ sơ rủi ro hải quan

Ứng dụng hồ sơ rủi ro là việc phổ biến, cung cấp các rủi ro đã được xác định tới các đơn vị nghiệp vụ liên quan giúp cho việc nhận biết và lựa chọn các rủi ro để xử lý rủi ro, kiểm soát bằng các biện pháp phù hợp, có hiệu quả.

Căn cứ hình thức, mức độ và tần suất áp dụng các biện pháp kiểm soát rủi ro dựa trên tính chất và cấp độ quan trọng của từng  hồ sơ rủi ro mà hồ sơ đó có thể được nghiên cứu, thiết lập, áp dụng phù hợp chỉ số tiêu chí lựa chọn kiểm tra, giám sát hải quan, kiểm tra sau thông quan (chú ý: tuyệt đối không được sử dụng hồ sơ rủi ro làm căn cứ duy nhất để quyết định việc áp dụng các biện pháp nêu trên) hoặc được nghiên cứu, tham mưu đề xuất xây dựng, điều chỉnh, bổ sung Kế hoạch kiểm soát rủi ro; hoặc được nghiên cứu, khai thác để theo dõi, phân tích, đánh giá các đối tượng rủi ro trong hoạt động xuất nhập khẩu, xuất nhập cảnh,…

Thời gian qua, sự phát triển công tác quản lý rủi ro nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách, phát triển và hiện đại hoá ngành Hải quan, đảm bảo tiến trình chuyển đổi, áp dụng phương pháp quản lý mới – quản lý rủi ro – để chuyển dịch từ quản lý từng giai dịch sang quản lý theo đối tượng và đặc biệt là đảm bảo cho sự cân bằng giữa kiểm soát và tạo thuận lợi thương mại hợp pháp, thực tế đã cho thấy tính tất yếu và sự thành công trong việc áp dụng phương pháp quản lý mới, hiện đại này trong quản lý nhà nước về hải quan.

Để góp phần nâng cao nhận thức, sự hiểu biết của các cán bộ, công chức Hải quan cũng như những độc giả quan tâm tới lĩnh vực quản lý rủi ro hải quan, tác giả đã tổng hợp những lý luận, quy trình mang tính phổ quát để đảm bảo tính dễ hiểu, dễ nhớ hơn của người đọc. Những nội dung trong giới hạn chuyên đề này mang tính gợi mở giúp người đọc có thêm định hướng trong nghiên cứu sâu hơn về quản lý rủi ro hải quan./.

 TÀI LIỆU THAM KHẢO

I. TÀI LIỆU Ở TRONG NƯỚC

1. Ts. Vũ Ngọc Anh (2010), “Nâng cao hiệu quả áp dụng quản lý rủi ro trong lĩnh vực nghiệp vụ hải quan”, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp ngành, Hà Nội;

2. Bộ Giáo dục và đào tạo (1999), Đại từ điển Tiếng Việt, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội;

3. Bộ Tài chính (2013), Quyết định số 2998/QĐ-BTC ngày 02/12/2013 của Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành Quy định áp dụng quản lý rủi ro trong quản lý hải quan, quản lý thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh; phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh, Hà Nội;

4. Bộ Tài chính (2013), Thông tư số 175/TT-BTC ngày 29/11/2013 của Bộ Tài chính quy định về áp dụng quản lý rủi ro trong hoạt động nghiệp vụ hải quan, Hà Nội;

5. Bộ Tài chính (2015), Quyết định số 464/QĐ-BTC ngày 29/06/2015 của Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành Quy định quản lý rủi ro trong hoạt động nghiệp vụ hải quan, Hà Nội;

6. Bộ Tài chính (2015), Thông tư số 38/TT-BTC ngày 25/03/2015 của Bộ Tài chính quy định về thủ tục hải quan; kiểm tra, giám sát hải quan; thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và quản lý thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu, Hà Nội;

7. Chính phủ (2015), Chỉ thị số 18/CT-TTg ngày 14/07/2015 của Thủ tướng Chính phủ, Hà Nội;

8. Chính phủ (2015), Nghị định số 08/2015/NĐ – CP ngày 21/01/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật hải quan về thủ tục hải quan, kiểm tra giám sát hải quan, kiểm soát hải quan, Hà Nội;

9. Chính phủ (2011), Quyết định số 448/2011/QĐ-TTg ngày 25/3/2011 v/v phê duyệt Chiến lược phát triển Hải quan đến năm 2020, Hà Nội;

10. Quách Đăng Hòa (2009), “Nghiên cứu xây dựng, quản lý và sử dụng hồ sơ rủi ro trong hoạt động nghiệp vụ của ngành Hải quan” , Đề tài nghiên cứu khoa học cấp ngành, Hà Nội;

11. Quách Đăng Hòa (2016), “Nghiên cứu, xây dựng Khung tiêu chuẩn quản lý rủi ro của Hải quan Việt Nam” , Đề tài nghiên cứu khoa học cấp ngành, Hà Nội;

12. Quốc hội (2014), Luật Hải quan số 54/2014/QH13 ngày 23/06/2014, Hà Nội;

13. Tổng cục Hải quan (2015), Quyết định số 282/QĐ-TCHQ ngày 10/11/2015 của Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan hướng dẫn thực hiện, áp dụng quản lý rủi ro trong hoạt động nghiệp vụ hải quan, Hà Nội;

II. TÀI LIỆU NƯỚC NGOÀI

14. Luc De Wulf và Jose B.Sokol (2005), Sổ tay hiện đại hóa hải quan, NXB Lý luận chính trị, năm 2007;

15. WCO, Công ước Quốc tế về đơn giản hóa và hài hòa Thủ tục Hải quan sửa đổi năm 1999 (Công ước KYOTO);

16. WCO – Cẩm nang của Hải quan thế giới dành cho các điều tra viên về gian lận thương mại./.

 

 

 

 

Bản in

 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *