Chuyên đề 21 NHỮNG NỘI DUNG MỚI VỀ LUẬT THỰC HÀNH TIẾT KIỆM, CHỐNG LÃNG PHÍ VÀ LUẬT PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG

Chuyên đề 21: NHỮNG NỘI DUNG MỚI VỀ LUẬT THỰC HÀNH TIẾT KIỆM, CHỐNG LÃNG PHÍ VÀ LUẬT PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG

 Thsĩ. Hà Thị Hương Lan

Trường Bồi dưỡng cán bộ tài chính – Bộ Tài chính

 Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí số 48/2005/QH11 và Luật phòng, chống tham nhũng số 55/2005/QH11 được Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI thông qua ngày 29/11/2005 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/6/2006, thay thế cho Pháp lệnh thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và Pháp lệnh chống tham nhũng năm 1998 (được sửa đổi, bổ sung một số điều vào năm 2000). Qua 7 năm thực hiện cho thấy, Luật là một cơ sở pháp lý quan trọng để thực hiện công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và công tác phòng, chống tham nhũng ở nước ta. Công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí (viết tắt là THTK, CLP) và phòng, chống tham nhũng (viết tắt là PCTN) đã có chuyển biến tích cực trên nhiều phương diện, góp phần nâng cao ý thức, trách nhiệm đối với mọi tổ chức, cá nhân trong thực hiện chủ trương này. Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được, thực tiễn cũng cho thấy một số quy định của Luật còn bất cập, công tác THTK, CLP, PCTN còn có những hạn chế nhất định; một số quy định không còn phù hợp với tình hình thực tế; nhiều vấn đề phát sinh chưa được điều chỉnh kịp thời. Vì vậy, để khắc phục hạn chế của Luật hiện hành, đáp ứng yêu cầu thực tiễn và thể chế hóa kịp thời chủ trương của Đảng đối với công tác THTK, CLP, PCTN, tại kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa XIII, Quốc hội đã quyết định đưa dự án Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và Luật phòng, chống tham nhũng (sửa đổi) vào chương trình xây dựng luật và pháp lệnh.

Ngày 23/11/2012, tại kỳ họp thứ 4, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XIII đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật phòng, chống tham nhũng. Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ký Lệnh công bố và Luật có hiệu lực kể từ ngày 01/02/2013.

Ngày 26/11/2013, tại kỳ họp thứ 6 Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII đã thông qua Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Chủ tịch nước ký lệnh công bố ngày 09/12/2013 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2014.

21.1. Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí

21.1.1. Sự cần thiết sửa đổi, bổ sung Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí số 48/2005/QH11

21.1.1.1. Tình hình và một số kết quả chính trong thi hành Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí

a. Việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí

Sau khi Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí được Quốc hội thông qua, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 25/2006/QĐ-TTg ngày 26/01/2006 ban hành Chương trình hành động của Chính phủ về THTK, CLP và các Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí [1]; quy định về bồi thường thiệt hại, xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính; trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị và trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức trong việc THTK, CLP… Bộ Tài chính ban hành các Thông tư[2] hướng dẫn thực hiện bồi thường thiệt hại, xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính về THTK, CLP;… Đồng thời, tham mưu cho Chính phủ ban hành Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính của các đơn vị sự nghiệp công lập; Quyết định số 170/2006/QĐ-TTg ngày 18/7/2006 về việc ban hành Quy định tiêu chuẩn, định mức trang thiết bị và phương tiện làm việc của cơ quan và cán bộ, công chức, viên chức…. Căn cứ các Nghị quyết, chương trình công tác của của Chính phủ và các văn bản chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, các Bộ ngành, địa phương đã xây dựng nhiệm vụ cụ thể thông qua việc ban hành các chương trình, kế hoạch công tác đưa việc tổ chức triển khai thực hiện THTK, CLP thành một nội dung của hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo công tác thường xuyên. Đồng thời rà soát các định mức, tiêu chuẩn, chế độ có sự chồng chéo, lạc hậu để có kế hoạch sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới làm cơ sở cho thực hiện Luật. Đến cuối năm 2007, tất cả các bộ, ngành địa phương đã xây dựng và triển khai thực hiện Chương trình hành động theo đúng quy định của Luật và Chương trình hành động của Chính phủ về THTK, CLP.

Cuối năm 2007, trước bối cảnh lạm phát cao và tiếp tục gia tăng trong năm 2008 đã đặt ra yêu cầu mới trong THTK, CLP khẩn trương, quyết liệt và thiết thực hơn. Thực hiện Kết luận số 22-KL/TW ngày 4/4/2008 của Bộ chính trị, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 10/2008/NQ-CP ngày 17/4/2007, Nghị quyết số 20/2008/NQ-CP ngày 29/8/2008 xác định nhiệm vụ trọng tâm năm 2008 là kiềm chế lạm phát và coi tiết kiệm là một trong những giải pháp quan trọng. Thủ tướng Chính phủ cũng đã ban hành Quyết định số 390/QĐ-TTg ngày 17/4/2008, Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 34/2008/TT-BTC ngày 23/4/2008 hướng dẫn về tiết kiệm thêm 10% chi thường xuyên ngân sách nhà nước năm 2008 và giao chỉ tiêu tiết kiệm cho các Bộ, ngành, địa phương. Bộ Kế hoạch và đầu tư đã có văn bản hướng dẫn thực hiện rà soát các dự án đầu tư để thực hiện các biện pháp cắt, giảm, đình, hoãn để tiết kiệm chi tiêu công. Trong các năm tiếp theo, việc ban hành các văn bản để thực hiện các biện pháp, mục tiêu tiết kiệm cũng thường xuyên hơn nhằm thực hiện mục tiêu kép là vừa kiềm chế lạm phát, giữ ổn định kinh tế vĩ mô, vừa duy trì tốc độ tăng trưởng (Nghị quyết số 03/NQ-CP ngày 15/1/2010, Nghị quyết số 18/NQ-CP ngày 6/4/2010, Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 24/2/2011 của Chính phủ…). Năm 2013, được Quốc hội thông chủ trương “Tăng cường ổn định kinh tế vĩ mô; lạm phát thấp hơn, tăng trưởng cao hơn năm 2012. Đẩy mạnh thực hiện ba đột phá chiến lược gắn với tái cơ cấu nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng. Bảo đảm an sinh xã hội và phúc lợi xã hội. Nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế. Tăng cường quốc phòng, an ninh và bảo đảm ổn định chính trị-xã hội. Tạo nền tảng phát triển vững chắc hơn cho những năm tiếp theo”, ngày 07/01/2013 Chính phủ ban hành Nghị quyết số 01/NQ-CP về những giải pháp chủ yếu chỉ đạo điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và dự toán NSNN năm 2013 và Nghị quyết số 02/NQ-CP về một số giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường, giải quyết nợ xấu. Trong các nghị quyết của Chính phủ, việc tăng cường THTK, CLP là yêu cầu cấp thiết, được đặt ra trong tất cả các nhóm giải pháp chỉ đạo, điều hành trên các lĩnh vực kinh tế – xã hội.

Với mục tiêu sau khi được ban hành sẽ tạo khung pháp lý đồng bộ cho hệ thống pháp luật về THTK, CLP, tạo cơ sở pháp lý cần thiết cho việc triển khai thực hành tiết kiệm, chống lãng phí của các cấp, các ngành, các cơ quan, tổ chức, đơn vị và nhân dân. Các văn bản trên đã góp phần nâng cao nhận thức về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí của các cấp, các ngành và toàn thể nhân dân trong lao động, sản xuất và đời sống;

b. Kết quả và những tồn tại, hạn chế khi thi hành Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.

Trong quản lý, sử dụng kinh phí NSNN chi thường xuyên: việc quản lý, sử dụng kinh phí hoạt động của các cơ quan, đơn vị đã gắn kết hơn với các biện pháp THTK, CLP từ khâu lập dự toán đến chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước (viết tắt là NSNN); nhiệm vụ chi được phân loại theo thứ tự ưu tiên, hạn chế bổ sung ngoài dự toán, ứng vốn; thực hiện chi tiêu theo tiêu chuẩn, định mức chế độ theo quy định. Từ năm 2006 đến 2012[3], tổng số tiết kiệm 10% chi thường xuyên ngoài lương và có tính chất lương của các cơ quan, đơn vị để thực hiện cải cách tiền lương là 11.543,7 tỷ đồng; trong đó khối cơ quan trung ương là 2.846 tỷ đồng, khối cơ quan địa phương là 8.697,7 tỷ đồng. Công tác thanh tra, kiểm tra trong quản lý, sử dụng NSNN được tăng cường, bảo đảm việc sử dụng vốn NSNN tiết kiệm, hiệu quả, đúng mục đích; góp phần ngăn ngừa, hạn chế vi phạm, lãng phí; các đơn vị ngành Tài chính (từ năm 2006 – 2012) đã phát hiện và kiến nghị xử lý tài chính 18.473 tỷ đồng, trong đó: thu hồi nộp NSNN 15.037 tỷ đồng; xử phạt hành chính 1.037 tỷ đồng; xử lý tài chính khác  2.398  tỷ đồng. Trong 6 tháng đầu năm 2013, các cấp, các ngành trong cả nước đã triển khai 1.353 cuộc thanh tra trong lĩnh vực quản lý tài chính, NSNN, qua đó phát hiện và kiến nghị xử lý về tài chính 1.290 tỷ đồng, kiến nghị xử lý hành chính đối với 94 tập thể, 376 cá nhân có vi phạm[4]… Công tác kiểm soát chi qua hệ thống kho bạc nhà nước (từ 2006 – tháng 7/2012) đã phát hiện trên 219.000 khoản chi của hơn 96.443 lượt đơn vị chưa chấp hành đúng thủ tục, chế độ quy định và đã yêu cầu đơn vị bổ sung các thủ tục cần thiết, đã từ chối chưa thanh toán với số tiền khoảng 2.086 tỷ đồng[5]; 7 tháng đầu năm 2013, hệ thống Kho bạc nhà nước cũng đã thực hiện kiểm soát chi ước đạt khoảng 383 nghìn tỷ đồng, bằng khoảng 57% dự toán chi thường xuyên của NSNN năm 2013, qua đó đã phát hiện 36.450 khoản chi chưa chấp hành đúng thủ tục, chế độ quy định, của 16.200 lượt đơn vị, từ chối chưa thanh toán các khoản chi chưa đủ điều kiện chi theo quy định khoảng 663 tỷ đồng[6]

Các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập đã thực hiện cơ chế tự chủ trong quản lý tài chính để chủ động sử dụng kinh phí, biên chế, qua đó kinh phí được sử dụng tiết kiệm, hiệu quả hơn, khắc phục được tình trạng lãng phí do “chạy” kinh phí cuối năm. Mặc dù vậy, ở một số cơ quan, đơn vị, vẫn còn tình trạng chi vượt định mức, tiêu chuẩn, chế độ hoặc sử dụng kinh phí sai mục đích; không thực hiện nghiêm túc các quy định về quản lý, sử dụng kinh phí theo quy định của cơ quan có thẩm quyền dẫn đến lãng phí hoặc sử dụng không hiệu quả kinh phí NSNN được giao làm ảnh hưởng không nhỏ đến việc thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội, làm giảm hiệu quả sử dụng NSNN.

Trong quản lý, mua sắm, sử dụng tài sản, phương tiện đi lại, trang thiết bị làm việc: các bộ, ngành, địa phương trong cả nước cơ bản tuân thủ trình tự mua sắm và thực hiện thẩm định giá theo quy định. Việc mua sắm xe ô tô mới phục vụ công tác, thay thế xe ô tô đủ điều kiện thanh lý chỉ áp dụng đối với những chức danh có tiêu chuẩn; đơn vị mới thành lập và các đơn vị hoạt động trên địa bàn miền núi, vùng sâu, vùng xa, hải đảo và đặc biệt khó khăn sau khi đã sắp xếp lại (điều chuyển từ nơi thừa sang nơi thiếu, tiếp tục sử dụng xe vẫn đủ điều kiện lưu hành). Tài sản mua sắm tập trung bảo đảm được tính đồng bộ, phù hợp với yêu cầu, nội dung hoạt động và quá trình cải cách hành chính nhà nước, cải cách tài chính công; cơ chế công khai, kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm được quy định chặt chẽ, góp phần khắc phục tình trạng mua sắm, trang bị tài sản vượt tiêu chuẩn, định mức. Số tài sản này được điều chuyển cho các cơ quan nhà nước để quản lý, sử dụng bảo đảm tiết kiệm, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu công tác của các đơn vị trong bối cảnh thực hiện tạm dừng mua sắm tài sản để kiềm chế lạm phát theo Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 24/02/2011 của Chính phủ. Từ năm 2011, các Bộ, ngành, địa phương đã nghiêm túc thực hiện việc tạm dừng mua sắm, trang bị mới xe ô tô, điều hoà nhiệt độ, trang thiết bị văn phòng; tiết giảm chi phí xăng, dầu, điện, nước, văn phòng phẩm, chi tổ chức hội nghị, hội thảo, đi công tác trong và ngoài nước …; trong 8 tháng đầu năm 2011, tổng số kinh phí đã thực hiện tạm dừng mua sắm tại các bộ, ngành, địa phương trong cả nước là 1.081,4 tỷ đồng; 6 tháng đầu năm 2013, các bộ, ngành, địa phương trong cả nước chỉ mua mới 168 xe ô tô, với nguyên giá 219,3 tỷ đồng[7].

 Trong quản lý đầu tư xây dựng các dự án sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước: các biện pháp tiết kiệm từ khâu thẩm định dự toán, tổ chức đấu thầu, quyết toán công trình được thực hiện đã góp phần nâng cao kỷ luật tài chính trong quản lý, sử dụng vốn đầu tư của nhà nước. Các chương trình hành động về THTK, CLP được ban hành phù hợp với đặc điểm của lĩnh vực đầu tư xây dựng trong từng năm, gắn với việc thực hiện Nghị quyết của Chính phủ. Công tác kiểm soát thanh, quyết toán vốn đầu tư được tăng cường và cải tiến phương thức, giúp tiết kiệm thời gian, chi phí quản lý cho chủ đầu tư, giảm bớt khó khăn về vốn cho các nhà thầu. Trong 6 tháng đầu năm 2012, thông qua công tác thẩm tra, phê duyệt quyết toán 9.727 dự án hoàn thành trong cả nước, đã cắt giảm các khoản chi phí sai tiêu chuẩn, định mức, chế độ, góp phần tiết kiệm cho NSNN 803,89 tỷ đồng, trong đó khối các cơ quan trung ương là 1.415 dự án, tiết kiệm 306,9 tỷ đồng; khối địa phương là 7.248 dự án, tiết kiếm 298,9 tỷ đồng; khối doanh nghiệp nhà nước (DNNN) 1.064 dự án, tiết kiệm 198,5 tỷ đồng[8]

Tuy nhiên, việc quản lý và triển khai thực hiện các dự án trong những năm qua còn nhiều hạn chế và yếu kém, dẫn đến thất thoát, lãng phí vốn đầu tư, hiệu quả đầu tư kém, làm giảm chất lượng tăng trưởng kinh tế. Tình trạng thất thoát, lãng phí xảy ra ở nhiều khâu của quá trình thực hiện dự án đầu tư như: thất thoát, lãng phí trong khâu chủ trương đầu tư, đây là khâu gây lãng phí, thất thoát nghiêm trọng nhất, cả về lãng phí trực tiếp và lãng phí về gián tiếp; thất thoát trong khâu khảo sát thiết kế gây lãng phí thời gian, tiền của dự án; thất thoát trong khâu đền bù, giải phóng mặt bằng xây dựng; thất thoát, lãng phí trong công tác triển khai, điều hành kế hoạch đầu tư hàng năm và trong khâu lựa chọn nhà thầu, thi công xây lắp công trình.

Trong quản lý, sử dụng đất đai, trụ sở làm việc, nhà công vụ: việc sắp xếp lại, xử lý nhà, đất thuộc sở hữu Nhà nước đã phát hiện được các sai phạm trong việc quản lý, sử dụng nhà, đất và có biện pháp xử lý kịp thời. Tính đến hết tháng 7/2012, có 71 Bộ, ngành, tổ chức ở Trung ương, 17 Tổng Công ty nhà nước và 53 tỉnh thành phố trực thuộc trung ương thực hiện báo cáo kê khai và đề xuất phương án xử lý nhà, đất với tổng số 118.639 cơ sở nhà, trong đó có 83.513 cơ sở nhà, đất với tổng diện tích 2.156.405.611 m2 đất và 76.124.139 m2 nhà đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt phương án xử lý. Tổng số tiền thu được do bán nhà sở hữu nhà nước, chuyển nhượng quyền sử dụng đất, chuyển mục đích sử dụng đất là 28.340 tỷ đồng[9]. Công tác quản lý, sử dụng trụ sở làm việc cơ bản đã thực hiện đúng mục đích và định mức, tiêu chuẩn. Công tác quản lý sử dụng đất đai đã khắc phục tình trạng đất bị bỏ hoang và có kế hoạch sử dụng hiệu quả hơn đối với các khu đất trống, chưa sử dụng nhằm khai thác nguồn thu từ quỹ đất. Tuy nhiên, công tác quy hoạch, quản lý, sử dụng đất đai, trụ sở làm việc, nhà công vụ vẫn để xảy ra lãng phí, như: tình trạng sử dụng sai mục đích đất đai, trụ sở làm việc, nhà công vụ; nguồn lực đất đai chưa được quan tâm, khai thác hiệu quả; vẫn còn tình trạng để đất đai hoang hóa không sử dụng hoặc sử dụng với hiệu quả thấp.

Trong quản lý, sử dụng lao động và thời gian lao động trong khu vực nhà nước: việc tuyển dụng cán bộ, công chức thực hiện khá nghiêm túc và dần đi vào nề nếp; các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp chủ động rà soát chức năng, nhiệm vụ và biên chế để bố trí, sử dụng cán bộ, công chức, viên chức phù hợp hơn với yêu cầu công việc, thực hiện cải cách hành chính, từng bước nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước; góp phần THTK, CLP cả về kinh phí, biên chế của cơ quan quản lý nhà nước và thời gian, chi phí xã hội. Nhiều cơ quan, đơn vị duy trì nghiêm túc việc tổ chức làm việc ngày thứ bảy để tiếp nhận, giải quyết các thủ tục hành chính theo Quyết định 127/2007/QĐ-TTg ngày 01/8/2007 của Thủ tướng Chính phủ. Ứng dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO trong quy trình giải quyết hồ sơ hành chính được các Bộ, ngành, địa phương tích cực triển khai thực hiện, góp phần nâng cao năng suất lao động, tiết kiệm chi phí và thời gian giải quyết công việc của cán bộ, công chức. Cơ chế một cửa, một cửa liên thông, ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động quản lý nhà nước được duy trì có hiệu quả.

Từ năm 2010 đến nay, Chính phủ đã tổ chức nhiều buổi làm việc trực tuyến với các Bộ, ngành, địa phương để triển khai các giải pháp phát triển kinh tế – xã hội, đã giảm bớt được chi phí hoạt động của Chính phủ cũng như tiết kiệm thời gian, chi phí đi lại của các thành viên dự họp. Song vẫn còn có cơ quan, đơn vị trong bộ máy nhà nước chưa đạt hiệu quả cao trong quản lý nhà nước, chất lượng phục vụ chưa đáp ứng được yêu cầu. Vẫn còn một số cơ quan, tổ chức chưa có quy chế nội bộ về quản lý thời gian lao động, sắp xếp công việc thiếu khoa học, hợp lý dẫn đến hiệu quả sử dụng thời gian lao động thấp.

Trong quản lý, sử dụng vốn và tài sản nhà nước tại doanh nghiệp: các định mức liên quan đến chi phí sản xuất đặc biệt là các chi phí gián tiếp để tăng cường quản lý, hạ giá thành sản phẩm đã được doanh nghiệp chủ động xây dựng; nhiều biện pháp tiết kiệm như cắt giảm chi phí sản xuất kinh doanh, tăng cường quản lý định mức tiêu hao đã được thực hiện để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. Bên cạnh việc chủ động đẩy mạnh sản xuất kinh doanh, tìm kiếm mở rộng thị trường, tăng khả năng cạnh tranh; doanh nghiệp đã thực hiện nhiều biện pháp tiết kiệm triệt để như chủ động rà soát các chi phí để cắt giảm chi phí không cần thiết; tăng cường quản lý định mức tiêu hao để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh; đa dạng hoá nguồn nguyên liệu; triển khai các nghiên cứu, ứng dụng công nghệ vào sản xuất, hạ giá thành sản sản phẩm, tiết giảm từ 5% đến 10% chi phí quản lý. Tổng số tiền các tập đoàn, tổng công ty nhà nước đăng ký tiết kiệm do tiết giảm chi phí năm 2012 là 12.587,7 tỷ đồng[10]. Tuy nhiên, vẫn còn không ít doanh nghiệp chưa ý thức được việc cần thiết phải áp dụng những biện pháp tiết kiệm để giảm chi phí sản xuất, kinh doanh dẫn đến hoạt động sản xuất, kinh doanh kém hiệu quả. Trong quản lý tài chính tại doanh nghiệp nhà nước vẫn còn sơ hở, sử dụng vốn kém hiệu quả, một số doanh nghiệp thực hiện đa dạng hóa ngành nghề kinh doanh trong khi năng lực quản lý, trình độ quản trị doanh nghiệp và khả năng tài chính có hạn dẫn đến thua lỗ kéo dài.

Trong sản xuất và tiêu dùng của nhân dân: đã có sự chuyển biến tích cực trong nhận thức của nhân dân về THTK, CLP. Cùng với cuộc vận động “Học tập tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, ý thức tiết kiệm trong sản xuất, tiêu dùng của nhân dân đã dần được nâng lên. Phong trào “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” theo Thông báo kết luận số 264-TB/TW ngày 31/7/2009 của Bộ Chính trị đến nay đã có kết quả bước đầu, người tiêu dùng đã quan tâm nhiều hơn đến hàng Việt Nam chất lượng cao. Hoạt động thương mại kết hợp với thúc đẩy du lịch; đưa hàng Việt Nam về nông thôn, phục vụ trong các khu công nghiệp được tổ chức rộng khắp trong cả nước. Song ở một số nơi việc tổ chức cưới, tang, lễ hội linh đình, lãng phí vẫn còn diễn ra, nhất là khu đô thị, thành phố lớn có điều kiện thu nhập cao; bên cạnh đó, một số hủ tục lạc hậu lại có nguy cơ phát triển trở lại ở các địa phương có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn hoặc vùng xa xôi, hẻo lánh.

c. Nguyên nhân của tồn tại, hạn chế

Như vậy, có thể thấy, trong quá trình triển khai thực hiện Luật THTK, CLP, các kết quả về tiết kiệm đã khá tốt nhưng tình trạng lãng phí vẫn chưa ngăn chặn được dẫn đến các tồn tại như đã nêu trên. Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế này có thể đánh giá khái quát như sau:

Công tác tổ chức thực hiện Luật THTK, CLP nhiều khi chưa được quan tâm thực hiện nghiêm túc; một số bộ, ngành, địa phương chưa thực sự tự giác trong việc xây dựng các giải pháp để triển khai việc THTK, CLP trong lĩnh vực, phạm vi được giao quản lý. Trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc thực hiện các biện pháp THTK,CLP có nơi, có lúc chưa được đề cao. Công tác giám sát của các cơ quan dân cử, của các tổ chức xã hội và hiệp hội nghề nghiệp chưa mang lại hiệu quả cao.

– Hệ thống định mức kinh tế, kỹ thuật và tiêu chuẩn, chế độ trong việc sử dụng vốn và tài sản nhà nước được cập nhật, sửa đổi, bổ sung khá thường xuyên; tuy nhiên vẫn còn chưa sát với thực tế dẫn đến ý thức chấp hành còn hạn chế, thực hiện chưa nghiêm, gây lãng phí vốn và tài sản nhà nước trong nhiều lĩnh vực.

– Cơ chế, biện pháp trong triển khai THTK, CLP chưa hiệu quả, dẫn đến việc triển khai Luật vào cuộc sống còn hạn chế; chưa đi vào chiều sâu, chưa đưa ra được các mục tiêu, chỉ tiêu, tiêu chí đánh giá cụ thể. Các quy định về THTK, CLP tại Luật hiện hành còn khá chung chung, dàn trải và trùng lắp, chưa bao quát thể hiện được rõ nội hàm về THTK, CLP trong các lĩnh vực mà chủ yếu vẫn thực hiện theo các quy định tại các Luật có liên quan.

– Công tác thanh tra, kiểm tra về THTK, CLP tại các cấp, các ngành chưa được thực hiện thường xuyên, liên tục. Các quy định về thanh tra, kiểm tra, trong THTK, CLP còn thiếu cụ thể nên làm hạn chế tính hiệu lực, hiệu quả trong triển khai Luật THTK, CLP.

– Một số quy định của Luật chưa cập nhật với các văn bản quy phạm pháp luật được ban hành trong thời gian qua. Kể từ khi Luật THTK, CLP ban hành và có hiệu lực (1/6/2006), Quốc hội đã ban hành nhiều Luật mới có liên quan, tổng cộng đã có 10 Luật chuyên ngành đã được sửa đổi, bổ sung và 13 Luật chuyên ngành mới đã được Quốc hội thông qua liên quan đến các quy định trong Luật THTK, CLP, đã làm cho các quy định trong Luật THTK, CLP trở nên lạc hậu hoặc khó triển khai thực hiện, phát sinh nhu cầu phải sửa đổi cho phù hợp để đảm bảo tính đồng bộ của hệ thống pháp luật. Đồng thời, phạm vi điều chỉnh của Luật cũng chưa bao quát được hết các lĩnh vực mới phát sinh như quản lý sử dụng tài sản nhà nước; quản lý, sử dụng các loại tài nguyên có thể tái tạo; quản lý, sử dụng vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước.

21.1.1.2. Sự cần thiết sửa đổi Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí

– Xuất phát từ yêu cầu quản lý điều hành, khắc phục những tồn tại, hạn chế của Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí hiện hành, đặc biệt là phải gia tăng các cơ chế, biện pháp thực hành tiết kiệm, chế tài xử lý các hành vi gây lãng phí và làm rõ trách nhiệm của Chính phủ trong việc xây dựng Chương trình THTK, CLP, xác định mục tiêu, chỉ tiêu tiết kiệm trên cả nước, trách nhiệm các bộ, ngành, địa phương, trách nhiệm thủ trưởng, người đứng đầu cơ quan, đơn vị trong tổ chức, triển khai thực hiện;

– Yêu cầu tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, kiểm toán trong các lĩnh vực THTK, CLP để hoàn thiện thêm cơ chế đấu tranh chống các hành vi gây lãng phí một cách hiệu lực, hiệu quả, bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật.

– Xuất phát từ thực tế khách quan, trong thời gian qua nhiều pháp luật có liên quan đến các quy định tại Luật THTK, CLP đã được ban hành mới hoặc sửa đổi đòi hỏi phải sửa đổi các quy định tại Luật THTK, CLP để đảm bảo tính đồng bộ của hệ thống pháp luật.

21.1.1.3. Quan điểm sửa đổi Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí

– Luật THTK, CLP phải thể chế hóa kịp thời chủ trương của Đảng, theo đó THTK, CLP là nhiệm vụ quan trọng, vừa cấp bách, vừa lâu dài của công cuộc xây dựng đất nước; các quy định của Luật phải tạo công cụ vĩ mô để ngăn chặn kịp thời thực trạng lãng phí đang diễn biến ngày càng phức tạp.

– Việc sửa đổi Luật phải bảo đảm tính kế thừa những quy định tiến bộ, đã đi vào cuộc sống và đáp ứng yêu cầu thực tiễn hiện nay, song mặt khác cũng cần nghiên cứu toàn diện để sửa đổi, bổ sung kịp thời những quy định cần thiết, bảo đảm tính hiệu lực, tránh hình thức, góp phần giải quyết các vấn đề bức xúc đặt ra.

– Trong bối cảnh hiện nay, khi tình trạng lãng phí đang là vấn đề nhức nhối, việc sửa đổi Luật phải lấy chống lãng phí là trọng tâm. Do đó, nội dung của Luật cần tập trung vào các quy định về cơ chế phát hiện, chế độ trách nhiệm, biện pháp chế tài nghiêm minh để ngăn ngừa, hạn chế tình trạng lãng phí các nguồn lực. Tuy nhiên, việc sửa đổi Luật cũng phải đáp ứng yêu cầu tôn trọng quyền sở hữu, bảo đảm quyền tự định đoạt vốn, tài sản thuộc sở hữu của mỗi tổ chức, cá nhân theo đúng Hiến pháp và pháp luật.

– Việc sửa đổi Luật THTK, CLP phải bảo đảm tính ổn định lâu dài, cụ thể, minh bạch,  khả thi trong tổ chức thực hiện, tính thống nhất, đồng bộ với các văn bản pháp luật liên quan. Dưới góc độ tiết kiệm, chống lãng phí, Luật này phải được coi là đạo luật gốc, mang tính bao quát để điều chỉnh các hành vi liên quan đến tiết kiệm, chống lãng phí.

21.1.2. Những nội dung mới, cơ bản của Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí sửa đổi.

Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí được Quốc hội khóa XIII thông qua ngày 26/11/2013 tại kỳ họp thứ sáu thay thế Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 2005. Luật đã được Chủ tịch nước ký lệnh công bố ngày 09/12/2013 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2014. Luật THTK, CLP (sửa đổi) gồm 5 chương với 80 điều. So với Luật THTK, CLP hiện hành, Luật mới giảm 5 chương và 6 điều. Việc giảm số chương, điều nói trên là để xử lý những nội dung trùng lặp của Luật hiện hành. Luật THTK, CLP (sửa đổi) có nhiều nội dung mới và quy định chi tiết, cụ thể hơn. Trước hết, về đối tượng điều chỉnh và phạm vi áp dụng, Luật mới đã kết cấu lại và làm rõ hơn phạm vi điều chỉnh về THTK, CLP trong quản lý, sử dụng ngân sách nhà nước, vốn nhà nước, tài sản nhà nước, lao động, thời gian lao động trong khu vực Nhà nước; quản lý khai thác và sử dụng tài nguyên; hoạt động sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân. Tương ứng với phạm vi điều chỉnh, Luật này quy định đối tượng điều chỉnh gồm ba nhóm là: (1) Cơ quan, tổ chức, cá nhân quản lý, sử dụng ngân sách nhà nước, vốn nhà nước, tài sản nhà nước, lao động, thời gian lao động trong khu vực nhà nước; (2) Cơ quan, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân quản lý, khai thác và sử dụng tài nguyên; (3) Tổ chức, hộ gia đình và cá nhân khác.

Về nguyên tắc THTK, CLP (Ðiều 4), Luật mới đã bổ sung làm rõ nguyên tắc THTK, CLP là nhiệm vụ thường xuyên từ chủ trương, đường lối, cơ chế chính sách đến tổ chức thực hiện gắn với kiểm tra, giám sát; THTK, CLP phải gắn với cải cách hành chính và bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao, không để ảnh hưởng đến hoạt động của cơ quan, tổ chức. Một điểm mới khác là, Luật THTK, CLP năm 2005 chỉ quy định về lĩnh vực công khai, hình thức công khai, thì Luật THTK, CLP mới đã bổ sung quy định về nội dung công khai là (Điều 5): Dự toán, phân bố, điều chỉnh dự toán và quyết toán ngân sách nhà nước của các cơ quan, tổ chức sử dụng ngân sách nhà nước; các quỹ có nguồn từ ngân sách nhà nước; Đầu tư xây dựng cơ bản, mua sắm, quản lý, sử dụng tài sản trong cơ quan, tổ chức sử dụng ngân sách nhà nước; Các khoản thu vào ngân sách nhà nước, huy động vốn cho ngân sách nhà nước và cho tín dụng nhà nước; các quỹ có nguồn huy động đóng góp trong và ngoài nước; nợ công theo quy định tại Luật quản lý nợ công; Quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội; quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành, vùng; quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; quy hoạch đô thị, quy hoạch, kế hoạch, danh mục dự án đầu tư, nguồn vốn đầu tư; quy hoạch xây dựng; quy hoạch, kế hoạch và hoạt động khai thác tài nguyên; Định mức, tiêu chuẩn, chế độ do cơ quan, tổ chức quy định hoặc áp dụng thực hiện; quy chế quản lý tài chính, chi tiêu nội bộ của cơ quan, tổ chức; quy chuẩn, tiêu chuẩn ngành, lĩnh vực; Phân bố, sử dụng nguồn lực lao động; Chương trình, kế hoạch thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; kết quả thực hành tiết kiệm; hành vi lãng phí và kết quả xử lý hành vi lãng phí; Quy trình, thủ tục giải quyết công việc giữa cơ quan nhà nước với tổ chức, cá nhân…

Ðáng chú ý là, Luật mới đã bổ sung, làm rõ một số quy định liên quan việc phát hiện lãng phí và xử lý thông tin phát hiện lãng phí (Điều 9); định mức, tiêu chuẩn, chế độ; hành vi gây lãng phí. Theo đó, việc phát hiện lãng phí và trách nhiệm xử lý thông tin phát hiện lãng phí là điểm mới quan trọng của Luật mới cơ chế khuyến khích các tổ chức, cá nhân tham gia phát hiện và cung cấp kịp thời các thông tin về lãng phí góp phần ngăn chặn lãng phí cũng như để xác định trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc để xảy ra lãng phí. Thông tin phát hiện lãng phí dưới mọi hình thức phải được người đứng đầu cơ quan, tổ chức nơi có lãng phí xem xét, giải quyết hoặc cung cấp cho các phương tiện thông tin đại chúng để đưa tin theo quy định và phải chịu trách nhiệm về tính trung thực, tính chính xác của thông tin phát hiện. Người đứng đầu cơ quan, tổ chức nơi có phát hiện để xảy ra lãng phí có trách nhiệm kiểm tra, làm rõ thông tin phát hiện lãng phí khi được cung cấp; trường hợp có lãng phí xảy ra phải ngăn chặn, khắc phục kịp thời; xử lý theo thẩm quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền xử lý sai phạm và thông báo công khai kết quả; giải trình trước cơ quan chức năng về việc để xảy ra lãng phí. Trường hợp cố ý cung cấp thông tin sai sự thật, lợi dụng thông tin gây ảnh hưởng đến hoạt động của cơ quan, tổ chức, uy tín của người khác thì bị xử lý theo quy định của pháp luật. Nghiêm cấm mọi hành vi cản trở việc thực hiện quyền cung cấp thông tin phát hiện lãng phí; đe dọa, trả thù, trù dập, xúc phạm người cung cấp thông tin phát hiện lãng phí.

Luật mới bổ sung một điều (Điều 10) về kiểm tra, thanh tra, kiểm soát chi, kiểm toán nhà nước; cụ thể: (i) Kiểm tra thực hành tiết kiệm, chống lãng phí là nhiệm vụ thường xuyên, bao gồm việc tự kiểm tra của cơ quan, tổ chức; kiểm tra của cơ quan, tổ chức cấp trên với cơ quan, tổ chức cấp dưới và cá nhân có liên quan; (ii) Thanh tra thực hành tiết kiệm, chống lãng phí được thực hiện thông qua hoạt động thanh tra hành chính, thanh tra chuyên ngành hoặc qua việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân; (iii) Kho bạc nhà nước thực hiện kiểm tra, kiểm soát các khoản chi ngân sách nhà nước theo chính sách, định mức, tiêu chuẩn, chế độ do Nhà nước quy định để bảo đảm sử dụng tiết kiệm, hiệu quả, chống lãng phí; (iv) Kiểm toán thực hành tiết kiệm, chống lãng phí bao gồm kiểm toán báo cáo tài chính, kiểm toán tuân thủ và kiểm toán hoạt động đối với việc quản lý, sử dụng ngân sách nhà nước, vốn nhà nước, tài sản nhà nước và tài nguyên của các cơ quan, tổ chức; (v) Cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi thực hiện kiểm tra, thanh tra, kiểm soát chi và kiểm toán có trách nhiệm phát hiện, ngăn chặn và kịp thời xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cấp có thẩm quyền xử lý các vi phạm về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; xác định rõ nguyên nhân và kiến nghị biện pháp khắc phục.

Căn cứ quan trọng để xem xét, đánh giá THTK, CLP một cách khách quan và phát huy hiệu quả, Luật mới có những quy định mới về hệ thống định mức, tiêu chuẩn, chế độ (Mục I chương II). Theo đó, Luật quy định ba nhóm định mức, tiêu chuẩn, chế độ. Các nguyên tắc ban hành định mức, tiêu chuẩn, chế độ phải đảm báo có cơ sở khoa học và thực tiễn; phù hợp với khả năng của ngân sách nhà nước và chức năng, nhiệm vụ được giao; căn cứ vào yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội để ban hành hoặc rà soát sửa đổi, bổ sung kịp thời; định mức, tiêu chuẩn, chế độ áp dụng trong ngành, lĩnh vực, địa phương phải phù hợp với định mức, tiêu chuẩn, chế độ quy định áp dụng chung trong cả nước, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác và tuân theo quy trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật, quy định khác của pháp luật có liên quan. Trách nhiệm ban hành, thực hiện kiểm tra việc thực hiện định mức, tiêu chuẩn, chế độ:

– Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ và Thủ trưởng cơ quan khác ở trung ương có trách nhiệm tổ chức xây dựng, rà soát, sửa đổi, bổ sung định mức, tiêu chuẩn, chế độ trình cấp có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền; thực hiện công khai định mức, tiêu chuẩn, chế độ áp dụng chung trong cả nước hoặc áp dụng trong phạm vi ngành, lĩnh vực được giao quản lý; tổ chức kiểm tra việc xây dựng định mức, tiêu chuẩn, chế độ thuộc nội dung quy chế chỉ tiêu nội bộ do các cơ quan, tổ chức thuộc phạm vi quản lý ban hành.

– Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có trách nhiệm tổ chức xây dựng, rà soát, sửa đổi, bổ sung định mức, tiêu chuẩn, chế độ trình cấp có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền; thực hiện công khai định mức, tiêu chuẩn, chế độ áp dụng tại địa phương; tổ chức kiểm tra việc xây dựng định mức, tiêu chuẩn, chế độ thuộc nội dung quy chế chi tiêu nội bộ do các cơ quan, tổ chức thuộc phạm vi quản lý ban hành. 

Cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xây dựng, ban hành định mức, tiêu chuẩn, chế độ có trách nhiệm tổ chức kiểm tra việc thực hiện định mức, tiêu chuẩn, chế độ tại các cơ quan, tổ chức thuộc phạm vi áp dụng định mức, tiêu chuẩn, chế độ. Cơ quan, tổ chức thực hiện định mức, tiêu chuẩn, chế độ có trách nhiệm tự kiểm tra việc thực hiện định mức, tiêu chuẩn, chế độ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành và quy chế chi tiêu nội bộ tại cơ quan, tổ chức. Trong quá trình kiểm tra, nếu phát hiện có hành vi vi phạm quy định về thực hiện định mức, tiêu chuẩn, chế độ, quy chế chi tiêu nội bộ để xảy ra lãng phí phải kịp thời xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cấp có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật.

Luật mới cũng quy định các hành vi vi phạm trong ban hành, thực hiện, kiểm tra định mức, tiêu chuẩn, chế độ. Các hành vi đó là: Ban hành định mức, tiêu chuẩn, chế độ trái nguyên tắc; thực hiện vượt định mức, tiêu chuẩn, chế độ; không tổ chức kiểm tra thực hiện định mức, tiêu chuẩn, chế độ; không xử lý hoặc báo cáo cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý kịp thời đối với trường hợp thực hiện không đúng định mức, tiêu chuẩn, chế độ và các chế tài đối với các hành vi vi phạm. Một điều đáng chú ý nữa là, Luật mới đã bổ sung quy định về hành vi gây lãng phí tương đối đầy đủ và toàn diện. Hành vi này được quy định chi tiết trong một số lĩnh vực như: lập, thẩm định, phê duyệt, phân bổ và giao dự toán, quyết toán, quản lý, sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước; quỹ có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước; hành vi gây lãng phí trong mua sắm, trang bị, quản lý, sử dụng phương tiện đi lại, phương tiện, thiết bị làm việc và phương tiện thông tin, liên lạc; hành vi gây lãng phí trong đầu tư xây dựng; quản lý, sử dụng trụ sở làm việc, nhà ở công vụ và công trình phúc lợi công cộng. Ðây là những quy định giúp nhận diện hành vi gây lãng phí thuận lợi hơn, đưa công tác chống lãng phí đi vào thực chất và hiệu quả.

Khắc phục hạn chế của Luật hiện hành và để việc THTK, CLP được thực hiện một cách thật sự có hiệu quả, đi vào chiều sâu, Luật mới đã bổ sung yêu cầu xác định mục tiêu, chỉ tiêu tiết kiệm, yêu cầu chống lãng phí. Từ mục tiêu này, các cơ quan, tổ chức xác định rõ biện pháp thực hiện, trong đó chú trọng cơ chế giám sát thực hiện tiết kiệm, chống lãng phí. Luật mới đã khắc phục những điểm bất cập của Luật hiện hành và hoàn thiện cơ chế đấu tranh chống các hành vi gây lãng phí thông qua việc tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, kiểm toán; bổ sung quy định đối với các trường hợp sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước để tổ chức hội nghị, hội thảo, tọa đàm, đi công tác… phải thực hiện kiểm toán nội bộ hằng năm để kịp thời phát hiện, xử lý các hành vi vi phạm. Khắc phục quy định của Luật THTK, CLP hiện hành là báo cáo kết quả THTK, CLP trong năm tại kỳ họp cuối năm của Quốc hội dẫn đến không đủ số liệu của năm báo cáo, Luật đã sửa đổi theo hướng quy định việc báo cáo kết quả THTK, CLP của năm trước sẽ được thực hiện tại kỳ họp Quốc hội đầu tiên của năm tiếp theo.

Khuyến khích các cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hành tiết kiệm, tham gia phát hiện lãng phí, Luật mới bổ sung quy định việc khen thưởng và nguồn khen thưởng đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thành tích trong hoàn thành, hoàn thành vượt mức mục tiêu, chỉ tiêu tiết kiệm và yêu cầu chống lãng phí được giao; có giải pháp, sáng kiến trong thực hành tiết kiệm, chống lãng phí mang lại kết quả cụ thể; phát hiện, có thông tin phát hiện, ngăn chặn kịp thời không để lãng phí xảy ra. Ðồng thời, Luật cũng quy định cụ thể các trường hợp phải xử lý vi phạm và bồi thường thiệt hại đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm; người đứng đầu cơ quan, tổ chức không trực tiếp vi phạm nhưng để xảy ra lãng phí trong cơ quan, tổ chức, để xảy ra hành vi lãng phí của người do mình trực tiếp quản lý, giao nhiệm vụ hoặc không xử lý hành vi lãng phí theo thẩm quyền…; Người đứng đầu cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp phải chịu trách nhiệm liên đới về việc để xảy ra lãng phí trong cơ quan, tổ chức cấp dưới và trong cơ quan, tổ chức do cấp phó của mình trực tiếp phụ trách.

21.2. Luật phòng, chống tham nhũng sửa đổi và các văn bản hướng dẫn

21.2.1. Sự cần thiết sửa đổi, bổ sung Luật phòng, chống tham nhũng số 55/2005/QH11

21.2.1.1. Tình hình và một số kết quả chính trong thi hành Luật phòng, chống tham nhũng

a. Việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật phòng, chống tham nhũng

Sau khi Luật phòng, chống tham nhũng được Quốc hội thông qua, Ủy ban Thường vụ Quốc hội có Nghị quyết 1039/2006/NQ- UBTVQH11 ngày 28/8/2006 về tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn và Quy chế hoạt động của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng; Nghị quyết 294A/2007/NQ- UBTVQH12, ngày 27/9/2007 về tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn và Quy chế hoạt động của Ban Chỉ đạo tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương về PCTN. Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 30/2006/QĐ-TTg ngày 06/02/2006 ban hành “Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Luật phòng, chống tham nhũng” với mục tiêu định hướng cho các cấp, các ngành xây dựng Kế hoạch hành động thực hiện Luật phòng, chống tham nhũng; đưa công tác phòng, chống tham nhũng (viết tắt là PCTN) thành nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên của các cấp, các ngành từ trung ương đến địa phương và của từng cơ quan, tổ chức, đơn vị nhằm nâng cao ý thức trách nhiệm của các cấp, các ngành, các cơ quan, tổ chức, đơn vị, các cán bộ, công chức, viên chức và của nhân dân về công tác PCTN.

Thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 Khóa X về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí” và Luật PCTN, ngày 12/5/2009, Chính phủ thông qua Nghị quyết số 21/NQ-CP ban hành “Chiến lược quốc gia PCTN đến năm 2020”. Chiến lược xác định rõ 5 quan điểm, 5 mục tiêu cụ thể, 5 nhóm giải pháp với 3 giai đoạn (bước đi) thích hợp nhằm từng bước ngăn chặn, đẩy lùi và loại trừ cơ hội phát sinh tham nhũng. Chính phủ đã chỉ đạo nghiên cứu trình phê chuẩn Công ước Liên hợp quốc về Chống tham nhũng. Chủ tịch nước đã phê chuẩn Công ước tại Quyết định số 950/2009/QĐ-CTN ngày 30/6/2009 (Công ước chính thức có hiệu lực đối với Việt Nam từ ngày 18/9/2009). Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 445/QĐ-TTg ngày 07/4/2010, ban hành Kế hoạch thực thi Công ước nhằm nội luật hóa những quy định của Công ước mà Việt Nam đã cam kết thực hiện.

Cụ thể hóa Nghị quyết Trung ương 3 (Khóa X), Luật PCTN, Chiến lược quốc gia PCTN đến năm 2020 và Kế hoạch thực thi Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng; Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành 23 nghị định, quyết định, chỉ thị[11] và nhiều văn bản hướng dẫn nhằm cụ thể hoá, hướng dẫn thực hiện các quy định của pháp luật về PCTN, trong đó có các quy định về minh bạch tài sản, thu nhập; chuyển đổi vị trí công tác đối với cán bộ, công chức, viên chức; tiêu chuẩn, định mức sử dụng trụ sở, trang thiết bị và phương tiện làm việc; tặng quà, nhận quà và nộp lại quà tặng; xử lý trách nhiệm người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị khi để xảy ra tham nhũng; vai trò, trách nhiệm của xã hội trong PCTN; trả lương qua tài khoản đối với các đối tượng hưởng lương từ ngân sách; đưa nội dung PCTN vào chương trình giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng…; Các cơ quan chức năng ban hành nhiều quy định về cơ chế phối hợp trong PCTN như: Quy chế phối hợp công tác giữa Ban Chỉ đạo Trung ương và Ủy ban Kiểm tra Trung ương; Quy chế phối hợp giữa Thanh tra Chính phủ, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Viện Kiểm sát NDTC, Toà án NDTC, Kiểm toán Nhà nước trong việc trao đổi, cung cấp thông tin về PCTN; Quy chế phối hợp giữa Văn phòng Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTN, Bộ Công an, Toà án NDTC, Viện Kiểm sát NDTC trong việc xử lý các vụ án tham nhũng. Các bộ, ngành cũng đã ban hành các văn bản mới và sửa đổi, bổ sung văn bản để thực hiện Luật PCTN và các văn bản hướng dẫn thi hành([12]).

Sau 7 năm triển khai thực hiện Luật PCTN, Chính phủ, các cấp, các ngành đã xây dựng được hệ thống các văn bản pháp luật và văn bản chỉ đạo, điều hành về PCTN, tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho việc đẩy mạnh công tác PCTN trên phạm vi cả nước và trong từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Các giải pháp phòng ngừa tham nhũng được quan tâm thực hiện đồng bộ. Tuy nhiên, vẫn còn một số văn bản, đề án chưa được ban hành như Nghị định về trách nhiệm giải trình của cán bộ, công chức, viên chức; Nghị định về bảo vệ người tố cáo tham nhũng;  Đề án về kiểm soát thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn. Một số quy định đã bộc lộ hạn chế, vướng mắc nhưng chậm được sửa đổi, bổ sung như việc chuyển đổi vị trí công tác, xử lý trách nhiệm của người đứng đầu khi để xảy ra tham nhũng…

b. Kết quả và những tồn tại, hạn chế khi thi hành Luật phòng, chống tham nhũng.

Các giải pháp phòng ngừa tham nhũng: Một là, công khai, minh bạch trong hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị đã có chuyển biến mạnh mẽ. Công tác kiểm tra, thanh tra để phát hiện, xử lý các hành vi tham nhũng đã được chú trọng. Tuy nhiên công khai, dân chủ trên một số mặt còn nhiều hạn chế (như hoạt động cấp phép thăm dò, khai thác khoáng sản, đầu tư dự án, xây dựng,…). Hai là, việc xây dựng, thực hiện chế độ, định mức, tiêu chuẩn tại các bộ và ngành, địa phương được đẩy mạnh, nhất là một số lĩnh vực dễ phát sinh tham nhũng như đất đai, tài chính, đầu tư xây dựng, quản lý, sử dụng tài sản công; tuy nhiên, vẫn còn nhiều định mức, tiêu chuẩn chậm được sửa đổi, bổ sung nên không phù hợp với thực tiễn của đời sống xã hội, nhất là các quy định về chi tiêu tài chính. Qua tiến hành 35.753 cuộc kiểm tra việc thực hiện các quy định về chế độ, định mức, tiêu chuẩn phát hiện 897 vụ vi phạm, đã xử lý kỷ luật 1.015, cán bộ, công chức, viên chức; xử lý hình sự 64 cán bộ công chức, viên chức([13]). Ba là, việc xây dựng, thực hiện quy tắc ứng xử, quy tắc đạo đức nghề nghiệp; chuyển đổi vị trí công tác của cán bộ, công chức, viên chức, hầu hết các cơ quan ở Trung ương và các địa phương đã triển khai thực hiện; có khoảng 450 cán bộ, công chức nộp lại quà tặng cho cơ quan, tổ chức, đơn vị với tổng giá trị trên 1.798 triệu đồng và các cấp, các ngành đã chuyển đổi vị trí công tác 147.292 cán bộ, công chức. Nhưng qua thực tế, việc thực hiện chuyển đổi vị trí công tác, một số bộ, ngành, địa phương đã xuất hiện những bất cập, cần sửa đổi, bổ sung cho phù hợp và hiệu quả hơn. Bốn là, minh bạch tài sản, thu nhập đã được các bộ, ngành địa phương triển khai thực hiện. Tuy nhiên, trong vài năm đầu, việc thực hiện chưa đồng đều, có nơi triển khai thực hiện chậm, có nơi gặp khó khăn, vướng mắc do nhận thức của các cấp, các ngành chưa nhất quán, chưa thấy rõ ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác này. Do đó, cùng với việc tăng cường hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra của cơ quan chức năng, Chính phủ đã có văn bản phê bình một số bộ, ngành, địa phương trong tổ chức thực hiện, việc kê khai tài sản đã có tiến bộ rõ rệt và dần đi vào nền nếp. Năm là, xử lý trách nhiệm của người đứng đầu khi để xảy ra tham nhũng, đã có tác dụng đề cao trách nhiệm của người đứng đầu, đồng thời có tác dụng răn đe nhất định, nhưng thực tế số người đứng đầu bị xử lý còn ít so với số vụ việc tham nhũng được phát hiện, xử lý; còn có sự nhầm lẫn giữa xử lý người đứng đầu khi có sai phạm và xử lý trách nhiệm khi để xảy ra tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách. Nguyên nhân là do còn có sự nể nang, né tránh trong xử lý, cùng với những quy định về phân cấp và quản lý cán bộ hiện nay chưa rõ ràng và thiếu hướng dẫn cụ thể. Sáu là, cải cách hành chính, đổi mới công nghệ quản lý và phương thức thanh toán, công tác cải cách hành chính trong những năm qua có nhiều tiến bộ, nhất là việc thực hiện Đề án Đơn giản hóa thủ tục hành chính trong các lĩnh vực quản lý nhà nước giai đoạn 2007-2010 (Đề án 30). Đến nay, Chính phủ đã hoàn thành giai đoạn 2 của Đề án 30, đã có 100% các bộ, ngành, tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương công bố công khai bộ thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết. Quá trình đơn giản hóa thủ tục hành chính thông qua Đề án 30 đã đạt được những thành quả đáng ghi nhận: tập hợp, xây dựng được bộ cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính áp dụng tại bốn cấp chính quyền với hơn 5.400 thủ tục hành chính, trên 9.000 văn bản quy định; đồng thời chuẩn hóa thu gọn từ 10.000 bộ thủ tục cấp xã, 700 bộ thủ tục hành chính cấp huyện xuống còn 63 bộ thủ tục hành chính cấp xã và 63 bộ thủ tục hành chính cấp huyện để thực hiện tại 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

Công tác phát hiện, xử lý tham nhũng: Từ năm 2006-2011, toàn ngành thanh tra và các cấp, các ngành đã triển khai 62.994 cuộc thanh tra, kiểm tra. Qua thanh tra, kiểm tra phát hiện nhiều tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm trên các lĩnh vực; kiến nghị xử lý kỷ luật hành chính đối với 1.619 tập thể, 11.973 cá nhân; chuyển cơ quan điều tra xử lý 464 vụ việc; phát hiện nhiều thiếu sót, sai phạm, kiến nghị thu hồi NSNN 20.743,8 tỷ đồng, 3.793.978 USD; xuất toán, loại khỏi giá trị quyết toán và đề nghị cấp có thẩm quyền xem xét xử lý 23.770,2 tỷ đồng. Qua giải quyết 4.572 vụ tố cáo về tham nhũng thuộc thẩm quyền, đã phát hiện 466 vụ việc với 727 người có hành vi tham nhũng. Kiểm toán Nhà nước cũng đã tiến hành kiểm toán 743 cuộc, phát hiện và kiến nghị xử lý tài chính hơn 101.727 tỷ đồng([14])… Công tác điều tra, truy tố, xét xử của các cơ quan tiến hành tố tụng đối với các hành vi tham nhũng có nhiều tiến bộ. Các vụ án tham nhũng được phát hiện, xử lý với số lượng lớn, đã thu hồi về NSNN 1.061,6 tỷ đồng, 218,8 hecta đất. Thông qua việc xử lý các vụ việc, vụ án tham nhũng đã giúp các cấp, các ngành phát hiện những sơ hở, thiếu sót trong quản lý kinh tế – xã hội, bổ sung cơ chế, chính sách, khắc phục những tồn tại, yếu kém, đưa ra các giải pháp phòng ngừa tiêu cực, tham nhũng phù hợp hơn. Tuy có tiến bộ, nhưng hiệu quả phát hiện tham nhũng qua thanh tra, kiểm tra, kiểm toán còn chưa cao. Các vụ việc, vụ án tham nhũng được phát hiện, xử lý chủ yếu ở cấp cơ sở và chủ yếu là đối tượng trực tiếp thực hiện; số vụ việc, vụ án có quy mô lớn được phát hiện, xử lý còn ít.

Việc kiện toàn bộ máy chỉ đạo, các đơn vị chuyên trách về PCTN, Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTN được thành lập và bắt đầu hoạt động từ tháng 10/2006; Văn phòng Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTN được thành lập và đi vào hoạt động từ đầu năm 2007.   Đến đầu năm 2009, tất cả các tỉnh, thành phố đã thành lập Ban chỉ đạo và bộ phận giúp việc Ban chỉ đạo. Các đơn vị chuyên trách về chống tham nhũng, tại Thanh tra Chính phủ (Cục Chống tham nhũng), Viện Kiểm sát NDTC (Vụ Thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra án tham nhũng), Bộ Công an (Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về tham nhũng) đã được thành lập, sớm kiện toàn tổ chức và đẩy mạnh hoạt động nghiệp vụ, từng bước phát huy hiệu quả, nâng cao chất lượng thanh tra, điều tra, truy tố các vụ việc, vụ án tham nhũng, góp phần tích cực trong công tác PCTN. Tuy nhiên, vẫn còn một số hạn chế trong thực hiện cơ chế phối hợp giữa các đơn vị, thiếu các quy định có tính đặc thù đảm bảo phát huy có hiệu quả vai trò của các đơn vị chuyên trách về chống tham nhũng.

Phát huy vai trò, trách nhiệm của xã hội trong PCTN: Các cơ quan nhà nước đã tăng cường phối hợp với Ủy ban MTTQ các cấp và các tổ chức thành viên của Mặt trận trong công tác PCTN, nhất là các hoạt động tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về PCTN. Ủy ban MTTQ các cấp đã tích cực giám sát nhiều công tác của chính quyền (như việc tiếp công dân, công khai nhiệm vụ, thu chi ngân sách, công tác cán bộ…); tổ chức nhiều hòm thư để nhân dân tham gia tố cáo, phát hiện tham nhũng; tiếp nhận, phân loại đơn thư của công dân để chuyển tải, kiến nghị kịp thời tới cơ quan nhà nước, đồng thời giám sát việc giải quyết. Các tổ chức thành viên của Mặt trận, nhất là Hội Nông dân, Hội Cựu Chiến binh, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam đã tích cực tuyên truyền, giáo dục về PCTN đối với thành viên tổ chức mình và nhân dân, tham gia xây dựng pháp luật về PCTN; giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức; phối hợp thực hiện các chương trình công tác trọng tâm của các cấp chính quyền… Vai trò quan trọng của các cơ quan báo chí, truyền thông trong PCTN ngày càng được khẳng định. Ngoài việc tham gia công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật PCTN góp phần nâng cao nhận thức của cán bộ, công chức, nhân dân về PCTN, các cơ quan báo chí, truyền thông đã có nhiều tin, bài phản ánh kịp thời các vụ việc tham nhũng; lên án mạnh mẽ những hành vi tham nhũng, tiêu cực; kịp thời thông tin về tình, kết quả xử lý các vụ việc tham nhũng cũng như biểu dương, động viên những tấm gương điển hình trong PCTN.

Mở rộng hợp tác quốc tế trong PCTN: Hoạt động hợp tác quốc tế về PCTN đã có những tiến triển với việc Việt Nam tham gia 03 thỏa thuận đa phương về PCTN (phê chuẩn Công ước Liên hợp quốc về Chống tham nhũng, ký kết Bản Ghi nhớ Hợp tác đa phương về PCTN giữa các cơ quan chống tham nhũng khu vực Đông Nam Á (SEA-PAC); tham gia Sáng kiến Chống tham nhũng khu vực Châu Á-Thái Bình Dương do ADB/OECD khởi xướng); ký kết 09 thỏa thuận hợp tác song phương và thiết lập mối quan hệ hợp tác về PCTN với 14 quốc gia trong khu vực và trên thế giới; phối hợp với đại diện Cơ quan Chống tội phạm và ma túy của LHQ (UNODC) tại Việt Nam tổ chức tuyên truyền về Ngày Quốc tế chống tham nhũng 9/12 hàng năm. Năm 2009, Thanh tra Chính phủ phối hợp với Ngân hàng Thế giới tổ chức chương trình Ngày Sáng tạo Việt Nam với chủ đề “Nâng cao trách nhiệm và minh bạch, giảm tham nhũng”. Năm 2011, tiếp tục phối hợp tổ chức Chương trình Sáng kiến Phòng, chống tham nhũng Việt Nam (VACI 2011) nhằm phát động các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước đóng góp những ý tưởng, kinh nghiệm cho công tác PCTN…

c. Nguyên nhân của tồn tại và hạn chế

Hiện nay, tình trạng tham nhũng vẫn còn nghiêm trọng, với những biểu hiện tinh vi, phức tạp, diễn ra ở nhiều lĩnh vực, nhiều cấp, nhiều ngành, gây bức xúc, bất bình trong xã hội. Tình hình trên do nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu là các nguyên nhân sau:

– Một số cơ quan, đơn vị và người đứng đầu chưa quyết liệt trong chỉ đạo, tổ chức thực hiện công tác PCTN. Nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình ở nhiều nơi bị buông lỏng. Một bộ phận không nhỏ cán bộ, công chức, trong đó có những người giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, thiếu tu dưỡng, rèn luyện, giảm sút ý chí chiến đấu, quên đi trách nhiệm, bổn phận trước Đảng, trước nhân dân; một số nơi chưa tốt, kỷ cương, kỷ luật không nghiêm, còn có biểu hiện nói không đi đôi với làm, hoặc làm chiếu lệ.

– Thể chế, chính sách về quản lý kinh tế – xã hội trên nhiều lĩnh vực vẫn còn sơ hở, bất cập, chưa minh bạch, chưa xóa bỏ được cơ chế “xin, cho”, là điều kiện dung dưỡng và làm nảy sinh tham nhũng, nhất là trên lĩnh vực quản lý đất đai, tài nguyên, khoáng sản, đầu tư xây dựng, quản lý vốn, tài sản Nhà nước, tổ chức cán bộ, tín dụng, ngân hàng…

– Nhiều quy định của Luật PCTN và các văn bản dưới luật khi triển khai trong thực tiễn đã bộc lộ hạn chế như việc kê khai tài sản, thu nhập còn hình thức; xử lý trách nhiệm người đứng đầu còn vướng mắc, chưa nghiêm; chuyển đổi vị trí công tác thiếu tính khả thi; trách nhiệm giải trình của người có chức vụ, quyền hạn chưa rõ ràng; công khai minh bạch còn hình thức, đối phó…

– Công tác kiểm tra, giám sát, giữ gìn kỷ cương, kỷ luật ở nhiều nơi, nhiều cấp chưa thường xuyên, công tác thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử hiệu quả chưa cao, việc xử lý tham nhũng còn chưa nghiêm, chưa kịp thời; các biện pháp hỗ trợ hoạt động tư pháp còn hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu. Hành vi tham nhũng ngày càng tinh vi, phức tạp, vì vậy việc phát hiện và xử lý tham nhũng gặp nhiều khó khăn.

– Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về PCTN chưa đúng mức; chưa phát huy vai trò, trách nhiệm của xã hội và nhân dân trong PCTN; một số nơi có tình trạng những việc làm đúng, gương người tốt không được đề cao, bảo vệ; những sai sót, vi phạm không được phê phán, xử lý nghiêm minh. Vai trò giám sát của nhân dân thông qua Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị – xã hội hiệu quả chưa cao.

21.2.1.2. Sự cần thiết sửa đổi Luật phòng, chống tham nhũng

– Về thực hiện công khai, minh bạch trong hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị, Luật quy định còn chung chung, khó thực hiện; có lĩnh vực còn chưa quy định. Tình trạng lạm dụng quy định về bí mật nhà nước để không công khai những nội dung công khai, minh bạch, nhất là trong việc xác định giá, đấu giá tài sản doanh nghiệp nhà nước khi cổ phần hóa và công khai báo cáo tài chính trong doanh nghiệp có vốn của Nhà nước; công khai việc giải phóng mặt bằng, giá bồi thường khi thu hồi đất; công khai công tác cán bộ; công khai hoạt động thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và kết luận thanh tra; công khai, minh bạch các quyết định trong điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án;…;

– Về minh bạch tài sản, thu nhập: Các quy định về minh bạch tài sản, thu nhập của Luật chưa giúp cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo dõi được những biến động về tài sản của người có nghĩa vụ kê khai để từ đó áp dụng các biện pháp phù hợp nhằm phòng ngừa, phát hiện tham nhũng. Bên cạnh đó, việc xác minh tài sản, thu nhập nhằm làm rõ tính trung thực của việc kê khai còn ít được thực hiện, kết quả kê khai chưa được công khai rộng rãi, chưa được sử dụng đầy đủ để tăng cường cơ chế giám sát nhằm ngăn chặn tham nhũng;

– Về trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị: Việc xử lý trách nhiệm của người đứng đầu khi để xảy ra tham nhũng chưa được quan tâm đúng mức. Nhiều nơi còn tình trạng nhầm lẫn giữa việc xử lý trách nhiệm của người đứng đầu khi để xảy ra tham nhũng và khi họ trực tiếp hoặc liên đới thực hiện hành vi tham nhũng. Nhiều trường hợp, người có thẩm quyền còn nể nang, né tránh trong việc xử lý đối với người đứng đầu. Bên cạnh đó, trình tự, thủ tục và thẩm quyền xử lý trách nhiệm người đứng đầu cũng còn nhiều vướng mắc trên thực tế. Kết quả sơ kết cũng phản ánh số vụ việc, vụ án tham nhũng được phát hiện và xử lý qua công tác kiểm tra, thanh tra, kiểm toán còn ít, cá biệt có một số địa phương không phát hiện được vụ việc nào.

– Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí” và Kết luận số 21-KL/TW ngày 12/5/2012 của Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X cũng đưa ra các giải pháp cụ thể về phòng, chống tham nhũng, như: tăng cường công khai, minh bạch trong các khâu quy hoạch, thu hồi, bồi thường, định giá, đấu giá quyền sử dụng đất; tài chính của các doanh nghiệp của Nhà nước, hoạt động tín dụng, đầu tư xây dựng; thực hiện dân chủ, công khai, minh bạch trong công tác cán bộ, nhất là trong các khâu tuyển dụng, quy hoạch, bổ nhiệm, điều động, luân chuyển, đánh giá, khen thưởng, kỷ luật…; thực hiện nghiêm các quy định về minh bạch tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức, viên chức, công khai bản kê khai tài sản, thu nhập ở nơi công tác, nơi cư trú; từng bước mở rộng diện kê khai và phạm vi công khai kết quả kê khai tài sản, thu nhập; quy định về trách nhiệm giải trình nguồn gốc tài sản tăng thêm và quy định cơ quan quản lý cán bộ, công chức, viên chức chủ động kiểm tra, xác minh kết quả kê khai tài sản, thu nhập đối với những người thuộc quyền quản lý;… Xuất phát từ những lý do trên, việc sửa đổi, bổ sung Luật phòng, chống tham nhũng là yêu cầu khách quan và rất cần thiết.

21.2.1.3. Quan điểm sửa đổi Luật phòng, chống tham nhũng

– Sửa đổi Luật phòng, chống tham nhũng theo hướng củng cố, nâng cao hiệu quả của các quy định về phòng ngừa, ngăn chặn tham nhũng và coi đây là nhiệm vụ then chốt, nhất là việc đẩy mạnh công khai, minh bạch hoạt động của cơ quan nhà nước, gắn với các biện pháp nâng cao trách nhiệm giải trình của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức.

– Sửa đổi các nội dung mà qua thực tiễn công tác PCTN thấy đã rõ như: tiếp tục đẩy mạnh, tăng cường công khai, minh bạch trong các lĩnh vực quản lý, nhất là lĩnh vực ngân sách nhà nước (bao gồm cả thu chi và phân bổ ngân sách); quản lý đất đai, tài nguyên, khoáng sản; quản lý tập đoàn, tổng công ty nhà nước; việc tuyển dụng, bổ nhiệm, điều động, quản lý cán bộ; quy định cụ thể hơn trong việc thực hiện minh bạch tài sản, thu nhập theo hướng từng bước mở rộng diện kê khai, tăng cường công khai bản kê khai tài sản, thu nhập và trách nhiệm giải trình về nguồn gốc tài sản, thu nhập tăng thêm và một số vấn đề khác.

– Quán triệt và cụ thể hóa chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước về công tác phòng, chống tham nhũng, đặc biệt là các giải pháp đề ra trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) và Kết luận Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về tổ chức bộ máy, cơ quan chỉ đạo công tác phòng, chống tham nhũng.

– Bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của Luật này trong hệ thống pháp luật, phù hợp với những quy định của các văn bản pháp luật có liên quan, bảo đảm tính khả thi của Luật.

21.2.2. Những nội dung cơ bản của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật phòng, chống tham nhũng.

Luật số 27/2012/QH13 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật phòng, chống tham nhũng có bổ sung thêm 09 điều mới; sửa đổi 15 điều và bãi bỏ 01 điều (Điều 73).  Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật phòng, chống tham nhũng tập trung sửa đổi, bổ sung những nội dung cụ thể sau:

a. Về phạm vi sửa đổi: tiếp tục mở rộng và tăng cường công khai, minh bạch trong hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị, đặc biệt là về các lĩnh vực có nguy cơ tham nhũng cao; hoàn thiện các quy định về minh bạch tài sản, thu nhập theo hướng thực chất hơn giúp phòng ngừa, phát hiện và xử lý tham nhũng; trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước về quyết định, hành vi của mình khi có yêu cầu từ phía các đối tượng bị tác động trực tiếp; trách nhiệm của người đứng đầu trong việc áp dụng các biện pháp tạm thời đối với cán bộ, công chức, viên chức khi có hành vi vi phạm pháp luật liên quan đến tham nhũng để xác minh, làm rõ; sửa đổi các quy định có liên quan đến Ban chỉ đạo về phòng, chống tham nhũng theo tinh thần Kết luận của Hội nghị Trung ương 5 khóa XI.

b. Các nội dung sửa đổi, bổ sung:

Về Ban chỉ đạo về phòng, chống tham nhũng (khoản 4 Điều 55 và Điều 73): thực hiện Kết luận Trung ương 5 khóa XI, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật phòng, chống tham nhũng đã bỏ cụm từ “Ban chỉ đạo trung ương về phòng, chống tham nhũng” tại khoản 4 Điều 55 và bãi bỏ Điều 73 Luật phòng, chống tham nhũng. Theo đó, ở Trung ương, Ban chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng sẽ được thành lập trực thuộc Bộ Chính trị do đồng chí Tổng Bí thư làm Trưởng ban để đảm bảo sự thống nhất lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương Đảng đối với toàn bộ hệ thống chính trị trong phòng, chống tham nhũng; ở địa phương sẽ không tổ chức ban chỉ đạo tỉnh, thành phố về phòng, chống tham nhũng và tổ chức, hoạt động của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng sẽ được quy định trong văn kiện của Đảng, không quy định trong Luật phòng, chống tham nhũng; bảo đảm nguyên tắc Đảng không làm thay chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan trong bộ máy nhà nước và vẫn phù hợp với Hiến pháp và pháp luật. Quốc hội,  Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, các bộ, ngành, địa phương và các cơ quan, tổ chức hữu quan theo quy định của pháp luật đều có quyền hạn, nghĩa vụ và trách nhiệm trong việc tổ chức thực hiện công tác phòng, chống tham nhũng.

Về hình thức và lĩnh vực thực hiện công khai, minh bạch: Luật sửa đổi, bổ sung đã sửa đổi khoản 2 Điều 12 Luật phòng, chống tham nhũng về hình thức công khai. Theo đó, các hình thức công khai bắt buộc mà người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị phải lựa chọn được quy định từ điểm b đến điểm e (khoản 1 Điều 12, Luật phòng, chống tham nhũng) khi pháp luật không có quy định về hình thức công khai. Các hình thức này bao gồm: Niêm yết tại trụ sở làm việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị; Thông báo bằng văn bản đến cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có liên quan; phát hành ấn phẩm; Thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng và đưa lên trang thông tin điện tử. Ngoài ra, Luật sửa đổi, bổ sung cũng quy định người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị có thể lựa chọn thêm hình thức công bố tại cuộc họp của cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc cung cấp thông tin theo yêu cầu của cơ quan, tổ chức, cá nhân (điểm a, điểm g khoản 1 Điều 12, Luật phòng, chống tham nhũng).  Như vậy, so với Luật hiện hành, thì người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị không được lựa chọn hình thức công bố tại cuộc họp của cơ quan, tổ chức, đơn vị và cung cấp thông tin theo yêu cầu của cơ quan, tổ chức, cá nhân là hình thức bắt buộc mà chỉ được lựa chọn thêm bên cạnh việc thực hiện một hoặc một số hình thức bắt buộc quy định từ điểm b đến e khoản 1 Điều 12.

Luật đã quy định rõ, cụ thể hơn về các lĩnh vực phải công khai, minh bạch của Luật hiện hành; bảo đảm chặt chẽ, rõ ràng và thống nhất với các văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội ban hành, cụ thể:

– Bổ sung “danh mục các dự án chỉ định thầu, lý do chỉ định thầu, thông tin về nhà thầu được chỉ định; danh mục các dự án đấu thầu hạn chế” vào nội dung quy định tại điểm b khoản 2 Điều 13 về công khai, minh bạch trong mua sắm công và xây dựng cơ bản;

– Sửa đổi, bổ sung quy định về công khai, minh bạch trong quản lý dự án đầu tư xây dựng tại Điều 14 nhằm làm rõ các nội dung phải thực hiện công khai, minh bạch, bao gồm: báo cáo tiền khả thi, báo cáo khả thi, báo cáo đánh giá tác động kinh tế – xã hội; các mục tiêu, dự kiến kết qủa, các nhóm hoạt động chính và đối tượng thụ hưởng trong quá trình lập dự án; quyết định phê duyệt dự án, kế hoạch thực hiện dự án; báo cáo tiến độ, báo cáo kết quả thực hiện dự án, báo cáo đánh giá thực hiện dự án và báo cáo kết thúc dự án;

– Sửa đổi, bổ sung thêm khoản 7 vào Điều 15 quy định trách nhiệm của cơ quan thuế, cơ quan hải quan và cơ quan, tổ chức, đơn vị khác có thu phí, lệ phí phải công khai căn cứ tính mức thu, số thu thực tế, đối tượng miễn, giảm và căn cứ miễn, giảm các khoản thu ngân sách;

– Sửa đổi, bổ sung quy định tại Điều 18 về công khai, minh bạch trong quản lý doanh nghiệp nhà nước. Theo đó, doanh nghiệp nhà nước có trách nhiệm công khai các nội dung gồm vốn và tài sản Nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp, vốn và tài sản của doanh nghiệp đầu tư vào công ty con, công ty liên doanh, ngoài ngành nghề kinh doanh, vốn vay ưu đãi, báo cáo tài chính, báo cáo kiểm toán, việc lập và sử dụng quỹ, việc bổ nhiệm chức vụ lãnh đạo, quản lý, họ, tên, nhiệm vụ, lương và các khoản thu nhập khác của người trong hội đồng thành viên, hội đồng quản trị, tổng giám đốc, phó tổng giám đốc, giám đốc, phó giám đốc, kiểm soát viên, kế toán trưởng. Đồng thời, định kỳ hằng năm, doanh nghiệp nhà nước có trách nhiệm báo cáo về các nội dung công khai ở trên với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền như cơ quan chủ quản, cơ quan quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực kinh doanh chính và cơ quan thanh tra nhà nước cùng cấp;

– Sửa đổi, bổ sung quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 19 nhằm làm rõ nội dung phải được công khai liên quan đến doanh nghiệp được cổ phần hóa, bao gồm: báo cáo tài chính, báo cáo kiểm toán, phương án, kế hoạch cổ phần hóa doanh nghiệp nhằm tránh tình trạng cổ phần hóa khép kín hoặc biển thủ tiền, tài sản của Nhà nước trong quá trình thực hiện cổ phần hóa. Bên cạnh đó, Luật sửa đổi, bổ sung cũng quy định rõ về trách nhiệm của cơ quan cử người đại diện phần vốn của Nhà nước ở doanh nghiệp trong việc công khai giá trị doanh nghiệp được cổ phần hóa và điều chỉnh giá trị doanh nghiệp (nếu có);

– Đổi tên Điều 21 về công khai, minh bạch trong quản lý và sử dụng đất thành công khai, minh bạch trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường, đồng thời bổ sung thêm quy định về công khai, minh bạch trong lĩnh vực khoáng sản, tài nguyên nước; trong quản lý nhà nước về môi trường. Nội dung thực hiện công khai, minh bạch trong các lĩnh vực này tập trung vào điều kiện, trình tự, thủ tục thực hiện quyền của cá nhân, tổ chức;

– Sửa đổi khoản 2 và bổ sung thêm khoản 3 vào Điều 23 về công khai, minh bạch trong lĩnh vực giáo dục, bao gồm việc quản lý, sử dụng ngân sách, tài sản của Nhà nước, cơ sở vật chất, đội ngũ cán bộ và nguồn lực tài chính cho hoạt động giáo dục, cũng như các khoản đầu tư, hỗ trợ cho giáo dục đối với cơ quan quản lý giáo dục; cam kết chất lượng, kết quả kiểm định chất lượng giáo dục, điều kiện bảo đảm chất lượng giáo dục, việc thu, quản lý, sử dụng học phí, lệ phí và các khoản thu, chi tài chính khác đối với cơ sở giáo dục công lập;

– Bổ sung thêm các Điều 26a về công khai, minh bạch trong lĩnh vực văn hóa, thông tin, truyền thông; Điều 26b về công khai, minh bạch trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn; Điều 26 c về công khai, minh bạch trong việc thực hiện chính sách an sinh xã hội; Điều 26d về công khai, minh bạch trong việc thực hiện chính sách dân tộc;

– Sửa đổi, bổ sung Điều 30 về công khai, minh bạch trong công tác tổ chức – cán bộ. Theo đó, mọi nội dung liên quan đến công tác tổ chức, cán bộ từ tuyển dụng, đến quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá, bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức, cho thôi việc, cho thôi giữ chức vụ, hưu trí, chuyển ngạch, nâng ngạch, luân chuyển, điều động, biệt phái đến nâng lương, khen thưởng, kỷ luật đối với cán bộ, công chức, viên chức và thành lập, sáp nhập, chia, tách, giải thể các đơn vị trực thuộc trong cơ quan, tổ chức;

– Sửa đổi khoản 3 Điều 32 về quyền yêu cầu cung cấp thông tin của cá nhân nhằm tăng cường trách nhiệm của cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước liên quan đến việc thông báo cho người dân biết khi chưa cung cấp hoặc nội dung được yêu cầu đã được công khai nhằm bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của họ;

– Bổ sung Điều 32a quy định về trách nhiệm giải trình. Theo đó, khi có yêu cầu, cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải giải trình về quyết định, hành vi của mình trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao trước cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền, lợi ích hợp pháp bị tác động trực tiếp bởi quyết định, hành vi đó. Luật cũng giao Chính phủ quy định chi tiết về trách nhiệm của cơ quan có nghĩa vụ giải trình; trình tự, thủ tục của việc giải trình.

Về minh bạch tài sản, thu nhập: Công khai bản kê khai tài sản là quy định mới về phòng ngừa tham nhũng, góp phần minh bạch tài sản, thu nhập để tiến tới kiểm soát thu nhập, đồng thời tạo điều kiện việc giám sát, phát hiện tham nhũng. Tuy nhiên, vì đây là vấn đề mới nên cần có bước đi thận trọng, nghiên cứu kỹ, toàn diện về nhiều mặt, phù hợp với điều kiện, năng lực quản lý, kiểm soát thu nhập hiện nay của Nhà nước ta. Nhằm tiếp tục nâng cao hiệu quả thực hiện việc kê khai tài sản, thu nhập, Luật này đã bổ sung quy định về công khai bản kê khai tài sản (Điều 46a). Theo đó, bản kê khai tài sản phải được công khai tại nơi thường xuyên làm việc của người có nghĩa vụ kê khai. Người có thẩm quyền quản lý cán bộ, công chức, viên chức quyết định việc công khai bằng hình thức công bố tại cuộc họp hoặc niêm yết tại trụ sở làm việc của người có nghĩa vụ kê khai. Trong trường hợp niêm yết, thì thời gian tối thiểu là 30 ngày liên tục.

Luật cũng bổ sung quy định bản kê khai tài sản của người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân phải được công khai tại hội nghị cử tri nơi công tác của người đó; bản kê khai tài sản của người dự kiến được bầu, phê chuẩn tại Quốc hội, Hội đồng nhân dân phải được công khai với đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân tại kỳ họp. Bổ sung Điều 46b về nghĩa vụ giải trình tài sản tăng thêm. Để bảo đảm tính minh bạch và hợp pháp của tài sản, Luật quy định, trong bản kê khai tài sản, người có nghĩa vụ kê khai phải giải trình về nguồn gốc phần tài sản tăng thêm bên cạnh việc làm rõ mọi biến động về tài sản của mình có trong kỳ kê khai. Như vậy, người kê khai tài sản có nghĩa vụ giải trình nguồn gốc phần tài sản tăng thêm thuộc sở hữu của mình và thuộc sở hữu của vợ hoặc chồng và con chưa thanh niên. Đồng thời, Luật đã giao Chính phủ quy định mức giá trị tài sản tăng thêm, việc xác định giá trị tài sản tăng thêm, thẩm quyền yêu cầu giải trình, trách nhiệm của người giải trình và trình tự, thủ tục của việc giải trình. Sửa đổi, bổ sung Điều 47 về xác minh tài sản nhằm quy định rõ hơn về căn cứ xác minh tài sản trên tinh thần Kết luận Trung ương 5 khóa XI của Đảng. Bổ sung Điều 47a về thẩm quyền yêu cầu xác minh tài sản. Ngoài ra, để phục vụ cho hoạt động kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra, kiểm sát, các cơ quan có thẩm quyền trong những lĩnh vực này có quyền yêu cầu xác minh tài sản để phục vụ cho việc xác minh, làm rõ hành vi vi phạm pháp luật liên quan đến tham nhũng. Luật cũng bổ sung quy định về việc giao Chính phủ quy định chi tiết trình tự, thủ tục xác minh tài sản vào khoản 6 Điều 48.

Về trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị khi để xảy ra tham nhũng: Luật bổ sung thêm Điều 53a về trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị, người có thẩm quyền quản lý cán bộ, công chức, viên chức trong việc tạm đình chỉ công tác, tạm thời chuyển sang vị trí công tác đối với cán bộ, công chức, viên chức khi có căn cứ cho rằng cán bộ, công chức, viên chức đó có hành vi vi phạm pháp luật liên quan đến tham nhũng nếu xét thấy người đó tiếp tục làm việc có thể gây khó khăn cho việc xem xét, xử lý. Đồng thời khoản 2 Điều 53a cũng quy định về trách nhiệm của người đứng đầu, người có thẩm quyền quản lý cán bộ, công chức, viên chức trong việc áp dụng các biện pháp tạm thời này khi có yêu cầu của cơ quan thanh tra, Kiểm toán Nhà nước, cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nếu trong quá trình thanh tra, kiểm toán, điều tra, kiểm sát phát hiện có căn cứ cho rằng người đó có hành vi tham nhũng để xác minh, làm rõ. Tuy nhiên, nhằm hạn chế việc sử dụng các biện pháp này vào mục đích trái pháp luật, khoản 3 Điều 53a quy định về việc hủy bỏ quyết định tạm đình chỉ, tạm thời chuyển sang vị trí công tác khác, cũng như thông báo công khai đến toàn thể cán bộ, công chức, viên chức và khôi phục quyền, lợi ích pháp cho cán bộ, công chức, viên chức khi cơ quan có thẩm quyền kết luận người đó không có hành vi tham nhũng. Luật cũng giao cho Chính phủ quy định chi tiết về trình tự, thủ tục, thời hạn tạm đình chỉ, chuyển vị trí công tác khác; việc hưởng lương, phụ cấp, quyền lợi ích khác và việc bồi thường, khôi phục lại quyền, lợi ích hợp pháp sau khi có kết luận không có hành vi tham nhũng.

Về trách nhiệm giải trình: Luật đã bổ sung trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với quyết định, hành vi của mình trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao trước cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền, lợi ích hợp pháp bị tác động trực tiếp bởi quyết định, hành vi đó, khi có yêu cầu. Đồng thời giao cho Chính phủ quy định chi tiết về trách nhiệm của cơ quan có nghĩa vụ giải trình; trình tự, thủ tục của việc giải trình.

Một số nội dung khác: Luật cũng đã sửa đổi, bổ sung trách nhiệm của Kiểm toán Nhà nước. Theo đó, bổ sung thêm quy định Kiểm toán Nhà nước có trách nhiệm phối hợp xử lý hành vi tham nhũng, trường hợp phát hiện tham nhũng thì chuyển hồ sơ cho cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát hoặc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xử lý. Ngoài những nội dung nêu trên, Luật sửa đổi, bổ sung cũng đã chỉnh lý một số quy định cho phù hợp với các Luật hiện hành như Luật khiếu nại, Luật tố cáo, Luật Kiểm toán Nhà nước tại khoản 2 Điều 27, khoản 4 Điều 55.

21.2.3. Các văn bản hướng dẫn Luật phòng, chống tham nhưng năm 2012

21.2.3.1. Nghị định số 59/2013/NĐ-CP ngày 17/6/2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống tham nhũng (năm 2012)

Ngày 17/6/2013, Chính phủ ban hành Nghị định số 59/2013/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2012 (viết tắt là Nghị định 59). Nghị định 59 được ban hành thay thế cho Nghị định số 120/2006/NĐ-CP ngày 20/10/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng 2005 và có hiệu lực thi hành từ ngày 31/7/2013. Về cơ bản, Nghị định số 59 tiếp tục kế thừa các quy định của Nghị định số 120/2006/NĐ-CP ngày 20/10/2006, đặc biệt là về những quy định chung; chế độ thông tin, báo cáo về phòng, chống tham nhũng; xây dựng và thực hiện các chế độ, định mức, tiêu chuẩn và một số quy định khác. Những điểm mới của Nghị định số 59/2013/NĐ-CP tập trung vào một số nội dung sau:

a. Sửa đổi, bổ sung các quy định về công khai, minh bạch trong hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị theo tinh thần của Điều 12 Luật Phòng, chống tham nhũng (tại Điều 4 và Điều 5, Mục 1, Chương II):

– Điều 4 Nghị định cũng quy định danh mục bí mật nhà nước do các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền ban hành không được bao gồm các nội dung bắt buộc phải công khai theo quy định của Luật Phòng, chống tham nhũng, đặc biệt là tại các điều mới được sửa đổi, bổ sung năm 2012, bao gồm: Điều 13, Điều 14, Điều 15, Điều 18, Điều 19, Điều 21, Điều 23, Điều 26a, Điều 26b, Điều 26c, Điều 26d, Điều 27 và Điều 30.

– Điều 5 Nghị định quy định về trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị trong việc áp dụng các hình thức công khai trong hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị. Theo đó, trong trường hợp pháp luật có quy định cụ thể về hình thức công khai, thì phải áp dụng hình thức công khai đó.

– Nghị định bổ sung thêm quyền của cơ quan, tổ chức, cá nhân yêu cầu cung cấp thông tin nhận văn bản trả lời về việc chưa cung cấp thông tin (Khoản 1 Điều 6) và bỏ thẩm quyền giải quyết khiếu nại của Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng trong trường hợp người bị khiếu nại do Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm hoặc là người đứng đầu cơ quan trung ương của các tổ chức chính trị – xã hội (Điều 11).

b. Sửa đổi, bổ sung quy định về việc tạm đình chỉ, tạm thời chuyển vị trí công tác khác đối với cán bộ, công chức, viên chức có hành vi vi phạm pháp luật liên quan đến tham nhũng (Điều 13 đến Điều 25, Chương III):

(i) Về thẩm quyền ra quyết định tạm đình chỉ, tạm thời chuyển vị trí công tác khác (Điều 13 đến Điều 15):

Điều 13 Nghị định quy định chi tiết nguyên tắc xác định thẩm quyền căn cứ vào Điều 53a Luật Phòng, chống tham nhũng. Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền tuyển dụng, bổ nhiệm, quản lý cán bộ, công chức, viên chức thì có quyền ra quyết định tạm đình chỉ, tạm thời chuyển vị trí công tác khác. Đối với các trường hợp khác, thì người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị trực tiếp quản lý cán bộ, công chức, viên chức sẽ kiến nghị người có thẩm quyền ra quyết định tạm đình chỉ, tạm thời chuyển vị trí công tác khác.

Điều 14, Nghị định quy định cụ thể về thẩm quyền ra quyết định tạm đình chỉ công tác, tạm thời chuyển vị trí công tác khác trong cơ quan hành chính nhà nước theo thẩm quyền bổ nhiệm, quản lý cán bộ, công chức, viên chức đối với Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp; người đứng đầu cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; Tổng cục trưởng, Cục trưởng và cấp tương đương được phân cấp quản lý cán bộ, công chức; Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ…

Điều 15, Nghị định quy định cụ thể về thẩm quyền ra quyết định tạm đình chỉ công tác, tạm thời chuyển vị trí công tác khác trong đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp nhà nước cũng căn cứ vào thẩm quyền bổ nhiệm, quản lý trực tiếp cán bộ, công chức, viên chức. Theo đó, thẩm quyền này được quy định đối với người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền quản lý đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp nhà nước (chủ sở hữu đối với doanh nghiệp nhà nước) đối với các vị trí do họ bổ nhiệm và người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp nhà nước đối với các viên chức do họ tuyển dụng, bổ nhiệm, quản lý trực tiếp.

(ii) Căn cứ tạm đình chỉ công tác, tạm thời chuyển vị trí công tác khác; quyền và nghĩa vụ của người ra quyết định tạm đình chỉ công tác, tạm thời chuyển vị trí công tác khác (Điều 16 đến Điều 18):

– Điều 16 Nghị định quy định chi tiết căn cứ Khoản 1 và Khoản 2 Điều 53a Luật Phòng, chống tham nhũng về căn cứ tạm đình chỉ công tác, tạm thời chuyển vị trí công tác khác. Theo đó, căn cứ để ra quyết định phải đáp ứng cả hai điều kiện: cán bộ, công chức, viên chức có hành vi vi phạm pháp luật liên quan đến tham nhũng và đồng thời có dấu hiệu gây khó khăn cho việc xem xét, xử lý nếu vẫn tiếp tục để người đó làm việc ở vị trí hiện tại (Khoản 1). Các hành vi được coi là có dấu hiệu gây khó khăn cho việc xem xét, xử lý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền bao gồm: Từ chối cung cấp thông tin, tài liệu hoặc cung cấp thông tin, tài liệu không đầy đủ, sai sự thật; cố ý trì hoãn, trốn tránh không thực hiện yêu cầu của người có thẩm quyền trong quá trình xác minh, làm rõ hành vi tham nhũng; tự ý tháo gỡ niêm phong tài liệu, tiêu hủy thông tin, tài liệu, chứng cứ; lợi dụng chức vụ, quyền hạn, ảnh hưởng của mình, của người khác hoặc dùng hình thức khác để che giấu hành vi vi phạm pháp luật… (Khoản 3).

– Điều 17 Nghị định quy định bổ sung về quyền và nghĩa vụ của người ra quyết định tạm đình chỉ, tạm thời chuyển vị trí công tác khác căn cứ Khoản 2 và Khoản 3 Điều 53a Luật Phòng, chống tham nhũng nhằm đảm bảo tính chặt chẽ, thống nhất và hiệu lực, hiệu quả trong quá trình áp dụng. Theo đó, người ra quyết định tạm đình chỉ công tác, tạm thời chuyển vị trí công tác khác có quyền yêu cầu cơ quan thanh tra, Kiểm toán Nhà nước, cơ quan điều tra, Viện kiểm sát cung cấp thông tin, tài liệu để làm rõ căn cứ cho việc ra quyết định; có quyền yêu cầu cán bộ, công chức, viên chức bị tạm đình chỉ công tác, tạm thời chuyển vị trí công tác khác phối hợp với các cơ quan có thẩm quyền trong quá trình xác minh, làm rõ hành vi tham nhũng.

– Điều 18 Nghị định quy định về quyền và nghĩa vụ của cán bộ, công chức, viên chức bị tạm đình chỉ công tác, tạm thời chuyển vị trí công tác khác nhằm bảo đảm các quyền, lợi ích hợp pháp của họ và tác động của biện pháp này trong xem xét, xử lý hành vi tham nhũng. Theo đó, cán bộ, công chức, viên chức bị tạm đình chỉ công tác, tạm thời chuyển vị trí công tác khác có quyền nhận quyết định; nhận thông báo kết luận về việc xác minh, làm rõ hành vi tham nhũng; đề nghị người có thẩm quyền xem xét lại quyết định; đề nghị hủy bỏ quyết định và khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp, cũng như bồi thường khi có thiệt hại do hành vi trái pháp luật trong quá trình ra quyết định.

(iii) Trình tự, thủ tục, thời hạn tạm đình chỉ công tác, tạm thời chuyển vị trí công tác khác; hủy bỏ và công khai việc hủy bỏ quyết định tạm đình chỉ công tác, tạm thời chuyển vị trí công tác khác (Điều 19 đến Điều 23):

– Điều 19 Nghị định quy định về thời hạn ra quyết định trong 05 ngày kể từ ngày có các căn cứ theo quy định tại Điều 16; việc lựa chọn biện pháp phù hợp; các yêu cầu đối với quyết định; việc gửi quyết định và áp dụng pháp luật khác khi có quy định về trình tự, thủ tục tạm đình chỉ công tác, tạm thời chuyển vị trí công tác khác. Các biện pháp này được áp dụng gắn liền với trình tự, thủ tục tiến hành xác minh, làm rõ hành vi tham nhũng của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền nhằm loại bỏ những khó khăn, cản trở có thể phát sinh.

– Điều 20 Nghị định quy định về thời hạn tạm đình chỉ công tác, tạm thời chuyển vị trí công tác khác tối đa là 90 ngày, kể từ ngày ra quyết định tạm đình chỉ, tạm thời chuyển vị trí công tác khác. Việc quy định thời hạn này phù hợp với các thời hạn quy định trong hoạt động thanh tra, kiểm tra, kiểm toán và thu thập thông tin ban đầu trong hoạt động điều tra xuất phát từ yêu cầu áp dụng các biện pháp tạm thời nhằm loại bỏ cản trở, khó khăn khi xem xét, xử lý hành vi tham nhũng. Kết thúc thời hạn này, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền có trách nhiệm phải ra kết luận về việc có hay không có hành vi tham nhũng.

– Các Điều 21, 22 và 23 Nghị định quy định về hủy bỏ quyết định tạm đình chỉ công tác, tạm thời chuyển vị trí công tác khác;… Theo đó, trong thời hạn 05 ngày, kể từ ngày có kết luận cán bộ, công chức, viên chức không có hành vi tham nhũng hoặc kể từ ngày hết thời hạn tạm đình chỉ công tác, tạm thời chuyển vị trí công tác khác mà không có kết luận về hành vi tham nhũng, thì người có thẩm quyền phải ra quyết định hủy bỏ quyết định tạm đình chỉ công tác, tạm thời chuyển vị trí công tác khác. Việc hủy bỏ phải được thông báo đến đối tượng, cơ quan, đơn vị có liên quan và công khai với toàn thể cán bộ, công chức, viên chức của cơ quan, đơn vị, tổ chức nơi người đó công tác. Người có thẩm quyền ra quyết định phải lựa chọn một hình thức phù hợp trong 03 hình thức công khai, bao gồm: công bố tại cuộc họp toàn thể; niêm yết tại trụ sở làm việc; thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng.

(iv) Chế độ, chính sách; bồi thường, khôi phục lại quyền, lợi ích hợp pháp đối với cán bộ, công chức, viên chức bị tạm đình chỉ công tác, tạm thời chuyển vị trí công tác khác (Điều 24 đến Điều 25):

– Điều 24 Nghị định đã quy định chế độ, chính sách đối với người bị tạm đình chỉ công tác, tạm thời chuyển vi trí công tác khác. Cán bộ, công chức, viên chức trong thời hạn tạm đình chỉ công tác, tạm thời chuyển vị trí công tác khác được giữ nguyên chế độ, chính sách và các quyền, lợi ích hợp pháp khác như ở vị trí công tác ban đầu.

– Điều 25 Nghị định cũng quy định cụ thể về việc khôi phục lại quyền, lợi ích hợp pháp của họ sau khi cơ quan, tổ chức có thẩm quyền kết luận người đó không có hành vi tham nhũng hoặc hết thời hạn mà không có kết luận về hành vi tham nhũng và người có thẩm quyền quản lý sử dụng cán bộ, công chức đã có hành vi vi phạm pháp luật trong việc tạm đình chỉ, tạm thời chuyển vị trí công tác khác thì được xin lỗi, cải chính công khai, được bồi thường thiệt hại theo quy định pháp luật và được trở lại vị trí công tác ban đầu.

c. Sửa đổi, bổ sung các quy định về kiểm tra, thanh tra việc thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng (Điều 40 đến Điều 51, Chương V).

Nhằm đảm bảo tính chủ động, thường xuyên và kịp thời trong hoạt động kiểm tra của Thủ trưởng các ngành, các cấp và người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị, qua đó góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước nói chung và phòng, chống tham nhũng nói riêng, Nghị định đã lược bỏ một số quy định bất cập qua tổng kết thực tiễn, bao gồm: quy định về việc ban hành và niêm yết kế hoạch kiểm tra việc thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng; quy định về nội dung của kế hoạch kiểm tra (Điều 41). Quy định về các nội dung thanh tra việc thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng trên tinh thần phù hợp với quy định của Luật Thanh tra năm 2010, cụ thể như sau:

– Bổ sung thêm căn cứ tiến hành thanh tra theo yêu cầu của việc giải quyết tố cáo về tham nhũng tại Khoản 4 Điều 45 Nghị định (phù hợp với Khoản 4 Điều 38 Luật Thanh tra năm 2010);

– Bổ sung thẩm quyền thanh tra của Thanh tra Chính phủ, Thanh tra cấp bộ, Thanh tra cấp tỉnh đối với doanh nghiệp nhà nước do Thủ trưởng cơ quan quản lý cùng cấp quyết định thành lập và chỉnh lý về kỹ thuật thể hiện tại Điều 46 Nghị định (phù hợp với Điểm a, Khoản 2 Điều 15; Điểm a, Khoản 2 Điều 18; Điều a, Khoản 2 Điều 21 Luật thanh tra năm 2010);

– Sửa đổi quy định về xây dựng kế hoạch thanh tra hằng năm tại Điều 48 cho phù hợp với các quy định của pháp luật về thanh tra, đặc biệt là quy định về thời hạn phê duyệt kế hoạch thanh tra; lược bỏ quy định về việc công khai kế hoạch thanh tra; nội dung của kế hoạch thanh tra.

d. Sửa đổi, bổ sung các quy định về tố cáo hành vi tham nhũng (Điều 52 đến Điều 59, Chương VI).

Nghị định quy định về việc tố cáo và giải quyết tố cáo hành vi tham nhũng cho phù hợp với các quy định của Luật Tố cáo năm 2011 và Luật Phòng, chống tham nhũng, cụ thể như sau:

– Quy định thời hạn chuyển hồ sơ tố cáo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết là 05 ngày kể từ ngày tiếp nhận tại Khoản 2 Điều 53 Nghị định (so với 10 ngày theo quy định trước đây) cho phù hợp với thời hạn quy định tại Điều 20, Luật Tố cáo năm 2011;

– Lược bỏ quy định về trách nhiệm thụ lý, giải quyết, báo cáo kết quả giải quyết tố cáo cho Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng tại Điều 53 Nghị định cho phù hợp với việc bãi bỏ Điều 73 Luật Phòng, chống tham nhũng theo Luật số 27/2012/QH13 ngày 23/11/2012;

– Quy định về việc công khai kết luận về nội dung tố cáo, quyết định xử lý hành vi vi phạm bị tố cáo tại Khoản 2 Điều 56 Nghị định (trước đây chỉ quy định việc công khai quyết định xử lý tố cáo) cho phù hợp với Điều 30 Luật Tố cáo năm 2011 về công khai kết luận nội dung tố cáo, quyết định xử lý hành vi vi phạm bị tố cáo; quy định việc xử lý người cố tình tố cáo sai sự thật mà không cần phải có yêu cầu của người bị tố cáo tại Khoản 3 Điều 56 Nghị định (trước đây chỉ quy định việc xử lý trong trường hợp có yêu cầu);

– Lược bỏ các quy định về hành vi bị nghiêm cấm và xử lý vi phạm; quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của người tố cáo hành vi tham nhũng; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân trong việc bảo vệ người tố cáo hành vi tham nhũng và quy định chung về việc bảo vệ người tố cáo (tại Điều 58 Nghị định) trên cơ sở dẫn chiếu các các quy định có liên quan của pháp luật về tố cáo.

– Để phù hợp với việc bãi bỏ Điều 73 Luật Phòng, chống tham nhũng theo Luật số 27/2012/QH13 ngày 23/11/2012, Nghị định đã quy định việc quản lý quỹ khen thưởng về phòng, chống tham nhũng được giao cho Thanh tra Chính phủ (so với trước đây là giao cho Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng; đồng thời gộp quy định về quỹ khen thưởng về phòng, chống tham nhũng với quy định về khen thưởng người tố cáo hành vi tham nhũng thành Điều 59 Nghị định.

đ. Các nội dung khác:

Ngoài các điểm mới trên, Nghị định số 59/2013 cũng chỉnh lý một số quy định để đảm bảo tính chặt chẽ, đồng bộ với các quy định pháp luật khác có liên quan, cụ thể:

– Chỉnh lý quy định về hành vi đưa hối lộ, môi giới hối lộ được thực hiện bởi người có chức vụ, quyền hạn tại Điểm d, Điểm e Khoản 1 và Điểm b Khoản 2, Khoản 3, Khoản 4 và Khoản 5 Điều 3 Nghị định.

– Chỉnh lý quy định về căn cứ ban hành danh mục bí mật nhà nước tại Khoản 1 Điều 4 Nghị định: theo quy định của pháp luật về bí mật nhà nước (so với quy định trước đây là theo quy định của Pháp lệnh Bảo vệ bí mật nhà nước).

– Chỉnh lý quy định về xử lý trách nhiệm của người được yêu cầu cung cấp thông tin mà không thực hiện đúng các nghĩa vụ về cung cấp thông tin theo hướng làm rõ hình thức xử lý kỷ luật (so với trước đây có quy định cả xử lý hình sự) cho phù hợp với tính chất, mức độ của hành vi vi phạm và các quy định của Bộ luật hình sự…

21.2.3.2. Nghị định số 78/2013/NĐ-CP ngày 17/7/2013 của Chính phủ quy định về minh bạch tài sản, thu nhập

Ngày 17/7/2013, Chính phủ ban hành Nghị định số 78/2013/NĐ-CP về minh bạch tài sản, thu nhập (viết tắt là Nghị định 78/2013). Nghị định 78/2013 được ban hành dựa trên cơ sở Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2012 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 05/9/2013; thay thế Nghị định 37/2007/NĐ-CP ngày 9/3/2007 và Nghị định 68/2011/NĐ-CP ngày 8/8/2011 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 37/2007/NĐ-CP về minh bạch tài sản, thu nhập. Nội dung chủ yếu của Nghị định 78/2013 như sau:

– Về phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng: Nghị định quy định phạm vi điều chỉnh gồm việc kê khai, công khai Bản kê khai tài sản, thu nhập; giải trình nguồn gốc tài sản tăng thêm; xác minh tài sản, thu nhập; xử lý vi phạm các quy định về minh bạch tài sản, thu nhập; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân trong tổ chức thực hiện. Đối tượng áp dụng gồm người có nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập, cơ quan, tổ chức, đơn vị và cá nhân có liên quan đến việc kê khai, công khai, giải trình, xác minh tài sản, thu nhập, xử lý vi phạm các quy định về minh bạch tài sản, thu nhập. Phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng của Nghị định 78/2013 giữ nguyên như quy định tại Nghị định số 37/2007/NĐ-CP, Nghị định số 68/2011/NĐ-CP và bổ sung thêm những nội dung mà Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật PCTN (năm 2012) giao Chính phủ quy định chi tiết liên quan đến giải trình nguồn gốc tài sản tăng thêm, trình tự, thủ tục trong việc xác minh tài sản, thu nhập.

– Về việc xác định tài sản phải kê khai và giá trị tài sản khi kê khai: Nhằm giúp cho người phải kê khai tài sản nhận biết rõ ràng, chính xác về những tài sản phải kê khai theo quy định của Luật PCTN, Nghị định quy định rõ tài sản, thu nhập kê khai phải là tài sản thuộc sở hữu hoặc quyền sử dụng của bản thân, của vợ hoặc chồng và con chưa thành niên tại thời điểm hoàn thành bản kê khai. Nghị định cũng quy định cách xác định giá trị tài sản bằng tiền phải trả khi mua, khi nhận chuyển nhượng, xây dựng hoặc giá trị ước tính khi được cho, tặng, thừa kế.

– Về người có nghĩa vụ kê khai: Nhằm khắc phục tính không thống nhất, bất hợp lý về xác định đối tượng phải kê khai tài sản, thu nhập trước đây, Nghị định đã quy định đối tượng phải kê khai tài sản, thu nhập bao gồm cán bộ, công chức giữ chức vụ có phụ cấp trách nhiệm tương đương phó trưởng phòng cấp huyện trở lên, một số công chức, viên chức, người lao động thường xuyên tiếp xúc và giải quyết công việc của người dân và doanh nghiệp. So với quy định hiện hành, đối tượng phải kê khai thay đổi như sau:

Bổ sung thêm: người được dự kiến bầu, phê chuẩn tại Quốc hội, Hội đồng nhân dân; công chức ngạch thẩm tra viên; thành viên hội đồng thành viên, kiểm soát viên trong doanh nghiệp nhà nước; người đại diện phần vốn của Nhà nước, doanh nghiệp nhà nước và giữ chức danh quản lý từ phó trưởng phòng trở lên trong doanh nghiệp có vốn của Nhà nước, doanh nghiệp nhà nước; cán bộ tư pháp – hộ tịch tại Ủy ban nhân dân cấp xã.

Không quy định những người thuộc ngạch Bác sỹ chính, Dược sỹ chính, Giảng viên chính, Nghiên cứu viên chính phải kê khai. Đối với Kế toán trưởng trường mầm non, tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông, trung tâm giáo dục thường xuyên của Nhà nước thuộc nhóm đối tương không giữ chức vụ do đó được quy định tại Danh mục kèm theo.

– Về tài sản, thu nhập phải kê khai và Mẫu Bản kê khai tài sản: Nghị định giữ nguyên hầu hết quy định hiện hành về tài sản, thu nhập phải kê khai vì đã phù hợp với quy định của Luật PCTN. Tuy nhiên, để khắc phục những vướng mắc trong việc xác định tài sản, thu nhập khi kê khai; tăng cường kiểm soát việc kê khai tài sản, thu nhập, nhất là đối với những tài sản thuộc diện Nhà nước quản lý (phải đăng ký sử dụng và được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận), Nghị định quy định phải kê khai cả các khoản tiền cho vay, tiền gửi các cá nhân, tổ chức trong nước, nước ngoài; tổng thu nhập trong năm; ô tô, mô tô, xe máy, tầu, thuyền và những động sản khác mà Nhà nước quản lý có tổng giá trị mỗi loại từ 50 triệu đồng trở lên. Nghị định tiếp tục quy định phải kê khai các khoản nợ phải trả, nhằm bảo đảm sự minh bạch về nguồn của tài sản đã kê khai. Để tạo điều kiện thuận lợi trong việc kê khai, công khai, đơn giản hóa các thủ tục không cần thiết, Nghị định quy định thống nhất 01 Mẫu Bản kê khai tài sản, thu nhập cho mọi đối tượng phải kê khai, lược bỏ Mẫu Bản kê khai lần đầu và Mẫu Bản kê khai bổ sung. Việc tự giải trình nguồn gốc tài sản tăng thêm được thực hiện theo các tiêu chí quy định trong Mẫu Bản kê khai.

– Về hình thức công khai Bản kê khai tài sản, thu nhập: Để bảo đảm sự công khai, minh bạch của việc kê khai tài sản, thu nhập, Nghị định quy định người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị tổ chức việc công khai bản kê khai tài sản, thu nhập của cán bộ công chức bằng một trong hai hình thức công bố tại cuộc họp hoặc niêm yết tại trụ sở cơ quan, tổ chức, đơn vị. Thực tế việc công khai tại cuộc họp thời gian qua có nhiều vướng mắc, nhất là đối với những cơ quan, tổ chức, đơn vị công tác không tập trung hoặc có số lượng lớn cán bộ, công chức, viên chức, người lao động. Do đó, để khắc phục vướng mắc, phù hợp với chủ trương về lấy phiếu tín nhiệm đối với một số chức danh lãnh đạo, quản lý (Quy định 165 QĐ/TW ngày 18/2/2013 của Bộ Chính trị, Nghị Quyết số 35/212/QH13 ngày 21/11/2012 của Quốc hội khóa XIII) Nghị định quy định việc công khai Bản kê khai tài sản tại cuộc họp ở các cơ quan Trung ương và địa phương như sau:

Ở Trung ương, cán bộ, công chức giữ chức vụ từ Bộ trưởng và tương đương trở lên thì công khai trước đối tượng để lấy phiếu tín nhiệm (đối tượng ghi phiếu tín nhiệm) hàng năm. Thứ trưởng, Tổng cục trưởng và tương đương công khai trước lãnh đạo từ cấp cục, vụ và tương đương trở lên của cơ quan mình. Phó Tổng cục trưởng, cục trưởng, phó cục trưởng, vụ trưởng, phó vụ trưởng và tương đương công khai trước lãnh đạo cấp phòng và tương đương trở lên trong cơ quan, đơn vị mình. Ở địa phương, cán bộ, công chức giữ chức vụ từ bí thư, phó bí thư, chủ tịch, phó chủ tịch hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân; ủy viên thường trực hội đồng nhân dân; trưởng các ban của hội đồng nhân dân, các thành viên khác của ủy ban nhân dân công khai trước đối tượng để lấy phiếu tín nhiệm (đối tượng ghi phiếu tín nhiệm) hằng năm. Giám đốc, phó giám đốc sở, ngành và tương đương, trưởng các cơ quan, đơn vị trực thuộc hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân cấp tỉnh công khai trước cán bộ lãnh đạo cấp phòng và tương đương trở lên trực thuộc sở, ngành, cơ quan, đơn vị đó. Những trường hợp khác thì công khai trước toàn thể công chức, viên chức, người lao động thuộc phòng, ban, đơn vị. Nếu biên chế của phòng, ban, đơn vị có từ 50 người trở lên và đơn vị đó có biên chế nhỏ hơn như tổ, đội, nhóm thì công khai trước tổ, đội, nhóm trực thuộc phòng, ban, đơn vị đó.

– Về việc giải trình nguồn gốc tài sản tăng thêm: Đây là nội dung mới được thể hiện trong Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật PCTN. Để cụ thể hóa nội dung này, Điều 15 của Nghị định quy định người có nghĩa vụ kê khai phải tự giải trình nguồn gốc tài sản tăng thêm ngay khi kê khai tài sản theo Mẫu Bản kê khai tài sản, thu nhập và khi có yêu cầu của người có thẩm quyền; người kê khai tự chịu trách nhiệm về tính chính xác, đầy đủ, trung thực, kịp thời của những thông tin về nguồn gốc tài sản tăng thêm. Để làm rõ tài sản tăng thêm phải giải trình nguồn gốc, Nghị định quy định hai nhóm tài sản khi tăng thêm phải giải trình nguồn gốc như sau: Nhóm thứ nhất gồm nhà, công trình xây dựng và quyền sử dụng đất (quy định tại Khoản 1, Khoản 2 Điều 8 của Nghị định), phải giải trình nguồn gốc khi tăng thêm về số lượng hoặc thay đổi về cấp nhà, công trình, loại đất so với kỳ kê khai trước đó. Nhóm thứ hai gồm các loại tài sản phải kê khai khác (quy định tại các khoản 3, 4, 5, 6 Điều 8 của Nghị định), phải giải trình nguồn gốc khi tăng thêm về số lượng hoặc thay đổi về chủng loại với mức giá trị từ 50 triệu đồng trở lên so với kỳ kê khai trước đó.

– Về yêu cầu giải trình việc kê khai tài sản, thu nhập: Luật PCTN đã xác định các căn cứ để xác minh tài sản, thu nhập; quy định cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền có quyền yêu cầu người dự kiến được xác minh phải giải trình rõ việc kê khai tài sản, thu nhập của mình. Nội dung giải trình sẽ là căn cứ để kết luận về sự minh bạch trong kê khai tài sản, thu nhập hoặc là căn cứ quan trọng để định hướng nội dung xác minh. Trường hợp xét thấy nội dung giải trình của người dự kiến được xác minh đã rõ, có đủ căn cứ để kết luận về sự minh bạch trong kê khai tài sản, thu nhập thì người có thẩm quyền ban hành ngay kết luận mà không nhất thiết phải ban hành quyết định xác minh. Trong trường hợp người dự kiến được xác minh giải trình không đủ rõ, thiếu logic, bất hợp lý thì người có thẩm quyền ban hành quyết định và phân công cán bộ hoặc thành lập đoàn xác minh (Điều 16 của Nghị định).

– Về cơ quan, đơn vị thực hiện việc xác minh tài sản, thu nhập: Để phù hợp với phân cấp quản lý cán bộ, công chức, viên chức hiện nay, trong Nghị định quy định rõ, cụ thể về cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền xác minh phù hợp với từng nhóm đối tượng (do cấp ủy đảng quản lý, không do cấp ủy đảng quản lý và công tác tại các cơ quan của Đảng, tại các cơ quan hành chính nhà nước, các cơ quan khác của Nhà nước, cơ quan của các tổ chức chính trị-xã hội).

– Về trình tự, thủ tục xác minh tài sản, thu nhập: Để tạo cơ sở pháp lý chặt chẽ cho quá trình tiến hành xác minh, Nghị định đã quy định nội dung quyết định xác minh; thời hạn xác minh là 15 ngày làm việc, vụ việc phức tạp thì thời hạn tối đa không quá 30 ngày làm việc; cơ quan, đơn vị có thẩm quyền xác minh là các cơ quan, tổ chức, đơn vị có chức năng thanh tra, kiểm tra, quản lý nhân sự. Nội dung xác minh tài sản, thu nhập là tính trung thực, chính xác, đầy đủ của những thông tin trong Bản kê khai tài sản, thu nhập của người được xác minh. Nghị định cũng quy định cụ thể về hoạt động xác minh tài sản, thu nhập; quyền hạn, trách nhiệm của người xác minh; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân liên quan; nội dung báo cáo kết quả xác minh và kết luận về sự minh bạch trong kê khai tài sản, thu nhập. Để bảo đảm tính chính xác, khách quan, trung thực của kết luận về sự minh bạch trong kê khai tài sản, thu nhập, Nghị định quy định trong phạm vi, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Thanh tra Chính phủ có thẩm quyền xác minh lại việc xác minh tài sản, thu nhập của cơ quan, tổ chức, đơn vị khi phát hiện có vi phạm pháp luật. Đây cũng là điểm mới, trong đó xác định chỉ Thanh tra Chính phủ có thẩm quyền xác minh lại mà không phân quyền là tạo tiền đề ban đầu cho việc tổ chức quản lý kê khai tập trung. Nghị định quy định Bản kết luận về sự minh bạch tài sản, thu nhập được công khai trong cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi người được xác minh làm việc; tại hội nghị cử tri nơi người được xác minh ứng cử đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân; tại kỳ họp hoặc Đại hội, nơi người được xác minh được đề cử để bầu, phê chuẩn (Điều 26).

Việc xử lý vi phạm các quy định về minh bạch tài sản, thu nhập: Để bảo đảm thực hiện nghiêm các quy định về thời hạn tổ chức thực hiện việc kê khai, công khai, giải trình, tổng hợp, báo cáo kết quả về minh bạch tài sản, thu nhập, Nghị định đã quy định hình thức kỷ luật khiển trách, cảnh cáo hoặc nặng hơn một bậc đối với những trường hợp thực hiện chậm so với thời hạn quy định mà không có lý do chính đáng (Điều 28). Nhằm tăng cường tính răn đe, tạo cơ sở pháp lý cho việc xử lý những trường hợp không trung thực trong kê khai tài sản, thu nhập, giải trình nguồn gốc tài sản tăng thêm (Điều 29); thiếu trách nhiệm hoặc vi phạm quy định trong việc xác minh tài sản, thu nhập, Nghị định đã quy định các hình thức kỷ luật đối với cán bộ, công chức, viên chức, người làm việc trong doanh nghiệp, trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân, Công an nhân dân phù hợp với quy định hiện hành về xử lý kỷ luật đối với từng loại đối tượng nêu trên.

– Về trách nhiệm hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra, thanh tra và tổng hợp kết quả về minh bạch tài sản, thu nhập: Nhằm tăng cường kiểm soát việc thực hiện các quy định về minh bạch tài sản, thu nhập; đề cao vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị, của các cấp, các ngành, nhất là các cơ quan thanh tra, kiểm tra, quản lý cán bộ, Nghị định quy định trách nhiệm hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra, thanh tra và tổng hợp, báo cáo kết quả về minh bạch tài sản, thu nhập (Điều 32).

Ngày 13/10/2013, Thanh tra chính phủ đã ban hành Thông tư số 08/2013/TT-TTCP hướng dẫn thi hành các quy định về minh bạch tài sản thu nhập. Theo đó, về minh bạch, tài sản thu nhập Thông tư số 08/2013/TT-TTCP quy định có 9 nhóm đối tượng thuộc diện phải kê khai tài sản ngoài những người có chức vụ, quyền hạn trong các cơ quan của Đảng, nhà nước, tổ chức chính trị xã hội, Quân đội nhân dân, Công an nhân dân, đơn vị sự nghiệp công lập nhưng được bố trí thường xuyên làm công việc như quản lý ngân sách, tài sản trong cơ quan đơn vị (phân bổ ngân sách, kế toán, mua sắm công) và người trực tiếp tiếp xúc và giải quyết công việc được quy định tại mục B, danh mục ban hành kèm theo thông tư (Đối với lĩnh vực nông nghiệp bao gồm: tổ chức cán bộ; làm công tác thanh tra mà chưa được bổ nhiệm vào ngạch thanh tra viên; công chức thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành; cấp giấy cho thuê đất, giao đất; quản lý động vật thuộc danh mục quý hiếm; kiểm dịch động vật; kiểm lâm; kiểm soát thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, bệnh động vật, gia súc gia cầm. Người theo dõi, quản lý bảo vệ nguồn lợi thủy sản, quản lý chất lượng an toàn vệ sinh thú y, thủy sản) cũng phải kê khai tài sản thu nhập. Tài sản thu nhập phải kê khai có độ bao quát rộng khi quy định cả các loại tài sản như cây cảnh, bộ bàn ghế, tranh, ảnh, đồ mỹ nghệ…khi quy đổi mỗi loại từ 50 triệu đồng trở lên. Và bản kê khai tài sản phải được công khai tại nơi thường xuyên làm việc của người kê khai. Người có thẩm quyền quản lý cán bộ, công chức, viên chức quyết định việc công khai bằng hình thức công bố tại cuộc họp hoặc niêm yết tại trụ sở làm việc của người có nghĩa vụ kê khai…. Những quy định mới về công tác phòng, chống tham nhũng này sẽ được đưa vào nội dung thanh tra trách nhiệm bắt đầu từ năm 2014 từ trung ương đến địa phương.

21.2.3.3. Nghị định số 90/2013/NĐ-CP ngày 8/8/2013 của Chính phủ quy định trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao

Ngày 8/8/2013, Chính phủ ban hành Nghị định số 90/2013/NĐ-CP (có hiệu lực từ ngày 30/9/2013) quy định trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao (viết tắt là Nghị định 90/2013). Nghị định này quy định về điều kiện tiếp nhận yêu cầu giải trình; quyền, nghĩa vụ của người yêu cầu giải trình và người giải trình; trình tự, thủ tục của việc giải trình và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc thực hiện các quy định về trách nhiệm giải trình. Theo đó, khi có yêu cầu của các cơ quan nhà nước, đơn vị, tổ chức chính trị, xã hội, nghề nghiệp và mọi công dân thì các cơ quan hành chính nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập thuộc cơ quan hành chính nhà nước và người có thẩm quyền trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao phải có trách nhiệm giải trình một cách công khai, minh bạch, đầy đủ, kịp thời và đúng thẩm quyền. Nội dung giải trình được quy định trong tất cả những lĩnh vực hành chính, công vụ, ngoài những vấn đề thuộc bí mật nhà nước, bí mật đời tư, bí mật kinh doanh, việc chỉ đạo, tổ chức thực hiện nhiệm vụ, công vụ trong nội bộ cơ quan nhà nước và những chỉ đạo điều hành của cơ quan hành chính cấp trên với cơ quan hành chính cấp dưới. Nghị định cũng quy định, cán bộ, công chức, người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước nếu không chấp hành việc thực hiện trách nhiệm giải trình thì tùy tính chất, mức độ sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức.

Có thể nói, Nghị định 90/2013 đã phân định rõ trách nhiệm giải trình công vụ của các cơ quan hành chính nhà nước đối với những vấn đề bức xúc của người dân và của các cơ quan, đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp trước yêu cầu cuộc sống đặt ra. Trong đời sống xã hội hiện nay, rất nhiều vấn đề bức thiết như việc ban hành giá cả thiết yếu của một số mặt hàng chiến lược, các quy định pháp luật về đất đai, quy hoạch, xây dựng, các chính sách xã hội, các thủ tục hành chính trên các lĩnh vực, hoạt động tư pháp…, việc thực thi còn có những khác biệt so với thực tế. Những vấn đề nêu trên có sự tác động và ảnh hưởng không nhỏ đối với đời sống dân sinh. Mọi công dân, các tổ chức chính trị, xã hội, các tổ chức nghề nghiệp và cả các cơ quan nhà nước muốn tìm hiểu thông tin, chất vấn, giám sát việc thực thi của các cơ quan hành chính nhà nước và người có thẩm quyền thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao, không biết “gõ cửa” ở đâu. Sự thiếu phân định trách nhiệm này còn tạo ra tình trạng chậm trễ, đùn đẩy, chồng chéo trong thực thi công vụ giữa những người có thẩm quyền thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao và giữa các cơ quan hành chính nhà nước với nhau.

Như vậy, quy định về trách nhiệm giải trình công vụ được coi là công cụ quan trọng để người dân giám sát việc thực thi công vụ của cán bộ, công chức và các cơ quan hành chính nhà nước đến đâu, kết quả ra sao một cách công khai, minh bạch nhất.

21.2.3.4. Nghị định số 211/2013/NĐ-CP ngày 19/12/2013 sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 107/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 quy định xử lý trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị khi để xảy ra tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị mình quản lý, phụ trách.

Nghị định số 211/2013/NĐ-CP ngày 19/12/2013 (viết tắt là Nghị định 211/2013), có hiệu lực thi hành kể từ ngày 10/02/2014. Theo đó, nguyên tắc xem xét xử lý kỷ luật được sửa đổi như sau:

a. Việc xử lý kỷ luật người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị để xảy ra tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý và người đứng đầu hoặc cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, cá nhân do mình quản lý có liên quan quy định tại Khoản 3 Điều 4 Nghị định số 107/2006/NĐ-CP, ngoài việc thực hiện theo các nguyên tắc xem xét xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật hiện hành, còn thực hiện theo các nguyên tắc sau: căn cứ vào sự phân công, phân cấp quản lý trong cơ quan, tổ chức, đơn vị để xác định mức độ chịu trách nhiệm trực tiếp hoặc trách nhiệm liên đới; căn cứ vào mối quan hệ công tác giữa trách nhiệm quản lý của người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu với hành vi tham nhũng của người được phân công phụ trách, quản lý.

b. Về hình thức xử lý kỷ luật: Người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị, nếu để xảy ra vụ, việc tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách thì tùy theo tính chất, mức độ của vụ, việc sẽ xử lý kỷ luật như sau:

– Người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị là cán bộ, công chức, viên chức và người quản lý doanh nghiệp nhà nước thì bị xử lý kỷ luật bằng một trong những hình thức sau: Khiển trách; Cảnh cáo; Cách chức.

– Người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc tổ chức chính trị – xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội thì bị xử lý kỷ luật theo quy định của pháp luật hiện hành và điều lệ của tổ chức đó.

– Người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, đơn vị là sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp trong quân đội nhân dân và công an nhân dân thì bị xử lý kỷ luật theo quy định của pháp luật hiện hành đối với sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp trong quân đội nhân dân và công an nhân dân.

Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ và tương đương; Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nếu để xảy ra vụ việc, vụ án tham nhũng đặc biệt nghiêm trọng, gây ảnh hưởng xấu về chính trị, kinh tế, xã hội thuộc phạm vi quản lý của Bộ, ngành, địa phương mình thì phải chịu trách nhiệm và bị xử lý theo quy định của pháp luật hiện hành. Trong thời hạn 30 ngày làm việc, kể từ ngày có kết luận, báo cáo chính thức của cơ quan có thẩm quyền theo quy định tại Khoản 4 Điều 55 Luật phòng, chống tham nhũng về vụ việc, vụ án tham nhũng hoặc từ ngày bản án về tham nhũng có hiệu lực pháp luật, người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị cấp trên trực tiếp có trách nhiệm xem xét xử lý kỷ luật hoặc báo cáo để cấp có thẩm quyền xem xét xử lý kỷ luật đối với người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị có trách nhiệm trực tiếp hoặc trách nhiệm liên đới để xảy ra tham nhũng.

Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị cấp trên trực tiếp của cơ quan, tổ chức, đơn vị để xảy ra tham nhũng quyết định thành lập Hội đồng kỷ luật để xem xét xử lý kỷ luật đối với người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị để xảy ra tham nhũng. Thành phần Hội đồng kỷ luật gồm: Chủ tịch Hội đồng là người đứng đầu hoặc cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị cấp trên trực tiếp của cơ quan, tổ chức, đơn vị để xảy ra tham nhũng; Một ủy viên là đại diện đảng ủy cấp trên trực tiếp của đảng ủy cơ quan, tổ chức, đơn vị để xảy ra tham nhũng. Một ủy viên là đại diện lãnh đạo cơ quan, tổ chức, đơn vị để xảy ra tham nhũng (trong trường hợp ủy viên đó không liên quan đến vụ, việc tham nhũng); Một ủy viên là đại diện Ban Chấp hành Công đoàn của cơ quan, tổ chức, đơn vị để xảy ra tham nhũng; Một ủy viên kiêm Thư ký Hội đồng là người phụ trách bộ phận tham mưu về công tác tổ chức, cán bộ của cơ quan, tổ chức, đơn vị cấp trên trực tiếp của cơ quan, tổ chức, đơn vị để xảy ra tham nhũng. Hội đồng kỷ luật làm việc theo chế độ tập thể, biểu quyết theo đa số bằng phiếu kín. Hội đồng kỷ luật chỉ họp khi có đầy đủ các thành viên Hội đồng.

Hiện nay, các cơ quan chức năng đang tiến hành rà soát các văn bản hướng dẫn thi hành Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; Luật phòng, chống tham nhũng bảo đảm thống nhất với Luật sửa đổi, bổ sung. Chúng ta tin tưởng, với hành lang pháp lý đủ mạnh, sự chung tay của các cấp các ngành, nhất định chúng ta sẽ đạt được mục tiêu trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng với việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí là “Ngăn chặn, từng bước đẩy lùi tham nhũng, lãng phí; tạo bước chuyển biến rõ rệt để giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế – xã hội; củng cố lòng tin của nhân dân; xây dựng Đảng, Nhà nước trong sạch, vững mạnh; đội ngũ cán bộ, công chức kỷ cương, liêm chính”.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

———————-

1. Luật số 44/2013/QH13 ngày 26/11/2013 của Quốc Hội khoa 13 về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.

2. Nghị định số 68/2006/NĐ-CP ngày 18/7/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.

3. Nghị định số 84/2006/NĐ-CP ngày 18/8/2006 của Chính phủ quy định về bồi thường thiệt hại, xử lý kỷ luật và xử phạt vi phạm hành chính trong việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. 

4. Nghị định số 37/2007/NĐ-CP ngày 09/3/2007 của Chính phủ về minh bạch tài sản, thu nhập.

5. Nghị định số 68/2011/NĐ-CP ngày 08/8/2011 của Chính phủ sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 37/2007/NĐ-CP.

6. Nghị định số 47/2007/NĐ-CP ngày 27/3/2007 về quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật phòng, chống tham nhũng; về vai trò, trách nhiệm của xã hội trong phòng, chống tham nhũng.

7. Nghị định số 103/2007/NĐ-CP ngày 14/6/2007 của Chính phủ quy định trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị và trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức trong việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.

8. Nghị định số 157/2007/NĐ-CP ngày 27/10/2007 của Chính phủ quy định chế độ trách nhiệm đối với người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị của Nhà nước trong thi hành nhiệm vụ, công vụ.

9. Nghị định số 158/2007/NĐ-CP ngày 27/10/2007 của Chính phủ về việc quy định danh mục các vị trí công tác và thời hạn định kỳ chuyển đổi vị trí công tác đối với cán bộ, công chức, viên chức.

10. Nghị định số 19/2008/NĐ-CP ngày 14/02/2008 của Chính phủ quy định chế độ phụ cấp trách nhiệm trong hoạt động phòng chống tham nhũng;

11. Thông tư số 76/2006/TT – BTC ngày 22/8/2006 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số 68/2006/NĐ-CP ngày 18/7/2006.

12. Thông tư số 98/2006/TT – BTC ngày 20/10/2006 của Bộ Tài chính hướng dẫn việc bồi thường thiệt hại và xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức, viên chức vi phạm quy định pháp luật về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. 

13. Thông tư số 101/2006/TT – BTC ngày 31/10/2006 của Bộ Tài chính hướng dẫn việc xử phạt hành chính và bồi thường thiệt hại trong thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.

14. Thông tư số 23/2007/TT – BTC ngày 21/3/2007 của Bộ Tài chính quy định chế độ công tác phí, chế độ chi tổ chức các cuộc hội nghị đối với các cơ quan nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập.

15. Thông tư số 57/2007/TT – BTC ngày 11/6/2007 quy định chế độ chi tiêu, đón tiếp khách nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam, chi tiêu tổ chức các Hội nghị, Hội thảo Quốc tế tại Việt Nam và Chi tiêu tiêp khách trong nước. 

16. Thông tư số 63/2007/TT – BTC ngày 15/6/2007 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện đấu thầu mua sắm tài sản nhằm duy trì hoạt động thường xuyên của cơ quan Nhà nước bằng vốn Nhà nước.

17. Thông tư số 103/2007/TT – BTC, ngày 29/8/2007 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Quyết định số 59/2007/QĐ – TTg, ngày 07/5/2007 của Thủ tướng Chính phủ quy định tiêu chuẩn, định mức và chế độ quản lý, sử dụng phương tiện đi lại trong các cơ quan Nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, công ty Nhà nước.

18. Thông tư số 127/2007/TT – BTC ngày 31/10/2007 của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung Thông tư số 23/2007/TT-BTC ngày 21/3/2007.

19. Thông tư số 131/2007/TT – BTC ngày 05/11/2007 của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung Thông tư số 63/2007/TT-BTC ngày 15/6/2007 hướng dẫn thực hiện đấu thầu mua sắm tài sản nhằm duy trì hoạt động thường xuyên của cơ quan Nhà nước bằng vốn Nhà nước.

20. Thông tư số 20/2008/TT -BTC ngày 19/02/2008 của Bộ Tài Chính hướng dẫn về kinh phí đảm bảo hoạt động của Ban Chỉ đạo Phòng, chống tham nhũng tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và Bộ phận giúp việc.

21. Thông tư số 08/TT- BNV ngày 01/10/2007 của Bộ Nội vụ hướng dẫn thực hiện Nghị định số 107/2006/NĐ-CP ngày 22/9/ 2006 của Chính phủ quy định xử lý trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vi khi để xảy ra tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách đối với các đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp của Nhà nước và các tổ chức xã hội, xã hội – nghề nghiệp có sử dụng NSNN, tài sản của Nhà nước.

22. Thông tư số 2442/2007/TT – TTCP, ngày 13/11/2007 của Thanh tra Chính phủ hướng dẫn một số điều thi hành Nghị định số 37/2007/NĐ – CP, ngày 09/3/2007 của Chính phủ về minh bạch tài sản, thu nhập.

23. Thông tư liên tịch số 2462/2007/TTLT – TTCP – VKSNDTC-TANDTC-KTNN-BQP-BCA, ngày 19/11/2007 của Thanh tra Chính phủ – Viện kiểm sát nhân dân tối cao – Toà án nhân dân tối cao – Kiểm toán Nhà nước – Bộ Quốc phòng – Bộ Công an, quy định việc trao đổi, quản lý và sử dụng thông tin, dữ liệu về phòng chống tham nhũng.

24. Quyết định số 30/2006/QĐ-TTg ngày 06/02/2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Luật phòng chống tham nhũng.

25. Quyết định số 170/2006/QĐ – TTg ngày 18/7/2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Quy định tiêu chuẩn, định mức trang thiết bị và phương tiện làm việc của cơ quan và cán bộ, công chức, viên chức nhà nước.

26. Quyết định số 1424/2006/QĐ – TTg ngày 31/10/2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập Cục Chống tham nhũng thuộc Thanh tra Chính phủ.

27. Quyết định số 260/2006/QĐ – TTg, ngày 14/11/2006 về việc sửa đổi, bổ sung Quyết định số 147/1999/QĐ – TTg ngày 05/7/1999 của Thủ tướng Chính phủ Quy định về tiêu chuẩn, định mức sử dụng trụ sở làm việc tại các cơ quan Nhà nước, đơn vị sự nghiệp.

28. Quyết định số 13/2007/QĐ – TTg ngày 24/01/2007 về việc thành lập, chức năng, nhiệm vụ, quuyền hạn, tổ chức và quy chế hoạt động của Văn phòng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng.

 29. Quyết định số 59/2007/QĐ – TTg ngày 07/5/2007 của Thủ tướng Chính phủ quy định tiêu chuẩn, định mức và chế độ quản lý, sử dụng phương tiện đi lại trong các cơ quan Nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, công ty Nhà nước.

30. Quyết định số 64/2007/QĐ-TTg ngày 10/5/2007 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế về quà tặng, nhận quà tặng và nộp lại quà tặng của cơ quan, tổ chức, đơn vị có sử dụng NSNN và của cán bộ, công chức, viên chức.

31. Quyết định số 179/2007/NĐ-CP, ngày 26/11/2007 của Chính phủ ban hành Quy chế tổ chức mua sắm tài sản, hàng hóa từ Ngân sách nhà nước theo phương thức tập trung.

32. Quyết định số 85/2008/NĐ-CP ngày 03/7/2008 của Chính phủ ban hành danh mục người có nghĩa vụ kê khai tài sản theo quy định tại Khoản 11, Điều 6 – Nghị định số 37/2007/NĐ – CP, ngày 09/3/2007 của Chính phủ về minh bạch tài sản, thu nhập.

33. Chỉ thị số 26/2006/CT – TTg ngày 01/8/2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc nghiêm cấm dùng quỹ công làm quà biếu và tiếp khách sai quy định;

34. Chỉ thị số 20/2007/CT – TTg ngày 24/8/2007 của Thủ tướng Chính phủ về trả lương qua tài khoản cho các đối tượng hưởng lương từ ngân sách nhà nước. 

35. Báo cáo số 50/BC-BCSĐ ngày 15/11/2011 của Ban cán sự Đảng Bộ Tài chính về tình hình và kết quả công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí giai đoạn 2006-2010.

36. Báo cáo số 397/BC-CP ngày 11/10/2013 của Chính phủ về thực hiện Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 2013.

37. Báo cáo số 397/BC-CP ngày 11/10/2013 của Chính phủ về thực hiện Luật thực hành tiết kiệm chống lãng phí năm 2013.

38. Báo cáo 130 BC-CP ngày 23/5/2012 của Chính phủ sơ kết  5 năm triển khai thực hiện Luật Phòng, chống tham nhũng.

39. Báo cáo số 1271/BC-KTNN ngày 11/11/2011 của Kiểm toán Nhà nước về tổng kết 5 năm thực hiện Luật Phòng chống tham nhũng và sơ kết giai đoạn thứ nhất Chiến lược quốc gia Phòng chống tham nhũng đến năm 2020. 


[1] Nghị định số 68/2006/NĐ-CP ngày 18/7/2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; Nghị định số 84/2006/NĐ-CP ngày 18/8/2006 quy định về bồi thường thiệt hại, xử lý kỷ luật và xử phạt vi phạm hành chính trong việc THTK, CLP;  Nghị định số 103/2007/NĐ-CP ngày 14/6/2007 quy định trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị và trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức trong việc THTK, CLP..

[2] Thông tư số 76/2006/TT – BTC ngày 22/8/2006 hướng dẫn thực hiện Nghị định số 68/2006/NĐ-CP ngày 18/7/2006; Thông tư số 98/2006/TT – BTC ngày 20/10/2006 hướng dẫn việc bồi thường thiệt hại và xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức, viên chức vi phạm quy định pháp luật về THTK, CLP;  Thông tư số 101/2006/TT – BTC ngày 31/10/2006 hướng dẫn việc xử phạt hành chính và bồi thường thiệt hại trong THTK. CLP; Thông tư số 23/2007/TT – BTC ngày 21/3/2007 quy định chế độ công tác phí, chế độ chi tổ chức các cuộc hội nghị đối với các cơ quan nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập; Thông tư số 57/2007/TT – BTC ngày 11/6/2007 quy định chế độ chi tiêu, đón tiếp khách nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam, chi tiêu tổ chức các Hội nghị, Hội thảo Quốc tế tại Việt Nam và Chi tiêu tiêp khách trong nước;  Thông tư số 63/2007/TT – BTC ngày 15/6/2007 hướng dẫn thực hiện đấu thầu mua sắm tài sản nhằm duy trì hoạt động thường xuyên của cơ quan Nhà nước bằng vốn Nhà nước; Thông tư số 103/2007/TT – BTC, ngày 29/8/2007 hướng dẫn thực hiện Quyết định số 59/2007/QĐ – TTg, ngày 07/5/2007 của Thủ tướng Chính phủ quy định tiêu chuẩn, định mức và chế độ quản lý, sử dụng phương tiện đi lại trong các cơ quan Nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, công ty Nhà nước; Thông tư số 127/2007/TT – BTC ngày 31/10/2007 sửa đổi, bổ sung Thông tư số 23/2007/TT-BTC ngày 21/3/2007 và Thông tư số 57/2007/TT-BTC ngày 11/6/2007; Thông tư số 131/2007/TT – BTC ngày 05/11/2007 sửa đổi, bổ sung Thông tư số 63/2007/TT-BTC ngày 15/6/2007 hướng dẫn thực hiện đấu thầu mua sắm tài sản nhằm duy trì hoạt động thường xuyên của cơ quan Nhà nước bằng vốn Nhà nước…

[3] Báo cáo số 50/BC-BCSĐ ngày 15/11/2011 của Ban cán sự Đảng Bộ Tài chính về tình hình và kết quả công tác THTK, CLP giai đoạn 2006-2010.

[4] Báo cáo số 397/BC-CP ngày 11/10/2013 của Chính phủ về thực hiện Luật THTK, CLP năm 2013.

[5] Báo cáo số 50/BC-BCSĐ ngày 15/11/2011 của Bộ Tài chính

[6] Báo cáo số 397/BC-CP ngày 11/10/2013 của Chính phủ.

[7] Báo cáo số 397/BC-CP ngày 11/10/2013 của Chính phủ về thực hiện Luật THTK, CLP năm 2013.

[8] Báo cáo số 228/BC-CP ngày 08/9/2012  của Chính phủ.

[9] Báo cáo số 228/BC-CP ngày 08/9/2012 của Chính phủ.

[10] Báo cáo số 242/BC-CP ngày 21/9/2012 của Chính phủ

[11] Nghị định của Chính phủ: Nghị định số 37/2007/NĐ-CP ngày 09/3/2007 về minh bạch tài sản, thu nhập; Nghị định số 68/2011/NĐ-CP ngày 08/8/2011 sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 37/2007/NĐ-CP; Nghị định số 47/2007/NĐ-CP ngày 27/3/2007 về quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật phòng, chống tham nhũng; về vai trò, trách nhiệm của xã hội trong phòng, chống tham nhũng; ghị định số 157/2007/NĐ-CP ngày 27/10/2007 quy định chế độ trách nhiệm đối với người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị của Nhà nước trong thi hành nhiệm vụ, công vụ; Nghị định số 158/2007/NĐ-CP ngày 27/10/2007 về việc quy định danh mục các vị trí công tác và thời hạn định kỳ chuyển đổi vị trí công tác đối với cán bộ, công chức, viên chức; Nghị định số 19/2008/NĐ-CP ngày 14/02/2008 quy định chế độ phụ cấp trách nhiệm trong hoạt động PCTN; …

 Quyết định của Thủ tướng Chính phủ: Quyết định số 30/2006/QĐ-TTg ngày 06/02/2006 về việc ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Luật PCTN; Quyết định số 170/2006/QĐ – TTg ngày 18/7/2006 về việc ban hành Quy định tiêu chuẩn, định mức trang thiết bị và phương tiện làm việc của cơ quan và cán bộ, công chức, viên chức nhà nước; Quyết định số 1424/2006/QĐ – TTg ngày 31/10/2006 về việc thành lập Cục Chống tham nhũng thuộc Thanh tra Chính phủ; Quyết định số 260/2006/QĐ – TTg, ngày 14/11/2006 về việc sửa đổi, bổ sung Quyết định số 147/1999/QĐ – TTg ngày 05/7/1999 của Thủ tướng Chính phủ Quy định về tiêu chuẩn, định mức sử dụng trụ sở làm việc tại các cơ quan Nhà nước, đơn vị sự nghiệp; Quyết định số 13/2007/QĐ – TTg ngày 24/01/2007 về việc thành lập, chức năng, nhiệm vụ, quuyền hạn, tổ chức và quy chế hoạt động của Văn phòng Ban Chỉ đạo TW về PCTN; Quyết định số 59/2007/QĐ – TTg ngày 07/5/2007 quy định tiêu chuẩn, định mức và chế độ quản lý, sử dụng phương tiện đi lại trong các cơ quan Nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, công ty Nhà nước; Quyết định số 64/2007/QĐ-TTg ngày 10/5/2007 ban hành Quy chế về quà tặng, nhận quà tặng và nộp lại quà tặng của cơ quan, tổ chức, đơn vị có sử dụng NSNN và của cán bộ, công chức, viên chức.; Quyết định số 179/2007/NĐ-CP, ngày 26/11/2007 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế tổ chức mua sắm tài sản, hàng hóa từ NSNN theo phương thức tập trung; Quyết định số 85/2008/NĐ-CP ngày 03/7/2008 ban hành danh mục người có nghĩa vụ kê khai tài sản theo quy định tại Khoản 11, Điều 6 – Nghị định số 37/2007/NĐ – CP, ngày 09/3/2007 của Chính phủ về minh bạch tài sản, thu nhập; Quyết định số 115/2008/NĐ-CP ngày 27/8/2008 về công khai quản lý, sử dụng tài sản nhà nước tại cơ quan nhà nước…

Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ: Chỉ thị số 26/2006/CT – TTg ngày 01/8/2006, về việc nghiêm cấm dùng quỹ công làm quà biếu và tiếp khách sai quy định; Chỉ thị số 20/2007/CT – TTg ngày 24/8/2007 về trả lương qua tài khoản cho các đối tượng hưởng lương từ ngân sách nhà nước. 

([12]) Thông tư số 20/2008/TT -BTC ngày 19/02/2008 của Bộ Tài Chính hướng dẫn về kinh phí đảm bảo hoạt động của Ban Chỉ đạo Phòng, chống tham nhũng tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và Bộ phận giúp việc;  Thông tư số 08/TT- BNV ngày 01/10/2007 của Bộ nội vụ hướng dẫn thực hiện Nghị định số 107/2006/NĐ-CP ngày 22/9/ 2006 của Chính phủ quy định xử lý trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vi khi để xảy ra tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách đối với các đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp của Nhà nước và các tổ chức xã hội, xã hội – nghề nghiệp có sử dụng NSNN, tài sản của Nhà nước; Thông tư số 2442/2007/TT – TTCP, ngày 13/11/2007 của Thanh tra Chính phủ hướng dẫn một số điều thi hành Nghị định số 37/2007/NĐ – CP, ngày 09/3/2007 của Chính phủ về minh bạch tài sản, thu nhập; Thông tư liên tịch số 2462/2007/TTLT – TTCP – VKSNDTC-TANDTC-KTNN-BQP-BCA, ngày 19/11/2007 của Thanh tra Chính phủ – Viện KSND tối cao – Toà án NDTC – Kiểm toán Nhà nước – Bộ Quốc phòng – Bộ Công an, quy định việc trao đổi, quản lý và sử dụng thông tin, dữ liệu về PCTN ; Quy chế phối hợp số 01/2008/QCPH – VPBCĐ TW -VKSNDTC – TANDTC – BCA, ngày 12/2/2008 của VP BCĐ TW về PCTN – Viện KSND tối cao – Toà án NDTC – Bộ Công an, Phối hợp trong việc giải quyết các vụ án tham nhũng nghiêm trọng, phức tạp.

([13]) Báo cáo 130 BC-CP ngày 23/5/2012 của Chính phủ sơ kết  5 năm triển khai thực hiện Luật Phòng, chống tham nhũng.

 ([14]) Báo cáo số 1271/BC-KTNN ngày 11/11/2011 của Kiểm toán Nhà nước về tổng kết 5 năm thực hiện Luật PCTN và sơ kết giai đoạn thứ nhất Chiến lược quốc gia PCTN tham nhũng đến năm 2020.

Bản in

 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *