Chuyên đề 20 THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM NĂM 2013 VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN

Chuyên đề 20: THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM NĂM 2013 VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN

  Cục Quản lý Giám sát Bảo hiểm – Bộ Tài chính

 20.1. Tổng quan thị trường bảo hiểm năm 2013

Năm 2013, mặc dù trong bối cảnh kinh tế vĩ mô chưa thực sự ổn định, sản xuất kinh doanh phục hồi chậm, thu nhập của người dân chưa được cải thiện nhiều, thiên tai diễn biến phức tạp, nhưng thị trường bảo hiểm vẫn đạt được những kết quả tăng trưởng tích cực và đáng ghi nhận.

20.1.1. Cơ cấu thị trường: Trong năm 2013, thị trường bảo hiểm Việt Nam có sự tham gia của 59 doanh nghiệp, trong đó có 29 DNBH phi nhân thọ, 16 DNBH nhân thọ, 12 doanh nghiệp môi giới bảo hiểm và 2 doanh nghiệp tái bảo hiểm.

Bảng 20.1. Số lượng các công ty bảo hiểm theo loại hình doanh nghiệp  năm 2013 

Loại hình DN/hình thức pháp lý

TNHH 1 hành viên

TNHH 2 thành viên trở lên

Cổ phần

Tổng cộng

Phi nhân thọ

10

3

16

29

Nhân thọ

11

6

0

16

Tái bảo hiểm

1

0

1

2

Môi giới bảo hiểm

3

2

7

12

Tổng cộng

25

8

24

59

 Bên cạnh đó, sự góp mặt của 26 văn phòng đại diện của các tổ chức bảo hiểm nước ngoài tại Việt Nam năm 2013 cũng góp phần cải thiện môi trường đầu tư và tăng lòng tin của các nhà đầu tư nước ngoài khi đến đầu tư tại Việt Nam.

20.1.2. Về quy mô thị trường và tình hình hoạt động kinh doanh

a. Về quy mô thị trường

– Về doanh thu phí bảo hiểm toàn thị trường: năm 2013 tổng doanh thu phí bảo hiểm toàn thị trường ước đạt 47.074 tỷ đồng, tăng 14,13% so với năm 2012, trong đó doanh thu phí bảo hiểm phi nhân thọ ước đạt 24.426 tỷ đồng, tăng 7%; doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ ước đạt 22.648 tỷ đồng, tăng 23,1%.

– Về chi trả quyền lợi bảo hiểm: Tổng số tiền thực bồi thường và trả tiền bảo hiểm ước khoảng 18.814 tỷ đồng, trong đó, các DNBH phi nhân thọ ước đạt 10.719 tỷ đồng, các DNBH nhân thọ ước đạt 8.095 tỷ đồng.

– Đầu tư trở lại nền kinh tế: Tổng số tiền đầu tư của các DNBH năm 2013 ước đạt 105.265 tỷ đồng, tăng 17,5% so với năm 2012, trong đó, các DNBH phi nhân thọ đạt khoảng 24.265 tỷ đồng, tăng 14%; các DNBH nhân thọ đạt khoảng 81.000 tỷ đồng, tăng 24,01%. Tỷ trọng đầu tư vào trái phiếu Chính phủ đạt gần 50%, góp phần vào công tác huy động vốn đầu tư cho phát triển kinh tế xã hội của đất nước.

b. Về hoạt động kinh doanh:

– Hoạt động kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ:

Trong năm 2013, tổng doanh thu phí bảo hiểm gốc của các DNBH phi nhân thọ đạt 24.426 tỷ đồng, tăng 7% so với năm 2012. Doanh thu phí bảo hiểm giữ lại đạt 16.840 tỷ đồng, tỷ lệ giữ lại 69% .

Số tiền thực bồi thường bảo hiểm gốc là 10.719 tỷ đồng (chưa tính dự phòng bồi thường), tỷ lệ thực bồi thường bảo hiểm gốc là 44%, cao hơn tỷ lệ thực bồi thường bảo hiểm gốc năm 2012 (39%).

– Hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhân thọ:

Năm 2013, tổng doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ là 22.648 tỷ đồng, tăng 23,1% so với năm 2012, trong đó doanh thu khai thác mới là 7.603 tỷ đồng, tăng 45,9% so với năm 2012; số lượng hợp đồng khai thác mới (hợp đồng bảo hiểm chính) đạt 1.192.000 hợp đồng, tăng 18,5% so với 2012. Trong đó, bảo hiểm tử kỳ là nghiệp vụ chiếm tỷ trọng lớn nhất (khoảng 32,8%), tiếp theo là sản phẩm bảo hiểm hỗn hợp (khoảng 41,2%) và bảo hiểm liên kết đầu tư (khoảng 25,5%), sản phẩm trả tiền định kỳ và trọn đời thay đổi không đáng kể.

 Tính trên tổng doanh thu phí bảo hiểm, tỷ trọng doanh thu phí bảo hiểm hỗn hợp vẫn chiếm tỷ trọng cao nhất (khoảng 66%), tiếp đến là bảo hiểm liên kết đầu tư (29%), bảo hiểm tử kỳ (3%), các nghiệp vụ còn lại chiếm tỷ trọng không đáng kể.

Năm 2013, các DNBH đã triển khai thêm 43 sản phẩm bảo hiểm mới (trong đó có 04 doanh nghiệp triển khai các sản phẩm bảo hiểm hưu trí tự nguyện).

Về thị phần doanh thu phí: Thị phần tổng doanh thu phí bảo hiểm (hợp đồng chính) nhìn chung không có sự thay đổi đáng kể so với cùng kỳ năm 2012.

– Về hoạt động môi giới bảo hiểm: Năm 2013, tổng phí bảo hiểm thu xếp qua môi giới ước đạt 5,444 tỷ đồng, tăng 4,8%; tổng doanh thu hoa hồng môi giới bảo hiểm là 451 tỷ đồng, tăng 10,1% so với thực hiện năm 2012.

  20.1.3. Về năng lực tài chính

Tổng tài sản toàn thị trường năm 2013 ước đạt 132.217 tỷ đồng, tăng 15,3% so với năm 2012, trong đó các DNBH phi nhân thọ ước đạt 37.237 tỷ, tăng 7,6%; các DNBH nhân thọ ước đạt 94.980 tỷ đồng, tăng 20,6%.

– Tổng nguồn vốn chủ sở hữu toàn thị trường năm 2013 ước đạt 37.795 tỷ đồng, tăng 15,1 % so với năm 2012, trong đó các DNBH phi nhân thọ ước đạt 17.681 tỷ, tăng 2,7%; các DNBH nhân thọ ước đạt 20.114 tỷ đồng, tăng 12%.

– Tổng dự phòng nghiệp vụ của các DNBH năm 2013 ước đạt 79.964 tỷ đồng, tăng gần 12,03% so với năm 2012, trong đó các DNBH phi nhân thọ ước đạt 15.650 tỷ đồng, tăng 11,90%; các DNBH nhân thọ ước đạt 64.314 tỷ đồng, tăng 12,06%.

– 44/45 DNBH đảm bảo biên khả năng thanh toán và quy mô vốn chủ sở hữu; 8/11 DNMGBH đang hoạt động đáp ứng quy mô vốn chủ sở hữu theo quy định của pháp luật

– Năm 2013, có 4 DNBH phi nhân thọ và tái bảo hiểm đã được tổ chức xếp hạng quốc tế A.M Best xếp hạng về năng lực tài chính, trong đó, 02 doanh nghiệp (Samsung Vina và Vinare) được xếp hạng B++; 02 doanh nghiệp (PVI và PVI Re) được xếp hạng B+ .

20.1.4. Về hiệu quả hoạt động:

 Trong lĩnh vực phi nhân thọ, có 14/29 DNBH kinh doanh có lãi, 15/29 doanh nghiệp lỗ hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Trong lĩnh vực nhân thọ, có 10/16 doanh nghiệp có lãi, 6/16 doanh nghiệp lỗ. Trong lĩnh vực môi giới bảo hiểm, có 9/11 doanh nghiệp có lãi, 2/11 doanh nghiệp lỗ.

20.2. Định hướng phát triển thị trường bảo hiểm

Mặc dù phát triển mạnh mẽ cả về quy mô và số lượng doanh nghiệp bảo hiểm trong thời gian qua, song quy mô của thị trường bảo hiểm Việt Nam còn nhỏ, chưa tương xứng với tiềm năng. Đóng góp của ngành bảo hiểm vào GDP mới đạt 1,94% vào năm 2012, thấp hơn nhiều so với mức trung bình của thế giới (6,98%) và khu vực (3,43%). Phí bảo hiểm bình quân đầu người của Việt Nam mới đạt gần 30 USD, thấp hơn nhiều so với mức trung bình trên thế giới (595 USD) và khu vực (74 USD). Số lượng DNBH còn hạn chế so với các nước trong khu vực và thế giới[1].

  Trong bảo hiểm nhân thọ, hiện mới có gần 7% số lượng dân cư tham gia bảo hiểm và vẫn tập trung chủ yếu ở các thành phố lớn. Trong khi đó, ở một số nước trong khu vực (như Phi-lip-pine), tỷ lệ dân số tham gia bảo hiểm nhân thọ đạt khoảng 30% và ở các nước phát triển (Hồng Kông, Mỹ, Nhật Bản,…), tỷ lệ này lên tới gần 90%. Một số sản phẩm bảo hiểm tiêu biểu của lĩnh vực này như bảo hiểm hưu trí đang được triển khai khá lâu và rộng rãi ở các quốc gia khác chỉ mới bắt đầu được triển khai thí điểm tại Việt Nam.

Trong bảo hiểm phi nhân thọ, nhiều phân đoạn thị trường còn chưa được khai thác như bảo hiểm nông nghiệp, bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp, bảo hiểm vi mô… Các DNBH vẫn tập trung khai thác sản phẩm có lãi ngay; địa bàn khai thác chủ yếu tại các tỉnh thành phố lớn; đối tượng khách hàng chủ yếu là các tổ chức sản xuất kinh doanh lớn và bộ phận người dân có thu nhập khá.

Thị trường bảo hiểm Việt Nam vẫn còn nhiều tiềm năng. Việt Nam là nước có hệ thống chính trị ổn định, có dân số đông thứ 13 trên thế giới và cơ cấu dân số trẻ. Mặc dù trong những năm gần đây, nền kinh tế Việt Nam chịu ảnh hưởng của các khó khăn chung của nền kinh tế thế giới song tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam vẫn duy trì ở mức khá, năm 2013 tăng 5,4 % so với năm 2012. Mức sống của người dân dự kiến sẽ tiếp tục được cải thiện trong thời gian tới. Đây là các yếu tố thuận lợi góp phần tiếp tục thu hút các nhà đầu tư thành lập doanh nghiệp bảo hiểm tại Việt Nam trong thời gian tới, đồng thời thúc đẩy các doanh nghiệp bảo hiểm phát triển các sản phẩm bảo hiểm mới, đa dạng, phù hợp với nhu cầu của các đối tượng khách hàng.

Ngày 15/02/2012, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 193/QĐ-TTg về Chiến lược phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam giai đoạn 2011-2020, định hướng thị trường bảo hiểm phát triển phù hợp với định hướng phát triển nền kinh tế – xã hội và tài chính quốc gia trong từng thời kỳ; bảo đảm thực hiện các cam kết quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Tăng cường tính an toàn, bền vững và hiệu quả của thị trường và khả năng đáp ứng nhu cầu bảo hiểm đa dạng của các tổ chức, cá nhân; góp phần ổn định nền kinh tế và bảo đảm an sinh xã hội. Tiếp cận các chuẩn mực, thông lệ quốc tế về kinh doanh bảo hiểm và từng bước thu hẹp khoảng cách phát triển với các quốc gia trong khu vực.

Thực hiện các giải pháp đề ra tại Chiến lược, trong thời gian tới, ngành bảo hiểm sẽ tiếp tục phát triển an toàn và ổn định, có nhiều đóng góp tích cực hơn vào nền kinh tế – xã hội của đất nước./.

 TÀI LIỆU THAM KHẢO

————————

1. Báo cáo tình hình thị trường bảo hiểm năm 2013 và định hướng phát triển thị trường bảo hiểm năm 2014 – Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm.

2. Quyết định số 193/QĐ-TTg ngày 15/2/2012 của Thủ tướng Chính phủ về Chiến lược phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam giai đoạn 2011-2020.

3. Sigma Swiss re report 2/2010.

[1] Phillipin: 167, Indonesia: 152, Hồng Kông: 181, Thái Lan: 92, Trung Quốc: 77 (không tính DNMGBH)

Bản in

 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *