Chuyên đề 20: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ HÓA ĐƠN CHỨNG TỪ PHỤC VỤ THANH TRA, KIỂM TRA THUẾ

Chuyên đề 20: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ HÓA ĐƠN CHỨNG TỪ PHỤC VỤ THANH TRA, KIỂM TRA THUẾ

 ThS.GVC. Phạm xuân Tuyên

 Thạc sĩ Nguyễn Văn Phong

Trường Bồi dưỡng cán bộ tài chính

20.1. Lý luận chung về hóa đơn

20.1.1. Khái niệm hóa đơn

Từ khi có sự xuất hiện của giấy viết, chữ viết và nhà nước, quan hệ trao đổi hàng hóa trên thị trường giữa người mua và người bán đã phát sinh thêm nhiều thủ tục minh chứng cho quyền lợi và trách nhiệm giữa bên mua, bên bán và các bên thứ ba liên quan đến hoạt động mua- bán của người mua và người bán. Hóa đơn là một thủ tục trong các thủ tục đó. Theo Từ điển Tiếng Việt của Trung tâm từ điển ngôn ngữ, Hà Nội – Việt Nam, năm 1992, trang 354, “Hoá đơn: giấy ghi hàng đã bán cùng với giá tiền để làm bằng”. Nói một cách khác, hoá đơn là bảng liệt kê danh sách các hàng hoá cùng với các thông tin liên quan về hàng hoá và việc chuyển giao hàng hoá mà bên chuyển giao hàng hóa giao cho bên nhận được.

Nhìn lại quá trình ra đời, tồn tại và phát triển của Hóa đơn, có thể thấy, ban đầu hoá đơn chỉ có ý nghĩa giữa hai bên đối tác: người bán và người mua, có giá trị làm bằng chứng chứng nhận cho việc chuyển nhượng hàng hoá giữa hai bên. Mọi việc tranh chấp trong mua bán hàng hoá hai bên tự giải quyết. Trong quá trình phát triển xã hội, hoá đơn được phổ biến dần trong một cộng đồng khi được cộng đồng chấp nhận một cách tự nguyện. Các cộng đồng có thể là các phường hội hoặc các định chế làng xã. Những tranh chấp trong việc mua bán hàng hoá được các cộng đồng xử lý trên cơ sở dân sự. Khi nhà nước tham dự vào quản lý mua bán hàng hoá và xử lý những tranh chấp về hàng hoá dựa trên pháp luật dân sự và hình sự thì hoá đơn được nhà nước quy định để làm căn cứ pháp lý chứng minh cho việc chuyển nhượng hàng hoá giữa các bên và làm căn cứ để xác nhận quyền sở hữu hợp pháp của người có hàng hoá.

Ở Việt Nam, khái niệm hóa đơn ngày càng được quan niệm rõ ràng hơn. Theo Nghị định số 89/2002/NĐ-CP ngày 7/11/2002 của Chính phủ, “Hoá đơn là chứng từ được in sẵn thành mẫu, in từ máy tính tiền, in thành vé có mệnh giá theo quy định của Nhà nước, xác nhận khối lượng, giá trị của hàng hoá, dịch vụ mua, bán, trao đổi, quyền lợi và nghĩa vụ của các bên tham gia giao dịch mua, bán, trao đổi hàng hoá, dịch vụ”[1]; Theo Nghị định số 51/2010/NĐ-CP ngày 14/5/2010 của Chính phủ, “Hóa đơn là chứng từ do người bán lập, ghi nhận thông tin bán hàng hóa, dịch vụ theo quy định của pháp luật”[2]. Quan niệm như vậy đã khẳng định hóa đơn là phương tiện vật chất xác nhận các quan hệ mua – bán, trao đổi hàng hóa, dịch vụ và các vấn đề khác liên quan đến hoạt động mua bán hàng hóa, dịch vụ theo quy định của pháp luật.

20.1.2. Đặc điểm hóa đơn

20.1.2.1. Được lập gắn với hoạt động mua bán hàng hóa giữa người mua, người bán.

Việc mua bán hàng hóa trên thị trường, trước hết phải được thỏa thuận với nhau bằng hợp đồng. Hợp đồng được thiết lập có thể hợp đồng bằng miệng hoặc bằng văn bản thỏa thuận với nhau về số lượng chủng loại, số lượng, đơn giá tổng giá thanh toán, phương thức giao hàng và phương thức, hình thức thanh toán và các quy định khác. Tuy nhiên, khi giao hàng hóa cho người muua, người bán phải lập hóa đơn bán hàng chuyển đến người mua, coi như một bằng chứng chứng tỏ người bán đã xuất hàng cho người mua như đã thỏa thuận tại hợp đồng. Khi người mua nhận hàng thường lập biên bản kiểm nhận hàng hóa và lập phiếu nhập kho. Biên bản kiểm nhận hàng nhập kho và phiếu nhập kho của bên mua (nếu có) thường kèm theo hóa đơn bán hàng của người bán, sự khớp đúng hay không giữa thực tế kiểm nhận nhập kho với thông tin số liệu trên hóa đơn được hai bên phản ánh trong biên bản và là căn cứ để xử lý khi thanh toán giữa hai bên. Việc người mua kí nhận trên hóa đơn bán hàng của người bán lập được coi như một bằng chứng người mua đã nhận hàng của người bán theo thỏa thuận tại hợp đồng. Theo đó, hóa đơn phải chứa đựng các thông tin sau đây:

– Thông tin về hoá đơn và xác nhận giao dịch thực hiện: Loại hoá đơn; số hoá đơn để có thể chứng nhận là hoá đơn được in, phát hành một cách hợp pháp bởi tổ chức, cá nhân có trách nhiệm; Ngày lập hoá đơn; chữ ký người bán; chữ ký người mua để xác nhận hoá đơn được lập một cách hợp pháp, theo đúng quy định của pháp luật.

– Thông tin về người bán: Tên, địa chỉ, mã số thuế, số điện thoại, địa chỉ trang web (website) và địa chỉ thư điện tử (email) để có thể xác định chính thức nếu có để tiện trao đổi thông tin qua mạng)

– Thông tin về hàng hoá, dịch vụ bán hoặc cung ứng: Tên, đơn vị tính, khối lượng, đơn giá, thành tiền chưa có thuế GTGT, thuế suất thuế GTGT, số tiền thuế GTGT và tổng số tiền thanh toán.

– Thông tin về người mua: Tên, địa chỉ, mã số thuế, số tài khoản giao dịch, hình thức thanh toán.

20.1.2.2. Tuân theo quy định của pháp luật

Bất cứ nhà nước nào, để quản lý hoạt động của nền kinh tế, đảm bảo tạo lập sự bình đẳng giữa các chủ thể kinh doanh trong xã hội đều quy định: hình thức, nội dung của hóa đơn và quy định chế độ in ấn, phát hành, mua sắm, quản lý, sử dụng, kiểm tra, quyết toán hóa đơn. Tuy nhiên, tùy từng loại quan hệ giao dịch giữa các chủ thể, nhà nước có những quy định phù hợp: mang tính bắt buộc hay mang tính hướng dẫn. 

20.1.3. Phân loại hóa đơn

Có nhiều cách phân loại hóa đơn khác nhau tùy theo tiêu thức phân loại và mục đích phân loại của từng quốc gia. Ở Việt Nam, Hóa đơn được phân loại như sau:

 20.1.3.1. Căn cứ mục đích quản lý thu thuế đối với từng đối tượng bán hàng

Căn cứ mục đích quản lý thu thuế đối với từng đối tượng bán hàng, người ta chia hóa đơn thành các loại sau:

a) Hóa đơn giá trị gia tăng

 Hóa đơn giá trị gia tăng là loại hóa đơn dành cho các tổ chức khai, tính thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ trong các hoạt động bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ trong nội địa; Hoạt động vận tải quốc tế; Xuất vào khu phi thuế quan và các trường hợp được coi như xuất khẩu; Xuất khẩu hàng hóa, cung ứng dịch vụ ra nước ngoài (mẫu số 3.1 Phụ lục 3 và mẫu số 5.1 Phụ lục 5 ban hành kèm theo Thông tư số 39/2014/TT-BTC ngày 31/3/2014).

b) Hóa đơn bán hàng

– Tổ chức, cá nhân khai, tính thuế giá trị gia tăng theo phương pháp trực tiếp khi bán hàng hóa, dịch vụ trong nội địa, xuất vào khu phi thuế quan và các trường hợp được coi như xuất khẩu, xuất khẩu hàng hóa, cung ứng dịch vụ ra nước ngoài (mẫu số 3.2 Phụ lục 3 và mẫu số 5.2 Phụ lục 5 ban hành kèm theo Thông tư số 39/2014/TT-BTC ngày 31/3/2014).

– Tổ chức, cá nhân trong khu phi thuế quan khi bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ vào nội địa và khi bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ giữa các tổ chức, cá nhân trong khu phi thuế quan với nhau, xuất khẩu hàng hóa, cung ứng dịch vụ ra nước ngoài, trên hóa đơn ghi rõ “Dành cho tổ chức, cá nhân trong khu phi thuế quan” (mẫu số 5.3 Phụ lục 5 ban hành kèm theo Thông tư số 39/2014/TT-BTC ngày 31/3/2014).

c) Hóa đơn khác gồm: tem; vé; thẻ; phiếu thu tiền bảo hiểm…

d) Phiếu thu tiền cước vận chuyển hàng không; chứng từ thu cước phí vận tải quốc tế; chứng từ thu phí dịch vụ ngân hàng…, hình thức và nội dung được lập theo thông lệ quốc tế và các quy định của pháp luật có liên quan.

20.1.3.2. Căn cứ vào mục đích quản lý phát hành và hình thức hóa đơn

Căn cứ vào mục đích quản lý phát hành và hình thức hóa đơn, hóa đơn được phân thành các loại sau:

a) Hóa đơn tự in

 Hóa đơn điện tử là hóa đơn do các tổ chức kinh doanh tự in ra trên các thiết bị tin học, máy tính tiền hoặc các loại máy khác khi bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ;

b) Hóa đơn điện tử

Hóa đơn điện tử là tập hợp các thông điệp dữ liệu điện tử về bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, được khởi tạo, lập, gửi, nhận, lưu trữ và quản lý theo quy định tại Luật Giao dịch điện tử và các văn bản hướng dẫn thi hành;

c) Hóa đơn đặt in

Hóa đơn đặt in là hóa đơn do các tổ chức đặt in theo mẫu để sử dụng cho hoạt động bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, hoặc do cơ quan thuế đặt in theo mẫu để cấp, bán cho các tổ chức, hộ, cá nhân.

20.1.4. Vai trò của hóa đơn

Hóa đơn có vai trò rất to lớn, không phải chỉ đối với người mua, người bán mà với cả cơ quan quản lý thu thuế và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác nữa, cụ thể:

20.1.4.1. Đối với hoạt động thương mại

Là căn cứ xác nhận khối lượng, giá trị của hàng hoá, dịch vụ mua, bán, trao đổi, quyền lợi và nghĩa vụ của các bên tham gia giao dịch mua, bán, trao đổi hàng hoá, dịch vụ. Đối với người bán, hóa đơn là bằng chứng khẳng định việc nghiêm túc thực hiện các điều khoản về giao dịch bán hàng với người mua; Đồng thời cũng là căn cứ để được đảm bảo các quyền lợi mà người bán được hưởng, có tính bắt buộc người mua nhận hàng và thanh toán tiền hàng. Đối với người mua, việc lưu giữ hoá đơn chính là căn cứ cho việc chứng minh quyền sở hữu sản phẩm hợp pháp của mình, đồng thời có thể được hưởng những quyền lợi liên quan tới sản phẩm như: bảo hành sản phẩm, dự trữ bốc thăm trúng thưởng, chiết khấu thanh toán, chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán…Là căn cứ để khẳng định hàng hóa có chủ, có nguồn gốc xuất xứ, có tiêu chuẩn chất lượng, được tự do lưu thông trên thị trường, không bị bất cứ thế lực nào được phép cản trở theo quy định của pháp luật.

20.1.4.2. Đối với công tác kế toán

Hoá đơn là chứng từ để đảm bảo chất lượng hàng hoá – dịch vụ; được sử dụng để làm căn cứ lập hồ sơ kế toán liên quan đến nghiệp vụ mua hàng của người mua (như tính giá hàng nhập, tính chi phí hoạt động kinh doanh, tính thuế GTGT đầu vào được khấu trừ hay không được khấu trừ…) và bán hàng của người bán (như tính giá vốn hàng bán, tính doanh thu hoạt động kinh doanh, tính thuế GTGT đầu ra phải nộp…); thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho bên bán của người mua; phục vụ việc quyết toán tài chính theo kỳ kế toán khi thực hiện hoạt động bán hàng của người bán và mua hàng của người mua.

20.1.4.3. Đối với hoạt động quản lý thu thuế

Đối với mối quan hệ giữa cơ quan thuế và doanh nghiệp thì hoá đơn là chứng từ cơ sở ban đầu dùng để kê khai nộp thuế, khấu trừ, hạch toán chi phí thực tế phát sinh, hoàn thuế và xác định chi phí hợp lệ khi tính thuế, nhất là các loại thuế trực thu.

Việc kiểm tra xuất hóa đơn khi bán hàng đồng thời sẽ kiểm tra được doanh số bán đúng với thực tế, doanh nghiệp khó có thể báo cáo “âm”, từ đó hàng lậu, hàng hóa không có hóa đơn sẽ khó lọt vào thị trường.

Bên cạnh đó việc kiểm soát hoá đơn đã làm cho việc nắm bắt được tình hình hoạt động sản xuất, kinh doanh của cơ quan thuế đối với doanh nghiệp mang tính hiệu quả hơn, thông qua đó cũng xác định chính xác hơn nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp đối với nhà nước, đồng thời đó cũng là cơ sở cho việc phát hiện ra những trường hợp gian lận thuế của các đối tượng, qua đó cơ quan thuế sẽ tìm ra được những biện pháp xử lý kịp thời.

20.2. Thực trạng quản lý, sử dụng hóa đơn hiện nay

20.2.1. Quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng hóa đơn

Để quản lý kinh tế nói chung, quản lý hoạt động thu thuế nói riêng, nhiều năm qua, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã xây dựng và ban hành nhiều văn bản pháp luật quy định về quản lý,sử dụng hóa đơn trong hoạt động kinh doanh. Đến nay, đang thực hiện quy định tại các văn bản sau: Nghị định số 51/2010/NĐ-CP ngày 14/05/2010 của Chính phủ quy định về hoá đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ; Nghị định số 04/2014/NĐ-CP ngày 17/01/2014 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 51/2010/NĐ-CP ngày 14/05/2010 của Chính phủ; Thông tư số 39/2014/TT-BTC ngày 31/03/2014 hướng dẫn quy định vể quản lý hóa đơn; Thông tư số 32/2011/TT-BTC ngày 14/03/2011 về khởi tạo hóa đơn điện tử; Thông tư số 10/2014/TT-BTC ngày 17/01/2014 hướng dẫn xử phạt vi phạm hành chính về hóa đơn; Thông tư số 119/2014/TT-BTC ngày 25/08/2014 sửa đổi bổ sung mốt số điều của thông tư về thuế trong đó có thông tư số 39/2014/TT-BTC ngày 31/3/2014; Thông tư số 26/2015/TT-BTC ngày 27/02/2015 sửa đổi bổ sung mốt số điều của thông tư về thuế trong đó có thông tư số 39/2014/TT-BTC; Văn bản hợp nhất số 17/VBHN-BTC ngày 17/06/2015 của 3 thông tư 39/2014/TT-BTC.

Các văn bản pháp luật nói trên tập trung quy định về các nội dung sau:

a) Nội dung hóa đơn

– Hóa đơn do người bán lập bắt buộc phải có đầy đủ các nội dung sau đây:

+ Tên loại hóa đơn.

+ Ký hiệu mẫu số hóa đơn và ký hiệu hóa đơn: Ký hiệu mẫu số hóa đơn là thông tin thể hiện ký hiệu tên loại hóa đơn, số liên, số thứ tự mẫu trong một loại hóa đơn (một loại hóa đơn có thể có nhiều mẫu).Ký hiệu hóa đơn là dấu hiệu phân biệt hóa đơn bằng hệ thống chữ cái tiếng Việt và 02 chữ số cuối của năm. Đối với hóa đơn đặt in, 02 chữ số cuối của năm là năm in hóa đơn đặt in. Đối với hóa đơn tự in, 02 chữ số cuối là năm bắt đầu sử dụng hóa đơn ghi trên thông báo phát hành hoặc năm hóa đơn được in ra.

+Tên liên hóa đơn: Liên hóa đơn là các tờ trong cùng một số hóa đơn. Mỗi số hóa đơn phải có từ 2 liên trở lên và tối đa không quá 9 liên, trong đó: Liên 1: Lưu; Liên 2: Giao cho người mua; Các liên từ liên thứ 3 trở đi được đặt tên theo công dụng cụ thể mà người tạo hóa đơn quy định. Riêng hóa đơn do cơ quan thuế cấp lẻ phải có 3 liên, trong đó liên 3 là liên lưu tại cơ quan thuế.

Đối với các loại tài sản phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng với cơ quan có thẩm quyền thì tổ chức, cá nhân kinh doanh các loại tài sản phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng với cơ quan có thẩm quyền tạo, phát hành hóa đơn có từ 3 liên trở lên, trong đó, giao cho người mua 2 liên: liên 2 “giao cho người mua” và một liên dùng để đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng theo quy định của pháp luật.

+ Số thứ tự hóa đơn: Số thứ tự của hóa đơn là số thứ tự theo dãy số tự nhiên trong ký hiệu hóa đơn, gồm 7 chữ số trong một ký hiệu hóa đơn.

+ Tên, địa chỉ, mã số thuế của người bán;

+ Tên, địa chỉ, mã số thuế của người mua;

+ Tên hàng hóa, dịch vụ; đơn vị tính; số lượng; đơn giá hàng hóa, dịch vụ; thành tiền ghi bằng số và bằng chữ. Trường hợp tổ chức kinh doanh có sử dụng phần mềm kế toán theo hệ thống phần mềm của công ty mẹ là Tập đoàn đa quốc gia thì chỉ tiêu đơn vị tính được sử dụng bằng tiếng Anh theo hệ thống phần mềm của Tập đoàn.

+ Người mua, người bán ký và ghi rõ họ tên, dấu người bán (nếu có) và ngày, tháng, năm lập hóa đơn.

+ Tên tổ chức nhận in hóa đơn: Trên hóa đơn đặt in, phải thể hiện tên, mã số thuế của tổ chức nhận in hóa đơn, bao gồm cả trường hợp tổ chức nhận in tự in hóa đơn đặt in.

– Ngoài nội dung bắt buộc nói trên, tổ chức kinh doanh có thể tạo thêm các thông tin khác phục vụ cho hoạt động kinh doanh, kể cả tạo lô-gô, hình ảnh trang trí hoặc quảng cáo. Các thông tin tạo thêm phải đảm bảo phù hợp với pháp luật hiện hành, không che khuất, làm mờ các nội dung bắt buộc phải có trên hóa đơn.

b) Quy định về chữ viết và chữ số trên hóa đơn

Chữ viết trên Hóa đơn được thể hiện bằng tiếng Việt. Trường hợp cần ghi thêm chữ nước ngoài thì chữ nước ngoài được đặt bên phải trong ngoặc đơn () hoặc đặt ngay dưới dòng tiếng Việt và có cỡ nhỏ hơn chữ tiếng Việt. Chữ số ghi trên hóa đơn là chữ số Ả rập; Dòng tổng tiền thanh toán trên hóa đơn phải được ghi bằng chữ. Trường hợp chữ trên hóa đơn là chữ tiếng Việt không dấu thì các chữ viết không dấu trên hóa đơn phải đảm bảo không dẫn tới cách hiểu sai lệch nội dung của hóa đơn

c) Sử dụng hóa đơn

– Tổ chức, hộ, cá nhân kinh doanh chỉ được lập và giao cho người mua hàng hóa, dịch vụ các loại hóa đơn theo hướng dẫn tại Thông tư số 39/2014/TT-BTC ngày 31/03/2014. Người bán phải lập hóa đơn khi bán hàng hóa, dịch vụ, bao gồm cả các trường hợp hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại, quảng cáo, hàng mẫu; hàng hóa, dịch vụ dùng để cho, biếu, tặng, trao đổi, trả thay lương cho người lao động (trừ hàng hóa luân chuyển nội bộ, tiêu dùng nội bộ để tiếp tục quá trình sản xuất). Nội dung trên hóa đơn phải đúng nội dung nghiệp vụ kinh tế phát sinh; không được tẩy xóa, sửa chữa; phải dùng cùng màu mực, loại mực không phai, không sử dụng mực đỏ; chữ số và chữ viết phải liên tục, không ngắt quãng, không viết hoặc in đè lên chữ in sẵn và gạch chéo phần còn trống (nếu có). Trường hợp hóa đơn tự in hoặc hóa đơn đặt in được lập bằng máy tính nếu có phần còn trống trên hóa đơn thì không phải gạch chéo. Hóa đơn được lập một lần thành nhiều liên. Nội dung lập trên hóa đơn phải được thống nhất trên các liên hóa đơn có cùng một số. Hóa đơn được lập theo thứ tự liên tục từ số nhỏ đến số lớn. Trường hợp khi bán hàng hóa, dịch vụ nếu danh mục hàng hóa, dịch vụ nhiều hơn số dòng của một số hóa đơn, người bán hàng có thể lập thành nhiều hóa đơn hoặc lựa chọn một trong hai hình thức sau: (i) Người bán hàng ghi liên tiếp nhiều số hóa đơn. Dòng ghi hàng hóa cuối cùng của số hóa đơn trước ghi cụm từ “tiếp số sau” và dòng ghi hàng hóa đầu số hóa đơn sau ghi cụm từ “tiếp số trước”. Các hóa đơn liệt kê đủ các mặt hàng theo thứ tự liên tục từ hóa đơn này đến hóa đơn khác. Thông tin người bán, thông tin người mua được ghi đầy đủ ở số hóa đơn đầu tiên. Chữ ký và dấu người bán (nếu có), chữ ký người mua, giá thanh toán, phụ thu, phí thu thêm, chiết khấu thương mại, thuế giá trị gia tăng được ghi trong hóa đơn cuối cùng và gạch chéo phần còn trống (nếu có); (ii) Người bán hàng được sử dụng bảng kê để liệt kê các loại hàng hóa, dịch vụ đã bán kèm theo hóa đơn.

– Bán hàng hóa, dịch vụ có tổng giá thanh toán dưới 200.000 đồng mỗi lần thì không phải lập hóa đơn, trừ trường hợp người mua yêu cầu lập và giao hóa đơn. Khi bán hàng hóa, dịch vụ không phải lập hóa đơn như trên, người bán phải lập Bảng kê bán lẻ hàng hóa, dịch vụ. Cuối mỗi ngày, cơ sở kinh doanh lập một hóa đơn giá trị gia tăng hoặc hóa đơn bán hàng ghi số tiền bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ trong ngày thể hiện trên dòng tổng cộng của bảng kê, ký tên và giữ liên giao cho người mua, các liên khác luân chuyển theo quy định. Tiêu thức “Tên, địa chỉ người mua” trên hóa đơn này ghi là “bán lẻ không giao hóa đơn”.

– Trường hợp lập hóa đơn chưa giao cho người mua, nếu phát hiện hóa đơn lập sai, người bán gạch chéo các liên và lưu giữ số hóa đơn lập sai. Trường hợp hóa đơn đã lập và giao cho người mua nhưng chưa giao hàng hóa, cung ứng dịch vụ hoặc hóa đơn đã lập và giao cho người mua, người bán và người mua chưa kê khai thuế nếu phát hiện sai phải hủy bỏ, người bán và người mua lập biên bản thu hồi các liên của số hóa đơn đã lập sai. Biên bản thu hồi hóa đơn phải thể hiện được lý do thu hồi hóa đơn. Người bán gạch chéo các liên, lưu giữ số hóa đơn lập sai và lập lại hóa đơn mới theo quy định. Trường hợp hóa đơn đã lập và giao cho người mua, đã giao hàng hóa, cung ứng dịch vụ, người bán và người mua đã kê khai thuế, sau đó phát hiện sai sót thì người bán và người mua phải lập biên bản hoặc có thỏa thuận bằng văn bản ghi rõ sai sót, đồng thời người bán lập hóa đơn điều chỉnh sai sót. Hóa đơn ghi rõ điều chỉnh (tăng, giảm) số lượng hàng hóa, giá bán, thuế suất thuế giá trị gia tăng…, tiền thuế giá trị gia tăng cho hóa đơn số…, ký hiệu… Căn cứ vào hóa đơn điều chỉnh, người bán và người mua kê khai điều chỉnh doanh số mua, bán, thuế đầu ra, đầu vào. Hóa đơn điều chỉnh không được ghi số âm (-).

– Nghiêm cấm người bán sử dụng hóa đơn bất hợp pháp, cụ thể là nghiêm cấm sử dụng các loại đơn sau:

+ Hóa đơn giả: là hóa đơn được in hoặc khởi tạo theo mẫu hóa đơn đã được phát hành của tổ chức, cá nhân khác hoặc in, khởi tạo trùng số của cùng một ký hiệu hóa đơn.

+ Hóa đơn chưa có giá trị sử dụng: là hóa đơn đã được tạo theo quy định, nhưng chưa hoàn thành việc thông báo phát hành.

+ Hóa đơn hết giá trị sử dụng: là hóa đơn đã làm đủ thủ tục phát hành nhưng tổ chức, cá nhân phát hành thông báo không tiếp tục sử dụng nữa; các loại hóa đơn bị mất sau khi đã thông báo phát hành được tổ chức, cá nhân phát hành báo mất với cơ quan thuế quản lý trực tiếp; hóa đơn của các tổ chức, cá nhân đã ngừng sử dụng mã số thuế (còn gọi là đóng mã số thuế).

–  Nghiêm cấm người bán sử dụng bất hợp pháp hóa đơn dưới mọi hình thức, như: lập khống hóa đơn; cho hoặc bán hóa đơn chưa lập để tổ chức, cá nhân khác lập khi bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ (trừ các trường hợp được sử dụng hóa đơn do cơ quan thuế bán hoặc cấp và trường hợp được ủy nhiệm lập hóa đơn); cho hoặc bán hóa đơn đã lập để tổ chức, cá nhân khác hạch toán, khai thuế hoặc thanh toán vốn ngân sách; lập hóa đơn không ghi đầy đủ các nội dung bắt buộc; lập hóa đơn sai lệch nội dung giữa các liên; dùng hóa đơn của hàng hóa, dịch vụ này để chứng minh cho hàng hóa, dịch vụ khác; Hóa đơn có nội dung được ghi không có thực một phần hoặc toàn bộ; Sử dụng hóa đơn của tổ chức, cá nhân khác để bán ra, để hợp thức hóa hàng hóa, dịch vụ mua vào không có chứng từ hoặc hàng hóa, dịch vụ bán ra để gian lận thuế, để bán hàng hóa nhưng không kê khai nộp thuế; Sử dụng hóa đơn của tổ chức, cá nhân khác để bán hàng hóa, dịch vụ, nhưng không kê khai nộp thuế, gian lận thuế; để hợp thức hàng hóa, dịch vụ mua vào không có chứng từ; Hóa đơn có sự chênh lệch về giá trị hàng hóa, dịch vụ hoặc sai lệch các tiêu thức bắt buộc giữa các liên của hóa đơn; Sử dụng hóa đơn bán hàng hóa, dịch vụ mà cơ quan thuế, cơ quan công an và các cơ quan chức năng khác đã kết luận là sử dụng bất hợp pháp hóa đơn.

– Người mua được sử dụng hóa đơn hợp pháp theo quy định pháp luật để chứng minh quyền sử dụng, quyền sở hữu hàng hóa, dịch vụ; hưởng chế độ khuyến mãi, chế độ hậu mãi, xổ số hoặc được bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật; được dùng để hạch toán kế toán hoạt động mua hàng hóa, dịch vụ theo quy định của pháp luật về kế toán; kê khai các loại thuế; đăng ký quyền sử dụng, quyền sở hữu và để kê khai thanh toán vốn ngân sách nhà nước theo các quy định của pháp luật. Hóa đơn được sử dụng trong các trường hợp trên phải thỏa mãn đồng thời các điều kiện sau:

+ Là Hóa đơn mua hàng hóa, dịch vụ bản gốc, liên 2 (liên giao khách hàng), trừ các trường hợp nêu tại khoản 1 Điều 4 và Điều 24 Thông tư số 39/2014/TT-BTC ngày 31/03/2014.

+ Hóa đơn ghi đầy đủ các chỉ tiêu, nội dung theo quy định và phải nguyên vẹn.

+ Số liệu, chữ viết, đánh máy hoặc in trên hóa đơn phải rõ ràng, đầy đủ, chính xác theo đúng quy định, không bị tẩy xóa, sửa chữa.

+ Hóa đơn không thuộc các trường hợp nêu tại Điều 22 và Điều 23 Thông tư số 39/2014/TT-BTC ngày 31/03/2014.

20.2.2. Thực tế quản lý, sử dụng hóa đơn

a) Kết quả thu thuế và kết quả thanh tra, kiểm tra doanh nghiệp

Lũy kế quý I/2016, tổng thu nội địa do cơ quan thuế quản lý ước đạt 202.679 tỷ đồng, bằng 25% so với dự toán, bằng 98,9% so với cùng kỳ năm 2015. Trong đó, thu dầu thô đạt 8.918 tỷ đồng, bằng 16,4% so với dự toán, bằng 43,9% so với cùng kỳ năm 2015. Thu nội địa đạt 193.761 tỷ đồng, bằng 25,7% so với dự toán, tăng 5% so với cùng kỳ năm 2015. Số thu không kể tiền sử dụng đất ước đạt 176.050 tỷ, bằng 25% so với dự toán, tăng 4% so với cùng kỳ năm 2015, loại trừ khoản thu cổ tức và lợi nhuận còn lại thì bằng 26,3% dự toán, tăng 10% so với cùng kỳ.

Tổng thu nội địa là 820.150 tỷ đồng, tăng 8,6% so với dự toán (tương ứng tăng 65.150 tỷ), tăng 11% so với thực hiện năm 2015. Trong đó, tiền sử dụng đất là 64.000 tỷ đồng, tăng 28% (tương ứng tăng 14.000 tỷ đồng) so với dự toán; bằng 94,7% so với thực hiện năm 2015; thu nội địa không kể tiền sử dụng đất là 756.150 tỷ đồng, tăng 7,3% so với dự toán (tương ứng tăng 51.150 tỷ), tăng 12,6% so với thực hiện năm 2015.

Đến ngày 25/3/2016, ngành thuế đã thực hiện thanh tra, kiểm tra 6.510 doanh nghiệp, tăng thu 629 tỷ đồng; phạt 548,9 tỷ; giảm lỗ 2.959 tỷ đồng; đôn đốc nộp ngân sách 500 tỷ đồng.

Cụ thể, cơ quan thuế đã thanh tra 737 doanh nghiệp với tổng số thuế tăng thu là 631 tỷ đồng, bằng 99,4% so với 3 tháng đầu năm 2015, giảm lỗ 1.786,7 tỷ đồng; đã đôn đốc nộp ngân sách 118,7 tỷ đồng (bằng 18,8% tổng số thuế kiến nghị tăng thu qua thanh tra).

Kiểm tra tại trụ sở đối với 5.773 doanh nghiệp (đạt 7% nhiệm vụ kiểm tra) với tổng số thuế tăng thu là 979 tỷ đồng, bằng 112,1% so với 3 tháng đầu năm 2015, giảm lỗ 1.172 tỷ đồng, giảm khấu trừ 127,7 tỷ đồng; đã đôn đốc nộp ngân sách 381,3 tỷ đồng (bằng 39% tổng số thuế kiến nghị tăng thu qua kiểm tra).

Ngoài ra, cơ quan thuế cũng tiến hành kiểm tra tại trụ sở cơ quan thuế đối với 13.106 hồ sơ với số thuế điều chỉnh tăng là 19,4 tỷ đồng.

Năm 2015, Thanh tra Tổng cục Thuế đã tiến hành thanh tra, kiểm tra hơn 70.000 doanh nghiệp; kiểm tra hồ sơ khai thuế tại trụ sở cơ quan thuế 1,2 triệu hồ sơ, tập trung việc thanh tra, kiểm tra vào các ngành, lĩnh vực có tiềm ẩn rủi ro về trốn thuế, gian lận thuế như dầu khí, xăng dầu, khai thác khoáng sản, kinh doanh bất động sản, hoạt động chuyển nhượng dự án, thương mại điện tử, kinh doanh thiết bị y tế, dược phẩm, thiết bị khoa học kỹ thuật, các doanh nghiệp được hưởng ưu đãi miễn, giảm thuế, các tập đoàn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam… Thanh tra Tổng cục Thuế đã tập trung thanh tra tại các doanh nghiệp doanh nghiệp có giao dịch liên kết, có dấu hiệu chuyển giá; tập trung thanh tra hoàn thuế giá trị gia tăng (GTGT) đối với các doanh nghiệp có hoàn thuế lớn, các doanh nghiệp hoàn thuế GTGT hàng hóa xuất khẩu qua biên giới đất liền; thanh tra công tác xử lý hóa đơn để ngăn chặn kịp thời hành vi sử dụng bất hợp pháp hóa đơn nhằm trốn thuế, gian lận thuế.

Năm 2015, công tác thanh tra, kiểm tra của Cục Thuế Hà Nội đã hoàn thành 11.147 cuộc, tăng 73% so với năm 2014. Xử lý truy thu, truy hoàn và phạt 2.496 tỷ đồng, tăng 30% so với năm 2014; giảm lỗ 3.408 tỷ đồng; giảm khấu trừ 220 tỷ đồng. Năm 2015, Cục Thuế TP.Hà Nội cũng tiếp tục triển khai ứng dụng đối chiếu chéo hóa đơn, phát hiện nhiều doanh nghiệp sử dụng hóa đơn có dấu hiệu vi phạm để xử lý kịp thời; phối hợp với cơ quan công an trong công tác chống thất thu, phát hiện, ngăn chặn, xử lý kịp thời các hành vi gian lận, trốn thuế, đặc biệt là hành vi mua bán, sử dụng hóa đơn bất hợp pháp. Cơ quan thuế đã chuyển hồ sơ đề nghị cơ quan công an điều tra, xác minh sai phạm về thuế, hóa đơn bất hợp pháp với 166 vụ việc liên quan đến 177 doanh nghiệp; cơ quan công an khởi tố 2 vụ việc, qua đó đã xử lý truy thu hàng chục tỷ đồng…

b) Sai phạm chủ yếu về hóa đơn của doanh nghiệp

* Các hành vi và hình thức vi phạm về hoá đơn:

– Bán hàng không lập hoá đơn, không kê khai doanh thu.

– Không ghi đầy đủ hoặc ghi sai các yếu tố trên hóa đơn như địa chỉ, mã số thuế…

– Bán hàng ghi hóa đơn chênh lệch giữa các liên hóa đơn (giá trị hàng hóa, dịch vụ trên liên giao cho khách hàng cao hơn giá trị hàng hóa, dịch vụ trên các liên còn lại).

– Bán hàng lập hóa đơn ghi giá trị thấp hơn thực tế thanh toán.

– Sử dụng hóa đơn giả để bán hàng, để khấu trừ thuế.

– Sử dụng hóa đơn của đơn vị khác (xin, mua) hoặc đã báo mất

– Xuất hóa đơn theo bảng kê bán lẻ người mua không lấy hóa đơn, không lưu giữ liên 2 với lý do xé bỏ mất nhưng lại dùng liên 2 đó để xuất cho đơn vị khác hoặc đem bán.

– Viết hóa đơn bán hàng không đúng ngày thực tế bán hoặc có trường hợp trước cả ngày mua hóa đơn tại cơ quan thuế.

– Xuất hóa đơn khống cho khách hàng.

– Bán hóa đơn trắng

– Hóa đơn đã sử dụng xuất hàng cho khách nhưng quay vòng lại để báo hủy.

– Xuất giúp hóa đơn.

– Khấu trừ thuế đầu vào không có hóa đơn, hóa đơn không hợp pháp.

– Kê khai hóa đơn hàng hóa, dịch vụ không được hoặc không đủ điều kiện khấu trừ.

– Lập hồ sơ, hợp đồng kinh tế khống hoặc với đối tác không có thực để chiếm dụng tiền hoàn thuế.

– Công ty mẹ thành lập nhiều công ty con để hoàn chỉnh hồ sơ rút tiền hoàn thuế của Nhà nước.

– Kê khai hàng hoá xuất khẩu nhưng thực tế lại bán trong nước để hưởng thuế suất 0%.

– Xuất khẩu khống để được hoàn thuế, quay vòng hàng nông sản đã xuất khẩu bằng nhiều đường khác nhau để xuất được nhiều lần.

* Một số hành vi gian lận trốn thuế ở doanh nghiệp và các cơ sở kinh doanh

– Doanh nghiệp ôm hóa đơn bỏ trốn.

Doanh nghiệp thành lập ra rồi ôm hóa đơn bỏ trốn (đã từng được gọi là doanh nghiệp “ma”) sinh ra chỉ nhằm mục đích để mua bán, sử dụng hóa đơn giá trị gia tăng (GTGT) bất hợp pháp, chiếm dụng vốn Nhà nước.

Tại Cục thuế tỉnh Nghệ An, Từ năm 2011 đến 2015, đã có 105 doanh nghiệp mang hóa đơn bỏ trốn với tổng số hóa đơn lên đến 50.817 số, trong đó một số có dấu hiệu tội phạm. Hiện số hóa đơn đã được xử lý 25.681 số. Số đơn vị còn lại chưa tìm được chủ doanh nghiệp 79 đơn vị với  25.146 số hóa đơn.

Điển hình về những doanh nghiệp vi phạm là Công ty TNHH DVTM Tân Lộc Thành (Mã số thuế: 2901250915). Qua kiểm tra hồ sơ khai thuế, cơ quan thuế phát hiện công ty này có hành vi sử dụng hóa đơn bất hợp pháp để kê khai khấu trừ thuế GTGT đầu vào. Số hóa đơn sử dụng khai thuế GTGT đầu vào 57 số; giá trị tiền hàng 32,8 tỷ đồng; trong đó tiền thuế là 3.280.574.900 đồng… Số hóa đơn này chủ yếu là hóa đơn bất hợp pháp của Công ty TNHH DVTM Anh Tuấn ở Hưng Nguyên. Công ty TNHH DVTM Tân Lộc Thành cũng đã bán hóa đơn GTGT với 360 số, giá trị tiền hàng 18,3 tỷ đồng, tiền thuế 1,83 tỷ đồng. 

Công ty thứ 2 là Công ty TNHH XD Thương mại Tân Bến Thủy (MST 290156933) không hoạt động kinh doanh mà có dấu hiệu thành lập doanh nghiệp để mua, bán hóa đơn bất hợp pháp. Trần Quang Phiên, giám đốc công ty đã dùng chứng minh thư của người khác để thành lập Công ty TNHH XD Thương mại Tân Bến Thủy. Công ty này kê khai lập khống 36 số hóa đơn GTGT mua vào để kê khai khấu trừ; tiền hàng trên 34,3 tỷ đồng; tiền thuế GTGT đầu vào: 3.433.420.017 đồng;  lập khống hàng hóa dịch vụ bán ra 267 số hóa đơn GTGT cho 37 doanh nghiệp; tiền hàng trị giá 37.774.355.929 đồng; tiền thuế GTGT đầu ra 3.774.355.929 đồng. Các doanh nghiệp mua hóa đơn của Công ty TNHH XD Thương mại Tân Bến Thủy đã kê khai khấu trừ thuế GTGT đầu vào gây thiệt hại cho NSNN. Công ty này đã bị Tòa án TP.Vinh xét xử vụ án hình sự số 487/HSST ngày 29/12/2014, bị cáo chịu hình phạt 40 tháng tù về tội: “Mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ nộp ngân sách nhà nước”.

– Xuất hóa đơn khống

Không có giao dịch cung cấp hàng hóa và dịch vụ nhưng hóa đơn vẫn được xuất và trị giá trên hóa đơn có thể được tính là chi phí hợp lý hợp lệ giúp giảm thuế thu nhập doanh nghiệp (đối với chủ doanh nghiệp) hoặc để chiếm đoạt trị giá hóa đơn khi thanh toán với công ty (đối với nhân viên).

– Bán hàng lập hóa đơn chênh lệch giữa các liên.

Một trong những cách gian lận đơn giản, không tốn nhiều công sức đó là người mua và người bán thông đồng với nhau ghi chênh lệch thuế GTGT giữa liên 1 (người bán giữ) và liên 2 (giao cho khách hàng) khác nhau. Người bán sẽ hạ giá trị ghi ở liên 1 thấp xuống để khai báo lỗ, không phải đóng thuế thu nhập doanh nghiệp hoặc để giảm số thuế GTGT phải nộp đồng thời ghi giá trị trên liên 2 của hóa đơn cao hơn giá thanh toán trên thực tế giúp người mua tăng số thuế GTGT đầu vào được khấu trừ.

– In hóa đơn trùng

Gian lận này thường xảy ra với hóa đơn tự in. Cùng một số, ký hiệu hóa đơn nhưng xuất cho nhiều khách hàng khác nhau. Như vây, doanh nghiệp giấu doanh số của mình.

– Lập công ty để “tự khai, tự… trốn”

Nếu kinh doanh và nộp thuế theo hình thức thuê khoán thì người kinh doanh bị “ấn định” mức thuế có thời hạn ít nhất từ 6 tháng đến 1 năm. Dù tháng mưa, buôn bán ế ẩm, người kinh doanh cũng phải nộp đúng số thuế đã khoán. Muốn mức khoán “dễ thở” hơn, họ buộc phải kiến nghị và phải qua cả hội đồng (gồm cán bộ phường/ xã cùng cán bộ quản lý thuế trên địa bàn) xem xét. Do vậy, nhiều cửa hàng, nhà hàng, quán ăn tuy không lớn, đang thực hiện thuế khoán cũng “tiến lên” thành lập công ty để được “tự tính, tự khai, tự nộp thuế”

c) Nguyên nhân dẫn đến vi phạm về hóa đơn:

Để xảy ra tình trạng gian lận thuế ở các doanh nghiệp và các cơ sở sản xuất, làm thất thoát hàng ngàn tỉ đồng hàng năm cho ngân sách Nhà Nước, ngoài sự tinh vi trong trốn thuế của doanh nghiệp thì có rất nhiều nguyên nhân như: chính sách thuế GTGT hiện hành còn khe hở, bất cập, không phù hợp với thực tại và yêu cầu phát triển của nền kinh tế; thuế GTGT là một loại thuế tiên tiến, nhưng công nghệ quản lý thu thuế chưa thế hiện đầy đủ tính tiên tiến, hiện đại; quá trình cải cách thuế chỉ mới tập trung nhiều đến khía cạnh chính sách mà chưa có sự quan tâm thích đáng đến việc cải cách hành chính thuế ngay từ đầu. Điều này đã dẫn đến năng lực quản lý hành chính thuế thấp, hiệu quả chưa cao, làm xuất hiện nhiều tồn tại trong công tác hành thu…

* Nguyên nhân từ phía người nộp thuế:

Một số tố chức, cá nhân kinh doanh cố tình thực hiện các hành vi vi phạm qui định về quản lý, sử dụng hoá đơn. Một số người mua hàng thông đồng với người bán hàng đế mua hoá đơn khống chỉ, nâng giá hàng cao hơn thực tế, lập hoá đơn khống (không có hàng hoá) để trốn thuế, để được khấu trừ, hoàn thuế, hợp lý hoá các khoản chi bất hợp pháp hoặc thanh toán tài chính trong các doanh nghiệp, các cơ quan thụ hưởng NSNN.

Một số tố chức, cá nhân kinh doanh do hiếu biết không đầy đủ các qui định về quản lý, sử dụng hoá đơn nên đã vô tình có các hành vi vi phạm các qui định về quản lý, sử dụng hoá đơn trong mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ thu tiền.

* Nguyên nhân do cơ quan quản lý thu thuế

Sự thoái hoá của một sổ cán bộ thuế. Không hiếm trường họp chính cán bộ thuế gợi ý và tiếp tay cho một số cá nhân ăn cắp tiền thuế. Điều này khiến cho hình ảnh về cơ quan thuế dưới con mắt doanh nghiệp và dân chúng bị hoen ố.

Thiếu phương tiện kỹ thuật hỗ trợ. Không gian của hoạt động kinh doanh thường rộng lớn. Một doanh nghiệp ở Cà Mau có thể mua bán với các doanh nghiệp ở Lạng Sơn, Gia Lai hoặc Bình Phước, và cũng có thể xuất khẩu thông qua nhiều cửa khẩu. Vì vậy, thông tin về lô hàng của từng đợt xuất nhập khẩu phải được phối hợp kiểm tra trên phạm vi cả nước chứ không chỉ gói gọn tại một địa phương. Trong khi đó, thời gian xét hoàn thuế lại ngắn, nên cơ quan thuế không đủ sức thẩm tra toàn bộ chứng từ cũng như lai lịch của các bên có liên quan. Điều này dễ gây ra những sai sót không chủ ý và xảy ra những sai lệch khi hoàn thuế. Ngay công tác kiểm tra sau thông quan cũng khó mang lại kết quả tốt vì thiếu hệ thống điện toán toàn diện, thiếu máy kiểm tra chuyên dùng, camera, cân điển tử,…

* Nguyên nhân do chính sách thuế

Do luật doanh nghiệp quá thông thoáng, thủ tục thành lập doanh nghiệp đơn giản, không có sự kiểm tra kịp thời sau đăng ký kinh doanh, chưa theo dõi được liên tục tình hình hoạt động của doanh nghiệp sau đăng ký. Do vậy, hàng ngàn doanh nghiệp không kinh doanh hoặc đã bỏ kinh doanh nhưng không được phát hiện kịp thời, trong khi cơ quan thuế không kiểm soát được hoá đơn của doanh nghiệp.

Quy định hiện hành, người nộp thuế không phải lập bảng kê hoá đơn bán hàng, bảng kê hóa đơn mua hàng. Do vậy, cơ quan thuế không có cơ sở để kiểm tra, đối chiếu việc sử dụng hoá đơn của người nộp thuế.

Theo quy định, đối với số hàng hoá bán lẻ cho khách hàng không lấy hoá đơn, cuối ngày đơn vị bán hàng phải lập một hoá đơn chung cho số hàng này và liên 2 (giao cho khách hàng) được lưu tại quyển. Nhiều doanh nghiệp đã không thực hiện quy định này và vẫn xé liên 2, gây thất lạc, mất. Đồng thời một số doanh nghiệp đã lợi dụng việc không phải giao liên 2 cho khách hàng để báo mất những liên 2 này và dùng để xuất hàng hoá, dịch vụ cho các đơn vị hoặc bán cho người khác sử dụng.

Hành vi in ấn, mua bán hoá đơn giả chưa được Bộ Luật hình sự xác định là tội phạm nên chưa răn đe, ngăn chặn được các hành vi vi phạm này (điều 164 Bộ luật hình sự chỉ qui định về “tội làm tem giả, vé giả, tội buôn bán tem giả, vé giả”).

Các cơ quan quản lý Nhà nước chưa xây dựng các hệ thống chỉ tiêu chí chuẩn về doanh nghiệp để áp dụng quản lý doanh nghiệp thông qua hệ thống máy tính; Nhà nước chưa có luật quy định bắt buộc các doanh nghiệp kết nối mạng máy tính của doanh nghiệp với các cơ quan quản lý Nhà nước trong đó có nội dung nhận, quản lý, sử dụng hoá đơn bán hàng; chưa qui định việc khai thác trên mạng về số liệu, thông tin về hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

Ngoài ra, sự yếu kém về mặt nhận thức của một bộ phận khá lớn công chúng và thói quen mua hàng lấy hoá đơn chưa hình thành. Có nhiều trường hợp được quy tội gian lận thuế không do chủ ý của cá nhân kinh doanh mà do hiểu không đúng các quy định của thuế, về phía người tiêu dùng, bản thân họ tiếp tay một cách vô ý cho doanh nghiệp gian dối khi mua hàng không lấy hoá đơn. Hơn nữa họ cũng không có động cơ giữ hoá đơn. Vì vậy, nếu được người bán đề nghị không lấy hoá đơn để khỏi mất thêm 10% tiền thì họ đồng ý ngay.

20.3. Khuyến nghị, giải pháp

– Trong công tác quản lý hóa đơn, áp dụng với hiệu suất tối đa các thành tựu của công nghệ thông tin vào việc quản lý thu thuế GTGT, nối mạng vi tính trên toàn quốc nhằm thực hiện tốt việc kiểm tra đối chiếu hoá đơn, chứng từ đầu vào, đầu ra, xác định đúng số thuế GTGT kê khai khấu trừ, hoàn thuế; phát hiện kịp thời hoá đơn đã thông báo không còn giá trị sử dụng.

– Hoàn thiện quy trình quản lý thu thuế GTGT theo hướng đơn giản, khoa học, hiệu quả. Rà soát lại các sơ hở trong hoàn thuế GTGT dễ đưa đến hiện tượng bòn rút tiền của Nhà nước.

– Nâng cao trình độ nghiệp vụ, đạo đức nghề nghiệp của cán bộ thu thuế. Khen thưởng thích đáng, kỷ luật nghiêm minh trong công tác hành thu và chấp hành luật thuế.

– Cần phối họp chặt chẽ với các cơ quan hữu quan trong công tác quản lý thu thuế, đăc biệt là sự kết nối giữa 3 cơ quan Sở Kế hoạch và Đầu tư, Công an và Cơ quan thuế phải được triển khai triệt để, cung cấp kịp thời các thông tin chính xác về doanh nghiệp, thân nhân của doanh nghiệp trong quá trình thành lập cũng như trong hoạt động kinh doanh.

– Cần sớm sửa đổi Bộ luật hình sự theo hướng tăng mức hình phạt đối với tội danh trốn thuế hoặc giả mạo chứng từ để chiếm đoạt tiền ngân sách nhà nước, bổ sung một số chế tài xử lý hình sự còn thiếu đối với các tội danh mới phát sinh, nhất là tội mua bán hóa đơn, in hóa đơn giả. Việc gia tăng mức nộp phạt nhằm tăng cường tính cưỡng chế và góp phần răn đe và nâng cao ý thức chấp hành chế độ quản lý sử dụng hóa đơn. Quy định xử phạt không nên chỉ dừng lại ở các đối tượng trực tiếp vi phạm mà phải qui định xử phạt cả những đối tượng có liên quan đến hành vi vi phạm. Ngoài ra, Bộ tài chính cần tiến hành nghiên cứu mở rộng đối tượng và hành vi xử phạt, đảm bảo khung xử phạt phải bao quát tất cả các đối tượng, hành vi vi phạm. Trong giai đoạn hiện nay, việc mở rộng đối tượng và hành vi xử phạt là cần thiết nhằm chấn chỉnh tình hình quản lý, sử dụng hóa đơn, gây áp lực để người dân tích cực tìm hiểu chế độ quản lý, sử dụng hóa đơn, nâng cao ý thức tự giác chấp hành pháp luật và thói quen sử dụng hóa đơn trong cộng đồng.

– Phải tôn trọng thuộc tính trung lập của hệ thống thuế hiện đại, tức là hạn chế tối đa các quy định miễn giảm, khấu trừ làm xói mòn những mục tiêu cốt lõi của thuế, dễ gây nên tình trạng trốn, lậu thuế.

– Phải tôn trọng tính ổn định tương đối của hệ thống thuế, tránh sự thay đối quá nhanh và nhiều làm cho các nhà quản lý thuế và người nộp thuế rơi vào tình trạng lúng túng trong thi hành, gây nên sự hoài nghi của các nhà đầu tư, làm phương hại đến lợi ích của người nộp thuế, tăng trưởng kinh tế và lợi ích của quốc gia.

– Cơ quan Thuế phải tiến hành phân loại tổ chức, cá nhân sử dụng hoá đơn để có biện pháp quản lý thích hợp, theo hướng: giảm bớt thủ tục về phát hành, quản lý hoá đơn đối với các tố chức, cá nhân chấp hành tốt. Các tố chức, cá nhân vi phạm; tố chức, cá nhân mới thành lập thì thủ tục mua hoá đơn và biện pháp quản lý cần phải chặt chẽ hơn.

– Tăng cường kiểm tra, phối hợp chặt chẽ với các ngành, các cấp để quản lý hoá đơn, quản lý thuế, chống thất thu cho Ngân sách Nhà nước, đảm bảo công bằng trong việc thực hiện nghĩa vụ nộp thuế cho NSNN. Tăng cường kiểm tra khu vực hành chính, sự nghiệp thụ hưởng Ngân sách Nhà nước để ngăn chặn, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm về sử dụng hoá đơn trong thanh toán, quyết toán tài chính.

– Trong công tác quản lý, thực hiện tốt công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật về thuế, thường xuyên và đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra về thuế, đẩy mạnh triển khai ứng dụng công nghệ thông tin vào hầu hết các khâu quản lý thuế, tăng cường công tác quản lý hóa đơn nhằm ngăn chặn các hành vi vi phạm qui định về quản lý, sử dụng hóa đơn và ngày càng nâng cao quyền hạn, trách nhiệm và hiệu lực của bộ máy quản lý thuế…

– Việc thanh toán qua ngân hàng và tin học hoá công tác tài chính – kế toán của doanh nghiệp có thế được xem là một trong những điều kiện bắt buộc khi thực hiện tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ.

– Ngành thuế phải thiết lập được hệ thống thông tin đến tận các doanh nghiệp đến các ban ngành – quận – huyện, để có thông tin kịp thời về các giao dịch của doanh nghiệp. Từ đó, có thế hạn chế được tối đa tình trạng gian lận thuế.

– Hoàn thiện Luật doanh nghiệp theo hướng thông thoáng nhưng chặt chẽ, cụ thể: Phải xác định nhân thân của những người xin giấy phép thành lập doanh nghiệp. Phải quy định điều kiện của người điều hành doanh nghiệp (về mặt văn hoá, pháp luật, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, đạo đức nghề nghiệp). Phải xây dựng những định chế để giám sát việc tạo vốn và sử dụng vốn của doanh nghiệp, đặc biệt là số vốn họ đăng ký.

– Vấn đề có tính quyết định nhất là phải có cuộc cải cách lớn về cơ chế quản lý tiền tệ. Bắt buộc tất cả các quan hệ mua bán, trao đổi hàng hóa, dịch vụ phải thanh toán bằng chuyển khoản qua ngân hàng.

– Áp dụng thống nhất một phuơng pháp tính thuế GTGT là phương pháp khấu trừ. Các cơ sở kinh doanh thuộc diện nộp thuế GTGT bắt buộc phải thực hiện nghiêm chỉnh chế độ kế toán, hóa đơn, chứng từ.

– Bộ giáo dục và đào tạo cần sớm đưa giáo dục pháp luật thuế vào chương trình giáo dục phổ thông để xây dựng ý thức tuân thủ pháp luật thuế cho học sinh, sinh viên khi còn ngồi trên ghế nhà trường. Xây dựng kênh truyền hình giáo dục đặc biệt vừa để hướng dẫn tuyên truyền giáo dục pháp luật thuế cho toàn xã hội, vừa đảm bảo tính minh bạch của hệ thống thuế. Kêu gọi toàn xã hội tham gia cuộc chiến chống gian lận hóa đơn, xây dựng đường dây nóng tố cáo tội phạm về hoá đơn.

– Hiện nay thu nhập của người dân đã phải chịu một lần thuế là Thuế thu nhập cá nhân, khi đi mua hàng người dân lại tiếp tục phải gánh thêm thuế GTGT, vậy là việc thuế đánh chồng lên thuế. Tại sao cơ quan quản lý thuế không thực hiện việc khấu trừ thuế GTGT cho người tiêu dùng. Điều này vừa đảm bảo việc thuế không đánh chồng lên thuế vừa là một cách thiết thực khuyến khích người dân lấy hoá đơn khi mua hàng. Hơn nữa, việc không lấy hoá đơn khi mua hàng sẽ tác động trực tiếp vào túi tiền của người dân như thế thì không có lý gì người dân khi đi mua hàng lại không lấy hoá đơn và chúng ta sẽ giải quyết được các doanh nghiệp kinh doanh hàng hoá không xuất hoá đơn. Vì vậy, Quốc hội cần soạn thảo, ban hành luật thuế thu nhập cá nhân với giải pháp thu thuế theo từng hộ gia đình và cho phép loại trừ khỏi thu nhập chịu thuế những sinh hoạt phí gia đình căn cứ theo hóa đơn mua hàng hóa, dịch vụ của người tiêu dùng. Thực hiện được điều này sẽ buộc người tiêu dùng vì lợi ích cá nhân phải yêu cầu người bán lập hóa đơn mỗi lần mua hàng hóa, dịch vụ tránh thất thu thuế cho Nhà nước và hạn chế triệt đế hiện tượng tặng, cho, bán hoá đơn như hiện nay.

– Đặt ra các quyền lợi cho các tố chức, cá nhân chấp hành tốt chế độ quản lý, sử dụng hóa đơn. Cụ thế là người mua hàng hóa, dịch vụ khi nhận hóa đơn sẽ được hưởng các quyền lợi như: tham dự bốc thăm xố số trúng thưởng, bảo hành sản phấm, xác nhận tài sản, đăng ký sở hữu tài sản, kê khai chi phí . . .Tổng cục thuế và Bộ tài chính cần nhanh chóng xây dựng phương án để triển khai, thực hiện qui định về khen thưởng đối với người tiêu dùng, trong đó cần qui định cụ thể về cách thức trúng thưởng (cào, bốc thăm hoặc lấy theo kết quả xố số kiến thiết), số tiền trúng thưởng, cơ chế tạo lập và sử dụng quỹ trao thưởng ngành thuế, về phía những doanh nghiệp có thành tích xuất sắc trong việc thực hiện nghĩa vụ nộp thuế và tuân thủ nghiêm chỉnh chế độ quản lý, sử dụng hóa đơn, chứng từ phải chính sách động viên khen thưởng về quyền lợi vật chất, tinh thần cụ thể để tôn vinh họ. Chính những quyền lợi về vật chất, tinh thần đó sẽ là động lực rất lớn để toàn xã hội nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật về quản lý, sử dụng hóa đơn, chứng từ và tăng cường hiệu quả cho cuộc chiến chống gian lận hóa đơn hiện nay.

 TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Bộ Tài chính (2014), Thông tư số 39/2014/TT-BTC ngày 31/03/2014 hướng dẫn quy định vể quản lý hóa đơn, Hà Nội.

2. Bộ Tài chính (2011), Thông tư số 32/2011/TT-BTC ngày 14/03/2011 về khởi tạo hóa đơn điện tử, Hà Nội.

3. Bộ Tài chính (2014), Thông tư số 119/2014/TT-BTC ngày 25/08/2014 sửa đổi bổ sung mốt số điều của thông tư về thuế trong đó có thông tư số 39/2014/TT-BTC, Hà Nội.

4. Bộ Tài chính (2014), Thông tư số 26/2015/TT-BTC ngày 27/02/2015 sửa đổi bổ sung mốt số điều của thông tư về thuế trong đó có thông tư số 39/2014/TT-BTC, Hà Nội.

5. Bộ Tài chính (2015), Văn bản hợp nhất số 17/VBHN-BTC ngày 17/06/2015 của 3 thông tư 39/2014/TT-BTC, 119/2014/TT-BTC và 26/2015/TT-BTC, Hà Nội.

6. Bộ Tài chính (2014), Thông tư số 10/2014/TT-BTC ngày 17/01/2014 hướng dẫn xử phạt vi phạm hành chính về hóa đơn, Hà Nội.

7. Báo Chính phủ online (2016), Quý 1/2016: Tăng thu hơn 1.600 tỷ đồng qua thanh tra thuế, Báo Chính phủ online < http://baochinhphu.vn/Kinh-te/Quy-12016-Tang-thu-hon-1600-ty-dong-qua-thanh-tra-thue/251433.vgp> [ngày truy cập 06/05/2016]

9. Chính phủ (2010), Nghị định số 51/2010/NĐ-CP ngày 14/05/2010 của Chính phủ quy định về hoá đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, Hà Nội.

10. Chính phủ (2014), Nghị định số 04/2014/NĐ-CP ngày 17/01/2014 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 51/2010/NĐ-CP ngày 14/05/2010 của Chính phủ, Hà Nội.

11. Châu Lan – Hoàng Vĩnh (2015), Tăng cường phối hợp để hạn chế doanh nghiệp mang hóa đơn bỏ trốn, Báo Nghệ An online <http://www.baonghean.vn/kinh-te/201511/tang-cuong-phoi-hop-de-han-che-doanh-nghiep-mang-hoa-don-bo-tron-2641376/> [ngày truy cập 06/05/2016]

12. Đỗ Vinh (2016), Cục Thuế Hà Nội xử lý truy thu, truy hoàn và phạt gần 2.500 tỷ đồng, Thời báo Tài chính online < http://thoibaotaichinhvietnam.vn/pages/thue-voi-cuoc-song/2016-01-17/cuc-thue-ha-noi-xu-ly-truy-thu-truy-hoan-va-phat-gan-2500-ty-dong-27948.aspx> [ngày truy cập 06/05/2016]

13. Nhật Minh (2016), Thu ngân sách từ dầu thô quý I/2016 chỉ bằng 42% cùng kỳ 2015, Thời báo Tài chính online < http://thoibaotaichinhvietnam.vn/pages/thue-voi-cuoc-song/2016-03-31/thu-ngan-sach-tu-dau-tho-quy-i-2016-chi-bang-42-cung-ky-2015-30212.aspx> [ngày truy cập 06/05/2016]

14. Tổng cục Thuế (2015), Quyết định số 1403/QĐ-TCT ngày 28/7/2015 về quy trình kiểm tra hóa đơn, Hà Nội. 


[1] Khoản 1. Điều 3, Nghị định 89/2002/NĐ-CP ngày 07/11/2002.

[2] Khoản 1, điều 3, Nghị định 51/2010/NĐ-CP ngày 14/5/2010.

Bản in

 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *