Chuyên đề 2: XU HƯỚNG ĐIỀU CHỈNH CHÍNH SÁCH KINH TẾ – TÀI CHÍNH CÁC NƯỚC 2014-2015 VÀ VIỆT NAM

Chuyên đề 2: XU HƯỚNG ĐIỀU CHỈNH CHÍNH SÁCH KINH TẾ – TÀI CHÍNH

CÁC NƯỚC 2014-2015 VÀ VIỆT NAM

 ThS. Nguyễn Thị Hải Thu

Viện Chiến lược và chính sách tài chính

2.1. Tình hình kinh tế Thế giới 2014 – 2015

2.1.1. Tăng trưởng kinh tế

Năm 2014-2015, kinh tế toàn cầu tiếp tục xu hướng phục hồi nhưng với tốc độ không đồng đều giữa các nước/khu vực. Một số nền kinh tế phát triển (Anh, Mỹ) tăng trưởng tốt và là động lực cho tăng trưởng toàn cầu; khu vực Châu Âu bắt đầu có dấu hiệu phục hồi nhẹ song vẫn phải đối mặt với những thách thức về nợ công và lạm phát thấp. Trong khi đó, Trung Quốc có xu hướng tăng trưởng chậm lại. Các nước ASEAN tăng trưởng khá ổn định. Theo IMF (tháng 4/2015) nhận định rủi ro đối với tăng trưởng toàn cầu đã giảm so với năm 2014 và dự báo GDP toàn cầu đạt 3,5% và 3,8% trong năm 2015, 2016 nhờ vào sự phục hồi kinh tế của Mỹ và các nền kinh tế phát triển, giá dầu ở mức thấp. Mặc dù vậy, mức tăng trưởng này thấp hơn so với dự báo trong tháng 10 của IMF (2015: 3,8%). Nguyên nhân khiến IMF điều chỉnh giảm tốc độ tăng trưởng toàn cầu là do triển vọng tăng trưởng yếu đi tại các nền kinh tế mới nổi. Cụ thể:

Tại khu vực đồng Euro, tăng trưởng có xu hướng chậm lại trong nửa đầu năm 2014[1]. Tuy nhiên, nền kinh tế đã có những tín hiệu khởi sắc kể trong quý IV năm 2014 và quý I năm 2015 do các yếu tố: (i) Giá dầu giảm sẽ kích thích tăng trưởng ở các nước Liên minh châu Âu (EU); (ii) Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) chính thức áp dụng gói nới lỏng định lượng QE làm đồng EUR mất giá mạnh so với USD giúp tăng cường năng lực cạnh tranh của hàng hóa và doanh nghiệp, là động lực để cải thiện xuất khẩu; (iii) Ủy ban châu Âu (EC) giới thiệu kế hoạch đầu tư sẽ tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế của khu vực. Kết quả là, GDP của khu vực đồng Euro đạt 0,9% trong năm 2014. Dựa trên những xu hướng tích cực của nền kinh tế, OECD (18/3) dự báo tăng trưởng của toàn khu vực Châu Âu sẽ tăng tốc ở mức 1,7% trong năm 2015 và 2,1% trong năm 2016. Mặc dù được hỗ trợ từ giá dầu thấp, chính sách tiền tệ nới lỏng hơn và đồng Euro giảm giá, song triển vọng đầu tư tư nhân yếu (ngoại trừ Ireland, Tây Ban Nha, Đức) sẽ tác động đến tăng trưởng của toàn khu vực nên IMF (tháng 4/2015) dự báo GDP của khu vực chỉ tăng 1,5% và 1,6% trong năm 2015 và 2016. OPEC (tháng 4/2015) cũng cho rằng tốc độ phục hồi kinh tế của khu vực Eurozone không đồng đều giữa các nền kinh tế và còn quá sớm để cho rằng xu hướng phục hồi sẽ diễn ra trên toàn khu vực trong khi đó Hy lạp vẫn tiếp tục gặp khó khăn. Đánh giá về triển vọng kinh tế khu vực đồng Euro trong năm 2015, OPEC dự báo tăng trưởng sẽ đạt mức 1,3%. Tuy nhiên, khu vực đồng Euro vẫn phải đối mặt với những thách thức từ các năm trước như tình trạng thất nghiệp, nợ công cao và tình trạng lạm phát thấp.

Nhật Bản tăng trưởng âm trong năm 2014 với mức tăng trưởng -0,1% do ảnh hưởng của việc tăng thuế tiêu dùng trong 4/2014. Mặc dù Nhật đã ngừng tăng các khoản chi tiêu cho cơ sở hạ tầng song cầu nội địa ở khu vực tư nhân vẫn không tăng trưởng tốt như dự kiến. Nhằm ứng phó với suy thoái kinh tế, Nhật đã thực hiện nới lỏng tiền tệ cũng như tạm ngừng viêc tăng thuế tiêu dùng lần thứ hai. Bên cạnh đó, giá dầu thế giới giảm, đồng yên yếu, tiền lương tăng cũng là những yếu tố sẽ hỗ trợ cho tăng trưởng kinh tế của Nhật năm 2015-2016. IMF dự báo tăng trưởng của Nhật sẽ đạt 1% trong năm 2015 và 1,2% trong năm 2016.

Các nước mới nổi (BRICS), có xu hướng tăng trưởng chậm lại (Nga[2], Trung Quốc[3], Bra-xin[4]) với tỷ lệ thất nghiệp tăng cao, chỉ số sản xuất giảm, cầu tiều dùng giảm mạnh. Tuy nhiên, khác với các nước BRICS, kinh tế Ấn Độ tăng trưởng tốt với mức tăng 7,2% trong năm 2014, cao hơn so với mức tăng 6,9% của năm 2013. Do Ấn Độ đã chuyển trọng tâm sang quản lý kinh tế vĩ mô tốt, điều hành minh bạch, phát triển toàn diện, kiềm chế lạm phát, chiến dịch “Sản xuất tại Ấn Độ” và tăng cường ổn định Tài chính nên IMF (tháng 4/2015), đã tăng dự báo tăng trưởng của nước này, với mức tăng trưởng có thể đạt 7,0% trong năm tài khóa 2014-2015 và sau đó sẽ đạt 7,5% trong năm tài khóa 2015-2016.

Tại các nước ASEAN-5, tốc độ tăng trưởng kinh tế chỉ đạt 4,6% trong năm 2014, thấp hơn mức tăng 5,2% của năm 2013 song dự báo sẽ lấy được đà tăng trưởng trong năm 2015 (5,2%), tuy nhiên mức độ tăng trưởng không đồng đều giữa các nước. Trong đó, tăng trưởng của Ma-lai-xi-a sẽ bị ảnh hưởng bởi chính sách thuế GST áp dụng kể từ tháng 4/2015 sẽ tác động đến chi tiêu hộ gia đình, xuất khẩu chậm hơn[5] và đầu tư vào ngành công nghiệp dầu khí cũng chỉ ở mức vừa phải nên GDP dự kiến sẽ đạt mức 5,2%. Kinh tế Thái lan sẽ tăng tốc trong năm 2015 nhờ sự cải thiện của xuất khẩu và kinh tế toàn cầu phục hồi, du lich và đầu tư, chi tiêu chính phủ tăng và giá dầu và bất ổn định chính trị giảm. Ngược lại, Phi-líp-pin và In-đô-nê-xi-a, số liệu về niềm tin kinh doanh, tỷ lệ thất nghiệp và chỉ số PMI[6] cho thấy các nền kinh tế này sẽ có thể tăng trưởng chậm hơn trong năm 2015.

Điểm nổi bật trong tăng trưởng toàn cầu năm 2014-2015 là sự phục hồi khả quan của kinh tế Mỹ với mức tăng trưởng 2,4% trong năm 2014 và dự kiến đạt 3,1% trong năm 2015, là hệ quả của chi tiêu dùng cá nhân[7], xuất khẩu, đầu tư vào nhà xưởng, chi tiêu của chính quyền các bang và liên bang đều tăng và nhập khẩu giảm. Trong quý I năm 2015,một số tín hiệu cho thấy nền kinh tế đang tiếp tục hồi phục, biểu hiện ở niềm tin tiêu dùng tăng, tỷ lệ thất nghiệp giảm, chỉ số MPI tăng cho thấy các hoạt động sản xuất của Mỹ đang tiếp tục được mở rộng. Theo số liệu ước tính của WB (9/3/2015), GDP trong quí I sẽ tăng khoảng 2,5-3%[8]. OECD (18/3/2015) dự báo Mỹ sẽ tăng trưởng 3,1% trong năm 2015 và 3% trong năm 2016.

Sự phục hồi của kinh tế của Mỹ cùng với tốc độ tăng trưởng GDP khá ổn định của các nước ASEAN được đánh giá là các yếu tố tích cực đến kinh tế thế giới trong năm 2015. Bên cạnh đó, trao đổi thương mại quốc tế tăng (dù vẫn ở mức yếu), giá dầu giảm mạnh và tiếp tục duy trì ở mức thấp sẽ thúc đẩy tăng trưởng toàn cầu[9]. Tuy nhiên, theo IMF (tháng 4/2015), kinh tế thế giới năm 2015 vẫn chịu tác động từ hậu quả từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 và khủng hoảng của Eurozone – lĩnh vực ngân hàng suy yếu; nợ công, doanh nghiệp và hộ giao đình tăng cao – vẫn ảnh hưởng tới tình hình chi tiêu và tăng trưởng của một số quốc gia. Ngoài ra, các quốc gia phát triển và mới nổi tăng trưởng trì trệ một phần do tình trạng già hóa dân số nhanh, đầu tư suy yếu và sản lượng sản xuất sụt giảm. 2 yếu tố lớn nhất ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế toàn cầu trong giai đoạn 2015 – 2016 vẫn là đà lao dốc của giá dầu và những biến động trong tỷ giá[10]. Do vậy, đa phần các tổ chức đều nhận định tăng trưởng kinh tế toàn cầu sẽ phục hồi trong năm 2015 tuy nhiên không như kỳ vọng nên đã điều chỉnh hạ dự báo tăng trưởng toàn cầu năm 2015 với mức tăng từ 3,5-4% trong năm 2015.

2.1.2. Lạm phát thế giới có xu hướng giảm rõ rệt tại nhiều quốc gia và khu vực do ảnh hưởng của giá hàng hóa và giá dầu thế giới ở mức thấp.

Năm 2014 và quý 1/2015, lạm phát thế giới có xu hướng giảm rõ rệt do tốc độ tăng trưởng kinh tế chậm lại, giá hàng hóa và giá dầu thế giới cùng với cầu yếu tại các nền kinh tế lớn (Nhật, EU).Một số quốc gia đã đạt được được mục tiêu kiềm chế lạm phát năm 2014 trong đó có Ấn Độ và các nước ASEAN-5. Tuy nhiên tại một số nước như Nga, Brazil lạm phát có xu hướng tăng cao trong năm 2014 do đồng nội tệ mất giá[11]. Trong năm 2014, lạm phát tại các nước phát triển đạt mức 1,4% tuy nhiên IMF (tháng 4/2015) dự báo chỉ đạt mức tăng 0,4% trong năm 2014. Ngược lại, lạm phát tại các nước mới nổi và đang phát triển đạt 5,1% trong năm 2014 và dự kiến sẽ tăng lên 5,4% trong năm 2015. Như vậy, các nước phát triển sẽ tiếp tục đối mặt với hiện tượng giảm phát trong năm 2015, là yếu tố tác động tiêu cực đến tăng trưởng toàn cầu.

Giá cả hàng hóa thế giới giảm là nguyên nhân chính khiến lạm phát toàn cầu tăng trưởng ở mức thấp. Tính hết đến tháng 3/2015 bình quân chỉ số giá cả hàng hóa quý I/2015 của IMF[12] giảm 35,40% (đạt 117,7 điểm) so với cùng kỳ 2014(182,2 điểm). Nguyên nhân chính là do nhu cầu yếu, nguồn cung dồi dào. Trong đó, chỉ số mặt hàng năng lượng và phi năng lượng giảm tương ứng 45,88%và 14,77% so với cùng kỳ. Theo Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp (FAO), chỉ số giá lương thực bình quân 3 tháng đầu năm, giảm 12,4% so với cùng kỳ năm 2014.

 Ngoài ra, giá dầu tiếp tục giảm cùng với sự tăng giá của đồng USD, nguồn cung dư thừa chủ yếu ở các ngành công nghiệp và nhu cầu chậm lại ở một số quốc gia đã tác động lên giá cả hàng hóa thế giới. Trong năm 2014, giá dầucó nhiều biến động(tăng trong 6 tháng đầu năm song giảm mạnh trong 6 tháng cuối năm) song nhìn chung có xu hướng giảm [13]do: (i)nguồn cung tăng không chỉ tại Mỹ mà còn trên toàn thế giới; (ii) nhu cầu về dầu giảm trên các thị trường chủ lực do tốc độ tăng trưởng kinh tế chậm lại; (iii) các nước xuất khẩu dầu chủ động cắt giảm giá để giữ thị phần; (iv) yếu tố chính trị cũng là một trong những nguyên nhân khiến giá dầu giảm[14].

Bước sang năm 2015, dầu vẫn tiếp tục xu hướng giảm giá dù tăng trong tháng 2/2015 và tháng 4/2015[15]. Giá dầu giảm chủ yếu do nguồn cung dư thừa, nhu cầu tiêu thụ dầu giảm, dự báo tồn trữ của Mỹ tiếp tục cao kỷ lục và tăng trưởng toàn cầu yếu[16]. Theo dự báo của IMF (tháng 4/2015), giá dầu có thể đạt mức giá trung bình khoảng 58,10 USD/thùng trong năm 2015; 65,70 USD/thùng trong năm 2016 và 69,20 USD/thùng vào năm 2017. Trong khi đó, các tổ chức quốc tế khác cũng dự báo dầu thô sẽ đạt khoảng 50-52 USD/thùng trong năm 2015. Giá cả hàng hóa thế giới và giá dầu giảm là yếu tố tác động lớn đến lạm phát và tăng trưởng kinh tế toàn cầu.

Theo tính toán của IMF (tháng 4/2015) giá dầu thấp có thể thúc đẩy GDP toàn cầu tăng thêm khoảng 0,5 – 0,75%, trong đó có đóng góp chủ yếu của các nền kinh tế vốn phụ thuộc vào nhập khẩu năng lượng. Giá cả hàng hóa và giá dầu thấp được các tổ chức quốc tế đánh giá là yếu tố hỗ trợ tăng trưởng kinh tế toàn cầu trong năm 2015. Ngoài ra, giá dầu giảm sẽ dẫn tới sự dịch chuyển quy mô thu nhập thực từ các nước đang phát triển xuất khẩu dầu sang các nước đang phát triển nhập khẩu dầu. Tuy nhiên, mặt trái của giá hàng hóa thế giới và giá dầu thấp có thể sẽ dẫn đến nguy cơ gia tăng giảm phát tại Khu vực các nước sử dụng đồng tiền chung châu Âu (Eurozone) và Nhật Bản, đồng thời đem đến áp lực đối với các nước xuất khẩu dầu mỏ do nguồn thu từ dầu giảm tác động mạnh tới ngân sách. Ngoài ra, lạm phát thấp[17] còn tạo thêm không gian để các nước nới lỏng tiền tệ nhằm kích thích tăng trưởng. Tuy nhiên, việc nới lỏng tiền tệ trên diện rộng mà không có sự phối hợp giữa các nước có thể sẽ làm gia tăng biến động tỷ giá cũng như bất ổn cho hệ thống tài chính toàn cầu.

2.2. Xu hướng điều chỉnh chính sách tài khóa – tiền tệ

2.2.1. Về chính sách tài khóa

Tăng trưởng kinh tế có xu hướng chậm lại nên một số quốc gia đã thực hiện chính sách tài khóa nới lỏng nhằm hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm mới thông qua thực hiện các gói kích thích, giảm gánh nặng thuế cho doanh nghiệp và cá nhân, cụ thể như:

Nhật bản: Ngày 28/12/2014, Nhật Bản thông qua gói kích thích kinh tế trị giá 3,5 nghìn tỷ yên (tương đương với khoảng 29 tỷ USD) nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế[18]. Nhật Bản cũng hoãn thời hạn tăng thuế tiêu dùng từ 8% lên 10% đến tháng 4/2017, dự kiến giảm thuế TNDN từ mức 35% xuống còn 30% vào năm 2015.Ngoài ra, ngày 9/4/2015 Quốc hội Nhật Bản đã thông qua gói ngân sách cho năm 2015 với quy mô lên đến 96.340 tỷ Yên (tương đương 803,45 tỷ USD) nhằm phục hồi kinh tế Nhật bản cũng như theo đuổi mục tiêu phục hồi nền tài chính[19].

Thái Lan: Ngày 1/10/2014, Thái Lan cũng đã thông qua các biện pháp để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trị giá 364 tỷ Bath, tương đương 11,2 tỷ USD để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cho giai đoạn cuối năm 2014[20]. Ngoài ra, nhằm củng cố thị trường chứng khoán và thu hút tiết kiệm dài hạn của người dân, Bộ Tài chính Thái Lan sẽ xem xét dự thảo về Chứng khoán và Hối đoái trong thời gian tới, trong đó đặc biệt là sáng kiến kéo dài ưu đãi thuế đối với Quỹ chứng khoán dài hạn (long term equity fund – LTF)[21];

Trung Quốc tiếp tục hỗ trợ cho các doanh nghiệp có quy mô nhỏ thông qua miễn, giảm thuế TNDN, thuế GTGT. Nâng ngưỡng thu nhập khởi điểm chịu thuế TNDN từ 60.000 NDT lên 100.000 NDT và giảm 50% thuế TNDN cho doanh nghiệp quy mô nhỏ từ 1/1/2014 đến hết năm 2016[22]; miễn thuế doanh thu và thuế GTGT đối với doanh nghiệp nhỏ và hộ kinh doanh cá thể có thu nhập từ 20.000 – 30.000 NDT từ tháng 10/2014 đến hết 2015; tăng cường chi cho khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo. Ngoài ra, để cải thiện môi trường hoạt động của các doanh nghiệp quặng sắt, thúc đẩy điều chỉnh cơ cấu, hỗ trợ sự phát triển tích hợp nhằm giảm gánh năng đối với các mỏ khai thác, từ ngày 1/5/2015, Trung Quốc sẽ cắt giảm thuế quặng sắt từ mức 50% xuống mức 40%[23].

Tại Ấn Độ: Với mục đích thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và nâng cao triển vọng đầu tư, Chính phủ Ấn Độ dự kiến sẽ cắt giảm thuế thu nhập doanh nghiệp từ 30% xuống 25% trong vòng bốn năm tới[24]. Mức thuế thu nhập doanh nghiệp 30% là cao hơn so với các nước trong khu vực khiến cho ngành công nghiệp kém cạnh tranh. Bên cạnh đó, Chính phủ sẽ xem xét thực hiện một số miễn giảm và ưu tiên khác[25]. Kế hoạch này cũng nhằm tăng thêm việc làm mới cho người dân.

Phi-líp-pin đã thông qua (26/11/2014) dự luật SB 2347, theo đó sẽ miễn giảm thuế TNCN đối với các khoản lương tháng thứ 13 và tăng trần mức miễn giảm các khoản tiền thưởng từ mức 30.000 peso lên 82.000 peso từ năm 2015. Theo đánh giá của các chuyên gia thì mức giảm trừ này sẽ làm giảm tiền thuế là 42 tỷ Peso/năm qua nên chính sách này sẽ tạo điều kiện cho tăng mức thu nhập cho những người thu nhập thấp trong thời gian tới.[26]

Tại EU (Quỹ đầu tư chiến lược – EFSI): nhằm đối phó với tình trạng khó khăn chính của các nền kinh tế ở Châu Âu là sụt giảm trong đầu tư, Chủ tịch Ủy ban châu Âu (EC) Jean-Claude Juncker đã đề xuất thành lập quỹ Đầu tư chiến lược với nguồn vốn ban đầu là 21 tỷ Euro và dự định kêu gọi đầu tư lên đến 315 tỷ Euro từ năm 2014 và ngày 10/3/2015 đã được các Bộ trưởng Tài chính của 28 thành viên Liên minh châu Âu nhất trí triển khai[27].

Trong khi đó, trước bối cảnh giá dầu thô trên thị trường thế giới giảm, tác động mạnh đến kinh tế và ngân sách các nước. Một số nước đã điều chỉnh chính sách tài khóa theo hướng cắt giảm trợ giá xăng dầu, tăng thuế TTĐB nhằm cải thiện nguồn thu trong khi một số nước giảm thuế đánh vào hoạt động khai thác hoặc xuất khẩu dầu và năng lượng nhằm giảm gánh nặng cho các tập đoàn năng lượng. Cụ thể:

 Trợ giá xăng dầu của Malaysia chiếm khoảng 7,34 tỷ USD mỗi năm khiến cho Malaysia trở thành một trong những nước có thâm hụt ngân sách chính phủ/GDP cao nhất trong khu vực. Để tiết kiệm cho ngân sách quốc gia và giảm thâm hụt ngân sách từ 1/12/2014 Malaysia bỏ trợ cấp dầu và nhiên liệu giúp chính phủ tiết kiệm được khoảng 20 tỷ Ringgit (5,7 tỷ USD) hàng năm. Indonesia cũng đã tăng giá xăng dầu hơn 30% nhằm cải thiện ngân sách và cán cân thanh toán vãng lai[28].

Trung Quốc: Sau 5 năm không điều chỉnh thuế TTĐB[29], nhằm bù đắp những thâm hụt ngân sách do giá dầu thô giảm trên thị trường quốc tế, cắt giảm khí thải và thúc đẩy nền kinh tế xanh Trung Quốc đã tăng thuế TTĐB đối với mặt hàng xăng dầu lên gấp 1,5 lần từ tháng 11/2014 đến 1/2015 (từ mức 1NDT/lít lên 1,52 NDT/lít). Nguồn thu từ việc tăng thuế sẽ được sử dụng trong kiểm soát ô nhiễm và chống biến đổi khí hậu cũng như khuyến khích các loại xe năng lượng mới để thúc đẩy tiết kiệm năng lượng. Ngoài ra, Trung Quốc thực hiện chiến lược tăng dự trữ dầu[30], số liệu từ công ty tư vấn năng lượng Energy Aspects có trụ sở ở London dự báo, nỗ lực của Trung Quốc nhằm tăng dự trữ dầu chiến lược có thể đẩy mức nhập khẩu dầu của nước này tăng thêm 700.000 thùng/ngày vào năm 2015.

Ấn Độ Chính Phủ Ấn độ đã điều chỉnh thuế TTĐB đối với xăng, dầu ba lần liên tiếp, hiện nay thuế TTĐB đã tăng gấp 3 lần đối với xăng (tăng từ mức 2,35 rupee/lít lên 8,1 rupee/lít) và hơn 2 lần đối với diesel (tăng từ mức 3,75 rupee/lít lên 8,75 rupee/lít). Trong lần tăng thuế TTĐB lần thứ ba vào ngày 02/1/2015, chính phủ Ấn độ hướng đến mục tiêu tài trợ cho cơ sở hạ tầng, đặc biệt là 15.000 km đường giao thông, bên cạnh đó cũng nhằm tạo việc làm trong lĩnh vực xây dựng cũng như thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế Ấn độ.

Ngược lại, các nước sản xuất và/hoặc xuất khẩu dầu đã giảm thuế đánh vào hoạt động khai thác hoặc xuất khẩu dầu và năng lượng nhằm giảm gánh nặng cho các tập đoàn năng lượng. Tại Nga: tháng 11/2014, Hạ Viện Nga đã phê chuẩn những thay đổi trong thuế xuất khẩu dầu theo đó thuế xuất khẩu đối với các mặt hàng dầu thô sẽ giảm từ 59 rúp/tấn năm 2014 sẽ giảm xuống còn 42 rúp/tấn năm 2015; 36 rúp/tấn năm 2016 và 30 rúp/tấn năm 2017. Đồng thời, thực hiện cắt giảm lương[31] công chức 10% từ 1/5/2015, cắt giảm số lượng công chức từ 5-20%. Đây là các biện pháp khẩn cấp nhất có thể thực hiện trong thời gian sớm nhất nhằm cứu vãn tình hình kinh tế nước nga, đặc biệt là thu ngân sách trước sự tác động của giá dầu thế giới và các biện pháp trừng phạt của một số nước Phương Tây.

Tình hình nợ công và thâm hụt ngân sách của một số quốc gia tại khu vực châu Âu chưa được kiểm soát triệt để, trong khi đó xuất hiện quốc gia có tỷ lệ nợ công cao mới (Úc, Canada). Do vậy, xu hướng điều hành chính sách tài khóa thắt chặt vẫn diễn ra ở nhiều nước, cụ thể:

Úc: Bộ trưởng Tài chính Australia, Joe Hockey dự kiến thâm hụt ngân sách của nước này sẽ vọt lên 40,4 tỷ AUD (33,2 tỷ USD) trong tài khóa 2014 (kết thúc vào 30/6/2015), do giá hàng hóa giảm mạnh[32]. Để cải cách ngân sách, Chính phủ Úc dự kiến sẽ cắt giảm hơn 175 cơ quan trong năm tài khóa 2014-2015 để hạn chế quy mô và chi tiêu Chính phủ và thực hiện kỷ luật tài khóa mạnh mẽ.

Tại Italia: điều hành chính sách tài khóa theo hướng thắt chặt nhằm tiết kiệm ngân sách quốc gia và sử dụng nguồn vốn có hiệu quả, ngày 31/3/2015 Chính phủ đã công bố kế hoạch cắt giảm chi tiêu với nhiều hạng mục khác nhau, trong đó chủ yếu liên quan đến cắt giảm các chi phí cho hệ thống chính trị và hệ thống hành chính công. Theo đó, Việc giảm chi tiêu ước tính lên tới 700 triệu Euro và một nửa trong số đó có thể cắt giảm ngay, hướng vào việc tái cơ cấu hệ thống các cơ quan cấp chính phủ có mặt tại các vùng và cấp tỉnh nhằm tránh chồng chéo trong quản lý, đồng thời nâng hiệu quả phục vụ công dân. Ngân sách của chính quyền các địa phương cũng sẽ được xem xét lại theo hướng giảm biên chế, cắt giảm các khoản chi không cần thiết và minh bạch hóa các hoạt động thu chi của chính quyền[33]. Ngày 7/4/2015, thủ tướng Italia thông báo chủ trương sẽ cắt giảm khoảng 10 tỷ Euro trong năm 2015 để nhằm tránh tăng thuế VAT từ 22% lên 24% trong năm 2016 và sau đó tăng lên mức 26,5% vào năm 2018. Mục tiêu của kế hoạch này là giảm thâm hụt ngân sách của Ý dưới mức 3% GDP trong năm nay[34].

Tại Pháp: Nhằm đảm bảo cam kết đưa mức thâm hụt ngân sách giai đoạn 2015 – 2018 xuống dưới mức 3% GDP, Ngày 15/4 Bộ Tài chính và Bộ Ngân sách Pháp dự định cắt giảm chi tiêu của năm 2015 trong ngân sách công là 4 tỷ Euro và năm 2016 là 5 tỷ Euro[35].

2.2.2. Về chính sách tiền tệ

Cắt giảm lãi suất điều hành là xu hướng chính của các NHTW: Tính đến thời điểm 18/04/2015 đã có khoảng 25 ngân hàng giảm lãi suất điều hành trong đó có Ca-na-đa, Nga, Trung Quốc, Hàn Quốc, Ấn Độ, Đan Mạch, Romani, Thụy Điển, Indonesia, Thái Lan… Quyết định được các NHTW đưa ra trong bối cảnh giá dầu giảm làm giảm tỷ lệ lạm phát và gây ra rủi ro giảm phát ở một số quốc gia (khu vực EU, Ấn Độ… ). Cụ thể:

Tại Ba Lan: Ngày 08/10/2014, Ba Lan đã hạ lãi suất điều hành từ 2,5% xuống mức 2% trong bối cảnh sản lượng công nghiệp và chỉ số giá tiêu dùng giảm sâu (lạm phát gần bằng không), hệ quả của từ lệnh cấm nhập khẩu của Nga đối với một số mặt hàng lương thực của Ba Lan; sự phục hồi yếu của khu vực EU và xung đột Ucraina.

Chile: Trong năm 2014, Chi Lê đã 6 điều chỉnh lãi suất điều hành[36], mỗi lần giảm 0,25 điểm phần trăm, bất chấp lạm phát đang ở cao hơn mức lạm phát mục tiêu. Nguyên nhân do tăng trưởng nền kinh tế đã giảm xuống mức chưa từng thấy trong hơn bốn năm, đầu tư ngày càng giảm, đặc biệt là trong lĩnh vực khai thác mỏ và cầu tiêu dùng yếu nên Chi Lê cắt giảm lãi suất nhằm vực dậy nền kinh tế. Hiện nay, lãi suất của Chi lê là 3%.

Trung Quốc: Trong bối cảnh kinh tế có dấu hiệu tăng trưởng chậm lại trong quý III/2014. Tăng trưởng sản xuất và thị trường bất động sản, các trụ cột của tăng trưởng đang suy yếu, làm hạn chế các hoạt động mở rộng đầu tư cũng như làm giảm các nhu cầu khác như nội thất, xi măng, thép, NHTW Trung Quốc (PBOC) đã 02 lần giảm lãi suất cho vay kỳ hạn 1 năm từ 6% xuống còn 5,6% trong tháng 11/2014, và 5,35% trong tháng 2/2015. Động thái giảm lãi suất sẽ khiến cho các doanh nghiệp lớn hưởng lợi nhiều hơn, đặc biệt là các doanh nghiệp nhà nước vay từ ngân hàng. Hầu hết các doanh nghiệp tư nhân của Trung quốc không thể tiếp cận khoản vay từ ngân hàng của nhà nước mà dựa chủ yếu vào các thị trường tín dụng ngầm.[37]

Thực hiện và triển khai gói nới lỏng định lượng: Tại EU, năm 2014 ECB đã hai lần điều chỉnh giảm lãi suất từ mức 0,25% xuống 0,15% và hiện nay là 0,05%. Ngoài ra, ECB còn tiến hành gói kích thích kinh tế thông qua chương trình mua tài sản, chủ yếu là các sản phẩm nợ của các ngân hàng nhằm tăng tính thanh khoản cho hệ thống cũng như hỗ trợ các ngân hàng phục hồi cho vay trở lại. Chương trình QE này sẽ cho phép NHTW mua lại trái phiếu chính phủ từ các ngân hàng thương mại cũng như các tổ chức tài chính khác nhằm đẩy mạnh lượng cung tiền với mục đích thúc đẩy tín dụng trong nền kinh tế. Ngày 9/3/2015, Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) bắt đầu triển khai gói nới lỏng định lượng (QE) trị giá 1.100 tỷ euro (1.200 tỷ USD), nhằm thúc đẩy tăng trưởng và tránh tình trạng giảm phát trong Khu vực sử dụng đồng tiền chung châu Âu (Eurozone).

Nhật Bản: Để ngăn chặn suy giảm kinh tế, Nhật đã tiếp tục duy trì các mức lãi suất thấp 0-0,1%) nhằm đạt lạm phát mục tiêu 2%. NHTW Nhật Bản (công bố ngày 11/03/2014) thông qua công cụ thị trường mở tiếp tục giữ nguyên quy mô mức tăng lượng tiền cơ sở mỗi năm 60-70 nghìn tỷ Yên (tương đương 584,5 tỷ đôla) thông qua việc mua trái phiếu chính phủ. Tuy nhiên, sau khi tăng trưởng quý 3 tiếp tục âm, Nhật bản đã nâng quy mô của gói QE này lên 80 nghìn tỷ Yên (công bố ngày 31/10).

Bên cạnh đó là xu hướng nới lỏng dự trữ bắt buộc và nới lỏng các quy định vay nhằm mục đích cung ứng thêm vốn cho nền kinh tế: Nhằm tăng cường năng lực quản trị rủi ro của các NHTM hướng tới tái cơ cấu nền kinh tế, Trung Quốc nới lỏng quy định đối với các khoản vay cho mục đích mua bán sáp nhập (M&A) của doanh nghiệp theo đó các NHTM được phép: kéo dài thời hạn cho vay tối đa từ 5 lên 7 năm, mức cho vay tối đa được nâng từ 50% lên 60% giá trị thương vụ M&A[38].Trong năm 2015, NHTW Trung Quốc đã 02 lần hạ tỷ lệ dự trữ bắt buộc xuống còn 19,5% trong tháng 2/2015 và tiếp tục hạ xuống 18,5% trong tháng 4/2015 (quyết định có hiệu lực từ 20/4/2015)[39] nhằm ứng phó với tốc độkinh tế tăng trưởng chậm lại do cầu thị trường bất động sản giảm, dư cung do công suất dư thừ của các nhà máy.

Trong khi đó, một số nước có mức tăng trưởng ổn định trở lại đã bắt đầu ngừng nới lỏng tiền tệ thông qua việc dừng gói QE3 (Mỹ) và nâng lãi suất nhằm kiểm soát lạm phát (Indonesia, Philippines, New Zealand, Colombia, …)[40] hoặc để giữ ổn định giá trị đồng tiền (Nga).

Tại Mỹ: gói QE3 đã chính thức kết thúc theo tuyên bố của FED và có hiệu lực từ 1/11/2014. Hiện nay, Mỹ vẫn giữ nguyên mức lãi suất điều hành ở mức 0,25% tuy nhiên lãi suất có thể sẽ tăng trong nửa cuối năm 2015 do nền kinh tế Mỹ đã tăng trưởng ổn định trở lại.Việc Mỹ chấm dứt QE sau một thời gian cắt giảm có lộ trình như dự báo đã không gây ra cú sốc cho thị trường tài chính quốc tế, lãi suất trái phiếu chính phủ có xu hướng tăng[41], kinh tế Mỹ tiếp tục có dấu hiệu phục hồi, đồng USD tiếp tục tăng giá so với hầu hết các đồng tiền, tỷ lệ lạm phát ổn định duy trì ở mức 1,8% trong tháng 3/2015 (gần mức lạm phát mục tiêu 2%), thất nghiệp ổn định.

Tại Indonesia: Sau quyết định tăng giá xăng dầu trong ngày 18/11, Indonesia đã quyết định tăng lãi suất chính sách từ mức 7,5% lên 7,75%, điều chỉnh lãi suất cho vay lên 8% nhằm kiềm chế lạm phát đang ở mức cao. Phi-líp-pin tăng lãi suất ngân hàng TW đối phó với lạm phát từ mức 3,5% lên mức 3,75%; Niu-Zi-Lân tiếp tục nâng lãi suất điều hành từ mức 3% lên mức 3,5% (có hiệu lực từ 23/07/2014); Co-lôm-bia tăng lãi suất từ mức 4% lên mức 4,25% (có hiệu lực từ 31/07/2014). Bra xin 07 lần tăng lãi suất từ mức 10,5% trong tháng 1/2014 lên mức 12,75% trong tháng 3/2015.

Tại Nga: NHTW liên tiếp 06 lần tăng lãi suất điều hành nhằm đối phó với đồng rúp mất giá từ mức 7% trong tháng 3/2014 lên mức 17% (có hiệu lực từ 15/12/2014). Ngoài ra, để hỗ trợ đồng rúp, Ngân hàng Trung ương Nga tuyên bố sẽ nới lỏng các quy định cho phép các ngân hàng thương mại tiếp cận dễ dàng hơn với nguồn dự trữ ngoại hối quốc gia; kiểm soát vốn phi chính thức. Ngân hàng TW Nga không ngoại trừ khả năng hạn chế biên độ giao dịch ngoại tệ. Sau tác động của NHTW đồng rup Nga đã bắt đầu có dấu hiệu hồi phục. Do đó, trong năm 2015 Nga đã giảm lãi suất 2 lầnxuống còn 15% trong tháng 1/2015 và 14% trong tháng 3/2015.

2.2.3. Tác động của việc điều chỉnh chính sách tài khóa – tiền tệ

Diễn biến kinh tế thế giới và việc áp dụng chính sách tài khóa – tiền tệ của các nước trong giai đoạn 2014-2015 đã tác động đa chiều đến kinh tế thế giới. Cụ thể.

Đối với tăng trưởng kinh tế: Chính sách tài khóa – tiền tệ nới lỏng sẽ kích thích tăng trưởng tín dụng, thúc đẩy sản xuất kinh doanh, đầu tư, tiêu dùng của người dân và doanh nghiệp, tạo thêm việc làm giúp các nước phục hồi tăng trưởng tích cực hơn (khu vực Eurozone, Nhật Bản). Sự phục hồi của các nền kinh tế lớn sẽ tạo động lực cho kinh tế toàn cầu tăng trưởng trong mạnh mẽ hơn trong năm 2016.

Đối với thị trường chứng khoán: các thị trường lớn đều tăng trưởng tốt trong năm 2014 -2015 một phần do tình hình kinh tế có những tín hiệu tích cực hơn so với năm 2013; điều tiện tệ nới lỏng (lãi suất thấp, nới lỏng định lượng) được thực hiện ở diện rộng tại nhiều quốc gia trên thế giới đã tác động tích cực đến thị trường chứng khoán toàn cầu. Hầu hết các thị trường chứng khoán tại Mỹ, Châu Âu, Trung Quốc đều tăng trưởng tốt trong giai đoạn 2014-2015[42].

Đối với biến động tỷ giávà thương mại toàn cầu: đồng USD lên giá mạnh[43] tạo điều kiện cho hoạt động xuất của các nước vào thị trường Mỹ trở nên thuận lợi hơn do đồng nội tệ giảm giá so với đồng USD. Tuy nhiên, hàng hóa xuất khẩu của Mỹ lại trở nên đắt đỏ hơn, làm giảm năng lực cạnh tranh của hàng hóa Mỹ, tác động tiêu cực đến sự phục hồi của nền kinh tế. Ngược lại, đối với Nhật và EU, đồng tiền của các nước này giảm giá so với đồng USD một mặt sẽ khuyến khích xuất khẩu, góp phần cải thiện tăng trưởng kinh tế mặt khác do giá cả hàng nhập khẩu tăng lên. Xét về góc độ tác động của tỷ giá đến lạm phát, đồng Yên Nhật và đồng Euro giảm giá có thể làm cho mặt bằng giá cả trong nước tăng lên (do giá cả hàng hóa nhập khẩu tăng) điều này là có lợi đối với nền kinh tế Nhật, EU khi lạm phát đang ở mức thấp, dưới 2%. Ngược lại, đối với Mỹ, đồng tiền USD lên giá khiến lại khiến cho lạm phát có xu hướng giảm và do đó Fed có thể sẽ phải kéo dài thời gian nâng lãi suất[44]. Trên thực tế, do phải cân nhắc mức độ và lộ trình tăng lãi suất của Mỹ để tránh làm cho đồng USD tăng giá quá mức gây bất lợi cho nền kinh tế Mỹ nên Mỹ đã hoãn không tăng lãi suất trong tháng 6/2015 và dự kiến sẽ tăng vào cuối năm 2015 phụ thuộc vào diễn biến của nền kinh tế.

Tuy nhiên, việc điều chỉnh chính sách tài khóa – tiền tệ, đặc biệt là chính sách tiền tệ nới lỏng trên diện rộng sẽ làm tăng nguy cơ xảy ra xung đột tiền tệ giữa các nước. Theo đó, chính sách lãi suất thấp và đồng nội tệ yếu tiềm ẩn nguy cơ gây ra cuộc chạy đua hạ giá đồng nội tệ, tác động tiêu cực đến thị trường tài chính – tiền tệ toàn cầu, làm gia tăng bất ổn hệ thống tài chính toàn cầu nếu không có sự phối hợp thống nhất giữa các nước vì lãi suất giảm sẽ kích thích nhu cầu vay mượn, chi tiêu của người dân và doanh nghiệp, làm tăng nguy cơ hình thành bong bóng tín dụng. Khi điều kiện tiền tệ nới lỏng trên diện rộng và kéo dài, khả năng làm phát cao quay trở lại là điều có thể xảy ra. Ngoài ra, đồng USD lên giá mạnh sẽ làm cho gánh nặng nợ bằng đồng USD của nhiều nước gia tăng, làm gia tăng áp lực lên ngân sách và ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế.

OECD (tháng 3/2015) cũng cho rằng gia dầu thấp và chính sách tiền tệ nới lỏng trên diện rộng sẽ tác động tích cực đến kinh tế toàn cầu. Tuy nhiên OECD cũng cảnh báo nếu dựa quá nhiều vào chính sách tiền tệ trong khi đầu tư kinh doanh chưa phục hồi có thể đem lại rủi ro tài chính. Và để đảm bảo sự bền vững của tài chính công cũng như tăng trưởng trong dài hạn, cần có sự phối hợp giữa việc thực hiện chính sách tài khóa cân bằng hơn, cải cách tài chính, cải cách cơ cấu với chính sách tiền tệ. OPEC (tháng 4/2015) nhận định các yếu tố khiến cho tăng trưởng chậm lại tại các nền kinh tế chủ chốt đã trở nên rõ nét trong thời gian gần đây. Mặc dù vậy, các yếu tố này chỉ mang tính chất tạm thời nên OPEC vẫn giữ dự báo tăng trưởng toàn cầu năm 2015 ở mức 3,4%.

2.3. Tác động của diễn biến kinh tế thế giới đến Việt Nam

Diễn biến kinh tế toàn cầu cũng như các phản ứng chính sách tài khóa – tiền tệ của các nước có thể sẽ tác động nền kinh tế Việt nam qua các kênh sau:

Thứ nhất, đối với hoạt động xuất nhập khẩu: Hiện nay, xuất khẩu của Việt nam vào 4 thị trường (ASEAN, Mỹ, Nhật Bản và EU) chiếm khoảng 60% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Do đó xu hướng phục hồi kinh tế của các thị trường Mỹ và ASEAN là cơ hội để Việt Nam đẩy mạnh xuất khẩu. Ngược lại, sự phục hồi chậm tại các khu vực EU, Nhật Bản có thể khiến kim ngạch xuất khẩu vào thị trường này trở nên khó khăn hơn. Ngoài ra, đồng VND lên giá (do neo theo đồng USD) nên hoạt động sản xuất – kinh doanh gặp nhiều thách thức, hàng hóa của Việt nam trở nên đắt đỏ hơn so với các nước có cơ cấu hàng hóa tương đồng (Trung Quốc, Thái lan…), làm giảm khả năng cạnh của hàng xuất khẩu.

Mặc dù vậy, đây cũng là cơ hội để các doanh nghiệp tăng cường hoạt động chuyển giao công nghệ, nhập khẩu máy móc, thiết bị công nghệ cao từ các nước với giá thành thấp để hiện đại hóa sản xuất trong nước, nâng cao chất lượng tăng trưởng và khả năng cạnh tranh của nền kinh tế.

Thứ hai, đối với thị trường tài chính – tiền tệ: Tỷ giá VND/USD chịu nhiều áp lực tăng giá khi đồng USD liên tục tăng cao so với các ngoại tệ khác. Tình trạng găm giữ ngoại tệ chờ biến động tỷ giá tăng cao khiến cung đồng USD giảm trong khi nhu cầu đồng USD vẫn ở mức cao do nhập khẩu tăng lên[45]. Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa cả nước 4 tháng đầu năm 2015 đạt hơn 103,2 tỷ USD. Trong đó, kim ngạch xuất khẩu là 50,1 tỷ USD, kim ngạch nhập khẩu là 53,1 tỷ USD, nâng thâm hụt cán cân thương mại lên 3 tỷ USD.

Thứ ba, giá dầu thế giới giảm có tác động đa chiều đối với nền kinh tế Việt Nam: (i) đối với hoạt động sản xuất trong nước, giá xăng, dầu giảm (do giá dầu thế giới giảm) có tác động tích cực đến chi phí sản xuất của nhiều ngành, đặc biệt là ngành vận tải và những lĩnh vực mà xăng, dầu chiếm tỷ trọng lớn trong chi phí đầu vào (20-30%) như: sản xuất phân bón, nhựa, khai thác tài nguyên, luyện kim, đánh bắt thủy sản…. (ii) Nguồn thu từ dầu chiếm tỷ trọng tương đối trong tổng thu NSNN (giai đoạn 2011-2014, thu từ dầu chiếm khoảng 15,5% tổng thu NSNN,) nên giá dầu giảm sẽ tác động tới nguồn thu ngân sách cũng như cân đối ngân sách.

Phản ứng chính sách của Việt nam

 Trước những diễn biến kinh tế toàn cầu và khả năng tác động đến Việt nam, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số số 01/2015/NQ-CP về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu chỉ đạo điều hành thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và dự toán NSNN năm 2015. Theo đó, chính sách kinh tế vĩ mô của Việt nam cũng được điều chỉnh theo hướng thận trọng, linh hoạt nhằm đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô và thúc đẩy tăng trưởng và được xác định rõ tại . Cụ thể:

Đối với chính sách tài khóa: Thực hiện chính sách tài khóa chặt chẽ, quản lý và sử dụng tiết kiệm, hiệu quả, tăng cường kỷ cương, kỷ luật tài chính. Kiểm soát chặt chẽ bội chi ngân sách, cơ cấu lại ngân sách đảm bảo tỷ lệ hợp lý giữa chi đầu tư và chi thường xuyên, chi trả nợ. Thực hiện tiết kiệm triệt để các khoản chi thường xuyên, chi cho bộ máy quản lý nhà nước và đơn vị sự nghiệp công. Quản lý chặt chẽ nợ công, cơ cấu lại nợ công theo hướng kéo dài kỳ hạn, giảm chi phí vốn vay, đảm bảo nợ công trong giới hạn theo Nghị quyết của Quốc hội.

Đối với chính sách tiền tệ: tiếp tục thực hiện chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa nhằm chủ động kiểm soát lạm phát theo mục tiêu đề ra, bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và hỗ trợ phát triển thị trường tài chính, chứng khoán để tăng khả năng huy động nguồn vốn cho đầu tư phát triển. Điều hành lãi suất, tỉ giá một cách phù hợp, tăng dư nợ tín dụng phù hợp đồng thời với việc kiểm soát và nâng cao chất lượng tín dụng; chủ động thực hiện các giải pháp quản lý hiệu quả thị trường ngoại tệ và thị trường vàng, tiếp tục khắc phục tình trạng đô la hóa, vàng hóa trong nền kinh tế, tăng dự trữ ngoại hối nhà nước. Phối hợp với các bộ, cơ quan có biện pháp đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt; tăng cường thanh tra, giám sát hoạt động của các tổ chức tín dụng (TCTD), bảo đảm tuyệt đối an toàn hệ thống, xử lý vi phạm theo qui định của pháp luật. Chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan, địa phương tạo thuận lợi hơn cho các doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ gia đình tiếp cận với các nguồn vốn tín dụng để thúc đẩy sản xuất, kinh doanh có hiệu quả và đổi mới công nghệ. Đẩy nhanh tiến độ xử lý nợ xấu, phấn đấu đến cuối năm 2015 giảm tỉ lệ nợ xấu xuống dưới 3% gắn với tái cơ cấu các TCTD.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. IMF (4/2015) Uneven Growth: Short- and Long-Term Factors
  2. IMF (1/2015), “World Economic Outlook update”.
  3. Tổng hợp từIMF-Commodity Market Monthly.
  4. http://www.worldbank.org/
  5. http://www.oecd.org/
  6. OPEC: Monthly oil Report (4/2015)

 

 

 

 

 

 

 


[1]GDP đã giảm từ mức 0,3% trong quý I xuống còn 0,1% trong quý II và 0,2% trong quý III năm 2014 chủ yếu do sự suy giảm đầu tư, lạm phát và kỳ vọng lạm phát tiếp tục giảm.GDP cả năm 2014 đạt 0,9%

[2]Tại Nga, kinh tế vẫn tiếp tục xu hướng đi xuống, GDP năm 2014 chỉ đạt 0,6% thấp hơn so với mức tăng 1,6% của năm 2013 do: (i) lệnh trừng phạt của Mỹ và Châu Âu đã ảnh hưởng tới đầu tư nước ngoài và xuất khẩu của Nga. (ii) Căng thẳng địa chính trị tại Ukraina khiến thương mại và cầu tiêu dùng trong nước giảm. Quý 1/2015, triển vọng kinh tế có tốt hơn so với 2014 song nền kinh tế vẫn chịu nhiều áp lực suy giảm do căng thẳng địa chính trị, niềm tin suy giảm.Chỉ số PMI sản xuất luôn ở mức thấp hơn 50 điểm (tháng 1: 47,6 điểm; tháng 2: 49,7 điểm và tháng 3 là 48,1 điểm).Ngoài ra, tỷ lệ thất nghiệp đãtăng từ mức 5,5% trong tháng 1/2015 lên mức 5,8% trong tháng 2/2015cho thấy nền kinh tế đang bị thu hẹp lại.

[3]Tại Trung Quốc: Tăng trưởng kinh tế năm 2014 chỉ đạt mức 7,4% do đầu tư bất động sản giảm, tăng trưởng tín dụng giảm và sản xuất công nghiệp cũng giảm. Kinh tế Trung Quốc tiếp tục chậm lại trong quý 1/2015, chỉ đạt 7%. Chỉ số PMI sản xuất ở mức thấp (49,9 điểm trong tháng 2/2015 và 50,1 điểm trong tháng 3/2015) trong khi FDI tháng 2/2015 chỉ tăng 0,9% so với mức 29,4% của tháng 1/2015. Trước những tín hiệu của nền kinh tế, ngày 5/3/2015, Chính phủ Trung Quốc đã hạ chỉ tiêu tăng trưởng GDP năm 2015 từ mức 7,5% xuống còn 7%. Trong khi đó, IMF (tháng 4/2015) dự báo tăng trưởng GDP của Trung Quốc chỉ đạt 6,8% trong năm 2015.

[4]Có nguy cơ tăng trưởng âm trong năm 2015 do các chính sách tài chính và tiền tệ được thắt chặt hơn và đầu tư của tập đoàn dầu khí quốc gia Petrobras giảm sút. Hoạt động kinh tế tiếp tục yếu kém, tình trạng mất cân bằng kinh tế vĩ mô gia tăng, nguồn thu suy giảm và các khoản nợ chính phủ gia tăng đang gây sức ép lớn về tài chính đối với Brazil

[5]NHTW Ma – lai – xi – a dự báo xuất khẩu trong năm 2015 sẽ giảm từ mức tăng trưởng 6,4% trong năm 2014 xuống còn 1,5% trong năm 2015 do mức giá cả hàng hóa thế giới giảm

[6]lệ thất nghiệp tại Phi-líp-pin đã tăng từ mức 6,0% trong quý IV/2014 lên mức 6,6% trong quý I/2015, niềm tin kinh doanh giảm từ mức 48,3 điểm trong quý IV/2014 xuống còn 45,2 điểm trong quý I/2015. Tại In-đô-nê-xi-a, trong quý I/2015, thặng dư thương mại giảm 0,7% (738,3 triệu USD), niềm tin tiêu dùng không thay đổi, vẫn đạt 120,2 điểm trong tháng 2/2015, chỉ số PMI đã giảm từ mức 48,5 điểm trong tháng 1/2015 xuống còn 47,5 điểm trong tháng 2/2015

[7] Tiêu dùng là động lực chính của nền kinh tế Mỹ được duy trì do số việc làm mới tạo ra ổnđinh, thu nhập tăng và giá dầu giảm, niềm tin tiêu dùng cải thiện.

[8]http://www.worldbank.org/content/dam/Worldbank/document/eca/russia/Russia-Monthly-Economic-Developments-March-2015.pdf

[9] Tuy nhiên, giá dầu giảm có tác động tiêu cực đến các nước xuất khẩu dầu.

[10]Trước đó, WB (tháng 1/2015) nhận định, kinh tế thế giới 2015 sẽ chịu tác động từ các yếu tố sau: (i) hoạt động thương mại toàn cầu vẫn yếu; (ii) khả năng biến động của thị trường tài chính khi lãi suất tại các nền kinh tế lớn tăng theo những mốc thời gian khác nhau; (iii) mức độ ảnh hưởng của việc giá dầu giảm đến nguồn thu của các nước sản xuất dầu mỏ; (iv) rủi ro của việc giá cả không tăng kéo dài hoặc giảm phát tại trong khu vực đồng Euro hay Nhật Bản; (v) tăng trưởng tiềm năng thấp ở các nước đang phát triển, Trung Quốc tăng trưởng yếu; (vi) căng thẳng địa chính trị gia tăng bởi căng thẳng và tranh chấp quân sự, biên giới, lãnh hải và chính trị song phương hoặc đa phương trong khu vực trên khắp thế giới.

[11]Tỷ lệ lạm phát của Nga tăng cao do đồng rúp trượt giá, vì tác động của các biện pháp trừng phạt mà Mỹ và phương Tây áp đặt với Nga

[12] IMF- Quarterly Review of Commodity Markets (4/2015): https://www.imf.org/external/np/res/commod/pdf/monthly/040115.pdf

[13]Giá dầu lao dốc sau phiên họp ngày 27/11/2014 tại Vienna (Áo), sau khi 12 nước thành viên OPEC không đạt được thỏa thuận cắt giảm nguồn cung, vẫn giữ nguyên mục tiêu sản lượng 30 triệu thùng/ngày.

[14]Do giá dầu 6 tháng đầu năm 2014 tăng nên tính trung bình 12 tháng (tính đến 24/12/2014), giá dầu thô WTI giao ngayvẫn ở mức cao,đạt 93,38USD/thùng; thấp hơn 4,6% so với bìnhquân năm 2013 (97,9 USD/thùng). Giá dầu thô Brent giao ngay bình quân 11 tháng đạt 99,16 USD/thùng thấp hơn 8,7% so với bình quân cả năm 2013 (108,6 USD/thùng). 

[15]Trong tháng 2/2015 giá dầu phục hồi vượt ngưỡng 50USD/thùng chủ yếu do số lượng giàn khoan giảm mạnh tại Mỹ nhưng sau đó lại có xu hướng giảm trong tháng 3 do sức chứa tới hạn của các bể chứa tại Mỹ, căng thẳng chính trị khu vực Trung Đông và lo ngại nguồn cung sẽ trở nên dư thừa hơn trong bối cảnh chờ đợi kết quả cuộc họp của nhóm P5+1 (gồm Mỹ, Anh, Pháp, Nga, Trung Quốc cùng với Đức) để đạt được một thỏa thuận khung với Iran. giá dầu tăng trong tháng 4 do dự đoán nhu cầu toàn cầu sẽ tăng và do có dấu hiệu cho thấy sản lượng dầu Mỹ và tồn kho đạt đỉnh và sắp suy giảm.

[16]So với quý IV/2014, giá dầu thô ngọt nhẹ WTI bình quân trong 4 tháng đạt 49,83 USD/thùng giảm 32,89% so với giá bình quân quý IV/2014 (74,26 USD/thùng). Cùng với xu hướng đó giá dầu thô Brent đạt 55,01USD/thùng giảm 28,85% so với mức bình quân quý IV/2014 (77,32 USD/thùng). Tuy nhiên, nếu so với mức giá vào thời điểm cuối năm 2014[16], giá dầu WTI 4 tháng đầu năm chỉ giảm khoảng 6,77% và giá dầu Brent giảm khoảng 0,47% .

[17]Lạm phát thấp có thể sẽ tác động tiêu cực đến các hoạt động đầu tư vì người tiêu dùng và các công ty có thể sẽ hạn chế chi tiêu trong khi chờ đợi giá cả thị trường tiếp tục giảm xuống. Bản chất lạm phát thấp giai đoạn 2014-2015 là do tổng cầu chưa được cải thiện do đó xu hướng lạm phát thấp trong thời gian tới sẽ tác động đến phục hồi vững chắc của tăng trưởng toàn cầu.

[18]Trong đó, 1,8 nghìn tỷ yên chi cho các biện pháp hỗ trợ kích thích tiêu dùng, trợ cấp nhiên liệu cho các gia đình có thu nhập thấp và hỗ trợ kinh phí cho các doanh nghiệp nhỏ tại các khu vực phục hồi kinh tế. 1,7 nghìn tỷ còn lại sẽ được dùng vào các hoạt động phóng chống thiên tai, tái thiết đất nước sau thảm họa động đất sóng thần vào từ hồi tháng 3/2011; trong đó có các dự án khôi phục nhà ở thân thiện với môi trường sinh thái.

[19] Bao gồm: (1) thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, (2) giảm bớt nợ công, (3) khắc phục tình trạng giảm phát kéo dài, (4) giải quyết các vấn đề an sinh xã hội, nhất là khắc phục tình trạng già hóa dân số như hiện nay.Trong tổng số 96.340 tỷ yên ngân sách năm 2015, 23.450 tỷ yên sẽ được phân bổ cho các chi phí nợ quốc gia. Các chi phí an sinh xã hội, bao gồm chi trả lương hưu và chăm sóc y tế, sẽ tăng 3,3% so với tài khóa 2014 lên mức kỷ lục 31.530 tỷ yên trong tài khóa 2015. Chi ngân sách quốc phòng sẽ tăng 2% lên mức kỷ lục 4.980 tỷ yên, tăng trong năm thứ 3 liên tiếp, trong bối cảnh Thủ tướng Abe hướng đến tăng cường khả năng tuần tra và quốc phòng

[20] Trong đó 40 tỷ Bath sẽ được thêm vào khoản chi hỗ trợ người nông dân trong việc sản xuất lúa gạo. Số tiền còn lại sẽ dùng cho chi tiêu đầu tư trong giai đoạn 2014 – 2015 và chi cho cơ sở hạ tầng.

[21]http://www.bangkokpost.com/business/news/445254/ltf-renewal-gets-go-ahead-with-tweaks

[22] http://www.chinatax.gov.cn/2013/n2925/n2953/c721596/content.html

[23]http://www.reuters.com/article/2015/04/09/china-ironore-tax-idUSL4N0X60FO20150409http://www.dailytimes.com.pk/business/10-Apr-2015/china-to-cut-resource-tax-on-iron-ore-as-prices-slump

[24]http://www.tax-news.com/news/India_To_Cut_Corporate_Tax_Rate_By_Five_Percent____67425.html

[25] Gồm có: thuế tài sản sẽ được bãi bỏ và thay vào đó là một khoản phí 2% đối với những người có thu nhập hàng năm trên 161.000 USD; giảm thuế hải quan cơ bản đối với 22 mặt hàng; ưu đãi đối với đầu tư sản xuất như trợ cấp đầu tư bổ sung (15%) và trợ cấp thêm khấu hao (35%) đối với các đơn vị sản xuất từ 1/4/2015 tới 31/3/2020 (theo chỉ định ở những khu vực được quy định).

[26]http://www.gmanetwork.com/news/story/389868/economy/finance/senate-oks-p82k-tax-exemption-on-13th-month-pay-bonuses

[27] Các nước Pháp, Đức, Tây Ban sẽ tài trợ cho các dự án của nước họ thông qua ngân hàng phát triển quốc gia. Ngày 10/3, Ý cam kết đóng góp 8 tỷ Euro cho các dự án của quốc gia này thông qua ngân hàng quốc gia. Mục tiêu của quỹ là phục hồi nền kinh tế mà không làm tăng nợ. Ban điều hành bao gồm Ủy ban châu Âu (EC) và Ngân hàng đầu tư châu Âu (EIB) sẽ giám sát quỹ, còn một ủy ban đầu tư gồm có tám thành viên sẽ có nhiệm vụ lựa chọn dự án. Tuy nhiên, tiêu chí lựa chọn dự án thì vẫn chưa được xác định. Một danh sách các dự án đã được gửi lên vào tháng 12/2014, bao gồm: kế hoạch cải tạo nhà ở ở Hà Lan, xây dựng một hải cảng mới ở Ai-len và đường sắt nhanh kết nối giữa Estonia, Latvia, Litva và Ba Lan với chi phí 4,5 tỷ Euro. Ngoài ra, danh sách dự án đề cập đến việc xây dựng các trạm nạp năng lượng cho xe chạy bằng pin nhiên liệu hyđrô ở Đức, mở rộng đường truyền băng thông rộng ở Tây Ban Nha và gia tăng hiệu quả sử dụng năng lượng của các công trình công cộng ở Pháp.

[28]Trợ giá xăng dầu của Indonesia lên đến 23 tỷ USD là nguyên nhân chủ yếu khiến thâm  hụt ngân sách  đồng thời cũng phản ánh tình trạng nước này nhập khẩu quá nhiều nhiên liệu.Động thái tăng giá xăng dầu dự kiến sẽ tiết kiệm cho ngân sách khoảng 11,5 tỷ USD, tương đương 9% chi tiêu ngân sách chính phủ.

[29]Kể từ ngày 1/1/2009, Năm 2009, thuế tiêu thụ đặc biệt đối với xăng được điều chỉnh từ 0,2 NDT/lít lên 1NDT/lít và thuế tiêu thụ đặc biệt đối với dầu hỏa tăng từ 0,1NDT/lít  lên 0,8 NDT/lít.

[30]Trung Quốc hồi tháng 11/2014 cũng đã tuyên bố sẽ mở thêm kho dự trữ dầu chiến lược. Từ năm 2009, Trung Quốc đã có xu hướng tăng mua dầu thô vào khi giá giảm xuống mức được cho là rẻ.

[31]http://rapsinews.com/news/20150306/273285756.htmlhttp://www.bbc.com/news/world-europe-31657633

[32]giá quặng sắt giảm hơn 30%, tiền lương tăng thấp hơn dự kiến và nguồn thu thuế ước giảm 31,6 tỷ USD là những yếu tố dẫn tới việc điều chỉnh lại mức dự kiến thâm hụt ngân sách

[33]http://www.vietnamplus.vn/chinh-phu-italy-cong-bo-ke-hoach-cat-giam-chi-tieu-cu-the/315320.vnp

[34]http://www.vatlive.com/european-news/italian-2016-vat-rise-unlikely/

[35]http://dangcongsan.vn/cpv/Modules/News/NewsDetail.aspx?co_id=30127&cn_id=709028

[36] Các tháng điều chỉnh là tháng 2, tháng 3, tháng 7, tháng 8, tháng 9, tháng 10 

[37]http://www.reuters.com/article/2014/11/24/us-china-economy-policy-exclusive-idUSKCN0J803320141124

[38]http://www.cbrc.gov.cn/chinese/home/docDOC_ReadView/7DABC8D29C0148B6B35F0B4A7DA804EC.html

[39]http://www.reuters.com/article/2015/04/19/us-china-economy-rrr-idUSKBN0NA09X20150419

[40] Philippines tăng lãi suất chính sách từ mức 3,5% lên mức 3,75%; New Zealand nâng lãi suất chính sách từ mức 3% lên mức 3,5% (có hiệu lực từ 23/07); Colombia tăng lãi suất chính sách từ mức 4% lên mức 4,25% (có hiệu lực từ 31/07)

[41]http://www.bloomberg.com/markets/rates-bonds/government-bonds/us/

[42]Tại Mỹ: chỉ số S&P 500 tăng 11,39% trong năm 2014, đóng cửa phiên 31/12 ở mức 2.058,90. Chỉ số Dow Jones tăng 7,5% trong cả năm trong khi đó chỉ số Nasdaq tăng 13%.Tính chung 4 tháng đầu năm 2015[42], thị trường chứng khoán Mỹ vẫn có xu hướng đi lên với chỉ số DownJones tăng 0,65%; Chỉ số S&P 500 tăng 1,92% và Chỉ số Nasdaq 6,03%. Tại Châu Âu, chỉ số Euro Stoxx 50chốt ngày 21/4/2015 ở mức 3.719,38 điểm tăng 18,47 % so với ngày 02/01/2015. Chỉ sốFTSE 100 chốt ngày 21/4/2015 đạt 7.062,93 điểm, tăng 7,87 % so với ngày 02/01/2015. Tại khu vực châu Á: Chỉ số MSCI AC của khu vực châu Á Thái Bình Dương chốt ngày 21/04/2015 đạt 163,96 điểm, tăng 11,17 % so với ngày 02/04/2015, và tăng 18,81% so với ngày 02/01/2015.

[43]Tính trung bình trong quý I/2015 (đến hết ngày 17/03), so với đầu năm 2015,  tỷ giá EUR/USD giảm 13,13% hiện ở mức 1,05; GBP/USD giảm 5,16% hiện ở mức 1,47; USD/CNY tăng 0,71% hiện ở mức 6,24; AUD/USD giảm 6,34% hiện ở mức 0,76; USD/SGD tăng 4,7% hiện ở mức 1,38; USD/JPY tăng 1,51% hiện ở mức 121,41; USD/KRW tăng 3,12% hiện ở mức 1126,09.So với quý 1 năm 2014, đồng USD lên giá khoảng 20% so với đồng Euro, Yên Nhật và 10% so với đồng bảng Anh.

[44]http://www.nytimes.com/2015/01/06/upshot/what-a-stronger-dollar-means-for-the-economy.html?abt=0002&abg=1

[45]Tính chung trong tháng 4/2015 (tính đến ngày 20/4), tỷ giá trung bình của NHTM là 21.571 USD/VND tăng 0,5% so với tháng trước và tăng 1% so với cuối năm 2014

Bản in

 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *