Chuyên đề 2 TÌNH HÌNH KINH TẾ TÀI CHÍNH THẾ GIỚI NĂM 2016 VÀ DỰ BÁO NĂM 2017

Chuyên đề 2: TÌNH HÌNH KINH TẾ TÀI CHÍNH THẾ GIỚI NĂM 2016 VÀ DỰ BÁO NĂM 2017 

ThS. Nguyễn Thị Hải Thu, Viện Chiến lược và Chính sách Tài chính – Bộ Tài chính 

2.1. Bối cảnh thế giới

Thế giới 2016 tiếp tục đối mặt với nhiều thách thức và những yếu tố không ổn định tác động đến tốc độ tăng trưởng chung toàn cầu. Các nước phát triển có xu hướng tăng trưởng chậm lại do những thách thức từ nội tại nền kinh tế. Kinh tế Mỹ chưa có nhiều điểm sáng trong khi kinh tế khu vực Châu Âu phục hồi nhưng chưa vững chắc. Trung Quốc tiếp tục tăng trưởng chậm lại trong bối cảnh nước này thực hiện các chính sách nhằm đưa nền kinh tế đến trạng thái “cân bằng mới”[1].

Suy giảm tăng trưởng của Trung Quốc, tăng trưởng yếu tại các nước phát triển đã gia tăng áp lực đối với kinh tế thế giới bởi tổng cầu yếu vẫn là vấn đề chưa xử lý được kể từ sau khủng hoảng thế giới 2008. Năm 2016, không chỉ Trung Quốc mà nhiều nước đã tiến hành điều chỉnh mô hình phát triển kinh tế hướng đến tiêu dùng nội địa nhiều hơn nhằm giảm sự lệ thuộc vào cầu thế giới. Tăng trưởng thương mại toàn cầu vì vậy cũng giảm so với giai đoạn trước do tổng cầu yếu và chính sách bảo vệ của các ngành công nghiệp nội địa của các nước.

Tiến trình toàn cầu hóa đang có những điều chỉnh mạnh mẽ. Mặc dù quá trình hợp tác để phát triển ở cấp độ toàn cầu tiếp tục tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình khôi phục, cải cách và liên kết kinh tế quốc tế nhưng tiến trình này cũng chịu nhiều tác động từ những cuộc xung đột, khủng hoảng cục bộ, bất ổn chính trị ở các khu vực. Vòng đàm phán Đô-ha do Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) khởi xướng tháng 10-2001 không còn được quan tâm thúc đẩy trong khi đó ngày càng xuất hiện nhiều hơn những quan điểm, xu hướng phản toàn cầu hóa. Sự kiện Bre-xít (Anh rời Liên minh châu Âu) trong tháng 6/2016 có thể là hành động đầu tiên trong chuỗi các hành động bảo hộ và ly khai nhằm ngăn chặn quá trình di chuyển, giao lưu hàng hóa, lưu thông luồng vốn và sự tự do đi lại của con người. Trong khi những vấn đề về nợ công, vấn đề người nhập cư và bất ổn địa chính trị chưa thể giải quyết, sự kiện Bre-xít đã làm tăng thêm những thách thức đối với quá trình hợp tác kinh tế khu vực của liên minh Châu Âu.  Đối với thế giới, hiệu ứng Đô-mi-nô của Bre-xít có thể tác động khiến nhiều liên kết khu vực khác bị rạn nứt, tan vỡ, nhất là trong bối cảnh chủ nghĩa dân tộc cực đoan đang trỗi dậy mạnh mẽ. Hệ lụy này có thể đẩy thế giới vào một kỷ nguyên bất ổn định, gia tăng xung đột nguy hiểm.

Năm 2016, dù các nước lớn vẫn giữ vai trò chủ đạo, chi phối quan hệ quốc tế. nhưng xu hướng dân chủ hóa quan hệ quốc tế cũng không ngừng phát triển, các nước vừa và nhỏ vừa tham gia hội nhập liên kết vừa không ngừng đấu tranh cho một trật tự thế giới công bằng hơn, dựa trên sự tôn trọng luật pháp quốc tế và bình đẳng chủ quyền. Cộng đồng kinh tế ASEAN chính thức đi vào hoạt động[2]  cho thấy khu vực Châu Á – Thái Bình Dương ngày càng khẳng định vị trí và vai trò là một trung tâm kinh tế, chính trị quan trọng. Tuy nhiên khu vực Châu Á – Thái Bình Dương cũng chịu nhiều tác động từ xu hướng hợp tác cũng như quan điểm của Hoa Kỳ[3] và Trung Quốc trong quá trình xác lập ảnh hưởng của mình đến khu vực này.

Biến đổi khí hậu đang trở thành một trong những vấn đề phức tạp và đòi hỏi sự mở rộng hợp tác giữa các nước để giải quyết. Trong tháng 4/2016 đại diện của trên 170 nước đã nhất trí ký Thỏa thuận về chống biến đổi khí hậu toàn cầu (COP 21). Theo Thỏa thuận, các nước nhất trí kiềm chế mức tăng nhiệt độ trên toàn cầu không quá 20C so với nhiệt độ của thời kỳ tiền cách mạng công nghiệp (vào khoảng năm 1850). Hàng năm[4], các nước phát triển sẽ huy động tối thiểu 100 tỷ USD để giúp các nước đang phát triển chuyển đổi sang sử dụng những nguồn năng lượng sạch và ứng phó với biến đổi khí hậu. Ký kết COP 21 được xem là thành công của hợp tác quốc tế trong cuộc chiến chống biến đổi khí hậu toàn cầu, sâu xa hơn là bảo vệ trái đất khỏi nguy cơ bị diệt vong bởi những nguyên nhân từ chính con người, do con người.

Tuy nhiên, tại nhiều nơi trên thế giới, tình trạng mâu thuẫn, xung đột quân sự, tranh chấp chủ quyền, khủng bố, chạy đua vũ trang vẫn diễn ra gay gắt, phức tạp: Nhiều mâu thuẫn, xung đột trong những năm trước đây vẫn tồn tại, chưa được giải quyết dứt điểm, tiếp tục đe dọa an ninh, ổn định khu vực và thế giới như vấn đề bán đảo Triều Tiên[5], Nga đưa máy bay, tên lửa, tầu chiến,… tham chiến ở Xy-ri, cùng với sự gia tăng các hoạt động tiến công của liên quân đưa cuộc chiến chống IS thu được kết quả quan trọng, nhưng khủng bố đang biến tướng theo hướng tàn bạo, nguy hiểm hơn. Nhiều tổ chức khủng bố đang mở rộng địa bàn hoạt động sang các nước châu Âu, Trung Á, Trung Đông, Đông Nam Á,… đe dọa an ninh ở các khu vực này. Tình trạng tranh chấp tài nguyên nước, chủ quyền biển, đảo vẫn có chiều hướng gia tăng ở nhiều nơi[6]… đã làm cho bức tranh KTXH và chính trị toàn cầu 2016 mang diện mạo đa màu.

2.2. Tình hình kinh tế thế giới

2.2.1 Tăng trưởng kinh tế

Mặc dù nhiều chính sách đã được các nước thực hiện trong năm 2016 song kinh tế toàn cầu vẫn chịu nhiều tác động từ những thách thức từ bối cảnh kinh tế xã hội chính trị, bao gồm: (i) hậu quả của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu vẫn còn, (ii) tốc độ tăng trưởng kinh tế Trung Quốc bị suy giảm; (iii) năng suất sản xuất thấp; (iv) vấn đề người nhập cư ở Châu Âu và bất ổn địa chính trị; (v) vấn đề Brexit và những chính sách mới của tân tổng thống Mỹ… Tăng trưởng toàn cầu năm 2016 chỉ đạt 3,1% và là mức thấp nhất kể từ năm 2010 (5,4%) chủ yếu do tăng trưởng kinh tế ở các nền kinh tế phát triển giảm mạnh từ mức 2,1% (năm 2015) xuống còn 1,6% (năm 2016), trong khi đó các nền kinh tế mới nổi và đang phát triển, khu vực ASEAN-5 tiếp tục duy trì được tốc độ tăng trưởng ổn định ở mức 4,1% và 4,8%. Tuy nhiên, kể từ đầu năm 2016, lạm phát toàn cầu đang có xu hướng tăng trở lại[7], chấm dứt thời kỳ lạm phát thấp kéo dài, trong đó, nhu cầu về dầu mỏ tăng dần đã góp phần thu hẹp chênh lệch cung cầu và giá dầu tăng dần kéo theo xu hướng tăng giá của hầu hết các mặt hàng chủ chốt trên thế giới. Điều này sẽ tác động tích cực đến tăng trưởng toàn cầu trong những năm tiếp theo.

Tại Hoa Kỳ: Sau nửa đầu năm tăng trưởng chậm, kinh tế Hoa Kỳ đã phục hồi mạnh mẽ trong 6 tháng cuối năm 2016 và nền kinh tế đang tiến tới mức toàn dụng nhân công[8]. Mặc dù vậy, tính chung cả năm 2016, tăng trưởng GDP chỉ đạt mức 1,6% thấp hơn đáng kể so với mức tăng trưởng 2,6% trong năm 2016. Đóng góp vào mức tăng trưởng năm 2016 vẫn chủ yếu là từ các yếu tố chi tiêu dùng cá nhân, đầu tư cố định của dân cư, chi tiêu chính phủ song mức đóng góp đều thấp hơn so với năm 2015.

Tại Anh: Do ảnh hưởng của sự kiện Brexit nên kinh tế Anh gặp một số khó khăn khi số niềm tin tiêu dùng và chỉ số niềm tin kinh doanh đều giảm nên tốc độ tăng trưởng kinh tế của Anh giảm từ 2,2% trong năm 2015 xuống còn 2,0% trong năm 2016 và được dự báo tiếp tục giảm còn 1,1% trong năm 2017. Cùng với xu hướng hồi phục của thế giới, tỷ lệ lạm phát của Anh đã tăng từ mức 0,1% trong năm 2015 lên mức 0,7% năm 2016 và được dự báo tiếp tục tăng đạt mức 2,5% trong năm 2017.

Tại Nhật: Tăng trưởng kinh tế của Nhật hồi phục, tăng từ mức 0,5% trong năm 2015 lên 0,9% trong năm 2016, tuy nhiên, kinh tế Nhật Bản tiếp tục đối diện với những thách thức và phục hồi không vững chắc do đồng Yên tăng giá và nhu cầu yếu hơn tại các nền kinh tế mới nổi nên tốc độ tăng trưởng kinh tế được dự báo chỉ đạt 0,8% vào năm 2017. Tỷ lệ lạm phát đã giảm từ mức 0,8% vào năm 2015 xuống còn -0,2% trong năm 2016 nhưng sẽ tăng trở lại đạt mức 0,5% vào năm 2017.

Tại khu vực đồng Euro, mặc dù vẫn phải đối mặt với những khó khăn như tình hình nợ công, thị trường lao động chậm cải thiện nhưng khu vực đồng Euro vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng 1,7% trong năm 2016. Tuy nhiên, những bất ổn từ rủi ro liên quan đến Brexit, rủi ro từ kết quả trưng cầu dân ý về việc cải cách hiến pháp tại Ý nên tốc độ tăng trưởng kinh tế được dự báo giảm còn 1,6% vào năm 2017. Tỷ lệ lạm phát cũng đã được cải thiện, tăng từ 0% năm 2015 lên 0,3% năm 2016 và được dự báo tiếp tục tăng đạt 1,1% trong năm 2017.

Tại Nga: Mặc dù bị ảnh hưởng từ giá dầu thấp và do ảnh hưởng từ các biện pháp trừng phạt của EU đối với Nga nhưng tốc độ tăng trưởng kinh tế đã tăng từ mức -3,7% năm 2015 lên mức -0,6% năm 2016 và được dự báo tiếp tục tăng 1,1% trong năm 2017 do các hoạt động SXKD đang dần được cải thiện trong những tháng cuối năm 2016. Tỷ lệ lạm phát đã giảm từ mức 15,5% năm 2015 xuống còn 7,2% năm 2016 và được dự báo tiếp tục giảm còn 5,0% vào năm 2017 cho thấy các yếu tố vĩ mô của nước này đang dần ổn định trở lại.

Tại Trung Quốc: do tiêu dùng chính phủ, thị trường bất động sản tăng mạnh nên tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2016 đạt 6,7% (tăng so với mục tiêu 6,5% đề ra) và được dự báo sẽ giảm còn 6,5% trong năm 2017 do nguy cơ về dòng vốn rút khỏi Trung Quốc và do ảnh hưởng của quá trình tái cơ cấu của Trung Quốc khó đạt được như kế hoạch đề ra. Tỷ lệ lạm phát của Trung Quốc đã tăng từ mức 1,4% năm 2015 lên 2,1% năm 2016 do giá cả hàng hóa tăng và tỷ lệ lạm phát được dự báo tiếp tục tăng đạt mức 2,3% trong năm 2017.

Bảng 2.1. Tăng trưởng thế giới 2010 – 2015, và dự báo 2016 – 2017

Đơn vị: % năm so với năm

Nước

2010

2011

2012

2013

2014

2015

IMF (tháng
01/2017)

WB (tháng
01/2017)

ADB (tháng
12/2016)

2016

2017

2016

2017

2016

2017

Thế giới

5,4

4,2

3,5

3,3

3,4

3,2

3,1

3,4

2,3

2,7

Các nước phát triển

3,1

1,7

1,2

1,2

1,9

2,1

1,6

1,9

1,6

1,8

Mỹ

2,5

1,6

2,2

1,5

2,4

2,6

1,6

2,3

1,6

2,2

1,6

2,4

Khu vực đồng Euro

2,1

1,6

-0,9

-0,3

0,9

2,0

1,7

1,6

1,6

1,5

1,6

1,4

Anh

1,5

2,0

1,2

2,2

3,1

2,2

2,0

1,5

2,0

1,2

Nhật Bản

4,7

-0,5

1,7

1,4

0,0

0,5

0,9

0,8

1,0

0,9

0,8

0,8

Các nước mới
nổi và đang phát triển

7,4

6,3

5,3

4,9

4,6

4,0

4,1

4,5

3,4

4,2

Bra-xin

7,5

3,9

1,9

3,0

0,1

-3,8

-3,5

0,2

-3,4

0,5

Trung Quốc

10,6

9,5

7,7

7,7

7,3

6,9

6,7

6,5

6,7

6,5

6,6

6,4

Ấn Độ

10,3

6,6

5,6

6,6

7,2

7,6

6,6

7,2

7,0

7,6

7,0

7,8

Nga

4,5

4,3

3,5

1,3

0,7

-3,7

-0,6

1,1

-0,6

1,5

Nam Phi

3,0

3,2

2,2

2,2

1,6

1,3

0,3

0,8

0,4

1,1

Các nước đang
phát triển Châu Á

9,6

7,8

6,9

6,9

6,8

6,6

6,3

6,4

ASEAN-5

6,9

4,7

6,2

5,1

4,6

4,8

4,8

4,9

In-đô-nê-xi-a

6,4

6,2

6,0

5,6

5,0

4,8

4,9*

5,3*

5,1

5,3

5,0

5,1

Ma-lai-xi-a

7,5

5,3

5,5

4,7

6,0

5,0

4,3*

4,6*

4,2

4,3

4,2

4,4

Phi-líp-pin

7,6

3,7

6,7

7,1

6,1

5,9

6,4*

6,7*

6,8

6,9

6,8

6,4

Thái Lan

7,5

0,8

7,2

2,7

0,8

2,8

3,2*

3,3*

3,1

3,2

3,2

3,5

Việt Nam

6,4

6,2

5,2

5,4

6,0

6,7

6,1*

6,2*

6,0

6,3

6,0

6,3

Nguồn: IMF –  World Economic Outlook Update, tháng 01/2017, WB- Global Economic Prospect, tháng 01/2017, ADB – Asian Development Outlook Supplement, tháng 12/2016; * là theo IMF – World  Economic Outlook, tháng 10/2016

Tại các nước ASEAN-5: vẫn tiếp tục duy trì đà tăng trưởng đạt mức tăng trưởng 4,8% trong năm 2016 và dự báo đạt 5,1% trong năm 2017. Trong đó: Tại Ma-lai-xi-a: tốc độ tăng trưởng kinh tế đã giảm từ 5,0% trong năm 2015 xuống còn 4,3% trong năm 2016 do hoạt động sản xuất gặp khó khăn, tuy nhiên nền kinh tế được dự báo tăng trưởng với mức 4,6% trong năm 2017 do sự hồi phục kinh tế toàn cầu.  Tại Thái Lan: Do đầu tư công, tiêu dùng tư nhân và xuất khẩu đều tăng nên tốc độ tăng trưởng kinh tế Thái Lan đã tăng từ mức 2,8% trong năm 2015 lên mức 3,2% trong năm 2016 và được dự báo tiếp tục hồi phục trong năm 2017 với mức tăng trưởng là 3,3,%. Tại Phi-líp- pin: Trong năm 2016, nhờ tiêu dùng hộ gia đình tăng mạnh  nên tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 6,4% (tăng so với mức 5,9% của năm 2015) và được dự báo tiếp tục tăng trưởng với mức 6,7% trong năm 2017. Tại In-đô-nê-xi-a: Mặc dù tiêu dùng chính phủ và xuất khẩu giảm nhưng tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2016 đạt 4,9% tăng so với mức 4,8% năm 2015 do các biện pháp cải cách nền kinh tế mà chính phủ In-đô-nê-xi-a đã đưa ra, và được dự báo tiếp tục tăng trưởng đạt mức 5,3% trong năm 2017.

2.2.2. Thương mại toàn cầu

Năm 2016, tăng trưởng thương mại toàn cầu tiếp tục xu hướng giảm, ghi nhận lần thứ 4 tốc độ tăng trưởng thương mại toàn cầu thấp hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế thế giới (kể từ năm 1981). Theo ước tính của WTO (tháng 9/2016), tăng trưởng thương mại năm 2016 chỉ đạt 1,7%, giảm 1,1% so với dự báo 2,8% đưa ra trong tháng 4/2016 và là mức thấp nhất kể từ cuộc khủng hoảng tài chính 2008 – 2009.[9]

Về nhập khẩu: Nhìn chung nhập khẩu thế giới chậm lại trong nửa đầu năm 2016, giảm 1,0% trong quý I và tăng 0,2% trong quý II; trong đó tại các nước đang phát triển giảm 3,2% trong quý 1/2016 và tăng 1,5% trong quý 2, tại các nước phát triển tăng 0,8% trong quý I/2016 và giảm 0,8% trong quý II. Ước tính cả năm 2016, tăng trưởng nhập khẩu tại các nước đang phát triển là 0,4% và các nước phát triển là 2,6%.

Về xuất khẩu: Tăng trưởng xuất khẩu trong năm 2016 có xu hướng sụt giảm tại hầu hết các nhóm nước và khu vực. Tại các nước đang phát triển, tăng trưởng xuất khẩu đạt 1,2% so với 3,2% trong năm 2015; các nước phát triển là 2,1% so với 2,8% trong năm 2015; Bắc Mỹ là 0,7% so với 0,8% năm 2015; châu Á là 0,3% so với 3,1% trong năm 2015. Riêng khu vực Nam Mỹ dự kiến ​​sẽ tăng mạnh do được hưởng lợi từ biến động tỷ giá, đạt 4,4% so với 1,3% trong năm 2015.

Sơ đồ 2.1. Tăng trưởng thương mại toàn cầu năm 2007 – 2017

Đơn vị %

Nguồn: Tổng hợp từ IMF (tháng 10/2016)

Sơ đồ 2.2. Tỷ lệ giữa tăng trưởng khối lượng thương mại hàng hóa và tăng trưởng GDP thực

Nguồn: Tổng hợp từ IMF (tháng 10/2016)

Tại một số thị trường lớn có quan hệ thương mại với Việt Nam như Nhật Bản, Trung Quốc, Mỹ, EU… kim ngạch xuất khẩu hầu hết đều có xu hướng giảm trong năm 2016. Cụ thể:

Tại Nhật Bản[10], thương mại trong năm 2016 có chiều hướng sụt giảm, trong bối cảnh đồng Yên lên giá khiến xuất khẩu nhiều mặt hàng gặp khó khăn và giá dầu ở mức thấp kéo theo giá trị hàng nhập khẩu giảm. Tính chung cả năm 2016, kim ngạch xuất khẩu của Nhật Bản giảm 7,4%, xuống còn 70.040 tỷ yên (tương đương 615,38 tỷ USD) – ghi nhận lần giảm đầu tiên trong 4 năm (kể từ 2012), chủ yếu do xuất khẩu sắt, thép và ôtô giảm. Nhập khẩu giảm 15,9% xuống 65.970 tỷ yên (tương đương 579,63 tỷ USD) do kim ngạch nhập khẩu dầu thô và khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) đều sụt giảm[11]. Do nhập khẩu giảm mạnh hơn xuất khẩu nên Nhật Bản đạt thặng dư thương mại 4.070 tỷ yên (35,76 tỷ USD), là năm đạt thặng dư đầu tiên sau 6 năm liên tiếp thâm hụt.

Xét theo thị trường, kim ngạch xuất khẩu Nhật Bản sang Mỹ giảm 7,1% xuống còn 14.143 tỷ yên (tương đương 124,26 tỷ USD), trong khi nhập khẩu giảm 9,3% xuống mức 7.310 tỷ yên (tương đương 64,22 tỷ USD). Xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc giảm 6,5% xuống mức 12.360 tỷ yên (tương đương 108,6 tỷ USD), trong khi nhập khẩu giảm 12,4% xuống 17.020 tỷ yên (tương đương 149,54 tỷ USD). Xuất khẩu sang Liên minh châu Âu ở mức 7.980 tỷ yên (tương đương 70,11 tỷ USD), trong khi nhập khẩu từ khu vực này giảm 5,7% xuống 8.140 tỷ yên (tương đương 71,52 tỷ USD) trong năm 2016.

Đối với Việt Nam, kim ngạch xuất khẩu của Nhật Bản sang Việt Nam trong năm 2016 đạt 15,03 tỷ USD, tăng 4,7%; kim ngạch nhập khẩu của Nhật Bản từ Việt Nam đạt gần 14,68 tỷ USD, tăng 3,9%. Các mặt hàng xuất khẩu của Nhật Bản sang Việt Nam: máy móc thiết bị và phụ tùng (đạt 4,17 tỷ USD, giảm 7,5%), sản phẩm điện tử, máy tính và linh kiện (đạt gần 2,81 tỷ USD, tăng 23,7%), sắt thép (đạt gần 2,64 triệu tấn, trị giá gần 1,19 tỷ USD, tăng 2,2% về lượng và 6,4% về trị giá). Các mặt hàng chính Nhật Bản nhập khẩu từ Việt Nam là dệt may (đạt 2,9 tỷ USD, tăng 4,2% so với 2015), máy móc thiết bị và phụ tùng (đạt 1,56 tỷ USD, tăng 10,9%), thủy sản (đạt 1,1 tỷ USD, tăng 6,2%), cho thấy hàng hóa Việt Nam nhìn chung vẫn tiêu thụ ổn định tại thị trường Nhật Bản. Tuy nhiên, Nhật Bản là thị trường yêu cầu cao về chất lượng, kỹ thuật … do đó, để tăng cường xuất khẩu vào thị trường này các doanh nghiệp Việt Nam cần nâng cao hơn nữa năng lực kinh doanh, giám sát tiêu chuẩn chất lượng hàng hóa.

Tại Trung Quốc: Không nằm ngoài xu hướng chung và tiếp diễn xu hướng từ năm 2015, thương mại Trung Quốc năm 2016 tiếp tục sụt giảm. Trong đó, kim ngạch xuất khẩu đạt 2.100 tỷ USD, giảm 7,7% so với năm 2015. Đây là năm thứ hai liên tiếp xuất khẩu của Trung Quốc sụt giảm, đồng thời cũng là mức giảm sâu nhất kể từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2009. Kim ngạch nhập khẩu trong năm 2016 đạt 1.590 tỷ USD, giảm 5,5% so với năm 2015, cho thấy cầu nội địa còn yếu; đồng thời chịu tác động từ giá hàng hóa và giá dầu ở mức thấp, khiến giá trị hàng hóa nhập khẩu giảm. Trong tháng 12/2016, kim ngạch nhập khẩu của Trung Quốc tăng 3,1% so với năm trước và là tháng tăng thứ 3 trong năm 2016, cho thấy cầu tiêu dùng được cải thiện, tuy nhiên vẫn thấp hơn so với năm trước. 

Đối với Việt Nam, kim ngạch xuất khẩu Trung Quốc năm 2016 sang Việt Nam đạt 49,93 tỷ USD, tăng 0,9% so với năm 2015, với các mặt hàng chủ yếu là sắt thép, máy móc thiết bị và nguyên liệu cho ngành điện tử, dệt may.

Tính chung cả năm 2016, Trung Quốc đạt thặng dư thương mại 509,96 tỷ USD, giảm 14% so với năm 2015 (594,50 tỷ USD).

Tại Hoa Kỳ: Năm 2016, thâm hụt thương mại hàng hóa và dịch vụ của Mỹ tiếp tục mở rộng, đạt 502,3 tỷ USD (tương đương 2,7% GDP) tăng 0,4% (1,9 tỷ USD) so với năm 2015 và là mức cao nhất trong 4 năm qua. Trong đó, kim ngạch xuất khẩu đạt 2.209,4 tỷ USD, giảm 51,7 tỷ USD so với năm 2015; nhập khẩu đạt 2.711,7 tỷ USD, giảm 49,9 tỷ USD so với năm 2015[12]. Thâm hụt thương mại gia tăng do xuất khẩu giảm nhanh hơn nhập khẩu, trong bối cảnh đồng USD tăng giá khiến hàng hóa Mỹ trở nên kém cạnh tranh hơn tại các thị trường các nước và hàng hóa nước ngoài (đặc biệt là Nhật Bản, Trung Quốc) lại rẻ hơn đối với người tiêu Mỹ.   

  Trong tháng 12/2016, xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 2,7%, đạt 190,7 tỷ USD, cao nhất kể từ tháng 4/2015 do xuất khẩu các mặt hàng công nghệ tiên tiến như hàng không vũ trụ, công nghệ sinh học, thiết bị điện tử tăng mạnh. Xuất khẩu sang một số thị trường EU tăng 10,1%, Đức tăng 12,4%, tuy nhiên xuất khẩu sang Trung Quốc giảm 4,1%. Nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ trong tháng cuối năm cũng tăng 1,5%, lên 235 tỷ USD – mức cao nhất kể từ tháng 3/2015, phản ánh giá dầu cao hơn và sự cải thiện đối với nhu cầu trong nước. Cùng với đó, thâm hụt có dấu hiệu giảm, xuất khẩu dịch vụ tăng và đạt mức cao kỷ lục 63,8 tỷ USD, xuất khẩu các sản phẩm công nghệ cao đạt 32,2 tỷ USD.

Trong cả năm 2016, thâm hụt thương mại hàng hóa với các đối tác chủ yếu của Mỹ đã được thu hẹp, điển hình là thâm hụt thương mại của Mỹ với Trung Quốc giảm 5,4% xuống 347 tỷ USD (sau khi đạt mức cao kỷ lục 367,2 tỷ USD năm 2015); thâm hụt với Đức cũng giảm 13% xuống 64,9 tỷ USD. Tuy nhiên, thâm hụt thương mại của Mỹ với Mexico tăng 4,2% lên 63,2 tỷ USD – cao nhất kể từ năm 2011, cho thấy mối quan hệ thương mại căng thẳng có chiều hướng gia tăng giữa 2 nước.

2.2.3. Giá cả hàng hóa và giá dầu

Đối với giá hàng hóa: Trong năm 2016, giá cả hàng hóa thế giới có xu hướng giảm và cơ bản vẫn ở mức thấp so với mặt bằng giá năm trước. Trung bình 12 tháng, chỉ số giá hàng hóa của IMF[13] đạt 100,1 điểm, giảm 10% so với năm 2015 (111,23 điểm). Chỉ số giá các mặt hàng hầu hết đều giảm: kim loại giảm 5,4%, nông sản giảm 5,7% và nhóm mặt hàng năng lượng giảm 16,5%.

Đối với giá dầu: Mặc dù có xu hướng phục hồi tích cực trong những tháng cuối năm nhờ nỗ lực cắt giảm sản lượng nhằm giảm tình trạng dư cung trên thị trường của Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC), tuy nhiên tính chung cả năm 2016, giá dầu thế giới vẫn có xu hướng giảm.

Tính chung cả năm 2016, giá dầu WTI bình quân giao ngay ở mức 43,14 USD/thùng, giảm 11,34% so với giá bình quân năm 2015 (48,66 USD/thùng); giá dầu Brent bình quân giao ngay đạt 43,55 USD/thùng, giảm 16,76% so với giá bình quân năm 2015 (52,32 USD/thùng).

Theo dự báo của EIA, giá WTI bình quân trong năm 2017 là 52,50 USD/thùng và năm 2018 là 55,18 USD/thùng; Giá dầu Brent bình quân năm 2017 là 53,50 USD/thùng và năm 2018 là 56,18 USD/thùng.

Các hoạt động kinh tế toàn cầu chững lại do thị trường tài chính trong năm qua nhiều biến động, gây ra biến động tỷ giá hối đoái và tiềm ẩn nhiều rủi ro.

Bảo hộ thương mại có xu hướng gia tăng, Chính phủ các nước tăng cường bảo hộ sản xuất trong nước bằng cách thiết lập các rào cản thương mại kỹ thuật và phát triển kinh tế theo định hướng dựa vào tiêu dùng nội địa. Tính từ tháng 10/2015 đến tháng 5/2016, trung bình mỗi nước thành viên WTO đưa ra 22 biện pháp hạn chế thương mại mới/tháng, so với mức chỉ khoảng 15 biện pháp/tháng trước đó. Các nền kinh tế G20, trong đó có Hoa Kỳ, Nhật Bản và Canada cũng đang thắt chặt kiểm soát nhập khẩu[14].

2.2.4. Đầu tư

Dòng vốn FDI toàn cầu giảm 13% trong năm 2016 so với năm 2015 xuống còn 1.520 tỷ USD do tốc độ tăng trưởng kinh tế toàn cầu chậm lại; tổng cầu yếu và tăng trưởng chậm lại ở một số nước xuất khẩu hàng hóa. Sự sụt giảm của dòng vốn FDI sẽ là một trong những thách thức, bởi kinh tế thế giới đang cần vốn đầu tư để phục hồi đà tăng trưởng. FDI giảm cũng cho thấy tính “dễ tổn thương” của kinh tế toàn cầu, sự yếu đi của tổng chi tiêu, đà tăng trưởng suy giảm của một số quốc gia dựa vào xuất khẩu hàng hóa và sự hao hụt lợi nhuận của một số tập đoàn đa quốc gia trong năm 2015. Tại các nước phát triển, dòng vốn FDI năm 2016 đã giảm 20% xuống còn 600 tỷ USD do giá hàng hóa vẫn ở mức thấp nên các dự án dựa vào nguồn tài nguyên và khai thác mỏ ít hấp dẫn hơn; trong khi FDI vào các nước Châu Âu giảm 29% thì FDI vào các nước Bắc Mỹ lại tăng 6%. Tại các nước đang phát triển, dòng vốn FDI chảy vào giảm 20% xuống còn 600 tỷ USD do tốc độ tăng trưởng kinh tế chậm lại và giá hàng hóa giảm. Ngược với xu hướng giảm tại các nước phát triển và đang phát triển, dòng vốn FDI chảy vào các nước chuyển đổi tăng 38% đạt mức 52 tỷ USD do FDI chảy vào Kazakhstans và Nga tăng.

Trong trung hạn, dòng vốn FDI toàn cầu được dự báo sẽ tiếp tục tăng trưởng trong năm 2017 (từ 1,6 nghìn đến 1,7 nghìn tỷ USD) và sẽ đạt trên 1,8 nghìn tỷ USD trong năm 2018, song vẫn thấp hơn so với số liệu trước khủng hoảng. Trong đó, tại các nước phát triển dòng vốn FDI sẽ tăng khoảng 6% đạt mức từ 870-930 tỷ USD; còn các nước đang phát triển, dòng vốn FDI sẽ tăng khoảng 8% đạt mức từ 690 đến 735 tỷ USD; các nền kinh tế chuyển đổi dự kiến dòng vốn FDI sẽ tăng khoảng 13% đạt mức từ 40-55 tỷ USD.

2.2.5. Thị trường tài chính tiền tệ thế giới

Năm 2016, thị trường tài chính – tiền tệ toàn cầu ghi nhận nhiều sự kiện: Bất ổn trên thị trường chứng khoán Trung Quốc, Brexit, kế hoạch nâng lãi suất của FED, kết quả bầu cử Tổng thống Hoa Kỳ…  khiến cho cả thị trường chứng khoán và tỷ giá đều có những biến động mạnh.

Về tỷ giá: Trong năm 2016, đồng USD tiếp tục thể hiện xu hướng tăng giá so với hầu hết các đồng tiền chủ chốt (trừ đồng JPY của Nhật Bản) sau khi FED tiến hành nâng lãi suất cơ bản đồng USD thêm 0,25% (ngày 14/12/2016) đúng như kỳ vọng của thị trường. Bên cạnh đó, USD tăng mạnh so với đồng GBP của Anh (tăng 17,45% so với đầu năm và tăng 20,85% so với cùng kỳ năm trước) và đồng EUR (tăng 3,35% so với đầu năm và tăng 4,21% so với cùng kỳ năm trước) phần lớn do tác động của sự kiện Brexit; tăng so với đồng CNY của Trung Quốc (tăng 6,36% so với đầu năm và tăng 7,24% so với cùng kỳ năm trước) do nền kinh tế giảm tốc và những bất ổn trên thị trường tài chính tiền tệ đã khiến nhiều nhà đầu tư nước ngoài rút vốn khỏi thị trường này.

Bảng 2.2. Diễn biến tỷ giá quốc tế 

 

02/01/2016

30/12/2016

25/12/2015

+/- 2016 (%)

2016/2015 (%)

USD/EUR

0,92

0,95

0,91

3,35

4,21

USD/GBP

0,69

0,81

0,67

17,45

20,85

USD/JPY

120,55

116,96

120,33

-2,98

-2,80

USD/AUD

1,37

1,39

1,37

1,27

1,00

USD/CNY

6,53

6,95

6,48

6,36

7,24

USD/SGD

1,41

1,45

1,40

2,61

3,09

USD/KRW

1172,55

1205,83

1169,91

2,84

3,07

Nguồn: Tổng hợp từ Bloomberg

Về thị trường chứng khoán: Năm 2016 là một năm thuận lợi cho các nhà đầu tư chứng khoán đầu tư vào các thị trường mới nổi và Hoa kỳ, đặc biệt là sau chiến thắng của ông Donald Trump.

 Chứng khoán Hoa Kỳ tăng nhờ kỳ vọng của các nhà đầu tư về kế hoach tiếp tục tăng lãi suất của FED, sẽ khiến các dòng vốn sẽ chảy về thị trường nước này; và những điều chỉnh chính sách của tân Tổng thống Donald Trump trong việc giảm thuế, tăng chi cho cơ sở hạ tầng sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các ngành ngân hàng, công nghiệp và y tế phát triển. So với đầu năm, chỉ số NASDAq tăng 9,79%, S&P500 tăng 11,24%, Downjones tăng 15,24%.

Chứng khoán châu Âu tăng do các nhà đầu tư tiếp tục kỳ vọng vào chính sách nới lỏng tài khóa và những cải cách của ECB, so với đầu năm, chỉ số Stox 50 tăng 3,97%, Dax tăng 11,65%; tại Anh, chỉ số FTSE tăng 17,22%. Tuy nhiên, các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào thị trường chứng khoán Anh năm 2016 bị ảnh hưởng nặng nề bởi tác động của đồng Bảng Anh yếu.

Tại thị trường các nước châu Á, mặc dù các nhà đầu tư lo ngại dòng vốn sẽ rút ra khỏi khu vực này trong bối cảnh FED tăng lãi suất và tỷ giá đồng USD tăng mạnh, tuy nhiên một số thị trường vẫn tăng nhẹ so với đầu năm: Nikkei 225 của Nhật Bản tăng 3,6%, MSCI Asia tăng 2,33%, riêng CSI 300 của Trung Quốc giảm 4,58% do dòng vốn đầu tư đang rút ra khỏi thị trường này.

Bảng 2.3. Chứng khoán quốc tế 


4/1/2016

30/12/2016

30/12/2015

+/- 2016

(%)

2016/2015    (%)

Stox 50

3164,76

3290,52

3284,47

3,97

0,18

FTSE

6093,43

7142,83

6254,64

17,22

14,20

DAX

10283,44

11481,06

10727,64

11,65

7,02

Nikkei 225

18450,98

19114,37

18769,06

3,6

1,84

CSI 300

3469,07

3310,08

3838,2

-4,58

-13,76

MSCI ASIA

131,97

135,04

131,22

2,33

2,91

Downjones

17148,94

19762,6

17552,17

15,24

12,59

S&P500

2012,66

2238,83

2060,99

11,24

8,63

NASDAq

4903,09

5383,12

5048,49

9,79

6,63

Strait Times Index

2835,97

2880,76

2877,62

1,58

0,11

Nguồn: Tổng hợp từ Bloomberg

2.3. Một số điều chỉnh chính sách

Trước bối cảnh có nhiều thay đổi và triển vọng tăng trưởng kinh tế toàn cầu kém vững chắc, nhiều nước đã điều chỉnh chính sách kinh tế vĩ mô, chính sách ngoại giao… nhằm duy trì và hỗ trợ cho sự phát triển ổn định của kinh tế trong nước. Cụ thể:

Đối với chính sách tài khóa: Một số quốc gia có những điều chỉnh khác nhau trong điều hành chính sách kinh tế vĩ mô nhằm những mục tiêu riêng như cải cách hệ thống thuế để phù hợp với thông lệ quốc tế, thúc đẩy chi tiêu nội địa, cải thiện tình trạng an sinh xã hội, cắt giảm thâm hụt ngân sách hay kích thích phát triển kinh tế (Trung Quốc, Nga, Anh và Nhật Bản). Trong đó, trong tháng 5/2016 Trung Quốc đã hoàn thành việc chuyển đổi thuế doanh thu (BT-Business tax) sang thuế giá trị gia tăng (GTGT) đối với các ngành dịch vụ. Theo đó, kể từ ngày 1/5/2016 các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây dựng, bất động sản, tài chính và dịch vụ tiêu dùng sẽ phải áp dụng thuế GTGT. Việc áp dụng thuế GTGT thay cho thuế doanh thu giúp loại bỏ sự phân biệt giữa các lĩnh vực kinh doanh.

Cũng trong tháng 5/2016, Trung Quốc đã thực hiện cắt giảm tỷ lệ đóng góp vào an sinh xã hội của các doanh nghiệp. Theo đó, tỷ lệ đóng góp của những người sử dụng lao động vào Quỹ hưu trí sẽ giảm xuống còn 19-20% tùy thuộc vào từng điều kiện cụ thể. Ở những nơi mà người sử dụng lao động đang phải đóng góp vào Quỹ hưu trí lớn hơn 20% tiền lương, tỷ lệ này sẽ được giảm xuống còn 20%. Những nơi mà khoản đóng góp kể trên hiện ở mức 20%, người sử dụng sẽ chỉ phải nộp 19% trong 2 năm tiếp theo nếu Quỹ hưu trí ở khu vực đó đủ để chi trả cho các khoản thanh toán 9 tháng. Bên cạnh đó, tỷ lệ đóng Bảo hiểm thất nghiệp cũng sẽ cắt giảm từ mức 2-3% tiền lương (năm 2015) xuống còn 1-1,5%, trong đó người lao động phải đóng góp 0,5%. Các tỉnh, thành phố và khu tự trị đều phải điều chỉnh theo chính sách mới đã ban hành cho phù hợp với tình hình. Một số chính quyền cấp tỉnh đã ban hành các chính sách mới nhằm giảm tỷ lệ đóng góp an sinh xã hội. Hiện nay, các khoản đóng góp cho an sinh xã hội của Trung Quốc chiếm khoảng 40% tiền lương của người lao động, trong đó người lao động đóng góp khoảng 11% và doanh nghiệp đóng góp khoảng 29,8%, tỷ lệ này cao gấp 4,6 lần tỷ lệ đóng góp của các nước Đông Á khác và gấp 3 lần tỷ lệ của 5 nước Bắc Âu[15]. Chính sách này được đánh giá là một động thái tích cực do: (i) Cắt giảm chi phí đóng góp an sinh xã hội sẽ giảm các chi phí hoạt động của doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa, nhỏ và siêu nhỏ; (ii) việc cắt giảm tỷ lệ đóng góp vào an sinh xã hội sẽ tối ưu hóa khả năng phục hồi của các doanh nghiệp, giúp họ bước ra khỏi khó khăn; (iii) cắt giảm tỷ lệ đóng góp vào các quỹ an sinh xã hội sẽ kích thích tích lũy và tăng đầu tư để mở rộng quy mô sản xuất; giúp cho các doanh nghiệp có thêm vốn để tăng tốc độ chuyển đổi cơ cấu sản xuất.

Bên cạnh đó, Trung Quốc đã điều chỉnh chính sách thuế nhập khẩu với việc giảm 50% thuế suất nhập khẩu đối với một số mặt hàng tiêu dùng cá nhân nhằm thúc đẩy chi tiêu dùng trong nước (thực hiện kể từ 1/6/2016); điều chỉnh thuế tiêu thụ đặc biệt với việc áp thêm 10% thuế tiêu thụ đặc biệt đối với các dòng xe sang (luxury tax) có giá trị trên 1,3 triệu NDT nhằm hạn chế dùng xe cao cấp, kiểm soát việc sử dụng năng lượng và khí thải ở quốc gia này (thực hiện kể từ 1/12/2016).

Trong khi đó Nga lại có điều chỉnh chặt chẽ hơn về mặt chi tiêu, theo đó nhằm mục đích giảm thâm hụt ngân sách xuống còn 3,2% GDP vào năm 2017, 2,2% GDP vào năm 2018 và 1,2% vào năm 2019. Quốc hội Nga đã thông qua việc cắt giảm chi tiêu ngân sách Nhà nước. Chính phủ Nga sẽ đồng loạt cắt giảm chi tiêu trên diện rộng từ giáo dục đến quốc phòng. Nhiều bộ sẽ phải cắt giảm khoảng 6% chi tiêu trong năm 2017, 8% trong năm 2018 và 9% trong năm 2019. Trong đó, bộ quốc phòng cũng dần bị cắt giảm chi tiêu ngân sách từ mức 4,7% GDP hiện nay xuống còn khoảng 2,9% GDP trong năm 2019. Trước đó, ngày 20/8/2016, Chính Phủ Nga đã thực hiện một số điều chỉnh về thuế GTGT như sau: (1) Thuế GTGT 0% đối với các vật tư liên quan đến công việc chuẩn bị cho worldcup năm 2018; (2) Hàng hóa thực hiện giao dịch tại kho ngoại quan có thể được miễn thuế GTGT) Miễn thuế GTGT đối với vật tư y tế nhập khẩu kể từ ngày 1/10/2016 nếu như các sản phẩm tương tự không được sản xuất tại Nga[16].

Ngược lại, Anh thực hiện điều hành chính sách tài khóa mở rộng nhằm mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Trước nguy cơ tăng trưởng kinh tế thấp hơn dự báo trong vòng 5 năm tới, ngày 16/3 Chính phủ Anh tuyên bố sẽ giảm thuế thu nhập doanh nghiệp xuống còn 17% kể từ ngày 01/4/2020 (hiện nay là 20%). Đây là biện pháp hỗ trợ của Chính phủ, tạo dựng hệ thống thuế cạnh tranh hơn nhằm hỗ trợ đầu tư và tăng trưởng. Sau sự kiện Brexit (23/6/2016), Thủ tướng Anh thông báo kế hoạch sẽ tiếp tục cắt giảm thuế doanh nghiệp xuống dưới mức 15% .

Có cùng hướng điều hành trên, nhưng Nhật Bản lại thực hiện phê chuẩn các gói kích thích kinh tế trong năm 2016. Cụ thể: Ngày 2/8/2016, Chính Phủ Nhật Bản thông qua gói kích thích kinh tế trị giá hơn 28.100 tỷ yên (tương đương 274 tỷ USD), tập trung đầu tư vào cơ sở hạ tầng và phúc lợi xã hội, trong đó: (i) Chi 13.500 tỷ yên vào các biện pháp tài khóa; (ii) Giá trị còn lại của gói kích thích sẽ được dùng vào các biện pháp mang tính dài hạn hơn như liên quan đến mối quan hệ hợp tác công – tư và các khoản khác không liên quan trực tiếp đến chi tiêu của Chính phủ.

Tiếp đó, ngày 11/10/2016, Chính phủ Nhật Bản tiếp tục phê chuẩn gói kích thích kinh tế thứ hai trị giá hơn 4.000 tỷ yên (tương đương khoảng 40 tỷ USD) nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, kích cầu đầu tư và tiêu dùng. Trong đó, Chính phủ khoảng hơn 700 tỷ yên nhằm củng cố chính sách tăng cường các biện pháp trợ cấp xã hội như hỗ trợ những người nuôi con, trong khi khoảng 1.410 tỷ yên sẽ được chi vào hoạt động cải thiện cơ sở hạ tầng. Khoảng 430 tỷ yên sẽ được phân bổ nhằm giúp đỡ các doanh nghiệp vừa và nhỏ, cũng như vực dậy kinh tế địa phương và khoảng gần 1.500 tỷ yên sẽ được dùng vào hoạt động tái thiết và giảm thiểu thiên tai ở khu vực Tây Nam bị ảnh hưởng do các trận động đất hồi tháng 4/2016 và vùng Đông Bắc bị động đất và sóng thần tàn phá hồi tháng 3/2011.

Đối với chính sách tiền tệ: Trong bối cảnh lạm phát nhìn chung vẫn ở mức thấp, nhằm tạo các yếu tố thuận lợi đề hỗ trợ tăng trưởng cũng như khuyến khích nền kinh tế phát triển, một số quốc gia (Trung Quốc, Anh, Nga, Nhật Bản) tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ theo hướng mở rộng, ngoại trừ Hoa Kỳ. Cụ thể: (1) Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc (PBoC) ngày 01/3/2016 quyết định cắt giảm 0,5% tỷ lệ dự trữ bắt buộc (RRR) đối với các ngân hàng, xuống còn 17%, nhằm bảo đảm thanh khoản cho hệ thống tài chính, đẩy mạnh đầu tư để hỗ trợ tăng trưởng. (2) Ngày 10/6/2016 Ngân hàng Trung ương Nga đã thực hiện cắt giảm lãi suất cơ bản, từ mức 11% xuống còn 10,5%. Đây là lần giảm đầu tiên trong vòng 10 tháng do áp lực lạm phát đã có xu hướng giảm. Tiếp đó, ngày 17/9/2016 Ngân hàng Trung ương Nga tiếp tục cắt giảm lãi suất xuống còn mức 10% nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế do lãi suất thấp sẽ kích thích các doanh nghiệp và người dân đầu tư và tiêu dùng. Dự báo ngân hàng Trương ương Nga sẽ tiếp tục giảm lãi suất vào quý 1/2017. (3) Ngày 4/8/2016, Ngân hàng Trung ương Anh (BOE) quyết định hạ lãi suất cơ bản từ mức 0,5% xuống mức 0,25%, mức thấp nhất kể từ năm 2009. Ngoài ra, BOE còn thực hiện việc mua lại trái phiếu Chính phủ Anh trị giá 60 tỷ bảng Anh và trái phiếu doanh nghiệp trị giá 10 tỷ bảng Anh. (4) Kể từ tháng 2 năm 2016, Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BOJ) đã áp dụng chính sách lãi suất âm lần đầu tiên, theo đó, lãi suất hàng năm ở mức – 0,1% đối với một số tài khoản do các thể chế tài chính nắm giữ tại BOJ. Trong thời gian đầu, khoảng 10.000 tỷ yên (88 tỷ USD) sẽ áp dụng mức lãi suất trên, chiếm khoảng 4% tổng số tiền trong các tài khoản ngân hàng. BOJ cũng cho biết, sẽ tiếp tục áp dụng mức lãi suất 0,1% đối với 210.000 tỷ yên tiền gửi trong năm 2015 thông qua việc mua trái phiếu chính phủ theo chính sách nới lỏng tiền tệ. Ngày 29/7/2016, Nhật Bản công bố sẽ tiếp tục duy trì chính sách tiền tệ này. (5) Ngày14/12/2016, Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ (FED) đã quyết định nâng lãi suất cơ bản thêm 0,25 điểm phần trăm. Như vậy, lãi suất cho vay qua đêm trên thị trường liên ngân hàng từ mức 0,5% lên mức 0,75%. Đồng thời FED cũng gia hạn thời gian của gói nới lỏng định lượng đến hết năm 2017 (dự kiến sẽ hết hạn trong 3/2017).

Ngoài ra, trong bối cảnh dòng vốn liên tục chảy ra đặc biệt trong những tháng cuối năm 2016, Trung Quốc đã tăng cường các biện pháp: (i) kiểm soát chuyển tiền ra nước ngoài: Theo quy định, mỗi cá nhân được quyền chuyển 50.000 USD ra nước ngoài mỗi năm. Trong giai đoạn vừa qua, đã xuất hiện tình trạng làm giả hóa đơn để chuyển tiền ra nước ngoài nên trong tháng 11/2016, Trung Quốc đã bổ sung cơ chế mới, theo đó yêu cầu các giao dịch trị giá 5 triệu USD trở lên phải được sự chấp thuận của Cơ quan Quản lý Ngoại hối Trung Quốc (SAFE), đồng thời cơ quan này cũng sẽ tăng cường xem xét các thương vụ mua bán lớn ở nước ngoài, kể cả những thương vụ đã được chấp thuận từ trước; (ii) Kiềm chế nguồn cung Nhân dân tệ trên thị trường hải ngoại: Ngày 11/1/2016 Trung Quốc đã khuyến nghị các chi nhánh ngân hàng Trung Quốc tại Hong Kong tạm ngừng hoạt động cho vay bằng Nhân dân tệ ở nước ngoài trừ trường hợp cần thiết. Trước đó, cuối năm 2015, PBOC đã đưa ra yêu cầu một số tổ chức cho vay trong nước ngừng cung cấp dịch vụ tài chính qua biên giới cho các ngân hàng/tổ chức tín dụng nước ngoài và; (iii) Hạn chế hoạt động mua ngoại tệ của các công ty: Các công ty chỉ có thể mua ngoại tệ tối đa 5 ngày trước hạn thanh toán hợp đồng mua hàng.

Khác với xu hướng chung của các nước, Hoa kỳ bắt đầu bình thường hóa chính sách tiền tệ thông qua việc tăng lãi suất trở lại trong tháng 12/2016. Hiện nay, lãi suất là 0,75%

2.4. Triển vọng và dự báo về kinh tế thế giới 2017

Tăng trưởng kinh tế: Theo WB (tháng 6/2017)[17] dự báo, tốc độ tăng trưởng kinh tế toàn cầu sẽ đạt 2,7% trong năm 2017 và tăng lên mức 2,9% trong năm 2018; trong đó, tại các nước phát triển, tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt lần lượt 1,9% và 1,8% trong năm 2017 và 2018; tại các nước mới nổi và đang phát triển, tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt lần lượt 4,1% và 4,5% trong năm 2017 và 2018. Cao hơn dự báo của WB, IMF (tháng 04/2017) dự báo, tốc độ tăng trưởng kinh tế toàn cầu đạt 3,5% trong năm 2017 và 3,6% trong năm 2018; trong đó, tại các nước phát triển, tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 2,0% trong năm 2017 và 2018 (tăng 0,1% so với dự báo tháng 01/2017) do sự hồi phục của kinh tế Mỹ, khu vực đồng Euro và Nhật Bản được hồi phục; tại các nước mới nổi và đang phát triển, tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 4,5% năm 2017 và 4,8% năm 2018 (không thay đổi so với dự báo tháng 01/2017).

Vốn đầu tư toàn cầu: Trong trung hạn, dòng vốn FDI toàn cầu được dự báo sẽ tiếp tục tăng trưởng trong năm 2017 (từ 1,6 nghìn đến 1,7 nghìn tỷ USD) và sẽ đạt trên 1,8 nghìn tỷ USD trong năm 2018, song vẫn thấp hơn so với số liệu trước khủng hoảng. Trong đó, tại các nước phát triển dòng vốn FDI sẽ tăng khoảng 6% đạt mức từ 870-930 tỷ USD; còn các nước đang phát triển, dòng vốn FDI sẽ tăng khoảng 8% đạt mức từ 690 đến 735 tỷ USD; các nền kinh tế chuyển đổi dự kiến dòng vốn FDI sẽ tăng khoảng 13% đạt mức từ 40-55 tỷ USD.

Thương mại toàn cầu: Theo WTO, trong năm 2017, tăng trưởng thương mại sẽ tăng nhẹ so với năm 2016, dao động trong khoảng từ 1,8% – 3,1% (nhưng giảm so với dự báo 3,6% trước đó) nhờ giá cả hàng hóa ổn định hơn và sự phục hồi tăng trưởng kinh tế tại một số nước. Theo đó, tại khu vực các nước phát triển, tăng trưởng xuất khẩu và tăng trưởng nhập khẩu được dự báo ở mức 1,7 – 2,9%; tại các nước đang phát triển, tăng trưởng xuất khẩu dự báo đạt khoảng 1,9 – 3,4% và tăng trưởng nhập khẩu đạt khoảng 1,9 – 3,1%.

Khả quan hơn WTO, theo IMF (tháng 4/2017) dự báo, thương mại quốc tế sẽ lấy lại đà phục hồi và tăng lên mức 3,8% trong năm 2017. 

—————————–TÀI LIỆU THAM KHẢO——————————— 

  1. ADB – Asian Development Outlook supplement, tháng 12/2016.
  2. IMF – World Economic Outlook tháng 10/2016 và World Economic Outlook Update tháng 01/2017.
  3. IMF – Commodity Market Monthly report.
  4. World bank – Global economic prospect, tháng 01/2017.
  5. World bank (tháng 10/2016) – East Asia Pacific Economic Update.

Nguồn tổng hợp giá dầu từ http://www.eia.gov/ .

[1] Với tốc độ tăng trưởng kinh tế thấp hơn giai đoạn trước đó.

[2] Thành lập ngày 31/12/2015

[3] Quan điểm và chính sách của Thổng Tống mới có thể sẽ làm thay đổi phạm vi ảnh hưởng của Hoa kỳ và Trung Quốc tại khu vực này.

[4] Kéo dài đến năm 2020

[5] và  Mỹ và các đồng minh gia tăng các biện pháp răn đe, trừng phạt Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên với lý do: nước này tiến hành thử hạt nhân và tên lửa đạn đạo.

[6] Đặc biệt là tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông diễn ra phức tạp, gây lo ngại cho khu vực và thế giới. Khu vực Trung Đông – Bắc Phi tiếp tục là khu vực “nguy hiểm” bởi xung đột ở Xy-ri, Y-ê-men, Xu-đăng và một số nước khác vẫn diễn ra dai dẳng, đẫm máu. Khu vực Trung Á, Tây Á trong năm cũng nóng lên khi tranh chấp vùng đất Na-go-rơ-nưi Ka-ra-bắc đã biến thành xung đột quân sự tàn khốc giữa Ác-mê-ni-a và A-déc-bai-dan; chính trường Thổ Nhĩ Kỳ chao đảo bởi đảo chính quân sự, v.v. Đặc biệt, quan hệ giữa Mỹ và Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) với Nga lại bị đẩy lên một tầng nấc nguy hiểm khi Mỹ đẩy nhanh triển khai hệ thống phòng thủ tên lửa chiến lược (NMD) ở châu Âu và NATO tăng cường triển khai lực lượng sát biên giới Nga. Nhiều chuyên gia nhận định, hành động răn đe, ngăn chặn quân sự này của Mỹ – NATO là rất mạo hiểm, “đổ dầu vào lửa”, có thể đẩy quan hệ giữa họ với Nga vượt qua “giới hạn đỏ”, vào thế đối đầu quân sự nguy hiểm.

[7] Tính chung cả năm, lạm phát thế giới năm 2016 đạt 2,9%, trong đó, tại các nước phát triển, lạm phát đạt 0,8% còn tại các nước mới nổi và đang phát triển, lạm phát đạt 4,5%.

[8] http://www.imf.org/external/pubs/ft/weo/2017/update/01/index.htm

[9] WTO 2016 Press Release, Trade Statistics and Outlook, Trade in 2016 to grow at slowest pace since the financial crisis

[10] http://www.customs.go.jp/toukei/shinbun/trade-st_e/2016/2016_115e.pdf

[11] Bình quân 12 tháng năm 2016 so với cùng kỳ năm trước, nhập khẩu dầu thô của Nhật Bản giảm 32,4%; nhập khẩu LNG giảm 40,4%.

[12] https://www.bea.gov/newsreleases/international/trade/2017/trad1216.htm

[13] http://www.imf.org/external/np/res/commod/pdf/monthly/121216.pdf

[14] WTO, May 2016, World Trade Statistical Review 2016.

[15] http://www.china.org.cn/opinion/2016-04/10/content_38202983.htm

[16] http://www.vatlive.com/vat-news/russian-vat-update/

[17] WB – Global Economic Prospects, tháng 6/2017

Bản in

 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *