Chuyên đề 19 THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM NĂM 2013 VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN

Chuyên đề 19: THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM NĂM 2013 VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN

 TS. Tạ Thanh Bình

Uỷ ban Chứng khoán nhà nước

 19.1. Bối cảnh kinh tế thế giới, trong nước và tình hình thị trường chứng khoán Việt Nam năm 2013

19.1.1. Tình hình kinh tế thế giới

Trong năm 2013, nhìn chung kinh tế thế giới đã có dấu hiệu cải thiện tuy nhiên vẫn còn chậm chạp; các chỉ số kinh tế cho thấy kinh tế thế giới có sự cải thiện nhẹ trong quý I, có xu hướng chững lại trong khoảng giữa năm và sau đó tăng trưởng ổn định hơn trong những tháng cuối năm nhưng vẫn ở mức thấp; đồng thời tăng trưởng có sự phân hóa giữa các nước.

Các chỉ số kinh tế và thất nghiệp đang dần được cải thiện tại các nền kinh tế lớn cho thấy nền kinh tế thế giới đang dần thoát ra khỏi cuộc khủng hoảng kéo dài để trở lại quỹ đạo tăng trưởng. GDP của hầu hết các nền kinh tế phát triển đã đạt mức cao hơn (mặc dù không nhiều) so với thời kỳ trước khủng hoảng. Khu vực Eurozone, cuộc khủng hoảng nợ công đã dần lắng dịu, các chỉ số kinh tế vĩ mô đang dần có sự cải thiện và dần thoát khỏi suy thoái khi tốc độ tăng trưởng lần đầu tiên đạt dương vào quý II. Tuy nhiên, các nền kinh tế lớn vẫn bị coi là chưa đủ động lực để tăng trưởng nhanh như kỳ vọng. Trong khi đó các nền kinh tế mới nổi và đang phát triển – vốn được coi là động lực tăng trưởng toàn cầu – lại có xu hướng tăng trưởng chậm lại. Kinh tế thế giới năm 2013 dự báo tăng trưởng khoảng 3,0%. Mặc dù vậy, kinh tế toàn cầu vẫn còn tiềm ẩn nhiều rủi ro do việc khả năng các nền kinh tế phát triển sẽ thu hẹp chính sách nới lỏng định lượng; nợ công chưa được xử lý dứt điểm và thất nghiệp còn cao ở khu vực Châu Âu; tăng trưởng các nước mới nổi chậm lại.

19.1.2. Tình hình kinh tế trong nước

Kinh tế trong nước có dấu hiệu tích cực hơn khi các chỉ số kinh tế vĩ mô dần được ổn định, lạm phát được kiềm chế, cụ thể như sau: (1) tăng trưởng GDP đạt 6,04%; chỉ số giá cả CPI tăng thấp (6,04%-thấp nhất trong 10 năm trở lại đây); chỉ số sản xuất công nghiệp đã tăng 5,9%; xuất siêu cả năm đạt 863 triệu USD ; (2) mặt bằng lãi suất có chiều hướng giảm dần; tăng trưởng tín dụng có cải thiện, tăng khoảng 10%; (3) thị trường ngoại hối trong xu thế ổn định, dự trữ ngoại tệ tăng; (4) dòng vốn FDI đạt khoảng 20,8 tỷ USD, tăng 56,3% so với cùng kỳ năm ngoái; quy mô dòng vốn đầu tư gián tiếp tăng. Những yếu tố trên đã có tác động tích cực tới tình hình thị trường chứng khoán trong năm qua.

Các giải pháp đối với thị trường chứng khoán cũng đã có tác động tích cực tới thị trường đó là việc giảm thuế với chuyển nhượng chứng khoán, kéo dài thời gian giao dịch, áp dụng lệnh thị trường, nới biên độ giao dịch, điều chỉnh tỷ lệ giao dịch ký quỹ từ 40/60 lên 50/50. Công tác tái cấu trúc Thị trường chứng khoán được đẩy mạnh, đặc biệt là vấn đề sắp xếp lại các tổ chức kinh doanh chứng khoán và việc ban hành các quy định mới về quỹ mở, triển khai giao dịch ETF đã tạo điều kiện thu hút dòng vốn đầu tư nước ngoài, nhất là các tổ chức đầu tư nước ngoài.

Tuy nhiên, nền kinh tế vẫn còn nhiều khó khăn thách thức như tốc độ tăng trưởng còn thấp trong khi động lực tăng trưởng mới còn hạn chế; nợ xấu còn cao; hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp còn khó khăn, sức mua yếu; các giải pháp xử lý nợ đang ở giai đoạn đầu. Do vậy, hoạt động của thị trường chứng khoán vẫn còn những khó khăn.

19.1.3. Tình hình thị trường chứng khoán Việt Nam

Thị trường chứng khoán Việt Nam năm 2013 đã có những diến biến khả quan nhờ vào những tín hiệu ổn định kinh tế vĩ mô; các giải pháp vĩ mô đã dần phát huy tác dụng và các giải pháp tích cực trong lĩnh vực chứng khoán. Những thành quả đạt được là nhờ các chủ trương, chính sách quyết liệt của Chính phủ ngay từ những tháng đầu năm 2013 với các Nghị quyết 01/NQ-CP và Nghị quyết 02/NQ-CP của Chính phủ về các nhóm giải pháp tháo gỡ khó khăn cho nền kinh tế cũng như các chính sách trong việc thực thi tái cấu trúc các khu vực của nền kinh tế. Trong đó, phải kể đến những thành công bước đầu trên một số mặt sau:

(i) Xử lý nợ xấu ngân hàng với việc ra đời Công ty Quản lý tài sản của các Tổ chức tín dụng (VAMC) và khoản mua nợ trên 30.000 tỷ nợ xấu từ các ngân hàng thương mại (NHTM), qua đó góp phần lành mạnh hóa nợ xấu và gia tăng vốn khả dụng cho các NHTM;

(ii) Xử lý bài toán về kênh đầu tư kinh doanh vàng, vốn gây nhiều bất ổn và tranh cãi trong suốt nhiều năm qua. Cơ chế đấu thầu và độc quyền nhập vàng qua Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã góp phần kiềm chế tình trạng bất ổn về cung, cầu giá vàng và các cơn sốt ngoại tệ để nhập khẩu vàng điều tiết trong nước, qua đó tăng dự trữ ngoại hối quốc gia và thu về cho ngân sách trên 9.000 tỷ đồng;

(iii) Tái cấu trúc các trung gian tài chính, thông qua hợp nhất, sáp nhập, giải thể các ngân hàng, tổ chức tài chính và các công ty chứng khoán (CtyCK), góp phần giảm số lượng, nâng cao vị thế và tiềm lực tài chính của các trung gian tài chính trên thị trường tài chính, tiền tệ, chứng khoán.

19.1.4. Trong năm 2013, thị trường chứng khoán Việt Nam được đánh dấu bởi những dấu mốc quan trọng sau.

19.1.4.1. Về hoạt động giao dịch: năm 2013 Thị trường chứng khoán Việt Nam vào Top 10 Thị trường chứng khoán có mức độ hồi phục mạnh nhất thế giới

Cùng với sự khởi sắc của các Thị trường chứng khoán chủ chốt trên thế giới, Thị trường chứng khoán Việt Nam đã có sự phục hồi và tăng trưởng mạnh mẽ. Kết thúc năm 2013, chỉ số VN Index trên Sở Giao dịch Chứng khoán (SGDCK) Tp. Hồ Chí Minh tăng 22% so với phiên giao dịch cuối cùng của năm 2012. Trong khi đó, chỉ số HNX Index trên SGDCK Hà Nội cũng tăng gần 19% so với phiên giao dịch cuối cùng của năm 2012. Kết quả trên đã đưa Thị trường chứng khoán Việt Nam nằm trong Top 10 Thị trường chứng khoán có mức tăng trưởng nhanh nhất thế giới trong năm 2013. 

Không chỉ tăng về điểm số, thanh khoản và quy mô của Thị trường chứng khoán Việt Nam cũng được cải thiện đáng kể với giá trị giao dịch (GTGD) bình quân mỗi phiên đạt 2.578 tỷ đồng/phiên, tăng 31% so với năm 2012; mức vốn hóa của Thị trường chứng khoán Việt Nam tính đến cuối năm 2013 đạt vào khoảng 964.000 tỷ đồng, tăng 199.000 tỷ đồng so với cuối năm 2012 và tương đương 32% tổng sản phẩm quốc nội (GDP). Về giá trị giao dịch: việc kéo dài thời gian giao dịch, áp dụng lệnh thị trường, nới biên độ giao dịch, điều chỉnh tỷ lệ giao dịch ký quỹ từ 40/60 lên 50/50 cũng đã hỗ trợ giúp tăng thanh khoản thị trường. Quy mô giao dịch bình quân mỗi phiên đạt 2.667 tỷ đồng, tăng 36% so với năm 2012, trong đó giao dịch trái phiếu chính phủ bình quân mỗi phiên đạt 1.304 tỷ đồng/phiên (tăng 97%); giao dịch cổ phiếu, chứng chỉ quỹ đạt 1.363 tỷ đồng, tăng 5% so với năm 2012).

Ngoài ra, sự phục hồi của Thị trường chứng khoán còn thể hiện khá rõ ở sự tăng lên của số lượng nhà đầu tư nước ngoài (ĐTNN) được cấp mã số giao dịch. Tính đến giữa tháng 12/2013, số lượng nhà ĐTNN được cấp mã số giao dịch tăng trên 60% sau khi sụt giảm hơn 40% trong năm 2012.

19.1.4.2. Về hoạt động niêm yết và huy động vốn

a. Hoạt động niêm yết:

Tính chung đến cuối năm 2013, trên 2 sàn có 680 cổ phiếu và chứng chỉ quỹ niêm yết với tổng giá trị niêm yết theo mệnh giá là 361 nghìn tỷ đồng, tăng 6,8% so với năm 2012. 9 tháng đầu năm 2013 so với cùng kỳ năm 2012 thì tổng doanh thu của các công ty niêm yết tăng khoảng 17 nghìn tỷ đồng (2,9%), tổng lợi nhuận sau thuế tăng 19,1%; chi phí tài chính giảm 12%; tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) tăng 8,5%. Tuy nhiên tỷ lệ công ty có lỗ lũy kế ở mức 20%, vẫn tương đương năm 2012; hàng tồn kho tăng 3,6% so với cùng kỳ năm 2012. Điều này cho thấy các công ty làm ăn có lãi thì tiếp tục có kết quả khả quan, còn các công ty đã bị lỗ thì tiếp tục lỗ nhiều hơn. Nếu so với các doanh nghiệp chưa niêm yết, các công ty niêm yết vẫn có khả năng lợi nhuận cao hơn.

Về niêm yết trái phiếu: có tổng cộng 517 mã trái phiếu niêm yết trên 2 sàn với giá trị niêm yết là 521 nghìn tỷ đồng, tăng 28% so với cuối năm 2012.

b. Huy động vốn:

Tổng giá trị huy động vốn ước đạt 243 nghìn tỷ đồng, tăng gần 30% (chiếm 22% tổng vốn đầu tư toàn xã hội); trong đó cổ phiếu và cổ phần hóa là 20,5 nghìn tỷ đồng, tăng 22% so với năm 2012.

Nếu như trong 6 tháng đầu năm 2013, tổng giá trị vốn huy động được từ hoạt động chào bán mới chỉ đạt 2.400 tỷ đồng, thì đến hết tháng 9/2013 con số này đã là 14.100 tỷ đồng, gần bằng con số của cả năm 2012 là 14.580 tỷ đồng (xem Đồ thị 1). Giá trị tăng trưởng so với năm 2012 tuy không cao nhưng đã cho thấy một dấu hiệu lạc quan trong việc huy động vốn từ chào bán cổ phiếu ra công chúng sau thời gian có dấu hiệu chững lại trước đó. Sự chuyển biến tích cực của hoạt động chào bán chứng khoán ra công chúng trong năm 2013 có được là nhờ những dấu hiệu hồi phục của nền kinh tế và những giải pháp mạnh mẽ của cơ quan quản lý trong việc củng cố thị trường đã được triển khai từ cuối năm 2012 và bắt đầu có được những kết quả tích cực ngay trong năm 2013. Trong số các biện pháp tổng thể thì biện pháp tái cấu trúc cơ sở hàng hóa trên Thị trường chứng khoán có liên quan trực tiếp đến kết quả của việc huy động vốn từ thị trường. Biện pháp này hướng tới 2 mục tiêu: Nâng cao chất lượng, đa dạng hóa các sản phẩm trên thị trường và tăng cường tính minh bạch trên Thị trường chứng khoán.

Đồ thị 19.1. Tổng giá trị đăng ký chào bán cổ phiếu năm 2012-2013

triệu VNĐ

 

Cùng với sự tăng trưởng của hoạt động chào bán cổ phiếu ra công chúng, giá trị vốn thu được từ việc chào bán cổ phiếu riêng lẻ của các CtyĐC trong năm 2013 cũng tăng trưởng một cách đáng kể. Tổng giá trị của cổ phiếu đăng ký phát hành riêng lẻ theo giá chào bán đạt xấp xỉ 24 nghìn tỷ đồng, gấp 5 lần so với năm 2012.

Trong hoạt động chào bán riêng lẻ, các đối tác chiến lược đa phần là các nhà ĐTNN tham gia mua cổ phiếu với số lượng lớn, ví dụ như các trường hợp phát hành của Ngân hàng thương mại (NHTM) cổ phần Công thương Việt Nam, Công ty Cổ phần (CtyCP) Tập đoàn Masan, CtyCP Hoàng Anh Gia Lai, CtyCP Hùng Vương, Tổng CtyCP Khoan và Dịch vụ khoan Dầu khí, CtyCP Đầu tư quốc tế Viettel (xem Đồ thị 20.2). Điều này cho thấy Thị trường chứng khoán Việt Nam tuy đang có những khó khăn nhất định nhưng vẫn có sức hấp dẫn đối với các nhà ĐTNN. Ngoài ra, các đối tác nước ngoài không chỉ tham gia đầu tư vào các CtyNY mà còn ở cả các CtyĐC chưa niêm yết, và đây là dấu hiệu đáng mừng cho thị trường tài chính Việt Nam. Với sự tham gia tích cực của các nhà đầu tư lớn trên thế giới với kinh nghiệm và cách thức tổ chức hoạt động bài bản sẽ không chỉ tài trợ nguồn vốn cần thiết mà còn hỗ trợ các CtyĐC nâng cao năng lực quản trị doanh nghiệp, từ đó góp phần xây dựng Thị trường chứng khoán hướng đến sự chuyên nghiệp và minh bạch.

Đồ thị 19.2. Số cổ phiếu đăng ký chào bán riêng lẻ của một số công ty trong năm 2013

Hiệu quả của một số phương thức chào bán mới

Trong những năm gần đây, do ảnh hưởng bởi sự suy giảm tăng trưởng của kinh tế, nhiều doanh nghiệp đã gặp khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh và đứng trước nguy cơ phá sản do mất cân đối trong cơ cấu nguồn vốn. Để duy trì hoạt động sản xuất, nhiều doanh nghiệp buộc phải thực hiện tái cơ cấu lại nguồn vốn hoặc tiến hành sáp nhập. Đối với các CtyĐC, các hoạt động trên gặp nhiều khó khăn do vướng mắc trong thủ tục pháp lý cũng như yêu cầu trong việc đảm bảo quyền lợi cho các cổ đông.

Xuất phát từ yêu cầu đó, Nghị định 58/2012/NĐ-CP được ban hành đã bổ sung các quy định, điều kiện cụ thể về các phương thức chào bán chứng khoán ra công chúng mới, trong đó điển hình là phương thức phát hành thêm cổ phiếu để hoán đổi. Sự bổ sung kịp thời này đã góp phần tháo gỡ khó khăn trong việc thực hiện sáp nhập, tái cơ cấu nguồn vốn sở hữu của một số CtyĐC thông qua hoạt động phát hành thêm cổ phiếu để hoán đổi ngay trong năm 2012. Sang năm 2013, nhiều CtyĐC tiếp tục sử dụng phương pháp phát hành này để cơ cấu lại hoạt động của doanh nghiệp (xem Bảng 19.1).

 Bảng 19.1.

STT

Đối tượng chào bán

Cổ phiếu hoán đổi

Số lượng cổ phiếu

1

CtyCP Chế tạo Điện cơ Hà Nội

CtyCP Cơ điện Hà Nội

2.450.000

2

CtyCP Kinh Đô

CtyCP Vinabico

1.105.704

3

CtyCP Hưng Đạo Container

CtyCP Cơ khí vận tải thương mại Đại Hưng

5.500.000

4

CtyCP Thiết bị y tế Việt Nhật

Nhà ĐTNN

4.070.000

5

CtyCP Sông đà 11

SEL và SINCO

3.556.208

6

CtyCP Thủy điện Cần Đơn

CtyCP Thủy điện Ry Ninh II

5.120.000

 Việc nhiều CtyĐC tích cực chủ động cơ cấu lại nguồn vốn thông qua hoạt động phát hành cổ phiếu hoán đổi đã phần nào thể hiện được vai trò của cơ quan quản lý nhà nước trong việc định hướng thị trường, tháo gỡ vướng mắc pháp lý để hỗ trợ doanh nghiệp trong việc cơ cấu lại tình hình tài chính trong bối cảnh khó khăn chung của nền kinh tế.

Có thể nói sự tăng trưởng về quy mô huy động vốn từ phát hành chứng khoán năm 2013 sau khoảng thời gian sụt giảm liên tục là một báo hiệu lạc quan cho hoạt động phát hành trong năm 2014 và những năm tiếp theo. Sự tăng trưởng không chỉ tập trung vào số lượng mà còn là sự cải thiện về chất lượng của các sản phẩm hàng hóa chứng khoán được chào bán trên thị trường cũng như cơ cấu nhà đầu tư trên thị trường. Bên cạnh đó, các chính sách vĩ mô đã tạo điều kiện cho các công ty chủ động hơn trong việc cơ cấu và tìm kiếm nguồn vốn. Từ đó dòng vốn trên thị trường sẽ được dịch chuyển đến những doanh nghiệp thực sự có nhu cầu, hướng tới một thị trường vốn hiệu quả và bền vững.

Vốn huy động qua trái phiếu Chính phủ đạt 195 nghìn tỷ đồng, tăng 16% so với năm 2012. Năm 2013, thị trường trái phiếu Việt Nam có tốc độ tăng trưởng cao nhất khu vực châu Á.Thị trường trái phiếu chính phủ (TPCP) năm 2013 tiếp tục khẳng định là kênh huy động vốn chính và hiệu quả cho ngân sách nhà nước, góp phần bình ổn lãi suất và định hướng điều hành chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa của Chính phủ. Tính đến ngày 31/12/2013, quy mô huy động qua TPCP đạt 194,8 nghìn tỷ đồng so với 156 nghìn tỷ đồng của năm 2012; tổng GTGD TPCP và tín phiếu đạt 417.106 tỷ đồng, GTGD bình quân đạt 1.668 tỷ đồng/ngày, tăng gấp 2 lần so với năm 2012. Những con số này đã góp phần đưa thị trường trái phiếu Việt Nam trở thành thị trường có mức tăng trưởng cao nhất khu vực châu Á.

Đặc biệt, điểm nhấn của thị trường trái phiếu Việt Nam trong năm qua là “Lộ trình phát triển thị trường trái phiếu Việt Nam đến năm 2020” đã được phê duyệt tại Quyết định 261/QĐ-BTC ngày 1/2/2013 của Bộ trưởng Bộ Tài chính. Đây là động lực quan trọng đối với sự phát triển của thị trường trái phiếu Việt Nam đến năm 2020 với định hướng, mục tiêu và giải pháp cụ thể. Đáng chú ý là các giải pháp được đưa ra trong Lộ trình được đánh giá là tương đối toàn diện và đồng bộ.

Cũng trong năm 2013, Hệ thống giao dịch TPCP phiên bản 2 đã chính thức được đưa vào vận hành, có ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động của thị trường trái phiếu khi góp phần đồng bộ hóa hệ thống giao dịch TPCP cũng như tăng cường sự  kết nối chặt chẽ giữa thị trường sơ cấp và thứ cấp. Bên cạnh đó, việc vận hành Hệ thống đường cong lợi suất TPCP trên SGDCK Hà Nội cũng được đánh giá là một trong các chỉ báo thanh khoản quan trọng giúp cơ quan quản lý, tổ chức phát hành và nhà đầu tư có thể đưa ra nhận định xu thế của thị trường và định giá trái phiếu khi xem xét đầu tư vào Việt Nam.

19.1.4.3. Về công tác hoàn thiện khung pháp lý và chính sách phát triển thị trường.

Trong năm qua, các văn bản pháp lý sau đã được phê duyệt và ban hành:

– Nghị định:

+ Nghị định số 108/2013/NĐ-CP ngày 23/9/2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán.

– Các Thông tư:

+ Thông tư số 02/2013/TT-BTC ngày 08/01/2013 sửa đổi, bổ sung Thông tư 27/2010/TT-BTC quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí hoạt động chứng khoán áp dụng tại các SGDCK và TTLKCK.

+ Thông tư số 13/2013/TT-BTC ngày 25/1/2013 về Giám sát giao dịch chứng khoán trên Thị trường chứng khoán thay thế QĐ số 127/2008.

+ Thông tư số 73/TT-BTC ngày 29/5 hướng dẫn niêm yết sau hợp nhất, sáp nhập.

+ Thông tư 87/2013/TT-BTC hướng dẫn giao dịch điện tử trên Thị trường chứng khoán sửa đổi, bổ sung Thông tư 50/2009/TT-BTC ngày 16/03/2009  hướng dẫn về giao dịch điện tử trên Thị trường chứng khoán

+ Thông tư số 91/2013/TT-BTC ngày 28/06/2013 hướng dẫn đăng ký thành lập, tổ chức và hoạt động văn phòng đại diện của tổ chức kinh doanh chứng khoán nước ngoài, chi nhánh công ty quản lý quỹ nước ngoài tại VN.

+ Thông tư số 217/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 hướng dẫn thực hiện xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán.

Ngoài ra, Quyết định thay thế Quyết định 55/2009/QĐ-TTg về tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài trên Thị trường chứng khoán Việt Nam; Đề án về thị trường chứng khoán phái sinh cũng đã được trình Chính phủ trong năm 2013.

UBCKNN cũng đã ban hành 11 văn bản quy định, hướng dẫn về chuyên môn nghiệp vụ như về hướng dẫn việc thiết lập và vận hành hệ thống quản trị rủi ro cho công ty chứng khoán, công ty QLQ; hướng dẫn xếp loại công ty chứng khoán theo chuẩn CAMEL phân loại công ty chứng khoán, công ty QLQ; Quy định chào mua, chào bán trên thị trường Trái phiếu Chính phủ; sổ tay nghiệp vụ hướng dẫn quản lý, giám sát, kiểm tra các công ty quản lý quỹ…

19.1.4.4. Về tình hình triển khai công tác tái cấu trúc Thị trường chứng khoán.

a. Tái cấu trúc cơ sở hàng hóa trên thị trường chứng khoán.

2013 cũng là năm tái cấu trúc mạnh mẽ về chứng khoán niêm yết trên cơ sở: nâng cao tiêu chuẩn niêm yết; triển khai phân loại, đánh giá các CtyNY dựa trên các tiêu chuẩn về quản trị công ty và các quy định về công bố thông tin; thực hiện hủy bỏ niêm yết đối với những công ty không duy trì được các tiêu chuẩn. Số lượng doanh nghiệp hủy niêm yết trong năm 2013 đã tăng gần gấp đôi so với năm 2012 với gần 40 doanh nghiệp trong khi con số này của năm 2012 là 21 doanh nghiệp. Phần lớn các doanh nghiệp hủy niêm yết là do không đáp ứng được các tiêu chuẩn niêm yết. Ngoài ra, số lượng các doanh nghiệp hủy niêm yết tự nguyện để tái cấu trúc cũng gia tăng mạnh. Trong bối cảnh khó khăn chung của nền kinh tế và sự khốc liệt của quá trình tái cấu trúc Thị trường chứng khoán, đây là một cuộc thanh lọc và đào thải những doanh nghiệp yếu kém nhằm đảm bảo chất lượng cho cơ sở hàng hóa niêm yết và giao dịch trên Thị trường chứng khoán Việt Nam. Đây cũng là một trong những chỉ báo quan trọng cho thấy hàng hóa niêm yết trên Thị trường chứng khoán đang có sự phân hóa và từng bước được cải thiện theo hướng nâng cao tiêu chuẩn, chất lượng, nhằm đảm bảo tính công bằng cho thị trường và tạo niềm tin cho nhà đầu tư.

Tiêu chuẩn phát hành, niêm yết được nâng cao theo Nghị định 58/2012/NĐ-CP ngày 20/7/2012 (tại SGDCK Tp. Hồ Chí Minh, tăng mức vốn điều lệ niêm yết tối thiểu từ 80 tỷ đồng lên 120 tỷ đồng; và từ 10 tỷ đồng lên 30 tỷ đồng tại SGDCK Hà Nội; bổ sung yêu cầu không có lỗ lũy kế và chỉ tiêu lãi trên vốn chủ sở hữu (ROE) phải tối thiểu 5%….). Trên cơ sở đó, Bộ Tài chính đã ban hành các văn bản pháp lý để nâng cao tính công khai, minh bạch của thị trường; tăng cường quản trị công ty và từng bước tiếp cận các chuẩn mực quốc tế. Đồng thời trên cơ sở chấp thuận của UBCKNN, các SGDCK đã ban hành các quy chế về niêm yết theo các tiêu chí cao hơn.

Nhằm tạo thuận lợi cho quá trình tái cấu trúc các công ty niêm yết qua quá trình hợp nhất, sáp nhập doanh nghiệp, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 73/2013/TT-BTC hướng dẫn về việc niêm yết của công ty cổ phần hình thành sau quá trình hợp nhất, sáp nhập doanh nghiệp.

b. Tái cấu trúc thị trường trái phiếu.

– Bộ Tài chính đã ban hành Lộ trình phát triển thị trường trái phiếu đến năm 2020 tại Quyết định số 261/QĐ-BTC ngày 1/2/2013, trong đó đề xuất chi tiết các giải pháp và kế hoạch triển khai cụ thể nhằm thúc đẩy thị trường trái phiếu bao gồm việc tiếp tục đẩy mạnh và đa dạng hóa trái phiếu Chính phủ có kỳ hạn từ 10 năm trở lên; củng cố hệ thống nhà đầu tư; hoàn thiện cơ chế và hệ thống giao dịch trái phiếu Chính phủ và xây dựng và phát triển hệ thống các nhà tạo lập thị trường.

– Bộ Tài chính tiếp tục đẩy mạnh và đa dạng hóa kỳ hạn phát hành trái phiếu Chính phủ thông qua việc: (i) thực hiện đều đặn (hàng tháng) trái phiếu kỳ hạn 10 năm để xây dựng và duy trì đường con lãi suất chuẩn; (ii) thực hiện phát hành trái phiếu kỳ hạn 15 năm theo phương thức bảo lãnh phát hành; (iii) hình thành các nhà tạo lập thị trường.

– Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư 234/2012/TT-BTC ngày 28/12/2012 hướng dẫn quản lý giao dịch TPCP, trái phiếu được CP bảo lãnh, trái phiếu chính quyền địa phương. Trên cơ sở đó Bộ Tài chính chỉ đạo UBCKNN ban hành quyết định 160/QĐ-UBCK quy định chào mua, chào bán trên thị trường trái phiếu Chính phủ (TPCP).

– Đã chính thức vận hành hệ thống giao dịch TPCP phiên bản 2 (đây là hệ thống hiện đại tích hợp các hoạt động đấu thầu, giao dịch tín phiếu, trái phiếu và công bố thông tin, tạo được sự liên thông giữa đấu thầu với giao dịch công cụ nợ ngắn hạn và dài hạn) và hệ thống Đường cong lợi suất TPCP, về cơ bản hệ thống hoạt động ổn định, không ghi nhận lỗi phát sinh, thành viên đã tham gia chào mua, chào bán trên cả hai hệ thống (Giao dịch và Đường cong lợi suất). Đây là cơ sở quan trọng để hoàn thiện thị trường nợ và tạo tiêu chuẩn cho cả thị trường cổ phiếu. Hệ thống đấu thầu điện tử đã được triển khai, qua đó cho phép điện tử hóa toàn bộ quá trình từ khi bắt đầu tới khi hoàn tất phiên đấu thầu, kết nối đồng bộ với tổ chức phát hành, thị trường giao dịch và các thành viên đấu thầu, qua đó góp phần nhanh chóng đưa TP phát hành vào giao dịch trên thị trường thứ cấp.

– Tiếp tục triển khai việc hoán đổi trái phiếu Chính phủ nhằm nâng cao tính thanh khoản cho trái phiếu Chính phủ; đã hoán đổi 4 đợt với khối lượng 33,4 triệu trái phiếu.

– Tiếp tục theo dõi đánh giá thành viên đấu thầu trái phiếu để từng bước hình thành hệ thống nhà tạo lập thị trường trên cả thị trường sơ cấp và thứ cấp; có văn bản công nhận 36 thành viên thị trường.

– Hiện nay Bộ Tài chính đang triển khai xây dựng Nghị định về thành lập và hoạt động của doanh nghiệp định mức tín nhiệm nhằm thúc đẩy sự phát triển của thị trường vốn nói chung và thị trường trái phiếu nói riêng; đồng thời phối hợp với các Bộ, ngành rà soát lại điều kiện phát hành trái phiếu doanh nghiệp. 

c. Tái cấu trúc cơ sở nhà đầu tư.

Để phát triển cơ sở các nhà đầu tư, trong thời gian qua đã triển khai các giải pháp:

Thứ nhất, hoàn thiện khung pháp lý cho phép hình thành các loại hình quỹ đầu tư chứng khoán. Liên quan tới nội dung này, trong năm 2011-2012, Bộ Tài chính đã ban hành 5 Thông tư hướng dẫn các quỹ có tư cách pháp nhân (công ty đầu tư chứng khoán), quỹ mở, quỹ đóng, quỹ thành viên, quỹ đầu tư bất động sản, quỹ ETF….(các Thông tư số 183/2011, 224/2012, 227/2012, 228/2012, 229/2012). Hiện nay hạ tầng kỹ thuật và cơ sở vật chất tại các SGDCK, TTLKCK đang được gấp rút hoàn thiện, bảo đảm sẵn sàng cung cấp dịch vụ cho các quỹ ETF nội địa ngay trong quý II năm 2014.

Ngoài ra, UBCKNN cũng đang tích cực phối hợp với Vụ TCNH, phối hợp với Bộ Lao động Thương binh Xã hội trong việc xây dựng đề án, phát triển hệ thống các quỹ hưu trí tự nguyện, quỹ hưu trí bổ sung. Việc phát triển quỹ hưu trí trên sẽ tạo điều kiện bổ sung hệ thống an sinh, đồng thời tạo ra nhà đầu tư có tổ chức với vốn dài hạn cho Thị trường chứng khoán. Thủ tướng Chính phủ cũng đã phê duyệt đề án phát triển chương trình hưu trí tự nguyện (Quyết định số 144/QĐ-TTg ngày 20/1/2014), trong đó đã giao Bộ Tài chính chủ trì phối hợp với các Bộ ngành triển khai xây dựng Nghị định về quỹ hưu trí tự nguyện theo mô hình ủy thác (Bộ Tài chính đang xây dựng Nghị định thành lập và tổ chức hoạt động Quỹ hưu trí tự nguyện để trình Chính phủ trong năm 2014). Trong thời gian tới, UBCKNN sẽ tiếp tục phối hợp chặt chẽ để hoàn thiện khung pháp lý cho loại hình quỹ này ra đời.

Thứ hai, tiết giảm thủ tục hành chính, tạo sự tiện lợi cho hoạt động giao dịch của nhà đầu tư nước ngoài và mở cửa thị trường dịch vụ chứng khoán theo cam kết WTO. Về nội dung này, Bộ Tài chính cũng đã ban hành Thông tư số 213/2012 và Thông tư số 91/2013. Ngoài ra, Bộ Tài chính, UBCKNN cũng đã đề xuất cấp có thẩm quyền quyết định xem xét việc tăng tỷ lệ sở hữu của các nhà đầu tư nước ngoài.

Thứ ba, nghiên cứu rà soát lại các chính sách thuế, phí, lệ phí nhằm khuyến khích thu hút nhà đầu tư trong và ngoài nước; triển khai đồng bộ với việc cải thiện tình hình thu, chi ngân sách. Riêng đối với các sản phẩm quỹ hưu trí thì cơ chế ưu đãi, khuyến khích cũng đã được đưa vào quy định tại Luật thuế thu nhập cá nhân số 26/2012/QH13 ngày 3/12/2012 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế TNCN và Luật thuế thu nhập doanh nghiệp số 32/2013/QH13 ngày 19/6/2013 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế TNDN.

Kết quả thực hiện:

(i) Đối với hệ thống các quỹ đầu tư chứng khoán, công tác tái cấu trúc đã thực hiện tương đối có kết quả rõ rệt, cụ thể đã thực hiện theo đúng hai xu hướng đề ra: (i) thay thế dần thế hệ các quỹ đóng bằng hệ thống các quỹ mở không gây xáo trộn thị trường, bảo đảm hoạt động linh hoạt hơn và có cơ chế bảo vệ nhà đầu tư tốt hơn; (ii) thay thế dần các quỹ thành viên bằng hệ thống các quỹ đại chúng (quỹ mở) hoạt động minh bạch hơn. Cho tới thời điểm hiện tại (hết tháng 1/2014) đã có 10 quỹ mở được cấp phép chào bán, thành lập. Như vậy, tổng số quỹ đại chúng đã chiếm hơn 50% số lượng quỹ đang hoạt động. Dự kiến sẽ có trên 05 quỹ mở mới trong thời gian tới. Đây là tín hiệu tích cực ban đầu nhằm tạo nền tảng tăng sức cầu cho thị trường trong vài năm sắp tới. Đáng lưu ý, trong số các quỹ mở được cấp phép, 4 quỹ được chuyển đổi từ quỹ đóng. Việc chuyển đổi này đã giúp Thị trường chứng khoán tránh được sự sụt giảm giá do các quỹ phải thanh lý tài sản để giải thể, đồng thời bảo đảm quyền lợi của nhà đầu tư. Nhìn chung, các chính sách về các sản phẩm quỹ mới bước đầu đã được thị trường đón nhận, đi vào thực tiễn, tạo tiền đề cho các sản phẩm quỹ mới (quỹ ETF, quỹ đầu tư bất động sản…) hình thành và phát triển trong thời gian tới. Riêng đối với quỹ ETF thì hệ thống giao dịch/vay & cho vay phục vụ cho hoạt động của quỹ này về cơ bản cũng đã được hoàn thiện, sẵn sàng đón nhận sự ra đời của loại hình quỹ này trong năm 2014.

Thực tế vừa qua cho thấy, quá trình tái cấu trúc hệ thống các quỹ đầu tư đã được thực hiện tương đối êm dịu, không những đã không gây xáo động đến hoạt động và tâm lý chung của thị trường, mà còn giúp bảo vệ được lợi ích của nhà đầu tư tham gia vào quỹ (giá trị tài sản ròng (NAV) của các quỹ liên tục tăng mạnh). Đây là kết quả tích cực đáng ghi nhận.

(ii) Số lượng tài khoản đến nay đạt gần 1,4 triệu, trong đó số lượng nhà đầu tư nước ngoài tăng 10%; đặc biệt là nhà đầu tư tổ chức nước ngoài tăng 55% so với cuối năm 2012. Như vậy, Thông tư 213/2012/TT-BTC được ban hành và có hiệu lực từ ngày 15/2/2013 nhằm cải cách thủ tục hành chính, đã góp phần thu hút và tạo điều kiện cho các nhà đầu tư nước ngoài dễ tiếp cận thị trường chứng khoán Việt Nam.

d. Công tác quản lý và tái cấu trúc các tổ chức kinh doanh chứng khoán.

Để thực hiện công tác này, rất nhiều văn bản chính sách trong thời gian vừa qua đã được ban hành kịp thời, cụ thể như sau:

Thứ nhất, hoàn thiện các quy định về an toàn tài chính, theo hướng rút ngắn thời gian khắc phục nhằm giảm bớt số lượng các định chế trung gian. Để thực hiện việc này, Bộ Tài chính đã ban hành 2 Thông tư, Thông tư số 226/2010 và  Thông tư số 165/2012 ngày 9/10/2012 sửa đổi, bổ sung Thông tư 226 theo hướng củng cố các biện pháp xử lý đối với các tổ chức kinh doanh chứng khoán không bảo đảm an toàn tài chính (02 Thông tư này sau đó đã được hợp nhất tại Thông tư số 91/2013).

Thứ hai, hoàn thiện các quy định về tổ chức, hoạt động theo hướng siết chặt quản lý hoạt động cung cấp dịch vụ của các công ty chứng khoán; thể chế hóa các yêu cầu, tiêu chí, điều kiện về hệ thống kiểm soát nội bộ, kiểm toán nội bộ, quản trị rủi ro và quản trị điều hành doanh nghiệp. Về nội dung này, Bộ Tài chính đã ban hành 02 Thông tư (số 210/2012 và số 212/2012).

Thứ ba, mở cửa thị trường theo cam kết WTO, cho phép hình thành tổ chức kinh doanh chứng khoán 100% vốn nước ngoài theo cam kết WTO nhằm tăng sức cạnh tranh trên Thị trường chứng khoán. Về nội dung này, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 91/2013.

Thứ tư, hoàn thiện hệ thống quản lý, giám sát dựa trên rủi ro nhằm tăng cường khả năng, hiệu quả quản lý nhà nước, giám sát đối với các tổ chức kinh doanh chứng khoán này theo tiêu chuẩn quốc tế. Về nội dung này, UBCKNN đã ban hành các quy chế quản lý, giám sát theo bộ tiêu chí CAMEL (Quyết định 427/QĐ-UBCK ngày 11/7/2013 về việc ban hành Quy chế hướng dẫn đánh giá, xếp loại công ty quản lý quỹ; Quyết định số 617/QĐ-UBCK ngày 9/10/2013 về việc ban hành Quy chế hướng dẫn xếp loại công ty chứng khoán). Đây thực chất là hệ thống các tiêu chí kỹ thuật nhằm cảnh báo trước rủi ro trong hoạt động của các công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ. Kết quả giám sát sẽ làm cơ sở cho việc thanh tra, kiểm tra hoạt động các tổ chức này.

Đối với các tổ chức kinh doanh chứng khoán, UBCKNN cũng đã ban hành quy chế hướng dẫn các tổ chức này cách thức thiết lập và vận hành hệ thống quản trị rủi ro, cụ thể như Quyết định số 105/QĐ-UBCK ngày 26/2/2013 và Quyết định số 428/QĐ-UBCK ngày 11/7/2013 về việc thiết lập và vận hành hệ thống quản trị rủi ro cho công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ.

Đây là những cơ sở pháp lý quan trọng để thúc đẩy việc tái cấu trúc các tổ chức kinh doanh chứng khoán và nâng cao chất lượng hoạt động của các tổ chức này.Kết quả thực hiện:

Hoạt động tái cấu trúc các tổ chức kinh doanh chứng khoán trong năm 2013 được UBCKNN coi là trọng tâm và thúc đẩy quyết liệt theo nguyên tắc không làm xáo trộn thị trường, thực hiện theo cơ chế tự nguyện và thị trường bảo đảm minh bạch, an toàn cho tài sản của khách hàng.

Căn cứ Đề án Tái cấu trúc thị trường chứng khoán đã được phê duyệt và dựa trên cơ sở các văn bản pháp lý đã ban hành, đặc biệt là tỷ lệ vốn khả dụng, UBCKNN đã phân loại các công ty chứng khoán thành 4 nhóm, từ đó có các giải pháp phù hợp để xử lý.

 Kết quả thực hiện công tác tái cấu trúc cho tới thời điểm hiện tại (hết tháng 1/2014) như sau:

Tính đến hết tháng 1 năm 2014, có 24 công ty chứng khoán và 6 công ty quản lý quỹ đã được tái cấu trúc, rút khỏi thị trường dưới các hình thức như giải thể, đình chỉ hoạt động, tạm ngừng hoạt động, kiểm soát, kiểm soát đặc biệt hoặc từng bước rút các nghiệp vụ kinh doanh, cụ thể:

 

Giải thể

Chấm dứt hoạt động

Hợp nhất

Đình chỉ /

Tạm ngừng

hoạt động

Kiểm soát đặc biệt

Kiểm soát

Rút nghiệp vụ*

Công ty CK

3

3

2

2

5

5

12

Công ty QLQ

1

1

0

4

1

0

0

 *Trong đó, rút nghiệp vụ Môi giới chứng khoán của 06 CTCK; rút nghiệp vụ Tự doanh của 02 công ty; rút nghiệp vụ Bảo lãnh phát hành của 04 công ty; rút nghiệp vụ tư vấn đầu tư chứng khoán của 01 công ty.

Như vậy, từ 103 nay chỉ còn 89 công ty chứng khoán còn hoạt động có nghiệp vụ Môi giới chứng khoán; từ 47 nay chỉ còn 41 công ty quản lý quỹ đang hoạt động. Các CTQLQ hoạt động kém hiệu quả, cổ đông là các cá nhân đang dần được thay thế bởi các CTQLQ trực thuộc các tập đoàn tài chính lớn, có tình hình tài chính lành mạnh và năng lực cao trong công tác quản trị công ty. Kết quả tái cấu trúc sau một năm cho thấy đã thu hẹp khoảng gần 20% số lượng các tổ chức kinh doanh chứng khoán.

e. Tái cấu trúc Sở giao dịch chứng khoán và Trung tâm lưu ký chứng khoán

UBCKNN đang xây dựng Đề án hợp nhất 2 Sở giao dịch chứng khoán và Quyết định của Thủ tướng Chính phủ thành lập Sở Giao dịch chứng khoán Việt Nam trên nguyên tắc thống nhất về bộ máy lãnh đạo, công nghệ; phân loại hàng hóa giữa 2 sàn tại Tp. Hồ Chí Minh và Hà Nội; bảo đảm tiến hành từng bước, không gây xáo trộn lớn.

Đang nghiên cứu xây dựng Trung tâm thanh toán bù trừ theo mô hình đối tác trung tâm; Hệ thống vay và cho vay chứng khoán phục vụ cho việc thanh toán, bù trừ các sản phẩm phái sinh; triển khai đề án chuyển chức năng thanh toán tiền trái phiếu Chính phủ từ ngân hàng thương mại sang Ngân hàng Nhà nước.

19.1.4.5. Công tác thanh tra, giám sát và xử lý vi phạm

Trong bối cảnh thị trường có nhiều khó khăn và tiềm ẩn nhiều vấn đề phức tạp phát sinh, do vậy công tác giám sát, thanh tra, kiểm tra đối với các tổ chức, cá nhân tham gia thị trường đã hết sức được chú trọng triển khai, phối hợp chặt chẽ, đặc biệt là với cơ quan công an. Các hành vi vi phạm pháp luật trên thị trường chứng khoán đã được xử lý nghiêm, kịp thời và được công bố công khai, cụ thể như sau:

– Đã tổ chức 14 đoàn thanh tra và 33 đoàn kiểm tra đối với các CTCK, CTQLQ, công ty đại chúng, thao túng giá chứng khoán. UBCKNN đã ban hành 84 quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với các tổ chức và cá nhân, với tổng số tiền phạt gần 8 tỷ đồng. Bên cạnh đó UBCK đã áp dụng hình thức xử phạt bổ sung là đình chỉ hoạt động môi giới có thời hạn đối với 01 công ty chứng khoán do hành vi cho khách hàng vay chứng khoán khi chưa có quy định của Bộ Tài chính, đình chỉ hoạt động có thời hạn đối với 01 công ty quản lý quỹ do hoạt động không đúng nội dung quy định trong giấy phép.

– Tổ chức thanh tra, kiểm tra đối với các tổ chức kinh doanh dịch vụ chứng khoán dựa trên các tiêu chí về duy trì điều kiện cấp phép; việc đáp ứng các chỉ tiêu an toàn tài chính. Các vi phạm bị xử phạt chính trong thời gian qua chủ yếu là các vi phạm về báo cáo và công bố thông tin, cho khách hàng đặt lệnh khi không có tiền trong tài khoản, cho khách hàng vay chứng khoán để bán, chưa tách bạch hoàn toàn tiền của nhà đầu tư và của công ty chứng khoán, chuyển nhượng trên 10% vốn điều lệ không đúng quy định … Một số công ty chứng khoán có nhiều vi phạm nghĩa vụ báo cáo, công bố thông tin đều gặp khó khăn về tài chính, tình hình hoạt động. Đối với công ty quản lý quỹ: vi phạm quy định về báo cáo và công bố thông tin, cho vay người có liên quan, tổ chức lưu trữ tài liệu không đúng quy định, không ban hành đầy đủ quy trình nghiệp vụ…

– Tiếp tục tăng cường công tác quản lý, giám sát, xử lý vi phạm về thao túng giá, giao dịch nội bộ: triển khai 07 đoàn kiểm tra giao dịch về thao túng giá chứng khoán. Bên cạnh hình thức phạt tiền đối với các trường hợp vi phạm, UBCKNN đã thực hiện tịch thu khoản thu lời trái pháp luật đối với 01 trường hợp xác định được có khoản thu lời trái pháp luật.

– Thường xuyên có sự phối hợp chặt chẽ với cơ quan công an trong công tác phòng ngừa, phát hiện, điều tra làm rõ và xử lý các vi phạm trong lĩnh vực chứng khoán trên cơ sở Thông tư liên tịch số 46/2009/TTLT-BTC-BCA ngày 11/3/2009 ký giữa Bộ Tài chính và Bộ Công an. UBCKNN đã chuyển một số vụ việc cho cơ quan công an để điều tra, làm rõ bao gồm: 07 vụ việc theo đơn tố cáo và thuộc thẩm quyền cơ quan công an. Bên cạnh đó, thường xuyên trao đổi, phối hợp công việc, cung cấp thông tin và tài liệu với cơ quan công an trong việc điều tra, xử lý tội phạm trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán.

– Công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo được thực hiện tốt, đảm bảo tuân thủ quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục và thời hạn, không để đơn thư tồn đọng, kéo dài và xử lý nhiều đơn thư phản ánh của nhà đầu tư. Đối với các tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật về chứng khoán (phát hiện qua đơn thư khiếu nại), đều bị xử lý nghiêm theo quy định. Đối với các tranh chấp phát sinh giữa nhà đầu tư và công ty chứng khoán, công ty đại chúng đều được UBCK trả lời và hướng dẫn nhà đầu tư thực hiện theo quy định của pháp luật.

– Việc hoàn thiện chế tài xử lý hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và Thị trường chứng khoán được thể hiện qua quy định tại Nghị định 108/2013/NĐ-CP (Nghị định 108/CP) ngày 23/9/2013 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và Thị trường chứng khoán, thay thế cho Nghị định 85/2010/NĐ-CP. Theo đó, mức xử phạt hành chính trong lĩnh vực chứng khoán được nâng lên tối đa 02 tỷ đồng đối với tổ chức và 01 tỷ đồng đối với cá nhân. Nghị định 108/CP cũng có chế tài đối với hành vi không đưa chứng khoán đã chào bán ra công chúng vào giao dịch trên thị trường có tổ chức trong thời hạn 01 năm kể từ ngày kết thúc đợt chào bán nhằm chấm dứt hiện tượng các doanh nghiệp CPH chậm trễ niêm yết cổ phiếu. Nghị định 108/CP cũng quy định thẩm quyền xử phạt đến mức tối đa của Chủ tịch UBCKNN, nâng thẩm quyền xử phạt của Chánh Thanh tra UBCKNN và bổ sung thẩm quyền xử phạt của Trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành của UBCKNN.

Nghị định 108/CP đáp ứng được yêu cầu nâng cao tính răn đe, phòng ngừa vi phạm trên thị trường, đảm bảo thống nhất với những nguyên tắc xử lý vi phạm hành chính tại Luật Xử lý vi phạm hành chính có hiệu lực từ ngày 01/7/2013, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán, Nghị định số 58/2012/NĐ-CP, Nghị định số 90/2011/NĐ-CP. Đây được đánh giá là bước tiến quan trọng trong quá trình hoàn thiện khung pháp lý về bảo đảm thực thi các quy định pháp luật trong lĩnh vực chứng khoán và Thị trường chứng khoán, đồng thời có tác động quan trọng trong phát triển Thị trường chứng khoán.

2013 cũng ghi nhận lần đầu tiên có hướng dẫn cụ thể về xử lý hình sự đối với 3 tội danh trong lĩnh vực chứng khoán được quy định tại các Điều 181a, 181b, 181c Bộ Luật hình sự, gồm: cố ý thông tin sai lệch hoặc che giấu sự thật trong hoạt động chứng khoán; sử dụng thông tin nội bộ để mua bán chứng khoán và thao túng giá chứng khoán.

19.1.4.6. Công tác quản lý, giám sát công ty đại chúng, tạo hàng hoá cho thị trường và thẩm định kiểm toán chấp thuận.

Trong năm qua, một mặt do tình hình kinh tế khó khăn, mặt khác do các điều kiện niêm yết, quản lý giám sát chặt chẽ hơn đặc biệt là về tiêu chuẩn niêm yết, công bố thông tin nên số lượng công ty niêm yết mới giảm và số lượng công ty bị hủy niêm yết tăng với mức cao nhất từ trước tới nay, cụ thể như sau: Số lượng công ty niêm yết mới chỉ tăng khoảng 13 công ty (so với 25 công ty niêm yết mới cùng kỳ năm 2012); trong khi đó có 37 công ty hủy niêm yết (tăng 16 công ty do vấn đề không bảo đảm điều kiện niêm yết, vi phạm chế độ công bố thông tin, thực hiện tái cấu trúc công ty,..); tổng số công ty niêm yết trên 2 sàn là 683 công ty (chưa kể 139 công ty giao dịch trên hệ thống Upcom).

Hoạt động quản lý, giám sát các công ty đại chúng, tổ chức niêm yết tiếp tục được tăng cường theo các quy định mới. UBCKNN đã chỉ đạo các Sở giám sát thường xuyên tình hình thực hiện chế độ báo cáo và nghĩa vụ công bố thông tin của tổ chức niêm yết, đăng ký giao dịch; giao dịch cổ đông lớn, cổ đông sáng lập, cổ đông nội bộ và người có liên quan; giám sát nội dung công bố thông tin về tình hình quản trị công ty; giám sát việc lập trang thông tin điện tử (website) và việc thực hiện công bố thông tin trên website ; thường xuyên nhắc nhở và đưa vào xử lý các hình thức vi phạm theo quy định nhằm cải thiện hoạt động công bố thông tin của các tổ chức niêm yết.

Thông tư 121 hướng dẫn về quản trị công ty áp dụng cho các công ty đại chúng được ký ban hành ngày 26/7/2012. Việc quản trị công ty được tăng cường và từng bước tiếp cận các chuẩn mực quốc tế, từ chỗ chỉ áp dụng với công ty niêm yết chuyển sang áp dụng với cả các công ty đại chúng và yêu cầu chặt chẽ hơn đối với công ty đại chúng quy mô lớn. Tuy nhiên, nhằm tháo gỡ vướng mắc trong quá trình triển khai và tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, UBCKNN đang dự thảo sửa Thông tư thay thế Thông tư sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 121/2012/TT-BTC ngày 26/7/2012 của Bộ Tài chính quy định về quản trị công ty áp dụng cho các công ty đại chúng.

Công tác thẩm định hồ sơ đăng ký công ty kiểm toán và kiểm toán viên được chấp thuận được thực hiện theo đúng quy trình, quy định. UBCKNN về cơ bản đã hoàn tất các hồ sơ đăng ký công ty kiểm toán và kiểm toán viên được chấp thuận kiểm toán cho các tổ chức phát hành, tổ chức niêm yết và tổ chức kinh doanh chứng khoán năm 2014.

19.1.4.7.  Hoạt động của Sở giao dịch, TTLK

– Các Sở hoàn thiện các quy chế, quy trình nghiệp vụ nhằm đáp ứng được quy định và yêu cầu mới, đặc biệt các vấn đề liên quan đến giao dịch, niêm yết…; Các Sở đã triển khai hệ thống giao dịch mới, nâng cao năng lực xử lý lên gấp 20-30 lần, kéo dài thời gian giao dịch, thay đổi kết cấu giao dịch và áp dụng các loại lệnh mới (lệnh thị trường: MTL, MOK, MAK ), xây dựng chỉ số mới (HNX composite, bộ chỉ số theo quy mô, bộ chỉ số ngành,…) góp phần gia tăng tính thanh khoản và tạo thuận lợi cho nhà đầu tư trong giao dịch trong bối cảnh thị trường có nhiều khó khăn. Các Sở cũng đang tích cực nghiên cứu triển khai các sản phẩm mới ETF, warrant, covered warrant, NVDR, các sản phẩm trái phiếu mới và các sản phẩm phái sinh. Hiện các Sở cũng đang xây dựng  hạ tầng kỹ thuật, quy trình nghiệp vụ để chuẩn bị sẵn sàng cho việc triển khai sản phẩm quỹ ETF dự kiến vào đầu năm 2014.

– Với thị trường giao dịch trái phiếu chính phủ: đã đưa vào vận hành hệ thống giao dịch TPCP phiên bản 2, hệ thống giao dịch tín phiếu Kho bạc và hệ thống Đường cong lợi suất TPCP giúp làm tăng mạnh thanh khoản trên thị trường thứ cấp (tăng gấp 2 lần so với năm 2012). Ngoài ra, hệ thống Đường cong lợi suất TPCP được triển khai đã giúp cho lãi suất phát hành và lợi suất trên thị trường thứ cấp bám sát nhau và ngày càng sát với diễn biến lãi suất trên thị trường tiền tệ

– Về phía Trung tâm lưu ký: thực hiện và nghiên cứu xây dựng các đề án đã đăng ký: trình Bộ đề án chuyển chức năng thanh toán tiền giao dịch trái phiếu Chính phủ; Quy chế vay và cho vay chứng khoán; Quy chế về giao dịch hoán đổi đăng ký, lưu ký, bù trừ, thanh toán chứng khoán và thực hiện quyền đối với chứng chỉ quỹ ETF; mô hình đối tác thanh toán bù trừ trung tâm (CCP); Xây dựng cổng giao tiếp điện tử với NHNN, triển khai các hoạt động liên quan đến việc xử lý giao dịch giấy tờ có giá với Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước… Thực hiện việc thanh toán an toàn, đúng hạn cho các giao dịch, góp phần đảm bảo sự vận hành liên tục và hiệu quả của thị trường chứng khoán. Tăng cường hoạt động giám sát và quản lý thành viên, thực hiện vai trò giám sát đối với giao dịch chứng khoán, xử lý kịp thời các trường hợp mất khả năng thanh toán của CTCK, đảm bảo ổn định thị trường.

– SGDCK Tp.HCM phối hợp với các đơn vị thụ hưởng triển khai thực hiện các nội dung công việc trong giai đoạn Phân tích-thiết kế và thống nhất ký kết Quy chế phối hợp triển khai với 2 đơn vị thụ hưởng.

19.1.4.8. Hợp tác quốc tế, CNTT và nghiên cứu khoa học, tuyên truyền.

* Công tác đối ngoại và hợp tác quốc tế:

Sau những nỗ lực chuẩn bị rất công phu của Bộ Tài chính, UBCKNN trong suốt hai năm liên tục kể từ khi được chấp nhận tham gia vào Phụ lục B của MMOU, trên cơ sở hỗ trợ tích cực của Văn phòng Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao, Bộ Kế hoạch và Đầu tư…, ngày 18/9/2013, UBCKNN đã chính thức được chấp thuận trở thành thành viên ký kết Phụ lục A, Biên bản ghi nhớ đa phương (MMOU) của IOSCO. Theo đó, Thị trường chứng khoán Việt Nam được xếp vào danh sách một trong 80 Thị trường chứng khoán minh bạch nhất toàn cầu.

Đây được coi là một bước tiến quan trọng, đánh dấu chặng đường mới, hội nhập sâu rộng với quốc tế của Ngành Chứng khoán Việt Nam trong tiến trình phát triển. Thành công này là một động lực quan trọng đối với UBCKNN trong việc quản lý, phát triển Thị trường chứng khoán theo các thông lệ tốt nhất được quốc tế khuyến nghị áp dụng. Sự kiện này sẽ góp phần nâng cao vị thế, mức độ tín nhiệm của Thị trường chứng khoán Việt Nam, góp phần tăng sức hấp dẫn đối với các nguồn vốn trong và ngoài nước đầu tư vào Thị trường chứng khoán, qua đó đóng góp vào sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.

* Công tác ứng dụng CNTT:

Nhận thức được tầm quan trọng của việc áp dụng công nghệ thông tin (CNTT) hiện đại vào công tác quản lý, giám sát thị trường, nhằm giúp bảo vệ nhà đầu tư và duy trì một thị trường hoạt động công bằng, công khai và minh bạch, trong năm 2013, UBCKNN đã khai trương và bước đầu đưa vào vận hành Hệ thống Quản lý Giám sát Thị trường chứng khoán tự động (Market Surveillance System – MSS) và Hệ thống Công bố thông tin chứng khoán (IDS). Với nhiều tiện ích, hai Hệ thống này hỗ trợ cho UBCKNN trong công tác quản lý, giám sát hoạt động giao dịch chứng khoán trên thị trường và tăng cường minh bạch nhằm đảm bảo thị trường phát triển lành mạnh và bảo vệ nhà đầu tư. Hệ thống MSS giúp cơ quan quản lý tăng cường năng lực quản lý, giám sát thị trường thông qua hệ thống tiêu chí giám sát và tập trung cơ sở dữ liệu giao dịch chứng khoán trên SGDCK. Hệ thống IDS giúp UBCKNN tăng cường khả năng quản lý, giám sát đối với các thông tin được công bố, tăng tốc độ xử lý thông tin, đồng thời hỗ trợ các công ty đại chúng thực hiện nghĩa vụ báo cáo và CBTT dễ dàng, nhanh chóng hơn, đồng thời tiết kiệm thời gian, chi phí. Ứng dụng CNTT hiện đại trong hoạt động quản lý, giám sát Thị trường chứng khoán đã mang lại những hiệu quả thiết thực, phù hợp với yêu cầu hoạt động và thực tiễn phát triển Thị trường chứng khoán Việt Nam, góp phần tạo dựng một Thị trường chứng khoán Việt Nam công khai, minh bạch, đồng thời đáp ứng các thông lệ và chuẩn mực quốc tế.

19.1.4.9. Về công tác nghiên cứu khoa học, tuyên truyền và phổ cập kiến thức.

– Hoàn thành 64 khóa đào tạo cấp chứng chỉ chuyên môn cho 3.456 lượt học viên (tăng 4%); 14 khóa học về Quản trị công ty với 975 học viên; hoàn thành 13 đề tài nghiên cứu khoa học.

19.1.5. Đánh giá chung các mặt được và tồn tại.

19.1.5.1. Các mặt được.

a. Hệ thống văn bản pháp lý và cơ chế, chính sách cho Thị trường chứng khoán tiếp tục được đẩy mạnh và hoàn thiện theo hướng tiếp cận các thông lệ quốc tế. Nhiều văn bản pháp lý đã tiếp tục được sửa đổi, bổ sung để ban hành; trong đó đặc biệt là văn bản pháp lý về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và Thị trường chứng khoán đã được củng cố và tăng sức răn đe.

b. Công tác tái cấu trúc các tổ chức kinh doanh chứng khoán, cơ sở nhà đầu tư đạt những thành quả nhất định: Hoạt động tái cấu trúc được đẩy mạnh, với việc sắp xếp lại các tổ chức kinh doanh chứng khoán trên nguyên tắc không làm xáo trộn thị trường và hình thức phù hợp, đồng thời sử dụng các nghiệp vụ thị  trường để tái cơ cấu thông qua cơ chế góp vốn minh bạch và tiêu chí bảo đảm năng lực, an toàn tài chính. Nhiều tổ chức kinh doanh chứng khoán đã nỗ lực vượt qua khó khăn, tự tái cấu trúc trên các mặt cơ cấu tổ chức, nhân sự, hoạt động, năng lực tài chính, mô hình kinh doanh, quản trị rủi ro, quản trị công ty; nâng cao trình độ và đạo đức nghề nghiệp. Khung pháp lý về các loại hình quỹ đã được ban hành, qua đó giúp từng bước hình thành các loại hình quỹ mới và tạo sức cầu trên thị trường.

c. Thị trường cổ phiếu đã có kết quả tích cực về chỉ số thị trường, thanh khoản, mức vốn hóa, quy mô huy động vốn…một mặt nhờ vào các giải pháp kỹ thuật phù hợp như kéo dài thời gian giao dịch, áp dụng lệnh thị trường, nới biên độ giao dịch, điều chỉnh tỷ lệ giao dịch ký quỹ từ 40/60 lên 50/50; đồng thời kỷ luật về báo cáo và CBTT cũng đã được tăng cường; hệ thống công bố thông tin tự động, cơ sở dữ liệu, hệ thống giám sát tại UBCKNN, các SGDCK ngày càng được xây dựng, nâng cấp theo hướng hiện đại.

d. Thị trường trái phiếu Chính phủ đạt kỷ lục mới: quy mô huy động vốn trái phiếu Chính phủ qua thị trường chứng khoán tăng cao so với năm 2012 góp phần tích cực cho công tác huy động vốn cho Ngân sách. Ngoài ra, hệ thống Đường cong lợi suất trái phiếu chính phủ chính thức triển khai đã tạo ra một chỉ báo quan trọng về lãi suất trái phiếu, nhờ vậy, diễn biến lãi suất phát hành và lợi suất trên thị trường thứ cấp bám sát nhau và ngày càng sát với diễn biến lãi suất trên thị trường tiền tệ.

e. Công tác thanh tra, giám sát và xử lý vi phạm trên Thị trường chứng khoán tiếp tục được tăng cường; các trường hợp vi phạm đều được xử lý kiên quyết, kịp thời, đúng quy định; đồng thời có sự phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng. 

f. Công tác hội nhập đã đạt được những bước tiến lớn khi Việt Nam chính thức trở thành thành viên ký kết đầy đủ của MMOU IOSCO, ký kết phụ lục A, Biên bản ghi nhớ đa phương của IOSCO. Đây là một thành công lớn của ngành chứng khoán Việt Nam trong quá trình hội nhập với thị trường vốn quốc tế.

19.1.5.2. Các mặt tồn tại.

a. Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp còn khó khăn.

Tình hình kinh tế vĩ mô đã từng bước ổn định nhưng tốc độ tăng trưởng kinh tế chưa cao; tăng trưởng tín dụng thấp; nợ xấu còn cao; sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp còn khó khăn, thua lỗ ảnh hưởng đến nhiều lĩnh vực trong đó có Thị trường chứng khoán; giá cổ phiếu của nhiều công ty còn dưới mệnh giá khiến cho việc huy động vốn còn nhiều khó khăn.

b. Công tác thanh tra, giám sát và xử lý vi phạm cũng còn có những khó khăn.

– Phạm vi, đối tượng thanh tra, kiểm tra ngày càng rộng; khối lượng công việc ngày càng lớn.

– Các vi phạm trên thị trường ngày càng tinh vi, phức tạp, khó phát hiện và xử lý: việc chứng minh hành vi vi phạm gặp khó khăn, nhất là trong việc xác định mối quan hệ giữa các đối tượng nghi vấn. Trong khi đó thẩm quyền của UBCKNN trong công tác thanh tra, giám sát hiện nay còn hạn chế, khác với UBCK các nước: UBCKNN Việt Nam không có khả năng thu thập thông tin về tài khoản và giao dịch ngân hàng; không có quyền tiếp cận điện thoại, thư tín điện tử. Do vậy, UBCKNN gặp nhiều khó khăn trong công tác xác minh, xử lý các vụ việc giao dịch nội gián và thao túng thị trường trong thời gian qua.

c. Năng lực hoạt động của CTCK còn hạn chế, công tác tái cấu trúc CTCK còn nhiều khó khăn.

– Hoạt động của nhiều CTCK còn bị thua lỗ hậu quả của việc đầu tư tự doanh rủi ro trước đây. Chất lượng báo cáo tài chính kiểm toán còn chưa cao; ý thức tuân thủ đạo đức nghề nghiệp đã có cải thiện nhưng vẫn còn hạn chế. Có các CTCK do hoạt động kinh doanh chưa khả quan trong khi khó huy động vốn nên chỉ tiêu an toàn tài chính của nhiều công ty chứng khoán chưa bảo đảm.

d. Quá trình triển khai tái cấu trúc Thị trường chứng khoán trong giai đoạn hiện nay còn gặp nhiều khó khăn do:

– Việc tái cấu trúc Thị trường chứng khoán đang được thực hiện trên nguyên tắc thị trường do vậy hoàn toàn không có sự hỗ trợ về vốn của Chính phủ.

– Việc tái cấu trúc Thị trường chứng khoán còn có vướng mắc về pháp lý, cơ chế đối với vấn đề nhà đầu tư nước ngoài; cơ chế tài chính, chế độ kế toán và thuế đối với một số loại hình quỹ đầu tư.

– Việc tái cấu trúc triển khai trong bối cảnh các thành viên thị trường cũng đang phải đối mặt với rất nhiều khó khăn và cũng cần tự thay đổi, sửa chữa lại chính những khiếm khuyết mắc phải.

– Tái cấu trúc Thị trường chứng khoán được tiến hành trong điều kiện các DNNN phải thực hiện thoái vốn, thu hẹp phạm vi đầu tư ngoài ngành nên cũng tạo áp lực không nhỏ tới tâm lý; diễn biến thị trường cũng như hoạt động của các tổ chức kinh doanh chứng khoán.

19.2. Mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp thực hiện năm 2014.

19.2.1.  Dự báo thị trường chứng khoán năm 2014.

Bước sang năm 2014, kinh tế thế giới và trong nước được dự báo vẫn còn đối mặt với những khó khăn, thách thức nhưng cũng xuất hiện các cơ hội và điều kiện thuận lợi.

a. Các yếu tố thuận lợi.

Mặc dù nhìn chung tình hình kinh tế trong nước năm 2014 được dự báo vẫn còn những khó khăn, thách thức nhưng cũng có những yếu tố thuận lợi, đó là:

– Kinh tế toàn cầu sẽ khởi sắc hơn trong năm 2014, IMF dự báo tăng trưởng toàn cầu 2014 đạt 3,6%. Lạm phát tiếp tục ở mức thấp và ổn định; giá cả những mặt hàng hóa cơ bản vẫn theo xu hướng giảm. Thị trường tài chính thế giới nhìn chung dự báo ổn định.

– Kinh tế vĩ mô trong nước tiếp tục có dấu hiệu ổn định: lạm phát được kiểm soát, mặt bằng lãi suất thấp, tỷ giá được duy trì ổn định, dự trữ ngoại hối tăng mạnh (kiều hối đạt kỷ lục 11 tỷ USD)…

– Chính sách kinh tế vĩ mô của Chính phủ trong năm 2014 tiếp tục đặt trọng tâm vào ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, thúc đẩy tăng trưởng gắn với đẩy mạnh tái cấu trúc nền kinh tế; đẩy mạnh cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước. Các giải pháp vĩ mô sẽ tiếp tục từng bước phát huy tác dụng.

– Nhiều chính sách, biện pháp hỗ trợ thị trường sẽ được ban hành; đồng thời việc đẩy mạnh thực hiện Nghị định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và Thị trường chứng khoán sẽ giúp tiếp tục tăng cường tính minh bạch, kỷ cương của thị trường.

b. Các yếu tố không thuận lợi.

– Thị trường chứng khoán Việt Nam sẽ chịu tác động, ảnh hưởng trước dự báo kinh tế toàn cầu năm 2014 vẫn còn tiềm ẩn nhiều rủi ro, đặc biệt là việc rút bớt chính sách nới lỏng định lượng tại các nền kinh tế phát triển.

– Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp còn khó khăn, sức cầu trong nước còn yếu, khả năng cạnh tranh, hiệu quả của nền kinh tế còn thấp. Xuất khẩu phụ thuộc nhiều vào doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (chiếm gần 70% tổng kim ngạch xuất khẩu).

– Việc xử lý nợ xấu ngân hàng và tái cấu trúc DNNN vẫn còn nhiều thách thức; sở hữu chéo chưa được giải quyết triệt để; thị trường bất động sản chưa khởi sắc. Việc áp dụng Thông tư 02 đối với khối ngân hàng sẽ góp phần lành mạnh hóa tình hình tài chính các ngân hàng nhưng cũng tiềm ẩn những yếu tố khó đánh giá hết.

– Nguồn lực ngân sách còn có nhiều khó khăn nên khả năng kích cầu đầu tư và hỗ trợ doanh nghiệp bị hạn chế.

19.2.2. Mục tiêu và các giải pháp thực hiện năm 2014.

19.2.2.1. Mục tiêu, nhiệm vụ năm 2014.

–  Bảo đảm duy trì sự ổn định và bền vững của thị trường chứng khoán;

– Tiếp tục triển khai hiệu quả công tác phát triển và tái cấu trúc thị trường chứng khoán; xây dựng cơ chế, chính sách và giải pháp tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và Thị trường chứng khoán.

– Tăng cường hội nhập quốc tế và bảo đảm triển khai, thực thi hiệu quả các cam kết quốc tế đã tham gia.

19.2.2.2. Các giải pháp.

(i) Nhóm giải pháp nâng cao chất lượng, đa dạng hóa sản phẩm

Nâng cao chất lượng các sản phẩm hiện tại:

– Thúc đẩy cổ phần hóa các DNNN, đặc biệt chú trọng công tác gắn cổ phần hóa với niêm yết, hoặc đăng ký giao dịch trên hệ thống Upcom. Giám sát và xử lý các tổ chức chào bán ra công chúng sau 1 năm không đăng ký giao dịch trên thị trường chứng khoán có tổ chức. Đề xuất cơ chế phối hợp với NHNN trong việc gắn tái cấu trúc các tổ chức tín dụng, cổ phần hóa các NHTM mà Nhà nước nắm quyền chi phối với niêm yết, đăng ký giao dịch.

– Hoàn thiện quy định, cơ chế giao dịch trên hệ thống Upcom, hỗ trợ công tác tái cấu trúc hệ thống các tổ chức tín dụng và các doanh nghiệp nhà nước; đưa Upcom trở thành hệ thống báo giá, cung cấp thông tin về giao dịch và phát hành theo cơ chế công bố thông tin đầy đủ (full disclosure) thay vì chỉ dựa vào cơ chế phát hành, chấp thuận như hiện tại (merit review) tại các Sở GDCK. Hoàn thiện Thông tư thay thế Quyết định 108/2008/QĐ-BTC về quy chế tổ chức và quản lý giao dịch chứng khoán CTĐC chưa niêm yết.

– Khuyến khích các công ty đại chúng/công ty niêm yết cung cấp các thông tin bằng tiếng Anh. Nghiên cứu ban hành quy định về việc phải có thư đảm bảo (Comfort Letter) của kiểm toán viên đối với Bản cáo bạch của các tổ chức phát hành nhằm nâng cao chất lượng công bố thông tin của các tổ chức này trên thị trường.

– Tiếp tục phối hợp với Vụ Chế độ Kế toán, Hiệp hội VACPA hướng dẫn khắc phục các sai sót trong soát xét, kiểm toán báo cáo tài chính. Nghiên cứu ban hành các chuẩn mực kế toán về Công cụ tài chính, Giá trị hợp lý tiếp cận với chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế IFRS, tuy nhiên việc triển khai áp dụng thực hiện theo lộ trình hợp lý nhằm bảo đảm an toàn cho hệ thống tài chính, trước mắt có thể tập trung áp dụng các chuẩn mực này đối với các định chế tài chính trung gian hoạt động trên Thị trường chứng khoán theo những bước đi thích hợp. Sau đó sẽ đánh giá, mở rộng áp dụng đối với các tổ chức khác. 

– Tiếp tục nâng cao chất lượng các cổ phiếu niêm yết thông qua việc nâng cao chất lượng quản trị công ty, quản trị rủi ro; tiếp tục tăng cường tính minh bạch trên Thị trường chứng khoán. Nghiên cứu và xem xét ban hành quy định và hướng dẫn về Quản trị rủi ro cho các công ty đại chúng, đặc biệt đối với các công ty có quy mô vốn và số lượng cổ đông lớn. Sửa đổi Thông tư 121/2012/TT-BTC hướng dẫn quản trị công ty áp dụng cho các công ty đại chúng.

– Khuyến khích các doanh nghiệp đăng ký giao dịch, niêm yết trái phiếu doanh nghiệp, nhằm minh bạch hóa hoạt động giao dịch, tạo cung hàng cho các quỹ đại chúng.

– Tiếp tục tái cấu trúc thị trường trái phiếu: chuẩn hóa hàng hóa giao dịch, xây dựng các kỳ hạn chuẩn 1, 2, 3, 5, 10 và 15 năm làm căn cứ xây dựng đường cong lãi suất chuẩn tham chiếu định hướng cho thị trường; tiếp tục tăng cường phát hành theo lô lớn, nghiên cứu xây dựng các kế hoạch phát hành mới và phát hành bổ sung các kỳ hạn chuẩn định kỳ; nghiên cứu hoán đổi trái phiếu Chính phủ từ kỳ hạn ngắn sang kỳ hạn dài.

Phát triển sản phẩm mới:

– Tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện khung pháp lý, xây dựng cơ sở hạ tầng cho thị trường chứng khoán phái sinh; Dự thảo các quy định hướng dẫn về Thị trường chứng khoán phái sinh và các sản phẩm phái sinh (Index Futures, Bond Futures) lấy ý kiến thành viên thị trường trong năm 2014. Nghiên cứu các sản phẩm khác như Covered Warrants, NVDR, một vài sản phẩm hedging đối với trái phiếu…

– Hoàn thiện hạ tầng cơ sở, phục vụ cho giao dịch của ETF nội địa. Khuyến khích việc thành lập các quỹ ETF nội địa ngay trong năm 2014.

– Xây dựng bộ chỉ số chung cho toàn Thị trường chứng khoán (bao gồm cổ phiếu tại cả 2 SGDCK); xây dựng tiêu chí thống nhất tại 2 Sở GDCK để phân loại cổ phiếu vào các nhóm ngành theo thông lệ quốc tế, xây dựng bộ chỉ số trái phiếu.

– BTC xây dựng Nghị định về công ty định mức tín nhiệm, tạo cơ sở cho việc phát triển thị trường trái phiếu và các sản phẩm khác.

(ii) Nhóm giải pháp kích cầu, khơi thông dòng vốn trong và ngoài nước:

Đối với dòng vốn nước ngoài:

– Nghiên cứu, xây dựng chương trình, giải pháp để nâng hạng Thị trường chứng khoán Việt Nam trên bảng phân loại MSCI (từ hạng Frontier Market đến Emerging Market).

– Nâng tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài tại các doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt đối với các lĩnh vực ngành nghề mà Nhà nước không cần nắm cổ phần chi phối. Trình Bộ ban hành Thông tư hướng dẫn Quyết định thay thế QĐ55/2009/QĐ-TTg về tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài trên Thị trường chứng khoán Việt Nam (sau khi Quyết định thay thế Quyết định 55 được ký ban hành).

– Đàm phán với ESMA (cơ quan quản lý các Thị trường chứng khoán châu Âu) để ký MOU về cơ chế phối hợp, giám sát, hỗ trợ thu hút vốn đầu tư từ các quỹ đại chúng của châu Âu.

– Tích cực tham gia và triển khai các nội dung, chương trình của IOSCO sau khi đã là thành viên. Tiếp tục áp dụng các nguyên tắc của IOSCO dành cho cơ quan quản lý thị trường như là các thông lệ về quản lý.

– Nghiên cứu đề xuất nâng tỷ lệ cổ phiếu tự do chuyển nhượng tại các doanh nghiệp niêm yết có tỷ lệ sở hữu lớn do Nhà nước nắm giữ.

Đối với dòng vốn trong nước:

– Phối hợp với Ngân hàng Nhà nước rà soát, điều chỉnh, từng bước tháo gỡ, thiết lập cơ chế quản lý, giám sát kênh dẫn vốn đầu tư từ ngân hàng sang Thị trường chứng khoán bảo đảm an toàn cho hệ thống ngân hàng, hạn chế sở hữu chéo, góp phần thúc đẩy sự phát triển của Thị trường chứng khoán, hỗ trợ quá trình tái cấu trúc hệ thống ngân hàng được thực hiện minh bạch, lành mạnh, an toàn.

– Xây dựng chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán cho các loại hình quỹ mới (quỹ ETF, quỹ đầu tư BĐS, công ty đầu tư chứng khoán); khuyến khích thành lập các loại hình quỹ đầu tư mới nêu trên. Hỗ trợ các thành viên thị trường trong công tác đào tạo, phổ cấp kiến thức, nâng cao nhận thức của công chúng đầu tư về các loại hình quỹ đầu tư.

– Xây dựng quy định hướng dẫn hoạt động các quỹ hưu trí tự nguyện (MOF), quỹ hưu trí bổ sung (MoliSA).

– Nghiên cứu xây dựng quy định thành lập quỹ bảo vệ nhà đầu tư trong trường hợp giải thể, phá sản các tổ chức kinh doanh chứng khoán.

– Hoàn chỉnh quy định về giao dịch (sửa đổi thông tư 74 về hướng dẫn giao dịch trên Thị trường chứng khoán). Phối hợp với Vụ Chính sách thuế – BTC hoàn thiện Thông tư sửa đổi, bổ sung về phí hoạt động chứng khoán áp dụng tại UBCKNN; về mức thu, chế độ thu nộp, quản lý và sử dụng phí hoạt động chứng khoán áp dụng tại các Sở GDCK và TTLKCK; về mức thu, nộp, quản lý và sử dụng phí bán đấu giá cổ phần), bảo đảm phù hợp với thực trạng thị trường.

– Nâng cao ý thức tự giác về nghĩa vụ công bố thông tin của nhà đầu tư. Bên cạnh đó sẽ xem xét bổ sung số liệu tổng số cổ phiếu có quyền biểu quyết (bên cạnh tổng số cổ phiếu đang lưu hành) nhằm tạo điều kiện cho nhà đầu tư làm cơ sở tham chiếu để tính toán mức tỷ lệ phải thực hiện nghĩa vụ công bố thông tin.

(iii) Nhóm giải pháp thúc đẩy phát triển và tái cấu trúc hệ thống tổ chức kinh doanh chứng khoán.

– Quyết liệt thực hiện công tác tái cấu trúc, thu hẹp số lượng các tổ chức kinh doanh chứng khoán. Tiếp tục nghiên cứu, bổ sung các quy định nhằm thắt chặt hoạt động của các tổ chức kinh doanh chứng khoán, đặc biệt trong công tác quản lý tài chính (huy động vốn và sử dụng vốn) tại các tổ chức này; minh bạch hóa và bảo đảm an toàn tài chính (cơ chế quản lý tài chính, các khoản phải thu/phải trả). Phối hợp với Vụ Chế độ kế toán trình Bộ cho ban hành chế độ kế toán đối với các công ty chứng khoán theo giá trị hợp lý nhằm lành mạnh hóa và minh bạch hóa hoạt động tài chính của các tổ chức này, loại bỏ các rủi ro tiềm ẩn trong hệ thống tài chính. Trong trường hợp cần thiết, tiếp tục xem xét bổ sung quy định về an toàn tài chính nhằm rút ngắn quá trình tái cấu trúc hệ thống các tổ chức kinh doanh chứng khoán.

– Tháo gỡ các vướng mắc về thủ tục hành chính, khuyến khích việc hợp nhất, sáp nhập các tổ chức kinh doanh chứng khoán. Sử dụng công cụ hợp nhất, sáp nhập là chủ đạo trong việc làm sạch bảng cân đối kế toán, hỗ trợ quá trình tự tái cấu trúc ở các tổ chức này.

– Xem xét ban hành chuẩn mực và chế độ kế toán theo giá trị hợp lý, trước mắt chỉ áp dụng đối với các tổ chức kinh doanh chứng khoán (CTCK, CTQLQ) để thí điểm.

– Khuyến khích các tổ chức kinh doanh chứng khoán có tình hình tài chính lành mạnh mở rộng phạm vi hoạt động tại các thị trường khác trong khu vực.

Các giải pháp cụ thể như sau:

Đối với các công ty chứng khoán:

– Thứ nhất, tăng cường công tác thanh tra, giám sát thị trường, xử lý nghiêm các hiện tượng vi phạm. Theo đó, rà soát, đánh giá, phân loại CtyCK và thực hiện kiểm tra, giám sát CtyCK định kỳ năm 2014 trên cơ sở phân loại CtyCK, xem xét xử lý các trường hợp vi phạm.

– Thứ hai, áp dụng thực hiện giám sát dựa vào rủi ro trên cơ sở Quy chế hướng dẫn phân loại và cảnh báo sớm các CtyCK (theo chuẩn CAMEL) để có thể chủ động hơn trong việc giám sát, kiểm tra các CtyCK. Tiếp tục thực hiện phân loại CtyCK thành 4 nhóm như Đề án tái cấu trúc Thị trường chứng khoán và doanh nghiệp bảo hiểm đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, đồng thời phân loại theo chuẩn CAMEL để có cơ sở xem xét, kiểm tra, xử lý CtyCK yếu kém.

– Thứ ba, tăng cường quản lý, giám sát chặt chẽ hoạt động của các CtyCK, đặc biệt đối với các công ty thuộc diện kiểm soát, kiểm soát đặc biệt. Xử lý nghiêm những công ty vi phạm quy định pháp luật để nâng cao tính tuân thủ trong hoạt động của CtyCK.

Đối với các công ty quản lý quỹ:

– Tiếp tục hoàn thiện hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật: Các Thông tư hướng dẫn việc thành lập và hoạt động của các loại hình quỹ đầu tư đã được ban hành đồng bộ; tuy nhiên do tình hình ngân sách hiện nay có khó khăn, các chính sách thuế hỗ trợ sự phát triển của các sản phẩm mới như quỹ ETF, quỹ REIT, quỹ hưu trí còn chưa được triển khai. Các chính sách về thuế khuyến khích các loại hình quỹ đầu tư cần được sửa đổi, hoàn thiện. Hoàn thiện chế độ kế toán đối với các sản phẩm quỹ mới (cụ thể là chế độ kế toán áp dụng đối với công ty ĐTCK, quỹ REIT và quỹ ETF); Sửa đổi, bổ sung Thông tư số 38/2011/TT-BTC ngày 16/3/2011 của Bộ Tài chính quy định mức thu, chế độ thu nộp, quản lý và sử dụng phí hoạt động chứng khoán áp dụng tại các tổ chức kinh doanh dịch vụ chứng khoán, nhằm giải tỏa vướng mắc khi triển khai thực hiện thu phí dịch vụ bảo quản, giám sát tài sản đối với các loại hình quỹ mới. Kiến nghị Bộ Tài chính hoàn thiện quy định pháp lý cho sản phẩm quỹ hưu trí tự nguyện.

– Củng cố tổ chức, hoạt động và thúc đẩy tái cấu trúc các CtyQLQ, đảm bảo các công ty hoạt động lành mạnh, minh bạch, an toàn. Các văn bản đã ban hành về tổ chức và hoạt động của các CtyQLQ đã hoàn thiện mô hình tổ chức của các CtyQLQ, nâng cao năng lực quản trị doanh nghiệp, ngăn ngừa xung đột lợi ích, nâng cao khả năng QTRR tại các CtyQLQ.

– Nâng cao năng lực quản lý, giám sát của UBCKNN đối với hệ thống các CtyQLQ: Dựa trên các quy định đã ban hành về đánh giá xếp hạng, phân loại hoạt động của các CtyQLQ theo phương pháp phân tích CAMEL, từng bước tiến tới áp dụng đầy đủ các nguyên tắc giám sát của hệ thống BASEL II. Ngoài ra, việc áp dụng Sổ tay nghiệp vụ giám sát cũng chuẩn hóa công tác quản lý, giám sát và xử lý tình huống đối với hoạt động của các CtyQLQ. Tiếp tục thực hiện công tác giám sát từ xa qua báo cáo định kỳ của các CtyQLQ, quỹ ĐTCK và văn phòng đại diện CtyQLQ nước ngoài tại Việt Nam và thực hiện công tác kiểm tra tại chỗ theo kế hoạch hàng năm; Từ các phát hiện của công tác giám sát định kỳ và kết quả kiểm tra tại chỗ, tăng cường công tác thanh tra, giám sát và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm; phối hợp chặt chẽ với cơ quan công an, báo chí.

Quản lý chặt chẽ số lượng nhân viên có chứng chỉ hành nghề tại các công ty và đề xuất hướng xử lý đối với các công ty chưa có đủ số nhân viên nghiệp vụ có chứng chỉ hành nghề quản lý quỹ theo quy định.

 (iv) Nhóm giảm pháp nhằm hiện đại hóa tổ chức Thị trường chứng khoán

– Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Đề án thành lập Sở GDCK Việt Nam. Dự thảo văn bản pháp lý để triển khai công tác hợp nhất hai SGDCK và tái cấu trúc hoạt động tại TTLKCK.

– Tiếp tục hoàn thiện cấu trúc giao dịch của các Sở GDCK; Nâng cấp hệ thống giao dịch trái phiếu Chính phủ qua việc phát triển hệ thống giao dịch trực tuyến trên internet, phát triển công cụ tính toán Bond Index, triển khai kết nối hệ thống với Bloomberg,…

– Xây dựng phương án đối tác bù trừ trung tâm (CCP) và hệ thống vay và cho vay chứng khoán (SBL); xây dựng và triển khai Đề án kết nối hệ thống thanh toán bù trừ và quyết toán chứng khoán với hệ thống thanh toán liên ngân hàng.

– Vận hành cổng giao dịch trực tuyến theo điện chuẩn SWIFT nhằm kết nối trao đổi thông tin theo tiêu chuẩn quốc tế. Xây dựng cơ sở dữ liệu trung tâm của VSD nhằm cho phép các công ty chứng khoán xác nhận số dư đặt lệnh.

– Triển khai gói thầu 04 tại các Sở GDCK và các dự án ứng dụng CNTT phục vụ quản lý, giám sát thị trường tại UBCK; tích cực chủ động hướng dẫn doanh nghiệp thực hiện báo cáo và CBTT về hoạt động doanh nghiệp trên hệ thống IDS.

(v) Nhóm giải pháp tiếp tục nâng cao hiệu quả quản lý, giám sát Thị trường chứng khoán và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm.

– Tiếp tục tăng cường hoạt động thanh tra, giám sát đối với các tổ chức, cá nhân trên Thị trường chứng khoán. Nghị định 108 về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và Thị trường chứng khoán đã được ban hành theo hướng tăng cường chế tài xử phạt, bổ sung các hành vi mới. Trên cơ sở đó công tác thanh tra, giám sát sẽ tiếp tục được triển khai, phối hợp chặt chẽ; tăng cường tính chủ động giám sát, phát hiện và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm, không có “vùng cấm”, đúng quy định pháp luật.

– Tăng cường rà soát, đánh giá, phân loại các tổ chức kinh doanh chứng khoán và thực hiện kiểm tra hoạt động các tổ chức KDCK, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm.

– Tiếp tục triển khai phối hợp chặt chẽ với các cơ quan có liên quan (NHNN, Cơ quan công an, Bộ Thông tin Truyền thông, Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia…) trong công tác thanh tra, giám sát, góp phần bảo đảm tính nghiêm minh, công bằng, minh bạch của thị trường. Rà soát đánh giá lại các thông tư, quy chế phối hợp với các cơ quan này để bổ sung sửa đổi nhằm tăng cường cơ chế phối hợp có hiệu quả công tác này. Trong năm 2014 sẽ trình ban hành Thông tư liên tịch thay thế Thông tư liên tịch số 46/2009/TTLT-BTC-BCA ngày 11/3/2009 giữa Bộ Tài chính và Bộ Công an hướng dẫn phối hợp xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán.

– Tiếp tục triển khai kế hoạch thanh tra, kiểm tra định kỳ trong kế hoạch năm 2013 và xây dựng kế hoạch cho năm 2014.

(vi) Nhóm giải pháp tuyên truyền, đào tạo, quảng bá Thị trường chứng khoán Việt Nam với nhà đầu tư nước ngoài, hợp tác quốc tế về Thị trường chứng khoán.

– Tập trung nghiên cứu, đào tạo, tuyên truyền về thị trường chứng khoán phái sinh, các sản phẩm mới, quản trị công ty qua nhiều hình thức (khóa đào tạo trực tiếp, qua truyền hình, báo chí, xuất bản phẩm, hội nghị tập tuấn…).

– Tiếp tục tăng cường công tác phối hợp với cơ quan báo chí nhằm định hướng đúng dư luận về hoạt động của Thị trường chứng khoán.

– Phối hợp với các Hiệp hội, thành viên thị trường, định chế tài chính quốc tế tổ chức hội nghị tiếp xúc và quảng bá hình ảnh với nhà đầu tư nước ngoài.

(vii) Nhóm giải pháp đối với thành viên thị trường.

– Các thành viên thị trường (tổ chức kinh doanh chứng khoán, tổ chức niêm yết, công ty đại chúng, tổ chức kiểm toán, quỹ đầu tư…) phải tiếp tục tích cực tự tái cấu trúc nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động; đẩy mạnh công tác quản trị công ty, quản trị rủi ro, nâng cao tính chuyên nghiệp trong hoạt động; tăng cường ý thức tuân thủ quy định pháp luật của bản thân thành viên thị trường, kỷ luật về báo cáo và công bố thông tin; trách nhiệm đối với nhà đầu tư.

– Nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật về chứng khoán và Thị trường chứng khoán của các đối tượng có nghĩa vụ báo cáo, công bố thông tin của thành viên thị trường trong hoạt động giao dịch; đạo đức nghề nghiệp của người hành nghề.

– Tiếp tục phát huy vai trò của các Hiệp hội trong công tác phát triển Thị trường chứng khoán; hỗ trợ công tác giám sát thị trường và nâng cao trình độ và đạo đức nghề nghiệp của người hành nghề chứng khoán./.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Bản in

 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *