Chuyên đề 19: QUẢN LÝ VÀ ĐIỀU HÀNH GIÁ HÀNG HÓA, DỊCH VỤ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XHCN

MỤC LỤC

Chuyên đề 19: QUẢN LÝ VÀ ĐIỀU HÀNH GIÁ HÀNG HÓA, DỊCH VỤ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XHCN

ThS. Phạm Hồng Minh

ThS. Nguyễn Thị Hồng Liên

CN. Nguyễn Sơn Vĩnh

                   Cục Quản lý giá – Bộ Tài chính                                                                

19.1. Vai trò và nhiệm vụ của quản lý và điều hành giá trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN

Quản lý và điều hành giá của nhà nước là sự cần thiết khách quan và có rất nhiều tác dụng, vai trò khác nhau. Đáng lưu ý nhất là vai trò trong việc thực hiện các mục tiêu kinh tế vĩ mô và công bằng xã hội.

Trước hết là vai trò quản lý và điều hành giá của nhà nước đối với việc thực hiện các mục tiêu kinh tế vĩ mô. Để tác động vào nền kinh tế có hiệu quả, chính phủ phải đề ra hệ thống các mục tiêu, mà trên cơ sở đó xây dựng các chiến lược và chính sách cụ thể. Hiện nay, chính phủ các nước theo cơ chế kinh tế thị trường thường hướng tới các mục tiêu lớn là: sản lượng, công ăn việc làm và giá cả…Các mục tiêu này không tách rời nhau mà gắn bó chặt chẽ và ảnh hưởng qua lại với nhau.

Quản lý và điều hành giá cả của nhà nước không chỉ có vai trò quan trọng trong việc thực hiện các mục tiêu kinh tế, mà nó còn có tác dụng to lớn đối với việc thực hiện các mục tiêu xã hội, cụ thể là tiến bộ và công bằng xã hội. Sở dĩ như vậy vì giá cả, ngoài các chức năng khác, còn có chức năng phân phối.

Bên cạnh đó, giá cả còn là quan hệ trao đổi của cải vật chất giữa những người sản xuất, giữa các tổ chức kinh tế xã hội, và nói rộng ra, giữa các nhóm dân cư, thậm chí giữa các tầng lớp, giai cấp…Do đó, sự thay đổi giá cả tương đối sẽ làm cho thu nhập của hai bên thay đổi. Nhà nước có thể căn cứ vào tình trạng bất công bằng xã hội để điều chỉnh giá cả, từ đó lập lại công bằng xã hội, thúc đẩy tiến bộ xã hội.

Thực hiện công bằng xã hội không đối lập với các mục tiêu kinh tế mà ngược lại, gắn bó chặt chẽ với nó. Thực hiện công bằng xã hội, trước hết đó là sự phát huy nhân tố con người ở tầm vĩ mô. Điều này sẽ góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế trong tương lai, về lâu dài. Tuy vậy, chính phát triển mục tiêu kinh tế lại là cơ sở, tiền đề thực hiện các mục tiêu xã hội…Đó cũng là biện chứng giữa vai trò thực hiện mục tiêu kinh tế và mục tiêu công bằng và tiến bộ xã hội của quản lý và điều hành giá của nhà nước.

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam trong Chiến lược Phát triển kinh tế xã hội 2011-2020 đã khẳng định “Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường đồng bộ và hiện đại là tiền đề quan trọng thúc đẩy quá trình cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, ổn định kinh tế vĩ mô… Chính sách tài chính quốc gia phải động viên hợp lý, phân phối và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực cho phát triển kinh tế-xã hội; phân phối lợi ích công bằng.Tiếp tục hoàn thiện chính sách và hệ thống thuế, cơ chế quản lý giá, pháp luật về cạnh tranh và kiểm soát độc quyền trong kinh doanh, bảo vệ người tiêu dùng…”.

Như vậy, tiếp tục hoàn thiện cơ chế quản lý và điều hành giá là yêu cầu quan trọng của việc hoàn thiện các thể chế kinh tế của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội tại nước ta hiện nay. Theo đó, Nhà nước đã giảm mạnh việc quy định giá trực tiếp và chỉ còn quy định giá một số ít hàng hóa dịch vụ độc quyền, tài nguyên quan trọng; hàng dự trữ quốc gia, sản phẩm dịch vụ công ích, dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước. Đối với đại bộ phận hàng hóa dịch vụ trong nền kinh tế, Nhà nước tôn trọng quyền tự định giá và cạnh tranh về giá theo pháp luật của các tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh. Nhà nước quản lý giá, điều hành sự vận động của giá cả thị trường và bình ổn giá chủ yếu bằng các phương thức gián tiếp thông qua việc xây dựng môi trường pháp lý, điều hòa cung cầu; điều hành đồng bộ chính sách tài chính, tiền tệ, chính sách thương mại, tổ chức kiểm soát thị trường, chống buôn lậu và gian lận thương mại dưới mọi hình thức, tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra.

Với nội dung trên, cơ chế quản lý giá sẽ góp phần làm cho thị trường hoạt động công khai minh bạch hơn, giảm thiểu hoạt động của thị trường ngầm, làm cho hệ thống tín hiệu về giá trên thị trường mang tính khách quan hơn thông qua việc mở rộng cơ chế thẩm định giá, đấu thầu, đấu giá đối với hàng hóa dịch vụ mua sắm từ nguồn ngân sách nhà nước; các hàng hóa dịch vụ sản xuất theo đặt hàng của Nhà nước; các công trình xây dựng cơ bản; đấu giá quyền sử dụng đất, đấu thầu dự án có sử dụng đất. Cơ chế đó, về cơ bản giúp tạo ra môi trường cạnh tranh về giá theo pháp luật, có động lực kích thích sản xuất phát triển, góp phần chống thất thu và tăng thu cho ngân sách nhà nước, phát huy và phân bổ có hiệu quả nguồn lực của đất nước.

Ngoài ra, trong điều kiện nước ta đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế với phạm vi và mức độ ngày càng sâu rộng, tính chất cạnh tranh ngày càng quyết liệt, việc xây dựng cơ chế quản lý phù hợp với các cam kết quốc tế của Việt Nam, đặc biệt trong khuôn khổ của WTO, bảo đảm nguyên tắc công khai, minh bạch các biện pháp về quản lý giá đã trở thành yêu cầu tất yếu. Cụ thể, khi áp dụng các biện pháp quản lý giá phải cân nhắc đến lợi ích của các bên là thành viên của WTO để không tạo ra bất lợi cho các đối tác này, không tạo ra sự phân biệt đối xử giữa các nước xuất khẩu. Tuân thủ nguyên tắc đối xử quốc gia (NT); quy định và sử dụng phù hợp không trái với các cam kết quốc tế về các biện pháp tự vệ chính đáng, các biện pháp chống trợ cấp, trợ giá đối với hàng hóa nhập khẩu… Có thể nói, cơ chế quản lý và điều hành giá là một trong các nội dung trọng tâm được xem xét để công nhận Việt Nam là nền kinh tế thị trường.

19.2. Nhiệm vụ của quản lý giá và điều hành giá trong giai đoạn hiện nay

 Nhiệm vụ chủ yếu phát triển đất nước 5 năm (2011 – 2015) đã được Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI xác định là ổn định kinh tế vĩ mô, đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu kinh tế, nâng cao chất lượng, hiệu quả, phát triển bền vững; huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực; từng bước xây dựng kết cấu hạ tầng hiện đại. Tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Theo đó, công tác quản lý, điều hành giá được thực hiện bám sát mục tiêu tổng quát của kế hoạch phát triển kinh tế xã hội hàng nămđược Quốc hội thông qua; các Nghị quyết của Chính phủ về những giải pháp chủ yếu chỉ đạo điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế xã hội và dự toán NSNN. Trong đó, đề ra một số biện pháp và định hướng quản lý, điều hành giá như sau:

– Tiếp tục từng bước thực hiện nhất quán chủ trương của Đảng, Quốc hội và Chính phủ điều hành theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước đối với giá một số mặt hàng quan trọng, thiết yếu như điện, than bán cho sản xuất điện, xăng, dầu, giá dịch vụ giáo dục, dịch vụ khám chữa bênh…theo đúng chủ trương và lộ trình đã đề ra; thực hiện có hiệu quả công tác bình ổn giá sữa cho trẻ em dưới 6 tuổi, giá cước vận tải ô tô và các hàng hóa dịch vụ thiết yếu khác.;

– Các Bộ quản lý chuyên ngành tăng cường hơn nữa trách nhiệm quản lý nhà nước đối với hàng hóa dịch vụ chuyên ngành thuộc Bộ, ngành quản lý. Ủy ban nhân dân tỉnh tiếp tục tăng cường công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực giá trên địa bàn theo quy định của pháp luật; trong đó, tiếp tục chú trọng các biện pháp: Triển khai, giám sát thực hiện có hiệu quả pháp luật về giá. Theo dõi sát diễn biến cung cầu, giá cả thị trường trong nước và quốc tế, làm tốt công tác thu thập, phân tích và dự báo thông tin thị trường để kịp thời đề xuất các giải pháp bình ổn giá, kiềm chế lạm phát theo quy định của pháp luật. Từng bước xây dựng cơ sở dữ liệu về giá đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước về giá theo quy định của Luật giá.

– Tiếp tục triển khai có hiệu quả biện pháp bình ổn giá theo chỉ đạo của Chính phủ và hướng dẫn của Bộ Tài chính và các Bộ, ngành kiên quan. Tăng cường kiểm tra, thanh tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về quản lý giá. Xử lý nghiêm các hành vi vi phạm theo quy định của pháp luật và công bố công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng.

– Giám sát chặt chẽ kê khai giá của doanh nghiệp đối với mặt hàng bình ổn giá, mặt hàng thuộc danh mục kê khai giá. Kiểm soát chặt chẽ giá hàng hóa, dịch vụ do Nhà nước định giá; hàng hóa, dịch vụ mua sắm từ nguồn ngân sách nhà nước; hàng hóa dịch vụ công ích, dịch vụ sự nghiệp công…

– Tăng cường công tác kiểm soát giá thuốc chữa bệnh cho người; xây dựng phương án, lộ trình điều chỉnh giá dịch vụ khám chữa bệnh và trình Chính phủ phương án về mức học phí cho giai đoạn 2016 – 2020 trên cơ sở phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội và mức thu nhập của người dân.

– Tiếp tục điều hành giá xăng, dầu, giá điện theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước theo mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát; điều hành giá than bán cho sản xuất điện theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ.

– Thực hiện công khai thông tin về giá, điều hành giá để tạo sự đồng thuận và giám sát từ công luận. Trong đó, các Bộ, ngành cần chủ động cung cấp thông tin chính thống bằng văn bản đến các cơ quan thông tin báo chí để kịp thời đưa tin chính xác

Ngày 11/05/2014, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 690/QĐ-TTg thành lập Ban Chỉ đạo điều hành giá của Thủ tướng Chính phủ nhằm nghiên cứu, tham mưu cho Thủ tướng Chính phủ trong việc điều hành, quản lý giá trong giai đoạn mới.

Về cơ bản, nhiệm vụ quản lý giá, điều hành giá trong giai đoạn này được xác định bao gồm các nội dung sau:

Thứ nhất: Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về giá và thẩm định giá phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Tại kỳ họp thứ ba Quốc hội khóa XIII, ngày 20/6/2012, 476/476 (100%) Đại biểu Quốc hội có mặt đã bỏ phiếu thông qua Luật Giá số 11/2012/QH13, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2013.

Luật Giá được xây dựng trên tinh thần kế thừa những nội dung, những quy định của Pháp lệnh Giá còn phù hợp; thay thế, sửa đổi những nội dung không còn phù hợp; bổ sung những nội dung mới; bảo đảm sự thống nhất giữa Luật Giá và các luật khác có nội dung về giá tại thời điểm đó, để pháp luật về giá và các pháp luật có liên quan tạo thành một thể thống nhất trong hệ thống pháp luật của Nhà nước; đồng thời khẳng định nguyên tắc cơ bản quản lý giá theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước.

Luật Giá ban hành, đã giúp quy định rõ quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh, của người tiêu dùng trong lĩnh vực giá, bảo đảm được sự điều tiết của Nhà nước về giá chủ yếu thông qua các biện pháp kinh tế nhằm bình ổn giá thị trường phù hợp với các cam kết quốc tế về chính sách giá. Các quy định của Luật phù hợp với cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; tôn trọng quyền tự định giá của các tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh; khuyến khích cạnh tranh, tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng và đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế.

Sau khi Luật giá được ban hành, Chính phủ đã ban hành các Nghị định quy định chi tiết Luật Giá, Bộ Tài chính cũng đã ban hành các Thông tư hướng dẫn các Nghị định. Như vậy, về cơ bản, hệ thống văn bản pháp luật về giá đã được xây dựng tương đối đầy đủ, đồng bộ. Hệ thống này đã đáp ứng kịp thời yêu cầu về công tác quản lý và điều hành giá theo cơ chế kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước, góp phần tích cực thực hiện mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát và bình ổn thị trường, giá cả; góp phần làm cho giá cả phản ánh giá trị thị trường hàng hóa và là tín hiệu để thị trường phân bố có hiệu quả nguồn lực của xã hội.

 – Thứ hai: Đẩy mạnh việc đổi mới và hoàn thiện cơ chế quản lý giá theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước, cụ thể:

+ Cùng với quá trình phát triển kinh tế và hoàn thiện thị trường, Nhà nước dần thu hẹp danh mục hàng hoá, dịch vụ Nhà nước quyết định giá (theo lộ trình), giao quyền định giá cho các doanh nghiệp. Ngay trong một số loại hàng hoá, dịch vụ do Nhà nước định giá cũng có sự điều chỉnh, chuyển dần một số nội dung cho các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh quyết định trên cơ sở các khung giá do Nhà nước quy định hoặc theo cơ chế thị trường. Theo đó, đối với một số ít hàng hóa, dịch vụ độc quyền, quan trọng, thiết yếu, Nhà nước thực hiện can thiệp trực tiếp vào giá cả ở mức độ nhất định như định mức giá cụ thể; định khung giá, giá tối đa, giá tối thiểu phù hợp với đặc thù và mức độ phát triển thị trường của từng hàng hóa, dịch vụ.

+ Nhà nước tiếp tục thực hiện việc bình ổn giá đối với hàng hóa, dịch vụ quan trọng, thiết yếu đối với sản xuất và đời sống (như xăng dầu, điện, thuốc chữa bệnh, sữa dành cho trẻ em dưới 6 tuổi…) khi giá thị trường của hàng hóa, dịch vụ trên có biến động bất thường, làm ảnh hưởng đến ổn định kinh tế xã hội, gây tác động xấu đến sản xuất và đời sống nhân dân. Các biện pháp bình ổn giá được Nhà nước quyết định áp dụng và thực hiện chủ yếu là các biện pháp kinh tế để tác động vào cung – cầu và giá cả thị trường theo quy định tại Luật Giá.

+ Đối với đại bộ phận hàng hóa, dịch vụ khác trên thị trường đã và đang áp dụng cơ chế thị trường; doanh nghiệp tự định giá hàng hóa, dịch vụ do mình sản xuất kinh doanh, thực hiện điều chỉnh giá phù hợp với biến động của yếu tố hình thành giá, theo tín hiệu khách quan của cung – cầu, cạnh tranh, giá thị trường trong nước và thế giới.

Nhằm giúp các cơ quan nhà nước có thẩm quyền về quản lý giá nắm bắt được kịp thời diễn biến giá cả của những mặt hàng thuộc diện bình ổn giá và các hàng hóa, dịch vụ quan trọng thiết yếu đối với nền kinh tế và đời sống nhân dân để có thể tham mưu kịp thời cho Chính phủ quyết định các biện pháp điều hành và bình ổn giá phù hợp; Nhà nước quy định việc kê khai giá đối với hàng hóa, dịch vụ thuộc Danh mục bình ổn giá và các hàng hóa, dịch vụ khác như xi măng, thép xây dựng, than, thức ăn chăn nuôi…

Nhờ triển khai có hiệu quả Pháp lệnh Giá và Luật Giá, công tác quản lý, điều hành giá trong giai đoạn này đã bước đầu đạt được những kết quả như:

> Đã góp phần giữ chỉ số giá tiêu dùng (CPI) hàng năm theo lạm phát mục tiêu đề ra, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, phát triển sản xuất: CPI so với tháng 12 năm trước của năm 2012 là 6,81%, 2013 là 6,04%, 2014 là 1,84% (thấp hơn rất nhiều so với mục tiêu khoảng 5-7% cho giai đoạn 2011-2015 Quốc hội đã đề ra).

> Hệ thống giá điện, than, xăng dầu, dịch vụ công từng bước được điều hành theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước và cho đến nay giá than, xăng dầu đã được điều hành phù hợp với thị trường; giá điện và giá một số dịch vụ công (y tế, giáo dục…) đang tiếp tục được điều hành theo lộ trình thị trường đã đề ra.

> Phối hợp chặt chẽ với các địa phương tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, kiểm soát thị trường giá cả, không để xảy ra thiếu hàng, sốt giá, nhất là các mặt hàng thiết yếu như xăng dầu, chất đốt, lương thực, thực phẩm, đặc biệt là các mặt hàng phục vụ nhu cầu Tết…; xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm pháp luật về quản lý thị trường, pháp luật về quản lý giá, thuế, phí.

> Theo dõi sát diễn biến cung cầu, giá cả thị trường trong nước và quốc tế, làm tốt công tác thu thập, phân tích và dự báo thông tin thị trường để kịp thời đề xuất các giải pháp bình ổn giá, kiềm chế lạm phát theo quy định của pháp luật. Từng bước xây dựng cơ sở dữ liệu về giá đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước về giá theo quy định của Luật giá.

Thứ ba: Nâng cao năng lực hoạt động thẩm định giá ở Việt Nam, mở rộng hợp tác quốc tế trong lĩnh vực thẩm định giá.

Bộ trưởng Bộ Tài chính đã ban hành Quyết định số 623/QĐ-BTC ngày 28/3/2014 phê duyệt Đề án “Nâng cao năng lực hoạt động thẩm định giá của Việt Nam giai đoạn 2013-2020”, theo đó đã đề ra một số giải pháp để nâng cao năng lực hoạt động thẩm định giá tại Việt Nam như: Nâng cao năng lực cho cán bộ, công chức quản lý nhà nước về giá và thẩm định giá; Phát triển đội ngũ thẩm định viên về giá và doanh nghiệp thẩm định giá; Cập nhật, chuẩn hóa các bộ tài liệu đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ thẩm định giá; Xây dựng Trung tâm Dữ liệu quốc gia và Dịch vụ về giá; Tăng cường kiểm tra, kiểm soát chất lượng hoạt động thẩm định giá và việc chấp hành các quy định của Nhà nước về thẩm định giá; Tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực thẩm định giá…

19.3. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về giá

Sau Luật Giá được ban hành, Chính phủ đã ban hành các Nghị định hướng dẫn và xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giá, gồm Nghị định số 89/2013/NĐ-CP ngày 06/8/2013 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Giá về thẩm định giá; Nghị định số 177/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Giá; Nghị địnhsố 109/2013/NĐ-CP ngày 24/9/2013 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giá, phí, lệ phí, hóa đơn, trong đó có 17 Điều (từ Điều 5 đến Điều 21)quy định về xử phạt các hành vi vi phạm hành chính, hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả về giá, thẩm định giá.

Bộ Tài chính cũng đã ban hành các Thông tư hướng dẫn các Nghị định nói trên, như Thông tư số 25/2014/TT-BTC ngày 17/2/2014 quy định phương pháp xác định giá chung đối với hàng hóa, dịch vụ; Thông tư số 31/2014/TT-BTC ngày 07/3/2014 hướng dẫn xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý giá tại Nghị định số 109/2013/NĐ-CP; Thông tư số 38/2014/TT-BTC ngày 28/3/2014 hướng một số điều của Nghị định số 89/2013/NĐ-CP; Thông tư số 56/2014/TT-BTC ngày 28/4/2014 hướng dẫn thực hiện Nghị định số 177/2013/NĐ-CP ngày 14 /11/2013 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Giá; Thông tư số 46/2014/TT-BTC ngày 16/4/2014 quy định về việc thi, quản lý, cấp và thu hồi Thẻ thẩm định viên về giá;Thông tư số 204/2014/TT-BTC ngày 23/12/2014 quy định về đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên ngành thẩm định giá…

Bộ Tài chính cũng đã chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành ban hành các Thông tư liên tịch quy định về quản lý giá trong đối với các mặt hàng cụ thể trong các lĩnh vực chuyên ngành, như Thông tư liên số 39/2014/TTLT-BCT-BTC ngày 29/10/2014 của Bộ Công Thương – Bộ Tài chính về phương pháp tính giá cơ sở, cơ chế hình thành, quản lý, sử dụng Quỹ bình ổn giá và điều hành giá xăng dầu; Thông tư liên tịch số 38/2014/TTLT-BYT-BTC ngày 15/11/2014 của Bộ Y tế – Bộ Tài chính về ngày 15/11/2014 về quy định mức giá tối đa khung giá một số dịch vụ điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế; hông tư liên tịch số 39/2014/TTLT-BKHCN-BTC ngày 17/12/2014 của Bộ khoa học và Công nghệ – Bộ Tài chính quy định việc định giá kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, tài sản trí tuệ sử dụng ngân sách nhà nước, v.v…

Ngoài ra, Bộ Tài chính đang sửa đổi, bổ sung Hệ thống tiêu chuẩn thẩm định giá Việt Nam, trước mắt đã ban hành Thông tư số 06/2014/TT-BTC ngày 07/01/2014 về việc ban hành tiêu chuẩn thẩm định giá số 13 thẩm định giá tài sản vô hình; Thông tư số 158/2014/TT-BTC ngày 27/10/2014 ban hành Tiêu chuẩn thẩm định giá Việt Nam số 01, 02, 03, 04; Thông tư số 28/2014/TT-BTC ngày 06/3/2014 ban hành Tiêu chuẩn thẩm định giá Việt Nam số 5, 6 và 7.

Như vậy, về cơ bản, hệ thống văn bản pháp luật về giá đã được xây dựng tương đối hoàn thiện, các điều khoản Luật giao Chính phủ hướng dẫn đã được quy định tại các Nghị định và được hướng dẫn cụ thể tại các Thông tư.

19.4. Một số các quy định về quản lý và điều hành giá

Luật Giá ra đời đã khẳng định hai trong 4 nguyên tắc quản lý giá của nước ta là: (i) Nhà nước thực hiện quản lý giá theo cơ chế thị trường; tôn trọng quyền tự định giá, cạnh tranh về giá của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh theo quy định của pháp luật; (ii) Nhà nước thực hiện điều tiết giá để bình ổn giá; bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh, người tiêu dùng và lợi ích của Nhà nước.

Thực hiện nguyên tắc trên, Nhà nước quy định các nội dung cụ thể về quản lý giá, điều hành giá như sau:

19.4.1. Công khai thông tin về giá

Điều 6 Luật Giá và các văn bản hướng dẫn quy định công khai thông tin về giá là nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh, theo đó tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ thực hiện công khai thông tin về giá hàng hóa, dịch vụ gắn với thông số kinh tế – kỹ thuật cơ bản của hàng hóa, dịch vụ đó bằng hình thức niêm yết giá. Đối với hàng hóa, dịch vụ thuộc Danh mục hàng hóa, dịch vụ thực hiện bình ổn giá, Danh mục hàng hóa, dịch vụ do Nhà nước định giá, tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh lựa chọn thêm một hoặc một số hình thức như họp báo, đăng tải trên phương tiện thông tin đại chúng hoặc hình thức thích hợp khác.Cơ quan thông tin, truyền thông có trách nhiệm đưa tin về giá chính xác, khách quan, trung thực và chịu trách nhiệm về việc đưa tin theo quy định của pháp luật.

Nghĩa vụ công khai thông tin về giá không chỉ quy định đối với tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh, cơ quan thông tin truyền thông mà đối với cả cơ quan quản lý nhà nước. Cụ thể, cơ quan nhà nước thực hiện công khai chủ trương, chính sách, biện pháp quản lý, điều tiết, quyết định về giá của Nhà nước bằng một hoặc một số hình thức như họp báo, đăng tải trên phương tiện thông tin đại chúng hoặc hình thức thích hợp khác.

Điều 12, Nghị định số 109/2013/NĐ-CP ngày 24/09/2013 của Chính phủ quy định các hành vi vi phạm về công khai thông tin về giá hàng hóa, dịch vụ (trong đó có niêm yết giá) bao gồm: (i) không niêm yết giá hàng hóa, dịch vụ tại địa điểm phải niêm yết giá theo quy định của pháp luật; (ii) niêm yết giá không đúng quy định, không rõ ràng gây nhầm lẫn cho khách hàng; (iii) hành vi bán cao hơn giá niêm yết hàng hóa, dịch vụ do tổ chức, cá nhân định giá; (iv) hành vi không công khai thông tin về giá hàng hóa, dịch vụ bằng hình thức khác theo quy định của pháp luật ngoài hình thức niêm yết giá hoặc hành vi bán cao hơn giá niêm yết đối với hàng hóa, dịch vụ thuộc Danh mục hàng hóa, dịch vụ do Nhà nước định giá, Danh mục hàng hóa, dịch vụ thực hiện bình ổn giá, kê khai giá; (v) hành vi không công khai về Quỹ bình ổn giá theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Hình thức xử phạt vi phạm hành chính đối với các hành vi vi phạm trên bao gồm các hình thức xử phạt từ cảnh cáo đến phạt tiền (tối đa từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng). Biện pháp khắc phục hậu quả là buộc trả lại cho khách hàng số tiền đã thu cao hơn giá niêm yết đối với hành vi vi phạm bán cao hơn giá niêm yết đối với hàng hóa, dịch vụ thuộc Danh mục bình ổn giá, hàng hóa, dịch vụ thuộc Danh mục hạn chế kinh doanh hoặc kinh doanh có điều kiện và đối với hàng hóa, dịch vụ do tổ chức, cá nhân định giá, trường hợp không xác định được khách hàng để trả lại thì nộp vào ngân sách nhà nước.

19.4.2. Quyền, nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh

Cơ chế giá thị trường nhấn mạnh quyền được tựquyết định giá của tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, để các quyết định này là đúng đắn, phù hợp với các quy luật kinh tế khách quan thì cần thiết phải quy định về quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh trong các văn bản pháp quy. Các quy định này là cơ sở để các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh nhận thức được quyền và nghĩa vụ của mình để chủ động trong việc định giá hàng hóa, dịch vụ do mình sản xuất, kinh doanh và là cơ sở để cơ quan quản lý nhà nước tổ chức kiểm tra, xử lý các hành vi vi phạm.

19.4.2.1. Quyền của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh, theo quy định tại Điều 11 Luật giá bao gồm

(i) Tự định giá hàng hóa, dịch vụ do mình sản xuất, kinh doanh, trừ hàng hóa, dịch vụ thuộc Danh mục hàng hóa, dịch vụ do Nhà nước định giá;

(ii) Quyết định giá mua, giá bán hàng hóa, dịch vụ do mình sản xuất, kinh doanh mà Nhà nước quy định khung giá, giá tối đa, giá tối thiểu;

(iii) Đấu thầu, đấu giá, thoả thuận giá, hiệp thương giá và cạnh tranh về giá dưới các hình thức khác theo quy định của pháp luật khi mua, bán hàng hoá, dịch vụ;

(iv) Áp dụng nguyên tắc, căn cứ, phương pháp định giá do Nhà nước quy định để định giá hàng hóa, dịch vụ;

(v) Điều chỉnh giá hàng hóa, dịch vụ do mình sản xuất, kinh doanh phù hợp với biến động của yếu tố hình thành giá;

(vi) Hạ giá bán hàng hóa, dịch vụ mà không bị coi là vi phạm pháp luật về cạnh tranh và pháp luật chống bán phá giá hàng nhập khẩu, đồng thời phải niêm yết công khai tại nơi giao dịch về mức giá cũ, mức giá mới, thời hạn hạ giá đối với các trường hợp: Hàng tươi sống; Hàng hóa tồn kho; Hàng hóa, dịch vụ theo mùa vụ; Hàng hóa, dịch vụ để khuyến mại theo quy định của pháp luật; Hàng hóa, dịch vụ trong trường hợp doanh nghiệp phá sản, giải thể; thay đổi địa điểm, ngành nghề sản xuất, kinh doanh; Hàng hóa, dịch vụ khi thực hiện chính sách bình ổn giá của Nhà nước;

(vii) Kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền điều chỉnh giá hàng hóa, dịch vụ do mình sản xuất, kinh doanh thuộc Danh mục hàng hóa, dịch vụ do Nhà nước định giá;

(viii) Tiếp cận thông tin về chính sách giá của Nhà nước; các biện pháp quản lý, điều tiết giá của Nhà nước và các thông tin công khai khác;

(ix) Khiếu nại, tố cáo hoặc khởi kiện hành vi có dấu hiệu vi phạm pháp luật về giá; yêu cầu tổ chức, cá nhân bồi thường thiệt hại do hành vi vi phạm pháp luật về giá theo quy định của pháp luật.

19.4.2.2. Nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh, theo quy định tại Điều 12 Luật giá bao gồm:

(i) Lập phương án giá hàng hoá, dịch vụ do mình sản xuất, kinh doanh thuộc Danh mục hàng hóa, dịch vụ do Nhà nước định giá trình cơ quan có thẩm quyền quyết định;

(ii) Chấp hành quyết định về giá, biện pháp bình ổn giá của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;

(iii) Đăng ký giá bán hoặc giá mua đối với hàng hóa, dịch vụ thuộc diện phải đăng ký giá và chịu trách nhiệm về tính chính xác của mức giá đã đăng ký theo quy định của pháp luật;

(iv) Kê khai giá bán hoặc giá mua hàng hóa, dịch vụ và chịu trách nhiệm về tính chính xác của mức giá đã kê khai đối với hàng hóa, dịch vụ thuộc diện phải kê khai giá theo quy định của Chính phủ;

(v) Niêm yết giá: Đối với hàng hóa, dịch vụ do Nhà nước định giá thì tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh phải niêm yết đúng giá do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định và mua, bán đúng giá niêm yết; Đối với hàng hóa, dịch vụ không thuộc Danh mục hàng hóa, dịch vụ do Nhà nước định giá thì niêm yết theo giá do tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh quyết định và không được mua, bán cao hơn giá niêm yết;

(vi) Công khai thông tin về giá hàng hóa, dịch vụ thuộc thẩm quyền định giá của mình; Cung cấp kịp thời, chính xác, đầy đủ số liệu, tài liệu có liên quan theo yêu cầu bằng văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong trường hợp Nhà nước định giá, áp dụng biện pháp bình ổn giá đối với hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh;

(vii) Giải quyết kịp thời mọi khiếu nại về giá hàng hoá, dịch vụ do mình sản xuất, kinh doanh. Bồi thường thiệt hại do hành vi vi phạm pháp luật về giá theo quy định của pháp luật.

19.4.3. Hoạt động điều tiết giá của Nhà nước

Hoạt động điều tiết giá của Nhà nước được hiểu là việc Nhà nước áp dụng các biện pháp phù hợp tác động để làm cho giá cả vận động phù hợp với quy luật để đạt được mục tiêu đề ra. Hoạt động điều tiết giá của Nhà nước bao gồm các nội dung như: bình ổn giá, định giá, hiệp thương giá và kiểm tra yếu tố hình thành giá.

19.4.3.1. Bình ổn giá

Mục 1 Chương III Luật Giá quy định cụ thể bình ổn giá là việc Nhà nước áp dụng biện pháp thích hợp về điều hòa cung cầu, tài chính, tiền tệ và biện pháp kinh tế, hành chính cần thiết khác để tác động vào sự hình thành và vận động của giá, không để giá hàng hóa, dịch vụ thiết yếu tăng quá cao hoặc giảm quá thấp bất hợp lý.

19.4.3.1.1. Hàng hóa, dịch vụ thực hiện bình ổn giá

Điều 15 Luật Giá và Nghị định số 177/2013/NĐ-CP quy định Nhà nước chỉ thực hiện bình ổn giá đối với hàng hóa, dịch vụ thiết yếu cho sản xuất, đời sống bao gồm: Nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu và dịch vụ chính cho sản xuất và lưu thông và hàng hóa, dịch vụ đáp ứng nhu cầu cơ bản của con người.

Cụ thể, Danh mục hàng hóa, dịch vụ thực hiện bình ổn giá theo quy định tại Điều 15 Luật giá gồm: Xăng, dầu thành phẩm tiêu thụ nội địa ở nhiệt độ thực tế bao gồm: xăng động cơ (không bao gồm xăng máy bay), dầu hỏa, dầu điêzen, dầu mazut;Điện bán lẻ; Khí dầu mỏ hóa lỏng (LPG); Phân đạm urê; phân NPK; Thuốc bảo vệ thực vật, bao gồm: thuốc trừ sâu, thuốc trừ bệnh, thuốc trừ cỏ; Vac-xin phòng bệnh cho gia súc, gia cầm; Muối ăn; Sữa dành cho trẻ em dưới 06 tuổi; Đường ăn, bao gồm đường trắng và đường tinh luyện; Thóc, gạo tẻ thường; Thuốc phòng bệnh, chữa bệnh cho người thuộc danh mục thuốc chữa bệnh thiết yếu sử dụng tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.

Các Bộ quản lý chuyên ngành (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Y tế) chịu trách nhiệm quy định cụ thể đối với một số mặt hàng thuộc thẩm quyền quản lý, như là thuốc bảo vệ thực vật, vac-xin phòng bệnh cho gia súc, gia cầm và thuốc phòng, chữa bệnh cho người thuộc danh mục thuốc chữa bệnh thiết yếu sử dụng tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh bởi vì các mặt hàng cụ thể thuộc các nhóm hàng hóa này rất nhiều và đa dạng, tên thương mại của các hàng hóa đó cũng thường xuyên thay đổi.

Trường hợp cần thiết phải điều chỉnh danh mục hàng hóa, dịch vụ thực hiện bình ổn giá, trên cơ sở đề nghị của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Bộ Tài chính tổng hợp, báo cáo Chính phủ xem xét, trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định.

19.4.3.1.2. Trường hợp thực hiện bình ổn giá và biện pháp bình ổn giá

Điều 16 Luật Giá và Nghị định số 177/2013/NĐ-CP quy định 02 trường hợp thực hiện bình ổn giá:

– Khi giá thị trường của hàng hóa, dịch vụ thuộc danh mục bình ổn giá có biến động bất thường xảy ra trong các trường hợp sau: (i) Giá mua hoặc giá bán trên thị trường tăng quá cao hoặc giảm quá thấp bất hợp lý so với mức tăng hoặc giảm giá do tác động của các yếu tố hình thành giá được tính theo các chế độ chính sách, định mức kinh tế – kỹ thuật hoặc phương pháp tính giá do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành; (ii) Giá mua hoặc giá bán trên thị trường tăng hoặc giảm bất hợp lý trong các trường hợp xảy ra thiên tai, hoả hoạn, dịch bệnh, địch hoạ, khủng hoảng kinh tế – tài chính, mất cân đối cung – cầu tạm thời.

– Khi mặt bằng giá biến động làm ảnh hưởng đến ổn định kinh tế xã hội, gây tác động xấu đến sản xuất và đời sống nhân dân.

Các biện pháp bình ổn giá được sử dụng chủ yếu là các biện pháp kinh tế để tác động vào cung – cầu giá cả thị trường. Các biện pháp bình ổn giá có thể được áp dụng có thời hạn một cách độc lập hoặc kết hợp với nhau, bao gồm các biện pháp sau:

– Điều hòa cung cầu hàng hoá sản xuất trong nước và hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu; hàng hoá giữa các vùng, các địa phương trong nước thông qua việc tổ chức lưu thông hàng hóa; mua vào hoặc bán ra hàng dự trữ quốc gia, hàng dự trữ lưu thông;

– Sử dụng các biện pháp về tài chính, tiền tệ phù hợp với quy định của pháp luật;

– Trong trường hợp cần thiết, lập Quỹ bình ổn giá đối với mặt hàng cần bình ổn giá thuộc Danh mục hàng hóa, dịch vụ thực hiện bình ổn giá nhằm mục tiêu hỗ trợ cho bình ổn giá; sử dụng quỹ bình ổn giá khi giá của hàng hóa, dịch vụ đó biến động bất thường hoặc tác động xấu đến nền kinh tế và đời sống.

Theo quy định tạiĐiều 5 Nghị định số 177/2013/NĐ-CP, có 3 nhóm hàng hóa trong Danh mục hàng hóa, dịch vụ thực hiện bình ổn giá được lập Quỹ bình ổn giá trong trường hợp cần thiết, đó là xăng dầu thành phẩm, điện bán lẻ và thóc, gạo tẻ thường. Trường hợp cần thay đổi, bổ sung mặt hàng được lập quỹ bình ổn giá, Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các Bộ liên quan trình Chính phủ xem xét, quyết định.

Việc quản lý, sử dụng quỹ bình ổn giá phải bảo đảm nguyên tắc công khai, minh bạch, có sự kiểm tra giám sát của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh mặt hàng được lập quỹ bình ổn giá phải thực hiện các quy định về trích lập, sử dụng, quản lý quỹ bình ổn giá theo quy định của pháp luật.

– Đăng ký giá đối với hàng hóa, dịch vụ thuộc diện bình ổn giá.

Các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh chỉ thực hiện đăng ký giá đối với hàng hóa, dịch vụ thuộc diện bình ổn giá trong thời gian Nhà nước áp dụng biện pháp bình ổn giá. Thời hạn áp dụng biện pháp đăng ký giá để bình ổn giá đối với từng mặt hàng tối đa không quá 06 tháng. Hàng hóa, dịch vụ mà pháp luật chuyên ngành có quy định về đăng ký giá thì thực hiện theo quy định của pháp luật đó, như việc đăng ký giá các dịch vụ bưu chính, viễn thông, dịch vụ cho thuê công trình hạ tầng kỹ thuật sử dụng chung…

– Kiểm tra yếu tố hình thành giá; kiểm soát hàng hoá tồn kho; kiểm tra số lượng, khối lượng hàng hóa hiện có;

– Áp dụng biện pháp hỗ trợ về giá phù hợp với quy định của pháp luật và cam kết quốc tế;

– Định giá cụ thể, giá tối đa, giá tối thiểu hoặc khung giá phù hợp với tính chất của từng loại hàng hóa, dịch vụ theo các nguyên tắc, căn cứ, phương pháp quy định tại Luật Giá và các văn bản hướng dẫn.

19.4.3.1.3. Thẩm quyền, trách nhiệm quyết định áp dụng và thực hiện biện pháp bình ổn giá

Thẩm quyền, trách nhiệm quyết định áp dụng và tổ chức thực hiện các biện pháp bình ổn giá theo quy định tại Điều 18 Luật Giá và theo phân công cụ thể tại khoản 2, 3, 4, 5, 6 và 7 Điều 7 Nghị định số 177/2013/NĐ-CP.

* Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành có trách nhiệm tham mưu đề xuất trình Chính phủ quyết định và hướng dẫn, tổ chức thực hiện đối với các biện pháp bình ổn giá dưới đây:

– Mua vào hoặc bán ra hàng dự trữ quốc gia;

– Các biện pháp về tài chính; hỗ trợ về giá phù hợp với quy định của pháp luật và cam kết quốc tế;

– Lập và sử dụng quỹ bình ổn giá theo quy định tại Điều 5 Nghị định số 177/2013/NĐ-CP;

– Đăng ký giá đối với hàng hóa, dịch vụ thuộc diện bình ổn giá trừ mặt hàng thuốc phòng bệnh, chữa bệnh cho người thuộc danh mục thuốc chữa bệnh thiết yếu quy định tại điểm l khoản 1 Điều 3 Nghị định số 177/2013/NĐ-CP;

– Kiểm tra yếu tố hình thành giá;

– Định giá cụ thể, giá tối đa, giá tối thiểu hoặc khung giá phù hợp với tính chất của từng loại hàng hóa, dịch vụ theo các nguyên tắc, căn cứ, phương pháp quy định tại Điều 20 và Điều 21 Luật Giá;

– Các biện pháp khác theo quy định của pháp luật.

* Bộ Công Thương, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành có trách nhiệm tham mưu đề xuất trình Chính phủ quyết định và hướng dẫn, tổ chức thực hiện đối với các biện pháp bình ổn giá dưới đây:

– Điều hòa cung cầu hàng hóa sản xuất trong nước và hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; hàng hóa giữa các vùng, các địa phương trong nước thông qua việc tổ chức lưu thông hàng hóa; mua vào hoặc bán ra hàng dự trữ lưu thông;

– Kiểm soát hàng hóa tồn kho; kiểm tra số lượng, khối lượng hàng hóa hiện có.

* Bộ Y tế chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành có trách nhiệm tham mưu đề xuất trình Chính phủ quyết định và hướng dẫn, tổ chức thực hiện bình ổn giá đối với mặt hàng thuốc phòng bệnh, chữa bệnh cho người thuộc danh mục thuốc chữa bệnh thiết yếu quy định tại điểm l khoản 1 Điều 3 Nghị định số 177/2013/NĐ-CP bằng các biện pháp bình ổn giá dưới đây:

– Điều hòa cung cầu hàng hóa sản xuất trong nước và hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; hàng hóa giữa các vùng, các địa phương trong nước thông qua việc tổ chức lưu thông hàng hóa; mua vào hoặc bán ra hàng dự trữ lưu thông;

– Kiểm soát hàng hóa tồn kho; kiểm tra số lượng, khối lượng hàng hóa hiện có;

– Đăng ký giá;

– Kiểm tra yếu tố hình thành giá.

* Ngân hàng Nhà nước chủ trì phối hợp với các Bộ, ngành có trách nhiệm tham mưu đề xuất trình Chính phủ quyết định và hướng dẫn, tổ chức thực hiện đối với các biện pháp tiền tệ phù hợp với quy định của pháp luật để bình ổn giá.

* Ủy ban nhân dân tỉnh theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn tổ chức triển khai thực hiện biện pháp bình ổn giá do Chính phủ quyết định và hướng dẫn của Bộ Tài chính, các Bộ quản lý ngành liên quan; chủ động thực hiện chương trình bình ổn thị trường phù hợp với tình hình thực tế tại địa phương. Trong trường hợp thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh, tai nạn bất ngờ, căn cứ tình hình thực tế tại địa phương, Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định các biện pháp áp dụng bình ổn giátheo thẩm quyền như sau:

– Điều hòa cung cầu một số hàng hóa, dịch vụ thiết yếu trên địa bàn;

– Các biện pháp về tài chính, tiền tệ phù hợp với quy định của pháp luật;

– Đăng ký giá đối với hàng hóa, dịch vụ thuộc diện bình ổn giá theo quy định;

– Kiểm tra yếu tố hình thành giá; kiểm soát hàng hóa tồn kho; kiểm tra số lượng, khối lượng hàng hóa hiện có trên địa bàn;

– Áp dụng biện pháp hỗ trợ về giá phù hợp với quy định của pháp luật và các cam kết quốc tế;

– Định giá cụ thể, giá tối đa, giá tối thiểu hoặc khung giá hàng hóa, dịch vụ thiết yếu cần thiết để phục vụ sản xuất, tiêu dùng.

* Tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh có trách nhiệm thực hiện các biện pháp bình ổn giá đã được Chính phủ, Uỷ ban nhân dân tỉnh quyết định và hướng dẫn của các Bộ. Trường hợp không thực hiện hoặc thực hiện không đúng thì bị xử lý theo quy định của pháp luật.

19.4.3.1.4. Xử phạt hành vi vi phạm quy định về bình ổn giá

Hành vi vi phạm quy định về bình ổn giá được quy định tại Điều 5 Nghị định số 109/2013/NĐ-CP, bao gồm hành vi chậm báo cáo, hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng một trong những biện pháp bình ổn giá do cơ quan có thẩm quyền quy định, hành vi không trích lập hoặc trích lập không đúng hoặc sử dụng Quỹ bình ổn giá không đúng quy định của pháp luật về giá.

Tùy theo mức độ, tính chất của hành vi vi phạm, Nghị định số 109/2013/NĐ-CP quy định các hình thức xử phạt vi phạm hành chính khác nhau. Mức thấp nhất là phạt cảnh cáo đối với hành vi chậm báo cáo trong thời hạn dưới 05 ngày làm việc so với yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền để phục vụ công tác bình ổn giá. Mức cao nhất là phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng đối với hành vi không trích lập Quỹ bình ổn giá. Ngoài ra, Nghị định cũng quy định các biện pháp khắc phục hậu quả đikèm, như buộc nộp vào Quỹ bình ổn giá toàn bộ số tiền do sử dụng không đúng, do trích lập không đúng hoặc do không trích lập Quỹ bình ổn giá.

19.4.3.2. Định giá của Nhà nước

Định giá là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh quy định giá cho hàng hóa, dịch vụ.

Về nội dung định giá của Nhà nước, do yêu cầu khách quan để khắc phục những khuyết tật của thị trường (như độc quyền, các hàng hóa, dịch vụ chưa có thị trường…), Nhà nước thực hiện định giá trực tiếp bằng những hình thức thích hợp). Tuy nhiên, Nhà nước cũng quy định nguyên tắc, phương pháp xác định giá đối với hàng hóa, dịch vụ do Nhà nước định giá phù hợp với nguyên tắc của nền kinh tế thị trường.

19.4.3.2.1. Hàng hóa, dịch vụ do Nhà nước định giá

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế và hoàn thiện từng bước của thị trường, Nhà nước ngày càng thu hẹp danh mục hàng hoá, dịch vụ Nhà nước trực tiếp quyết định giá (theo lộ trình), giao quyền định giá cho các doanh nghiệp.

Theo quy định tại Đều 19 Luật Giá, Danh mục hàng hóa, dịch vụ do Nhà nước định giá chỉ bao gồm gồm: (i) Hàng hoá, dịch vụ thuộc lĩnh vực độc quyền nhà nước sản xuất, kinh doanh; (ii) Tài nguyên quan trọng; (iii) Hàng dự trữ quốc gia; sản phẩm, dịch vụ công ích và dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước.

Các hình thức định giá gồm: định mức giá cụ thể; định khung giá; định mức giá tối đa, mức giá tối thiểu phù hợp với đặc thù và mức độ phát triển thị trường của từng hàng hóa, dịch vụ.

Nguyên tắc định giá của Nhà nước là phải: Bảo đảm bù đắp chi phí sản xuất, kinh doanh thực tế hợp lý, có lợi nhuận phù hợp với mặt bằng giá thị trường và chủ trương, chính sách phát triển kinh tế – xã hội của Nhà nước trong từng thời kỳ; Kịp thời điều chỉnh giá khi các yếu tố hình thành giá thay đổi.

19.4.3.2.2. Thẩm quyền và trách nhiệm định giá

Theo quy định tại Điều 22 Luật Giá và và Điều 8 Nghị định số 177/2013/NĐ-CP, người có thẩm quyền định giá hàng hóa, dich vụ do Nhà nước định giá bao gồm: Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

* Chính phủ quy định: Khung giá đất;Khung giá cho thuê mặt nước;Khung giá cho thuê, thuê mua nhà ở xã hội, nhà ở công vụ.

* Thủ tướng Chính phủ quy định khung giá của mức giá bán lẻ điện bình quân, cơ chế điều chỉnh giá và cơ cấu biểu giá bán lẻ điện.

* Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định:

– Giá cụ thể đối với các dịch vụ hàng không bao gồm: Dịch vụ cất cánh, hạ cánh; điều hành bay đi, đến; hỗ trợ hoạt động bay; soi chiếu an ninh;

– Khung giá đối với: Dịch vụ vận chuyển hàng không nội địa tuyến độc quyền; dịch vụ độc quyền nhà nước tại cảng hàng không sân bay theo quy định tại Luật Hàng không dân dụng Việt Nam; nước sạch sinh hoạt;

– Giá mua tối đa, giá bán tối thiểu hàng dự trữ quốc gia (trừ hàng dự trữ quốc gia trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh); định mức chi phí nhập, chi phí xuất tại cửa kho dự trữ quốc gia và chi phí xuất tối đa ngoài cửa kho, chi phí bảo quản hàng dự trữ quốc gia;

– Giá mua tối đa sản phẩm, dịch vụ công ích và dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách trung ương (trừ sản phẩm, dịch vụ thuộc thẩm quyền định giá của các Bộ, ngành khác và của Ủy ban nhân dân tỉnh) được cơ quan nhà nước có thẩm quyền đặt hàng, giao kế hoạch;

– Giá mua tối đa hàng hóa, dịch vụ được Thủ tướng Chính phủ đặt hàng, giao kế hoạch sản xuất, kinh doanh sử dụng ngân sách trung ương;

– Giá bán tối thiểu đối với sản phẩm thuốc lá điếu sản xuất trong nước;

– Giá tối đa hoặc giá tối thiểu đối với giá cho thuê tài sản nhà nước là công trình kết cấu hạ tầng phục vụ lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng;

* Bộ trưởng Bộ Công Thương quy định:

– Giá cụ thể đối với giá truyền tải điện, giá dịch vụ phụ trợ hệ thống điện;

– Khung giá đối với giá phát điện, giá bán buôn điện;

* Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định: Khung giá rừng bao gồm rừng sản xuất, rừng phòng hộ và rừng đặc dụng thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước làm đại diện chủ sở hữu;

* Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông quy định: Giá sản phẩm, dịch vụ bưu chính, viễn thông bao gồm cả dịch vụ bưu chính, viễn thông công ích theo quy định của pháp luật về bưu chính, viễn thông;

* Bộ trưởng Bộ Y tế quy định: Giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh theo quy định của pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh; giá thuốc do ngân sách nhà nước và bảo hiểm y tế chi trả theo quy định của pháp luật về dược;

* Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải quy định: Giá sản phẩm, dịch vụ công ích trong lĩnh vực quản lý, bảo trì đường sắt quốc gia, đường bộ, đường thủy nội địa thực hiện theo phương thức Nhà nước đặt hàng hoặc giao kế hoạch sử dụng nguồn ngân sách trung ương;

* Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định:

– Giá sản phẩm, dịch vụ công ích phục vụ quốc phòng do các doanh nghiệp, đơn vị thuộc Bộ Quốc phòng sản xuất, cung ứng theo đặt hàng, giao kế hoạch, chỉ định thầu được thanh toán bằng nguồn ngân sách nhà nước;

– Giá hàng hóa, dịch vụ quốc phòng do Bộ Quốc phòng đặt hàng tại các doanh nghiệp theo kế hoạch của Chính phủ thanh toán bằng ngân sách nhà nước; Giá hàng dự trữ quốc gia về quốc phòng;

* Bộ trưởng Bộ Công an quy định:

– Giá hàng hóa, dịch vụ phục vụ an ninh chính trị, trật tự xã hội do các doanh nghiệp an ninh thuộc Bộ Công an sản xuất, cung ứng theo đặt hàng, giao kế hoạch, chỉ định thầu của Bộ được thanh toán bằng nguồn ngân sách nhà nước;

– Giá hàng dự trữ quốc gia về an ninh chính trị, trật tự xã hội;

* Bộ trưởng các Bộ quy định giá cụ thể đối với hàng dự trữ quốc gia, sản phẩm, dịch vụ công ích và dịch vụ sự nghiệp công, hàng hóa, dịch vụ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền đặt hàng, giao kế hoạch sử dụng ngân sách nhà nước thuộc phạm vi quản lý của Bộ mà Bộ Tài chính quy định khung giá, giá tối đa, giá tối thiểu; định giá cho thuê, thuê mua nhà ở xã hội, nhà ở công vụ được đầu tư xây dựng từ ngân sách nhà nước; giá bán hoặc giá cho thuê nhà ở thuộc sở hữu nhà nước theo quy định của pháp luật về nhà ở;

* Bộ trưởng các Bộ quy định giá hàng hóa, dịch vụ khác theo quy định của pháp luật chuyên ngành.

* Thủ trưởng cơ quan, đơn vị có thẩm quyền thực hiện quy định giá cụ thể hàng hóa, dịch vụ mà Nhà nước quy định khung giá, giá tối đa, giá tối thiểu.

* Ủy ban nhân dân tỉnh quy định:

– Giá các loại đất;

– Giá cho thuê đất, thuê mặt nước;

– Giá rừng bao gồm rừng sản xuất, rừng phòng hộ và rừng đặc dụng thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước làm đại diện chủ sở hữu;

– Giá cho thuê, thuê mua nhà ở xã hội, nhà ở công vụ được đầu tư xây dựng từ ngân sách nhà nước; giá bán hoặc giá cho thuê nhà ở thuộc sở hữu nhà nước theo quy định của pháp luật về nhà ở;

– Giá nước sạch sinh hoạt;

– Giá cho thuê tài sản Nhà nước là công trình kết cấu hạ tầng đầu tư từ nguồn ngân sách địa phương;

– Giá sản phẩm, dịch vụ công ích, dịch vụ sự nghiệp công và hàng hóa, dịch vụ được địa phương đặt hàng, giao kế hoạch sản xuất, kinh doanh sử dụng ngân sách địa phương theo quy định của pháp luật;

– Giá dịch vụ giáo dục, đào tạo áp dụng đối với cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông công lập thuộc tỉnh;

– Giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của Nhà nước thuộc phạm vi quản lý của địa phương;

– Mức trợ giá, trợ cước vận chuyển hàng hóa thuộc danh mục được trợ giá, trợ cước vận chuyển chi từ ngân sách địa phương và trung ương; mức giá hoặc khung giá bán lẻ hàng hóa được trợ giá, trợ cước vận chuyển; giá cước vận chuyển cung ứng hàng hóa, dịch vụ thiết yếu thuộc danh mục được trợ giá phục vụ đồng bào miền núi, vùng sâu, vùng xa và hải đảo;

– Giá hàng hóa, dịch vụ khác theo quy định của pháp luật chuyên ngành.

Chính phủ cũng đã quy định cụ thể về trình tự, thời hạn trình và thẩm định phương án giá đối với các hàng hóa, dịch vụ do Nhà nước quyết định giá.

19.4.3.2.3. Trình tự, thời hạn quyết định giá, điều chỉnh mức giá do Nhà nước quy định

a) Trình tự, thời hạn quyết định giá

Điều 9 NGhị định số 177/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 của Chính phủ quy định việc trình và thẩm định phương án đối với các hàng hóa, dịch vụ do Nhà nước định giá được thực hiện trên cơ sở 04 cấp có thẩm quyền định giá như sau:

(i) Hàng hóa, dịch vụ thuộc thẩm quyền định giá của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ do các Bộ quản lý ngành, lĩnh vực trình phương án giá sau khi có ý kiến thẩm định bằng văn bản của Bộ Tài chính;

(ii) Hàng hóa, dịch vụ thuộc thẩm quyền định giá của Bộ trưởng Bộ Tài chính do cơ quan quản lý trực tiếp của cơ sở sản xuất, kinh doanh hoặc cơ sở sản xuất, kinh doanh xây dựng phương án giá trình Bộ quản lý ngành, lĩnh vực thẩm định. Sau đó, Bộ quản lý ngành, lĩnh vực có văn bản đề nghị Bộ Tài chính quyết định;

(iii) Hàng hóa, dịch vụ thuộc thẩm quyền định giá của các Bộ, do Bộ trưởng các Bộ quy định trình, thẩm định và quyết định giá đồng thời gửi đến Bộ Tài chính để theo dõi, giám sát;

(iv) Hàng hóa, dịch vụ thuộc thẩm quyền quyết định giá của Uỷ ban nhân dân tỉnh do Ủy ban nhân dân tỉnh quy định trình, thẩm định và quyết định giá. Trường hợp Sở quản lý ngành, lĩnh vực, đơn vị sản xuất, kinh doanh trình phương án giá để Ủy ban nhân dân tỉnh xem xét, quyết định thì phải có ý kiến thẩm định bằng văn bản của Sở Tài chính.

Kể từ ngày nhận đủ Hồ sơ phương án giá theo quy định, chậm nhất là 15 ngày làm việc, cơ quan, đơn vị có thẩm quyền thẩm định phương án giá phải có ý kiến thẩm định bằng văn bản về nội dung phương án giá.

Thời hạn quyết định giá là tối đa không quá 15 ngày làm việc đối với giá hàng hóa, dịch vụ do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ quyết định; hoặc tối đa không quá 10 ngày làm việc đối với giá hàng hóa, dịch vụ do các Bộ, Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định, kể từ ngày nhận được phương án giá đã có ý kiến của cơ quan có liên quan và văn bản thẩm định của cơ quan có thẩm quyền. Trường hợp cần thiết phải kéo dài thêm thời gian thẩm định phương án giá, quyết định giá thì cơ quan, đơn vị có thẩm quyền thẩm định phương án giá hoặc cơ quan có thẩm quyền quyết định giá phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do phải kéo dài cho cơ quan trình phương án giá biết; thời gian kéo dài không quá 15 ngày làm việc.

b) Điều chỉnh mức giá do Nhà nước định giá

Điều 10 Nghị định số 177/2013/NĐ-CP quy định khi các yếu tố hình thành giá trong nước và giá thế giới có biến động ảnh hưởng đến sản xuất, đời sống thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền định giá cần kịp thời xem xét, điều chỉnh giá. Tổ chức, cá nhân có quyền kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền định giá thực hiện điều chỉnh mức giá theo quy định của pháp luật, trong đó phải nêu rõ lý do và cơ sở xác định mức giá đề nghị điều chỉnh. Trường hợp kiến nghị điều chỉnh giá của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh không hợp lý thì cơ quan có thẩm quyền định giá phải trả lời cho tổ chức, cá nhân này bằng văn bản.

Trình tự, thời hạn điều chỉnh giá thực hiện như đối với quy định về trình tự, thời hạn quyết định giá lần đầu.

19.4.3.2.4. Xử phạt hành vi vi phạm quy định về định giá

Điều 8 Nghị định số 109/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi không chấp hành đúng giá do cơ quan, người có thẩm quyền quy định, theo đó:

– Mức thấp nhất là phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với hành vi bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ không đúng với mức giá do cơ quan, người có thẩm quyền quyết định.

– Mức cao nhất là phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng đối với hành vi bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ không đúng với mức giá cụ thể hoặc không nằm trong khung giá hoặc cao hơn mức giá tối đa hoặc thấp hơn mức giá tối thiểu do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ quyết định.

Biện pháp khắc phục hậu quả là buộc trả lại cho khách hàng toàn bộ tiền chênh lệch do bán cao hơn mức giá do cơ quan, người có thẩm quyền quy định, trong trường hợp khó hoặc không xác định được khách hàng để trả lại thì nộp vào ngân sách nhà nước.

Đối với hành vi vi phạm quy định về lập phương án giá hàng hóa, dịch vụ, Điều 9 Nghị định số 109/2013/NĐ-CP quy định phạt tiền đến 20.000.000 đồng đối với hành vi lập phương án giá hàng hóa, dịch vụ không đúng với hướng dẫn về phương pháp định giá do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành; phạt tiền đến 30.000.000 đồng đối với hành vi không lập phương án giá hàng hóa, dịch vụ theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

19.4.3.3. Hiệp thương giá

Hiệp thương giá là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền tổ chức và làm trung gian cho bên mua và bên bán thương lượng về mức giá mua, giá bán hàng hoá, dịch vụ thỏa mãn điều kiện hiệp thương giá theo đề nghị của một trong hai bên hoặc cả hai bên mua, bán hoặc khi có yêu cầu của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong trường hợp bên mua và bên bán không thống nhất được về mức giá.

Điều 23 Luật Giá quy định hiệp thương giá chỉ được thực hiện đối với hàng hóa, dịch vụ đáp ứng các điều kiện sau: (i) Hàng hoá, dịch vụ không thuộc Danh mục hàng hóa, dịch vụ do Nhà nước định giá; (ii) Hàng hoá, dịch vụ quan trọng được sản xuất, kinh doanh trong điều kiện đặc thù hoặc có thị trường cạnh tranh hạn chế; có tính chất độc quyền mua hoặc độc quyền bán hoặc bên mua, bên bán phụ thuộc nhau không thể thay thế được.

Có hai cơ quan có thẩm quyền tổ chức hiệp thương giá bao gồm: Bộ Tài chính và Sở Tài chính các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Theo đó, Bộ Tài chính chủ trì tổ chức hiệp thương giá theo yêu cầu của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ. Sở Tài chính chủ trì tổ chức hiệp thương giá theo yêu cầu của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh hoặc khi có đề nghị của bên mua hoặc bên bán hoặc cả hai bên mua và bán có trụ sở đóng trên địa bàn. Trường hợp bên mua và bên bán có trụ sở đóng tại hai tỉnh khác nhau cùng đề nghị hiệp thương thì hai bên thống nhất đề nghị một trong hai Sở Tài chính chủ trì hiệp thương; trường hợp không thống nhất được thì Sở Tài chính nơi bên bán đóng trụ sở chủ trì hiệp thương.

Sau khi tổ chức hiệp thương giá, nếu các bên thống nhất được mức giá thì cơ quan tổ chức hiệp thương giá thông báo bằng văn bản về mức giáđược thỏa thuận cho các bên sau khi hiệp thương. Trường hợp đã tổ chức hiệp thương giá nhưng các bên chưa thống nhất được mức giá thì cơ quan tổ chức hiệp thương giá quyết định giá tạm thời để hai bên thi hành. Quyết định giá tạm thời này có hiệu lực thi hành tối đa là 06 tháng. Trong thời gian thi hành quyết định giá tạm thời, các bên tiếp tục thương thảo về giá. Nếu các bên thống nhất được giá thì thực hiện theo giá đã thống nhất và có trách nhiệm báo cáo cơ quan tổ chức hiệp thương biết giá đã thống nhất, thời gian thực hiện. Hết thời hạn 06 tháng, nếu các bên không thỏa thuận được giá thì cơ quan có thẩm quyền tổ chức hiệp thương giá lần hai. Nếu các bên vẫn không đạt được thỏa thuận về giá thì quyết định giá tạm thời vẫn tiếp tục có hiệu lực thi hành cho đến khi đạt được thỏa thuận về mức giá.

Về xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm quy định về hiệp thương giá, Điều 7 Nghị định số 109/2013/NĐ-CP quy định phạt tiền đến đến 50.000.000 đồng đối với hành vi không thực hiện hiệp thương giá theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền.

19.4.3.4. Kiểm tra yếu tố hình thành giá

Kiểm tra yếu tố hình thành giá là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiểm tra yếu tố hình thành giá yêu cầu tổ chức, cá nhân cung cấp các tài liệu cần thiết phục vụ kiểm tra yếu tố hình thành giá.

Theo quy định tại Điều 26 và Điều 27 Nghị định số 177/2013/NĐ-CP, các tài liệu phục vụ cho kiểm tra yếu tố hình thành giá gồm:

(i) Phương án tính giá hàng hoá, dịch vụ được lập theo phương pháp định giá chung do Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định và hướng dẫn phương pháp định giá với từng lĩnh vực cụ thể do cơ quan có thẩm quyền ban hành hoặc theo phương pháp định giá phù hợp do doanh nghiệp tự thực hiện;

(ii) Các tài liệu, sổ sách, chứng từ phục vụ việc lập phương án giá;

(iii) Bảng định mức kinh tế kỹ thuật mà tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh đang áp dụng để xác định giá thành của hàng hóa, dịch vụ;

(iv) Tình hình lưu chuyển hàng hoá (tồn kho đầu năm, đầu quý, đầu tháng; nhập và xuất trong năm, trong quý, trong tháng; tồn kho cuối năm, cuối quý, cuối tháng) và cung ứng dịch vụ;

(v) Báo cáo tài chính có kiểm toán của năm liên quan đến việc kiểm tra các yếu tố hình thành giá;

(vi) Các tài liệu khác liên quan đến nội dung kiểm tra yếu tố hình thành giá.

Trên cơ sở các tài liệu mà tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh cung cấp, kết hợp với hoạt động kiểm tra, đối chiếu thực tế tại doanh nghiệp, cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ tính toán và đưa ra kết luận về mức giá hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh. Trường hợp mức giá hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân không hợp lý, cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ yêu cầu các tổ chức, cá nhân này đình chỉ việc tăng hoặc giảm giá, đồng thời điều chỉnh mức giá về mức giá đã được cơ quan có thẩm quyền tính toán.

Cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện kiểm tra yếu tố hình thành giá đối với (i) Hàng hóa, dịch vụ do Nhà nước định giá; (ii) Hàng hóa, dịch vụ thực hiện bình ổn giá; hoặc (iii) Hàng hoá, dịch vụ khác khi giá có biến động bất thường theo yêu cầu của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh.

Thẩm quyền và trách nhiệm kiểm tra yếu tố hình thành giá quy định tại Điều 27 Luật Giá, cụ thể:

(i) Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh kiểm tra yếu tố hình thành giá đối với: (i) Hàng hoá, dịch vụ thuộc thẩm quyền định giá của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Tài chín; và (ii) Hàng hoá, dịch vụ thuộc Danh mục hàng hóa, dịch vụ thực hiện bình ổn giá.

(ii) Các bộ, cơ quan ngang bộ chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh kiểm tra yếu tố hình thành giá đối với hàng hoá, dịch vụ thuộc thẩm quyền định giá của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ.

(iii) Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh kiểm tra yếu tố hình thành giá đối với: (i) Hàng hoá, dịch vụ thuộc thẩm quyền định giá của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh; và (ii) Hàng hoá, dịch vụ thuộc Danh mục hàng hóa, dịch vụ thực hiện bình ổn giá của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh trên địa bàn.

19.4.4. Kê khai giá

Kê khai giá là một biện pháp quản lý giá của nhà nước, theo đó tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có nghĩa vụ gửi thông báo mức giá hàng hóa, dịch vụ cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi định giá, điều chỉnh giá và phải chịu trách nhiệm về tính chính xác của mức giá đã kê khai đối với hàng hóa, dịch vụ thuộc diện phải kê khai giá.

19.4.4.1. Hàng hóa, dịch vụ thuộc diện kê khai giá

Điều 15 Nghị định số 177/2013/NĐ-CP quy định danh mục hàng hóa, dịch vụ thuộc diện kê khai giá, gồm hàng hóa, dịch vụ thuộc Danh mục hàng hóa, dịch vụ thực hiện bình ổn giá trong thời gian Nhà nước không áp dụng biện pháp đăng ký giá; Xi măng, thép xây dựng; Than; Thức ăn chăn nuôi cho gia súc, gia cầm và thủy sản; thuốc tiêu độc, sát trùng, tẩy trùng, trị bệnh cho gia súc, gia cầm và thủy sản; Giấy in, viết (dạng cuộn), giấy in báo sản xuất trong nước; Giá dịch vụ tại cảng biển, giá dịch vụ hàng không tại cảng hàng không sân bay; Cước vận chuyển hành khách bằng đường sắt loại ghế ngồi cứng; Sách giáo khoa; Giá vé máy bay trên các đường bay nội địa không thuộc danh mục Nhà nước quy định khung giá; Dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh cho người tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tư nhân; khám bệnh, chữa bệnh theo yêu cầu tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của nhà nước; Cước vận tải hành khách tuyến cố định bằng đường bộ; cước vận tải hành khách bằng taxi; Thực phẩm chức năng cho trẻ em dưới 06 tuổi theo quy định của Bộ Y tế và một số hàng hóa, dịch vụ khác theo quy định của pháp luật chuyên ngành.

Căn cứ vào tình hình thực tế, Bộ Tài chính chủ trì phối hợp với Bộ, ngành liên quan trình Thủ tướng Chính phủ quyết định điều chỉnh danh mục hàng hóa, dịch vụ kê khai giá trừ hàng hóa, dịch vụ thuộc Danh mục hàng hóa, dịch vụ thực hiện bình ổn giá trong thời gian Nhà nước không áp dụng biện pháp đăng ký giá. Tại địa phương, căn cứ vào tình hình thực tế của địa phương, Sở Tài chính chủ trì phối hợp với cơ quan chức năng trình Ủy ban nhân dân tỉnh bổ sung một số hàng hóa, dịch vụ đặc thù thực hiện kê khai giá tại địa phương (nếu có).

19.4.4.2. Tổ chức thực hiện kê khai giá

* Điều 16 Nghị định số 177/2013/NĐ-CP quy định tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ thuộc diện kê khai giá thực hiện kê khai giá bằng việc gửi thông báo mức giá kê khai đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiếp nhận thông báo kê khai giá trước khi định giá, điều chỉnh giá ít nhất 05 ngày:

(i) Trường hợp tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh chỉ thực hiện bán buôn thì kê khai giá bán buôn;

(ii) Trường hợp tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh vừa thực hiện bán buôn, vừa thực hiện bán lẻ thì kê khai cả giá bán buôn và giá bán lẻ;

(iii) Trường hợp tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh là đơn vị nhập khẩu, đồng thời là nhà phân phối độc quyền thì kê khai giá bán buôn và giá bán lẻ dự kiến (nếu có);

(iv) Trường hợp tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh là nhà phân phối độc quyền thì kê khai giá bán buôn, giá bán lẻ hoặc giá bán lẻ dự kiến; tổng đại lý có quyền quyết định giá và điều chỉnh giá thì kê khai giá bán buôn, giá bán lẻ hoặc giá bán lẻ dự kiến; đại lý có quyền quyết định giá và điều chỉnh giá thì thực hiện kê khai giá bán lẻ.

* Cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện tiếp nhận văn bản kê khai giá.

Ở trung ương, Bộ Tài chính thực hiện tiếp nhận văn bản kê khai giá đối với hầu hết hàng hóa, dịch vụ trừ mặt hàng thuốc phòng, chữa bệnh cho người và dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh cho người cho người thuộc thẩm quyền tiếp nhận của Bộ Y tế. Ở địa phương là Sở Tài chính và các Sở quản lý ngành; Ủy ban nhân dân cấp huyện theo phân công của Ủy ban nhân dân tỉnh thực hiện tiếp nhận văn bản kê khai giá trên địa bàn địa phương;

Do Danh mục hàng hóa, dịch vụ thực hiện bình ổn giá là một phần của danh mục hàng hóa, dịch vụ thuộc diện kê khai giá, trong thời gian Nhà nước áp dụng biện pháp đăng ký giá để bình ổn giá, tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ thuộc Danh mục bình ổn giá không thực hiện kê khai giá mà thực hiện đăng ký giá theo quy định tại Điều 6 Nghị định số 177/2013/NĐ-CP. Hết thời gian Nhà nước áp dụng biện pháp đăng ký giá, trước khi điều chỉnh giá tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ thuộc Danh mục bình ổn giá tiếp tục thực hiện kê khai giá theo quy định.

Bộ Tài chính thông báo tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực hiện kê khai giá ở trung ương; quy định mẫu văn bản kê khai giá và quy trình tiếp nhận, rà soát văn bản kê khai giá. Trên cơ sở danh sách tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh thực hiện kê khai giá tại Bộ Tài chính, Ủy ban nhân dân tỉnh chỉ đạo các cơ quan của tỉnh rà soát tại địa phương và thông báo tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực hiện kê khai giá ở địa phương. Đối với dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh cho người tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tư nhân; khám bệnh, chữa bệnh theo yêu cầu tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của nhà nước, việc kê khai giá thực hiện theo hướng dẫn của Bộ Y tế.

* Bên cạnh khái niệm về kê khai giá theo quy định của pháp luật về giá, một số pháp luật chuyên ngành cũng sử dụng khái niệm kê khai giá như pháp luật về dược, pháp luật về viễn thông với nội hàm là một biện pháp kiểm soát giá. Do đó, để bảo đảm tính thống nhất với hệ thống pháp luật chuyên ngành, Khoản 5 Điều 16 Luật giá đã quy định hàng hóa, dịch vụ khác mà pháp luật chuyên ngành có quy định về kê khai giá thì thực hiện theo quy định của pháp luật chuyên ngành đó.

19.4.4.3. Xử phạt hành vi vi phạm quy định về kê khai giá

Cùng với hành vi vi phạm quy định về đăng ký giá, hành vi vi phạm quy định về kê khai gia được xử phạt theo quy định tại Điều 11 Nghị định số 109/2013/NĐ-CP. Mức xử phạt thấp nhất là phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi kê khai giá sai so với mẫu văn bản kê khai giá đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định. Mức xử phạt cao nhất là phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng đối với hành vi không kê khai giá với cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định.

19.4.5. Niêm yết giá

Niêm yết giá là việc tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thông báo công khai bằng các hình thức thích hợp, rõ ràng và không gây nhầm lẫn cho khách hàng về mức giá mua, giá bán hàng hóa, dịch vụ bằng Đồng Việt Nam bằng cách in, dán, ghi giá trên bảng, trên giấy hoặc trên bao bì của hàng hóa hoặc bằng hình thức khác tại nơi giao dịch hoặc nơi chào bán hàng hóa, dịch vụ để thuận tiện cho việc quan sát, nhận biết của khách hàng, cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Giá niêm yết là giá hàng hóa, dịch vụ đã bao gồm các loại thuế, phí và lệ phí (nếu có) của hàng hóa, dịch vụ đó.

Khoản 5 Điều 12 Luật giá quy định đối với hàng hóa, dịch vụ do Nhà nước định giá thì tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh phải niêm yết đúng giá do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định và mua, bán đúng giá niêm yết. Đối với hàng hóa, dịch vụ không thuộc Danh mục hàng hóa, dịch vụ do Nhà nước định giá thì tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực hiện niêm yết theo giá do tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh quyết định và không được mua, bán cao hơn giá niêm yết.

Điều 12 Luật giá quy định niêm yết giá là một nghĩa vụ bắt buộc của tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh, thể hiện văn minh thương mại, khuyến khích cạnh tranh, là cơ sở để người tiêu dùng nhận biết và lựa chọn hàng hóa, dịch vụ có mức giá tốt nhất. Để quy định về niêm yết giá phù hợp với tình hình thực tế thì pháp luật hiện hành cũng quy định về địa điểm phải thực hiện niêm yết giá do việc bắt buộc những người bán hàng rong thực hiện niêm yết giá là rất khó khả thi. Theo đó, tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh ở các địa điểm sau thì phải thực hiện thực hiện niêm yết giá: Cơ sở sản xuất, kinh doanh (có quầy giao dịch và bán sản phẩm); Siêu thị, trung tâm thương mại, chợ theo quy định của pháp luật, cửa hàng, cửa hiệu, ki-ốt, quầy hàng, nơi giao dịch thực hiện việc bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ; Hội chợ triển lãm có bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ và các địa điểm khác theo quy định của pháp luật.

Việc xử phạt các hành vi vi phạm quy định về niêm yết giá nằm trong nội dung xử phạt hành chính đối với các hành vi vi phạm quy định về công khai thông tin về giá hàng hóa, dịch vụ theo Điều 12 Nghị định số 109/2013/NĐ-CP.

19.4.6. Cơ sở dữ liệu về giá

Để thực hiện nhiệm vụ quản lý, điều tiết giá của Nhà nước, nhất là công tác dự báo tình hình biến động giá cả thị trường thì vai trò của cơ sở dữ liệu về giá là rất quan trọng. Pháp luật về giá về cơ bản đã xây dựng khung pháp lý để cơ quan quản lý nhà nước về giá tổ chức thực hiện xây dựng cơ sở dữ liệu về giá, cụ thể như sau:

Điều 24 Nghị định số 177/2013/NĐ-CP quy định cơ quan quản lý nhà nước về giá ở trung ương bao gồm Bộ Tài chính và Bộ quản lý ngành, lĩnh vực; ở địa phương là Sở Tài chính các tỉnh có trách nhiệm xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu về giá phục vụ quản lý nhà nước trong lĩnh vực ngành, địa phương.Bộ Tài chính chịu trách nhiệm xây dựng trung tâm cơ sở dữ liệu quốc gia về giá.

Bộ Tài chính đã ban hành Quyết định số 1619/QĐ-BTC ngày 09/7/2014 ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của Trung tâm Dữ liệu quốc gia và Dịch vụ về giá trực thuộc Cục Quản lý giá. Trung tâm là đầu mối kết nối các hệ thống cơ sở dữ liệu về giá của các Bộ, ngành và địa phương; cung cấp thông tin về giá phục vụ nhiệm vụ quản lý nhà nước và theo yêu cầu của các tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật.

Nội dung cơ sở dữ liệu về giá bao gồm: (i) Giá hàng hóa, dịch vụ do Nhà nước định giá; (ii) Giá hàng hóa, dịch vụ thuộc danh mục đăng ký giá, kê khai giá; (iii) Giá thị trường hàng hóa, dịch vụ thuộc danh mục báo cáo giá thị trường theo quy định của Bộ Tài chính; (iv) Giá thị trường hàng hóa, dịch vụ cần thiết khác phục vụ công tác dự báo và quản lý nhà nước về giá; (v) Thông tin về giá tài sản được thẩm định theo quy định của pháp luật về giá, thẩm định giá; (vi) Các thông tin khác phục vụ công tác quản lý giá theo quy định của pháp luật.

Nguồn thông tin phục vụ xây dựng cơ sở dữ liệu gồm: (i) Thông tin do cơ quan quản lý nhà nước về giá tiến hành điều tra, khảo sát, thu thập và do các cơ quan quản lý nhà nước cung cấp; (ii) Thông tin do cơ quan quản lý nhà nước về giá mua từ các đơn vị, cá nhân cung cấp thông tin; (iii) Thông tin do tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh cung cấp theo quy định tại khoản 7 Điều 12 của Luật Giá và các trường hợp cần thiết khác phục vụ yêu cầu quản lý của Nhà nước.

Hiện nay, Bộ Tài chính đang xây dựng Thông tư về Cơ sở dữ liệu quốc gia về giá gửi lấy ý kiến các bộ ngành và địa phương đồng thời tổ chức các buổi hổi thảo diện rộng để xin ý kiến rộng rãi đối với nội dung này.

19.5. Quản lý và điều hành giá đối với một số mặt hàng quan trọng, thiết yếu

Đối với một số mặt hàng quan trọng, thiết yếu đối với sản xuất và đời sống như điện, than bán cho sản xuất điện, xăng dầu, giá dịch vụ giáo dục, dịch vụ khám chữa bệnh, bình ổn giá sữa cho trẻ em dưới 6 tuổi, giá cước vận tải ô tô và các hàng hóa dịch vụ thiết yếu khácthì bên cạnh các cơ chế quản lý giá chung của Luật Giá và văn bản hướng dẫn, các mặt hàng này còn chịu sự điều chỉnh của hệ thống pháp luật chuyên ngành.

19.5.1. Đối với mặt hàng điện

19.5.1.1. Cơ chế quản lý

Trước đây, theo quy định của Pháp lệnh Giá, điện là mặt hàng độc quyền và do nhà nước quyết định giá. Điều 31 Luật Điện lực số 28/2004/QH11 quy định về giá điện và các loại phí, trong đó: Biểu giá bán lẻ điện do Bộ Công nghiệp (nay là Bộ Công Thương) xây dựng, trình thủ tướng chính phủ phê duyệt. Khung giá phát điện, bán buôn điện và các loại phí truyền tải điện, phân phối điện, điều độ hệ thống điện, điều hành giao dịch thị trường điện lực, các phí dịch vụ phụ trợ do đơn vị điện lực liên quan xây dựng, cơ quan điều tiết điện lực thẩm định trình Bộ trưởng Bộ Công nghiệp phê duyệt. Giá phát điện, giá bán buôn điện, giá bán lẻ điện theo hợp đồng mua bán điện do các đơn vị điện lực quyết định nhưng không được vượt quá khung giá, biểu giá được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.

Để tiến tới thực hiện giá bán điện theo cơ chế giá thị trường có sự điều tiết của Nhà nước, ngày 15/4/2011, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 24/2011/QĐ-TTg về điều chỉnh giá bán điện theo cơ chế thị trường. Theo đó, trong năm tài chính, giá bán điện chỉ được điều chỉnh khi thông số đầu vào cơ bản biến động so với thông số đã được sử dụng để xác định giá bán điện hiện hành. Các thông số đầu vào khác của giá bán điện được xem xét để điều chỉnh giá bán điện sau khi có báo cáo quyết toán, kiểm toán theo quy định. Thời gian điều chỉnh giá bán điện giữa hai lần liên tiếp tối thiểu là ba tháng. Việc điều chỉnh giá điện ở mức 5% được giao cho Bộ Công Thương quyết định; trên 5% giao Bộ Tài chính thẩm định, Bộ Công Thương thẩm định trình Chính phủ quyết định.

Từ 01/1/2013, khi Luật Giá có hiệu lực, Điện bán lẻ nói chung đã chuyển sang danh mục hàng hóa, dịch vụ thực hiện bình ổn giá. Nhà nước (Bộ trưởng Bộ Công thương) chỉ quy định giá cụ thể đối với giá truyền tải điện, giá dịch vụ phụ trợ hệ thống điện; quy định khung giá đối với giá phát điện, giá bán buôn điện, mức giá bán lẻ điện bình quân (Điều 8 Luật Giá). Bên cạnh đó, để phù hợp với thực tế và chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện lực (có hiệu lực từ 1/7/2013) cũng đã bổ sung thêm quy định “Giá bán điện thực hiện theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước phù hợp với cấp độ phát triển của thị trường điện lực”; đồng thời quy định “Nhà nước hỗ trợ giá bán lẻ điện cho mục đích sinh hoạt đối với hộ nghèo, hộ chính sách xã hội theo tiêu chí do Thủ tướng Chính phủ quy định phù hợp với tình hình kinh tế – xã hội từng thời kỳ”.

19.5.1.2 Thực tế điều hành

Sau hơn 2 năm thực hiện, sau khi Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện lực được ban hành; cùng với Quyết định số 2165/QĐ-TTg ngày 11/11/2013 về khung giá của mức giá bán lẻ điện bình quân; Chính phủ đã ban hành Quyết định số 69/2013/QĐ-TTg ngày 19/11/2013 để phù hợp với tình hình thực tế và các quy định pháp luật hiện hành. Theo đó, cơ chế điều chỉnh giá bán lẻ điện bình quân từ 10/1/2014 có một số điểm mới so với quy định tại Quyết định số 24/2011/QĐ-TTg như sau:

– Giá bán lẻ điện bình quân được điều chỉnh không vượt quá giá tối đa là 1.835 đ/kwh; không thấp hơn giá tối thiểu là 1.437 đ/kwh (chưa bao gồm thuế VAT).

– Phạm vi điều chỉnh và thời gian tối thiểu giữa các lần điều chỉnh đều tăng lên so với Quyết định 24/2011/QĐ-TTg. Theo đó, thay vì mức 5%, giá điện bình quân chỉ được điều chỉnh ở mức 7% so với hiện hành; thời gian tối thiểu giữa các lần điều chỉnh giá điện được tăng lên 6 tháng;

– Thẩm quyền phê duyệt mức điều chỉnh giá bán điện bình quân thay đổi: Từ 7 – 10%: Bộ Công Thương; trên 10%: Bộ Tài chính thẩm định, Bộ Công Thương tổng hợp trình Thủ tướng Chính phủ quyết định.

Nhìn chung trong thời gian qua, với cơ chế tương đối linh hoạt, quy định phân cấp thẩm quyền rõ ràng, việc điều chỉnh giá điện dần dần được quy định theo hướng linh hoạt hơn theo tín hiệu của thị trường (biến động các yếu tố đầu vào) nhưng vẫn đảm bảo sự quản lý của Nhà nước. Các phương án giá điện được kiểm soát chặt chẽ, mức điều chỉnh được cân nhắc để hạn chế tác động đến kinh tế xã hội.

19.5.1.3 Định hướng

Tiếp tục điều hành giá điện theo quy định tại Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện lực, Quyết định số 69/2013/QĐ-TTg ngày 19/11/2013 của Thủ tướng Chính phủ quy định về cơ chế điều chỉnh mức giá bán lẻ điện bình quân[1], phù hợp với mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô và an sinh xã hội, đảm bảo tính công khai, minh bạch trong mỗi lần điều chỉnh giá để người dân và xã hội cùng giám sát.

19.5.2. Đối với mặt hàng xăng, dầu

19.5.2.1 Cơ chế quản lý

Giá xăng dầu được điều hành theo quy định tại Nghị định số 84/2009/NĐ-CP ngày 15/10/2009 của Chính phủ về kinh doanh xăng dầu (gọi tắt là Nghị định số 84/2009/NĐ-CP), từ ngày 01/11/2014, giá xăng dầu sẽ tiếp tục điều hành theo quy định tại Nghị định số 83/2014/NĐ-CP ngày 03/9/2014 về kinh doanh xăng dầu. Trong đó, cả hai Nghị định nói trên đều thống nhất với nguyên tắc cơ bản là: “Giá bán xăng dầu được thực hiện theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước”. Theo đó, Nhà nước thực hiện kiểm tra, giám sát và điều tiết giá xăng dầu thông qua việc: quy định công thức tính giá cơ sở tính theo bình quân giá xăng dầu thế giới (30 ngày theo quy định tại Nghị định số 84/2009/NĐ-CP; 15 ngày theo quy định của Nghị định số 83/2014/NĐ-CP); quy định tần suất điều chỉnh giá (10 ngày theo quy định tại Nghị định số 84/2009/NĐ-CP; 15 ngày theo quy định của Nghị định số 83/2014/NĐ-CP) để các doanh nghiệp có căn cứ tính toán và đăng ký/kê khai mức giá với cơ quan Nhà nước. Khi xét thấy giá cơ sở tăng cao hoặc việc tăng giá xăng dầu có thể ảnh hưởng đến phát triển kinh tế – xã hội và đời sống nhân dân, Liên Bộ linh hoạt cho phép sử dụng Quỹ bình ổn giá xăng dầu hoặc/và các công cụ tài chính nhằm giữ ổn định giá hoặc không để giá tăng quá cao, gây tác động bất lợi đến phát triển kinh tế xã hội, mục tiêu kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và an sinh xã hội.

19.5.2.2 Thực tế điều hành

Thời gian vừa qua, Liên Bộ (Bộ Tài chính, Bộ Công Thương) đã điều hành kinh doanh xăng dầu theo các quy định tại Nghị định số 84/2009/NĐ-CP ngày 15/10/2009 và tiếp tục được thực hiện theo Nghị định số 83/2014/NĐ-CP ngày 03/9/2014 của Chính phủ về kinh doanh xăng dầu kể từ ngày 01/11/2014 và các văn bản quy phạm pháp luật liên quan: điều hành kinh doanh xăng dầu theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước; giá xăng dầu trong nước bám sát diễn biến giá xăng dầu thế giới đảm bảo chia sẻ hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người tiêu dùng; việc công bố thông tin đảm bảo kịp thời, công khai, minh bạch.

19.5.2.3 Định hướng

Tiếp tục kiên trì điều hành giá xăng dầu trong nước theo cơ chế giá thị trường có sự điều tiết của Nhà nước theo quy định tại Nghị định số 83/2014/NĐ-CP ngày 03/9/2014 của Chính phủ về kinh doanh xăng dầu; Thông tư liên tịch số 39/2014/TTLT/BCT-BTC của Liên bộ Bộ Tài chính – Bộ Công Thương Quy định về phương pháp tính giá cơ sở; cơ chế hình thành, quản lý, sử dụng Quỹ Bình ổn giá và điều hành giá xăng dầu theo quy định tại Nghị định số 83/2014/NĐ-CP ngày 03/9/2014 của Chính phủ;

Bám sát diễn biến giá xăng dầu của thị trường thế giới để chủ động, linh hoạt điều hành giá xăng dầu trong nước đồng bộ giữa các biện pháp về giá, Quỹ Bình ổn giá để bình ổn giá xăng dầu phù hợp với quy định, góp phần thực hiện mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát; đảm bảo hài hòa lợi ích người tiêu dùng, doanh nghiệp và cân đối ngân sách nhà nước.

Thực hiện nghiêm túc quy định về công khai, minh bạch trong điều hành giá để tạo sự đồng thuận trong xã hội.

19.5.3. Đối với mặt hàng than

19.5.3.1. Cơ chế quản lý

Hiện nay, than tiêu dùng trong nước chủ yếu được bán cho các đối tượng: than bán cho sản xuất điện; than bán cho các hộ tiêu thụ than lớn sản xuất xi măng, giấy, phân bón; than bán cho các hộ tiêu thụ nhỏ lẻ (nung gạch, ngói, sản xuất gốm, sứ….). Cơ chế điều hành giá đối với mặt hàng than đã và đang được điều hành theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước.

Theo quy định tại Pháp lệnh Giá và các văn bản hướng dẫn, than thuộc danh mục mặt hàng đăng ký giá. Vì vậy, trước khi điều chỉnh giá tổ chức cá nhân sản xuất kinh doanh mặt hàng than phải thực hiện đăng ký giá mức giá mới về cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Từ 01/01/2014, theo quy định tại Luật Giá, Nghị định 177/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật giá quy định mặt hàng than thuộc danh mục kê khai giá.

19.5.3.2. Thực tế điều hành

-Đối với than bán cho các hộ tiêu dùng trong nước (trừ than bán cho sản xuất điện): Từ đầu năm 2014 đến nay đã có 02 đợt điều chỉnh giá than cho các hộ tiêu dùng trong nước theo diễn biến giá than xuất khẩu, cụ thể:

+Đợt 1: Từ ngày 01/3/2014, giá than bán cho các hộ tiêu thụ trong nước của Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam (trừ giá than bán cho điện) giảm từ 7-10% tùy chủng loại. So với giá than xuất khẩu cùng chủng loại tại thời điểm điều chỉnh, giá than bán cho các hộ tiêu thụ trong nước tương đương khoảng 89-99%.

+ Đợt 2: Từ 22/7/2014, giá một số loại than cục, than cám, than bùn tuyển được điều chỉnh giảm từ 1% – 8% (sau khi điều chỉnh, giá của các chủng loại than này bằng 90% – 99% so với giá xuất khẩu chùng loại than tương ứng). Giá một số loại than cám và than cục khác được điều chỉnh tăng từ 0,1% – 14% so với giá bán than trong nước hiện hành (sau khi điều chỉnh, giá của các chủng loại than này bằng 90% – 99% so với giá than xuất khẩu tương ứng).

– Đối với giá than bán cho sản xuất điện: Tiếp tục thực hiện lộ trình giá thị trường theo chỉ đạo của Phó Thủ tướng Chính phủ tại Công văn số 246/VPCP-KTTH ngày 05/02/2013 về giá than bán cho sản xuất điện, giá than bán cho sản xuất điện cũng được điều chỉnh tăng 2 đợt:

– Đợt 1: Từ ngày 01/01/2014, giá than bán cho sản xuất điện được điều chỉnh tăngbằng giá thành sản xuất than bình quân kế hoạch năm 2014 của Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam; tỷ lệ tăng khoảng từ 7% đến 10% tùy từng loại.

– Đợt 2: Từ ngày 22/7/2014, giá than bán cho sản xuất điện của Tập đoàn công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam được điều chỉnh tăng thêm 5% – 7% do thuế tài nguyên tăng, tiền cấp quyền khai thác và phí sử dụng tại liệu địa chất tăng làm chi phí tăng khoảng 2.500 tỷ đồng (riêng than Cám 4b HG không tăng giá mặc dù chi phí tăng). Sau khi điều chỉnh, giá than bán cho sản xuất điện vẫn thấp hơn khoảng 2,6% – 5,8% so với giá bán than cho các hộ khác trong nước được điều chỉnh cùng đợt (riêng chủng loại than cám 4b bằng giá hộ khác do không điều chỉnh giá) và bằng 86-91% giá than xuất khẩu cùng chủng loại.

19.5.3.3. Định hướng

Đối với giá than bán cho điện: Tiếp tục thực hiện chỉ đạo của Phó Thủ tướng Chính phủ tại Công văn số 246/VPCP-KTTH ngày 05/02/2013 về giá than bán cho sản xuất điện.

19.5.4. Đối với mặt hàng nước sạch

19.5.4.1 Cơ chế quản lý

Về cơ bản, giá nước sạch thực hiện theo cơ chế thị trường. Điều 51 nghị định 117/2007/NĐ-CP ngày 11/7/2007 của Chính phủ về sản xuất, cung cấp và tiêu thụ nước sạchquy định: Giá nước sạch phải được tính đúng, tính đủ các yếu tố chi phí sản xuất hợp lý trong quá trình sản xuất, phân phối nước sạch bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các đơn vị cấp nước và khách hàng sử dụng nước”. Điều 4 Thông tư Liên tịch số tịch số 75/2012/TTLT-BTC-BXD-BNNPTNT ngày 15/5/2012 của Bộ Tài chính- Bộ Xây dựng- Bộ Nông nghiệp, hướng dẫn nguyên tắc, phương pháp xác định và thẩm quyền quyết định giá tiêu thụ nước sạch tại các đô thị, khu công nghiệp và khu vực nông thôn quy định: “Hàng năm, khi các yếu tố cấu thành chi phí sản xuất, cung ứng nước sạch tính theo các nguyên tắc quy định tại Điều 3 và các phương pháp xác định tổng chi phí sản xuất quy định tại Điều 5 Thông tư này có biến động hoặc khi có sự thay đổi về công nghệ xử lý nước, quy chuẩn chất lượng dịch vụ; sự thay đổi về cơ chế chính sách của Nhà nước có liên quan làm giá thành tiêu thụ nước sạch tăng (hoặc giảm) thì cấp có thẩm quyền quyết định (hoặc phê duyệt) giá nước quy định tại Thông tư này phải xem xét điều chỉnh tăng (hoặc giảm) khung giá, mức giá tiêu thụ nước sạch cụ thể cho phù hợp”.

19.5.4.2 Thực tế điều hành

Đối với giá nước sạch sinh hoạt, Đối với giá nước sạch sinh hoạt, từ năm 2002, khi Pháp Lệnh Giá được ban hành đến Luật Giá (thay thế Pháp Lệnh Giá), nước sạch sinh hoạt đều thuộc danh mục nhà nước định giá. Theo đó, Bộ Tài chính ban hành khung giá nước sạch sinh hoạt trên cả nước, các đơn vị cấp nước xây dựng phương án giá , UBND tỉnh quyết định giá bán nước sạch sinh hoạt phù hợp với tình hình kinh tế xã hội tại địa phương và phù hợp với khung giá do Bộ Tài chính quy định.

19.5.5. Đối với giá cước vận tải bằng ô tô

19.5.5.1. Cơ chế quản lý

Theo quy định tại điểm l khoản 1 Điều 15 Nghị định số 177/2013/NĐ-CP thì giá cước vận tải hành khách bằng xe ô tô theo tuyến cố định (bao gồm cả xe buýt tuyến cố định) và vận tải hành khách bằng xe taxi thuộc danh mục dịch vụ phải kê khai giá. Đối với các dịch vụ vận tải bằng xe ô tô còn lại (vận tải bằng hợp đồng, vận chuyển khách du lịch và vận tải hàng hóa), Ủy ban nhân dân tỉnh căn cứ tình hình thực tế để bổ sung vào danh mục kê khai giá tại địa phương theo quy định tại khoản 3 Điều 15 Nghị định số 177/2013/NĐ-CP nêu trên.

Thực hiện quy định nêu trên và các quy định tại Luật Giao thông đường bộ số 23/2008/QH12 ngày 13/11/2008 và Nghị định số 86/2014/NĐ-CP ngày 10 tháng 9 năm 2014 của Chính phủ về kinh doanh và điều kiện kinh doanh vận tải bằng xe ô tô và chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài chính, Bộ Giao thông vận tải, Liên Bộ Tài chính và Bộ Giao thông vận tải đã ban hành Thông tư liên tịch số 152/2014/TTLT-BTC-BGTVT ngày 15/10/2014 hướng dẫn thực hiện giá cước vận tải bằng xe ô tô và giá dịch vụ hỗ trợ vận tải đường bộ.

19.5.5.2. Thực tế điều hành

Như vậy, xuất phát tình tính chất đặc thù của thị trường vận tải và đặc điểm của dịch vụ vận tải bằng xe ô tô, căn cứ quy định pháp luật hiện hành nói trên, Nhà nước thực hiện việc quản lý giá cước tải bằng xe ô tô theo cơ chế giá thị trường có sự quản lý của Nhà nước, cụ thể: Giá cước vận tải do đơn vị cung ứng dịch vụ quy định theo cơ chế thị trường; Nhà nước kiểm soát hoạt động định giá của các đơn vị kinh doanh vận tải thông qua hình thức kê khai giá, thanh tra, kiểm tra để đảm bảo mức giá cước phù hợp với thị trường.

Trước tình hình giá xăng dầu điều chỉnh giảm nhiều đợt từ tháng 7/2014 đến nay nhưng giá cước vận tải chậm giảm, Bộ Tài chính và Bộ Giao thông vận tải đã có văn bản chỉ đạo các địa phương tiếp tục tăng cường công tác quản lý giá trên địa bàn, trong đó đề nghị các địa phương kiểm tra, rà soát, yêu cầu doanh nghiệp kê khai giảm giá cước vận tải ô tô phù hợp với biến động giảm của chi phí nhiên liệu; đồng thời, Liên Bộ cũng thành lập đoàn công tác liên ngành làm việc tại một số địa phương về nội dung trên.

Đến nay, nhiều doanh nghiệp vận tải bằng xe ô tô đã thực hiện giảm giá cước vận tải và kê khai lại giá với Sở Tài chính và Sở Giao thông Vận tải địa phương. Qua đó, góp phần bình ổn mặt bằng giá chung.

19.5.5.3. Định hướng

Chính phủ tiếp tục yêu cầu các địa phương tiếp tục tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra giá cước vận tải ô tô; kiểm soát chặt chẽ kê khai giá cước vận tải; kiên quyết yêu cầu các doanh nghiệp kê khai giá cước phù hợp diễn biến giảm của giá nhiên liệu và tình hình thị trường; xử lý nghiêm các hành vi neo giá, không kê giá hoặc chậm kê khai giảm giá khi giá nhiên liệu giảm và công bố hành vi vi phạm trên phương tiện thông tin đại chúng.

19.5.6. Đối với mặt hàng sữa dành cho trẻ em dưới 6 tuổi

19.5.6.1. Cơ chế quản lý

Tại điểm d khoản 1 Điều 3 Nghị định số 177/2013/NĐ-CP thì mặt hàng sữa dành cho trẻ em dưới 06 tuổi thuộc danh mục hàng hóa, dịch vụ thực hiện bình ổn giá.

Các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh chỉ thực hiện đăng ký giá đối với hàng hóa, dịch vụ thuộc diện bình ổn giá trong thời gian Nhà nước áp dụng biện pháp bình ổn giá. Trong thời gian Nhà nước không áp dụng biện pháp bình ổn giá thì các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh sữa chỉ thực hiện kê khai giá đối với sản phẩm sữa cho trẻ em dưới 06 tuổi. Trường hơp điều chỉnh tăng, giảm giá hàng hóa, dịch vụ trong phạm vi 3% so với mức giá đã kê khai liền kề trước đó, các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh sữa chỉ phải gửi thông báo bằng văn bản về mức giá điều chỉnh mới cho cơ quan tiếp nhận văn bản trước khi điều chỉnh giá hàng hóa, dịch vụ.

19.5.6.2. Thực tế điều hành

Trong năm 2014, trước diễn biến tăng giá bất thường của các sản phẩm sữa dành cho trẻ em dưới 6 tuổi trên thị trường trong những tháng đầu năm, thực hiện Nghị Quyết số 29/NQ-CP ngày 2/5/2014 về phiên họp thường kỳ tháng 4, Bộ Tài chính đã chủ trì phối hợp với Bộ Tư pháp và Bộ Công Thương ban hành Quyết định số 1079/QĐ-BTC ngày 20/5/2014 về việc áp dụng biện pháp bình ổn giá đối với sản phẩm sữa dành cho trẻ em dưới 06 tuổi có hiệu lực từ ngày 1/6/2014 đã công bố hai biện pháp bình ổn giá là: Quy định mức giá tối đa trong khâu bán buôn đối với 25 sản phẩm sữa có hiệu lực trong 12 tháng; và Thực hiện đăng ký giá các sản phẩm sữa dành cho trẻ em dưới 6 tuổi có hiệu lực trong 6 tháng.

19.5.6.3. Định hướng

Để công tác quản lý giá sữa dành cho trẻ em dưới 6 tuổi tiếp tục đạt hiệu quả, các bộ ngành cần tiếp tục phối hợp với các địa phương triển khai các công tác sau:

– Tiếp tục áp dụng biện pháp quy định giá tối đa đối với sản phẩm sữa dành cho trẻ em dưới 6 tuổi theo chủ trương của Chính phủ; đồng thời hướng dẫn doanh nghiệp thực hiện kê khai giá theo quy định của pháp luật.

– Các cơ quan chức năng tiếp nhận, rà soát hồ sơ kê khai giá của các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh sữa dành cho trẻ em dưới 06 tuổi theo phân cấp quản lý giá hiện hành, bảo đảm mức giá kê khai không vượt quá mức giá tối đa đang áp dụng hiện nay.

– Thường xuyên theo dõi, rà soát, kiểm tra giá nhập khẩu nguyên liệu, giá nhập khẩu thành phẩm sữa của các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh sữa để kịp thời có biện pháp quản lý, điều tiết, bình ổn giá phù hợp. Trường hợp cần thiết, tiến hành tham vấn giá nhập khẩu mặt hàng sản phẩm sữa cho trẻ em dưới 6 tuổi khai giá cao hơn mặt bằng giá sản phẩm cùng loại tại nước xuất khẩu và các nước trong khu vực để kiểm soát tình trạng tăng giá nhập khẩu đầu vào làm tăng giá bán trong nước của các doanh nghiệp phân phối sữa; phối hợp trao đổi thông tin với hải quan các nước về giá các sản phẩm sữa cùng loại; tiến hành điều tra, xác định các công ty có dấu hiệu giao dịch liên kết.

– Bộ Y tế (Cục An toàn thực phẩm) cần rà soát, bổ sung vào danh mục sản phẩm sữa dành cho trẻ em dưới 06 tuổi, danh mục thực phẩm chức năng dành cho trẻ em dưới 06 tuổi làm căn cứ thực hiện bình ổn giá; tiếp nhận, rà soát và đăng thông tin về các mặt hàng sữa đăng ký mới, thay đổi bao bì, quy cách để các cơ quan quản lý giá, tổ chức, cá nhân biết, thực hiện bình ổn giá.

– Tăng cường kiểm tra việc thực hiện quy định của pháp luật về giá đối với tổ chức cá nhân sản xuất kinh doanh sữa cho trẻ em dưới 6 tuổi trên địa bàn;

– Thực hiện tốt công tác thông tin tuyên truyền để kịp thời thông tin đầy đủ, chính xác tình hình thực hiện, chủ trương, chính sách bình ổn giá sữa của Chính phủ, tạo sự đồng thuận trong xã hội.

– Trước khi hết thời hạn áp dụng biện pháp giá trần (hết ngày 31/5/2015), cần tổng kết đánh giá kết quả thực hiện biện pháp bình ổn giá và đề xuất biện pháp áp dụng cho thời gian tiếp theo.

Ngoài ra, liên quan đến trách nhiệm quản lý nhà nước về giá sữa dành cho trẻ em dưới 6 tuổi, về lâu dài Chính phủ nên xem xét giao Bộ Công Thương chủ trì vì đây là lĩnh vực liên quan đến chuyên ngành quản lý sản phẩm sữa của Bộ Công Thương, đồng thời gắn liền với công tác bảo đảm cân đối cung cầu và quản lý thị trường.

19.5.7. Đối với giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh công lập

19.5.7.1. Cơ chế quản lý

Theo quy định pháp luật hiện hành thì liên Bộ Y tế -Bộ Tài chính quy định khung giá dịch vụ khám bệnh chữa bệnh tại cơ sở khám bệnh chữa bệnh công lập, căn cứ khung giá do Liên bộ quy định, Bộ trưởng Bộ Y tế quy định giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thuộc Bộ Y tế và các bộ khác; Ủy ban nhân dân tỉnh quy định giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của Nhà nước thuộc phạm vi quản lý của địa phương.

Theo quy định tại Nghị định số 85/2012/NĐ-CP ngày 15/10/2012 của Chính phủ (NĐ số 85), giá dịch vụ khám bệnh chữa bệnh tại cơ sở khám bệnh chữa bệnh công lập giai đoạn 2013 đến 2018 được điều chỉnh theo lộ trình từng bước kết cấu đủ 7/7 yếu tố chi phí thực hiện dịch vụ khám bệnh chữa bệnh.

Hiện nay, khung giá dịch vụ khám bệnh chữa bệnh đang được thực hiện theo quy định tại TTLT số 03/2006/TTLT-BYT-BTC-BLĐTB&XH ngày 26/01/2006 (TTLT 03) và TTLT số 04/2012/TTLT-BYT-BTC ngày 29/02/2012 (TTLT 04); Khung giá theo quy định tại TTLT 03, TTLT 04 mới chỉ kết cấu 3/7 yếu tố chi phí trực tiếp.

19.5.7.2. Thực tế điều hành

Theo lộ trình tại Nghị định số 85 thì năm 2013 cần phải kết cấu thêm chi phí thường trực, chi phí phẫu thuật thủ thuật vào giá dịch vụ khám bệnh chữa bệnh. Đến ngày 26/2/2014, liên bộ đã ban hành TTLT số 10/2014/TTLT-BYT-BNV-BTC-BLĐTBXH về việc hướng dẫn thực hiện một số điều của QĐ 73/2011/QĐ-TTg ngày 28/12/2011 về chế độ phụ cấp đặc thù đối với công chức viên chức, người lao động trong các cơ sở y tế công lập và chế độ phụ cấp chống dịch. Theo đó, năm 2014, phụ cấp thường trực, phụ cấp phẫu thuật, thủ thuật được cộng vào giá dịch vụ khám bệnh chữa bệnh theo quy định của cấp có thẩm quyền. Hiện một số địa phương (Bến Tre, Hà Tĩnh…) đã thực hiện cộng một phần phụ cấp thường trực, phụ cấp phẫu thuật thủ thuật vào giá dịch vụ theo quy định.

19.5.7.3. Định hướng

Như vậy, nhìn chung việc điều chỉnh giá theo lộ trình quy định tại Nghị định 85 về cơ bản đã được thực hiện nhưng chậm hơn so với lộ trình khoảng 01 năm. Hiện Bộ Y tế đang chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính tính toán, điều chỉnh khung giá dịch vụ khám bệnh chữa bệnh theo lộ trình quy định tại NĐ 85; theo đó, thời gian tới tiếp tục kết cấu vào giá chi phí tiền lương theo lộ trình; xem xét kết cấu một phần chi phí nhân công thuê ngoài; chi phí đặc thù, khấu hao tài sản cố định; lãi vay, chi phí gián tiếp vào giá dịch vụ khám bệnh chữa bệnh.

19.6. Định hướng quản lý, điều hành giá giai đoạn 2015 – 2020

Trong 5 năm tới, định hướng quản lý, điều hành giá cần tiếp tục bám sát mục tiêu phát triển kinh tế xã hội mà Đảng, Quốc hội và Chính phủ đã đề ra. Triển khai chủ trương về tiếp tục hoàn thiện chính sách và hệ thống thuế củaVăn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam, Chính phủ đã ban hành Chương trình hành động triển khai thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 2011-2020 tại Nghị quyết số 10/NQ-CP ngày 24/4/2012. Sau khi đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch giai đoạn 2011-2015, Chính phủ tiếp tục triển khai xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2016-2020 với mục tiêu: Giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, đi đôi với đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng, đảm bảo cho nền kinh tế phát triển bền vững; phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại… đẩy mạnh hội nhập và hợp tác quốc tế (Chỉ thị số 22/CT-TTg ngày 5/8/2014 của Thủ tướng Chính phủ)

Trong bối cảnh nền kinh tế nước ta ngày càng hội nhập sâu rộng với kinh tế thế giới, kinh tế trong nước sẽ chịu tác động từ những biến động trên thị trường thế giới. Bên cạnh những thuận lợi từ việc mở rộng thị trường xuất khẩu, thu hút vốn đầu tư, viện trợ, kiều hối…, kinh tế trong nước có thể chịu tác động bất lợi từ giá xăng dầu và giá các loại nguyên vật liệu đầu vào không ổn định và dễ bị ảnh hưởng bởi những biến động địa chính trị quốc tế.

Kinh tế xã hội trong nước 5 năm tới dự báo có nhiều chuyển biến tích cực do quá trình tái cơ cấu nền kinh tế, các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và thị trường trong những năm vừa qua sẽ tiếp tục phát huy tác dụng. Tuy nhiên, 5 năm tới cũng tồn tại nhiều khó khăn, thách thức. Trong lĩnh vực giá, thách thức đó là rủi ro lạm phát cao quay trở lại; thách thức trong việc tiếp tục thực hiện điều hành giá theo cơ chế thị trường đối với một số hàng hóa, dịch vụ chiến lược, quan trọng thiết yếu (như điện, than cho sản xuất điện, xăng dầu, dịch vụ y tế, dịch vụ giáo dục…); thách thức trong việc kiểm soát giá độc quyền, liên minh liên kết về giá, chuyển giá; rủi ro về thiên tai, bão lũ, dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi xảy ra ảnh hưởng đến nguồn cung…

Trên cơ sở quán triệt quan điểm phát triển kinh tế xã hội của Đảng, Quốc hội và Chính phủ đã đề ra, cùng với những dự báo về tình hình kinh tế trong nước và thế giới, công tác quản lý, điều hành giá giai đoạn 2016-2020 cần tiếp tục được điều chỉnh cho phù hợp với giai đoạn mới theo các nguyên tắc và định hướng sau:

– Tiếp tục thực hiện nhất quán nguyên tắc quản lý giá theo cơ chế thị trường, có sự điều tiết của Nhà nước (trong đó đẩy mạnh thực hiện cơ chế giá thị trường có sự điều tiết của Nhà nước đối với giá điện, dịch vụ công, dịch vụ khám bệnh chữa bệnh); tôn trọng quyền tự định giá, cạnh tranh về giá của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh theo quy định của pháp luật. Đẩy mạnh thực hiện công khai, minh bạch trong điều hành đối với giá điện, xăng dầu cũng như các hàng hóa, dịch vụ quan trọng, thiết yếu khác có ảnh hưởng đến sản xuất và tiêu dùng của người dân; điều tiết hài hòa lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng, doanh nghiệp và nguồn thu của Nhà nước. Chủ động áp dụng các biện pháp bình ổn giá theo quy định của Luật Giá. Bên cạnh đó, có các giải pháp hỗ trợ hợp lý đối với người nghèo, người có thu nhập thấp, thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội.

– Tiếp tục đẩy mạnh đổi mới cơ chế hoạt động, cơ chế tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công. Từng bước tính đủ giá dịch vụ và giảm trợ cấp ngân sách. Xem xét chuyển một số loại phí sang giá dịch vụ phù hợp với cơ chế thị trường và giải phóng nguồn lực của khối sự nghiệp công lập. Đẩy mạnh xã hội hóa, nâng cao chất lượng, hiệu quả các dịch vụ này.

– Kiểm tra các yếu tố hình thành giá theo quy định của pháp luật đối với hàng hóa, dịch vụ thuộc Danh mục Nhà nước định giá; hàng hóa, dịch vụ thuộc Danh mục bình ổn giá và hàng hóa dịch vụ khác khi có biến động bất thường về giá…

– Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về giá kết hợp với thuế để ngăn chặn và kiên quyết xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về giá, hành vi tăng giá bất hợp lý, nhất là đối với các nguyên vật liệu quan trọng và các mặt hàng tiêu dùng thiết yếu; đồng thời, ngăn chặn hành vi chuyển giá, trốn lậu thuế. Tăng cường quản lý thị trường, ngăn chặn và xử lý nghiêm các hành vi gian lận thương mại, đầu cơ găm hàng, thao túng thị trường, giá cả.

– Theo dõi sát diễn biến cung cầu, thị trường, giá cả; tiếp tục làm tốt công tác tổng hợp, phân tích dự báo giá cả, cung cầu thị trường để có phương án điều hành phù hợp từng thời kỳ, từng giai đoạn, thời điểm cụ thể.

– Tiếp tục đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền, công khai thông tin về giá theo quy định của pháp luật để người dân hiểu rõ về chủ trương, biện pháp bình ổn giá, kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội, góp phần tạo ra sự đồng thuận trong xã hội để hạn chế tối đa các tác động tăng giá do yếu tố tâm lý, kỳ vọng lạm phát.

 – Đánh giá, tổng kết và tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật hiện hành về quản lý giá; đảm bảo tính thực thi, đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế thị trường và hội nhập ngày càng sâu rộng với thế giới./.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Luật Giá số 11/2012/QH13 ngày 20/6/2012;
  2. Nghị định số 177/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Giá;
  3. Nghị định số 109/2013/NĐ-CP ngày 24/9/2013 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giá, phí, lệ phí, hóa đơn;
  4. Thông tư số 38/2014/TT-BTC ngày 28/4/2014 của Bộ Tài chính hướng dẫn một số điều của Nghị định số 177/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 của Chính phủ
  5. Thông tư số 31/2014/TT-BTC ngày 07/3/2014 của Bộ Tài chính hướng dẫn xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý giá tại Nghị định số 109/2013/NĐ-CP ngày 24/9/2013 của Chính phủ.

                                                                        


[1] Thay thế Quyết định số 24/2011/QĐ-TTg ngày 15/4/2011 của Thủ tướng Chính phủ về điều chỉnh giá bán điện theo cơ chế thị trường

Bản in

 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *